Thứ Hai, 20 tháng 10, 2014

Sinh Lão Bệnh Tử 2

Bệnh 
                                                                          Chu Thập
2/12/10

“Ông có hút thuốc không? nhiều hay ít? Ông có uống rượu không? Bao nhiêu? Bao lâu rồi? Trong gia đình ông, có ai bị ung thư , tiểu đường hay đột quỵ, cao máu  không?...” Đó là một số câu hỏi mà cứ mỗi lần “đổi” một ông bác sĩ gia đình hay mỗi khi phải vào bệnh viện để làm một cuộc xét nghiệm, tôi lại phải trả lời. Chẳng khác nào một bản khai lý lịch thời còn ở trong nước mà tôi phải thuộc lòng. Tệ hơn, có lúc tôi có cảm tưởng như mình là một “phạm nhân” phải  cung khai khi ra trước vành móng ngựa. Cái mặc cảm ấy xem ra cũng “chính đáng” thôi. Bởi lẽ xét cho cùng, tôi chính là “phạm nhân” gây ra bao nhiêu “tội ác” cho cái thân tôi.
Tôi nghiệm thấy câu nói “chúng ta ăn uống làm sao thì người chúng ta thế đấy” (you are what you eat) đúng cho tôi hoàn toàn. Hay gợi hình hơn, câu nói của một nhà hiền triết La mã nào đó xem ra đúng hơn: “người ta tự đào huyệt cho chính mình bằng hàm răng của mình”. Tôi cứ ngẫm nghĩ về hai câu nói này mà thấy mình đáng bị mấy ông bác sĩ mang ra tòa để “xét xử”. Nghĩ lại cách ăn uống của tôi cách đây 20 năm mà tôi thấy run. Lúc ấy, mặc dù đã có khái niệm rất rõ ràng về những nguy cơ của mỡ trong máu, tôi vẫn cứ sống theo cái triết lý “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ”; ai có bị đốn ngã thì chuyện của người đó, tôi vẫn cứ tỉnh bơ ăn nhậu. Tôi chẳng biết kiêng cữ bất cứ của ngon vật lạ nào. Mà khốn nỗi, món nào cũng thế: càng béo bổ thì càng ngon miệng; cứ có dầu mỡ, chiên xào thì cái gì cũng ngon.  Bia rượu thì dĩ nhiên, tôi uống thả cửa, thuốc lá thì tôi cũng chẳng từ. Ở cái tuổi còn sung sức, tôi cứ tưởng mình thuộc loại mình đồng da sắt. Cũng may, tôi đã biết dừng lại tạm…đúng lúc. Vậy mà, cái tàn tích của những năm tháng sống như thể mình sẽ không bao giờ đau bệnh và chết, vẫn còn đó.  Gần đây, đọc một bài phân tách về tình trạng ô nhiễm của vịnh Sydney trên báo The Sydney Morning Herald, tôi lại càng liên tưởng đến cách ăn uống của tôi hơn. Theo bài báo, hầu như tất cả các loại cá, nhứt là những loại cá ngon như cá hanh, cá Kingfish, cá Đục đều bị nhiễm chất thủy ngân vốn đã được thải một cách bừa bãi xuống vịnh này từ hàng mấy chục năm trước. Tình trạng bị nhiễm thủy ngân của các loại cá trong vịnh nặng đến độ trở thành nguy hiểm cho sức khỏe của người tiêu thụ. Bao nhiêu chất độc chìm sâu dưới lòng biển vẫn còn đó. Tôi nghĩ đến những “chất độc” vốn vẫn còn tích lũy trong thân thể tôi do cách ăn uống bừa bãi của mình trong bao nhiêu năm qua. “Tham thực cực thân”, con người tôi được hình thành từ những gì tôi đã tiếp nhận qua cửa miệng tôi. Ngày nay, cách ăn uống thừa mứa tại các nước giàu có xem ra cũng gây tử vong và tốn kém chẳng thua gì tình trạng thiếu dinh dưỡng tại các nước nghèo. Càng ngày tôi càng xác tín rằng cách ăn uống không chỉ có thể gây ra bệnh tật, mà cũng có thể giúp đề phòng và chữa bệnh. Thiếu thốn nhưng biết sống theo kỷ luật và ăn uống đúng cách, con người vẫn có thể sống khỏe mạnh. Học giả Lâm Ngữ Đường của Trung Hoa đã từng giới thiệu với thế giới cái quan niệm sống đẹp và khỏe của người Trung Hoa là xem thức ăn cũng là dược phẩm để phòng bệnh, chữa bệnh và dưỡng bệnh.
Trong quá khứ, tôi đã xem thường cái quan niệm sống ấy. Gần đây, thân xác tôi chẳng khác nào một cái máy xe hơi, tuy chưa đến nỗi “lột dên” vì thiếu dầu mỡ, nhưng có quá nhiều bộ phận đã bắt đầu “rơ”. Choáng váng, chóng mặt, xây xẩm, nhức đầu…tôi đã trải qua bao nhiêu cái hẹn, cái hẹn này “đẻ” ra cái hẹn khác, “qua tay” không biết bao nhiêu chuyên viên kỹ thuật y tế “hành hạ”, mà cho tới nay các bác sĩ vẫn chưa thể nói một cách chính xác tôi đang bệnh gì. Tôi thấy mình đúng là một phạm nhân chờ quan tòa “gõ búa”.
Dù sao, cho tới giờ phút này, tôi thấy mình vẫn còn may mắn, bởi vì cơ thể tôi vẫn còn có khả năng để biểu hiện một số “triệu chứng” không bình thường. Có người xem ra khỏe mạnh, không để lộ bất cứ dấu hiệu “đau yếu” nào, bỗng lên cơn đột quỵ và ra đi không kịp nói một lời từ giã. Có người có lá gan “nát bấy” mà vẫn không cảm thấy hề hấn gì, đến lúc khám phá ra bệnh thì đã muộn.
Trong ngôn ngữ Việt nam, khi nói đến bệnh tật, lúc nào chúng ta cũng cho hai chữ “đau” và “bệnh” đi với nhau. “Bệnh” thường làm cho chúng ta “đau”. Nhưng lắm khi, chúng ta “bệnh” mà chẳng thấy “đau”. Bác sĩ kiêm chuyên gia tâm lý M.Scott Beck, tác giả của cuốn sách nổi tiếng “The Road Less Traveled” (con đường ít được đi) viết rằng “triệu chứng và bệnh tật không phải là một. Bệnh tật có trước các triệu chứng rất lâu. Triệu chứng không phải là bệnh tật mà đúng hơn là khởi đầu của việc chữa trị bệnh tật. Chẳng ai mong có các triệu chứng. Nhưng chúng là một hiện tượng ân sủng, một món quà của Thượng Đế, một sứ điệp từ  cõi vô thức để khởi đầu sự tự vấn và sửa chữa.” (trích trong “Where is God When it Hurts” (Thiên Chúa ở đâu khi con người đau khổ) của Philip Yancey)
Có “bệnh” mà đồng thời cũng biết “đau” quả là một điều may mắn.
Bác sĩ Paul Brand là một trong những nhà tiên phong trong việc nghiên cứu và chữa trị bệnh phung cùi. Sau nhiều năm phục vụ các bệnh nhân phung cùi tại Ấn độ, ông đưa ra nhận xét rằng những người mắc một số chứng bệnh như tiểu đường và phung cùi có nguy cơ trầm trọng là mất dần những ngón tay, ngón chân và ngay cả tứ chi chỉ vì hệ thống báo động về sự đau đớn của họ không còn hoạt động nữa. Họ tự bị hủy hoại mà không hay biết.
Ông nhận được tài trợ khoảng vài triệu Mỹ kim để thực hiện một thiết bị giúp cho những người bị bệnh như thế cảm nhận được “đau đớn” để từ đó có thể phòng ngừa và chữa trị. Mỗi cái “máy đau” do bác sĩ Brand và nhóm nghiên cứu của ông phát minh giá không tới 450 Mỹ kim. Tuy nhiên, do hệ thống thần kinh quá phức tạp của con người, không có chiếc máy nào đã có thể báo được một nỗi đau chính xác. Do đó, sau vài năm thử nghiệm, cuối cùng bác sĩ Brand đành bỏ cuộc và tuyên bố rằng không có máy móc nào có thể thay thế cho hệ thống báo động của con người. Theo ông, đau đớn là điều chẳng ai muốn có. Nhưng chính nhờ biết đau mà chúng ta mới không tự hủy hoại. Nếu không có một tín hiệu về bệnh tật được phát ra, chúng ta sẽ chẳng bao giờ để ý đến nó và tìm cách chữa trị. Theo bác sĩ Brand , “đau đớn” là một món quà!
Phản ứng thông thường của chúng ta khi gặp đau đớn là tìm cách giảm đau. Ngày nay, Aspirine là loại thuốc thông dụng nhứt. Hễ cứ nhức đầu, mỏi mệt là người ta uống Aspirine. Thật ra, giảm đau chỉ là một cách đối đầu với triệu chứng của bệnh tật hơn là chính bệnh tật.  Giảm đau có thể dẫn đến những hậu quả không lường được. Bob Gross là một trong những danh thủ bóng rổ nổi tiếng của Mỹ. Ngày nọ, anh cảm thấy đau 3 chỗ trong bàn chân. Biết anh phải tham dự một trận đấu quan trọng, bác sĩ của đội tiêm cho anh một mũi Marcaine. Đây là một loại thuốc giảm đau cực mạnh. Gross chạy và tung người lên cao như thường lệ, cho đến một lúc anh ngã quỵ xuống mà vẫn không thấy đau. Thì ra, xương bàn chân của anh đã bị mục. Thuốc giảm đau đã giúp anh không còn cảm thấy đau, nhưng đã hủy hoại bàn chân và cả sự nghiệp của anh.
“Đau” làm cho tôi khó chịu. Nhưng có lẽ tôi phải cám ơn những cơn đau trong cơ thể tôi, bởi vì chúng báo động cho tôi biết rằng cơ thể tôi đang gặp nguy hiểm; chúng khởi động hệ thống miễn nhiễm xung quanh vết thương và buộc tôi phải ngưng những hoạt động có thể làm cho cơ thể tôi ra yếu nhược hơn. Những cơn đau đòi hỏi tôi phải quan tâm đến cơ thể tôi và đây là điều tối cần để tôi có thể lành bệnh.
Nói chung, đau đớn, bệnh tật, khổ đau, mất mát…có thể mang lại sức mạnh cho con người. Một tác giả nọ đã nghiên cứu về cuộc đời của khoảng 300 nhà lãnh đạo được xem là có ảnh hưởng lớn trên lịch sử nhân loại. Cuộc nghiên cứu cho thấy rằng sợi chỉ xuyên suốt qua những cuộc đời ngoại hạng này lại chính là tình trạng “mồ côi” của họ. Nói chung, những người này đều có một tuổi thơ bất hạnh. Danh sách của những người mà tác giả cuộc nghiên cứu gọi là “những người mồ côi lãnh đạo thế giới” gồm có những tên tuổi như Alexandre đại đế, Julius Caesar, Robespierre, Georges Washington, Napoleon, Nữ hoàng Victoria, nữ thủ tướng Do thái Golda Meir và ngay cả những đồ tể thế giới như Hitler, Lenin, Stalin và Fides Castro. Sigmund Freud, cha đẻ của phân tâm học, đã từng nói đến “mặc cảm bù trừ”. Đôi môi dầy của nữ tài tử Brigitte Bardot có thể là động lực thúc đẩy cô không ngần ngại tỏ ra táo bạo trong những màn diễn nóng bỏng nhứt, cũng như từ xa xưa, theo suy nghĩ của triết gia Pháp Blaise Pascal, cái mũi của nữ hoàng Cleopatra có thể ảnh hưởng đến lịch sử thế giới. Bất hạnh có thể thay đổi vận mệnh con người và thời cuộc đất nước hay thế giới. Đơn sơ mộc mạc hơn, ông bà chúng ta xếp hạng: “nhứt lé, nhì lùn, tam hô, tứ sún” hay “có tật có tài”. Phải chăng ông bà chúng ta chẳng muốn ngụ ý rằng những kẻ đã từng trải qua đau khổ là những kẻ đáng trọng nể hay đáng sợ.
Tuổi thơ bất hạnh hay nỗi khổ đau trong những năm tháng đầu đời đã biến thành sức mạnh cho nhiều người. Điển hình nhứt là trường hợp nhà phát minh lẫy lừng nhứt trong lịch sử nhân loại là ông Thomas Edison. Có chỉ số thông minh dưới trung bình, sau 3 tháng cắp sách đến trường, Edison bị cho về nhà vì bị xem là “chậm trí”. Do bị bệnh về đường hô hấp, mãi 2 năm sau, ông mới cắp sách trở lại trường. Hơn nữa, do bệnh tật, ông lại bị khiếm thính. Ngoài ra, cũng do bệnh tật, Edison trở nên bướng bỉnh, khó tính. Ông thích chơi với máy móc và lửa đến độ làm cháy cả nhà. Một con người như thế tưởng chỉ là “đồ bỏ” của xã hội, vậy mà về sau đã trở thành một nhà phát minh lừng danh nhứt trong lịch sử nhân loại.
Cố mục sư Martin Luther King, người đã hy sinh mạng sống vì cuộc tranh đấu cho quyền bình đẳng của người Mỹ gốc Phi Châu đã từng tuyên bố: “Điều gì không hủy diệt được tôi đều làm cho tôi ra mạnh mẽ hơn.”
Ít nhứt, về nhân cách, đau khổ làm cho con người mạnh mẽ hơn, bởi vì đau khổ giúp cho con người phân biệt được giữa những nhu cầu thiết yếu và các thứ xa xí.
Đau khổ khiến con người không còn tìm kiếm sự an toàn trong của cải vật chất, danh vọng, quyền lực mà là những giá trị đích thực của cuộc sống.
Nhưng quan trọng hơn cả, đau khổ, cách riêng đau bệnh, làm cho con người biết cảm thông với người khác hơn. Không có một trường học nào dạy con người biết cảm thông hơn khổ đau.
Trong một thế giới mà sự cạnh tranh tiếp tục là phương cách trổi vượt để thiết lập quan hệ giữa người với người, dù là trong chính trị, thể thao hay kinh tế, thì xem ra sự cảm thông, nhứt là cảm thông với những người kém may mắn, những người khuyết tật, người già lão hay bệnh tật xem ra không còn có chỗ đứng nữa. Bất an, lo lắng, dễ bị tổn thương, chúng ta xem cạnh tranh như luật sinh tồn. Trong bất cứ một cuộc tranh tài thể thao hay trong bất cứ một cuộc bầu cử nào, kẻ chiến thắng vẫn luôn được nể trọng và ngưỡng mộ. Trái lại, con người bất lực quằn quại trên giường bệnh hay bị nghiền nát trong khổ đau ít khi được nhìn nhận và quan tâm tới.
Thế nhưng, khi cùng mắc một chứng bệnh, cùng phải nằm chung một khu trong bệnh viện, và cùng phải trải qua các cuộc trị liệu như nhau, người ta mới nhận ra rằng: chẳng ai còn muốn “cạnh tranh” ở đây nữa. Tất cả đều “bình đẳng” trước bệnh hoạn, người thành công, giàu có cũng chẳng hơn gì người thất bại, nghèo hèn: ai cũng đau đớn, ai cũng phải trải qua trị liệu, ai cũng phải uống đủ thứ thuốc, ai cũng thấy cô đơn, hoang mang…Những cảm giác này, người thân khỏe mạnh có muốn chia sẻ cũng không được.
Trước đây, khi chưa bị bệnh, tôi cũng vậy. Tôi thờ ơ nghe người khác tỉ mỉ tả về những sự đau đớn của họ và tự hỏi: sao họ lại nhớ “dai”  những gì liên quan đến căn bệnh như thế ? Giờ đây, tôi hiểu tại sao, bởi vì khi tôi bệnh thì chẳng còn cái gì trên đời này quan trọng hơn căn bệnh của tôi.
Cám ơn Bệnh, nếu không có ngươi, làm sao tôi có thể thực sự cảm thông với các bệnh nhân và có dịp nằm “ẹp” một chỗ, thấm thía rằng chẳng có gì quí hơn sức khỏe.






Thứ Bảy, 18 tháng 10, 2014

Nhập gia tùy tục



                                                                                            Chu Thập
10/10/14

Một trong những giây phút mà tôi cho là đáng ghi nhớ nhứt trong cuộc đời tỵ nạn của mình là lúc tôi vừa đặt chân xuống phi trường Charles de Gaulle ở thủ đô Paris, Pháp Quốc. Đó là một buổi sáng đầu Thu của đầu thập niên 1980. Cùng với cả một đám người tỵ nạn Việt, Miên, Lào, ngồi co ro trong những chiếc ghế bành lớn của phi trường trong khi chờ đợi làm thủ tục để được đưa về các trại tạm cư ở ngoại ô Paris, tôi cảm thấy bơ vơ lạc lõng hơn bao giờ hết. Càng cảm thấy xa lạ hơn nữa khi tôi đưa mắt theo dõi dòng người đang lượn qua trước mặt. Trước hết là một phái đoàn “cổ trắng”, mặc đồ lớn sang trọng. Tôi đoán đây là một nhóm doanh gia hay chính trị gia đang chờ lên máy bay để đi hội họp ở đâu đó. Nhưng thu hút sự chú ý của tôi nhiều nhứt có lẽ là một số phụ nữ mặc toàn mầu đen, trùm kín từ đầu đến chân, chỉ để lộ hai con mắt. Về sau tôi mới biết tên gọi của y phục đó là “burqa”, được một số phụ nữ Hồi giáo tại một số quốc gia Hồi giáo mặc và họ vẫn tiếp tục mặc sau khi đã định cư tại một nước Tây Phương. Chiếc “burqa” này là hình ảnh đầu tiên cho phép tôi được tiếp xúc với thế giới Hồi giáo. Người Hồi giáo ở Việt Nam chưa đủ đông để khẳng định sự hiện diện của họ trong xã hội, cho nên lúc còn trong nước tôi chỉ có một ý niệm rất mù mờ về tôn giáo này. Ngay cả khi được “tạm trú” trong trại tỵ nạn Galang ở Nam Dương là quốc gia có số tín đồ Hồi giáo đông nhứt thế giới, vì ở trong một nơi hoàn toàn bị cách ly với thế giới bên ngoài, cho nên tôi cũng không có cơ hội tiếp xúc với thế giới Hồi giáo.
Hai bộ y phục tương phản nhau trên đây mà tôi lần đầu tiên nhìn thấy tại phi trường Charles de Gaulle đã gợi lên cho tôi một hình ảnh với đủ mọi mầu sắc về Pháp Quốc, nơi tôi đã muốn chọn làm quê hương thứ hai của mình. Trước hết đó là một nước Pháp mà tôi chỉ có thể gọi đích danh là “thực dân”. Chiếc “burqa” mầu đen lướt thướt giữa thủ đô ánh sáng Paris gợi lên một trang sử đen tối trong lịch sử của nước Pháp cũng như nhiều dân tộc khác, trong đó có Việt Nam, khi thực dân Pháp qui tụ được một đội ngũ lính đánh thuê hùng hậu để đi “cướp đất” của các nước khác. Chính vì tội ác ấy mà ngày nay nước Pháp đang phải chịu “quả báo” về những xáo trộn xã hội mà sự hiện diện gần như quá tải của người di dân từ các nước thuộc địa đổ xô về có thể tạo ra.
Nhưng hình ảnh của chiếc “burqa” lả lướt bên cạnh những bộ thời trang đắt tiền của người dân sành điệu Paris lại gợi lên cho tôi một ý nghĩ khác: người Pháp vốn có tinh thần khoan nhượng cao độ! Trong một xã hội đa chủng tộc, đa văn hóa, đa tôn giáo như nước Pháp, mỗi người đều có một chỗ đứng. Cho đến ngày 14 tháng 9 năm 2010, tức ngày Quốc Hội Pháp thông qua luật cấm mang “burqa” với mục đích cho phép nhân viên công lực dễ dàng nhận diện được người cần bị xét hỏi, chẳng có ai thắc mắc hay chống đối về chuyện có những người ra đường di chuyển như những “xác chết biết đi”. Người Pháp nổi tiếng thích tự do, tự do đến độ trước bất cứ một tấm bảng “cấm” nào, người ta cũng muốn thêm vào một tiếng “cấm” khác thành ra  “cấm cấm” (interdit d’interdire).
Trong cố gắng gọi là “hội nhập văn hóa”, ngoài bài học khoan nhượng của người Pháp, tôi cũng muốn tẩy bàn chân dính phèn của mình bằng cách học lại những bài học căn bản về “ăn nói”. Tôi tập uống rượu cho đúng cách. Tôi tập sử dụng muỗng nĩa, dao cũng như ngồi trên bàn ăn cho đúng cách. Tôi cũng tập ăn cho đúng cách, nghĩa là không nói khi miệng tôi còn đầy thức ăn, không ăn một cách ồn ào. Nói thì dĩ nhiên, cứ mở miệng là tôi phải tập cho bằng được những công thức “cám ơn, xin vui lòng, xin lỗi, rất lấy làm buồn...” Cả chuyện ăn mặc cho đúng cách như dân Tây, tôi cũng học nữa. Tôi nhớ có lần tôi “diện” một bộ “com-lê” mới mua với cà vạt hẳn hoi trông “cũng như người ta”. Nhưng ngắm tôi từ trên xuống dưới, một anh bạn thân người Pháp nhắc khéo: “Người Pháp may áo vét có hai nút, nhưng họ chỉ cài nút trên thôi”. Thì ra, tôi muốn ăn chắc, thấy có nút là cài, không biết rằng một nút để cài, còn một nút để...làm dáng!
Trên đây chỉ là một vài “chuyện nhỏ” mà tôi nhận thấy mình không thể không làm như người ta một khi đã nhận đất nước của họ làm quê hương mới của mình. Đây là bài học đầu tiên mà có lẽ ông bà tổ tiên chúng ta đã dạy khi nói: “nhập gia tùy tục”.
Về chuyện “nhập gia tùy tục”  tôi nhận thấy chẳng có nơi nào tôi học nhanh và thực hành nhuần nhuyễn cho bằng tại Thái Lan, nơi tôi đến viếng thăm cách đây không lâu. Hai điều căn bản tại xứ Phật này mà tôi đã thực hiện với tất cả trân trọng và thành tín là vái chào và cởi bỏ giày dép mỗi khi vào nhà người khác. Tôi thích vái chào, bởi vì mỗi khi làm cử chỉ này, nhứt là kèm theo nụ cười, tôi luôn ý thức rằng mình được mời gọi trút bỏ mọi dửng dưng, nghi kỵ và thù hận ra khỏi tâm hồn, đồng thời cố gắng nhìn thấy “phật tính” nơi người đối diện. Mỗi ngày, chỉ cần năm ba lần vái chào như thế, tôi cảm thấy bình an trong tâm hồn.
Riêng chuyện phải cởi bỏ giày dép mỗi khi vào nhà người khác, lúc đầu tôi cảm thấy lúng túng và ngay cả khó chịu. Về sau, một người bạn Thái đi cùng chuyến, giải thích cho tôi rằng với cử chỉ này, người Thái không chỉ muốn gìn giữ cho nhà cửa được sạch sẽ, mà chính là để bày tỏ sự tôn trọng đối với những người trong nhà mình đến thăm. Tôi chợt nghĩ: đâu chỉ có đền thờ của một số tôn giáo như Phật giáo, Hồi giáo...mới là nơi tôn nghiêm mà khi đi vào người ta cần phải cởi bỏ giày dép. Người Thái dạy cho tôi rằng bất cứ người nào mình vào thăm trong nhà cũng đều có một phẩm giá cao trọng cần được tôn trọng.
Thì ra, “nhập gia tùy tục” cũng có nghĩa là tỏ ra tôn trọng người khác, quan tâm đến những cảm xúc của họ, đón nhận cái hay cái đẹp trong văn hóa của họ và nhứt là sẵn sàng dũ bỏ những thứ râu ria, thừa thãi và ngay cả vô nghĩa cũng như làm phiền người khác trong truyền thống của mình.
Tôi nhớ hồi còn làm việc bên Phi Luật Tân, tôi có dịp tham dự một buổi trình diễn văn nghệ do người Việt tỵ nạn trong trại Bataan tổ chức. Trong một màn vũ do một số thiếu nữ Việt Nam trình diễn, một số người bạn Phi của tôi nhìn lên sân khấu với đôi mắt vừa tò mò vừa mỉa mai. Về sau, mấy ông bạn Phi này mới hỏi tôi về cách phục sức “truyền thống” nửa kín nửa hở (nghĩa là áo ngoài mỏng đến độ có thể thấy cả “nội y”) của người phụ nữ Việt Nam. Tôi không biết đó có phải là cách ăn mặc “truyền thống” của người phụ nữ Việt Nam không. Nhưng tôi nhận thấy, sau khi định cư tại các nước Tây Phương, dường như chẳng còn người phụ nữ Việt Nam nào nhân danh “truyền thống” để duy trì cách ăn mặc khiêu khích như thế nữa!
Nói chung, theo tôi, có những truyền thống tốt đẹp cần duy trì. Nhưng được hình thành vào một thời mà cách sống và kiến thức còn lạc hậu, không thiếu những truyền thống bị xem là lạc hậu mà một khi đã chọn một quốc gia Tây Phương làm quê hương mới, tôi không thể bám víu vào nữa. “Nhập gia tùy tục” đòi hỏi tôi phải chấp nhận và thích nghi với nếp sống văn hóa mới, những giá trị vốn làm nên văn minh của đất nước đã đón nhận tôi và cũng được tôi chấp nhận.
Tôi còn nhớ: dưới thời Thủ tướng Julia Gillard, khi một số người Hồi Giáo muốn sống theo luật Sharia của Hồi Giáo ngay trên đất Úc, nữ thủ tướng đầu tiên của nước này dường như được trích dẫn có nói: “Nếu bạn không cảm thấy hài lòng ở đây, bạn hãy rời bỏ nước này (có người dịch: hãy cút đi). Chúng tôi đã không cưỡng bách bạn đến đây. Bạn đã xin được ở đây. Vậy hãy chấp nhận xứ sở đã chấp nhận bạn”. Bà khẳng định: “Đây là xứ sở của chúng tôi, đất nước của chúng tôi và cách sống của chúng tôi và chúng tôi sẽ tạo mọi cơ hội để bạn hưởng được tất cả những điều đó. Nhưng nếu bạn cứ lải nhải, than phiền về Lá Cờ của chúng tôi, Lời tuyên thệ dưới cờ của chúng tôi, Niềm tin Kitô giáo của chúng tôi hay Cách sống của chúng tôi, tôi khuyên bạn hãy lợi dụng một trong những quyền tự do lớn nhứt của Úc Đại Lợi là “Quyền được ra đi”.
Nhiều người đặt nghi vấn về tính trung thực của những lời trên đây. Nhưng dù cho bà Gillard có nói những lời trên đây hay không, nguyên tắc “nhập gia tùy tục” vẫn đòi hỏi bất cứ một người di dân nào đến một xứ sở khác cũng đều phải tôn trọng luật pháp, phong tục và cách sống của xử sở ấy.
Tôi phục sát đất một số nhà truyền giáo Tây Phương khi đến truyền đạo tại một số nước Á Châu. Như trường hợp linh mục dòng tên người Ý Matteo Ricci (1552-1610). Nhờ bản đồ thế giới do ông vẽ và giải thích bằng tiếng Hoa mà các nhà thám hiểm Âu Châu mới lên đường tìm đến Đông Á. Nhưng ngoài một chút “ánh sáng văn minh” mà ông mang đến cho Trung Quốc, nhà truyền giáo này thường được nhắc đến nhiều nhứt do cách sống và phục sức hoàn toàn giống như một người Trung Hoa vào thời đó của ông. Dù có bế quan tỏa cảng và xem mình là “cái rốn của vũ trụ” cách mấy, triều đình Trung Hoa thời đó vẫn dành cho nhà truyền giáo này một chỗ đứng quan trọng vì ngưỡng mộ cung cách “nhập gia tùy tục” của ông.
Tôi cũng ngả mũ chào một số nhà truyền giáo Pháp tại Việt Nam: có người đã mặc chiếc áo dài của đàn ông cũng như lấy cả tên Việt Nam!
Xét cho cùng, nhập gia tùy tục cũng có nghĩa là bày tỏ sự tôn trọng đối với con người, những giá trị làm nên những truyền thống cao đẹp của đất nước nơi mình được đón nhận. Nhưng dĩ nhiên, nhập gia tùy tục cũng không hề có nghĩa là chối bỏ hay vứt đi những giá trị cao đẹp trong văn hóa và truyền thống của mình. Thật ra, cái cốt lõi của truyền thống dân tộc nào cũng đều tốt đẹp cả. Tôi có thể không còn ăn cơm bằng chén đũa và ngay cả không còn cảm thấy thèm cơm nữa. Tôi cũng có thể vứt bỏ chiếc áo dài khăn đóng. Tôi cũng chẳng còn tha thiết với không biết bao nhiêu phong tục tập quán của người Việt Nam. Nhưng cái cốt lõi chìm sâu trong các truyền thống và phong tục của người Việt Nam là lòng hiếu thảo, sự kính trên nhường dưới, tình tương thân tương ái, lòng biết ơn...vốn đã góp phần làm nên bản sắc con người của tôi, thì dù ở đâu và có hòa nhập vào văn minh xứ người đến độ nào, tôi cũng không thể nào quên hay xóa bỏ được. Và ngược lại, trong cố gắng “hội nhập văn hóa” hay “nhập gia tùy tục”, khi hòa mình với văn hóa và cách sống của đất nước đã cưu mang tôi, tôi vẫn nhận ra rằng mình đang sống những giá trị cốt lõi của truyền thống dân tộc. Thật ra, con người có thể khác nhau về mầu da, tiếng nói, văn hóa, phong tục tập quán và nhứt là tôn giáo, nhưng mọi người đều liên kết và gặp gỡ nhau trong cùng một thứ Đạo là Đạo làm người, tức Đạo luôn đòi hỏi con người phải cố gắng sống hòa hợp và hài hòa với nhau.




Thứ Tư, 15 tháng 10, 2014

Sinh Lão Bệnh Tử 1

Tử
Chu Thập 
23/11/10

Hôm nọ, tôi tình cờ nhìn thấy những vết bầm trên tay của chị bạn làm y tá điều dưỡng. Thấy tôi thắc mắc, chị cười cười giải thích: Số là, đêm hôm trước, chị phải săn sóc cho một cụ bà đang trải qua những giờ phút cuối cùng. Bà bị ung thư ở giai đoạn cuối. Với tuổi đời đã hơn chín mươi và có một cá tính mạnh mẽ, bà từ chối chạy chữa và muốn được “nguyên vẹn hình hài” để thanh thản ra đi. Không những thế, bà cũng từ chối luôn việc tiêm thuốc giảm đau. Bà biết rằng thuốc giảm đau sẽ làm cho bà rơi vào trạng thái lơ mơ. Mà như bà đã từng bộc lộ ước ao được “sống” một cách trọn vẹn, bằng tất cả những cảm nhận minh mẫn từ thể xác cũng như tinh thần cho đến lúc mãn phần. Đối với bà, đau đớn cũng là một phần của đời sống. Và bà muốn chấp nhận như đã hưởng một cuộc đời thật dài với tất cả mùi vị ngọt ngào, đắng cay.
Ở một nước Úc luôn tôn trọng phẩm giá con người, thông thường, người ta không ngừng dùng mọi phương tiện để giúp một người phải trải qua những đau đớn trong thân xác được thanh thản. Tuy không tán thành việc bệnh nhân trải qua đau đớn, tất cả mọi nhân viên y tế vẫn tôn trọng sự chọn lựa và quyết định của bà. Bởi vì, ai cũng có quyền chuẩn bị những giờ phút cuối đời theo ý muốn riêng trong khuôn khổ đạo đức và luật pháp như tất cả mọi quyền tự do khác trong suốt cuộc đời của họ.
Suốt hai tuần cuối cùng, bà chịu đựng một cách thật can đảm những cơn đau. Bù lại, bà có những giây phút tỉnh táo để nói một câu với người này, một lời với người khác. Ai cũng bùi ngùi xúc động. Không còn thân nhân nhưng bà cũng chẳng muốn làm phiền nhiều. Bà thường nắm lấy song giường mỗi khi đau đớn. Trong đêm đó, để hỗ trợ tinh thần của bà, chị y tá đã ngồi bên bà suốt đêm. Bà đã nắm tay chị trong giấc ngủ chập chờn. Mỗi khi đau thì bà lại nắm chặt chị hơn. Cũng nhờ vậy mà chị chia sẻ được cường độ cơn đau của bà. Đến gần sáng, bà ra đi sau một cái siết tay thật mạnh, để lại cho chị một sự xúc động, kính trọng và cảm phục sâu xa, và đương nhiên, cả những vết bầm “dịu dàng” trên tay.
Bà đã ra đi sau khi đã “sống” một cách ý nghĩa mọi phút giây trong đời sống của mình.
Câu chuyện của bà không hiểu sao lại làm cho tôi suy nghĩ thật nhiều và theo đuổi tôi mãi. Nếu tôi nghe câu chuyện này khi còn ở tuổi 20, hay 30, 40 hoặc ngay cả 50, có lẽ tôi cũng chỉ thấy cảm thương, bùi ngùi trong một lúc. Còn bây giờ thì đúng là “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay.” Ở tuổi “nhìn lại mình đời đã xanh rêu” hay “muối lấn át tiêu”, tôi thực sự thấy “quan tâm” đến cái gì chắc chắn sẽ chờ đợi mình ở cuối đời. Đến lúc này tôi mới hiểu tại sao người ta lại tốn nhiều thời gian, công sức và tiền của chỉ để chuẩn bị cho cái chết. Câu nói “Đông và Tây không bao giờ gặp nhau” có lẽ không còn đúng trong trường hợp này. Đông hay Tây, ở đâu con người cũng loay hoay “chuẩn bị” cho cái chết của mình.
Tây phương, vốn chịu ảnh hưởng của triết lý Hy lạp, xem việc chuẩn bị cho cái chết là một đòi hỏi của minh triết. Vào thế kỷ thứ 5 trước công nguyên, nhà hiền triết Sorates bị một tòa án tại Athenes gồm 501 thẩm phán xét xử về tội không nhìn nhận các thần minh của thành phố. Số đông đã kết án tử hình ông về tội không những đã chối bỏ các thần minh mà còn đầu độc giới trẻ.
Người ta cho ông một cơ hội để trốn thoát. Nhưng ông từ chối và tuyên bố rằng “không ai biết rằng cái chết là điều thiện hảo lớn lao nhứt” đối với con người. Trong tác phẩm Phaedo, người môn sinh của ông là triết gia Plato có ghi lại câu nói của ông: nếu triết lý có nghĩa là yêu thích sự khôn ngoan, thì chuẩn bị chết cũng chính là yêu thích sự khôn ngoan.
Được xem là nhà hiền triết ngông cuồng nhứt của thời cổ Hy lạp, một người đương thời của ông Socrates là Diogenes cũng xem việc chuẩn bị chết như công việc chính của đời người. Ông là người duy nhứt dám có thái độ khinh thị đối với đại đế Alexandre mà không hề hấn gì. Một hôm, ông đứng say sưa ngắm nhìn một đống xương người. Tình cờ đi qua, thấy thái độ lạ lùng của cụ già, đại đế Alexandre mới hỏi ông đang làm gì. Nhà hiền triết mới trả lời: “Hạ thần đang tìm kiếm những cái xương của thân phụ bệ hạ. Nhưng hạ thần không thể nào phân biệt được đâu là xương của thân phụ ngài, đâu là xương của những người nô lệ.”
Cộng với minh triết Hy lạp, truyền thống Kitô giáo vốn xem cuộc đời như hoa sớm nở tối tàn cho nên cũng xem việc “dọn mình chết lành” là một thái độ nền tảng trong cuộc sống của người tín hữu Kitô. Vào thời mà giáo quyền và thế quyền đan quyện với nhau, quyền lực và vinh quang trần thế dễ làm cho các nhà lãnh đạo Giáo hội bị hủ hóa, các vị giáo hoàng thường được nhắc nhở chân lý ấy. Trong nghi thức đăng quang của các vị giáo hoàng thời xa xưa, người ta mang đến một cái sọ người và đốt một loại cỏ đặc biệt ba lần và mỗi lần đều lập lại với vị tân giáo hoàng như sau: “Thưa đức thánh cha, vinh quang trần thế qua đi như thế đó.”
Lịch sử Kitô giáo tại Tây Phương không chỉ là những trang được viết bằng những cuộc thập tự viễn chinh hay những bước chân thừa sai đồng hành với những cuộc chinh phục và thực dân tại các nước nhược tiểu, mà còn bằng vô số những gương thánh thiện của những vị thánh và các tín hữu sống siêu thoát, từ bỏ mọi sự, đêm ngày hy sinh quên mình vì tha nhân và xem cuộc sống như một cuộc lữ hành tiến về cõi vinh phúc vĩnh cửu. Tựu trung, như thánh Phanxicô Assisi, vị sứ giả Hòa bình muôn thuở,  Kitô giáo xem cái chết như một người Bạn và là một người Chị Em.
Đông phương hay đúng hơn Á Châu cũng có cùng một cái nhìn như thế về sự chết.
Lúc nhỏ, trong làng tôi, tôi đã tận mắt chứng kiến cái cảnh không biết bao nhiêu “cụ già” tuổi chưa tới 60 đã tậu hay tự đóng cho mình một chiếc quan tài và đặt ở sau nhà hay ngay trong nhà, gần giường ngủ của mình. Có thể vào thời đó, quan tài là cả một gia tài. Nhưng sự hiện diện của một chiếc quan tài trong nhà hẳn phải nhắc nhở con người chuẩn bị cho sự ra đi vĩnh viễn của mình.
Suy ngẫm bên chiếc quan tài đặt trong nhà là điều quá quen thuộc đối với người Á châu. Thời xa xưa, một nhà sư nào đó bên Tàu thường bày trên án thư, trước chỗ ngồi một chiếc quan tài con bằng gỗ bạch đàn, dài độ ba tấc, có một cái nắp đậy và mở được. Khách đến nhà trông thấy,  tò mò hỏi, nhà sư thường trả lời như sau: “Người ta sống tất có chết, mà chết thì vào ngay cái này. Tôi thực lấy làm lạ, người đời ai cũng chỉ biết phú quý, công danh, tài sắc, thị hiếu, lo buồn, vất vả suốt đời, chẳng biết đến cái chết là gì…Mỗi khi có việc không được như ý, tôi cầm lấy chiếc quan tài mà ngắm, tức khắc tôi cảm thấy được yên ổn trong tâm hồn ngay.” (x. Cổ học tinh hoa)
Dĩ nhiên, không phải mọi dân tộc Á châu, ngay cả những dân tộc chịu ảnh hưởng Khổng Giáo hay Lão Giáo đều có cùng một quan niệm về cái chết. Người Nhựt bản nổi tiếng xem cái chết nhẹ tựa tơ hồng. Nhà văn Võ Phiến, trong một bài viết hồi năm 2000, đã nói đến hiện tượng “tự chết” của người Nhựt trong những năm cuối thế kỷ 20 vừa qua. Từ trước đây năm trăm năm, người Nhựt đã từng duyệt lại tục lệ cũ, đặt ra bao nhiêu lề luật để tiến hành nghiêm chỉnh các cuộc “tự chết” gọi là Hara-kiri. Tác giả Võ Phiến viết rằng “tự tử là một sở trường của người Nhựt Bản: họ chết nhiều, họ chết có phép tắc tử tế”.
Có đủ mọi lý do khiến người Nhựt “tự chết”: tự tử vì thất bại trong chiến tranh, tự tử vì kinh doanh thua lỗ, tự tử vì yêu nhau gặp trục trặc, học sinh thi trượt cũng tử tử.
Theo nhà văn Võ Phiến, văn nhân Nhựt bản tự tử cũng nhiều. Nổi tiếng nhứt là vụ tự tử của nhà văn Yukio Mishima. Ông chọn chết ngay tại Bộ quốc phòng. “Sáng sớm, trên một chiếc xe mới toanh, nhà văn cùng bốn môn đệ kéo đến, trói gô ông tướng tư lệnh, tập hợp binh sĩ lại, Mishima ra bao lớn diễn thuyết một hồi, rồi trở vào phòng mổ bụng, đường đường lẫm liệt. Lúc bấy giờ Mishima đang độ sáng tác dồi dào, được hoan nghênh săn đón nồng nhiệt. Ngày 25 tháng 11 năm 1970 ấy, vào lúc mờ sáng, ông ký tên vào trang bản thảo cuối cùng của một bộ truyện dài bốn cuốn, để sẵn trên bàn cho nhà xuất bản đến nhận, như đã hẹn.” (Võ Phiến, Võ Phiến Tuyển Tập, Người Việt, trg 354)
Nhà văn Võ Phiến cho rằng thất bại, khổ đau, không phải là yếu tố gây nên những cái chết của các nhà văn. Không ai hiểu được động lực nào đã thúc đẩy họ “tự chết”. Thân mẫu của ông Mishima giải thích rằng: “Đây là lần đầu tiên trong đời ông ta đã làm được điều mà ông ta muốn làm.”
Nhưng làm được điều gì? Ông Võ Phiến cho rằng “tự chết”, nhứt là “tự chết” như những nhà văn Nhựt Bản là một “cách phát biểu”. Tác giả bình luận: “Cuối thế kỷ này người Nhật hình như có làm quá đáng trong việc tự chết. Người Nhật phát biểu quá nhiều, chận ngay lời phát biểu của ông Trời, làm ông tưng hửng, chúng ta tưởng tượng “Trời hẳn phải nhăn mặt gắt: “Bố láo”. Có thế chăng?” (sđd)
Con người quả là “bố láo” khi dành lấy cái công việc lẽ ra chỉ thuộc về “Ông Trời”. Thật vậy, chỉ có Ông Trời mới có quyền phát biểu về cái “lẽ sống chết” của con người. Mà ở đời, hễ thuận với Trời thì sống, mà nghịch với Trời thì chết vậy. Theo quy luật muôn đời, ai cũng phải chết. Nói cho có giọng triết lý một chút, thì có người lại bảo “con người sinh ra là để chết”. Nếu vậy thì hóa ra cuộc đời này chẳng đáng sống chút nào cả. Đây là luận điệu ẩn tàng sau bất cứ một vụ tự tử nào. Xét cho cùng chẳng có ai tự tử “cho vui” cả. Như nhà văn Võ Phiến đã nhận xét, “phần lớn các vụ tự tử chẳng qua là để bày tỏ một sự tuyệt vọng, một phẫn uất, một giận hờn, phản đối, oán trách, thù hận…”. Những tên đặc công trong chiến tranh khủng bố hay những kẻ “ôm bom tuẫn giáo” ngày nay có lẽ cũng “tự chết” với thù hận mà thôi.
Vẫn biết “con người sinh ra là để chết”, nhưng câu hỏi nghìn đời vẫn là “cuộc đời có đáng sống không?” Nếu cuộc đời là “đáng sống” và ngay cả những giây phút cuối đời cũng là “đáng sống” thì vấn đề sẽ không còn là phải chuẩn bị chết như thế nào mà là phải sống như thế nào.
Những giây phút cuối đời “đáng sống” của lão bà trong viện dưỡng lão trên đây làm tôi nhớ lại những ngày cuối đời của nhạc sĩ Ý nổi tiếng Giacomo Secondo Maria Puccini. Khi bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư, ông liền quyết định dành những ngày cuối đời để viết vở nhạc kịch “Turnandot”. Bạn bè và đệ tử của ông khuyên ông nên tĩnh dưỡng. Ông nói rằng ông làm tất cả để hoàn tất tác phẩm để đời; nếu ông không thực hiện được thì chính họ sẽ tiếp tục công trình.
Ông Puccini đã qua đời và tác phẩm bị bỏ dở. Vào năm 1926, hai năm sau khi Puccini qua đời, nhạc trưởng tài ba Arturo Toscanini đã điều khiển vở nhạc kịch “Turnandot” tại Hí viện  La Scala Opera ở Milano, Bắc Ý. Tác phẩm vừa là một kiệt tác để đời của ông Puccini trong những ngày cuối đời, vừa là một đóng góp của bạn hữu và đệ tử của ông.
Những ngày cuối tháng 11 là tháng mà truyền thống Kitô giáo dành riêng để tưởng nhớ người quá cố và suy gẫm về cái chết, tự nhiên tôi nhớ lại câu nói của một vị thánh trẻ. Khi được hỏi: nếu biết chỉ còn vài phút nữa sẽ chết, em sẽ làm gì, người thiếu niên không ngần ngại trả lời rằng em sẽ tiếp tục chơi.
Sống thật sự sung mãn những giây phút mình đang có, dù đó là những giây phút cuối đời, phải chăng không là một cách chuẩn bị chết?
Chu Thập 23.11.2010 










Thứ Hai, 13 tháng 10, 2014

Tốt Khoe, Xấu Che



                                                                             Chu Thập
28/10/10

Ngày nay, ngoại trừ những tai nạn, đa số những cái chết đều xảy ra trong bệnh viện, nhà dưỡng lão. Nếu có ra đi trong nhà, thì người chết cũng được người thân vội vàng gọi nhà quàn đến mang đi lo liệu. Tôi không biết có phải vì ít “tiếp cận” với cái chết mà trẻ con Tây phương cứ mong cho đến ngày Halloween để hóa trang và mang những chiếc mặt nạ của Tử Thần không.
Tôi sinh ra và lớn lên trong một xóm đạo. Ngoài văn hóa Á đông, tôi còn thấm nhiễm cái tinh thần “đạo” của thời thập niên 1950, cho nên ngay từ nhỏ đã thấy “gần gũi” với sự chết. Mới 4, 5 giờ sáng, dầu chưa tới tuổi khôn, ngày nào tôi cũng bị bà mẹ “sùng đạo” dựng đầu dậy bắt phải đến nhà thờ “xem lễ”. Thời bấy giờ, con nít như tôi chỉ đến nhà thờ để “xem” lễ theo đúng nghĩa. Mà bởi ngoại trừ ngày Chúa nhựt, 6 ngày trong tuần, ông cha sở đều làm “lễ mồ” cho nên tôi phải “xem lễ” mệt nghỉ. Theo danh từ nhà đạo, “lễ mồ” tức là lễ cầu hồn cho người đã qua đời. Toàn bộ khung cảnh bên trong nhà thờ đều mang mầu tang chế: ở giữa nhà thờ, người ta dựng lên một cái mồ mầu đen, xung quanh có đốt nến và trang hoàng bằng những hình ảnh ma quái như xương, sọ người và những giọt nước mắt. Trên các cây cột trong nhà thờ đều có treo lủng lẳng cũng những hình tượng chết chóc ấy. Dĩ nhiên, trên bàn thờ thì khỏi nói, ngoài cái mầu đen tang tóc của bộ áo lễ mà linh mục mặc trên người, con mắt trẻ con của tôi nhìn lên chỉ thấy toàn những hình ảnh ma quái. Nhưng rùng rợn hơn phải nói đến âm thanh não nuột từ gác chuông giáo đường, cứ không đầy một phút lại vang lên một lần. Bộ lễ “Requiem”, dù bằng tiếng Latinh mà chẳng ai hiểu gì, trẻ con nghe vẫn thấy “buồn” chứ đừng nói người lớn. 
Lớn lên trong cái xóm đạo đầy “ám khí” ấy, cho nên lũ trẻ chúng tôi đâu thấy cần phải mang mặt nạ của Thần chết nữa. Có mang mặt nạ chăng thì chúng tôi chỉ mang mặt nạ của “Zorro”. Thời bấy giờ chưa có “Người Dơi”, “Người Nhện” cho nên “Zorro” là thần tượng của lũ trẻ chúng tôi. Đứa nào cũng có thể tự đẽo được một cái súng gỗ, đeo vào cái mặt nạ của “Zorro” và tha hồ ca bài “ò e con ma đánh đu, Tarzan nhảy dù, Zorro bắn súng…”
Trở lại với cái xóm đạo thân thương của tôi. Người lớn trong xóm đạo của tôi thường đề cao sự thông thái và đạo đức của ông cha sở. Thông thái thì tôi chưa kiểm nghiệm được, bởi vì trong nhà thờ có bao giờ tôi có đủ chú tâm để nghe hết một bài giảng tràng giang đại hải của ông đâu. Đó là chưa kể những lúc ông “xổ nho” hay đọc vài câu Latinh như đọc thần chú. Nhưng “đạo đức”, theo nhận thức của người giáo dân cách đây hơn 50 năm thì quả thực, ông cha sở của tôi là một người đạo đức. Tôi vẫn nhớ mãi hình ảnh của một ông linh mục mỗi buổi chiều xách gậy đi một vòng xứ đạo và xông vào bất cứ nhà nào có sòng bài tứ sắc để “phang” tứ tung. Và dĩ nhiên, làm sao tôi quên được không biết bao nhiêu hình phạt mà tôi phải gánh chịu vì cái tật lười biếng không chịu học giáo lý. Khó tẩy xóa khỏi ký ức nhứt là những lần bị đánh “rờ ve” (revers) ngay giữa nhà thờ, trước mặt “cả và thiên hạ” mỗi khi bị bà mẹ cưỡng bách  đi xưng tội. Hai cái má của tôi in đỏ bàn tay năm ngón của ông cha sở. Vậy mà tôi không bao giờ thấy mình bị bất cứ “thiệt hại tinh thần” nào trầm trọng đến độ bị trầm cảm và phải đâm đơn kiện ra tòa để đòi bồi thường như thường thấy xảy ra tại các nước Tây phương ngày nay. Với tôi, không thể dựa vào những chuẩn mực của thời đại này để phán xét những hành động xảy ra cách đây hơn nửa thế kỷ.
Dù bị “hành hạ” như thế, cũng như phần đông giáo dân vào thời đó, tôi vẫn nghĩ rằng ông cha sở của tôi là một người đạo đức. Đúng ra, phải nói ông là một nhà lãnh đạo tinh thần “nhiệm nhặt”. Ông sống khổ chế đã đành, mà ông cũng buộc giáo dân phải đi theo con đường của ông. Hình ảnh của một số phụ nữ trong giáo xứ của tôi bị ông cha sở đuổi ra khỏi nhà thờ vì trang điểm theo lối “Tây” vẫn còn sống mãi trong ký ức non dại của tôi. Tôi nhớ có một bà không được cho rước lễ chỉ vì trên môi có tô một chút son. Kể ra cặp mắt của ông cha sở tôi tinh tường thật. Cũng có một bà khác bị đuổi ra khỏi nhà thờ chỉ vì có cái đầu tóc “phi dê” (frisé) tức “uốn dợn”. Ngày nay, một hành động như thế của một linh mục nếu không bị xem là quái gở thì cũng phải bị kiện ra tòa vì kỳ thị và xúc phạm đến phẩm giá con người. Nhưng vào cái thời mà “cha” là “chúa” thì mọi hành động của cha đều là mô phạm. Chẳng thấy ai lên tiếng bênh vực những người đàn bà “tiến bộ” ấy. Trái lại, mọi người đều tán thành cách xử sự của vị linh mục và ngầm đề cao cái vẻ đẹp tự nhiên, không son phấn, không tô vẽ của người phụ nữ. Vào thời ấy, có đặt con trai ngồi ở đâu, thì cha mẹ nào cũng lựa những thiếu nữ đơn sơ, trong trắng, không son phấn mầu mè. Trong một ý nghĩa nào đó, người “có đạo” trong cái xóm giáo ngày xưa của tôi cho rằng “đạo đức” là phải sống đơn sơ, không che đậy, không tô son trét phấn, không “giả hình” hay nói một cách gợi hình hơn, không đeo mặt nạ. Suy cho rộng ra, người ta muốn nói rằng người đạo đức thực sự là người sống thật với lòng mình.
Từ cái mặt nạ tử thần của lũ trẻ trong ngày Halloween ngày nay, tôi “vòng vo tam quốc” trở về cái xóm đạo ngày xưa của tôi là để đi đến một kết luận có mầu sắc hơi triết học một chút: chân, thiện, mỹ luôn đi với nhau. Cái đẹp cũng đương nhiên là cái thật. Đẹp mà “giả tạo” thì không thực sự là đẹp nữa.
Ngày nay, tiến bộ khoa học đã giúp con người thắng vượt được không biết bao nhiêu bệnh tật và giới hạn. Hầu như cơ phận nào hư hỏng cũng đều có thể thay thế được. Ngay cả một khuôn mặt xấu xí và biến dị vì tai nạn cũng có thể được giải phẫu và thay thế bằng khuôn mặt của một người hiến tặng. Giải phẫu thẩm mỹ đã mang lại lòng tự tin và thành công cho nhiều người.  Chỉ cần một vài cú cắt xén, khoa thẩm mỹ đã có thể tân trang ngoại hình của con người từ A đến Z. Có khi con người được tân trang biến dạng đến độ chẳng ai còn nhận ra được con người “cũ” nữa.
Dĩ nhiên, ai cũng biết đó là một cái đẹp giả tạo. Và càng chạy theo cái đẹp giả tạo, con người càng có khuynh hướng “đeo mặt nạ” và không muốn sống thực với chính mình.
Trong “Liêu Trai Chí Dị”, tác giả Bồ Tùng Linh của Trung quốc qua đời vào đầu thế kỷ 18 có kể một câu chuyện với nội dung dường như mang hàm ý ấy. Mã Tuấn, nhân vật chính của câu chuyện, là một thanh niên khôi ngô tuấn tú. Theo nghiệp cha, anh dẹp bỏ việc đèn sách và học nghề buôn. Sau một thời gian bôn ba lưu lạc khắp nơi, cuối cùng anh đến một nước có tên là “Đại La Sát”. Trong cái đất nước này, cái gì xem ra cũng ngược đời. Một hôm, Mã Tuấn thấy một người đàn ông với gương mặt lạ thường: tai mọc ngược lên, mũi có ba lỗ, rèm mi rũ xuống che kín cả mặt như bức mành mành. Kế đến là mấy người cỡi ngựa nối gót theo sau. Người làng giải thích: người đàn ông kỳ dị đó là quan tướng quốc, còn mấy người đi theo sau là các quan đại phu. Mã Tuấn thấy rằng ông nào cũng có hình dạng quái dị. Người ta còn nói với anh rằng hễ quan chức càng nhỏ thì mặt mũi càng đỡ xấu.
Nhưng dưới con mắt người dân làng, Mã Tuấn lại là một con người kỳ quái và xấu xí nhứt. Ai trông thấy anh cũng phải bỏ chạy như gặp một quái vật. Người ta chỉ đứng trong cửa nhìn ra mà thôi.
Một hôm, có quan chấp kích là người đã từng đi nhiều nơi, trông thấy người lạ cũng nhiều, đến thăm làng. Nghe tin có người kỳ quái xuất hiện, ông liền cho mời Mã Tuấn đến để xem mặt.  Anh nhận thấy quan chấp kích là một cụ già cũng đã 90 tuổi, mắt lồi hẳn ra ngoài, râu ria tua tủa như lông nhím.
Ở nhà quan chấp kích được ít lâu, một hôm uống rượu với chủ nhân, say mèm, Mã Tuấn liền rút kiếm đứng lên múa, rồi lấy than bôi vào mặt giả làm Trương Phi. Quan chấp kích thích chí liền đề nghị với người thanh niên hãy cứ để nguyên bộ mặt Trương Phi như vậy; ngày mai ông sẽ tiến cử với quan tể tướng. Quan nài mãi, Mã Tuấn mới bằng lòng. Ông liền cho mở tiệc mời các quan đến uống rượu và dặn người thanh niên vẽ mặt hóa trang thành Trương Phi. Ai cũng nhìn nhận là con người xấu xí của Mã Tuấn đã biến mất để hiện nguyên hình là một người đẹp đẽ, phương phi. Dĩ nhiên, dưới cái nhìn của người dân xứ “Đại La Sát”.
Hôm sau Mã Tuấn được tiến cử vào cung điện. Nhà vua sai mở tiệc và truyền cho anh múa hát. Vua hài lòng lắm, liền phong cho anh làm Hạ đại phu, luôn cho ngồi hầu yến và ban cho nhiều ân sủng đặc biệt.
Mã Tuấn bị đặt trong tư thế phải luôn xuất hiện với khuôn mặt của Trương Phi. Nhưng dần dà các quan trong triều đều biết anh khoác bộ mặt giả. Đi đến đâu, anh cũng thấy người ta thì thào bàn tán, không còn vồn vã thân mật như trước nữa. Cảm thấy mình bị cô lập, anh liền dâng sớ xin về hưu. Nhưng nhà vua chỉ cho phép anh được đi nghỉ ba tháng. Mã Tuấn liền lấy ngựa chở vàng về sơn thôn. Người trong thôn quỳ xuống mà đón. Anh lấy vàng lụa phân phát cho mấy người thân quen từ trước. Tiếng reo mừng vang lên như sấm. Anh cũng cảm thấy vui vì không còn phải mang chiếc mặt nạ của Trương Phi nữa.
Phải can đảm như Mã Tuấn trong câu chuyện “Liêu Trai” trên đây mới dám cởi bỏ cái mặt nạ để trở về với chính mình. Cởi bỏ con người giả tạo là chấp nhận mất đi địa vị và bổng lộc.
Thói đời, như người Việt nam hay nói, chúng ta thường có khuynh hướng “tốt khoe, xấu che”.  Chính vì không muốn cho người khác biết cái xấu, cái sở đoản, cái khuyết điểm, cái bất toàn, cái giới hạn của mình mà con người đành phải đeo vào cái mặt nạ. Trung quốc có cố gắng tổ chức một Thế vận hội Bắc Kinh cho thật “hoành tráng” là chỉ để khoe cái mặt giàu có, hùng mạnh của mình và khỏa lấp những thành tích tồi tệ về nhân quyền và bao nhiêu những tệ nạn xã hội khác do chế độ đẻ ra. Chế độ cộng sản Việt nam có tốn kém đến cả 10 phần trăm tổng sản lượng quốc gia cho việc tổ chức kỷ niệm 1000 năm Thăng Long là cũng chỉ để che đậy cái bộ mặt tồi tệ về mọi mặt của chế độ, nhứt là về nhân quyền và công bình xã hội.
Thuở nhỏ, tôi thường theo cha mẹ đi xem cải lương, mỗi khi có một đoàn nổi tiếng từ Sài Gòn về các tỉnh biểu diễn. Dưới ánh đèn mầu, tôi thấy ai cũng đẹp. Nhưng sáng hôm sau, lảng vảng đến trước rạp hát để hy vọng được chiêm ngắm các tài tử giai nhân, tôi thất vọng hoàn toàn khi cái lớp son phấn được rửa khỏi gương mặt của họ.
Có khi tôi cũng thất vọng như thế về chính mình khi cái mặt nạ của mình vô tình bị cất khỏi gương mặt. Thật vậy, tôi không thể cảm thấy có được sự bình an trong tâm hồn khi tôi cứ phải cố gắng che đậy những giới hạn của mình bằng đủ mọi mặt nạ.
Không cần đâu xa, mỗi khi tôi có việc phải “đóng bộ” vào là tôi thấy như mình bị ngộp thở. Cái áo vest như “nhốt” thân hình tôi vào một cái khung. Chiếc cà vạt thì chẳng khác gì cái thòng lọng. Đôi giày da thì lại “bó rọ” hai bàn chân. Mỗi lần như vậy, tôi chỉ mong cho mau về nhà, “tuột” bộ đồ “vía” ra và trở về với cái quần “xà lỏn” và áo “thung”. Dù có thử bao nhiêu bận, tôi vẫn thấy mình chỉ thoải mái khi trở về làm một người Việt nam quê mùa, chất phác. Vì thực sự tôi là như vậy.
Bằng lòng với chính mình, sống thực với chính mình, tôi nghĩ đó là cách thế duy nhứt để tôi có được sự bình an thực sự trong tâm hồn.







Thứ Bảy, 11 tháng 10, 2014

Anh Hùng??


Chu Thập
3.10.14



Cho tới nay tôi vẫn chưa biết cái chết của một người cỡi mô tô mà tôi đã chứng kiến hôm thứ sáu tuần trước là một vụ tự tử hay là một tai nạn giao thông. Lạ quá, các cơ quan truyền thông kể cả báo địa phương không đá động gì đến vụ này. Nhưng chuyện xảy ra trước mắt cho nên tôi cứ bị ám ảnh.
Bãi câu quen thuộc của tôi là một nơi tương đối  yên tĩnh. Cuối tuần, thỉnh thoảng cũng có nhạc kích động hoặc tiếng cười đùa la hét của dân nhậu phát ra từ mấy cái “hộp đêm” bên cạnh. Ngoài ra, người ta ít nghe tiếng ồn của giao thông. Vậy mà tối thứ sáu tuần trước, không rõ một quái kiệt mô tô lạc đường từ đâu đã xuất hiện trên con đường cách con kênh nơi tôi đứng câu không đầy 100 thước. Trong ánh sáng mập mờ bên đường, tôi không nhìn rõ khuôn mặt của anh, nhưng tôi đoán không phải là một người đứng tuổi. Con đường dài không tới một cây số, thông thường rất yên ắng, bỗng biến thành một thứ phi đạo để chiếc xe mô tô lướt như bay theo đúng nghĩa. Tiếng động cơ làm đinh tai nhức óc có thể cho phép đoán được tốc độ không dưới 200 cây số giờ. Sự gian ác “chợt đến bất ngờ” khiến tôi nhủ thầm: “ngử” này chưa thấy quan tài chưa đổ lệ, may ra có gặp tai nạn thì họ mới mở mắt ra!
Nghĩ vậy nhưng tôi vẫn thầm mong rằng “điều ước” gian ác của tôi đừng xảy ra. Vậy mà, chỉ vài phút sau đó, nghĩa là sau khi quái kiệt đã lượn qua con đường ngắn trước mặt tôi đâu chừng 4,5 lần, tôi nghe như có một tiếng nổ chát chúa và mọi thứ đều trở về với thinh lặng. Trong đêm tối, tôi cố gắng “thiền niệm” và tập trung sự chú ý vào mấy cái đầu cần câu của tôi. Nhưng chỉ mươi mười phút sau đó, từ các ngã đường, xe cảnh sát, xe cứu thương với tiếng còi hụ đi kèm, kéo nhau đến. Có cả xe chữa lửa nữa. Chuyện lớn rồi! Nghĩ như thế cho nên tôi mới thu cần câu lại và chạy đến “hiện trường” để xem điều gì đã xảy ra. Trên khúc đường chỉ cách chỗ tôi đứng câu khoảng 200 thước, tôi thấy có một chiếc mô tô loại “tầm cỡ’ nằm chơ vơ, chiếc bánh trước bay đâu mất. Liếc vào một góc tường của một căn nhà bên cạnh, tôi thấy một tấm “ra” trắng phủ lên một xác người. Những người có mặt trước tôi cho biết nạn nhân đã chết vì chiếc xe mô tô của anh đã đâm mạnh vào một gốc cây bên vệ đường.
Hình ảnh rùng rợn mà lâu lắm tôi mới thấy tại Úc Đại Lợi này, đã đưa tôi trở về Việt Nam vào khoảng thập niên 1960. Đó là thời kỳ mà cùng với việc Hoa Kỳ đổ quân vào Việt Nam, các loại xe gắn máy của Nhựt Bản cũng được ào ạt nhập vào. Từ đó cũng phát sinh hiện tượng “quái kiệt” đua xe hai bánh. Xa lộ Biên Hòa mới được khánh thành đã trở thành trường đua lý tưởng cho dân chơi xe. Xe Mỹ từ các căn cứ Biên Hòa, Long Thành tràn ngập trên xa lộ trở thành những chướng ngại lý thú cho các cuộc đua. Báo chí lúc bấy giờ gọi những người lấy tốc độ để giỡn mặt với tử thần là “anh hùng xa lộ”. Trong chiến tranh, anh hùng ngoài trận mạc đã nhiều, mà “anh hùng xa lộ” được phong thần không phải là ít.
Tôi không rõ người cỡi xe mô tô  trên con đường gần bãi câu của tôi đã “ngộ nạn” vì tai nạn giao thông hay vì muốn trở thành “anh hùng” của tốc độ mà phải từ giã cõi đời một cách tức tưởi như thế. Nhưng ý niệm “anh hùng” cứ quay cuồng trong đầu tôi.
Thời buổi thông tin toàn cầu xem ra cũng là thời của “anh hùng”. Số người thích chơi nổi ngày càng nhiều. Đâu chỉ có ở cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra ngõ mới gặp “anh hùng”.  Bây giờ đi đâu cũng thấy “anh hùng” cả. Tôi đặc biệt dành danh xưng này cho mấy ông chuyên chặt đầu người của tổ chức khủng bố “Quốc gia Hồi giáo”. Hầu như không có ngày nào thế giới không nhắc đến tổ chức khủng bố này và những hình ảnh dã man mà óc tưởng tượng của con người thời đại không dám nghĩ tới được tổ chức này tung lên trên các trang mạng xã hội. Điều đáng suy nghĩ là các cuộc oanh tạc của Hoa Kỳ, dù có thể loại khỏi vòng chiến một số hung thần, xem ra cũng không chận đứng được làn sóng giới trẻ Hồi giáo tại các nước Tây Phương đua nhau gia nhập vào tổ chức “Quốc gia Hồi giáo”. Theo những số liệu mới nhứt, có trên 3000 đạo quân thánh chiến Tây Phương, hầu hết xuất phát từ những nước như Anh Quốc, Úc Đại Lợi, Pháp, Đức và Hoa Kỳ, đã chiến đấu tại Syria và Iraq.
Các nhà phân tách và các chính trị gia đã phải bù đầu bứt tóc để tìm hiểu lý do tại sao nhiều thanh niên Hồi giáo, dù được sinh ra, lớn lên và thụ hưởng nền giáo dục Tây Phương, lại gia nhập tổ chức khủng bố này và sẵn sàng chết vì một lý tưởng và ý thức hệ cực đoan như thế. Kỳ thị, thành kiến, thù ghét văn hóa Tây Phương và ảnh hưởng của các giáo sĩ cực đoan... đó là những lý do thường được đưa ra để giải thích tại sao nhiều thanh niên Hồi giáo Tây Phương gia nhập vào tổ chức “Quốc gia Hồi giáo”.
Nhưng trên báo mạng  “Psychologytoday”, giáo sư Mark van Vugt, chuyên giảng dạy về tâm lý xã hội tại trường đại học VU, Amsterdam, Hòa Lan, viết rằng bên cạnh những yếu tố nói trên, còn có một nguyên nhân sâu xa hơn. Theo ông,  nhiều thanh niên Hồi giáo Tây Phương xem cuộc chiến đấu cho tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” như một cuộc mạo hiểm lý thú. Đối với nhiều người, đây là con đường để họ khẳng định địa vị và chỗ đứng của họ trong xã hội!
Giáo sư Vugt trích dẫn kinh nghiệm của triết gia Mỹ Jesse Glenn Gray, người đã từng chiến đấu trong thời Đệ nhị Thế chiến. Trong cuốn sách có tựa đề “The Warriors” (các chiến binh), triết gia Gray cho biết nhiều cựu chiến binh đã tỏ ra thành thật khi nhìn nhận rằng kinh nghiệm được chiến đấu bên cạnh các bạn đồng ngũ là một “đỉnh cao” trong cuộc sống của họ.
Theo giáo sư Vugt, rất có thể đây cũng là điều mà các thanh niên Hồi giáo Tây phương muốn tìm kiếm khi tham gia chiến đấu trong tổ chức “Quốc gia Hồi giáo”. Giáo sư Vugt cho rằng những thanh niên này xem cuộc chiến đấu như một cơ hội để trở thành “anh hùng”. Con số 72 trinh nữ thường được nhắc đến thực ra chỉ là một hình ảnh hay ẩn dụ nói lên phần thưởng được tuyên dương như một “anh hùng” mà các thanh niên Hồi giáo bị đầu độc hằng mong chờ.
Càng bị xã hội đẩy ra bên lề hoặc càng tự giam mình trong tổ kén cô độc của mình, càng gặp thất bại trong cuộc sống và không có khả năng để hội nhập vào xã hội...con người càng muốn đi tìm một lối thoát để vươn lên. Định luật bù trù mà kể từ thời cha đẻ Phân Tâm Học Sigmund Freud (1856-1939) người ta luôn dựa vào để giải thích về những động lực hành động của con người, có lẽ nên được áp dụng vào trường hợp các thanh niên Hồi giáo bị tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” đầu độc và “cực đoan hóa”.
Có lẽ các chuyên gia tâm lý đã  từng nghiên cứu về tâm lý bệnh hoạn của những tay đồ tể thế giới. Riêng với ông “Bác Hồ” của Việt Nam, theo chân dung được giáo sư Trần Đức Thảo hay nhà báo Trần Đĩnh phác họa, áp dụng luật bù trừ tâm lý để giải thích con đường tiến thân và “cách mạng” của ông xem ra không phải là điều khiên cưỡng. Nếu đơn xin đề ngày 15 tháng 11 năm 1911 gởi lên tổng thống Pháp được chấp thuận và người thanh niên Nguyễn Tất Thành được nhận vào học nội trú tại Trường Thuộc Địa, thì làm gì có chuyện “Anh Ba” xuống tàu  “tìm đường  cứu nước” để rồi sau đó bị chủ nghĩa cộng sản đầu độc và biến thành một thứ công cụ cho tổ chức cộng sản quốc tế. Có lẽ vì khát vọng rất khiêm tốn được trở thành một quan chức phục vụ cho chế độ thuộc địa không thành mà người thanh niên Nguyễn Tất Thành, do bất mãn, đã quay ra đeo đuổi giấc mộng làm một “anh hùng” hay đúng hơn một “gian hùng” như triết gia Trần Đức Thảo ghi nhận, không từ bỏ bất cứ một thủ đoạn nào miễn là đạt được tham vọng quyền lực của mình.
Nói chung, thế giới cộng sản thiết yếu chỉ là một thế giới của quyền lực, tranh giành và đấu đá nhau, chớ chẳng phải vì lý tưởng, vì dân vì nước hay để xây dựng thiên đàng trần gian nào cả. Anh cộng sản nào, nếu không đi tìm kiếm “vinh thân phì gia” thì cũng đều để lộ chân tướng của tham vọng quyền lực và tham vọng thành “anh hùng” cả.
Mới đây, lá thư của bà Bảy Vân, vợ lẽ của ông Lê Duẫn, gởi lên Bộ Chính trị Trung ương để yêu cầu xét lại địa vị số 2 của “đại tướng anh hùng” Võ Nguyên Giáp, đã cho thấy rõ bản chất của con người cộng sản. Mục đích lộ liễu của người đàn bà này là hạ bệ người được xưng tụng là “người anh hùng Điện Biên Phủ” để đưa ông Lê Duẩn, chồng bà lên thay thế. Sinh thời, như nhà báo Trần Đĩnh đã ghi lại trong hồi ký “Đèn Cù”, Lê Duẩn cũng ganh tỵ cả với Hồ Chí Minh. Vào thập niên 1960, khi nổ ra vụ án “Chống Đảng Xét lại”, Lê Duẩn đã hoàn toàn ngả theo Mao Trạch Đông không ngoài mục đích hạ bệ Hồ Chí Minh. Tác giả Trần Đĩnh nhận định: “Duẩn có suy tôn Mao thay Lê-nin, thì Mao mới suy tôn Duẩn thay Hồ Chí Minh” (Đèn Cù trg 198). Máu của người Việt Nam đã chảy thành sông cũng vì khát vọng điên cuồng của những con người muốn làm “anh hùng” như thế!
Trong lời nhắn gởi với các cộng đồng Hồi giáo trên khắp thế giới, giáo sư Vugt đã khuyên họ “hãy đứng lên và tuyên bố rõ ràng rằng làm một “thánh chiến quân” tuyệt đối không phải là anh hùng mà là một kẻ chiến bại, bởi vì bạn bị cộng đồng địa phương, các đền thờ, các giáo sĩ và phụ nữ từ bỏ khi bạn đi chiến đấu như thế. Những người thanh niên Hồi giáo ở nhà nên được xem là những anh hùng đích thực”.
Ca tụng  những người “ở nhà” như những anh hùng đích thực, có lẽ giáo sư Vugt muốn đề cao quan niệm thường bị lãng quên về anh hùng. Nói đến “anh hùng”, người ta thường chỉ nghĩ đến những hành động phi thường, những thành tựu hiển hách, trong khi anh hùng đích thực thiết yếu phải là người luôn biết quên mình vì người khác, luôn âm thầm chiến đấu chống lại bản ngã ích kỷ và những cuồng vọng của mình.
Có lẽ tác giả Trần Đĩnh cũng đã có những suy nghĩ như thế khi ông viết về chủ nhân và cái bóng của hắn: “Cặp nhân vật này cứ đêm đến lại thì thầm lên sổ thu chi được mất với nhau. Chủ nhân mất nhiều, rất nhiều, tóm lại toàn bộ bản ngã hắn...Nhưng bù lại cái bóng của hắn lại thu về rất nhiều. Địa vị, quyền lợi, tên tuổi. Tóm lại vớ bẩm. Và rồi cái bóng cứ thế lớn ra, trùm lên chủ nhân, hóa thành hào quang lý tưởng dắt dẫn chủ nhân và chủ nhân không còn” (trg 226).
Những suy nghĩ trên đây của tác giả Trần Đĩnh giúp tôi xác tín rằng khi cái bóng của “địa vị, quyền lợi, tên tuổi” phủ lên bản ngã, thì con người nếu còn tồn tại, cũng chỉ tồn tại như một thứ “anh hùng rơm”.



Thứ Tư, 8 tháng 10, 2014

Để Cho Tình Người Được Tiếp Tục Hiện Hữu


                                                                                    
                                                                                   Chu Thập
19.10.2010



Kể từ ngày Chúa Nhựt 17/10/10 vừa qua, hơn một tỷ người Công giáo trên khắp thế giới đã nhìn nhận người phụ nữ tên là Mary MacKillop như một vị thánh để xin cầu thay nguyện giúp và như một mẫu gương để noi theo. Riêng người dân Úc đại lợi, Công giáo hay không Công giáo, Kitô hữu hay ngoài Kitô giáo, có lẽ ai cũng đều hãnh diện vì đây là lần đầu tiên một người con dân của đất nước được một vinh dự lớn lao như thế. Sự kiện một phái đoàn chính phủ do bộ trưởng ngoại giao Kevin Rudd cầm đầu đã đến Roma để tham dự lễ tôn phong hiển thánh cho Mẹ Mary MacKillop cũng như các phương tiện truyền thông Úc dành nhiều trang và thời lượng cho lễ nghi này, cũng đủ để nói lên rằng vị thánh nữ này đã có một chỗ đứng quan trọng trong lịch sử Úc đại lợi và cuộc sống của người dân nước này.
Là một tín hữu Công giáo, tôi vẫn thường cầu nguyện với các vị thánh. Cũng như nhiều người dân Úc, tuy chưa một lần đến “khấn” bên mộ của thánh nữ Mary MacKillop ở North Sydney, tôi cũng đã nhiều lần chiêm ngắm chân dung của thánh nữ được trưng bày trong các ngôi giáo đường và cầu xin cho một số ý nguyện riêng của tôi. Tuy nhiên, với tôi, chờ đợi một phép lạ do lời bầu cử của vị thánh nữ này chẳng khác nào trúng số độc đắc. Do đó, điều quan trọng đối với tôi không phải là “cầu xin” mà là tìm hiểu sứ điệp mà vị thánh này muốn nhắn gởi cho tôi.
Không đơn giản hóa cuộc đời của vị thánh này, tôi nghĩ rằng mẫu gương mà thánh nữ muốn để lại cho hậu thế chính là phục vụ người nghèo và cương quyết phục vụ người nghèo đến độ nổi loạn và có lúc bị “vạ tuyệt thông”, nghĩa là bị trục xuất ra khỏi Giáo hội. Muốn hay không, Úc đại lợi không thể chối cãi được sự đóng góp lớn lao của thánh nữ Mary MacKillop trong sự thay đổi cái nhìn đối với người nghèo và công cuộc cải tạo xã hội vào thế kỷ 19.
Tôn trọng phẩm giá con người, nhứt là người nghèo, những kẻ kém may mắn, những người khuyết tật: tôi nghĩ đây là sứ điệp nền tảng nhứt mà tôi có thể lắng nghe được từ vị thánh tiên khởi của Úc đại lợi.
Ở thế kỷ 19, khi thánh nữ Mary MacKillop bắt đầu dấn thân phục vụ người nghèo, thì tại Anh quốc có một người đàn ông rất nổi tiếng. Ông nổi tiếng chỉ vì có một thân hình và một khuôn mặt dị dạng, xấu xí đến độ được tặng cho danh hiệu là “Người Voi”. Tên của ông là John Merrick. Theo câu chuyện được nhà nhân chủng học Ashkey Montagu thuật lại, thì John Merrick có thể là con người xấu xí nhứt trong lịch sử nhân loại. Năm lên 4 tuổi, bị mẹ bỏ rơi cho nên Merrick đã phải tự kiếm sống lây lất trong một nhà máy. Khi được 14 tuổi, tình cờ người thiếu niên được một chủ gánh xiếc khám phá. Khuôn mặt dị tướng của em đã thu hút vô số khán giả. Người chủ gánh xiếc phủ lên mình Merrick một tấm vải choàng và đặt ngồi trong một cái thùng lớn chẳng khác nào một con thú bị giam trong một cái chuồng.  Như một con thú được huấn luyện nhuần nhuyễn, “Người Voi” làm theo tất cả mọi mệnh lệnh của ông chủ gánh xiếc.
Một bác sĩ nổi tiếng làm việc tại bệnh viện London vào thời đó là ông Frederick Treves đã tình cờ nhìn thấy “Người Voi”. Ông mô tả như sau: một cục bướu thật lớn mọc ra giữa trán trông chẳng khác nào chiếc vòi của một con voi. Miệng của Merrick méo sang một bên. Cái mũi là cả một khối thịt nhầy nhụa. Cánh tay phải của Merrick dài gấp hai lần cánh tay của một người bình thường. Những ngón tay thì thô và hoàn toàn vô dụng. Nhìn chung, trên khắp thân thể của “Người Voi”, ở đâu người ta cũng nhìn thấy những sớ thịt thừa nhão và sần sù.
Merrick vừa tròn 21 tuổi khi được bác sĩ Treves khám phá. Vì cái miệng méo xệt sang một bên cho nên người thanh niên hầu như không có khả năng nói. Thoạt tiên, vị bác sĩ này xem “Người Voi” như một người đần độn và không bình thường. Dù vậy, sau khi chụp hình và ghi chép, ông vẫn trao cho anh một tấm danh thiếp có ghi địa chỉ của ông.
Trong hai năm liền, Merrick bị người chủ gánh xiếc mang về Bỉ, nhốt trong một chiếc cũi để cho khán giả nhìn xem như một con thú. Sau khi chính quyền Bỉ ra lệnh giải tán gánh xiếc, “Người Voi” được trả về Anh quốc. Trên chuyến tàu đi London, anh đã bị hành khách hành hạ bằng đủ mọi trò chơi độc ác. Tại nhà ga London, cảnh sát đã giải cứu anh. Nhưng anh không thể diễn tả được điều mình muốn nói. Trong người anh chỉ còn lại một tia hy vọng cuối cùng: đó là tấm danh thiếp của bác sĩ Treves mà anh đã cất giữ trong túi áo trong hai năm liền. Nhờ vậy mà “Người Voi” được mang đến bệnh viện nơi bác sĩ Treves đang làm việc. Tại đây, người ta giam anh vào một khu cách ly. Trong mấy ngày liền, “Người Voi” không được ai cho ăn uống. Viên bác sĩ liền sai cô y tá mang thức ăn đến cho anh. Nhưng khi vừa trông thấy hình dáng và khuôn mặt “khủng khiếp” của anh, cô đã la hét lên, đánh rơi chiếc khay thức ăn, rồi bỏ chạy. Nhưng Merrick không để lộ một phản ứng nào. Anh đã quá quen thuộc với những cách đối xử như thế của người đồng loại.
Bác sĩ Treves từ từ học được cách liên lạc với “Người Voi”. Ông ngạc nhiên vô cùng khi khám phá ra rằng Merrick không phải là một con người đần độn chút nào. Trái lại, anh là một người biết đọc, biết viết và rất ham đọc sách. Ngoài quyển Kinh Thánh, anh còn đọc những tác phẩm cổ điển trong văn chương Anh. Bác sĩ Treves không thể ngờ rằng một con người đã bị cướp đi tuổi thơ, bị đối xử như một con thú dữ, bị khai thác và suốt một đời chưa hề cảm nếm được thế nào là “vui thú”, bị hành hạ và tước đoạt mọi niềm hy vọng, vậy mà không những có thể sống còn, mà còn có được thái độ luôn nhẫn nhục và hòa nhã.
Sau khi đã có thể “nói chuyện” được với bác sĩ Treves, Merrick bày tỏ mong ước được vào ở trong một trung tâm dành cho người mù: anh chỉ muốn sống giữa những người không thể thấy được gương mặt xấu xí ghê tởm của mình. Tuy nhiên, viên bác sĩ có lòng nhân ái đã thuyết phục được Merrick ở lại trong bệnh viện. Ông cũng thuyết phục được một người bạn của ông, một góa phụ trẻ đẹp, vào phòng Merrick, mỉm cười với anh, chào hỏi anh, bắt tay anh, nói tóm lại đối xử với anh như một con người. Merrick cũng ngả người cúi chào người đàn bà một cách lịch sự. Kể từ hôm đó, nơi Merrick đã diễn ra một sự thay đổi kỳ lạ: từ một con người bị săn đuổi và xử dụng như thú vật biến thành một con người bình thường như mọi người bình thường. Thật ra thay đổi không phải là “Người Voi”, mà chính là cái nhìn của người xung quanh. Kể từ đó, tài tử, giai nhân, nghệ sĩ và ngay cả công chúa xứ Wales cũng đều ghé vào bệnh viện để thăm anh. Sau bốn năm sống trong hạnh phúc, Merrick ra đi trong giấc ngủ bình an. Để ghi lại một trường hợp dị tật lạ thường trong lịch sử y khoa, bệnh viện London đã cho làm một bức tưọng bằng thạch cao. Hiện nay người ta vẫn còn thấy bức tượng này trong bảo tàng viện của bệnh viện. (Philip Yancey, Rumors of Another World, Zondervan, Michigan, USA, 2004, trg 191- 195)
Ở thế kỷ 19, nếu thánh nữ Mary MacKillop đã làm được một cuộc cách mạng thì cuộc cách mạng đó chính là thay đổi cái nhìn của người đương thời đối với người nghèo, nhứt là những người thổ dân. Bằng mọi giá, ngay cả đi “ăn xin” để lo cho công tác giáo dục trẻ em nghèo, thánh nữ không chỉ chứng tỏ phẩm giá, sự bình đẳng, khả năng vươn lên của người nghèo trong xã hội, mà còn khơi gợi được tình người vốn như vẫn còn ngủ vùi nơi nhiều người thời ấy. Là một tín hữu Kitô, được Tin Mừng của Chúa Giêsu thúc đẩy để dấn thân, chắc chắn thánh nữ Mary MacKillop đã ý thức hơn ai hết rằng mỗi người đều được tạo thành “theo hình ảnh” của Đấng Tạo Hóa và nơi thẩm cung mỗi người đều có những tâm tình cao quý cần được khơi dậy và nuôi dưỡng.
Trong chuyện “Nghìn Lẻ Một Đêm” của Ba Tư, tôi thích câu chuyện về một phiên tòa như sau: “Có hai người anh em nọ bắt trói được thủ phạm giết cha mình. Họ lôi kéo tên sát nhân đến trước quan tòa và yêu cầu xử theo luật mắt đền mắt răng thế răng. Kẻ sát nhân đã dùng đá để ném chết cha của họ thì hắn cũng phải bị ném đá theo như luật đã quy định…Trước mặt quan tòa, tên sát nhân đã thú nhận tất cả tội lỗi của mình. Nhưng trước khi bị đem ra xử, hắn chỉ xin một ân huệ là được trở về nhà trong vòng ba ngày để giải quyết mọi vấn đề có liên quan đến một người cháu được ký thác cho hắn trông coi từ nhỏ. Sau thời hạn đó, hắn sẽ trở lại để chịu tội. Quan tòa xem chừng như không tin ở lời cam kết của tên tử tội. Giữa lúc quan tòa đang do dự, thì từ đám đông tham dự phiên tòa, có một người giơ tay cam kết: “Tôi xin đứng ra bảo đảm cho lời hứa của tử tội. Nếu sau ba ngày, hẳn không trở lại, tôi sẽ chết thế cho hắn”.
Tên tử tội được tự do trong ba ngày để giải quyết chuyện gia đình. Đúng kỳ hẹn, giữa lúc mọi người đang chờ đợi chứng kiến cuộc hành quyết, hẳn hiên ngang tiến ra giữa pháp trường và dõng dạc tuyên bố: “Tôi đã giải quyết xong mọi việc trong gia đình. Giờ đây, theo đúng cam kết, tôi xin chịu tội. Tôi muốn trung thành với lời cam kết để người ta sẽ không nói: chữ tín không còn trên mặt đất này nữa.”
Sau lời phát biểu của tên tử tội, người đàn ông đã từng đứng ra bảo lãnh cho hắn cũng tiến ra giữa đám đông và tuyên bố: “Phần tôi, sở dĩ tôi đứng ra bảo lãnh cho người này là vì tôi không muốn để cho người ta nói: lòng quảng đại không còn trên mặt đất này nữa.”
Sau hai lời tuyên bố trên, đám đông gần như nín thở. Dường như ai cũng cảm thấy muốn thể hiện những gì là cao quý nhứt trong lòng người. Bỗng từ giữa đám đông, hai người thanh niên tiến ra và nói với quan tòa: “Thưa ngài, chúng tôi xin tha cho kẻ đã giết cha chúng tôi để người ta không còn nói: lòng tha thứ không còn hiện hữu trên mặt đất này nữa.” (Lẽ Sống, Đài Chân Lý Á Châu)
Giáo hội công giáo thường dựa trên một phép lạ, tức một vụ lành bệnh lạ lùng mà y khoa không giải thích được, như một bằng chứng ắt có và đủ để tiến hành việc tôn phong chân phước hay phong thánh. Bà Mary MacKillop cũng đã phải trải qua tiến trình ấy để trở thành chân phước và hiển thánh. Đã có phép lạ được gán cho sự bầu cử của bà. Là một người công giáo, tôi tin có những phép lạ như thế. Nhưng với tôi, “phép lạ” là chuyện xảy ra hằng ngày. Không chỉ ở bên kia cõi sống này, thánh nữ Mary MacKillop mới “bầu cử” cho  phép lạ được xảy ra. Sinh thời, nơi thánh nữ đã diễn biết bao nhiêu phép lạ. Cuộc sống “nổi loạn” vì người nghèo của bà tự nó cũng đã là một phép lạ. Là phép lạ không kém khi bà khơi dậy được tình người, sự cảm thông, tình liên đới, những cử chỉ san sẻ và trao ban. Cũng như các nhân vật trong câu chuyện nghìn lẻ một đêm trên đây, có lẽ thánh nữ Mary MacKillop đã suốt một đời hy sinh phục vụ người nghèo để tuyên bố: để cho tình người vẫn sống mãi trên mặt đất này.
Trong ý nghĩa ấy, với tôi, khi những người giàu có như Bill Gates, như Warren Buffet biết “cho đi” hầu hết hay trọn bộ tài sản của mình để cho không biết bao nhiêu người nghèo được “sống”, thì đó hẳn phải là những “phép lạ” vĩ đại mà ai cũng có thể thấy được.  Mỗi khi tình người được thể hiện bởi bất cứ ai, dù là một tín đồ tôn giáo hay người vô thần, tôi cũng nhận ra đó là một “phép lạ”. Vì vậy, trong cái nhìn của tôi, nghĩa cử của những người đã và đang ngày đêm cống hiến tim óc, sự tận tụy, hy sinh và có khi cả mạng sống của chính mình cho những con người cùng khổ, bị áp bức, bị tước đoạt các quyền làm người trên khắp thế giới, đều là những “phép lạ” liên tục mà con người luôn cần có để thăng tiến xã hội và nhân quyền.
Cũng với cái nhìn đó, theo tôi, “phép lạ” không nhất thiết phải đến từ một vị thánh, mà ai ai cũng có thể là phương tiện để Thiên Chúa làm nên những “phép lạ” lớn nhỏ trong cuộc sống hằng ngày. Làm cho một khuôn mặt đang đau khổ dàn dụa nước mắt chợt nở nụ cười nhờ một vòng tay ôm, một cử chỉ ân cần như thế không phải là một “phép lạ” nhãn tiền sao?
Noi gương thánh Mary Mackillop, điều tôi thấy mình cần phải làm là tiếp tục giúp cho những “phép lạ” mà bà đã làm khi còn sống xảy ra: đó là góp phần vào sứ mạng mà ông Mahammad Yunnus, Nobel Hòa bình 2006, người đã lập ra ngân hàng Grameen cho người nghèo vay không cần thế chấp,  đề ra là “sẽ đem đói nghèo vào viện bảo tàng.”
 19.10.2010