Thứ Tư, 17 tháng 12, 2014

Học Sống




Chu Thập
25.05.11

Tôi thích những mẩu chuyện “tử tế” và những kinh nghiệm “sống” trên tạp chí Reader’s Digest, ấn bản Úc châu. Trong số ra tháng 6/2011 của tạp chí, tôi đọc được câu chuyện khá cảm động của một tù nhân tại Trung tâm cải huấn Junee NSW. Tác giả ký tên là Norman Yammine kể lại cuộc sống trong tù: “Ở tù cho tôi cái cảm giác như bị chôn sống. Tôi là một con rối bị người ta giựt giây để bắt tôi phải ăn, ngủ và thức dậy khi nào họ muốn.
Cứ đêm đến, tôi nằm sải lên giường và nhai đi nhai lại cùng một ý nghĩ. Đầu tôi đầy dẫy hình ảnh của những người tôi thương như cha mẹ tôi, em tôi, hôn thê của tôi, bạn bè của tôi.
Tôi cũng nghĩ đến những điều sai trái đã xảy ra và tưởng tượng ra cách đền bù cho những gì tôi đã đánh mất. Ở tuổi 27, tôi đang thụ án 9 năm tù vì tội bắn phá và cố ý đả thương. Sau 6 năm cấm cố, việc tạm tha của tôi sẽ được duyệt xét vào tháng 12 tới đây.
Tôi sống mỗi ngày như mọi ngày. Không có gì thay đổi, ngoại trừ con người. Các bạn tù được chuyển đến một nơi khác hay được trả tự do. Một số đến từ những trại tù khác hay vừa mới bị bắt giam. Cánh cửa nhà tù liên tục đóng mở.
Nhưng nhà tù đã làm cho tôi thay đổi. Khi phạm tội ác, tôi là một thanh niên hư hỏng, nhưng nay đã tìm gặp lại chính mình. Và từ một kinh nghiệm tiêu cực, nhà tù đã biến thành một kinh nghiệm tích cực. Tôi đã làm chủ được chính mình và đã tìm ra những con đường mới.”
Norman giải thích rằng khi vừa bị giam, khả năng đọc viết của anh rất hạn chế vì anh là một học sinh lười biếng. Thế rồi, khi làm một vòng quanh sân nhà tù, anh nhận thấy các bạn tù khác, người đọc sách, kẻ viết thư cho gia đình và bạn bè. Anh thấy thất vọng vì mình không làm được như thế. Anh mơ ước sẽ có một ngày đuợc ngồi dưới ánh mặt trời, nhâm nhi tách cà phê và đọc một tờ báo hay một cuốn sách mình thích. Anh cũng mơ có ngày ngồi viết thư cho gia đình, bạn bè và chia sẻ những tư tưởng và cảm nghĩ của mình.
“Tôi liền quyết định không bỏ phí thời giờ trong tù, nhưng thay vào đó sẽ lợi dụng mọi phương tiện có sẵn. Tôi bắt đầu học. Đây chỉ là những bước tập tễnh, nhưng tôi cương quyết phải  đạt cho bằng được mục tiêu của mình. Một ngày nào đó, tôi cũng sẽ đọc và viết đàng hoàng.”
Giờ đây, sau 5 năm miệt mài, với nhiều kiên trì vất vả, Norman Yammine đã đạt được mục đích. Anh không những biết đọc biết viết trôi chảy mà còn hoàn tất một khóa về cách giúp người khác đọc và viết. Anh viết: “Họ biết ơn vì sự giúp đỡ của tôi và tôi cũng biết ơn vì có thể trao lại một cái gì đó.” Ngoài ra, anh cũng đã tham dự một khóa viết văn do một giáo sư trường TAFE hướng dẫn. Viên giáo sư này đã trao cho anh một cuốn Reader’s Digest và khuyên anh nên chia sẻ câu chuyện của mình.
Anh tâm sự: “Cuộc hành trình ngàn dặm của tôi bắt đầu bằng một bước nhỏ. Giờ đây, tôi đang hưởng từng khoảnh khắc sự thành công của tôi. Học viết và đọc ở một trình độ cao hơn đang mang lại cho tôi sức mạnh nội tâm để chia sẻ về mình một cách tích cực hơn. Tôi cũng đã có thể có những cuộc trò chuyện tốt đẹp hơn với gia đình và bạn bè của tôi.
Ngày mà tôi hằng mơ ước đã đến: giờ đây tôi có thể tận hưởng tách cà phê với một cuốn sách cầm trong tay. Học đọc và viết đã thay đổi cuộc sống của tôi và bài viết này là bài văn “đúng đắn” đầu tiên của tôi, nhưng sẽ không phải là bài cuối cùng.”
Tác giả kết thúc bài luận văn đầu tiên của mình với bài thơ có tựa đề “Cơn Mưa tháng 11” như sau:
Có quá nhiều kẻ thù ghét trong một nơi.
Họ mặc cả chuyện chiến tranh và biện minh cho chính nghĩa của mình.
Tôi ngồi ở đây và cố gắng sống tử tế.
Người ta tưởng tôi là kẻ mất trí.
Điều tôi đang làm là thay đổi cách sống của tôi, sửa sai những sai lầm của quá khứ.
Tôi không bao giờ quay trở lại quá khứ.
Khi tôi ra khỏi tù, người ta sẽ tưởng tôi là một đồ bỏ.
Tôi biết rằng hai tiếng “xin lỗi” của tôi sẽ không bao giờ xoa dịu mọi đau thương.
Nhưng tôi cầu nguyện cho trời lại sáng sau cơn mưa
(x. Reader’s Digest, Úc châu, số tháng 6/2011)
Norman Yammine xin Reader’s Digest chuyển món tiền nhuận bút từ bài viết này cho cơ quan Youth Off the Street. Anh cũng có ý định sẽ viết hồi ký khi ra khỏi tù, với hy vọng giúp cho người khác không đi vào con đường phạm pháp của anh.
Norman Yammine không chỉ biết đọc và biết viết để chia sẻ những ý tưởng và cảm nghĩ của mình. Anh không chỉ trau dồi nghệ thuật “cầm bút”. Theo tôi, điều quan trọng nhứt mà người tù này đã “học” được trong tù chính là biết sống như một con người “tử tế”, không chỉ tự giúp mình, mà còn trở nên “hữu ích” cho người khác.
Có lẽ đây là bài học mà ngày nay học sinh sinh viên ít học được từ trường học. Ngày xưa, trước năm 1975, ngoài môn công dân giáo dục, học sinh tại miền Nam Việt nam còn học thêm trong lớp những bài học “làm người” mà hầu như thày giáo nào cũng khéo léo đưa vào trong phần giảng dạy chuyên môn. Thày giáo không chỉ là người bán kiến thức, mà còn là người chia sẻ cái nhìn, kinh nghiệm sống, tư cách cũng như những giá trị đạo đức. Tôi còn nhớ trong năm học cuối cùng ở trường Collège d’Adran của các sư huynh La san ở Đà lạt, sư huynh hiệu trưởng cũng là người phụ trách môn triết học. Ngoài bài học “dưới cờ” vào mỗi thứ Hai hàng tuần, trong lớp học, vị sư huynh khả kính này lúc nào cũng tìm cách xen vào bài giảng một bài học luân lý. Cứ mỗi lần sư huynh lên “giọng đạo đức” thì thế nào cũng có vài học sinh cười cợt mỉa mai. Tôi không biết hiện nay, những người bạn học của tôi có còn giữ lại chút gì cho cuộc sống của họ không. Riêng tôi, những bài học vỡ lòng về làm người mà vị sư huynh này đã tìm cách truyền đạt cho học sinh, tôi vẫn còn nhớ như in và xem đó như một hành trang không thể thiếu được cho cuộc đời.
Ngày nay, không chỉ trong những nước cộng sản, mà ngay trong những xã hội dân chủ, ai cũng than phiền rằng “trình độ” đạo đức, phẩm hạnh hay nói chung “cách sống” của học sinh xuống cấp; đầu óc thì ngập tràn kiến thức, nhưng tâm hồn thì trống rỗng. Sách vở thì vô số kể, nhưng sự khôn ngoan thì lại thiếu vắng.
Thực ra, không chỉ trong thời đại thông tin toàn cầu này, mà ngay từ thập niên 1950, một tác giả người Anh là ông C.G.L. Du Cann cũng đã lên tiếng cảnh cáo về tình trạng thiếu giáo dục về “tư cách” và “đạo đức” của học sinh Anh. Trong phần đề tựa cuốn sách “Teach Yourself to Live” (Tự Học làm Người), xuất bản lần đầu tiên năm 1955,  tác giả đưa ra nhận xét: hầu như môn học nào cũng đều có thể được dạy trong trường học. Tuy nhiên, không có bất cứ trường học hay đại học nào có môn học làm người.
Theo tác giả, không gì quan trọng hơn là môn “học sống” và nghệ thuật sống. Mọi thứ kiến thức khác đều phụ thuộc vào nghệ thuật này, bởi vì mục đích của cuộc sống là sống cho ra người và có một cuộc sống tuyệt vời nghĩa là sống hạnh phúc.
Dĩ nhiên, cuộc sống tự nó đã là một trường dạy chúng ta phải sống như thế nào. Chúng ta thường nói đến “kinh nghiệm sống” và  “vốn  sống”. Điều này hoàn toàn đúng. Nhưng phải trải nghiệm nhiều thử thách và sai lầm, qua bao thất bại và khổ đau, chúng ta mới biết được, thường là muộn màng, phải sống như thế nào. Kinh nghiệm nào cũng thường chỉ học được bằng một cái giá có khi quá đắt.
Thực ra, ngay cả cái vốn học ở nhà trường cũng không đương nhiên mang lại thành công cho chúng ta. Không có Đại học nào có thể sản xuất ra những Shakespeare, những Beethoven, những Mozart, những Bill Gates hay những Nguyễn Du. Thiên tài có những tài năng thiên phú mà không phải ai cũng có được. Dù vậy, phải nhìn nhận rằng cái vốn liếng của học đường ngày nay đã đóng góp đáng kể vào sự tiến bộ của khoa học và kỹ thuật cũng như học thuật nói chung. Tốc độ tiến bộ của loài người trong khoa học và kỹ thuật quả đang làm cho chúng ta chóng mặt. Mỗi một ngày không cập nhựt đều là một bước thụt lùi khủng khiếp đối với mỗi người chúng ta.
Tuy nhiên, mặt khác, chúng ta lại nhận thấy rằng xem chừng nhân loại đã không đạt được một bước tiền nào trong lãnh vực luân lý, đạo đức hay nghệ thuật sống nói chung. Con người thời đại chúng ta chưa chắc đã “khôn ngoan” và “hạnh phúc” hơn con người của thời Đức Phật, Đức Khổng Tử, các nhà hiền triết Hy lạp hay Chúa Giêsu. Nhân loại ở những thời xa xưa ấy làm gì đã phạm những tội ác khủng khiếp như dưới thời Đức quốc xã, như trong các chế độ cộng sản hay như thời khủng bố toàn cầu ngày nay. Tổng số tội ác của nhân loại kể từ thuở hồng hoang của lịch sử cho đến thế kỷ đầu thế kỷ 20 có lẽ cũng không bằng tội ác của một thế kỷ 20 vừa qua và đầu thế kỷ 21 này. Có bao giờ cảnh giết người vô tội lại xảy ra hàng ngày và ở một qui mô rộng lớn cho bằng thời đại chúng ta không?
Cái chết của trùm khủng bố Osama Bin Laden không thể không gợi lại cho chúng ta sự tàn ác và “vô đạo” của con người thời đại.
Buổi tối hôm 1 tháng 5 vừa qua, khi tổng thống Hoa kỳ Barack Obama loan báo rằng “Osama Bin Laden đã chết, công lý đã được thực thi”, cũng là ngày kỷ niệm đúng 66 năm ngày một trong những đồ tể khét tiếng nhứt trong lịch sử nhân loại là Hitler chết. Thực vậy, ngày 1 tháng 5 năm 1945, chính phủ Đức loan báo Adolf Hitler đã chết. Cả hai đều là hiện thân của tài trí và sự thông minh được sử dụng chỉ để phục vụ Tội Ác. Cả hai đều xem việc sát hại những người vô tội như một trò chơi. Cách đây 2 ngàn năm, bạo chúa Nero của đế quốc La mã cũng đã từng xem việc sát hại những người vô tội như một trò chơi: ông cho nổi lửa đốt thành La mã, cười cợt một cách nham nhở và xem đó như một cái cớ để triệt hạ các tín hữu Kitô tiên khởi. Nhưng dù sao, “trình độ” độc ác của bạo chúa này có lẽ chẳng là gì so với sự tàn bạo của Hitler hay Osama Bin Laden, bởi lẽ sự dã man thường tỷ lệ thuận với trí thông minh và tài trí của con người. Con người càng thông minh thì sự độc ác càng khủng khiếp.
Ký giả Peter Bergen của tạp chí Time kể lại rằng năm 1997, khi thực hiện một chương trình cho Đài Truyền Hình CNN, ông có đi gặp Osama Bin Laden tại miền đông Afghanistan để thu hình cuộc phỏng vấn đầu tiên mà trùm khủng bố dành cho ông. Ký giả Bergen rất ngạc nhiên về sự thông minh của Bin Laden. Trùm khủng bố là một con người nắm vững mọi thông tin. Ông cư xử chẳng khác nào một đạo sĩ. Các “tín đồ” của ông tôn thờ ông, lắng nghe từng lời nói của ông.
Rất tiếc, Bin Laden đã sử dụng sự thông minh, tài trí, đảm lược của mình không phải để phục vụ người khác mà chỉ để nuôi dưỡng hận thù, khủng bố và tiêu diệt những người vô tội. Tôi thấy thương cho 3 người vợ và những đứa con của ông đã phải sống một cuộc sống không bình thường khi theo ông từ những hang động ở Afghanistan hay cuộc sống đóng kín tại Abbottabad. Là một người chồng và cha, hẳn Osama Bin Laden cũng mong cho vợ con mình được sống hạnh phúc. Nhưng với cuộc sống “cuồng nộ” và đầy thù hận của ông, ông không chỉ sát hại vô tội vạ những người vô tội, ông cũng đầy đọa chính bản thân và người thân của mình. Ông có tiền rừng bạc bể trong tay, ông có trí thông minh hơn người, nhưng ông không bao giờ được dạy hay tự mình học được bài học đạo đức vỡ lòng: “Những gì ngươi không muốn người khác làm cho ngươi thì cũng đừng làm cho họ.” Hay tích cực hơn như Chúa Giêsu đã dạy: “Những gì ngươi muốn người khác làm cho ngươi thì cũng hãy làm cho họ.”










Thứ Hai, 15 tháng 12, 2014

Facebook


Chu Thập
02.06.11


Cách đây không lâu, một đứa cháu gái 9 tuổi của tôi có gởi email cho tôi và mời tôi xem “Facebook” của nó. Tôi định trả lời rằng tôi có biết cái “quái” gì về Facebook đâu mà xem. Nhưng nghĩ lại thấy mình nhẫn tâm quá cho nên tôi đành dẹp bỏ tự ái về sự ngu dốt và lạc hậu của mình để nhờ người giải thích về cái loại hình “mạng” mới này hầu còn có dịp liên lạc với đứa cháu gái và cũng để tỏ ra mình là người “thức thời” với những cái mới mẻ trên thế giới. Dĩ nhiên, “mới” với tôi chứ với người ta thì nó cũng đã cũ rích rồi. Thời buổi này, vừa mới “cập nhựt” (up date) đó thì cũng “lỗi thời” (out of date) ngay!
Trong thời đại thông tin toàn cầu này, kỹ thuật thông tin tiến nhanh đến độ làm cho tôi luôn cảm thấy choáng váng và bị bỏ lại đàng sau. Có những thứ tôi định nhào vô để gọi là bắt kịp thời đại thì người ta bảo rằng nó đã lỗi thời rồi.
Đừng nói gì đến Iphone, IPod, IPad, “Ai béo” hay Twitter gì cả, ngay với cái điện thoại di động mà tôi cũng đã cảm thấy lúng túng rồi. Trước kia, tôi cũng nghe lời khuyên của nhiều người, sắm một cái điện thoại cầm tay rồi để trong xe chứ chẳng có cầm trên tay hay bỏ trong túi bao giờ cả. Thấy cứ phải cho người khác số điện thoại, phải nhận điện thoại vào những giờ mình chẳng muốn chút nào như đang lái xe và nhứt là mất giờ vì phải lịch sự hầu chuyện vào những lúc cần làm việc, cho nên chỉ sau một thời gian ngắn, chiếc điện thoại di động của tôi được cho vào ngăn kéo để trở thành một “bất động sản”. Mới đây, có người nhờ tôi cầm giùm cái điện thoại di động tối tân của họ và trả lời nếu có người gọi.Thế là khi điện thoại reo, tôi đã lúng ta lúng túng và bấm lung tung trên các ký hiệu mà chẳng nhận được tín hiệu nào cả.
Tôi vẫn biết rằng ngày nay có đến 60 phần trăm dân số trong hơn 6 tỷ người trên thế giới đang sử dụng điện thoại di động. Tôi cũng biết rằng điện thoại di động là phương tiện liên lạc không thể thiếu được trong thời đại “a còng” này. Nhưng tôi vẫn cứ “ngoan cố” không sử dụng nó mà vẫn không thấy “chết thằng tây” nào cả.
Đây có lẽ không phải “lỗi tại tôi mọi đàng” đâu. Theo một vài cuộc nghiên cứu thì thế hệ ‘baby boomer’ của tôi, nói theo kiểu Tây, là thế hệ có nhiều người ngoan cố, chậm tiến và kém thích nghi với ba cái chuyện vi tính và internet. Có lẽ vì thế hệ tôi vẫn còn thấy “nguyên si” giá trị của lối sống “tiền vi tính”, lại không lanh tay lanh mắt như đàn em “hậu vi tính” nên trong khi vẫn quý trọng cách thông tin giữa người với người hơn là nói chuyện với những cái máy, tôi vẫn biết mình phải cố gắng chạy theo những tiện nghi do cuộc cách mạng thông tin mang lại. Nhưng không phải cái gì tôi cũng chạy theo. Tôi lý luận, này nhé, mỗi năm, cùng lắm xảy ra một vài trường hợp khẩn cấp, tôi chỉ mất khoảng nửa tiếng dồng hồ để đi tìm điện thoại công cộng và tốn tối đa một đồng là xong ngay. Không phải là “trùm sò”, nhưng tôi thấy mỗi tháng mình cũng tiết kiệm được vài chục đồng. Rồi lại không bị cái cảm giác ngay ngáy lo có ai gọi khi lỡ để quên cái “của nợ” ở nhà. Vả lại đã có email và điện thoại nhà rồi thì với cuộc đời đang “đi dần vào hưu trí” như tôi có còn chuyện gì để gọi là khẩn cấp ngoại trừ gọi xe cứu thương! Mà gọi ba số không thì luôn luôn miễn phí. Thế là cái điện thoại đi động tượng trưng cho “nền văn minh nhân loại” này bị loại ra khỏi đời sống của tôi.
Dù là thành viên của 40 phần trăm trong cộng đồng nhân loại không xài điện thoại di động, nhưng ít ra tôi cũng còn hơn MC Nguyễn Ngọc Ngạn. Tôi nghe nói ông MC nổi tiếng này không những không sử dụng điện thoại di động, mà cũng chẳng màng đến email hay Internet gì cả. Riêng tôi, cũng còn biết liên lạc bằng email và gõ vào Google để đọc tin tức và tìm kiếm tài liệu. Dù sao, tôi thấy cũng “hãnh diện” chứ không đến nỗi “mất mặt” khi vẫn tiếp tục ở trong hàng ngũ những người “lạc hậu” như ông MC Nguyễn Ngọc Ngạn. Cho dẫu tỷ phú trẻ Mark Zuckerberg, người sáng lập “Facebook” có được tạp chí Time chọn làm “Người của năm 2010” vì đã có công thiết lập mạng lưới này để cho 600 triệu người trên thế giới có thể “tự khẳng định” bằng cách đưa “hình ảnh” của mình cho người khác xem, tôi vẫn cương quyết không chường cái “bản mặt” chẳng mấy đẹp đẽ và vẻ vang của mình ra.
Dĩ nhiên, ngoài chuyện ngoại hình “kém” tôi còn có lý do khác của tôi. Mới đây, tôi có đọc được một bài viết của ký giả Philip Adams trên phụ trương “The Weekend Australian Magazine” của báo The Australian số ra cuối tuần qua. Tác giả suy nghĩ về “cái mặt” của con người nhân cái chết của trùm khủng bố Osama Bin Laden.
Theo tác giả, trước khi bị các lực lượng đặc biệt của Hoa kỳ bắn nát, gương mặt của Osama Bin Laden trông chẳng khác nào một ông thánh. Cứ thử tưởng tượng chẳng biết gì về ông và nhìn lại những bức hình của ông xem. Mặc dù là một người bị thù ghét nhứt trong lịch sử nhân loại, không kém thì cũng ngang ngửa với những tay đồ tể như Hitler, Stalin và Pol Pot, gương mặt của ông trông bình thản, đầy vẻ cảm thông và ân cần. Phải nói ông có đôi mắt hiền từ. Cái miệng của ông thì khỏi nói, dường như nó được nhào nặn để chỉ nói những lời tế nhị. Nói cho cùng, thoạt nhìn bên ngoài, lẽ ra từ nơi ông chỉ toát ra cung cách của một người nhân từ, nhẫn nhục, hiền lành, dễ thương. Dĩ nhiên, người ta cũng có thể nói như thế về các tay đồ tể Hitler, Stalin và Pol Pot.
Nhưng tác giả Philip Adams nói rằng gương mặt của Osama Bin Ladan cũng gợi lại cho ông một gương mặt nổi tiếng trong cuốn phim tài liệu về thời kỳ quân phiệt tại Hy lạp từ năm 1967 đến năm 1974, thường được mệnh danh là “chế độ của các đại tá Hy lạp”. Không có bất cứ bức “Icon” Hy lạp nào của thế kỷ 18 trông thánh thiện hơn nhân vật chính trong cuốn phim tài liệu này. Nhưng trong cuộc phỏng vấn được thu hình, nhân vật này thú nhận rằng ông đã từng đứng đầu bộ máy tra tấn của chế độ quân phiệt. Ông nói: “Tôi đã từng làm cho bao nhiêu người thành điên khùng. Tôi đã biến họ thành cỏ cây.”
Thông thường, “trông mặt mà bắt hình dong”, tướng mạo và nhứt là khuôn mặt có thể thể hiện tính tình, tức một phần nội tâm và ngay cả cái bí ẩn của con người. Ai cũng muốn tạo một ấn tượng tốt khi lần đầu tiên gặp gỡ với người khác, nhứt là khi đi trình diện phỏng vấn để xin việc làm. Tuy nhiên, lầm lẫn về “ngoại diện” cũng là chuyện bình thường. Bên kia một khuôn mặt lạnh lùng hay dữ dằn có khi lại tiềm ẩn một vị thánh. Nhưng cũng có khi một vị thánh lại xuất hiện dưới hình dáng của một người bệnh hoạn hay điên loạn. Đây là cái nhìn của danh họa Tây ban nha El Greco vào thời Văn nghệ Phục hưng tại Âu châu vào thế kỷ 16, 17. Để vẽ các thánh, ông thường dùng những người điên trong bệnh viện tâm thần Toledo làm người mẫu. Dĩ nhiên, ngày nay các chuyên gia tâm lý có thể chứng minh cho chúng ta thấy rằng không thiếu những người tự cho là có “thị kiến” hay được “thần khải” trong thực tế chỉ là những người mắc bệnh hoang tưởng. Do đó, cứ “trông mặt mà bắt hình dong” thì hẳn phải bé cái lầm. Osama Bin Laden là trường hợp cụ thể nhứt.
Việc lực lượng đặc nhiệm Hoa kỳ hạ sát ông tại Abbottabad, Pakistan  hôm 1/5/11 cũng gợi lại việc Israel bắt giữ tay đồ tể đức quốc xã Adolf Eichmann tại Argentina hồi năm 1960. Eichmann trông giống như một nhân viên kế toán tỉnh lẻ hơn là một đồ tể khát máu.
Trường hợp gương mặt của Hitler có lẽ cũng thế thôi. Trong cuốn phim có tựa đề “Swastika” được thực hiện hồi năm 1973, đạo diễn Úc Philippe Mora đã làm cho cả thế giới phải sửng sốt và ngay cả phẫn nộ khi mô tả gương mặt hiện thân của Sự Dữ như một người đàn ông gương mẫu vui đùa hạnh phúc bên cạnh người tình Eva và những con chó của ông tại tổ uyên ương ở Berchtesgaden. Nói gì đến nụ cười “nhân ái” của Mao Xếnh Xáng, kẻ đã xây dựng quyền lực của mình trên thây chết của không dưới 30 triệu đồng bào ruột thịt. Nói gì đến bộ mặt trông chẳng có gì là “độc ác” của lãnh tụ Khmer Đỏ, Pol Pot, người đã sát tế gần 2 triệu đồng bào của mình trên bàn thờ những “cánh đồng giết người”. Nói gì đến gương mặt của kẻ tự xưng là cha già dân tộc, con người “khiêm tốn nhường bao” và “ai yêu các cháu nhi đồng bằng…”, nhưng lại là tội đồ gây ra bao nhiêu đau thương tang tóc cho dân tộc Việt nam.
Quả thực, diện mạo bên ngoài không thể nói hết những bí ẩn trong trái tim con người. Danh họa Leonardo da Vinci của Ý cũng đã từng lầm lẫn như thế khi sáng tác bức tranh nổi tiếng “Bữa tiệc ly”. Sau khi đã vẽ xong gương mặt của Chúa Giêsu và 11 vị tông đồ ngồi đồng bàn với Ngài, danh họa mới đi tìm người làm mẫu để họa lại gương mặt của Giuda, kẻ bán Thày. Mất một thời gian tìm kiếm, cuối cùng ông đã gặp được một người mà ông nghĩ sẽ là người mẫu thích hợp nhứt để ông họa lại gương mặt của Giuda. Sau một hồi thăm hỏi chuyện vãn, Leonardo da Vinci mới khám phá ra rằng người mà ông mời làm người mẫu để vẽ chân dung của Giuda cũng chính là người đã từng ngồi trước mặt ông để ông họa chân dung của…Chúa Giêsu!
Thì ra, theo Philip Adams, “những gương mặt không tiết lộ cho chúng ta nhiều điều. Chức năng chính của gương mặt là để giúp nhận diện chúng ta cũng như các dấu tay. Dĩ nhiên, đôi khi gương mặt hoàn toàn hợp với con người như trường hợp một Đức Đạt Lai Lạt Ma, một Richard Nixon, một Nelson Mandela hay một Donald Trump”. Nhưng, nói chung, giữa gương mặt và con người thực có khi khoảng cách là cả một trời một vực.
Ngày nay, khoảng cách ấy lại càng dễ được kéo dài thêm. Thời tôi còn để chỏm, đàn bà con gái nào “tô son trét phấn” một chút đều bị liệt vào hạng người không đàng hoàng. Ngày nay, trang điểm là chuyện tự nhiên và được xem là một điều phải làm đối với phái nữ. Không những thế, người ta còn cắt xén, “sửa sang” cho khuôn mặt được xinh đẹp hơn, ngay cả được thay hình đổi dạng hoàn toàn là khác. Khoa học đã tiến đến độ “ghép mặt”, nghĩa là đắp lên gương mặt méo mó hay bị tàn phá của mình bằng gương mặt của một người hoàn toàn xa lạ chẳng phải là chuyện khoa học giả tưởng hay trong phim ảnh, sân khấu nữa.
Chuyện này gợi lên cho tôi một ý tưởng: con người thích mang khuôn mặt của một người khác hơn của chính mình.  Mang thôi chứ không hẳn muốn trở thành người khác. Khuôn mặt của người khác ấy có thể là khuôn mặt của một nhân vật tiểu thuyết, một anh hùng dân tộc, một tài tử điện ảnh, một nhà trí thức. Trong xã hội mà mọi thứ đều có thể “giả” được như Việt nam chẳng hạn, người ta cũng thấy nhan nhản những con người “giả”. Giả nhiều nhứt hẳn phải là những người đeo mặt nạ trí thức. Cái cốt thì vẫn là “dốt đặc cán mai”, nhưng bằng cấp thì đầy người, tước hiệu gì cũng có.
Nhưng trong các thứ giả, lố bịch nhứt vẫn là “giả hình”, tức đeo vào chiếc mặt nạ đạo đức và tự cho mình có quyền phê phán người khác. Nhân vụ ông Dominique Strauss-Kahn, tổng giám đốc Quỹ Tiền Tệ Thế Giới bị bắt giữ vì tội tấn công tình dục một nữ nhân viên phục vụ trong một khách sạn ở Hoa kỳ, tạp chí Time số ra tuần này đã dành trang chủ để nói về “tình dục, dối trá, kiêu căng” của những người đàn ông có quyền lực. Nhân tiện, tờ báo cũng nói đến những người “không nhìn thấy cái đà trong mắt mình, mình chỉ nhìn thấy cái rác trong mắt kẻ khác”. Báo Time viết rằng ít ra “ông Strauss Kahn không bị tố cáo vì dụ dỗ vợ của người bạn thân mình như cựu nghị sĩ John Ensigh, hoặc bao che cho các cô gái điếm mà vẫn cứ đi truy tố các đường giây bán dâm như cựu thống đốc New York Eliot Spitzer,  hoặc như cựu chủ tịch Hạ viện Newt Gingrich chối quanh về một vụ tình ái lăng nhăng mà vẫn tìm cách bãi nhiệm một tổng thống chỉ  vì ông này cũng  chối quanh về một vụ tình ái”.
Bởi vậy, dù đã năm lần bảy lượt tìm hiểu về Facebook, rồi cũng có lần suýt định nhờ xấp nhỏ trong nhà “đăng ký” làm thành viên của Facebook tôi vẫn thấy mình “không thể là không thể”. Mặt mũi thì đã chẳng bằng ai mà tâm hồn thì lấm lem lấm lọ, chẳng có gì đáng để cho thiên hạ dòm. “Đẹp khoe xấu che” thì tôi không thích. Thôi đành làm một người “không chân dung” nhưng thành thật vậy.





Thứ Sáu, 12 tháng 12, 2014

Yêu là chấp nhận khác biệt và bất toàn


Chu Thập
5/12/14



Cuối tuần rồi, tôi được  tham dự một lễ cưới thật...dễ thương. Dễ thương vì nghi lễ diễn ra ngoài trời, trong bầu khí đơn sơ, thân tình, trên một ngọn đồi nhìn xuống vịnh Sydney. Dễ thương là vì cô dâu không đội “voan”, không mặc chiếc áo cưới dài lê thê lếch thếch, không trang điểm lòe loẹt và có lẽ cũng chẳng phải làm một kiểu tóc đặc biệt nào cả. Người tham dự muốn đứng đâu cũng được, ăn mặc thế nào cũng xong và thơ nhi thì tha hồ chạy qua chạy lại và được “tự do ngôn luận” nói cười. Nhưng có lẽ dễ thương nhứt là lúc trao đổi lời hứa hôn, chú r đã bật khóc một cách ngon lành.
Tôi nghĩ một số người Việt có mặt trong hôn lễ hôm đó không thể không liên tưởng đến hình ảnh của đôi đũa lệch khi nhìn cặp uyên ương. Chú rể là một người Úc cao lớn, dềnh dàng. Mỗi lần muốn hôn cô dâu, anh phải uốn cong người một cách thật khổ sở, nhưng dĩ nhiên cũng thật dễ thương. Cô dâu là một cô gái Việt Nam nhỏ bé, mảnh khảnh. Nhưng theo phiếu lý lịch mà tôi được biết, cô dâu là một tiến sĩ khoa học, hiện đang có một công việc làm tốt. Chú rể chỉ mới tốt nghiệp đại học, hiện chỉ làm việc bán phần.
Tôi thích diễn tiến của nghi lễ “dân sự” do một phụ nữ người Úc cử hành. Chắc đã phải nghiên cứu “hồ sơ” của đôi tân hôn rất kỹ, cho nên trước khi hai người trao đổi hôn ước và đeo nhẫn cho nhau, vị chủ hôn này đã đưa mọi người hiện diện phải rưng rưng cảm động và cười chảy nước mắt theo từng diễn tiến của một cuộc tình mà tôi nghĩ, nếu được lắng nghe, có lẽ các nhà làm phim ở Hollywood hẳn phải tìm cách đưa lên màn ảnh thôi. Từ lúc quen nhau qua Internet đến lúc góp gạo nấu cơm chung và “sống thử” trước khi chính thức trao nhẫn cho nhau, đôi bạn trẻ lúc nào cũng “tương kính như tân” và luôn cố gắng để thích nghi với nhau vì vô số những khác biệt giữa hai người. Tất cả câu chuyện tình của họ là những chuyện nhỏ, rất nhỏ hàng ngày. Nhưng tất cả nói lên sự cần nhau để hóa giải những khác biệt và bất toàn của nhau. Tôi vẫn nhớ mãi câu nói ví von của chú rể khi thề thốt với cô dâu: “Anh là chiếc xe còn em là đầu máy” (I’m the Car, you are the Engine). Chiếc xe có mẫu mã “hoành tráng” cách mấy, nhưng nếu không có “đầu máy” thì làm sao chạy được. Còn đầu máy, dù có tối tân và tinh vi đến đâu, nếu không có “bánh xe” thì cũng dậm chân tại chỗ thôi. Nhưng có một chi tiết trong cung cách hầu như tương phản nhau của cặp tân hôn được vị chủ hôn nhấn mạnh là: chú rể là một chàng thanh niên vụng về, “luộm thuộm” (messy) nhưng nhiệt tình và tốt bụng trong khi cô dâu là người mực thước, chín chắn, luôn suy tính như một khoa học gia, nhưng lúc nào cũng tế nhị trong cách đối nhân xử thế.
Tôi đã tham dự không biết bao nhiêu lễ cưới, phần lớn được cử hành theo nghi lễ tôn giáo. Tôi đã nghe không biết bao nhiêu “bài giảng” của các vị chức sắc tôn giáo. Nhưng có lẽ đây là lần đầu tiên, tôi đã cố gắng “nuốt” từng lời trong bài chia sẻ và nhắn nhủ của vị chủ hôn cũng như những lời thề thốt vượt ra ngoài khuôn phép và công thức chiếu lệ của đôi tân hôn. Tất cả đều qui về một chủ điểm là những khác biệt và bất toàn của con người. Hôn nhân hay tình yêu là một cuộc hành trình để chấp nhận và sống với những bất toàn và thiếu sót của người mình yêu.
Từ trên đồi nhìn xuống vịnh Sydney, ngắm các thuyền bè qua lại trên sóng nước, tôi nghĩ miên man về cuộc hành trình ấy. Xét cho cùng, bí quyết của hạnh phúc chính là biết chấp nhận và sống với những bất toàn của mình cũng như của tha nhân.
Trên báo mạng “Psychologytoday”, tôi  đọc được ý tưởng ấy trong một bài viết của giáo sư Arthur Dobrin, hiện đang giảng dạy về môn đạo đức tại đại học Hofstra, Hoa Kỳ. Tác giả ghi lại một giai thoại về nhà bác học Robert Alexander Watson-Watt (1892-1973), người đi tiên phong trong việc phát triển ngành “Radar”. Chính ông là người đã sáng chế ra một hệ thống để dò tìm máy bay. Phát minh này đã góp phần vào chiến thắng của Không lực hoàng gia Anh trong thời Đệ Nhị thế chiến.
Giải thích về quyết định tại sao phải dùng một hệ thống “radar” chưa được hoàn hảo để bảo vệ bờ biển của Anh Quốc, ông Watson-Watt nói rằng giữa ba điều phải chọn lựa: một là điều tốt nhứt nhưng không thể thực hiện được, hai là điều tốt nhứt nhưng luôn đến muộn và ba là điều không tốt nhứt nhưng ở trong tầm tay, ông luôn chọn lựa điều thứ ba.
Thời trung học, tôi đã học thuộc lòng câu ngạn ngữ Pháp “Thà có một đồng trong tay còn hơn 2 đồng chưa có” (un tiens vaut mieux que deux tu l’auras) được thi sĩ Jean de La Fontaine trích dẫn trong bài thơ ngụ ngôn “Con cá nhỏ và người câu cá” (Le petit Poisson et le Pêcheur). Cho tới ngày nay, mỗi lần bị cám dỗ muốn có thái độ “cầu toàn” đối với bản thân hay người khác, tôi thường đem câu nói trên đây là nghiền ngẫm. Nó giúp tôi biết chấp nhận những giới hạn của mình và sống với giây phút hiện tại hơn.
Cách đây gần 200 năm, một văn hào Pháp khác là Francois Voltaire (1694-1778), đã tóm tắt cái triết lý ấy trong câu nói: “Sự toàn hảo là kẻ thù của điều thiện”. Tôi nhận thấy hầu hết các nhà sáng lập tôn giáo đều đề ra những lý tưởng sống cao quý tưởng chừng như không thể thực hiện được. Nhưng trong đối nhân xử thế, lúc nào các ngài cũng kêu gọi con người luôn biết tỏ ra cảm thông để chấp nhận, chớ không lên án những thiếu sót và lầm lỡ của người khác. Tôi nghĩ đến cung cách của Chúa Giêsu khi Ngài ngồi đồng bàn với những người thu thuế và gặp gỡ các cô gái điếm, vốn là hạng người mà vì cầu toàn và tự cho mình là người đạo đức, những người thuộc nhóm “biệt phái”, tức muốn tách biệt ra khỏi đám người phàm phu tục tử, luôn đẩy ra bên lề xã hội. Đúng như văn hào Voltaire đã nói “cái toàn hảo là kẻ thù của điều thiện”. Trong lịch sử nhân loại, con người cứ phải lập đi lập lại tấn tuồng: họ nhân danh sự hoàn hảo để bách hại và triệt hạ người khác. Như ai đó đã nói, con đường dẫn xuống địa ngục được lát toàn bằng thiện ý, tức ý muốn làm điều toàn hảo. Chủ nghĩa cộng sản, xét cho cùng, cũng là một thứ tôn giáo tôn thờ điều toàn hảo. Vì muốn xây dựng một thiên đàng trần gian không có cảnh người bóc lột người, người ta đã sát hại hàng triệu triệu sinh linh để gọi là xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa.
Theo giáo sư Dobrin, một lý do khiến cho mục tiêu hoàn hảo “phản tác dụng” là vì những  cố gắng cần có để đạt được mục tiêu ấy đòi hỏi quá nhiều năng lực và khi đạt được thì mục tiêu ấy lại chẳng còn hữu dụng nữa. Chuyện “radar” được Không lực hoàng gia Anh sử dụng hồi năm 1940 là một thí dụ điển hình. Nếu không sử dụng một phương tiện chưa hoàn hảo hiện đang có trong tay mà phải chờ đợi cái hoàn hảo và tốt nhứt thì Không lực hoàng gia Anh có lẽ đã bị Đức Quốc Xã tiệt diệt mất rồi.
Chân lý nền tảng nhứt trong cuộc sống mà có lẽ ai cũng phải nhận ra là: con người vẫn mãi mãi bất toàn và giới hạn. Sự hiểu biết không đến một lúc mà phải tốn bao nhiêu công sức để tìm tòi và thử nghiệm mới tìm thấy là một bằng chứng hùng hồn nhứt về giới hạn của con người. Sự đào thải trong suy nghĩ và phát minh cũng nói lên điều đó. Các lý thuyết khoa học cứ chồng chất lên nhau và có khi loại trừ nhau. Mỗi ngày lại thêm một phát minh mới. Các tiện nghi vừa được trình làng ngày hôm trước, ngày hôm sau có thể đã lỗi thời. Con người thời đại đã chế ngự được không biết bao nhiêu bệnh tật, nhưng vẫn phải mãi mãi bó tay trước vô số những điều bất trắc xảy ra cho sự sống con người. Sự bùng nổ của dịch bệnh Ebola, một lần nữa nói lên tính giới hạn và sự sống mong manh của con người. Sự kiện ấy cho thấy con người sẽ chẳng bao giờ đạt được cái hoàn hảo. Điều được xem là tốt đẹp ở một thời, một nơi và với một người nào đó, có thể không còn phù hợp với một thời khác, một nơi khác hay với một người khác.
Chính vì không thể đạt được mà điều hoàn hảo thường dẫn đến thất vọng cho con người. Không những dẫn đến thất vọng, việc tôn thờ và đeo đuổi điều hoàn hảo cũng có thể đẩy con người vào thái độ cuồng tín. Nếu người cộng sản đã muốn lùa mọi người vào các trại tập trung để gọi là cải tạo tư tưởng hầu xây dựng một thế giới hoàn hảo, thì ngày nay một số người hồi giáo quá khích cũng không chủ trương khác hơn: họ muốn qui tất cả thế giới về một mối để chỉ nhìn nhận và thờ phượng Đấng Allah của họ. Cái thế giới hoàn hảo mà những người hồi giáo quá khích này muốn xây dựng sẽ chẳng bao giờ đến, mà trước mắt người ta chỉ thấy cảnh tàn sát, giết người một cách man rợ mà có lẽ không một nền văn minh nào từ cổ chí kim có thể chấp nhận được.
Suy nghĩ về những bất toàn và thiếu sót của con người, nhứt là trong bối cảnh tôn giáo, tôi thấy hiện ra trước mắt hình ảnh thật đẹp của cái hôn bình an, hòa giải và tha thứ mà trong chuyến viếng thăm Thổ Nhĩ Kỳ mới đây, vị đại diện của trên một tỷ người công giáo trên khắp thế giới là Đức Phanxicô đã trao cho vị đại diện của Giáo hội Chính thống là Đức Thượng Phụ Bartôlômêô I. Cách đây 1000 năm, hai truyền thống Kitô giáo lớn nhất thế giới này đã loại trừ nhau, “tuyệt thông” với nhau chỉ vì không chấp nhận những khác biệt và dĩ nhiên những bất toàn lịch sử của nhau. Cái hôn mà các nhà lãnh đạo tôn giáo lớn trên thế giới có thể trao cho nhau dường như muốn nói lên rằng bề dày lịch sử của các tôn giáo gia tăng không phải vì các di tích, các đền hay tượng thờ, mà do những bước đi tới để tháo gỡ những nghi kỵ, để chấp nhận những khác biệt và nhứt là bất toàn của các tổ chức tôn giáo, vốn chỉ là công trình bất toàn của con người bất toàn. Chỉ có những bước đi như thế mới thể hiện được bộ mặt đích thực mà tôn giáo nào và người có tôn giáo nào cũng luôn được nhắc nhở để tỏ bày: đó là bộ mặt của khoan nhượng, cảm thông và tha thứ.
Vào những dịp cuối năm, nhìn lại cuộc hành trình của mình là điều mà dù có tôn giáo hay không, có lẽ ai cũng được khuyến khích để làm. Tôi thấy hồi đầu tuần này thủ tướng Tony Abbott đã làm một cử chỉ đáng ca ngợi: ông đã tự đấm ngực để nhận lỗi về những thất bại của chính phủ do ông lãnh đạo. Lâu nay, vốn giữ thói hung hăng con bọ xít của những ngày làm đối lập, lúc nào ông cũng huênh hoang về những thành tích của mình và không bao giờ chấp nhận những bất toàn và thiếu sót trong các chính sách do ông đề ra.
Với cá nhân tôi, nhìn lại các quan hệ của mình với tha nhân và với chính bản thân là điều kiện để có được cái tâm an bình. Đạo lý của ông bà tổ tiên dạy phải “thương người như thể thương thân”. Trong các giới răn của đạo làm người, “thương thân” là điều cơ bản nhứt. Thương mình là chấp nhận và tha thứ cho những bất toàn và lầm lỡ của mình. Không chấp nhận và hòa giải với bản thân thì làm sao mới có được niềm an bình. Và dĩ nhiên, không chấp nhận, cảm thông và tha thứ cho bản thân thì làm sao có thể chấp nhận những khác biệt và tha thứ cho những bất toàn, lầm lỡ của tha nhân.
Nghĩ như thế cho nên trong Mùa Giáng Sinh năm nay, tự dưng tôi nghĩ đến sự “thiện tâm” cần có đối với bản thân và tự cầu chúc cho mình: bình an dưới thế cho người thiện tâm!



Thứ Tư, 10 tháng 12, 2014

Đã Sống!


                                                                           Chu Thập
10.05.11

Nhà viết tạp ghi Huy Phương, sau một vòng tả oán về cuộc sống tất bật tại Mỹ, đã kết luận: “Ôi! Nước Mỹ lạnh lùng. Nước Mỹ khép kín. Nước Mỹ thiếu tình người…Các sinh hoạt tập trung vào các khu kỹ nghệ, các khu thương mãi. Ngày thường bạn thử lái xe đi một vòng vào các khu dân cư mà xem sao, nó chẳng có sinh khí chút nào, kiểu vườn không nhà trống, kiểu vùng tạm chiếm “vắng bóng trâu cày trên đồng, vắng bóng heo gà trong sân” (P.D). Và con người lạnh lùng, đầu môi chót lưỡi, miệng nói: “Hi! How do you do!” nhưng trong lòng thì chẳng mảy may rung động…” (Huy Phương, Nước Mỹ Lạnh Lùng, tuyển tập tạp ghi, Nam Việt, Hoa kỳ 2006, trg 30)
Nước Úc miệt dưới của tôi nổi tiếng là nơi có nhiều thành phố “đáng sống” nhứt trên thế giới. Mới đây, nhân Ngày của Mẹ, người ta cũng trích dẫn kết quả của một cuộc thăm dò nào đó để bảo rằng Úc là nơi tốt nhứt để “làm mẹ”.Trong cuộc sống hằng ngày, tôi cũng đã từng nhận được những cử chỉ ân cần, tử tế của rất nhiều người Úc và rất hãnh diện được làm một người Úc.
Tuy nhiên, khi đọc mấy dòng tạp ghi trên đây của nhà văn Huy Phương, tôi thấy Nước Úc của tôi cũng “lạnh lùng” không kém. Tôi có cảm nhận ấy nhân cái chết của cụ bà hàng xóm của tôi.
Bà cụ ở sát vách nhà tôi. Linh tính đã nhiều lần mách bảo với tôi rằng cụ bà 81 tuổi này sẽ ra đi vào một lúc không ai hay biết. Mà thật như vậy. Một buổi sáng cách đây một tuần, nếu không có xe cứu thương đến, nếu không có bóng cảnh sát xuất hiện và cuối cùng nếu không có xe nhà quàn đậu trước nhà, thì tôi không tin là bà cụ đã ra đi vào đêm hôm trước. Cách đó hai tối, nhà tôi và tôi có sang giúp đỡ cụ. Chúng tôi thật ái ngại khi phải đưa cụ lên giường và bỏ cụ lại một mình.
Sau khi người chồng qua đời cách đây 5 năm, cụ bà sống một mình, nhưng tương đối không neo đơn lắm. Thỉnh thoảng, người con gái và con cháu bà cũng đến thăm nom. Tháng Giêng vừa qua, họ còn cho bà làm một chuyến đi Cruise trên biển hơn một tuần lễ. Nhân viên chăm sóc (carer) thì một tuần đôi ba lần cũng đến giúp đỡ bà. Nhìn bên ngoài, người ta tưởng bà có thể sống độc lập và tự lo cho mình trong hầu hết mọi nhu cầu. Thực tế, tôi ái ngại là bởi đã thấy xuất hiện nơi bà những hội chứng của căn bệnh “mất trí” (dementia) đang tấn công não bộ của bà. Một trong những dấu hiệu đó là nói trước quên sau và thường lập đi lập lại một điều đến năm lần bảy lượt. Đã từng là một giáo sư âm nhạc, cụ bà vẫn còn thỉnh thoảng gõ đàn Piano. Nhựt báo, cụ cũng đọc mỗi ngày. Nhưng tiếng đàn và tin tức hằng ngày trên báo đã không ngăn cản được tiến trình thoái hóa của não bộ. Dù vậy, tuyệt nhiên, cụ cương quyết không để cho người con gái đưa vào viện dưỡng lão. Có lẽ cụ đã thấy trước cái chết bất đắc kỳ tử của mình và muốn được ra đi trong khung cảnh bình yên của ngôi nhà thân thương của mình chăng?
Và cụ đã lặng lẽ ra đi. Lặng lẽ đến độ buổi sáng hôm đó, cả cái xóm nhỏ của tôi không ai hay biết. Nếu ở Việt nam hay trong một khu có đông người Việt sinh sống thì có lẽ người ta đã ùa đến nhà, nếu không vì hiếu kỳ, thì cũng để chia sẻ niềm đau với người thân của cụ bà. Đàng này, từ nhà nhìn ra, tôi thấy cái xóm nhỏ với gần 20 nóc nhà của tôi vẫn bình lặng và “lạnh lùng” như không có chuyện gì xảy ra.
Hôm đưa đám ma bà cụ, tôi lại càng thấy cái xóm nhỏ của tôi lạnh lùng hơn nữa. Ngoài gia đình tôi và một người đàn bà gốc Hoa mới dọn về được vài năm, tôi không thấy có một người nào trong xóm có mặt trong đám tang. Cũng lạ thật, mới hôm tiệc Giáng Sinh của khu xóm hồi năm ngóai, hầu như mọi người đều có mặt và tỏ ra rất thân thiện với bà. Vậy mà, cái “nghĩa tử nghĩa tận” xem ra chẳng có ý nghĩa gì đối với những người láng giềng của bà cụ!
Thực ra, có xảy ra một đám ma như thế, tôi mới hiểu thêm cái văn hóa của người Úc. Sự ra đi của bà cụ hàng xóm là dịp để tôi tham dự một đám tang của người Úc. Tôi thấy nó khác với đám tang của người Việt mình xa lắm. Không có những tiếng kêu gào thương khóc, dù là khóc dối như những người “khóc mướn”. Ai bảo người Úc hay người Tây phương nói chung chỉ biết môi mép bên ngoài!
Điều lôi kéo sự chú ý của tôi nhiều nhứt là trong tang lễ, tôi nhận thấy người con gái của cụ mặc một chiếc áo đầm màu hồng tươi, trên cổ có choàng một giây vải cũng màu hồng. Người con rể và 3 cậu con trai cũng thắt cà vạt mầu hồng. Nếu bảo họ phục sức cho một đám cưới hay một ngày vui thì cũng chẳng sai. Nhà thờ cũng được chưng bày những bông hoa màu hồng. Nếu không có quan tài với những cành hoa hồng phủ lên trên thì ai vào cũng có thể nghĩ mình đang tham dự một lễ cưới. Vào cuối buổi lễ, khi người con gái lên diễn đàn để chia sẻ tâm tình, tôi mới hiểu. Thì ra, lúc sinh thời, cụ bà rất thích mầu hồng. Điều khiến tôi suy nghĩ nhiều là trong tang lễ không những không có tiếng khóc, mà các bài Kinh Thánh được chọn trong thánh lễ cũng muốn làm toát lên bầu khí “hân hoan” hơn là tang chế. Riêng vị linh mục chủ lễ, trong suốt buổi lễ, đã tập trung các lời nhắn nhủ vào hai chữ “celebrate” (ăn mừng, tán dương): Mừng bà đã có một cuộc sống tràn đầy, sung mãn, vui tươi, hạnh phúc và tán dương lối sống luôn tốt bụng, lạc quan, hòa nhã, ân cần của cụ bà!  Điều này thì tôi xin được làm chứng. Tôi chưa từng nghe cụ than thở về bất cứ điều gì. Mỗi lần có dịp trao đổi, cụ đều nói rằng cụ luôn cảm thấy hài lòng và hạnh phúc với cuộc sống của mình, ngay cả lần cụ phải vĩnh biệt một trong hai người con cách đây gần một năm.
Đây quả là một đám tang đặc biệt mà tôi chưa từng tham dự. Từ nhà thờ đến nghĩa trang, nó cho tôi cái cảm giác thanh thản, hân hoan và vui mừng hơn là buồn thảm. Khi một người đã sống vui, sống hài lòng, sống sung mãn với những gì mình có, thì dù có ra đi trong hoàn cảnh nào, người đó cũng để lại cho chúng ta nhiều niềm vui hơn là buồn khổ. Tự nhiên, tôi nhớ lại kiểu nói mà người La mã ngày xưa thường xử dụng để nói về người quá cố. Họ không gọi người chết là người đã ra đi, đã khuất núi, đã mất, đã mãn phần, đã “băng hà” hay ngay cả đang yên giấc, dù có là giấc ngủ nghìn thu…mà là người “đã sống” (vixit).
Thật vậy,  cụ bà láng giềng của tôi “đã sống” và đã sống một cách sung mãn cho nên đã để lại cho tôi một di sản quý báu nhứt là tình yêu đối với cuộc sống. Cụ ưa thích mầu hồng bởi vì mầu hồng là mầu của hân hoan, hy vọng và lạc quan.
“Yêu cuộc sống” này, nghe thì dễ dàng, nhưng thực tế không phải lúc nào cũng trôi chảy, bởi vì cuộc sống không phải lúc nào cũng toàn mầu hồng. Có cuộc sống nào mà không có khó khăn, vất vả và khổ đau. Trong phần đề tựa cho cuốn sách “Ethics for the New Millennium” (Đạo lý cho Thiên nhiên kỷ mới), đức Đạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng chia sẻ: “Mất quê hương vào tuổi mười sáu và trở thành một người tỵ nạn vào tuổi hai mươi bốn, tôi đã đối diện với rất nhiều khó khăn suốt dòng đời. Khi nhìn lại, tôi thấy rất nhiều điều tưởng chừng không thể vượt qua nổi, chẳng những vì không thể tránh, mà còn không sao có được một giải pháp thuận lợi. Tuy nhiên, trên mặt tâm an bình và sức khỏe thể lý, tôi có thể tự cho rằng mình đã đương đầu tương đối tốt. Nhờ vậy, tôi có thể ứng phó với nghịch cảnh bằng trọn vẹn tiềm năng tinh thần, thể lý và tâm linh. Tôi đã không thể làm khác hơn nữa. Nếu tâm tôi tràn ngập ưu tư và vô vọng, sức khỏe sẽ bị tổn hại…
Khắp mọi nơi và trong bất cứ xã hội nào, người ta cũng đều chịu đựng đau khổ và nghịch cảnh, ngay cả những người thừa hưởng tự do và phồn vinh vật chất. Thật vậy, dường như sự thiếu hạnh phúc mà loài người chúng ta phải chịu đựng đa phần đều do chính chúng ta tạo ra. Do vậy, theo nguyên tắc, điều đó có thể tránh. Nhìn chung, tôi còn thấy, các cá nhân với hành vi hợp luân lý thường hạnh phúc và mãn nguyện hơn những người không màng đến luân lý. Điều này minh xác niềm xác tín của tôi là nếu chúng ta có thể tái định hướng tư tưởng và cảm xúc của mình và chỉnh đốn phẩm hạnh, chúng ta có thể không những đối phó với các nỗi khổ dễ dàng hơn, mà còn ngăn ngừa được sự khởi dậy của chúng ngay từ đầu.” (Đức Đạt Lai Lạt Ma, Đạo lý cho Thiên niên kỷ Mới, bản dịch của Linh Thụy)
Đọc những giòng trên đây của bậc thày về nghệ thuật sống hạnh phúc và đối chiếu với cuộc sống của cụ bà láng giềng mà tôi có dịp chứng kiến, tôi càng xác tín rằng dù trong hoàn cảnh nào, ai cũng đều có thể cảm nếm được niềm vui và hạnh phúc  mà cuộc sống luôn mang lại cho chúng ta. Dù “cuộc đời chỉ trao cho chúng ta một trái chanh, chúng ta cũng có thể vắt ra để làm ra được một ly nước chanh” mà thưởng thức.
Nhìn lại những quan hệ hài hòa và tốt đẹp mà bà cụ láng giềng của tôi luôn có với những người xung quanh, tôi cũng nghĩ rút ra được một bài học cho tôi là: nếu tôi luôn cư xử tử tế với mọi người thì tâm hồn tôi mới có bình an và hạnh phúc. Cái kinh nghiệm thường ngày luôn cảnh cáo tôi rằng nếu tâm tư tôi lúc nào cũng nuôi dưỡng đố kỵ, ganh tương và nhứt là thù hận thì chắc chắn tôi chẳng bao giờ có được bình an và hạnh phúc.
Trong những ngày vừa qua, mỗi khi nghĩ đến cái gương “đã sống” của cụ bà hàng xóm, tôi cũng không thể tránh khỏi hình ảnh cái chết thảm thương của trùm khủng bố Osama Bin Laden. Cái chết của ông cũng là dịp để cho vô số người Mỹ và không biết bao nhiêu người trên thế giới “celebrate”. Thế giới của những người còn biết suy nghĩ bằng lý trí bình thường và với những cảm xúc thật sự “nhân bản” hẳn phải vui mừng. Vui mừng không phải vì giết được một kẻ thù, cho bằng vì trút bỏ được cái gánh nặng khủng khiếp của hận thù và bộ mặt của sự Dữ.
Thực tình mà nói, nhìn cho kỹ, tôi thấy gương mặt của ông Bin Laden không đến nỗi “dữ dằn” như Hitler, Stalin, như Mao Trạch đông. Có lúc tôi cũng thấy gương mặt ấy nở một nụ cười mà bình thường người ta nghĩ là của một “đạo sĩ” khắc khổ hơn là của một biểu tượng của độc ác.
Tôi thấy thương hại ông. Dĩ nhiên, nếu ông cũng tin có một Thượng Đế như tôi, thì sau cái chết, khi phải ra trước mặt Ngài, ông phải chịu trách nhiệm về cái chết của vô số những người vô tội mà ông đã sát hại. Nhưng “phán xét” là chuyện của bên kia thế giới. Chẳng ai có thể biết “trắng đen” về chuyện ấy. Tôi chỉ nghĩ đến chuyện của cuộc sống tại thế này. Là một con người cũng có một lương tâm như tôi, liệu ông có thể “vui mừng” khi sát hại những người vô tội không? Tâm hồn ông có thể bình an khi nhìn thấy máu của vô số sinh linh mà ông đã nhúng tay vào không?  Liệu trong cuộc sống chui sống nhủi trong hang động ở Afghanistan hay ở Abbottabad, Pakistan, ông có thực sự “sống” như một con người bình thường không?  Không, với tôi, Osama Bin Laden “đã chết” từ lâu rồi! Ông “đã chết” trong nấm mồ của hận thù do chính ông tự đào cho mình.
Hình ảnh của ông gợi lại cho tôi bài thơ có tựa đề “Conscience” (lương tâm) của thi hào Pháp Victor Hugo hồi thế kỷ 19. Bài thơ dựa trên Kinh Thánh kể lại chuyện Cain giết em mình là Abel và bị Thiên Chúa hiện ra tra hỏi: “Em ngươi đâu?” Trong bài thơ, lương tâm được tượng trưng bằng một con mắt mà cho dù được trú ẩn dưới hố sâu, Cain vẫn nhìn thấy. “L’oeil était dans la tombe et regardait Cain.” (con mắt vẫn hiện diện trong mộ và nhìn Cain)










Thứ Hai, 8 tháng 12, 2014

Thuận Thiên Giả Tồn



                                                                                Chu Thập
23.05.11




Nhà tôi có nuôi vài chị gà mái chuyên đẻ trứng và một cặp vịt Muscovy mà người Việt nam gọi là vịt xiêm hay ngan. Đây là một trong những nguồn thư giãn của tôi.
Với tôi, sự hiện diện của gia súc, gia cầm lúc nào cũng mang lại niềm vui cho con người. Lúc còn nhỏ, mỗi ngày cứ tờ mờ sáng, tôi có cái thú đi lượm trứng vịt trong vườn. Giữa cảnh tranh sáng tranh tối, cứ thấy có một “điểm trắng” thì biết đích thị là trứng vịt. Giống vịt mất bản năng làm mẹ thường chỉ đẻ về đêm hay gần sáng. Ở nhà quê hầu như nhà nào cũng nuôi năm mười con để chuẩn bị ăn Tết hay mừng lễ Giáng Sinh, nếu là người Công giáo. Trong khi chờ đợi thì trứng vịt cũng là một món ăn đậm đà quê hương: chỉ cần luộc lên vài trứng, dầm trong nước mắm ớt, chấm với rau luộc, đặc biệt là bầu luộc thì tôi vui chẳng khác gì thằng Bờm, có đổi “ba bò chín trâu” cũng chẳng muốn cười.
Riêng trứng gà thì quý hơn. Nếu không cho gà mái ấp thì mẹ tôi cũng để dành một số để gọi là “xin lễ” hay biếu ông cha sở. May lắm mới còn sót lại vài trứng và lũ con chỉ được “với tới” khi đau bịnh mà thôi.
Cũng may, nhờ mấy chị heo nái siêng đẻ và nhứt là nhờ tài vun vén của một bà mẹ luôn biết thiết lập “ngân sách” gia đình cho nên anh chị em chúng tôi không đến nỗi thiếu ăn thiếu mặc.
Có heo gà vịt, có lúa đầy bồ, cho nên cũng phải có chó mèo cho đề huề. Mèo thì dĩ nhiên phải túc trực thường xuyên trong nhà vì chuột lập ấp chiến lược ngay bên bồ lúa. Cũng may cho mèo, vào cái thời tôi còn nhỏ, mèo chưa phải là một món “tiểu hổ” khoái khẩu đối với dân làng cho nên đa số thường “mãn phần” khi quá già hay bị xe cán, xui xẻo lắm mới bị lũ nhỏ tinh nghịch chúng tôi trấn nước vì không thích cái tiếng kêu “meo meo” khó chịu và cái nhìn khó ưa của chúng.
Tội nghiệp nhứt có lẽ là mấy con chó trong nhà. Một bà chị lớn của tôi lập gia đình rồi mà chưa có đủ khả năng để “ra riêng” cho nên mấy anh chị em chúng tôi luôn có cháu để ẵm suốt ngày. Ngoài nghĩa vụ giữ nhà, mấy con chó trong nhà luôn tỏ ra đắc lực trong công tác dọn dẹp “vệ sinh” đối với mấy đứa cháu nhỏ. Mỗi sáng, hễ bà chị xốc một đứa cháu lên để “xi xi” vài tiếng thì vàng, vện, mực, trắng gì cũng có mặt ngay. Trung thành như vậy đó, vậy mà làng xóm hễ có lễ lạc thì ít nhứt cũng có một con phải bị cho vào bao bố mang ra trấn nước để được giải thoát khỏi kiếp chó.
Trong khi ở quê mình, vào thời trước, chó mèo như là những trợ thủ đắc lực trong gia đình chứ chẳng mấy ai nuôi để lấy tiếng sang. Mãi cho đến khi ra khỏi nước, tôi vẫn coi gia súc gia cầm như nhau, chưa có chút “cảm tình riêng” với chó mèo. Nhứt là hồi mới đến Pháp. Đến cái thời “chó chết” sau 1975, người dân xã hội chủ nghĩa đói meo, không có đủ vải để che tấm thân gầy, thì ở đây trên truyền hình “mẫu quốc” lúc nào cũng có những màn quảng cáo về đồ ăn cho chó mèo, ra đường thì thấy người ta dắt mấy cô cậu chó ăn mặc bảnh bao, lại còn tự do phóng uế ngay giữa đường phố thủ đô, thấy bắt ngứa con mắt. Cho nên, thằng người tỵ nạn như tôi đâm ra ghét chó, ghét mèo, ghét lây cái đám nhà giàu trưởng giả cứ lên giọng bênh vực súc vật.
Phải mất đi bao nhiêu năm, sau khi để cho bơ sữa, rượu vang thấm vào da thịt, tôi mới bắt đầu làm quen với cái thói trưởng giả và có chút cảm tình với chó mèo nuôi trong nhà. Dù vậy cho tới nay, dù có nhập gia tùy tục và hội nhập đến đâu, tôi cũng không thể nào cho phép chúng nó được “bình đẳng” để leo lên ngồi chễm chệ trên bộ salông trong phòng khách hay ngủ chung trên giường. Và dĩ nhiên, “chơi với chó để nó liếm mặt” thì còn lâu!  Hiện nay, tôi thấy không  cần có chó để giữ nhà, không cần có mèo để bắt chuột và cũng chưa đến nỗi cô đơn để phải “làm bạn” với chó mèo. Cứ nghĩ đến chuyện phải bế chó đi chích ngừa, “bưng bô” hay tắm gội cho chúng nó là tôi thấy oải rồi ! Bù lại, tôi lại có vài chị gà mái và một cặp vịt xiêm cũng dễ thương như những loài “thú cưng” khác.
Mấy chị gà mái của tôi có lẽ sẽ muôn đời “đồng trinh sạch sẽ” bởi vì luật của vùng tôi ở cấm nuôi gà cồ. Không có bóng gà trống, các chị cứ thi nhau đẻ. Và vì chưa một lần được làm mẹ cho nên các chị hay than thở, thở than suốt ngày. Nhằm lúc trở trời mưa gió, các chị đình công cả đám.
Kể từ lúc có cặp vịt xiêm tôi thấy vui hơn. Cách đây hai tuần, sau đúng 28 ngày nằm ấp, chị vịt mái của tôi cho ra đời tám chú vịt con thật dễ thương. Trong 28 ngày, tôi nghĩ phải quan sát cảnh vịt mái nằm ấp mới cảm nhận được tình mẫu tử. Dù đã tự làm một cái ổ thật êm bằng những cọng cỏ rác, vịt mẹ còn tiếp tục rứt thêm những cọng lông của chính mình để che phủ ổ trứng cho thật dầy rồi mới nhẹ nhàng nằm lên ấp. Có những ngày liền vịt mẹ không rời khỏi ổ một phút, cùng lắm chỉ đứng lên hoặc đổi thế nằm mà thôi. Những ngày cuối cùng thì tuyệt nhiên, chị không màng đến chuyện ăn uống.
Nhưng cảm động nhứt phải là giây phút cái trứng khẩy mỏ, con vịt con kêu chít chít và chuẩn bị ra đời. Sự sống quả là huyền diệu.
Sự sống ấy lại càng huyền diệu hơn khi đàn vịt con líu lo líu lít suốt ngày. Chẳng khác nào trong nhà có tiếng trẻ con. Những lúc đầu óc căng thẳng, tôi đứng nhìn lũ vịt hằng giờ mà không biết chán. Chỉ cần hai, ba ngày tuổi là chúng nó đã biết tự lập, sục sạo khắp nơi. Vịt mẹ của tôi, tuy không biết “dậm chân” giận dữ mỗi khi tôi bắt con nó, nhưng lúc nào cũng thể hiện một thứ tình mẫu tử thật “huyền nhiệm”. Những lúc vịt mẹ dùng mỏ “khỉa khỉa” trên mấy con vịt con tôi thấy chẳng khác nào người mẹ nựng con. Gặp những lúc trời mưa hay trở lạnh, người ta mới cảm nhận được sự bao bọc chở che của mẹ vịt. Tối đến, vịt con ríu rít theo mẹ vào chuồng. Những ngày mưa gió vừa qua, tôi nghĩ chẳng có nơi nào “ấm” hơn cái ổ vịt của tôi. Mẹ vịt có thể “hy sinh” đứng cả đêm để cho con cái được quây quần xung quanh.
Mỗi lần đứng ngắm nhìn đàn vịt con bên vịt mẹ, tôi không thể không nghĩ đến cái bản năng kỳ diệu được phú bẩm cho thú vật. Có chấp nhận một Đấng Tạo Hóa hay không, không ai có thể chối cãi được cái bản năng ấy nơi thú vật. Có cảm giác, biết đau đớn, vui buồn đã đành, mà trong một số cử chỉ, thú vật  cũng cho tôi cái cảm tưởng như thể chúng biết “suy nghĩ” và thể hiện điều mà chúng ta gọi là tình yêu.
Mới đây, tôi đọc được một mẩu tin khá ngộ nghĩnh trên báo mạng “The National Catholic Register”, một tờ báo Công giáo phát hành tại Hoa kỳ. Tại một giáo xứ nọ, vị linh mục nhận thấy giáo dân của mình cứ từ từ bỏ giáo xứ để kéo nhau đến thờ phượng tại một “siêu thánh đường” (megachurch) Tin lành bên cạnh. Trong “siêu thánh đường” này có màn ảnh rộng, có chiếu hình, có ban nhạc kích động và dĩ nhiên, vị mục sư thuyết giảng cũng hùng hồn cho nên bài giảng cũng ít buồn ngủ hơn các linh mục. Làm thế nào để lôi kéo giáo dân trở về giáo xứ? Vị linh mục nghĩ nát óc mà không tìm được giải pháp. Thế rồi dịp may lại đến. Một tờ báo địa phương loan báo rằng một gánh xiếc sắp đóng cửa, muốn tìm một nơi nương tựa cho 5 chú khỉ. Vị linh mục liền chộp lấy thời cơ: còn đâu là nơi thích hợp hơn để đón tiếp 5 chú hề gánh xiếc này cho bằng nhà xứ. Thật ra, vị linh mục đã có một hậu ý: vì biết 5 chú khỉ đã được huấn luyện nhuần nhuyễn, ông nghĩ đến việc xử dụng chúng vào việc giúp lễ trên bàn thờ. Thật không thể tưởng tượng.  Năm chú khỉ làm công việc trên bàn thờ còn nghiêm trang sốt sắng hơn cả các cậu bé hay cô bé giúp lễ. Được cho mặc quần áo “giúp lễ”, các chú lại chắp tay nghiêm trang, mắt lim dim trông chẳng khác nào các tu sĩ đang cầu nguyện và xuất thần. Kết quả đã diễn ra như vị linh mục dự đoán, giáo dân từ từ trở về giáo xứ, sự đóng góp ngày càng gia tăng. Nhiều trẻ em xin cha mẹ cho phép tham dự thánh lễ mỗi ngày. Hiện người ta đang nghĩ đến chuyện huấn luyện mấy chú chó để đảm nhiệm việc tiến dâng của lễ lên bàn thờ!
Các nhà lãnh đạo Giáo hội Công giáo tại Hoa kỳ chưa chính thức lên tiếng về sáng kiến “táo bạo” này của vị linh mục. Nhưng nghĩ cho cùng, xem ra sáng kiến cũng chẳng có gì đi ngược với tinh thần đích thực của Kitô giáo. Kinh Thánh há chăng viết rằng mọi tạo vật đều cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa đó sao? Tạo điều kiện cho khỉ chó đại diện cho thú vật để được có mặt trên bàn thờ và góp phần vào việc tế lễ và ngợi khen Thiên Chúa chẳng phải là một điều “chính đáng và phải đạo” sao?  Thánh Phanxicô Assisi, vị thánh sống tại Ý vào thời Trung cổ, cũng đã tiên phong trong cử chỉ táo bạo này khi gọi các tạo vật, kể cả muôn tinh tú là “anh chị em” của mình. Ngày nay, vị thánh này được cả thế giới nhìn nhận như sứ giả của Hòa bình. Assisi đã trở thành biểu tượng của hòa bình thế giới. Chính vì thế mà ngày 26 tháng 10 năm 1986, đức giáo hoàng Gioan Phaolô II đã mời các vị đại diện của các tôn giáo trên thế giới về đây để cầu nguyện cho hòa bình thế giới theo tinh thần của thánh Phanxicô.
Theo vị thánh này, để có hòa bình, trước tiên con người cần phải có hòa bình với thiên nhiên. Đây chắc chắn cũng là ý tưởng nổi bật của Phật Giáo. Có lẽ không có tôn giáo nào kêu gọi con người sống hòa bình với thiên nhiên cho bằng tôn giáo này. Nếu muôn thú cỏ cây được con người tôn trọng như cùng thuộc về một gia đình chung là thiên nhiên, thì làm sao con người lại không nhìn nhận người đồng loại như anh chị em của mình?
Nhân ngày của Mẹ, tôi tưởng nhớ người mẹ quá cố của tôi đã đành, tôi cũng nghĩ đến Người Mẹ chung mà thế giới ngày càng quan tâm tới là Mẹ Thiên Nhiên.
Mới đây, bà Amy Chua, một giáo sư luật tại đại học Yale, Hoa kỳ đã cho xuất bản một cuốn sách tự thuật có tựa đề “Battle Hymn of the Tiger Mother” (bài ca chiến thắng của bà Mẹ dữ như cọp). Trong cuốn sách gây nhiều tranh cãi, bà Amy Chua, một người gốc Hoa, đề cao sự nghiêm khắc của thân phụ khi bà còn theo học tại Philippines và tự xưng là “một người mẹ dữ như cọp” trong việc giáo dục hai đứa con gái của bà. Muốn hay không, ít có ai phủ nhận rằng sự nghiêm khắc của các cha mẹ người Hoa đã hỗ trợ rất nhiều trong sự thành công của con cái trong việc học hành.
Tôi thường nghĩ đến Mẹ Thiên Nhiên với hình ảnh của Người Mẹ dữ như cọp này. Thực vậy, Mẹ Thiên Nhiên thường tỏ ra rất nghiêm khắc. Những vùng đất bị sa mạc hóa, những hải đảo đang bị nhấn chìm, những cơn bão lụt tại Queensland, Victoria Úc, trận động đất, sóng thần đưa đến tai họa phóng xạ tại Nhựt hôm11/3 vừa qua, những “con ma đụn” khủng khiếp (tornado) mới đây tại một số tiểu bang miền Nam Hoa kỳ…là những cảnh cáo của Mẹ Thiên Nhiên. Với tôi, qua những thiên tai ấy, Mẹ Thiên Nhiên muốn nhắc nhở con người rằng khoa học và kỹ thuật, dù có tiến bộ đến đâu, cũng không bao giờ bảo đảm cho con người một sự an toàn tuyệt đối. Thế giới vừa kỷ niệm 25 năm vụ nổ lò nguyên tử tại Chernobyl, Ukraine. Những bóng ma vẫn còn lảng vảng tại vùng đất hoang tàn này sẽ mãi mãi cất lên tiếng kêu than và oán trách về sự dựa cậy vào khoa học kỹ thuật và thái độ tự mãn của con người.
Mẹ Thiên Nhiên cũng có lúc tỏ ra “phẫn nộ” để nói với loài người rằng Mẹ đang bị lợi dụng, khai thác, bóc lột, xài xể một cách bừa bãi, vô tội vạ. Mẹ Thiên Nhiên khẩn khoản nài van rằng thế giới chỉ thực sự có hòa bình khi nào con người biết tôn trọng và bảo tồn môi sinh. Làm sao có hòa bình được khi con người chưa có hòa bình với Mẹ Thiên Nhiên?
Hòa bình thế giới quả là chuyện “đại sự”. Nhưng mỗi lần đứng ngắm nhìn đàn vịt của tôi đang vui đùa dưới bóng lá giây su và mướp leo chung một giàn, tôi lại nghĩ đến hòa bình. Có tìm được an bình trong thiên nhiên, với thiên nhiên, con người mới có thể xây dựng hòa bình với tha nhân.






Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

Đàng sau cùng một nụ cười


Chu Thập
28.11.14


Mấy hôm nay, theo dõi tin tức về việc Trung Quốc thực hiện dự án xây đảo nhân tạo trên bãi đá Vĩnh Thử mà Việt Nam gọi là Đá Chữ Thập, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, tôi lại bị ám ảnh bởi nụ cười của Chủ tịch Tập Cận Bình. Tôi cũng thấy thương hại cho sự “ngây ngô” của Thủ tướng Tony Abbott của tôi. Ông tin như tin đóng cột rằng với Chủ tịch Tập Cận Bình “bầu khí ổn định và hòa bình trong nước cũng như bầu khí hòa bình quốc tế là điều rất quan trọng đối với Trung Quốc”. Trong bữa tiệc khoản đãi ông Tập Cận Bình nhân dịp ông này đến Úc Đại Lợi tham dự Hội nghị Thượng đỉnh G20, thủ tướng của tôi cũng đã không tiếc lời ca ngợi lời tuyên bố của ông Tập Cận Bình rằng cộng hòa xã hội chủ nghĩa Trung Quốc sẽ hoàn toàn “dân chủ” vào năm 2050. Có lẽ Thủ tướng Abbott chưa từng sống một ngày trong bất cứ một thiên đàng cộng sản nào cho nên dĩ nhiên chưa thấy quan tài chưa đổ lệ. Tôi vẫn thắc mắc: một người học rộng hiểu nhiều cũng như có nhiều kinh nghiệm trong sinh hoạt chính trị như ông lại chẳng hiểu gì về ý nghĩa của hai chữ “dân chủ” trong cái đầu có sạn của người cộng sản. Nói cho cùng,  có lẽ Thủ tướng Abbott chẳng thấy gì khác ngoài những lời tuyên bố theo bài bản cộng sản của ông Tập Cận Bình và nhứt là đàng sau nụ cười của ông. Giá như được ông vấn kiến, thì chắc chắn người Việt tỵ nạn nào cũng sẽ khuyên ông bằng câu nói bất hủ của Cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: Đừng tin những gì cộng sản nói!
Muốn tìm hiểu thêm chân dung của con người luôn có nụ cười nửa miệng này, tôi đọc lại bài báo của ký giả Jonathan Kaiman đăng trên báo “The Observer” (Người Quan Sát) phát hành tại Anh Quốc cách đây đúng một năm, nhân dịp thủ tướng Anh David Cameron viếng thăm Trung Quốc.
Mở đầu bài báo, ký giả Kaiman kể lại rằng đầu tháng 11 năm 2013, Chủ tịch Tập Cận Bình đến thăm một vùng nông thôn thuộc tỉnh Hồ Nam. Ông vào nhà một phụ nữ có lẽ lớn tuổi hơn ông. Mặc dù chủ tịch Trung Quốc quen được mọi người xưng gọi một cách đầy kính trọng và thân thương là “Xi Dada” (Bác Tập), người phụ nữ quê mùa, chơn chất này cũng cảm thấy bối rối không biết phải “bẩm thưa” như thế nào cho phải phép. Con người quyền lực nhứt nước bèn hỏi tuổi của người phụ nữ. Người đàn bà cho biết mình đã 64 tuổi. Chủ tịch Tập Cận Bình liền nắm tay bà và nói: “Bà là chị của tôi”. Tất cả mọi cơ quan truyền thông công cụ của nhà nước đều thuật lại cuộc gặp gỡ và đều đề cao thái độ bình dân, sự gần gũi và thân tình của chủ tịch đối với người nông dân nghèo.
Thế nhưng, chỉ ba tuần sau đó, Trung Quốc bất thần và đơn phương tuyên bố làm chủ toàn vùng phòng không trong vùng biển đang bị tranh chấp ở Biển Đông. Hành động ngang ngược này dĩ nhiên đã tạo ra một cuộc khủng hoảng có liên hệ đến nhiều nước. Nhựt Bản, Đại Hàn và Hoa Kỳ đã không ngần ngại thách thức sức mạnh đang lên của Trung Quốc bằng cách cho máy bay lượn trên vùng vừa được Trung Quốc “nhận diện phòng không”. Dĩ nhiên, Trung Quốc cũng cho máy bay của mình bay lên để gọi là diễu võ dương oai. Theo các nhà phân tách, vì Chủ tịch Tập Cận Bình cũng là thống soái của quân đội nhân dân Trung Quốc cho nên ngoài ông ra, không ai khác dám đứng đàng sau hành động ngang ngược này.
Kể từ khi lên “nắm” quyền theo đúng nghĩa, Chủ tịch Tập Cận Bình đã cam kết tự do hóa thị trường, nhưng lại tiếp tục làm chủ và kiểm soát các công ty quốc doanh. Ông không ngừng rêu rao về những cử chỉ “đẹp” của Trung Quốc ở nước ngoài, nhưng lại hạnh hẹ và “ăn hiếp” các nước láng giềng. Ông hứa theo đuổi chủ trương minh bạch và trong suốt nhưng lại thẳng tay đàn áp bất cứ nhóm “xã hội dân sự” nào trong nước. Chỉ một năm sau khi lên nắm quyền sinh sát trong tay, Chủ tịch Tập Cận Bình đã không nương tay đối với những người bất đồng chính kiến và bất cứ người nào đòi hỏi quyền tự do ngôn luận. Chuyện ông ta đàn áp, dứt khoát không lắng nghe hay đối thoại với phong trào cách mạng “dù vàng” (Yellow Umbrella Revolution) của giới trẻ và người dân Hông Kông là một ví dụ điển hình của thế nào là “dân chủ” Xã Hội Chủ Nghĩa. Ông siết chặt việc kiểm soát đối với truyền thông, nhứt là mạng lưới Internet và ngay cả Phong Trào Công Dân Mới, một nhóm những người tranh đấu đòi hỏi chính phủ cần phải tỏ ra minh bạch. Các cơ quan truyền thông công cụ tuyên xưng ông là người của quần chúng. Nhưng các nhà phân tách gọi ông là một con người độc ác, tàn bạo, luôn có tính toán, nhứt là để tạo cho mình hình ảnh của một lãnh tụ nhân đạo, gần gũi với dân chúng.
Hình ảnh dễ hiểu nhứt để nói về con người đang nắm giữ vận mệnh của trên một tỷ người dân Trung Quốc và hiện đang thao túng trên khắp thế giới này, hẳn phải là con “kỳ nhông”, giống vật bò sát luôn biết thay hình đổi dạng tùy theo môi trường và tình huống. Trong nước hay đối với một số nước láng giềng, cách riêng trong Biển Đông, rõ ràng người ta chỉ có thể gọi ông là một hung thần. Nhưng ra nước ngoài, ông lại đeo vào một chiếc mặt nạ khác: lúc nào cũng mỉm cười nơi công cộng chớ không lạnh lùng như người máy Hồ Cẩm Đào. Ông tỏ ra mình là một con người cởi mở khi cho biết rất thích xem phim ảnh của Hollywood cũng như liên hiệp bóng rổ NBA của Mỹ. Theo tiết lộ của Wikileaks, ông có một bà chị đang sống tại Gia Nã Đại. Còn con gái ông, cô Xi Mingze, hiện đang theo học tại trường đại học danh tiếng Harvard của Mỹ dưới một tên khác.
Theo giáo sư Bo Zhiyue, hiện đang giảng dạy về môn chính trị Trung Quốc tại đại học quốc gia Singapore, Chủ tịch Tập Cận Bình là một người đang mang nhiều cái mũ khác nhau trên đầu. Ông giáo sư này nói rằng ông đang “cố gắng hiểu ông Tập Cận Bình thực sự là ai”.
Với một người tỵ nạn cộng sản như tôi thì hiểu được một người cộng sản, nhứt là một người cộng sản đầy quyền lực như ông Tập Cận Bình, có gì là khó đâu. Với tôi, tất cả các “Bác” cộng sản đều là những diễn viên sân khấu tồi: nụ cười, tiếng khóc, bộ mặt bình dân và nhân ái của họ không thể nào che đậy được sự tham quyền, độc ác, tàn bạo và nhứt là dối trá của họ. Tập Cận Bình đơn giản cũng chỉ là một con người như thế mà thôi!
Cũng may, thế giới lúc nào cũng nhận diện được bộ mặt giả nhân giả nghĩa của người cộng sản và nhìn ra được thế nào là nụ cười nhân ái, tấm lòng chân thực. Tạp chí Reader’s Digest ấn bản Úc Châu, số ra tháng 12 này đã giúp tôi có được một cái nhìn như thế. Cùng với chân dung của Đức Phanxicô, nhà lãnh đạo tinh thần của hơn một tỷ người công giáo trên khắp thế giới được in ở trang bìa, tạp chí Reader’s Digest  gọi nhà lãnh đạo tôn giáo này là “vị giáo hoàng vui tươi” và giúp tôi hiểu được chìa khóa của một niềm vui đích thực.
Trong bức chân dung của Đức Phanxicô được in nơi trang bìa của tạp chí Reader’s Digest, người ta thấy nhà lãnh đạo tôn giáo này cũng có hầu như một nụ cười như chủ tịch Tập Cận Bình. Quả thực, hai lãnh tụ này có những điểm giống nhau. Cả hai đều lãnh đạo một “dân số” trên một tỷ người. Cả hai đều được tạp chí Forbes, trong số ra gần đây, xếp vào vị trí gần nhau nếu xét về quyền lực: Chủ tịch Tập Cận Bình đứng hạng 3, Đức Phanxicô đứng hạng 4. Cả hai đều gần gũi với dân chúng. Và nhứt là cả hai đều có một nụ cười giống nhau. Nhưng khoảng cách giữa hai nụ cười là cả một vực thẳm: một bên là sự biểu lộ của lòng nhân ái, một bên lại che dấu sự dối trá và độc ác.
Ký giả Austen Ivereigh, tác giả của cuốn sách “The Great Reformer: Francis and the making of a Radical Pope” (Nhà Đại Cải Cách: Đức Phanxicô và sự hình thành của một vị Giáo hoàng Cấp Tiến) và bài báo đăng trên tạp chí Reader’s Digest cho biết lúc còn làm hồng y tổng giám mục ở thủ đô Buenos Aires, Á Căn Đình, tuy lúc nào cũng gần gũi với dân chúng, sống cuộc sống đơn sơ, nghèo khó, Đức Phanxicô lại là một con người kín đáo, không thích được chụp hình và ít khi cho phỏng vấn. Ngài không khoe khoang, không “biểu diễn” về cuộc sống bình dân của mình. Ngài sống nghèo vì thực sự yêu thương người nghèo.
Ký giả Ivereigh đã tóm tắt hai bí quyết của cuộc sống đơn sơ, bình dị và nụ cười thân ái của nhà lãnh đạo tôn giáo này. “Một là bạn chỉ có thể xóa bỏ nghèo đói bằng cách yêu thương người nghèo. Hai là bạn không thể yêu thương người nghèo nếu bạn vẫn bám chặt vào tiền của”. Dĩ nhiên, đi đôi với tiền của là quyền lực, danh vọng, ý thức hệ...Đó là tất cả những gì mà Đức Phanxicô muốn nói lên đàng sau nụ cười nhân ái của ngài và nhứt là qua việc ngài cho bán đấu giá tất cả “của cải” của mình để lấy tiền giúp người nghèo. Và đương nhiên đó cũng là bí quyết của một niềm vui đích thực mà ngài muốn nhắn gởi cho con người thời đại.
Tôi không tin rằng đó cũng là những gì mà chủ tịch Tập Cận Bình của Trung Quốc muốn biểu lộ qua nụ cười luôn nở trên môi ông. Bởi lẽ nếu thực sự yêu thương người nghèo và con người nói chung, ông đã chẳng tỏ ra tàn bạo với tất cả những người bất đồng chính kiến với ông, ông đã chẳng tỏ ra tham vọng bá quyền đối với các nước láng giềng. Cười và vui luôn đi đôi với nhau. Nếu hiểu như ký giả Ivereigh về niềm vui của Đức Phanxicô vì được yêu thương và phục vụ người nghèo, thì tôi e rằng nụ cười của chủ tịch Tập Cận Bình khó biểu lộ được một niềm vui như thế.
Thế giới đã bước vào Mùa Giáng Sinh. Ý nghĩa tôn giáo của mùa lễ có thể đã bị lãng quên. Nhưng ít ra cái cốt lõi của Giáng Sinh vẫn luôn còn đó: ai cũng thấy rộn lên niềm vui. Dĩ nhiên, có trăm ngàn niềm vui. Vui được nghỉ ngơi. Vui được đi du lịch. Vui được gặp gỡ. Vui được tiệc tùng. Vui được nhận quà. Vui được đoàn tụ gia đình... Nhưng ý nghĩa nhứt và đáng tìm kiếm nhứt trong mùa Giáng Sinh hẳn phải là niềm vui được san sẻ, trao ban và nhứt là trao ban cho những người túng thiếu. Thế giới này có thể thừa mứa của cải, nhưng chẳng bao giờ thiếu người nghèo. Và dĩ nhiên, con người thời đại có thể có tất cả mọi sự, nhưng lại vẫn nghèo về niềm vui đích thực.
Nụ cười của bạo chúa thời đại Tập Cận Bình chắc chắn không gợi lên cho tôi niềm vui nào cả. Có chăng chỉ là thái độ nghi kỵ và sự uất hận.  Nhưng nhìn vào nụ cười của Đức Phanxicô, “vị giáo hoàng vui tươi” (the Joyful Pope) nơi trang bìa của tạp chí Reader’s Digest ở khởi đầu mùa Giáng Sinh này, tôi không thể không cảm thấy được thôi thúc để đi tìm kiếm niềm vui đích thực. Nơi cuộc sống đơn sơ và nhứt là nụ cười nhân ái của ngài, tôi đã tìm thấy bí quyết của một niềm vui đích thực: sống yêu thương và nhứt là yêu thương người nghèo, những người dễ bị tổn thương nhứt, những người bị đẩy ra bên lề xã hội, những người đang bị lãng quên...tôi sẽ cảm nhận được niềm vui đích thực!