Chủ Nhật, 14 tháng 9, 2014

Những Kẻ Khốn Khổ



                                                                                  Chu Thập
29.7.2010


Thời Trung Học, tác phẩm cổ điển làm tôi say mê nhứt là quyển tiểu thuyết “Les Misérables” (Những Kẻ Khốn Khổ) của văn hào Pháp Victor Hugo vào thế kỷ thứ 19. Nội dung của câu chuyện được dựng thành phim này thì ai cũng biết: nhân vật chính là Jean Valjean được trả tự do sau 19 năm bị giam tại một trại khổ sai ở miền Nam nước Pháp. Thật ra, ông chỉ bị kết án 5 năm tù vì tội ăn cắp bánh mì cho một người em gái đang chết đói và gia đình của cô. Ông phải ở thêm 14 năm khác vì tội trốn tù. Sau khi ra tù, bị mọi người xua đuổi, ông phải sống lang thang đầu đường xó chợ. Một hôm, ông tìm đến một nhà thờ và được một vị Giám mục tận tình giúp đỡ. Nhưng lúc ra đi, ông lại cuỗm của vị Giám mục vài chân đèn bằng bạc với hy vọng bán được và có thêm chút tiền tiêu vặt. Ông bị cảnh sát bắt. Nhưng vị Giám mục đứng ra bảo lãnh và nói rằng chính ngài là người đã tặng mấy cái chân đèn cho ông. Với cử chỉ ấy, vị Giám mục chỉ xin ông hứa một điều là phải sống lương thiện. Jean Valjean đã giữ lời hứa ấy: ông đổi tên, làm lại cuộc đời, trở thành một người giàu có và được bầu làm thị trưởng của một thành phố. Suốt cuộc đời còn lại của ông thị trưởng dưới cái tên Madeleine là một chuỗi những hoạt động giúp đỡ và bênh vực người nghèo và những kẻ khốn khổ phải lâm vào hoàn cảnh mà ông đã từng trải qua.
Chuyện tù tội thứ hai đã làm say mê tuổi thanh niên của tôi là quyển tiểu thuyết tự thuật của nhà văn Pháp Henri Charrière có tựa đề là “Papillon” (Con Bướm, vì trên ngực của ông có xâm hình con bướm). Bản dịch Việt ngữ đã xuất hiện tại Việt nam vào đầu thập niên 1970. Cũng  như Jean Valjean, người  phải trải qua 19 năm đọa đày chỉ vì mấy ổ bánh mì, “Papillon” cũng bị kết án khổ sai chung thân vì một tội giết người mà ông không hề phạm. Năm 1931, sau một thời gian bị giam tại Caen, miền Bắc nước Pháp, ông bị đưa xuống tàu để chuyển sang một nhà tù khác tại một thuộc địa của Pháp ở Châu Mỹ Latinh. Từ đây, Papillon bắt đầu cuộc đào thoát kéo dài 14 năm. Từ nước này trốn sang nước khác, ông bị giam tại hầu hết các nhà tù ở Nam Mỹ và cuối cùng tìm được tự do tại Venezuela.
Câu chuyện đào thoát liên tục trong 14 năm được Henri Charrière nhìn nhận là của chính mình. Nhưng cũng có người cho rằng tất cả những biến cố và nhà tù được mô tả trong cuốn sách đều không phù hợp với thực tế. Có người lại bảo rằng Henri Charrière chỉ là người kể lại những câu chuyện mà ông đã nghe được trong tù. Nhưng dù cho câu chuyện không phải là cuộc phiêu lưu của chính tác giả hoặc chỉ là chuyện hư cấu, đọc “Papillon”, tôi vẫn nhận ra một điều là con người vốn có một sức chịu đựng và một ý chí phi thường để có thể thắng vượt được nghịch cảnh và bất công mà người khác tạo ra cho mình.
Người Việt nam hải ngoại nào chắc chắn cũng phải khâm phục cái ý chí phi thường ấy của con “Ó Đen” Lý Tống. Cuộc đào thoát khỏi ngục tù cộng sản của Ó đen Lý Tống cũng không thua kém bao nhiêu so với cuộc phiêu lưu 14 năm của con bướm Papillon.
Chắc chắn trong lịch sử lao tù cộng sản sau năm 1975, có rất nhiều câu chuyện vượt thoát rất ly kỳ. Nhưng đáng chú ý hơn cả là cuộc đào thoát của linh mục Nguyễn Hữu Lễ, tác giả của DVD về tội ác của Hồ Chí Minh. Tuy không thành công, nhưng những gì mà linh mục Nguyễn Hữu Lễ đã nếm trải trong và sau cuộc vượt thoát khỏi trại tù Thanh Cẩm cũng  xứng đáng để trở thành đề tài cho một cuốn tiểu thuyết tự thuật như Papillon. Cuộc đào thoát thất bại. Linh mục Lễ và 3 người bạn tù khác bị bắt lại. Đây là cái giá mà vị linh mục này phải trả: “Những cú đấm đá đầu tiên đau điếng cả người, nhưng sau một chập tôi không còn nghe đau đớn nữa vì toàn thân tôi đã tê dại. Những cú đòn về sau, tôi chỉ còn cảm giác qua chấn động, như âm thanh của một quả bóng được đá dội vào tường. Tôi không còn biết đến cảnh vật chung quanh, mắt nhắm cắn răng chịu đòn không hề kêu la một tiếng. Trong cảnh hỗn loạn của những tiếng la hét man dại đó lại có giọng quát khá to của một người nào đó mà tôi không còn đủ tâm trí để nhận ra, tôi chỉ đoán là của ông trại trưởng: “Thôi, tôi bảo các đồng chí thôi! Tôi bảo các đồng chí thôi!” Sau tiếng quát đó, chẳng những chúng không dừng tay mà lại càng đấm đá dữ dội hơn. Tôi đã từng chứng kiến nhiều cảnh cán bộ đánh tù trong ngục tù cộng sản. Tôi hiểu rằng những lời ngăn can kia là một thứ ám hiệu cho cán bộ càng hành hạ tù tàn nhẫn hơn, trong khi đó người ngoài nhìn vào vẫn tưởng rằng Đảng rất nhân từ, vì người thay mặt cho Đảng đã lên tiếng ngăn can.” (Nguyễn Hữu Lễ, Tôi Phải Sống, trg. 414- 415)
Tôi ngưỡng mộ ý chí bất khuất của linh mục Nguyễn Hữu Lễ. Tôi lại càng cảm phục sự chịu đựng của vị linh mục này sau cuộc vượt thoát bất thành đó. Hẳn phải có một ý chí muốn sống mãnh liệt linh mục này mới có thể chịu đựng được bao nhiêu nhục hình dã man trong suốt thời gian ngục tù còn lại hầu mới có thể tâm niệm “tôi phải sống” và làm chứng trước thế giới về chế độ lao tù độc ác của chế độ cộng sản Việt nam.
Vượt thoát khỏi ngục tù bất công là một hình ảnh hào hùng. Nhưng can đảm và anh hùng không kém là những người kiên trì chịu đựng và đứng vững trước cuộc sống tù đày tàn bạo và độc ác. Thế giới đã kính cẩn nghiêng mình trước gương anh hùng ấy của ông Nelson Mandela, người đã trải qua 27 năm liên tục trong nhà tù của chế độ phân biệt chủng tộc tại Nam Phi.
Chuyện chế độ Cộng sản Việt nam đạt thành tích “vô địch” về số lượng “tiến sĩ” có thể mãi mãi là chuyện “khoa học giả tưởng”, nhưng không ai có thể phủ nhận rằng Cộng sản là một chế độ đạt giải “quán quân” về khả năng sản xuất…tù nhân! Không chỉ là tù nhân thường thường bậc trung đâu nhé. Đa số là những vị tù anh hùng đáng kính mà cả thế giới cũng phải ngưỡng mộ. Chúng ta có một “ngục sĩ” Nguyễn Chí Thiện, người đã trải qua tổng cộng 27 năm trong các nhà tù cộng sản Việt nam. Chúng ta cũng có một linh mục Nguyễn văn Lý,  tù nhân lương tâm với tổng cộng 14 năm vào tù ra khám.
Chúng ta không thể không nhắc đến tù nhân Nguyễn Hữu Luyện, người đại úy biệt kịch dù của Việt nam cộng hòa được gởi ra Bắc thi hành những điệp vụ bí mật và bị bắt giam từ năm 1966 cho đến năm 1987. Trong tuyển tập “Bè Bạn Gần Xa”, ký giả Lô Răng Phan Lạc Phúc đã mô tả ông như một người tù bất khuất mà không một cường lực, một sự đe dọa hay một nỗi đói khát nào có thể lay chuyển được ý chí sắt đá.
Nhưng nếu sau này, sách kỷ lục thế giới Guiness Book có tìm một người tù chính trị đạt thành tích bị giam giữ lâu nhứt thì người đó hẳn phải là ông Trương văn Sương, người mà với ý chí bất khuất cuối cùng đã bẻ gẫy và chiến thắng sự tàn bạo độc ác của người cộng sản. Không còn cách nào khuất phục ông, chế độ cộng sản đành phải đầu hàng và tuyên bố “tạm tha” cho ông sau 33 năm  bị giam giữ trong những điều kiện tàn ác dã man nhứt.
Thật ra cuộc đời tù đày của ông chưa hẳn đã chấm dứt. Ra khỏi nhà tù nhỏ để bị nhốt vào nhà tù lớn, giờ đây ông Sương còn phải đối đầu với không biết bao nhiêu mất mát mà không gì có thể bù đắp được: ngoài những đứa con thơ qua đời khi người cha vắng bóng, ông Sương lại còn phải chịu một cái tang quá đau thương. Người bạn đời của ông qua đời mà ông không hề hay biết. Bước vào căn nhà xiêu quẹo, tưởng sẽ được vòng tay của người vợ thân yêu ôm lấy, ông đã phải òa khóc khi nhìn thấy di ảnh của người quá cố trên bàn thờ. Làm sao chúng ta không cùng khóc với ông trước một nỗi đau không bút mực nào tả xiết ấy?
Nhưng tôi tin tưởng rằng người tù bất khuất này cũng sẽ đứng vững trước những nghịch cảnh trong nhà tù lớn. Bởi kẻ chiến thắng cuối cùng không phải là những “cai tù” cộng sản trong nhà tù nhỏ và nhà tù lớn, mà là chính ông, người đã có thể đứng thẳng trước mọi gian lao thử thách trong 33 năm ngục tù.
Nói đến kỷ lục Guiness về chuyện tù đày, có lẽ thế giới sẽ không bao giờ quên tên tuổi của người tù tên là Richard Honeck, người đã mãn hạn tù tại trại giam Menard Branch, tiểu bang Illinois, Hoa kỳ. Ngày 20 tháng 12 năm 1963, ông già 84 tuổi này được trả tự do sau 64 năm liên tục bị giam tù.
“Bác Richard”, như người ta quen gọi, đã bị kết án lao động khổ sai năm 1899, vì tội ngộ sát trong một cuộc cãi vã với một người quen. Năm đó, bác vừa tròn 20 tuổi.
Năm 1949, vào tuổi 70, sau khi đã “bóc” 50 cuốn lịch trong tù, bác Richard được trả tự do có điều kiện. Nhưng vào thời điểm đó, bác không còn bất cứ một người thân nào để bảo lãnh bác. Vậy là bác đành tiếp tục ở…tù, coi như “xin nhận nơi này làm quê hương”.
Năm 1962, một phóng viên của hãng thông tấn AP muốn viết một bài phóng sự về trại tù Menard Branch. Ông đã đến gặp bác Richard. Đây là lần đầu tiên sau 59 năm, bác được một người ngoài vào thăm. Bài phóng sự của AP nhắc đến tên của “Người tù bị lãng quên lâu nhứt”. Sau đó, bác Richard bắt đầu nhận được thư từ của người bên ngoài. Quan trọng nhứt là lá thư của một cô cháu gái ở California mà bác chẳng hề biết. Cô cháu gái sinh năm 1900, tức một năm sau khi bác Richard bắt đầu cuộc sống “nội trú” của mình. Cô có nghe nói đến bác, nhưng cô cứ tưởng bác đã chết từ thuở nào rồi.
Chính nhờ cô cháu gái này đứng ra bảo lãnh mà bác Richard được trả tự do với điều kiện. Khi được hỏi về cảm nghĩ, người tù trải qua nhiều năm nhứt trong tù này chia sẻ: “Có lúc tôi cũng nghĩ đến chuyện ra khỏi tù, nhưng tôi không bao giờ tưởng điều đó có thể xảy ra…Tôi cố gắng không nghĩ về thế giới bên ngoài”
Cụ già với vẻ mặt rất hiền từ này tuyên bố: “Tôi không có bất cứ sự cay đắng nào. Trong tôi không hề có chỗ đứng cho thứ cảm xúc như thế. Từ lâu nay, tôi đã học biết xua đuổi bất cứ mầm mống hận thù hay hung hãn nào. Tôi đã giao hòa với chính bản thân, bởi vì tôi đã học được rằng con người duy nhứt mà tôi phải thực sự chiến thắng là chính tôi.” (The Longest Prison Sentence Served in U.S, Wikipedia)
Có thể nói đây cũng là chiến thắng mà bất cứ tù nhân nào đứng vững lâu năm trong tù cũng đều có thể đạt được.
Trong cuốn sách “Long Walk to Freedom” (Cuộc Hành trình dài tìm Tự do), người cựu tù Nelson Mandela viết rằng bị biệt giam là điều khủng khiếp nhứt trong cuộc sống tù đày. Tuy nhiên, ông khẳng định: “Tôi nhận thấy rằng nếu biết giữ cho tinh thần được vững mạnh thì ngay cả khi thân xác bị thử thách, con người vẫn có thể chịu đựng điều không thể chịu đựng được. Những xác tín mạnh mẽ là bí quyết để sống còn trước sự thiếu thốn. Tinh thần của bạn có thể được lấp đầy ngay cả khi bao tử của bạn trống không.”
“Tự do” mà người tù Nelson Mandela đã đạt được không chỉ là cuộc giải phóng dân tộc Nam Phi khỏi ách nô lệ của chế độ phân biệt chủng tộc. “Tự do” sau cuộc hành trình 27 năm dài trong lao tù mà ông có được chính là cuộc chiến thắng trên chính bản thân: tự do khỏi hận thù, tự do khỏi bạo động, tự do để sống hòa giải và tha thứ với chính kẻ thù của mình.
Tôi nghĩ đó cũng là thứ chiến thắng và tự do mà đức cố hồng y Nguyễn Văn Thuận cũng đã đạt được sau 13 năm tù đày, biệt giam và quản thúc tại gia.
Nghĩ như thế về tự do cho nên  tôi cho rằng, “những kẻ khốn khổ” thật sự không phải là những người bị đọa đày trong tù ngục bất công, mà chính là những người tự giam mình trong nhà tù của nghi kỵ, hận thù, ích kỷ, tham lam và dối trá. Những người đó, dù có đạt thành công trong địa vị, chức quyền hay tiền của, ngay cả khi họ nắm quyền sinh sát, giam hãm người khác trong tay cũng không thể nào có được sự an nhiên tự tại và tự do thật sự trong tâm hồn.


Thứ Sáu, 12 tháng 9, 2014

Tôi tập làm kinh tế

 Chu Thập 5.9.14

Mới đây, trong khi “rao bán” (sell) Ngân sách, đương kim Tổng trưởng Kinh tế Joe Hockey đã biện minh cho biện pháp tăng giá xăng của chính phủ Úc bằng cách rêu rao rằng người nghèo không bị ảnh hưởng bao nhiêu vì họ ít lái xe hơn người giàu. Bị chống đối tơi bời vì một lời phát biểu có tính miệt thị đối với người nghèo, ông tổng trưởng ngồi hút xì gà ở thủ đô Canberra đã phải rối rít lên tiếng xin lỗi.
Cho tới nay, tôi vẫn chưa xác định được chỗ đứng của mình trong các bậc thang xã hội Úc. Giàu có và trung lưu thì chắc chắn tôi không thuộc giai cấp này. Nhưng nghèo rớt mồng tơi thì cũng không hẳn. Chỉ có điều tôi chọn lựa bớt sử dụng xe hơi và như vậy ít tốn tiền xăng hơn. Một phần vì gần đây giá xăng cứ lên như diều gặp gió. Một phần vì tôi muốn tiết kiệm. Một lý do khác nữa, tôi được cái thú ngắm cảnh mỗi khi đi xe lửa. Cầm cái thẻ của người cao niên (Seniors  card) trong tay,  chỉ cần mua một cái vé giá chỉ có 2 đô rưỡi là tôi có thể “lên xe xuống ngựa” và ngao du sơn thủy bằng mọi phương tiện di chuyển công cộng và suốt ngày. Tha hồ ngắm cảnh và dĩ nhiên mỗi tháng tiết kiệm được một số tiền cũng khá lớn mà mình phải tốn vì xăng nhớt và nhứt là khỏi phải bực mình cũng như đứng tim vì phải tập trung sự chú ý vào việc lái xe.
Đó là sổ tiết kiệm đầu tiên của tôi. Tôi chẳng cần phải vất vả lao nhọc mà cũng để dành được chút đỉnh. Tích cực hơn, nói theo ngôn ngữ thời thượng ở Việt Nam, tôi cũng tập làm “kinh tế vi mô” ngay trong khu vườn của tôi. Đây là sở thích mang lại niềm vui, sự thư giãn mà không ngờ cũng giúp tôi tiết kiệm được một số tiền không phải là nhỏ mỗi tháng.
Tôi rất tâm đắc với bài báo “The Cost of Growing Your Own Food” (cái giá của việc tự trồng trọt lấy mà ăn) của ký giả Alexandra Cain được đăng trên báo The Sydney Morning Herald, số ra ngày 14 tháng 8 vừa qua.
Theo tác giả, với một số người, tự canh tác mà ăn vào thời đại này xem ra là chuyện quá lãng mạn. Nó gợi lên hình ảnh của những ngày dầm mưa dãi nắng ngoài trời, vất vả đào xới, cày cuốc, trồng tỉa và thu hoạch, trước khi có được một bữa ăn bổ dưỡng.
Bất cứ ai đã từng “làm vườn” cũng đều có thể nói với chúng ta rằng đây là một sinh hoạt lý thú, nhưng cũng tốn kém và đòi hỏi nhiều công sức. Cần phải có tiền mới có thể thiết lập được một khu vườn. Cần phải mua dụng cụ làm vườn, đất bồi, phân bón, hạt giống...Đó là chưa kể đến nước, nhứt là khi gặp hạn hán. Ký giả Cain nêu lên câu hỏi: “Vậy thì có nên tốn kém để trồng rau xanh mà ăn không? Sao không đặt mua một thùng rau “hữu cơ” từ một siêu thị hoặc những sản phẩm từ một hợp tác xã thực phẩm ở địa phương? Có phải tiện hơn không?”
Câu trả lời còn tùy vào cách chúng ta nhìn về việc tự canh tác.
Theo kết quả của một cuộc thăm dò được Viện “The Australia Institute” cho công bố hồi tháng Ba vừa qua, có đến 52 phần trăm gia đình Úc hiện đang tự canh tác để có rau quả mà ăn và 91 phần trăm những gia đình này nói rằng đây là cách để họ tiết kiệm.
Bà Rochelle Stone, người hiện đang điều khiển một công ty tham vấn và tiếp thị có tên là “Barefoot Basics”, là một trong số 52 phần trăm người Úc tự canh tác để có rau xanh mà ăn. Bà đã bắt đầu trồng rau xanh ngay từ lúc dọn về vùng Sunshine Coast, tiểu bang Queensland cách đây một năm.
Bà cho biết vùng bà đang ở là một nơi “chó ăn đá gà ăn muối”, đầy cỏ dại, đá và cây mục. “Tổng số đầu tư” đầu tiên của bà chỉ có khoảng 200 đô. Theo ước tính của bà, số tiền này đủ để mua thức ăn cho vợ chồng bà trong vòng 2, 3 tuần lễ. Bà dùng số tiền này để mua đất, phân bón và một số hạt giống. Mùa thu hoạch đầu tiên, ngoại trừ cà chua là thất bại. Những rau xanh khác đủ cho gia đình bà, người chủ cho thuê nhà đất và gia đình của một người em của bà. Ngoài ra, bà cũng cung cấp đầy đủ rau xanh cho tiệm thịt mà chồng bà đang trông coi. Chỉ về khoản rau xanh thôi, trong 11 tháng qua, bà đã tiết kiệm được 350 đô. Bà Stone còn khoe rằng hiện nay bà chỉ phải bỏ ra có 30 hoặc 40 đô để mua thức ăn cho hai tuần. Vì chồng bà làm chủ tiệm thịt, cho nên bà cũng chỉ phải tốn có 25 đồng mỗi hai tuần mà thôi.
Bà Coralie Schaff, nhân viên của công ty “Urban Planters” (nhà nông đô thị) chuyên cung cấp rau mạ non đ trồng, cũng nhìn nhận rằng tự trồng lấy rau xanh để ăn có thể giúp tiết kiệm được rất nhiều, nhứt là khi gieo trồng thẳng từ hạt giống. Bà giải thích: hầu hết mọi người đều không bao giờ dùng hết một bó rau, nhưng lại phải bỏ tiền ra mua cả bó. Một bó rau “Basil” hay “Parsley” chẳng hạn giá có thể lên đến 5 đô, nhưng người ta chỉ sử dụng vài lá là cùng. Nếu mua rau “hữu cơ” (organic) trong các siêu thị, giá lại càng cao hơn. Nếu có sẵn trong vườn, chỉ cần bứt vài lá là xong. Nói chung, nếu tự trồng được rau xanh trong vườn, người ta có thể tiết kiệm được rất nhiều.
Nhưng phần thưởng nào cũng có cái giá của nó. Theo chuyên gia Judy Horton của công ty chuyên sản xuất hạt giống “Yates”, để thấy được kết quả của việc tự canh tác, cần phải mất nhiều năm. Ngoài chuyện để cho đất được thuần, người làm vườn còn phải học hỏi kinh nghiệm và nhứt là kiên nhẫn. Kiên nhẫn khi gặp trái gió trở trời đã đành, mà cũng phải “chịu khó”  tận dụng tất cả những gì có trong tầm tay để chăm sóc cho vườn rau xanh mà vẫn tiết kiệm được. Chẳng hạn như sử dụng tối đa nước mưa và ngay cả nước từ bồn rửa chén. Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ để thấy cái “biu” nước xuống nhiều lắm. Ngoài ra, thức ăn thừa cho vào thùng “Compost” để biến chế thành phân cũng giúp tiết kiệm được rất nhiều.
Ngày nay, trồng lấy rau xanh mà ăn không còn là chuyện của người ở thôn quê hoặc có chút đất xung quanh nhà. Ngay cả khi sống trong một chung cư, người ta cũng có thể “tự lực cánh sinh” về khoản rau xanh được. Một thị dân sống trong một chung cư cho biết: bà đi lượm các thùng “mousse” về, cho đất có trộn phân vào và tha hồ trồng bất cứ loại rau xanh nào bà muốn. Nếu mỗi tuần, một cặp vợ chồng phải tốn ít nhứt 30 đô cho rau xanh và 50 đô cho một gia đình, thì ngay trong một chung cư, tự trồng lấy rau xanh mà ăn cũng giúp tiết kiệm được một số tiền lớn.
Ngoài rau xanh, nơi nào thuận tiện, nuôi vài chị gà mái không những có đủ trứng để ăn mà còn thừa để biếu cho người thân và bạn bè nữa. Như trường hợp một ông bạn già của tôi ở vùng Bonnyrrig, NSW chẳng hạn. Xung quanh nhà ông ít đất, chỉ vừa đủ để trồng một ít loại rau đặc thù của Việt Nam như các loại húng, tía tô, kinh giới, một cây chanh và vài thùng đông trùng hạ thảo để lấy củ ngâm rượu uống lai rai. Vậy mà ông bạn già của tôi còn xoay xở để khoanh một vùng nhỏ, nhét vào 4 chị gà mái đẻ. Mấy chị gà mái đẻ của tôi đã đến tuổi hưu. Tôi đang gây lại một lứa mới, phải chờ vài tháng nữa mới có trứng. Mỗi lần ghé thăm ông bạn già, được ông tặng cho một chục trứng, thấy “vui như ngày Tết”.
Về trứng gà, nhứt là trứng gà được các chị gà mái chạy rong (free range) như của tôi, chỉ cần 10 chị gà mái đẻ cũng đủ để mang lại một nguồn lợi lớn. Đây là công thức “làm kinh tế nhỏ” mà nhà tôi đang thực hiện. Mỗi tuần nhà tôi giao cho vài khách hàng quen thuộc trong sở làm vài chục trứng, kiếm đủ tiền mua để thực phẩm cho chúng, tôi có trứng miễn phí và cũng dư ra chút đỉnh.
Ngoài trứng gà, “hàng” chính của chúng tôi là rau xanh trong vườn nhà. Trong ngôi vườn mà tôi vẫn gọi là “quê hương bỏ túi”, nhà tôi thường nói đùa rằng tôi muốn làm “Đức Chúa Trời”, vì bất cứ loại rau xanh nào tôi cũng đều sưu tầm. Bên cạnh rau xanh trồng trong vườn, tôi còn có cả hai hồ nuôi cá theo phương pháp “thủy canh” (aquaponics), tức dưới nuôi cá, trên trồng rau. Đóng góp một phần lớn vào việc thụ phấn cho rau xanh và cây trái trong vườn là những chị ong thợ làm việc không ngơi nghỉ từ hai tổ tôi đặt trong vườn. Đã thế, các chị còn cung cấp một lượng mật đủ để dùng trong nhà và “bán ra” cho một số người quen.
Theo lời khuyên của công ty Diggers, có trụ sở tại Melbourne, chuyên sưu tầm loại hạt giống chưa bị thay đổi “gen”di truyền và phổ biến các loại cây ăn trái đã được thuần hóa với khí hậu Úc, tôi cũng chủ trương trồng cây ăn trái thay cây cảnh. Không kể những loại cây ăn trái như mận, đào, táo...là những cây cũng có hoa đẹp vào mùa xuân, tôi thấy hoa thanh long của tôi cũng đẹp và tao nhã còn hơn cả hoa quỳnh. Từ tháng Ba trở đi, trái chín rực trên cây cũng tạo ra một mầu sắc dễ “bắt mắt”. Lợi nhuận thì đương nhiên không cần phải nhắc tới. Trúng mùa Tết, rằm hay cúng giỗ, giá một ký thanh long to trái và đỏ au có thể lên đến 10 đô.
“Làm kinh tế nhỏ” cho nên tôi không phải bù đầu bứt tóc như các kinh tế gia hoặc các nhà tiểu thương. Tôi chẳng cần phải ngồi xuống làm các bài tính cộng trừ nhân chia cho mệt. Nhưng tôi biết chắc rằng nguồn lợi tôi thu được từ chăn nuôi, trồng trọt không phải là ít. Đúng là làm chơi mà lợi nhiều: tôi có rau xanh ăn quanh năm, tiết kiệm đủ để đóng góp cho các cộng tác từ thiện, gởi chút đỉnh về Việt Nam để giúp người thân và bạn bè.
Bên cạnh lợi ích kinh tế, chăn nuôi và trồng trọt cũng mang lại cho tôi niềm vui, sự thư giãn, nhiều cảm hứng cũng như giúp tôi nuôi dưỡng nhiều tâm tình cao đẹp.
Mỗi lần ngắm vườn rau xanh, tôi thường nghĩ đến thủ tướng Kevin Rudd. Về chính trị, tôi thuộc loại “ba phải”. Hễ Đảng nào thực tâm lo cho người nghèo thì tôi ủng hộ. Tôi biết ơn ông Rudd vì ông đã giúp tôi gắn miễn phí mấy cái bồn nước lớn để chứa nước mưa và nhứt là thiết kế cái dàn “Panô” trên mái nhà để có nước nóng miễn phí và làm ra điện để bán cho chính phủ: không những nhà tôi không phải trả “biu” điện mà cứ mỗi ba tháng lại nhận được một ngân phiếu nho nhỏ do bán điện cho nhà nước! Có thể chính phủ Lao Động đã mang tiếng “vung tay quá trán” trong chi tiêu, nhưng lại giúp tôi biết sống tiết kiệm hơn.
Tôi cũng cám ơn Đảng Xanh đã khơi dậy trong tôi  ý thức về “năng lượng sạch” và nhứt là kêu gọi tôn trọng, yêu mến và bảo tồn thiên nhiên.
Tập làm kinh tế nhưng lắm khi cái lợi không chỉ là kinh tế mà là cả tinh thần, tâm linh và sức khỏe. Màn hình vi tính không giúp tôi phong phú về tư tưởng nhưng chính là những gì từ vườn rau, từ hạt giống, từ những con giun đất, con gà con ong...
Lắm khi tôi nghĩ: “Không làm vườn là...tự sát!”



Thứ Tư, 10 tháng 9, 2014

…Sỏi Đá Cũng Cần Có Nhau.


Chu Thập 21.9.10

Có hai lộ trình nối liền chỗ tôi ở với thành phố Sydney đô hội: một là dùng con đường quốc lộ có từ thời một ngàn tám trăm hồi trước xuyên qua những thị trấn và làng mạc len lỏi trong những vùng đồi núi của hai khu lâm viên quốc gia Ku-ring-gai Chase và Brisbane Water. Con đường này nhỏ hẹp, lên đèo xuống đèo, nhưng cảnh trí xanh tươi và thơ mộng. Được cái là rất vắng xe. Ngoại trừ mấy anh chơi mô tô thích rượt nhau ra thì hiếm khi có hơn vài ba chiếc xe trên cùng một đoạn đường. Sở dĩ trở nên hoang vắng như vậy là vì con đường Freeway song song cạnh đó đã “cướp” mất khách của nó. Nếu không phải là cư dân ở những thị trấn hẻo lánh đó thì chẳng mấy ai còn nhớ dùng đến con đường quốc lộ này vì so sánh với Freeway vĩ đại xuyên qua những vách núi dựng đứng cho phép chạy tốc độ tối đa, người ta tiết kiệm rất nhiều thì giờ và an toàn hơn.
Thuộc nhóm theo trường phái “ngựa quen đường cũ” cho nên tôi cũng chỉ biết chạy “đường thẳng”. Cho đến một lần vì có tai nạn trên Freeway nên tất cả xe cộ phải “detour” vào con đường quốc lộ ngoằn ngoèo, tôi mới thấy mình có dịp khám phá ra những cảnh trí thơ mộng hơn hẳn mấy cái “lane” thẳng băng và mấy cái vách núi khô cằn xấu xí của Freeway. Hôm đó, coi như tôi bị kẹt xe nhưng bất ngờ được dịp ngắm cảnh thiên nhiên, tôi thấy mình có “lời” chứ không bị “lỗ”. Cũng từ đó, mỗi khi thấy đầu óc mệt mỏi, tôi lại đánh xe vòng vòng trên con đường vắng đó để được đắm chìm trong rừng cây xanh.
Nói là cây xanh cho oai nhưng thật ra, loại cây “gum” mà người mình gọi là khuynh diệp vẫn chiếm đa số. Với cái thân loang lổ lúc nào cũng như bị “bạch tạng”, lang ben hay ghẻ chóc và vài chòm lá xam xám lưa thưa, gum cũng chẳng khác gì “người đàn bà có nhan sắc của một người đàn ông không đẹp trai”. Chưa kể chẳng may gặp trận cháy rừng, thì rừng gum mới càng thảm hại: chúng không gục ngã trong trận cháy mà đứng trơ trơ đưa những cánh tay khẳng khiu, đen thui lui lên trời. Nhưng dù sao, ngắm rừng gum vẫn còn hơn là phải ngắm những cánh đồng nứt nẻ vì hạn hạn ở phía trong của nước Úc.
Nhân tiết Xuân ấm áp trở lại sau ba tháng mùa Đông, tôi tự dưng nảy ý định đi trở lại con đường ấy như làm một cuộc du ngoạn “tự phát”. Khi bóng cây cao của khu lâm viên bắt đầu che rợp trên đầu thì cũng là lúc tôi nhận ra trước mắt mình là một khung cảnh khác, không giống với những gì tôi còn giữ trong trí nhớ: dưới những cây gum là cả một thế giới nhộn nhịp của đủ loại  bông hoa. Những bờ cây bụi cỏ khô cằn, xác xơ, “vô nghĩa” ngày nào giờ đây đã hoàn toàn lột xác: cây cỏ nào cũng có bông và những cánh bông dù nhỏ bé li ti cũng “diện” đẹp đến “giựt con mắt”! Chim chóc cũng hăng hái “tham gia” với cây cối: chúng vừa bay lượn, vừa phát ra đủ mọi âm thanh, từ líu lo, lách cha lách chách, hò lơ hò lờ đến những tiếng re ré chói tai. Chưa bao giờ các giác quan của tôi lại bị “tấn công” ồ ạt như vậy. Tôi có cảm tưởng tất cả mọi sinh vật chung quanh tôi đang tìm mọi cách gây sự chú ý của tôi và buộc tôi phải quan tâm đến chúng. Và đương nhiên, chúng đã thành công: tôi đã bỏ ra cả ngày trời để ngắm nghía, nâng niu và trầm trồ trước những vẻ đẹp có một không hai của từng loại.
Tôi nghĩ, làm mọi cách để gây sự chú ý và quan tâm của người khác, có lẽ là một đặc tính đương nhiên của mọi loài sinh vật. Trong đó, loài người có vẻ thích “chơi trội” nhất. Từ không biết bao nhiêu kiểu thời trang, kiểu tóc…thay đổi như chong chóng cho đến cả những trò nguy hiểm, dị hợm, lố bịch, quái đản…tất cả không ngoài mục đích là thu hút cái nhìn của người khác. Bề ngoài thường không thể hiện được những gì thật sự đang xảy ra trong nội tâm của một con người. Bìa sách không nói lên nội dung cuốn sách, nó chỉ muốn người ta phải cầm cuốn sách lên và mở ra. Trong thế giới hiện đại, con người càng cô đơn thì lại càng muốn gây sự chú ý, đánh động sự lưu tâm của người khác bằng mọi cách.
Trong lãnh vực tình cảm, chuyện tạo ra sự chú ý của người đối diện lại càng phức tạp. Từ những cử chỉ âu yếm thương yêu đến ghen tương, cay đắng, hận thù. Người ta có đủ mọi cách và làm đủ mọi kiểu để đánh động sự quan tâm và tình cảm của người khác, thông thường nhứt trong cảnh tuyệt vọng cô đơn là “khổ nhục kế” và “ăn vạ”.
Tôi có biết một bà cụ hiện đang sống trong viện dưỡng lão. Bà không có vấn đề gì đáng nói ngoại trừ cái tánh làm phiền nhân viên một cách không cần thiết. Ban ngày thì không đến nỗi nhưng cứ sau 9 giờ tối, khi những tiếng động trên hành lang thưa dần là bà bắt đầu ấn chuông gọi nhân viên liên tục. Bà có đủ mọi cớ để nói, khi thì đau bụng, khi thì không ngủ được, lúc thì nhức tay, khó thở…Có mấy lần bà làm cho nhân viên quýnh quáng vì bà làm như sắp…đi đời. Chuyển bà vào nhà thương thì chẳng tìm ra bệnh hoạn gì cả. Gọi mà chờ lâu không thấy ai đến, bà liền ra hành lang vừa đi vừa khóc lóc, la hét, không để cho các cụ khác nghỉ ngơi. Từ từ, nhân viên chẳng còn ai kiên nhẫn với bà, người ta phục vụ bà như chuyện “trả nợ”. Tính tình của bà cứ càng ngày càng “khó ưa” vì những chuyện gây sự phiền toái như vậy. Cho đến một hôm, cô y tá trưởng không còn chịu nổi, cô đến “thương lượng” với bà. Cô nói: “Việc gây náo động của bà làm phiền tới những người khác đang cần sự yên tĩnh, nếu bà đừng ấn chuông và khóc lóc la lối nữa, tôi hứa với bà, cứ mỗi nửa giờ, tôi sẽ đến để xem bà cần gì thì tôi sẽ giúp bà. Bà không cần phải gọi tôi nữa.” Và cô giữ đúng lời hứa. Cuối cùng chỉ sau lần thăm thứ tư thì bà đã lăn quay ra ngủ, không loay hoay lục sục như mọi khi.
Điều mà cô y tá đã tìm ra là: bà cụ không cần gì khác hơn là được quan tâm.
Không biết có phải khi về già con người trở lại tuổi thơ không, nhưng tôi thấy trường hợp của cụ bà trong viện dưỡng lão trên đây chẳng khác nào mấy đứa trẻ tôi thường đến thăm trong các viện mồ côi trước năm 1975. Cứ mỗi lần vào thăm các em, tôi thấy như mình bị “trời trồng”, không thể nhích chân đi được: đứa nào cũng đòi khách bồng ẵm. Buông ra là chúng khóc.  Dễ có mấy ai mà không mủi lòng khi vào thăm một viện mồ côi.
Càng thiếu tình thương, con người càng tìm cách gây sự chú ý. Nhà văn Nam Cao đã tả đúng cái tâm trạng của con người cô đơn đáng thương qua nhân vật “Chí Phèo”. Tác giả giới thiệu nhân vật của mình như sau: “Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế , cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu chửi trời. Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai. Tức mình hẳn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại. Nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ: “Chắc nó trừ mình ra!” Không ai lên tiếng cả. Tức thật! Ồ! Thế này thì tức thật! Tức chết đi được mất! Đã thế, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn. Nhưng cũng không ai ra điều. Mẹ kiếp! Thế thì có phí rượu không? Thế thì có khổ hắn không? Không biết đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông nỗi này? A ha! Phải đấy, hẳn cứ thế mà chửi, hắn cứ chửi đứa chết mẹ nào lại đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo! Hắn nghiến răng vào mà chửi cái đứa đã đẻ ra Chí Phèo. Nhưng mà biết đứa nào đã đẻ ra Chí Phèo? Có trời mà biết! Hắn không biết, cả làng Vũ Đại cũng không ai biết.”
Chí Phèo “chửi” chỉ vì anh là một đứa trẻ “mồ côi”, không biết ai sinh ra mình. Xét cho cùng, có ai mà không là một “đứa trẻ mồ côi” trong cuộc sống này? Có ai mà không cảm thấy cô đơn, bơ vơ, lạc lõng trong dòng đời? Có bất hạnh đến nỗi không biết ai sinh ra mình hay có đầy đủ cha mẹ, có nghèo nàn mạt rệp hay có tất cả mọi sự, có bị đày xuống vực thẳm của tủi nhục hay ngự trên đỉnh cao của danh vọng, có đổ vỡ hay tràn trề hạnh phúc lứa đôi…trong thẳm cung của cõi lòng, liệu có ai mà không cảm thấy cô đơn không?
“Chửi” như Chí Phèo là một cách khẳng định. Chửi và chỉ mong được chửi lại. Chửi là một cách để “thét”  lên rằng tôi hiện hữu, tôi là một con người, tôi cần được nhìn nhận, tôi cần được tôn trọng, tôi cần được quan tâm, tôi cần được yêu thương…
Tất cả những luận cứ mà tác giả Dale Carnegie đưa ra trong tác phẩm nổi tiếng “Đắc Nhân Tâm” của ông đều được xây dựng trên nguyên tắc: con người ai cũng muốn được chú ý và yêu thương.
Ông giải thích: “Hết thảy chúng ta đều cần thiện cảm, như được người khác khen, hoặc khuyến khích, hoặc an ủi. Em bé đứt tay hay u đầu, vội vàng chạy lại chìa ra cho người lớn thấy, có khi lại tự va đầu vào cái gì cho u lên để được người khác thương hại, vuốt ve. Người lớn thì kể lể dài dòng những tai nạn, bệnh tật của mình và nhất là những chi tiết trong lúc bị mổ xẻ. Những tai họa đó có thật hay tưởng tượng cũng vậy, loài người bao giờ cũng thích được người khác thương tới mình.” (Dale Carnegie, Đắc Nhân Tâm, bản dịch của Nguyễn Hiến Lê, Đại nam, trg 193)
Một trong những điều thường làm chúng ta thất vọng là không thể hiểu được những phản ứng và hành động của người khác đối với chúng ta. Chính vì không muốn chấp nhận những ẩn số trong lòng người mà chúng ta thất vọng và đau khổ. Nếu nắm vững cái nguyên tắc được tác giả Carnegie đề ra trên đây thì có lẽ mỗi khi đứng trước những cách cư xử bất thường của người khác, chúng ta sẽ dễ dàng có thái độ cảm thông hơn .
Bên ngoài cái vỏ “xem trời bằng vung” của Chí Phèo thật ra vẫn còn có một trái tim biết rung động, biết yêu thương. Trong cả cái làng Vũ Đại chỉ có một mình Thị Nở đã nhìn thấy cái trái tim ấy của Chí Phèo. Chỉ có một mình Thị Nở đã biết nhìn, biết cười và đã làm cho Chí Phèo biết cười, biết khóc, biết buồn chứ không chỉ có biết chửi.
Nhà văn Nam Cao ghi lại một sự “chuyển hóa nhiệm mầu” nơi Chí Phèo sau khi được Thị Nở cho ăn bát cháo hành: “Thằng này rất ngạc nhiên. Hết ngạc nhiên thì hắn thấy mắt mình ươn ướt. Bởi vì lần này là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho. Xưa nay, nào hắn có thấy ai tự nhiên cho cái gì. Hắn vẫn phải dọa nạt hay là giật cướp. Hắn phải làm gì cho người ta sợ. Hắn nhìn bát cháo mà bâng khuâng. Thị Nở thì chỉ nhìn trộm hắn, rồi lại toe toét cười….Hắn thấy vừa vui vừa buồn. Và một cái gì nữa, giống như ăn năn.”
Hai “hòn đảo” cô đơn đã nhìn nhau và đã nhận ra nhau.
Triết gia hiện sinh Pháp Jean Paul Sartre là người xem “tha nhân như hỏa ngục” cho nên lúc nào cũng tránh cái nhìn của người khác. Ông sợ bị nhìn và cũng tránh nhìn người khác.
Thực tế luôn cho thấy có tỷ lệ thuận giữa thái độ của chúng ta đối với người khác và mức độ hạnh phúc của chúng ta. Một người lúc nào gặp người khác cũng nhìn đi chỗ khác e khó có thể là một người vui vẻ và có an bình trong tâm hồn.
“Đắc nhân tâm” đích thực không có nghĩa là cố gắng làm ra vẻ luôn tìm cách làm vừa lòng hay tỏ ra thân thiện với người khác, theo kiểu “ngoại giao”, mà thiết yếu chính là xem người khác “như mình ta vậy” và cố gắng tôn trọng và đối xử với họ với tất cả tấm lòng tử tế. Thực vậy, hầu hết mọi người xung quanh chúng ta hay những người chúng ta gặp gỡ mỗi ngày đều giống chúng ta. Họ cũng có người thân, họ cũng có người để yêu thương và nhu cầu muốn được thương yêu, họ cũng có những khó khăn, những quan tâm, những sở thích, những điều lo sợ...Thực ra, ai cũng thích có một thế giới riêng nhưng vẫn muốn thuộc về một “cộng đồng”. Quan tâm đến nhau không nhất thiết đi vào thế giới riêng của nhau nhưng chỉ là để mỗi ngày, ghé qua ngôi nhà tâm hồn của nhau và gởi một lời chào, một sự hiện diện tích cực và một sự hỗ trợ khi cần. Một nụ cười thân thiện, một ánh mắt cảm thông lắm khi lại nhiều hơn cả một gia tài. Những người chết cô đơn không ai biết mà báo chí thường đăng, trước khi chết có lẽ họ sẽ sẵn sàng cho đi tất cả chỉ để đổi lấy một bàn tay nắm của người khác trước khi lìa đời.

Tiếng gọi Mùa Xuân có sức đánh thức vạn vật trở mình thức giấc để khoe âm khoe sắc. Tôi thấy mình cũng giống như mọi vạn vật khác, dù đi giữa một thiên nhiên tươi vui, tôi cũng cần một chia sẻ và quan tâm của người khác. Không có điều đó, rừng Xuân trước mặt cũng chỉ là một cảnh vật vô nghĩa và lắm khi, tô đậm thêm sự lẻ loi của một con người. Hòn sỏi khi nằm một mình trên cát không thể tạo ra thanh âm khi bị va chạm. “…Sỏi đá cũng cần có nhau” huống chi là con người!







Thứ Hai, 8 tháng 9, 2014

Có Qua Có Lại Mới Toại Lòng Nhau



                                                                                   Chu Thập
14.9.10

Có sống xa quê hương, lạc loài giữa những người không cùng màu da tiếng nói, tôi mới thấy tự ái dân tộc của mình lên cao. Tôi hãnh diện khi có một người Việt nam thành tựu trong xã hội. Nhưng tôi cũng buồn khi nghe nhắc đến tên của một người Việt nam trong một tổ chức tội phạm. Mới đây, tôi vui mừng khi hay tin người Việt nam đầu tiên là giáo sư Ngô Bảo Châu tại Pháp được trao tặng giải thưởng toán học Fields năm 2010 hay nghe nhắc đến tên tuổi của tiến sĩ Trịnh Hữu Đức tại Trung tâm Nasa của Hoa kỳ. Nhưng cũng mới đây, mỗi lần ra đường tôi lại thấy như người hàng xóm nào cũng nhìn mình sau khi các cơ quan truyền thông tại Úc đại lợi nêu tên một người họ “Nguyễn” nào đó trong một vụ đụng độ tại Bankstown giữa cảnh sát và một tổ chức buôn bán ma túy khiến cho một sĩ quan cảnh sát bị thiệt mạng.
Tôi không thể không nhớ lại lời tuyên bố của một nhà lãnh đạo tôn giáo tại Việt nam là Đức cha Ngô Quang Kiệt, cựu Tổng giám mục Hà nội, trong một cuộc gặp gỡ với Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà nội dạo tháng 9 năm 2008. Nhà lãnh đạo công giáo này nói rằng ngài cảm thấy “rất nhục nhã” khi mang quốc tịch Việt nam  ra nước ngoài: đi đâu cũng bị “soi xét”!
Tuy không mang “hộ chiếu” cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam và có lẽ cũng chẳng đi lại nhiều bằng vị tổng giám mục Công giáo này, nhưng kinh nghiệm bị  chiếu cố và “soi xét” đối với tôi không phải là ít. Một lần tại phi trường Sydney, hải quan bắt tôi phải nặn cho hết cái ống kem đánh răng của tôi ra cho họ xem. Những lần bị an ninh phi trường đưa chó “nghiệp vụ” tới ngửi hành lý của mình là chuyện rất thường. Một lần, giữa đám hành khách da trắng mũi lõ quá cảnh tại phi trường Melbourne, chỉ có một người da vàng mũi tẹt duy nhứt là tôi bị buộc đứng riêng ra một nơi để “soi xét” từ đầu đến chân, từ trong ra ngoài. Ngay cả một lần từ Sydney đi Cains, tôi cũng là người duy nhứt bị hải quan chận lại và bị buộc phải mở tung cái xách tay cho họ “soi xét”.
Những lần bị “nhục mạ” như thế, tôi chỉ biết tự an ủi: đây có thể chỉ là những thủ tục có tính cách “random” (ngẫu nhiên) mà hành khách nào cũng có thể trải qua ở bất cứ phi trường nào. Nhưng nghĩ cũng lạ: tại sao người ta cứ nhè người Á Châu, đặc biệt là người Việt nam, mà “random”? Tôi không thể không liên kết những lần, nói theo ngôn ngữ của đức cha Kiệt, “rất nhục nhã” như thế với những tin như cơm bữa trên báo chí về những vụ vận chuyển ma túy, “trồng cỏ” do người Việt nam sống tại Úc , Anh và Gia nã đại thực hiện.
Nghĩ cho cùng, tôi không trách các nhân viên an ninh và hải quan ở các phi trường, nhứt là các phi trường tại Úc. Con người thường suy nghĩ theo luật xác xuất và dễ có khuynh hướng tổng quát hóa. Bởi đa số những người vận chuyển ma túy bị bắt tại Phi trường là người Việt nam thì đương nhiên hễ gặp người Việt nam người ta phải “soi xét” thôi.
Tôi nhớ lúc mới tỵ nạn tại Pháp, tôi sống chung với một số người Pháp. Hễ 10 giờ đêm mà còn có một cú điện thoại gọi tới thì họ bảo tôi “của mày đó”. Lúc đầu, tôi còn “cười” trừ được. Về sau tôi thấy “rất là nhục nhã”, vì hễ có chuyện “quấy rầy” bất kể giờ giấc, thì họ lại gán cho người Việt nam. Họ ngầm bảo tôi rằng người Việt nam của mày chẳng biết tế nhị, chẳng biết thế nào là lịch sự, chẳng biết thế nào là tôn trọng người khác cả.
Thật ra, người nước nào cũng có một vài nét đặc trưng, tích cực cũng có, mà tiêu cực cũng nhiều, làm nên cái “dân tộc tính” mà lắm khi mình chẳng hãnh diện chút nào. Chẳng hạn, người Việt nam tại Hoa kỳ thường tự chế diễu bằng câu nói: “không ăn đậu không phải là Mễ, không đi trễ không phải là Việt nam”. Quơ đũa cả nắm là cách lý luận không nghiêm chỉnh. Đâu phải hễ là người Việt nam thì đương nhiên không tôn trọng giờ giấc. Nhưng vì có quá nhiều người Việt nam chẳng quan tâm đến chuyện đúng hẹn mà người ta buộc phải gán cho người Việt nam nói chung cái tính “lè phè” ấy thôi. Về chuyện này thì có lẽ người Phi luật tân may ra mới theo kịp người Việt nam. Mỗi lần có hẹn với ai, người dân hải đảo này cũng thường hỏi lại: “Theo giờ Đức hay giờ Phi”. Giờ “Đức” là đúng hẹn. Còn giờ “Phi” là giờ cao su. Dĩ nhiên, cũng như không phải người Thái Lan nào cũng hiếu khách (làm sao người Việt tỵ nạn quên được chuyện cướp biển), cũng như không phải người Miến Điện nào cũng hiền lành dễ thương (cứ nhìn cái chế độ quân phiệt), cũng như không phải người Việt nam nào cũng “đáng yêu” (cứ nhìn cái bộ mặt của mấy ông Cộng sản xem), cũng vậy không phải người dân Phi nào cũng xem giờ giấc “như không có”. Nhưng có lẽ có quá nhiều người Phi thường trễ hẹn mà người ta lại có cái nhìn tiêu cực về cả dân tộc này. “Quơ đũa cả nắm” là cái nhìn rất thông thường của con người.
Mấy ngày vừa qua, tôi cũng hay nghĩ đến cái chuyện “quơ đũa cả nắm” đối với người Hồi giáo. Người ta nói rằng kể từ sau cuộc khủng bố tại Hoa kỳ ngày 11 tháng 9 năm 2001, mọi sự đều thay đổi. Thay đổi rõ ràng nhứt là cái nhìn của thế giới Tây Phương đối với người Hồi giáo. Tôi cũng bị “lây nhiễm” cái nhìn ấy. Tôi còn nhớ, sau cuộc khủng bố đó, cứ mỗi lần lên máy bay, thấy có bóng dáng một ông Trung Đông là tôi cứ phải, nói theo ngôn ngữ của “con nhà đạo”, “chuẩn bị dọn mình chết lành”, như thể đó là chuyến đi cuối cùng của mình. Nghĩ lại thấy mình quá bất công trong cái nhìn ấy. Tôi cứ phải chiến đấu với cái tam đoạn luận khập khiễng của mình: không phải mọi người Hồi giáo đều là người khủng bố, nhưng tất cả mọi tên khủng bố đều là người Hồi giáo. Vậy thì…
Với lý trí được vận dụng một cách sáng suốt và khách quan, tôi không chấp nhận cái nhìn “quơ đũa cả nắm” và lên án mọi hành vi xúc phạm đến tôn giáo. Với tôi, tôn giáo nào cũng dạy con người ăn ngay ở lành, tôn giáo nào cũng đáng được tôn trọng cả. Tôn trọng tôn giáo cũng có nghĩa là tôn trọng tình cảm tôn giáo của con người. Và tôn trọng tình cảm tôn giáo của con người chính là tôn trọng phẩm giá của con người. Với niềm xác tín ấy, dù đang sống trong một chế độ dân chủ trong đó một trong những quyền cơ bản cần được tôn trọng là quyền tự do ngôn luận và phát biểu, tôi vẫn không tán đồng bất cứ hành vi nào xúc phạm đến tình cảm tôn giáo của người khác.
Nhưng nói qua thì cũng phải nói lại. Trong khi tôi cảm thông với rất nhiều người Hồi giáo đang sống tại các nước Tây phương và hiện đang là đối tượng của những nghi kỵ và loại trừ, tôi cũng chia sẻ được phần nào phản ứng của rất nhiều người dân Tây Phương hiện nay. Tôn giáo nào cũng xem trọng việc tự vấn lương tâm và sám hối. Tôi nghĩ có lẽ người Hồi giáo tại các nước Tây Phương nên tự đặt ra câu hỏi: “Tại sao ngày càng có nhiều người Tây Phương có thái độ thù nghịch đối với mình?”
Hơn ai hết, có lẽ những người Hồi giáo tại Hòa Lan phải hiểu được tại sao ở đây  lại dấy lên một Đảng “Wilders” có chủ trương bài người Hồi giáo, nhưng lại được rất nhiều người Hòa Lan ủng hộ? Dân biểu Wilders cho rằng Hồi giáo không bao giờ có thể hòa nhập với nền dân chủ Tây Phương. Trong một cuộc phỏng vấn trên nhựt báo Pháp Le Figaro, ông Wilders giải thích về việc chính phủ Pháp cấm phụ nữ Hồi giáo mặc y phục trùm kín người với những lý do như sau: Thứ nhứt, cảnh sát cần phải nhận diện được mọi người. Đây là vấn đề an ninh. Thứ hai, y phục này ngăn cản phụ nữ giao tiếp với xã hội. Thứ ba, tại Hòa lan, chúng ta không đối xử với phụ nữ như thế. (Việt Luận, thứ Sáu 10/9/2010)
Điều lẽ ra phải làm cho người Hồi giáo tại Tây phương suy nghĩ là: trong khi tại đây họ được hưởng mọi thứ tự do, thì tại các nước Hồi giáo của họ, như tại Á rập Saudi chẳng hạn, không ai có quyền tuyên xưng công khai bất cứ một tôn giáo nào khác ngoài Hồi giáo. Họ cũng phải nghĩ lại một cách nghiêm chỉnh: tại các nước có đa số theo Hồi giáo, các tín hữu Kitô bị công khai bách hại một cách tàn bạo?
Nhìn chung, chính thái độ của người Hồi giáo đã làm phát sinh thái độ thù nghịch của người Tây Phương đối với họ. Về điểm này tôi chỉ xin trích dẫn nhận định của một nhà phân tích đầy uy tín là kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa. Ông viết: “Thái độ của người Hồi giáo cũng là chuyện đáng nói".
Họ không có can đảm lên tiếng kết án hành vi bạo động mù quáng của các phần tử cực đoan nhất trong Đạo Hồi. Người Hồi giáo đã giữ im lặng khi bom tiêu hủy hai bức tượng cổ của Phật Giáo tại Afghanistan vào năm 2001. Họ không kết án những tên quá khích đã giết người hàng loạt tại Kashmir, Karachi, tại Mumbai. Họ sẵn sàng nổi giận khi có ai vì vô tình hay cố ý xúc phạm đến tín ngưỡng hay biểu tượng tôn giáo của họ tại Âu Châu, nhưng ngó qua chỗ khác khi có người bị quân Thánh Chiến chặt đầu phơi thây trước ống kính. Một cuộc thi hoa hậu cũng có thể làm 200 người thiệt mạng tại Nigeria vì các phần tử Hồi giáo quá khích ở đây mà không thấy các giáo sĩ, trưởng lão hay thường dân Hồi giáo lên tiếng phê phán hay can ngăn.
Họ rất dũng cảm đả kích các phần tử cực đoan trong xã hội Mỹ và dùng phương tiện truyền thông tự do và dồi dào của Hoa kỳ để tuyên dương tính hiếu hòa của đạo Hồi, nhưng lại thiếu dũng cảm ấy khi nói về tội ác của những kẻ nhân danh Allah để làm đồ tể sát nhân. Một số không nhỏ trong thành phần có ảnh hưởng của Hồi giáo còn khéo khai thác mặc cảm da trắng, thực dân, đế quốc của trí thức thiên tả tại các nước Tây Phương để che giấu tội ác của quân khủng bố.
Nói cho công bằng, ít ai dám lên tiếng thì cũng vì một lý do dễ thông cảm: họ có thể bị sát hại. Nhẹ nhất thì cũng bị một người điên nào đó nhân danh Giáo luật Sharia mà tuyên án tử hình. Vấn đề vì vậy thực ra không nằm trong xã hội Mỹ hay các quốc gia Âu Châu. Nó nằm trong thế giới Hồi giáo” (Việt Báo online 11/9/2001)
Theo tôi, có lẽ các nước Tây Phương và người dân Tây Phương đã quá mệt mỏi vì cách sống và hành xử của người Hồi giáo đang sinh sống trên đất nước của họ. Là một người tỵ nạn, lúc nào tôi cũng mang ơn người dân Tây Phương vì đã mở rộng vòng tay để đón tiếp, cưu mang và mang lại cho tôi cuộc sống ấm no và tự do. Ông đạo Ayatolah Khomeini lẽ ra cũng phải tỏ lòng biết ơn đối với nước Pháp, bởi vì nước này đã cho ông tỵ nạn và cũng từ đó, ông mới có thể trở về nước để làm cuộc cách mạng hồi giáo tại Iran.
Một trong những biểu hiện của lòng biết ơn đối với quốc gia đã đón tiếp mình, theo tôi nghĩ, chính là sống theo nguyên tắc “nhập gia tùy tục” và “có qua có lại”. Đó là nguyên tắc nền tảng và tối thiểu để có cuộc sống hài hòa trong xã hội. Trước khi nói đến chuyện “vô vị lợi” hay “tay mặt làm mà không cho tay trái biết” như Chúa Giêsu đã dạy, thì ít nhứt cũng phải sống theo cái nguyên tắc công bình cơ bản là “tôi cho bạn để bạn cho lại” đã. Trong khi tôi muốn người dân của quốc gia đón tiếp tôi phải tôn trọng tôi và không có thái độ thù nghịch hay khinh dễ tôi, thì tôi cũng phải biết tôn trọng họ. Trong một con đường chật hẹp vốn dễ kẹt xe, tôi lại nhân danh tự do tôn giáo để dàn ra đầy đường mà cầu nguyện, thì thử hỏi, tôi có làm phiền người khác không? Giữa đêm khuya, mọi người cần sự yên tĩnh để nghỉ ngơi, tôi lại bắc loa cầu nguyện inh ỏi, thì thử hỏi, người ta sẽ nghĩ gì về tôi?
Chẳng có tôn giáo nào ở trên hay đi ngược lại Đạo làm người cả. Và một trong những nguyên tắc sơ đẳng của Đạo Làm Người, như người Việt nam chúng ta thuộc nằm lòng là “có qua có lại mới toại lòng nhau”. Đạo làm người buộc tôi phải sống và cư xử như thế nào để, nếu chưa vị tha đủ để sống vô vị lợi, thì ít nhứt cũng đừng làm phiền người khác.





Thứ Sáu, 5 tháng 9, 2014

Thương người như thể thương thân



Chu Thập 27.8.14



Mấy ngày cuối tuần gần đây, cái xóm vắng của tôi bỗng trở nên nhộn nhịp khác thường với lượng người đến xem ngôi nhà để bảng “for sale” bên cạnh nhà tôi. Tôi thấy vui lây. Vui vì cảnh người tấp nập đã đành. Mà vui vì nghĩ sẽ có được một người hàng xóm tốt.
Tôi mong như thế bởi vì trước đây, người hàng xóm vừa mới dọn nhà đi chỗ khác đã không tỏ ra thân thiện với tôi mấy. Tôi đã cố gắng “bán bà con xa để mua láng giềng gần” cách mấy, cặp vợ chồng trẻ này xem ra vẫn cứ bế quan tỏa cảng. Anh chồng thì cứ lầm lầm lì lì. Cô vợ thì mặt lạnh như tiền chẳng khác nào đổ tể Vladimir Putin. Họ giống nhau trong khuôn mặt lạnh lùng và lại càng hợp nhau hơn với khói thuốc lá và  men rượu. Cái cảnh mà tôi thường lén nhìn qua để theo dõi họ hầu như không bao giờ thay đổi: anh chồng  đứng một góc với điều thuốc lá và chai bia trên tay, cô vợ một nơi cũng nhả khói liên tục. Phiền nhứt cho cái xóm vốn yên ắng quanh năm ngày tháng của tôi là thỉnh thoảng nửa đêm về sáng phải bị dựng đầu dậy để nghe những trận cãi vã inh ỏi của cặp vợ chồng trẻ này. Nhưng với riêng tôi, tập luyện mãi để sống câu châm ngôn “chó sủa mặc chó, đường ta ta cứ đi” xem ra không phải là chuyện dễ dàng. Tôi không nói đến những chuyện phiền toái lặt vặt ngoài đường đâu. Chuyện cứ làm tôi bực bội và nhức đầu là tiếng sủa vô tội vạ của con chó trong nhà hàng xóm này. Không biết họ có dạy cho con chó lai “berger” này kỳ thị chủng tộc không, nhưng không cần phải thấy mặt tôi, cứ ngửi cái mùi Á Châu hay nghe một tiếng động nhỏ tôi khua lên từ trong vườn nhà tôi là cậu chó của họ lại chõ mỏ sang mà sủa. Mà cứ mỗi lần nghe tiếng cậu chó sủa là tôi đâm ra bực mình và chỉ mong cho cặp vợ chồng trẻ này dọn đi chỗ khác cho khuất mắt cho rồi.
Ngẫm nghĩ về khoảng thời gian phải sống bên cạnh một gia đình láng giềng không biết điều, tôi nghiệm ra một điều: mình không thể sống hạnh phúc nếu không có được một quan hệ tốt đẹp với người hàng xóm. “Xét mình”, như tôi có thói quen hay làm, tôi nhận thấy “lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng”, vì tôi chưa tích cực đủ trong cố gắng vượt qua nhiều bức tường ngăn cách để đến với người hàng xóm của mình.
Chợt nhớ lại câu chuyện về hàng xóm. Một nông dân nọ có nuôi một đàn trừu. Người hàng xóm của ông không thích chăn nuôi mà chỉ ham săn bắn cho nên thay vì nuôi gia cầm, người này nuôi cả một đàn chó săn. Cứ mỗi lần được thoát ra khỏi nhà, đàn chó cứ nhè mấy con trừu con của người hàng xóm mà săn. Chỉ vì mấy con trừu và vài con chó mà hàng xóm xích mích với nhau là chuyện không thể tránh được. Nói chuyện phải trái với nhau không được, người nông dân nuôi trừu chỉ còn một giải pháp là kiện người hàng xóm của mình ra tòa. Ông quan tòa là người luôn sống theo nguyên tắc dĩ hòa vi quý, cho nên mới khuyên người nông dân nuôi trừu: thay vì kiện tụng tốn tiền lại mất tình nghĩa xóm giềng, hãy về bắt một con trừu con mang sang biếu cho đứa con của ông thợ săn. Người nuôi trừu đã làm theo đúng ý của quan tòa: ông lựa một con trừu con đẹp nhứt trong bày, mang sang biếu ông hàng xóm để gọi là cho cậu con trai nhỏ có một thú con để vui chơi. Thật là tuyệt chiêu! Ông thợ săn mừng rối rít. Cậu con trai nhỏ lại càng vui hơn. Kể từ đó, ông nhốt đàn chó săn lại để chúng không cắn con trừu con và dĩ nhiên, cũng chẳng còn cơ hội để quấy phá đàn trừu của người hàng xóm “tốt bụng” của mình nữa. Huề và vui cả làng. Tình nghĩa xóm làng được hàn gắn. Hai bên qua lại thường xuyên hơn.
Trên báo The Age, số ra ngày Thứ Ba 19 tháng 8 vừa qua, tôi đọc được một bài viết của tác giả Miranda Prynne, được trích đăng lại từ báo The Daily Telegraph bên Anh. Lời khuyên được tác giả đưa ra cũng giống như bài học trong câu chuyện hàng xóm trên đây. Tác giả viết rằng theo một cuộc nghiên cứu mới đây, những người sống thân thiện với hàng xóm và có những liên hệ chặt chẽ với cộng đồng thường ít bị đột quỵ hơn. Những người thực hiện cuộc nghiên cứu nói rằng quan hệ với láng giềng càng tốt thì con người có thể giảm được nguy cơ bị đột quỵ đến 70 phần trăm.
Các nhà nghiên cứu đã theo dõi sức khỏe của trên 5 ngàn người Mỹ tuổi từ 51 tới 105 và không hề có vấn đề nào về tim mạch. Bắt đầu từ năm 2006, cuộc nghiên cứu kéo dài trên 4 năm. Những người tham gia cuộc nghiên cứu được mời kể lại cuộc sống trong khu xóm của họ. Trong bốn năm tham gia cuộc nghiên cứu, chỉ có 148 người cho biết đã bị đột quỵ. Sau khi đã xem xét các yếu tố khác như tuổi tác, chủng tộc, phái tính và thu nhập, các nhà nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng tỷ lệ bị đột quỵ thường cao hơn cho những người không có được quan hệ tốt với những người hàng xóm của mình.
Bà Julie Ward, một y tá chuyên về tim mạch làm việc cho Sáng hội “British Heart Foundation” của Anh, nói rằng “Không chỉ có cách dinh dưỡng và thể dục mới có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của quả tim, mà ngay cả môi trường sinh sống và các cộng đồng trong đó con người đang sống cũng góp phần quan trọng vào sức khỏe tim mạch”.
Tựu trung, nhờ xây dựng được quan hệ tốt đẹp với hàng xóm của mình, con người mới có thể vui sống, lạc quan và như vậy tránh được những phiền muộn ảnh hưởng đến sức khỏe thể lý mà trái tim là chính.
Cốt lõi của tôn giáo và đạo lý nào cũng đều nhấn mạnh đến tình thương. Riêng ông bà tổ tiên người Việt Nam chúng ta dạy “thương người như thể thương thân”. Không những “thương người như mình ta vậy” như Kitô giáo răn bảo mà còn “thương người chính là thương mình”. Có thương yêu người khác, mình mới cảm thấy được an vui, hạnh phúc và ngay cả khỏe mạnh.
Để có thể “thương” người, tôi nhận thấy cần phải nhìn người như một người thân cận, gần gũi hoặc ít nhứt như người hàng xóm của mình. Tiếng Việt thường nhìn người như “tha nhân”, người khác, người xa lạ. Tiếng Pháp “prochain” hoặc tiếng Anh “neighbour” lại gợi lên cho tôi sự “gần gũi”, “thân cận”, như thể bất cứ một tha nhân, người xa lạ hay người khác  nào cũng đều là người “hàng xóm” bên cạnh tôi. Chỉ cần đi vào quan hệ với người đó bằng một lời chào hỏi hoặc một nụ cười thôi cũng đủ để làm cho tôi được thêm giàu có hơn.
Đây là ý nghĩ mà tôi cóp nhặt được nhân đọc bài “Why you should talk to strangers on your commute” (tại sao bạn cần phải nói chuyện với người xa lạ đang cùng đi một chuyến xe với bạn) của ký giả Rachel Clun  trên báo The Canberratimes số ra ngày 13 tháng 8 vừa qua.
Phần lớn những người phải sử dụng các phương tiện di chuyển công cộng để đi làm đều nghĩ rằng tốt hơn cả là đừng nói chuyện với người xa lạ ngồi bên cạnh mình. Nhưng các nhà nghiên cứu Mỹ lại khám phá ra rằng những người di chuyển bằng phương tiện công cộng mà biết mở miệng nói chuyện với người bên cạnh đều có một kinh nghiệm tích cực hơn những người không muốn nói chuyện với người khác.
Giáo sư Nicholas Epley, thuộc trường đại học Chicago, cho biết những người di chuyển bằng xe lửa ở Chicago đều nói rằng họ có một kinh nghiệm tích cực hơn khi bắt chuyện với một người xa lạ hơn là những người ngồi im lặng một mình.
Trong 9 cuộc nghiên cứu được cho phổ biến trên báo “Journal of Experimental Psychology: General” (tâm lý thực nghiệm: tổng quát), giáo sư Epley nói rằng hầu hết những người đã trò chuyện với người xa lạ trên xe lửa ngầm đều cho biết họ cảm thấy chuyến đi thú vị hơn là khi họ ngồi một mình. Theo ông, sở dĩ nhiều người thích ngồi một mình hơn là bắt chuyện với người khác là vì họ nghĩ rằng người khác không thích nói chuyện. Thật ra, kết quả của các cuộc nghiên cứu của giáo sư Epley về hành khách đi trên những chuyến xe lửa ngầm tại thành phố Chicago đều cho thấy hầu như ai cũng cảm thấy thích thú, phấn khởi, nói chung có một kinh nghiệm tích cực hơn mỗi khi có dịp bắt chuyện với người bên cạnh.
Thật ra, các phương tiện di chuyển công cộng như xe lửa, xe buýt không phải là những nơi duy nhứt mà một câu chuyện được khơi mào với người bên cạnh có thể mang lại một chút vui tươi hay phấn khởi nào đó.
Theo ký giả Clun, một cuộc nghiên cứu mới đây do Đại học British Columbia thực hiện cũng cho thấy những ai đã từng “trao đổi” với một nhân viên trong một tiệm cà phê hay quán rượu bằng một câu chuyện hay chỉ bằng một nụ cười, cũng đều có một cảm nghiệm tích cực hơn là những người chỉ vội vả gọi hàng, trả tiền rồi đi.
Những người thực hiện cuộc nghiên cứu trên đây nói rằng “mặc dù ai cũng cảm thấy ái ngại khi phải nói chuyện với một người xa lạ, nhưng ai cũng cảm thấy vui hơn sau khi tiếp xúc với một người xa lạ”.
Trong cuốn sách có tựa đề “How to Make Small Talk with Strangers” (làm thế nào để gợi chuyện với người xa lạ), tác giả John Corcoran cho biết cuộc nghiên cứu của giáo sư Epley tại các tuyến đường xe lửa ngầm ở Chicago đã gợi hứng cho ông làm một cuộc thử nghiệm: mỗi ngày nói chuyện với một người xa lạ trong 21 ngày. Sau cuộc thử nghiệm, tác giả Corcoran nhìn nhận rằng trở ngại lớn nhứt hiện nay để gợi chuyện với người xa lạ chính là các dụng cụ điện tử (như điện thoại di động, Ipod, Ipad...). Ông nói rằng gợi chuyện với người xa lạ không phải lúc nào cũng dễ dàng. Tuy nhiên, nhìn lại 21 ngày thử nghiệm, ông thấy vui mỗi khi được tiếp xúc với người xa lạ. Ông viết: “Hầu như cuộc trao đổi nào cũng làm cho tôi cảm thấy hạnh phúc hơn”. Ông cũng cho biết ông cảm thấy học được nhiều điều mới mẻ nhờ nói chuyện với đủ mọi hạng người mà bình thường ông không thể gặp gỡ được.
Ký giả Clun gợi ý: “Vậy thì lần tới khi lên xe lửa hoặc xe buýt, bạn hãy thử nói chuyện với người bên cạnh và xem thử điều đó có làm cho ngày của bạn được tốt hơn không”.
Tôi nghĩ đây là một lời khuyên nên làm. Tôi không còn trong độ tuổi phải đi sớm về khuya hoặc mỗi ngày phải sử dụng các phương tiện di chuyển công cộng để đi làm. Bù lại, mỗi ngày tôi đều chạy bộ và đều có dịp gặp gỡ nhiều người. Có một số khuôn mặt tôi gặp mỗi ngày. Họ đã hầu như trở thành “người thân” của tôi. Không chào hỏi và hỏi han, tôi cảm thấy như chưa sống trọn một ngày. Nhưng bên cạnh những “người thân” ấy, cũng có rất nhiều người xa lạ. Xa lạ nhưng thật gần gũi, bởi vì họ đi họ chạy sát cạnh tôi hoặc đối diện với tôi. Gặp họ mà không chào “hello” hoặc “goodday mate”, không những tôi cảm thấy mình chưa phải là một công dân Úc đang sống trên đất Úc, mà còn như thể mình chưa thực sự có được một ngày tốt đẹp.

Người khác không hề là hỏa ngục như triết gia hiện sinh Jean Paul Sartre (1905-1980) đã từng khẳng định, mà là người thân cận, người gần gũi, người hàng xóm của tôi. Họ cũng ấp ủ trong lòng bao nhiêu niềm vui và nỗi khổ như tôi. Tôi sẽ không có hạnh phúc trọn vẹn và sống cho ra người hơn nếu tôi không màng đến sự hiện diện của họ.

Thứ Tư, 3 tháng 9, 2014

Mọi Việc Đều Có Lúc, Mọi Sự Đều Có Thời.


                                                                                    Chu Thập, 7.9.2010
Mỗi lần nhìn mấy đứa trẻ hàng xóm chơi đùa trên con đường cụt phía trước nhà, tôi luôn thấy tội nghiệp. Quanh đi quẩn lại cũng mấy cái trò chơi mà tôi cho là không thú vị lắm: không cỡi xe đạp thì cũng trượt skateboard hay giầy patin. Quanh năm ngày tháng chỉ có thế. Nhưng được chơi ngoài trời và chơi với nhau như mấy đứa trẻ hàng xóm của tôi đã là “phúc đức” lắm rồi. Có biết bao nhiêu đứa trẻ mà tôi biết chắc là rời khỏi nhà trường về nhà chỉ biết dán mắt vào màn ảnh vi tính hay cắm đầu vào các trò chơi điện tử. Có em vừa ra khỏi lớp ở trường học lại phải tiếp tục lớp ở nhà. Có em vừa tan trường lại phải đi học thêm. Có em đi đâu cũng có cha mẹ đi kèm theo. Nhìn những trẻ em sống trong thời đại ngày nay, tôi liên tưởng đến đến hình ảnh của con gà công nghiệp: ăn nhiều, lớn nhanh nhưng phải bị nhốt đứng một chỗ. Tôi có cảm tưởng như sự tiến bộ đã cướp mất tuổi thơ của nhiều trẻ em thời đại.
Nhớ lại tuổi thơ, tôi thấy mình thật hạnh phúc vì được tự do bay nhảy. Vừa tan trường về nhà là tôi đã “biến”. Thôi thì đủ thứ trò chơi: từ câu cá, bắn chim, bắt dế, leo trèo, tắm sông, đá bóng, đánh bi, đánh trỏng cho đến …đánh lộn. Sung sướng nhứt là chẳng phải bị một ông bố hay một bà mẹ kè kè bên cạnh. Cùng lắm thì bị ông già “bạt tai” vài cái vì tội phá xóm phá làng và bị người ta mắng vốn.
Tuổi thơ của tôi nghèo nàn, thiếu thốn, nhưng đẹp. Mỗi sáng cắp sách đến trường thường chỉ được “lót lòng” bằng một ít bắp rang muối, một chén cơm nguội hay một củ khoai luộc. Hôm nào được một chút cơm chiên mỡ thì vui như được ăn tiệc. Cũng có lắm bữa sáng đến trường với cái bụng trống rỗng. Cho nên “hành trang” đến trường cũng thật nhẹ: một lọ mực với cây bút tre, một cuốn sách và một cuốn tập nhét vào phía trước bụng trong cái quần nếu không thủng đáy thì cũng vá chùm vá đụp. So với cái ba lô của học sinh ngày nay quả là một trời một vực. Lớp học có khi ồn như cái chợ, bởi vì chỉ có một bà phước mà phải làm “chủ nhiệm” đến ba cấp lớp một lúc trong cùng một cái phòng. Vậy mà không hiểu sao cuối cùng “chữ nghĩa” và các phép tính vẫn lọt vô được cái đầu của tôi.
Thật ra, dường như tôi học ở ngoài đường và trong thiên nhiên nhiều hơn trong lớp học. Cái khó không hẳn lúc nào cũng bó cái khôn mà ngược lại, có khi cũng làm cho người ta “khôn” ra. Mới 6, 7 tuổi, tôi đã biết đi câu kiếm cá cho bữa cơm chiều của cả gia đình. Tôi cũng học bờ học bụi với mấy đứa trẻ chăn trâu hơn là với bà giáo làng.
Tôi cũng chẳng cần phải được “khai tâm” về giáo dục sinh lý hay phái tính nơi học đường. Thiên nhiên là cả một trường học mà tôi nghĩ đứa trẻ “nhà quê” nào cũng tự nhiên theo học. Đâu cần phải vào sở thú hay tò mò tìm kiếm trong sách vở mới thấy được sự khác biệt giữa phái tính và nghĩa vụ truyền giống của thú vật.
Nhưng tôi cho rằng cái kiến thức vĩ đại nhứt mà tôi đã đắc thủ được trong tuổi thơ chính là “Chữ Nhẫn” của thiên nhiên và thái độ “nhẫn nha nhẫn nhục” của cha mẹ và người lớn xung quanh tôi. Tôi không rõ mình đã bắt đầu có “ký ức” từ lúc nào. Nhưng tôi vẫn nhớ rõ cái lần đầu tiên tôi có kinh nghiệm về “gieo trồng”: Hột giống vừa cho xuống lòng đất được vài tiếng đồng hồ đã bị tôi moi lên để xem nó biến chuyển như thế nào. Phải qua nhiều lần “thí nghiệm” như thế tôi mới học được bài học cơ bản của cuộc sống: hạt giống cần phải được chôn vùi trong lòng đất, phải chờ đợi một thời gian mới nẩy mầm. Và cũng từ đó, tôi cũng hiểu được rằng việc gì cũng cần phải có thời gian.
Nhưng nể phục nhứt vẫn là cái gương “nhẫn nha nhẫn nhục” của cha mẹ “nông dân” của tôi và những người dân quê chất phác. Quanh năm ngày tháng đầu tắt mặt tối, chẳng bao giờ biết thế nào là một “cuối tuần” hay “holidays”, vậy mà lúc nào họ cũng cứ vui vẻ, “vô tư”. Những từ như “stress”, “trầm uất” làm gì có trong cái vốn liếng từ ngữ nghèo nàn của họ.
Ngày nay, mỗi độ mùa Xuân trở về, tôi lại nhớ đến bài học vỡ lòng về chữ Nhẫn ấy. Ba tháng mùa Đông, dường như cái gì trong thiên nhiên cũng ngủ và chờ đợi. Trước hết là đàn cá trong cái hồ lộ thiên trong vườn. Bước vào tháng Sáu, chúng trốn biệt dưới đám bèo. Có bỏ bao nhiêu thức ăn, có dụ dỗ đến cỡ nào, chúng cũng không chịu chường mặt ra. Đây là một tín hiệu tốt cho dân câu cá, đừng thử thời vận làm gì cho tốn công. Vậy mà tôi vẫn không chịu đón nhận cái tín hiệu ấy cho nên tuần nào cũng vác cần câu đi rồi vác cần câu về không. Câu cá cũng giống như đánh bạc: càng “khát nước”, càng cố gỡ càng thua. Có những đêm đứng lạnh cóng một mình bên bờ vịnh, chờ đến 2, 3 tiếng đồng hồ mà miếng mồi vẫn còn trơ trơ ra đó. Nếu chẳng may vớ được một con cá đui, mang về mổ bụng ra, tôi thấy nó ốm tong ốm teo, không có lấy một chút thức ăn trong ruột. Các tín hữu Công giáo mỗi năm chỉ ăn chay có hai ngày. Các tín đồ Hồi giáo nhịn ăn chỉ từ lúc mặt trời lên cho đến lúc mặt trời xuống trong một tháng Ramadan. Nhưng cá nước ngọt tôi nuôi trong hồ và cá trong vịnh nước mặn thì “ăn chay” đến cả ba tháng ròng rã.
Không những cá mới “tịnh khẩu” mà dường như cây cỏ trong vườn cũng ăn chay nữa. Cứ bước vào mùa Đông thì dù có bón phân hay chăm sóc đến đâu, mấy cái cây trong vườn của tôi cũng cứ “trơ” ra đó. Chúng nó ngủ vùi suốt ngày.
Mấy hạt giống thì còn tuyệt vời hơn. Thách thức mấy lời chỉ dẫn của các nhà sản xuất hạt giống, bước vào mùa Đông mà tôi vẫn cứ gieo bừa rồi tìm cách ủ cho ấm. Chờ mãi cũng không thấy hạt nào chịu nẩy mầm cả.
Vậy mà bước vào mùa Xuân, chẳng hiểu tiếng chuông của đồng hồ sinh thái báo hiệu như thế nào mà động vật, thực vật đều thức dậy cả. Cá như thiền sư xuống núi. Chim chóc chẳng hiểu từ đâu bay về hót inh ỏi. Hạt giống nẩy mầm. Cây cối đâm chồi nẩy lộc. Hoa thì khỏi nói: có bao nhiêu mầu sắc đều khoe cả!
Quả thực, như nhà hiền triết Qohelet trong sách Giảng Viên của Kinh Thánh Do thái và Kitô giáo đã nhận xét:
“Ở dưới bầu trời này,
mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời:
một thời để chào đời, một thời để lìa thế;
một thời để trồng cây, một thời để nhổ cây;
một thời để giết chết, một thời để chữa lành;
một thời để phá đổ, một thời để xây dựng;
một thời để khóc lóc, một thời để vui cười;
một thời để than van, một thời để múa nhảy;
một thời để quăng đá, một thời để lượm đá;
một thời để ôm hôn, một thời để tránh hôn;
một thời để kiếm tìm, một thời để đánh mất;
một thời để giữ lại, một thời để mất đi;
một thời để xé rách, một thời để vá khâu;
một thời để làm thinh, một thời để lên tiếng;
một thời để yêu thương, một thời để thù ghét;
một thời để gây chiến, một thời để làm hòa.”
(Giảng viên 3,1-8)
Người Việt nam ngày xưa cũng sống theo cái triết lý ấy:
“Tháng Giêng là tháng ăn chơi,
Tháng Hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà.
Tháng Ba thì đậu đã già,
Ta đi ta hái về nhà phơi khô.
Tháng Tư đi tậu trâu bò,
Để ta sắp sửa làm mùa tháng Năm.
Sáng ngày đem lúa ra ngâm,
Bao giờ mọc mầm ta sẽ vớt ra.
Gánh đi ta ném ruộng ta,
Đến khi lên mạ thì ta nhổ về.
Sắp tiền mượn kẻ cấy thuê,
Cấy xong rồi mới về nhà nghỉ ngơi.
Cỏ lúa đã dọn sạch rồi,
Nước rộng vơi, mười còn độ một, hai.
Ruộng thấp đóng một gầu giai,
Ruộng cao thì phải đóng hai gầu sòng.
Chờ cho lúa có đòng đòng,
Bấy giờ ta sẽ trả công cho người.
Bao giờ cho đến tháng Mười,
Ta đem liềm, hái ra ngoài ruộng ta.
Gặt lúa, ta đem về nhà,
Phơi khô, quét sạch, ấy là xong công”
(Bảo Vân, Tục ngữ, Ca dao và Dân ca, Quê hương, Canada 1979, trg 95-96)
Sống theo cái nhịp điệu ấy của thiên nhiên cho nên ông bà chúng ta lúc nào cũng thư thả. Lúc nhỏ, đi theo cha mẹ ra ruộng, tôi chưa thấy có ai “chạy” cả. Tất cả mọi người đều thong thả tiến bước. Người ta cũng chẳng phải giành giựt, lấn lướt nhau. Người ta cũng vừa làm việc vừa hò hát, chứ chẳng phải cắm đầu cắm cổ mà lao động đến độ không biết đến người bên cạnh hay không còn sức để chào hỏi.
Trong xã hội văn minh ngày nay, người ta chạy nhiều hơn đi. Lúc nào cũng phải vội vàng. Lúc nào cũng phải làm nhanh. Thức ăn phải làm cho nhanh đã đành, mà nhịp điệu của thiên nhiên cũng bị thúc bách cho nhanh hơn. Chỉ mới 45 ngày, bầy gà con ở thôn quê chưa kịp lẻ mẹ, thì con gà công nghiệp đã lớn đủ để được đưa vào lò sát sinh. Trong khi rau cải trồng theo nhịp điệu tự nhiên vẫn còn “bé bỏng”, thì những thứ trồng trong dung dịch đặc biệt phải lớn nhanh cho kịp đà tiêu thụ.
Nói chi đến gia súc và thực vật, trẻ con trong xã hội văn minh ngày nay cũng phải chạy bở hơi tai mới kịp đà tiến bộ. Mới chập chững bước đi đã phải đi đến nhà trẻ. Vừa tới tuổi cắp sách đến trường đã phải học đủ thứ. Hết học ở trường lại học thêm với các gia sư. Tuổi thơ mà phải “học chạy” như thế quả là một bất hạnh và cũng là một bất công. Học hành tự nó chẳng bao giờ có giới hạn về thời gian. Cũng như hạt giống, chẳng ai thúc bách được sự “nẩy mầm” trong chuyện học hành.
Nhưng vốn được tạo thành theo nhịp điệu của thiên nhiên, cho nên con người lúc nào cũng muốn quay trở lại với nhịp điệu ấy. Gà “đi bộ” vẫn được chuộng hơn gà công nghiệp. Bất cứ hoa quả hay rau cỏ nào có dán mấy chữ “organic” (nghĩa là trồng theo nhịp điệu tự nhiên) cũng có giá hơn những thứ được sản xuất nhanh và hàng loạt. Gần đây, đã có một số cha mẹ nghĩ đến việc đưa trẻ nhỏ về nhà quê sống trong suốt thời tiểu học để con cái họ được hưởng một môi trường lành mạnh, thoải mái. Họ quan niệm rằng với tiến bộ của tin học, họ vẫn có thể làm việc  bán thời tại nhà, con cái họ vẫn có thể hấp thụ một chương trình học đầy đủ mà không cần ở nơi đô hội đầy bụi bặm và nhiều vấn nạn.
Cũng có lẽ do rã rời vì chạy theo sự tiến bộ, xem chừng con người lại khao khát trở về với thiên nhiên. Con người thích đi bộ hơn chạy, thích thư thả hơn hối hả. Chả thế mà hằng năm Canada lại dành một ngày trong mùa Hè để làm “ngày không vội vã”. Phải có một ngày như thế là đủ biết con người trong xã hội văn minh ngày nay sống “hối hả” như thế nào.
Sống hối hả có nghĩa là sống như thể không còn thời giờ để mà vui hưởng cuộc sống. Người sống hối hả chẳng khác nào một tay đua chạy mà không biết mình chạy về đâu.
Người không “hối hả” là người biết sống bình thản trong mọi hoàn cảnh để hưởng nếm mỗi giây phút hiện tại và dĩ nhiên hài lòng với cuộc sống của mình.

Một bài thơ bằng tiếng Phạn khuyên như sau: “Mỗi ngày, nếu được sống một cách tốt đẹp, sẽ làm cho ngày hôm qua trở thành một giấc mơ hạnh phúc và ngày mai trở thành một cái nhìn đầy hy vọng. Do đó, hãy sống mỗi ngày, bởi vì chỉ có sống mỗi ngày mới thực sự là sống.” (Gillian Stokes, Contentment, wisdom from Around the World, trg 120).
Tại sao mỗi năm chỉ có “một ngày không vội vã”, mà không là “365 ngày không vội vã” để thấy rằng ngày nào cũng đẹp và ngày nào cũng đều đáng được tận hưởng?