Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2018

Tình nghĩa xóm làng



Chu Thập
08/08/18


Càng về già tôi càng thấy mình “trùm sò”. Tôi ít khi đi mua sắm. Mà có phải mua sắm thì lúc nào cũng dè xẻn, tính từng đồng từng cắc và xem xét thật kỹ các món hàng. Chẳng hạn khi mua thức ăn, nhứt là những sản phẩm đã được chế biến, tôi luôn tìm đọc cho bằng được bản chỉ dẫn về các thành phần cấu tạo: chất đạm có phải là thành tố chính không, có nhiều tinh bột không, mỡ bao nhiêu phần trăm, đường bao nhiêu “cà ram”, ít hay nhiều muối, một phần ăn phải cần bao nhiêu ca lo ri mới đốt cháy hết v.v...Kỹ như thế là vì càng lúc tôi càng ý thức rằng mình ăn uống như thế nào thì người mình như thế đó (We are what we eat).
Quan tâm đến thức ăn bao nhiêu tôi cũng cẩn thận bấy nhiêu khi đi mua sắm đồ gia dụng và nhứt là quần áo. Tham gia phong trào chống Trung Cộng cho nên hễ cứ thấy cái nhãn hiệu “Made in China” hay dưới một thương hiệu kín đáo và lừa gạt hơn như “Made in P.R.C” (made in People’s Republic of China = Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa), thì kẹt lắm không còn chọn lựa nào khác, tôi mới đành phải mua. Riêng về quần áo thì gần đây nhà tôi luôn nhắc tôi phải triệt để trong “quan hệ” với Tàu cộng. Càng chống Tàu cộng, nhà tôi càng tỏ tình liên đới với những nước nghèo hơn, đặc biệt là Bangladesh. Cứ đi mua sắm quần áo, nhà tôi ưu tiên chọn thương hiệu “Made in Bangladesh”, nhất là kể từ khi xảy ra vụ hỏa hoạn tại một hãng may mặc ở nước này dạo tháng Tư năm 2013. Vụ hỏa hoạn đã làm cho trên cả ngàn người thiệt mạng và hàng ngàn người bị thương. Bangladesh hiện có khoảng 5000 hãng may mặc mà phần lớn các sản phẩm đều được xuất cảng ra các nước Tây Phương trong đó có Úc Đại Lợi. Cứ mỗi lần mua sắm hay mặc lên người một y phục được may sẵn từ Bangladesh, tôi không thể không nghĩ đến đồng lương rẻ mạt của các công nhân may mặc: một ngày lương của họ có khi không bằng số tiền mà một công nhân có lương thấp nhứt tại một nước Tây Phương như Úc Đại Lợi kiếm được chỉ trong nửa tiếng đồng hồ! Tôi không thể ăn mặc mà không nghĩ đến công lao mồ hôi nước mắt và nỗi khổ đau của không bao nhiêu công nhân tại những nước nghèo. Nói cho cùng, cho vào miệng một miếng thức ăn hay trùm vào người một chiếc áo là đi vào tình liên đới với mọi người trong ngôi làng toàn cầu này. Trong thế giới toàn cầu hóa ngày nay, tiêu thụ cũng có nghĩa là phải sống tình liên đới nhân loại.
Cám ơn Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Thế giới có được toàn cầu hóa như ngày nay một phần cũng nhờ con ngựa đầu tàu là đất nước vĩ đại này. Sau Đệ nhị Thế chiến, Hoa Kỳ trồi lên như quốc gia hùng mạnh nhứt trên hành tinh. Trong những tháng cuối cùng của nhiệm kỳ, Tổng thống Franklin Roosevelt đã khai sinh ra những cơ chế quốc tế qua đó mỗi một quốc gia trên thế giới, dù nhỏ bé và yếu kém đến đâu, cũng đều có thể góp phần vào việc kiến tạo một thế giới ổn định và hòa bình trong đó Hoa Kỳ là trọng tâm. Không phải do tình cờ mà những tổ chức như  Liên Hiệp Quốc, Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Thế Giới đều đặt trụ sở tại Hoa Kỳ. Cũng không phải do ngẫu nhiên mà trong 70 năm qua, tất cả các tổng thống Mỹ đều xây dựng các chính sách ngoại giao với mục đích lôi kéo thế giới đứng về phía Hoa Kỳ để kiến tạo một thế giới liên đới, hòa bình và ổn định.
Dĩ nhiên, Hoa Kỳ lúc nào cũng là một quốc gia luôn đặt quyền lợi của mình lên trên hết. Nhưng trong khi đeo đuổi những quyền lợi và sức mạnh của mình, Hoa Kỳ cũng luôn giương cao ngọn cờ của những giá trị mà quốc gia này xem như nền móng của sự phú cường. Những giá trị đó là tự do, dân chủ, nhân quyền, kinh tế thị trường, tiến bộ.v.v...Ngay cả những nước độc tài như Liên Xô, dù chỉ trên danh nghĩa và ngoài môi mép, cũng phải ký tên vào Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và các hiệp ước đặt nền tảng trên những giá trị ấy(x.Time, Undoing the World America made...21/5/2018).
Với những giá trị được Hoa Kỳ đề ra, thế giới đã trở thành một ngôi làng trong đó mọi quốc gia đều liên đới với nhau và cùng nhau đeo đuổi những mục tiêu chung như một thị trường chung, một hệ thống môi sinh chung, một trách nhiệm chung. Nhờ liên kết với nhau thành một ngôi làng mà thế giới đã đạt được những tiến bộ vượt bực. Rõ ràng nhứt là trong lãnh vực chống đói giảm nghèo. Vào năm 1981, có đến 44 phần trăm nhân loại sống trong nghèo nàn cùng cực. Nay tỷ lệ này chỉ còn 10 phần trăm. Tiện nghi vật chất không còn là độc quyền của một số thành phần giàu có trong một nước giàu mạnh  mà được chia sẻ cho mọi người ở mọi hang cùng ngõ hẻm và ở những vùng sâu xa hẻo lãnh nhứt trên trái đất. Hình ảnh của chiếc điện thoại di động hay ngay cả chiếc điện thoại “tinh khôn” tối tân giữa một sa mạc khô cằn hay trong rừng già bên Phi Châu cũng đủ để nói lên sự tiến bộ chung của nhân loại mà thế giới toàn cầu hóa ngày nay đã cho phép mọi người đều được hưởng dụng.
Quả thật Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ vĩ đại đã góp phần xây dựng thế giới toàn cầu hóa ấy. Nhưng kể từ một năm nay, mọi sự đã bắt đầu thay đổi. Trong bài diễn văn nhậm chức ngày 20 tháng Giêng năm 2017 cũng như trong hầu hết các bài diễn văn quan trọng sau đó, với 2 khẩu hiệu “Làm cho Hoa Kỳ vĩ đại trở lại” (Make America Great Again) và  “Hoa Kỳ trước hết” (America first), Tổng thống Donald Trump luôn xem cái thế giới mà chính Hoa Kỳ đã góp phần nhào nặn  nên như một kẻ thù của Hoa Kỳ. Ông luôn nói với đám đông ủng hộ ông rằng cái công trình mà Hoa Kỳ đã thực hiện ấy phải chịu trách nhiệm về “những quyết định kinh tế đã bóc lột giai cấp công nhân của chúng ta, đã tước đoạt sự thịnh vượng của chúng ta và bỏ tiền vào túi của một nhóm nhỏ những đại công ty và các thế lực chính trị”. Ông rút Hoa Kỳ ra khỏi hầu hết những hiệp ước quan trọng với nhiều nước và với cả thế giới mà các chính phủ trước đã vận động và ký kết. Mới đây Tổng thống Trump lại bắn phát súng khai hỏa cho cuộc chiến thương mại chống lại hầu hết mọi quốc gia trên thế giới kể cả những nước đồng minh thân cận nhứt của Hoa Kỳ. Cứ như Hoa Kỳ đã là nạn nhân bị các nước trên thế giới bóc lột tận xương cốt!
Hoa Kỳ hiện vẫn còn là thế lực quân sự vô địch trên thế giới. Hoa Kỳ vẫn đang là siêu cường kinh tế số một thế giới. Dưới thời Tổng thống Trump, kinh tế của Hoa Kỳ lên như diều gặp gió. Mức thất nghiệp xuống thấp chưa từng thấy. Cũng như ông tổng thống lúc nào cũng cho mình cái gì cũng “nhứt” hết, “Hoa Kỳ trước hết” và tách riêng ra khỏi thế giới toàn cầu hóa ngày nay có lẽ hiện cũng đang “nhứt” về mọi mặt.
Nhưng trong tình liên đới nhân loại, tôi cũng chia sẻ nỗi lo chung của nhiều người Mỹ hiện nay.Thật vậy, nhiều người Mỹ lo ngại rằng người Mỹ “nhứt” về mọi mặt nhưng lại yếu kém về đạo đức. Theo kết quả của một cuộc thăm dò do viện Gallup thực hiện và được công bố hôm 1 tháng Sáu 2018 vừa qua, có gần 50 phần trăm dân chúng Mỹ tin rằng đạo đức trong nước Mỹ đang suy thoái và có hơn ba phần tư nghĩ rằng sẽ còn tệ hại hơn (x. Người Việt online 2/6/2018). Riêng cựu Ngoại trưởng Rex Tillerson, trong bài diễn văn đọc trong lễ mãn khóa tại một trường võ bị ở Lexington, Tiểu bang Virginia dạo trung tuần tháng Năm vừa qua, cũng đã cảnh cáo rằng Hoa Kỳ đang trải qua một cuộc “khủng hoảng ngày càng lớn về đạo đức và sự lương thiện”, mà cụ thể là tấn công vào sự thật. Theo ông, sự thật là “nguyên tắc chính yếu của một xã hội tự do”.
Nói đến “đạo đức” tôi thường không nghĩ đến các thực hành tôn giáo cho bằng cuộc sống lương thiện và vị tha của con người. Với tôi người đạo đức thiết yếu phải là người biết sống tình người. Khi nghĩ đến sự xuống cấp của xã hội Mỹ về đạo đức, tôi liên tưởng đến trước tiên khoảng cách giàu nghèo trong xã hội. Hoa Kỳ là nước giàu có nhứt trên thế giới. Hoa Kỳ có nhiều tỷ phú nhứt trên thế giới. Nhưng điều đáng ngạc nhiên là trong 35 quốc gia trong Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế gọi tắt là OECD, tức gồm các nước phát triển và giàu có nhứt thế giới, Hoa Kỳ lại đứng hàng thứ 3 về tỷ lệ có nhiều người nghèo nhứt. Cứ trong 5 đứa trẻ Mỹ, có một em hiện đang sống trong một gia đình được chính phủ Mỹ xếp vào loại “không được an toàn về thực phẩm”, nghĩa là “không có đủ thực phẩm để có được một cuộc sống lành mạnh và tích cực” (x. Time 28/5/2018). Chỉ mới đây thôi, sau 2 tháng đi thăm viếng một số tiểu bang, báo cáo viên đặc biệt của Liên Hiệp Quốc là ông Philip Alston tường trình rằng bất công xã hội tại Hoa Kỳ ngày càng tồi tệ . Theo ông, với 1.5 ngàn tỷ Mỹ kim mà chính sách thuế mới của Tổng thống Trump tặng cho giới doanh nghiệp và người giàu có, “những người có thế lực chính trị mạnh được giảm thuế, trong khi những người nghèo bị đẩy ra bên lề xã hội phải vác lấy gánh nặng mà không làm gì được”.
Bất công xã hội, chênh lệch giàu nghèo trước tiên là hậu quả của chính sách cai trị trong một quốc gia. Chế độ càng độc tài thì khoảng cách giàu nghèo càng sâu rộng. Trung Cộng và Việt Nam là 2 quốc gia điển hình. Hai nước này đang ăn nên làm ra; con số người giàu ngày càng nhiều. Nhưng hố ngăn cách giữa giàu nghèo trong 2 chế độ cộng sản độc tài này cũng ngày càng lớn và sự xuống cấp đạo đức cũng ngày càng trầm trọng. Khoảng cách giàu nghèo chính là thước đo của sự xuống cấp đạo đức. Trong xã hội của 2 nước cộng sản này, kể từ khi ông Đặng Tiểu Bình tung ra khẩu hiệu “giàu có là vinh quang” hay “không quan trọng là mèo trắng hay mèo đen, miễn là nó bắt được chuột” cách đây đúng 40 năm, cứu cánh biện minh cho phương tiện và “mạnh ai nấy sống” đã trở thành kim chỉ nam cho sự giàu có. Con người xã hội chủ nghĩa đạp lên nhau để sống và để làm giàu. Sự vô cảm trước nỗi khổ đau của người đồng loại đã trở thành nét đặc thù trong con người mới xã hội chủ nghĩa.
Thật ra vô cảm và dửng dưng trước nỗi khổ đau của người đồng loại đâu chỉ là nét đặc thù của con người xã hội chủ nghĩa. Trong những nước tự do và giàu có, sự tham lam cũng có thể làm cho con người ra mù lòa và câm điếc trước tiếng kêu than của người nghèo.
Ở tuổi già, tôi thường nhớ lại những kỷ niệm đẹp của tuổi thơ và tuổi thơ của tôi thì hoàn toàn gắn liền với ngôi làng quê mùa nghèo nàn của tôi. Nghèo của cải vật chất nhưng lại giàu tình liên đới. Đó là nơi người ta có thể chia sẻ với nhau từ rau cải trái cây trong vườn đến giúp nhau dựng nhà dựng cửa hay ngay cả chạy bộ hàng cây số trong đêm tối để rước bà mụ về cho người hàng xóm. Đó là trường học đầu tiên của tôi về tình liên đới và tình nghĩa xóm làng. Bà con cũng là hàng xóm và hàng xóm cũng là bà con. Tôi không bán bà con xa nhưng vẫn muốn mua láng giềng gần. Tha nhân, dù ở tận chân trời góc bể nào, giờ đây cũng đều là láng giềng gần của tôi.











Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2018

Hoa Kỳ và người Mỹ gốc Á Châu



08/06/18
Cụm từ “Mỹ Á” hay “Mỹ gốc Á” (Asian American) lần đầu tiên đã xuất hiện tại Hoa Kỳ vào năm 1968. Trong 50 năm qua, người Mỹ gốc Á đã gia tăng và cũng ngày càng trở nên đa dạng hơn.
Khi được hỏi có phải là người Mỹ gốc Á không hoặc cho biết chủng tộc của mình, nhiều người không ngần ngại xác định rằng họ là người Mỹ gốc Nhật, gốc Thái, gốc Phi, gốc Đại Hàn hay gốc Việt Nam hơn là Mỹ gốc Á.
Daryl Maeda, giáo sư về “Mỹ Á” học tại Đại học Colorado, tác giả của cuốn sách “Rethinking the Asian American Movement” (đặt lại vấn đề về phong trào Mỹ Á), cho rằng khi tự nhận là người Mỹ gốc Á Châu, nhiều người không nghĩ đến nguồn gốc, lịch sử hay bản sắc của mình cho bằng kêu gọi tranh đấu cho công bằng xã hội và bình đẳng không riêng cho mình mà cho tất cả mọi người xung quanh.
Theo các nhà hoạt động xã hội và học giả, nguồn gốc của từ “Mỹ gốc Á Châu” xuất hiện tại Hoa Kỳ lần đầu tiên vào năm 1968. Hai sinh viên Yuji Ichioka và Emma Gee của trường Đại học Berkeley, Tiểu bang California, được gợi hứng từ Phong trào Tranh đấu của người Da đen và những cuộc biểu tình chống Chiến tranh Việt Nam, đã đứng ra thành lập Liên minh Chính trị Mỹ Á (Asian American Political Alliance) để liên kết các bạn sinh viên gốc Nhật Bản, Trung Hoa và Phi Luật Tân trong trường.
Nhưng theo ông Ronald Quidachay, người đã thành lập Hội Sinh viên Phi Luật Tân tại Đại học San Francisco năm 1967, vào thời điểm đó không có nhiều người tự nhận là người Mỹ gốc Á. Ông Quidachay hiện là thẩm phán tại một tòa án tối cao ở San Francisco, giải thích rằng mặc dù không ý thức về căn tính “Á Châu” của mình, nhiều sinh viên Á Châu đã cùng với các sinh viên thuộc các nhóm sắc tộc khác như Phi Châu, Châu Mỹ La Tinh và Thổ dân đã liên kết với nhau để yêu cầu đại học cho mở các môn học về chủng tộc cũng như nhu nhận thêm các sinh viên da màu hơn.
Nhiều người không ý thức về bản sắc Á Châu, bởi vì theo ông Quidachay, từ “Mỹ gốc Á” có thể gợi lên nhiều đau khổ và tủi nhục của một số người Mỹ gốc Á Châu. Ông cho biết: người dượng ghẻ của ông là một người Phi đến từ Đảo Guam. Cha của người dượng ghẻ này đã bị người Nhật Bản chặt đầu trong thời Đệ nhị Thế chiến. Do đó, người Mỹ gốc Á Châu ý thức về bản sắc dân tộc của mình hơn là những điểm chung với những người Mỹ gốc Á Châu khác.
Theo Giáo sư Maeda, người Mỹ gốc Á Châu tại Hoa Kỳ thường không đứng chung với nhau trong cùng một chính nghĩa. Năm 1902, khi Hoa Kỳ ban hành luật bài Trung Hoa, người di dân Nhật đã không chống lại luật đó và trong thời Đệ nhị Thế chiến, khi hậu duệ của người Nhật bị đưa vào các trại tập trung bên trong Hoa Kỳ, người Mỹ gốc Hoa và Đại Hàn đeo một số phù hiệu lên người để khẳng định rằng họ không phải là người Nhật. Với người Mỹ gốc Hoa và Đại Hàn, chuyện bất công không phải là giam giữ người Nhật gốc Mỹ mà là đồng hóa họ với người Nhật một cách “bất công”.
Tuy không nhận mình là người gốc Á Châu, nhưng nhiều người Mỹ gốc Á Châu nhìn nhận rằng từ ngữ này nói lên nhiều vấn đề mà họ cùng chia sẻ với nhau như lịch sử di dân, vấn đề bóc lột sức lao động và nạn kỳ thị chủng tộc. Ngoài ra, từ ngữ này cũng liên kết họ lại khi phải tranh đấu cho cùng một chính nghĩa. Người Mỹ gốc Á Châu thà sử dụng từ này hơn là từ “Đông phương” (Oriental) vốn có hàm ý miệt thị trên cửa miệng của người Tây Phương.
Theo bà Karen Umemoto, Giám đốc của Trung tâm Nghiên cứu về người Mỹ gốc Á Châu tại Đại học UCLA, California, “Đông phương” luôn gợi lên quá khứ bành trướng và đế quốc của Anh quốc và sau này của Hoa Kỳ. Tây phương nhìn về “Đông phương”, tức Á Châu như một phần đất để chinh phục và cai trị cũng như một đối đe dọa. Chính vì vậy mà họ mới nói đến “nạn da vàng”.
Theo ông Paul Ong, giáo sư chuyên về người Mỹ gốc Phi Châu tại Đại học UCLA, từ “Người Mỹ gốc Á Châu” được sử dụng lần đầu tiên trong cuộc kiểm tra dân số Mỹ năm 1980. Và phải đợi cho đến năm 2016, Chính phủ Hoa Kỳ mới chính thức cấm sử dụng từ “Đông Phương” trong luật liên bang và khuyến khích dùng từ “người Mỹ gốc Á Châu”.
Nhưng phải mất nhiều thập niên từ này mới trở thành phổ thông tại Hoa Kỳ. Theo bà Helen Zia, tác giả của cuốn sách “Những giấc mơ của người Mỹ gốc  Á Châu: sự trổi dậy của một lớp người Mỹ” (Asian American Dreams: The emergence of an American People) biến cố đã làm nổi bật từ này là vụ sát hại một người Mỹ gốc Hoa hồi năm 1982. Người Mỹ gốc Hoa này tên là Vincent Chin. Biến cố đã xảy ra khi một số công nhân của một công ty chế tạo xe hơi tại Detroit bị sa thải vì công ty này không thể cạnh tranh với các hãng chế tạo xe hơi của Nhật Bản. Vì bị nhận lầm là một người Nhật Bản cho nên ông Vincent Chin đã bị một số công nhân Mỹ chính hiệu  sát hại. Chính vụ sát hại này đã khiến cho nhiều người Á Châu phẫn nộ và liên kết họ lại với nhau.
Là người đứng ra huy động cộng đồng người Mỹ gốc Á Châu để lên án việc sát hại ông Chin, bà Zia nói rằng trên toàn quốc đã dấy lên một phong trào liên kết người Mỹ gốc Á Châu lại với nhau. Vào thời điểm đó, trên toàn nước Mỹ, chỉ có khoảng 3.5 triệu người Mỹ gốc Á Châu, nghĩa là không đầy 2 phần trăm dân số Mỹ.
Sự liên kết người Mỹ gốc Á Châu sau cái chết của ông Chin đã gây được một tiếng vang rộng rãi trong nước Mỹ và khiến cho nhiều người Mỹ da trắng phải ý thức rằng có một cộng đồng người Mỹ gốc Á Châu tại Hoa Kỳ. Thật vậy, cho tới thời điểm đó, phần lớn người Mỹ không hề ý thức rằng có người Mỹ gốc Á Châu đang sống giữa họ. Cùng lắm, mỗi khi nhắc đến người Mỹ gốc Á Châu, người Mỹ da trắng chỉ hỏi: họ từ đâu đến vậy? Họ cũng nói được tiếng Anh sao? v.v...
Thật ra trước đó gần 2 thập niên, luật pháp Hoa Kỳ đã nhìn nhận sự hiện diện của một cộng đồng người Mỹ gốc Á Châu. Luật Di trú và Quốc tịch được Chính phủ Mỹ ban hành năm 1965 đã nới rộng việc đón nhận di dân từ Á Châu. Những cuộc xung đột tại Đông Nam Á Châu đã gia tăng con số di dân đến từ các nước như Việt Nam, Lào, Cam Bốt, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh và Sri Lanka.
Mặc dù được nhìn nhận như một khối Á Châu, nhưng mỗi sắc dân đều cố gắng bảo tồn bản sắc và những nét đặc trưng của mình. Bà Kathy Ko Chin, Chủ tịch của Diễn đàn Y Tế người Mỹ gốc Á Châu và Thái Bình Dương, giải thích rằng, nhìn chung như một khối, người Mỹ gốc Á Châu và Thái Bình Dương được xem là nhóm người mua  bảo hiểm y tế cao nhất tại Hoa Kỳ trong năm 2013. Tuy nhiên, khi phân tách các số liệu, bà Chin nhận thấy rằng không phải tất cả mọi nhóm trong khối này đều có chung tỷ lệ ấy. Chẳng hạn trên 20 phần trăm người Mỹ gốc Đại Hàn không có bảo hiểm y tế. Đây là tỷ lệ cao nhất nếu so với các nhóm sắc dân khác.
Theo kết quả cuộc kiểm tra dân số năm 2016, hiện có khoảng 21.4 triệu người Mỹ gốc Á Châu đang sinh sống tại Hoa Kỳ. Họ đến từ trên 20 quốc gia khác nhau của lục địa Á Châu. Thật ra người Á Châu đã có mặt tại Hoa Kỳ ngay từ Thế kỷ thứ 17. Nhưng đợt di dân rộng lớn nhất chỉ bắt đầu vào giữa Thế kỷ 18. Từ thập niên 1880 đến thập niên 1920, Chính phủ Hoa Kỳ đã hạn chế tối đa số người di dân từ Á Châu và cũng có lúc hầu như cấm không cho bất cứ người Á Châu nào được đặt chân đến Hoa Kỳ. Chỉ từ thập niên 1940 đến thập niên 1960, luật di trú mới được cải tổ, người di dân đến Mỹ không còn bị tra xét về màu da và chủng tộc của mình. Kể từ đó, con số người di dân vào Mỹ từ Á Châu mới gia tăng đáng kể. Nếu xét về nguồn gốc, có lẽ Phi Luật Tân là sắc tộc có mặt tại những phần đất nay được xem là Hoa Kỳ ngay từ Thế kỷ 16. Năm 1763, người Phi đã lập một cộng đồng nhỏ tại Saint Malo, Tiểu bang Louisana, sau khi đã trốn khỏi cuộc đàn áp của thực dân Tây Ban Nha. Sau người Phi là người Hoa. Năm 1789, các thủy thủ người Hoa đã đặt chân đến Hawaii. Nhưng phần lớn người Hoa, người Đại Hàn và người Nhật Bản chỉ di dân đến Hawaii vào Thế kỷ 19: họ đến đây để làm công nhân trong các đồn điền mía. Riêng người Hoa đã ào ạt đến Bờ Biển Miền Tây Hoa Kỳ vào giữa Thế kỷ 19. Đây là thời kỳ diễn ra cuộc Tây Tiến về California để tìm vàng. Những người Hoa đã tích cực tham gia vào kinh doanh khai thác vàng và xây dựng đường xe lửa xuyên lục địa. Ngay từ năm 1852, người ta tính cũng có đến hơn 20.000 người Hoa có mặt tại Thành phố San Francisco. Người Nhật Bản di dân sang Hoa Kỳ nhiều nhất dưới thời Minh Trị Thiên Hoàng năm 1868. Năm 1898, khi Tây Ban Nha nhường hải đảo Phi Luật Tân lại cho Hoa Kỳ, tất cả mọi người Phi đều trở thành công dân Mỹ. Đây là thời kỳ người dân Phi di dân sang Hoa Kỳ nhiều nhất. Sau Đệ nhị Thế chiến và nhất là sau chiến tranh Việt Nam,  số người Á Châu, nhất là từ các nước Đông Nam Á, lại càng gia tăng. Hiện nay, cộng đồng người Mỹ gốc Á Châu được xem là nhóm sắc tộc gia tăng nhanh nhất tại Hoa Kỳ. Với đà gia tăng và những dị biệt ngày càng lớn, nhiều vấn đề được nêu lên khi nói về người Mỹ gốc Á Châu.
Ông Sarah Suong, Giám đốc điều hành của Phong trào Sinh viên có tên là Providence dành cho giới trẻ gốc Đông Nam Á tại Rhode Island, nói rằng với tư cách là một người tỵ nạn Cam Bốt, ông thường cảm thấy như mình không thuộc về nhóm người Mỹ gốc Á Châu. Ông Suong cho biết: do thất bại ở trường học, bị xách nhiễu, bị cảnh sát theo dõi, bị giam tù...nhiều người như ông luôn cảm thấy mình bị loại trừ bởi chính người Mỹ gốc Á Châu. Có khi chỉ vì màu da của mình.
Thật ra không riêng gì một số người tỵ nạn Cam Bốt như ông Suong, mà nhiều người di dân Nam Á cũng đều tự hỏi họ có thuộc về nhóm người Mỹ gốc Á Châu không. Nhìn kỹ, khác với lục địa Phi Châu, vốn ít hay nhiều có cùng một màu da hay người Âu Châu hoặc một số nước Trung Đông vốn giống nhau về màu “da trắng”, người Mỹ gốc Á châu thì trái lại rất đa dạng. Không thể lầm lẫn người Hoa da vàng với người Ấn độ hay người Nam Á có nước da đen. Do đó, nhiều người gốc Á Châu tại Hoa Kỳ không dễ dàng nhìn nhận mình thuộc về cộng đồng người Mỹ gốc Á Châu. Sau cuộc khủng bố ngày 11 tháng Chín năm 2001, nhiều người Mỹ gốc Nam Á như Ấn Độ, Bangladesh, Pakistan...cảm thấy lo sợ hơn nhiều người Mỹ gốc Á Châu khác chỉ vì niềm tin tôn giáo và màu da của họ.
Nhìn chung, cộng đồng di dân và hậu duệ người di dân từ Á Châu ngày càng đa dạng. Nếu còn liên kết với nhau thì có lẽ người Mỹ gốc Á Châu chỉ liên kết để chống lại kỳ thị, xách nhiễu, thành kiến và bất công trong xã hội Mỹ mà thôi.


(nguồn:
-https://www.nbcnews.com/news/asian-america/after-50-years-asian-american-advocates-say-term-more-essential-
- https://www.google.com.au/search?q=asian+american)


Thứ Sáu, 8 tháng 6, 2018

Chỉ cần lòng bác ái và kính trọng



Chu Thập
01/06/18
Tôi không thuộc phe bảo hoàng. Nhưng cũng như nhiều “thần dân” Úc, tôi đã háo hức chờ đợi và say mê theo dõi đám cưới của hoàng tử Harry và cô Meghan Markle.
Đám cưới vương giả nào cũng “hoành tráng”. Nghi thức nào cũng trang trọng. Khách mời nào cũng đều là những nhân vật nổi tiếng. Nhưng tôi lại thích những chi tiết nhỏ ít được chú ý đến hơn. Chẳng hạn như sự hiện diện của một người thanh niên Nam Phi được chính hoàng tử Harry mời đến tham dự lễ cưới của mình.
Năm 2004, Harry đã đến Nam Phi để làm việc thiện nguyện trong một cô nhi viện để gây ý thức về dịch bệnh Sida, tình trạng nghèo đói và nạn hạn hán mà Thành phố Lesotho đang phải đối diện. Chính tại đây mà Harry đã gặp cậu bé 4 tuổi tên là Mutsu. Họ đã trở thành đôi bạn luôn có mặt bên nhau trong những hoạt động từ thiện của Harry.
14 năm sau, nay đã là một thanh niên 18 tuổi, Mutsu đã được vinh dự có mặt trong ngôi vườn bên cạnh nguyện đường St George để chào đón hoàng tử Harry và tân nương.
Vào giữa lúc trào lưu chống di dân và kỳ thị chủng tộc tại Anh Quốc và một số nước Âu Châu đang lớn mạnh, tôi đoán chừng hoàng tử Harry muốn gởi đi một thông điệp khi mời người thanh niên Nam Phi tham dự lễ cưới của mình. Thông điệp của hoàng tử Harry lại càng rõ nét hơn qua chính con người của cô dâu. Hậu duệ của người nô lệ da đen tại Hoa Kỳ không những ngồi đồng bàn với con cháu của các chủ nhân da trắng, mà còn trở thành công nương của Hoàng gia Anh.
Một người da đen khác mà tôi cho là “cái đinh” của đám cưới chính là bà Doria Ragland, mẹ của cô dâu. Bà là thân nhân duy nhứt của cô dâu có mặt trong đám cưới. Sự sang trọng và quý phái của hoàng gia Anh  dường như đã lu mờ trước làn da đen nổi bật của bà. Nhưng có lẽ cái tâm của người phụ nữ da đen 61 tuổi này mới là điều đáng được chú ý hơn. Cô dâu Meghan vẫn thường được mẹ gọi là “Flower”. Nụ cười khả ái và nhân ái của cô chính là một “đóa hoa” xuất phát  từ tấm lòng của người mẹ. Viết về mẹ mình, Meghan kể lại rằng bà thường “mua gà tây gởi đến các trung tâm dành cho người vô gia cư vào những dịp lễ Tạ ơn, mang thức ăn đến cho các bệnh nhân trong các nhà thương dành cho người nghèo, mở ví để san sẻ với những người túng thiếu và âm thầm thực thi những cử chỉ tử tế như trao một cái hôn, một nụ cười hay một cái vỗ vai để an ủi và nâng đỡ tinh thần những người cần được giúp đỡ”.
Khi ông bà Markle chia tay, Meghan chỉ mới 6 tuổi. Cô đã hoàn toàn sống với  mẹ từ ngày ấy. Lòng nhân ái của bà Ragland đã ảnh hưởng rất nhiều đến những hoạt động từ thiện của Meghan, nhờ đó cô đã chiếm được trái tim của hoàng tử Harry. Cô chia sẻ về ảnh hưởng của người mẹ: “Càng lớn tôi càng nhìn thấy điều đó. Chính điều đó biến tôi thành một thiếu nữ có ý thức về (những vấn đề) xã hội, để làm những gì mình có thể làm hay ít nhứt, dám lên tiếng khi thấy có điều sai trái”.
Là “cái đinh” trong hôn lễ, nhưng bà Ragland hoàn toàn giữ thinh lặng. Nhưng tôi cho rằng tất cả những gì bà Ragland muốn nhắn gởi, bà đã nói qua Giám mục Michael Curry, một người da đen hiện đang lãnh đạo Giáo hội Anh Giáo Episcopal tại Hoa Kỳ. Được mời thuyết giảng trong lễ cưới, Giám mục Curry đã mở đầu bằng một câu nói của cố Mục sư Martin Luther King: “Chúng ta cần phải khám phá ra sức mạnh của tình yêu. Đó là sức mạnh cứu rỗi của tình yêu. Và khi chúng ta yêu thương, chúng ta sẽ làm cho thế giới này thành một thế giới mới. Tình yêu là con đường duy nhứt”. Không những nhắc đến tên của vị mục sư da đen nổi tiếng đã bị sát hại vì tranh đấu cho quyền bình đẳng của người da đen tại Hoa Kỳ, Giám mục Curry cũng gợi lại cả một lịch sử đen tối của người nô lệ Phi Châu.
Với sự hiện diện của bà Ragland trong lễ cưới, dường như nguyện đường St George đã tràn ngập màu đen của cả một lục địa đã từng bị cướp bóc, chiếm đoạt và bắt làm nô lệ. Ca khúc “Stand by me” (Hãy đứng bên tôi) được một ca đoàn gồm toàn người da đen cất hát trong lễ cưới có lẽ cũng muốn gợi lại những trang sử đen tối ấy. Cuối cùng, ở cuối buổi lễ, khi người nhạc sĩ đại hồ cầm  da đen 19 tuổi tên là Sheku Kanneh-Mason trình diễn, tôi nghe như tiếng kêu gào của người nô lệ da đen trong quá khứ và niềm đau của hậu duệ của họ, những người cho tới nay vẫn tiếp tục bị kỳ thị và đẩy ra bên lề xã hội.
Như Ký giả Afua Hirsch đã viết về đám cưới của Harry và Meghan trong Tạp chí Time số ra ngày 4 tháng Sáu này, “đối với một số người Anh da đen, đây là một điều đáng hãnh diện vì có một người phụ nữ da màu gia nhập vào hoàng gia. Nhưng đối với một số người khác, cuộc hôn phối này cũng gợi lên cả một thành kiến lâu đời về giai cấp”.
Thật ra, như Ký giả Hirsch đã ghi nhận, cũng như rất nhiều nước khác trên thế giới, Anh quốc cũng đã từng là đất nước của người di dân. Nhiều người Anh quên rằng những nhóm người da trắng được xem là dân “bản địa” chính cống như người Anglo hay người Saxon, cũng đã từng là người di dân từ Đức hay các nước Bắc Âu. Trước họ, ngay từ thời Anh Quốc bị Đế quốc La Mã cai trị, người da đen cũng đã có mặt trên đất nước này.
Nói chung, con người ta dễ quên lịch sử và gốc gác của họ. Chính vì quên lãng lịch sử và gốc gác của mình mà họ dễ có thái độ kỳ thị, khinh miệt và loại trừ người di dân. Trong một bài viết được đăng trên Việt Báo, Giáo sư Nguyễn Thanh Việt, tác giả của quyển tiểu thuyết “The Sympathizer” (cảm tình viên) được trao giải Pulitzer năm 2016, đã phân tách thái độ ấy khi nhận định về một câu nói của ông John Kelly, đương kim Chánh Văn Phòng Tòa Bạch Ốc. Khi mô tả những người di dân bất hợp pháp đến từ Châu Mỹ La Tinh, ông Kelly nói rằng “họ hầu hết là dân quê mùa. Họ đến từ những xứ mà bình thường trình độ học vấn chỉ đến lớp bốn, năm hoặc sáu. Họ không nói được tiếng Anh. Họ khó mà hội nhập được. Họ đâu có kỹ năng chuyên môn nào” (x. Nguyễn Thanh Việt, Tiền bối của John Kelly cũng không thể hội nhập, Việt Báo on line 23/5/2018).
Ông Kelly nhìn nhận rằng người di dân có lý do để tìm đến Hoa Kỳ. Ông thông cảm với họ. Nhưng theo ông “luật là luật”. Dù sao, giọng điệu của ông Kelly nghe chưa đến nỗi hằn học và miệt thị như Tổng thống Donald Trump. Ông Trump đã từng gọi các nước Phi Châu là “những nước hố xí” (Shithole countries) và mới cách đây hai tuần, như Giáo sư Việt ghi nhận, ông đã gọi một số di dân bất hợp pháp là “đồ súc vật”.
Không riêng những người kỳ thị chủng tộc và chống di dân ra mặt, theo Giáo sư Việt, “ngay cả một số bạn bè Việt-Mỹ của tôi, những người mà, dù đã đến đất nước này dưới dạng di tản tỵ nạn chiến tranh, cũng cho rằng Hoa Kỳ không nên nhận thêm bất cứ người tỵ nạn nào nữa, nhất là những người từ các nơi như Syria. Một vài người, như ông thị trưởng Mỹ gốc Việt của Thành phố Westminser, California, nơi đông đảo dân Việt hải ngoại cư ngụ nhất, còn kêu lên rằng Hoa Kỳ không nên nhận thêm bất cứ người di dân trái phép nào nữa, vì trong bọn họ có cả “bọn tội phạm”. Chúng ta là những người tỵ nạn lương thiện, họ lập luận như vậy. Còn dân mới đến là những người tỵ nạn xấu”.
Thật ra, như Giáo sư Việt ghi nhận, “trong những thập niên 1970 và 1980, tôi có thể chứng nhận rằng đã có rất nhiều người tỵ nạn xấu trong chúng ta. Gian lận phúc lợi. Lừa gạt bảo hiểm. Hối lộ. Bạo lực băng đảng, với biệt tài riêng đột nhập tư gia”.
Cộng đồng người Việt hải ngoại nhìn chung đã hội nhập một cách thành công vào các xã hội Tây Phương. Nhưng ở khởi đầu, khi mới chân ướt chân ráo đặt chân đến một đất nước xa lạ, hầu hết đều là những người có trình độ thấp, không nói được ngôn ngữ của đất nước đón nhận mình. Giáo sư Việt kể lại rằng “mẹ ông đã vươn lên từ cảnh quê mùa nghèo khổ để trở thành một thương gia thành công qua những quyết định rất liều lĩnh, trong đó quyết định đầu tiên là rời miền Bắc di cư vào Nam năm 1954”, rồi di tản qua Mỹ năm 1975. Bà không thạo tiếng Anh, nhưng trong công việc bà đã giỏi đủ để đóng góp tiền thuế nhiều hơn nhiều người Mỹ. Giáo sư Việt còn kể lại rằng “nhiều người Mỹ coi bà chỉ là một kẻ ngoại cuộc, kể cả cái người đã treo bảng trên cửa sổ một tiệm gần tiệm thực phẩm của bố mẹ tôi tại San  José: “Thêm một người Mỹ mất kế sinh nhai vì dân Việt”.
Giáo sư Việt là một người đã thành công trong xã hội Mỹ. Nhưng ông vẫn tự nhận mình là một trong những người Mỹ gốc Việt đã không hề quên mình, biết  đồng hành với những người di dân và tỵ nạn, với người nghèo khổ và bị bỏ rơi, những người với hoàn cảnh rất giống mẹ ông.
Mới đây, một người di dân bất hợp pháp gốc Mali, Phi Châu tên là Mamoudou Gassama,  đã được tổng thống Pháp vinh danh như một anh hùng và được cấp quyền công dân sau khi anh đã leo lên nhiều tầng lầu để cứu một đứa bé 2 tuổi đang đánh đu trên một lan can. Thước phim quay lại cảnh người thanh niên đã liều mạng để cứu sống đứa bé đã được nhanh chóng truyền đi khắp thế giới. Anh được tặng cho danh hiệu “Spider-Man” (người nhện). Người di dân bất hợp pháp này xứng đáng để được tuyên dương như một anh hùng và được trao quyền công dân.  Không phải người di dân bất hợp pháp nào tại Pháp, Hoa Kỳ hay bất cứ quốc gia Tây Phương  nào cũng đều là “anh hùng” cả. Phần lớn, như Chánh Văn Phòng Tòa Bạch Ốc đã nói, có thể chỉ có trình độ tiểu học. Nhưng cũng như bà mẹ của Giáo sư Việt và vô số ông bà tổ tiên của người di dân và tỵ nạn, trong đó có tiền bối của ông Kelly và ngay cả ông nội của Tổng thống Trump, dù ở bước đầu không thành thạo ngôn ngữ của quê hương mới, họ vẫn cố gắng vươn lên, tạo cho mình một cuộc sống xứng với phẩm giá con người, đóng góp cho đất nước, chuẩn bị và gầy dựng nên những thế hệ tương lai tốt đẹp.
Viết về mẹ mình và những cố gắng hội nhập của mẹ mình trong xã hội mới, Giáo sư Việt kết luận: “Bà có cần đâu lòng thương hại hay sự hổ thẹn của tôi. Chỉ cần lòng bác ái và sự kính trọng”.
Người di dân, tỵ nạn hay bất cứ một thành phần nào bị kỳ thị và đẩy ra bên lề xã hội...không cần lòng thương hại hay sự hổ thẹn của tôi. Họ “chỉ cần lòng bác ái và kính trọng”. Đó là thông điệp mà tôi nghe được  từ đám cưới của hoàng tử Harry và cô Meghan Markle.







Thứ Hai, 4 tháng 6, 2018

Anh Ngữ trong thời đại toàn cầu hóa



01/06/18
Trong nhiều màn quảng cáo trên đài truyền hình cho Giải Túc Cầu Thế Giới sẽ khai mạc tại Nga vào ngày 12 tháng Sáu tới đây, người ta thường thấy câu “We all speak Football”. Nếu thế câu này bằng “We all speak English” (Tất cả chúng ta đều nói tiếng Anh) thì cũng chẳng sai chút nào. Ngày nay Anh ngữ là ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất thế giới.
Nhưng điều đáng ngạc nhiên hơn cả là nếu hỏi nước nào có nhiều người nói tiếng Anh nhất hay có nhiều người học Anh ngữ nhất, câu trả lời sẽ là:Trung Cộng!
Theo một cuộc nghiên cứu được nhà xuất bản Cambridge University Press cho công bố, hiện có trên 350 triệu người dân Trung Cộng có ít hay nhiều kiến thức về Anh ngữ. Còn riêng tại Ấn Độ, con số này cũng lên đến cả trăm triệu.
Tại Trung Cộng, có lẽ có nhiều người nói tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai hơn số người Mỹ sử dụng nó như tiếng mẹ đẻ. Tại Hoa Kỳ, có khoảng một phần năm dân số sử dụng một ngôn ngữ khác với Anh ngữ.
Nhưng hiện nay vấn đề đang được đặt ra cho Anh ngữ là: ngôn ngữ này có còn là tiếng nói được ưa chuộng nhất thế giới nữa không? Theo tổ chức Diễn đàn Kinh tế Thế giới, hiện có khoảng 1.5 tỷ người trên thế giới đang sử dụng Anh ngữ. Nhưng trong số này không có tới 400 triệu sử dụng nó như ngôn ngữ chính của họ.
Dĩ nhiên, không chỉ có một thứ Anh ngữ thuần nhất. Ngay cả tại Anh. Tại thành phố cảng Portsmouth chẳng hạn, người dân vẫn còn sử dụng thổ ngữ “Pompey” riêng của họ.
Anh ngữ hiện vẫn còn là ngôn ngữ được ưa chuộng và sử dụng nhiều nhất, nhất là khi 2 người đối thoại không nói cùng một ngôn ngữ. Hãy thử tưởng tượng một cuộc nói chuyện giữa một người Trung Hoa không biết tiếng Pháp và một người Pháp không biết tiếng Trung Hoa. Nếu có một thứ tiếng chung mà họ có thể sử dụng để giao thiệp với nhau thì tiếng đó thường là Anh ngữ.
Cách đây 5 năm, đó là hoạt cảnh thường xảy ra. Nhưng nay thì không. Nhờ những tiến bộ của việc dịch thuật bằng máy điện toán  và kỹ thuật nhận diện tiếng nói, hai bên có thể giao dịch với nhau bằng tiếng mẹ đẻ của mình mà vẫn nghe và hiểu được người đối diện của mình.
Như vậy, Anh ngữ ngày càng không còn là ngôn ngữ toàn cầu nữa. Gặp một bản văn Anh ngữ trên máy vi tính, chỉ cần ấn nút để chuyển ngữ, người ta đã có thể đọc được bằng một thứ tiếng khác. Nếu máy vi tính có thể làm được công việc chuyển ngữ, vậy thì cần gì phải nhọc công để học Anh ngữ nữa?
Hiện tại nếu bạn muốn giao dịch làm ăn trên quy mô thế giới hay chơi các trò chơi điện tử mới nhất hoặc nghe những bản nhạc kích động mới nhất...có thể bạn sẽ gặp khó khăn nếu bạn không nói được Anh ngữ. Nhưng mọi sự đã thay đổi và thay đổi nhanh chóng.
Tại trường Đại học Stanford, Tiểu bang California, Hoa Kỳ, Giáo sư Wonkyum Lee, một chuyên gia điện toán hiện đang giúp phát triển kỹ thuật phiên dịch và nhận diện tiếng nói. Kỹ thuật này tiến bộ đến độ khi nói chuyện điện thoại với một trung tâm giao dịch, bạn sẽ không biết mình đang nói chuyện với một người thật hay với một máy điện toán.
Christoper Manning, một giáo sư về ngữ học và điện toán cũng thuộc Đại học Stanford, tin rằng trong tương lai việc dịch thuật trên máy điện toán nếu không tốt hơn thì chí ít cũng bằng việc thông ngôn của người thật.
Nhưng đây không chỉ là thách đố duy nhất mà Anh ngữ đang phải đối diện. Bởi vì ngày càng    nhiều người nói tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai hay thứ  ba của họ, cho nên Anh ngữ cũng ngày càng bị pha trộn với ngôn ngữ địa phương. Chỉ riêng tại Ấn Độ, ngoài  giọng nói đặc trưng của mỗi miền, người ta còn nghe nhiều thứ Anh ngữ pha trộn với tiếng địa phương như Hinglish, Benglish và Tanglish. Bên Phi Luật Tân cũng vậy, người dân vẫn thích nói thứ tiêng Anh mà họ gọi là Taglish. Đây là thứ Anh ngữ được pha trộn với ngôn ngữ chính của người Phi  là Tagalog.  Ngay cả tại Hoa Kỳ, nhiều người Mỹ gốc Châu Mỹ La Tinh, khi nói tiếng Anh cũng pha trộn nó với ngôn ngữ của cha ông họ. Họ gọi thứ ngôn ngữ được pha trộn với tiếng Tây Ban Nha ấy là Spanglish.
Ngôn ngữ không chỉ là một phương tiện để thông tin và truyền đạt. Nó còn là thể hiện của bản sắc của con người. Ngôn ngữ nói lên ý thức về bản sắc của mỗi người. Thi sĩ Josiah Luis Alderete, vốn sinh trưởng  tại Thành phố San Francisco, Tiểu bang California, thích làm thơ bằng tiếng Spanglish. Ông gọi đây là ngôn ngữ của phản kháng. Theo ông,  đây là cách thế người Mỹ gốc Tây Ban Nha bày tỏ sự gắn bó và niềm kiêu hãnh của họ đối với di sản văn hóa của họ, ngay cả khi họ sinh trưởng và lớn lên tại Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ.
Sở dĩ Anh ngữ đã “thống trị” thế giới là nhờ hai cường quốc mạnh nhất thế giới là Hoa Kỳ và Anh Quốc. Ở khởi đầu, Anh ngữ chỉ là một thổ ngữ được nói nhiều tại miền tây Đức. Từ giữa thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ thứ 7 sau Công nguyện, thổ ngữ này được người Anglo Saxon mang theo khi đi định cư tại Anh. Vào thế kỷ thứ 8 và thứ 9, một phần lãnh thổ Anh bị người Bắc Âu và người Norman từ Pháp chinh phục. Được pha trộn với thổ ngữ của những giống dân này, ngữ vựng và văn phạm Anh ngữ  đã trở nên phong phú hơn. Nhưng phải đợi đến khoảng năm 1500, Anh ngữ được văn hào William Shakespeare sử dụng mới được trau chuốt hơn, nhờ vay mượn từ tiếng La Tinh và cổ ngữ Hy Lạp cũng như nhiều ngôn ngữ Âu Châu khác như tiếng Pháp, tiếng Đức và tiếng Hòa Lan. Cách phát âm cũng chịu nhiều thay đổi trong thời kỳ này. Nhưng phải đợi sang thế kỷ 17 Anh ngữ mới thực sư thay da đổi thịt để trở thành Anh ngữ hiện đại như ngày nay. Đây là thứ Anh ngữ đã được Đế quốc Anh xuất cảng sang các nước thuộc địa và trở thành ngôn ngữ chính tại Anh và Ái Nhĩ Lan, Hoa Kỳ và Gia Nã Đại, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan và nhiều nước cựu thuộc địa khác. Với thế lực của Hoa Kỳ, Anh ngữ đã trở thành ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất trên thế giới trong hậu bán Thế kỷ 20. Ngay tại Âu Châu là nơi trước đây Pháp ngữ và La Tinh được xem như ngôn ngữ ngoại giao và kinh doanh, nay đành phải nhường ngôi lại cho Anh ngữ. Ngoài ảnh hưởng của Anh quốc và Hoa Kỳ, các nhà truyền giáo Anh thoại của các Giáo hội Kitô cũng góp phần rất lớn trong việc quảng bá Anh ngữ. Ngày nay, thế giới toàn cầu hóa lại càng làm cho chỗ đứng ưu biệt của Anh ngữ ngày càng nổi bật hơn.
Nhưng nay, nhất là với sự vươn lên của Trung Cộng như đệ nhị  siêu cường kinh tế, địa vị thống trị của Anh ngữ xem ra ngày càng bị lung lay.
Nếu bạn là một người trẻ sinh ra và lớn lên tại vùng Hạ Sahara, bên Phi Châu, có lẽ bạn nên học tiếng Quan Thoại và tìm việc làm tại Trung Cộng hơn là bám vào Anh ngữ chỉ mới ở trình độ trung học và hy vọng tìm được việc làm ở Hoa Kỳ hay Anh Quốc.
Ngay cả tại Hoa Kỳ, học tiếng Quan Thoại hiện cũng đang là thời thượng. Năm 2015, theo thống kê, con số học sinh trung học học tiếng Trung Hoa đã tăng gấp đôi trong vòng 2 năm. Ở cấp đại học, trong thập niên vừa qua, số sinh viên học tiếng Trung Hoa cũng đã tăng gấp đôi.
Tuy nhiên, tại Uganda, Phi Châu, mọi môn học trong tất cả các trường trung học đều phải được dạy bằng Anh Ngữ và một số phụ huynh dạy Anh ngữ cho con cái họ như tiếng mẹ đẻ của chúng. Trong một cuộc nghiên cứu do Cơ quan Ngữ học Thế Giới thực hiện,  Uganda được xếp vào hạng nhất trong các nước nói tiếng Anh hay nhất tại Phi Châu. Sau Uganda là các nước Nam Phi, Nigeria, Kenya và Namibia. Mặc dù nói tiếng Anh theo giọng đặc trưng của họ, người dân Nigeria được xem là những người nói tiếng Anh chuẩn nhất nếu xét về văn phạm và cách đặt câu. Tổng cộng tại Phi Châu. Lục địa Phi Châu có tất cả 54 quốc gia, trong số này có 24 nước nói tiếng Anh. Một số nước cựu thuộc địa của Pháp cũng muốn chuyển sang Anh ngữ. Như trường hợp Rwanda chẳng hạn: trong một cuộc thi hoa hậu thế giới, hoa hậu nước này đã phải vất vả để nói tiếng Anh; đây là lý do khiến nước này quyết định chuyển từ Pháp thoại sang Anh thoại.  
Không riêng Phi Châu, tại nhiều vùng khác trên thế giới, Anh ngữ vẫn còn được xem như một thứ “hộ chiếu” dẫn đến thành công. Việt Nam không là một ngoại lệ. Người Việt trong nước hiện nay rất “sính” tiếng Anh. Thời Pháp thuộc, nhiều người Việt ,trong khi nói chuyện, tuy chưa bao giờ học tiếng Pháp, vẫn thích đệm vài câu, vài chữ tiếng Pháp vào tiếng Việt. Ngày nay cũng vậy, trong văn từ hay trong đàm thoại, nhiều người cũng thích “xổ” tiếng Anh, mặc dù có thể không nắm vững ý nghĩa của những chữ ấy. Nói chung, người Việt trong nước hiện đua nhau học Anh ngữ. Các trung tâm dạy Anh ngữ mọc lên như nấm. Học tiếng Anh không chỉ để chuẩn bị xuất ngoại, đi du học, tìm việc làm ở nước ngoài, nhiều người học để giao dịch và làm ăn ngay trong nước. Như báo Thanh niên đã có lần ghi nhận: “Có những người chưa từng được học qua bất kỳ trường lớp ngoại ngữ nào, cũng chưa từng đi nước ngoài. Vậy mà họ vẫn có thể tiếp và “bắn” tiếng Anh “như gió”. Có thể bạn không tin, nhưng đó là câu chuyện  “mưu sinh” có thật của những chú xe ôm, nhưng tiểu thương hay thậm chí chỉ là những người bán hàng rong quanh khu chợ Bến Thành.” Theo báo Thanh niên, tại Chợ Bến Thành vào một ngày cuối tuần, cảnh tượng đầu tiên đập vào mắt là lượng khách nước ngoài đông đến...nghẹt thở. Từ hàng quần áo, giày dép cho đến hàng quà lưu niệm, khu hàng ẩm thực...đâu đâu cũng thấy khách Tây nhiều hơn khách ta. Do đó, cần phải biết “chút” tiếng Anh để giao dịch với người ngoại quốc. Một bà chủ tiệm quần áo giải thích rằng nói tiếng Anh là chuyện bình thường của người buôn bán. Theo bà, buôn bán với khách đa quốc tịch thì người bán cũng phải lận lưng vài ngôn ngữ làm vốn. Nhiều người còn biết cả tiếng Thái, tiếng Pháp, tiếng Hàn nữa. Nhưng hầu như ai cũng rành tiếng Anh vì nói tiếng Anh thì khách nào cũng biết; họ nghe mình chào hàng bằng tiếng Anh thì lại càng thích mua hàng của mình nhiều hơn.
Nhìn chung, với hiện tượng toàn cầu hóa hiện nay, Anh ngữ vẫn tiếp tục là ngôn ngữ “thống trị” trên thế giới. Kỹ thuật thông dịch trên máy điện toán, các ngôn ngữ “lai căng” ngày càng được quảng bá, thế vươn lên của Trung Cộng...có thể đó là những thách đố mà Anh ngữ đang phải đương đầu. Cũng như mọi ngôn ngữ, Anh ngữ cần phải không ngừng thay đổi và thích nghi với những nhu cầu mới. Nhưng nó vẫn còn là ngôn ngữ được ưa thích và sử dụng nhiều nhất trên thế giới hiện nay.


(nguồn:
-http://www.bbc.com/news/world-
-https://africa-facts.org/english-speaking-countries-in-africa/
-https://en.wikipedia.org/wiki/History_of_English)

Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2018

Đứng về phía con người



Chu Thập
Tuần qua, tôi có dịp đi thăm một người dì trong một viện dưỡng lão. Dì tôi được cho ở trong một căn phòng riêng tương đối yên tĩnh, nhờ đó, như dì khoe, dì có điều kiện để chú tâm vào việc đọc kinh và cầu nguyện suốt ngày. Nhưng trong suốt buổi nói chuyện với dì tôi không cảm thấy thoải mái. Cứ năm ba phút dì lại xem đồng hồ đeo tay, nhìn lên bức chân dung khá lớn của Chúa Giêsu trên tường. Dì cho biết: ngày nào cũng như ngày nào, cứ đúng 3 giờ chiều là giờ Chúa Giêsu trút hơi thở cuối cùng trên thập giá, dì quỳ xuống và giang tay cầu nguyện, nhứt là cầu nguyện cho những người không chịu hay không biết cầu nguyện. Không nói ra nhưng có lẽ dì cũng cho tôi vào danh sách những người “nguội lạnh” ấy.  Gần đây, dì cầu nguyện nhiều hơn vì theo dì, “tận thế” sắp tới nơi rồi; loạn lạc, chiến tranh và đủ thứ tai họa cũng như sa đọa của con người là những điềm báo về ngày “tận thế”.
Tôi không ngạc nhiên vì sao dì tôi nhìn mọi biến cố đang xảy ra trên thế giới dưới lăng kính của ngày tận thế. Mỗi ngày chúa nhựt, khi đến nhà thờ, người tín hữu Kitô nào mà chẳng tuyên xưng rằng “ngày sau hết”, tức ngày tận thế, Chúa Giêsu sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét người đang sống cũng như kẻ đã chết. Nhưng chẳng ai biết được khi nào ngày tận thế sẽ đến. Lúc nhỏ, tôi thường nghe người lớn nói rằng ngày tận thế sẽ xảy ra vào năm 2000. “Con bọ Y2K” hồi năm 2000 đã khiến cho nhiều người lo sốt vó. Vậy mà cuối cùng ngày tận thế có đến đâu!
Ở tuổi ngoài 80, dì tôi vẫn còn tỏ ra “ngang tầm thời đại”. Chỉ vào màn ảnh truyền hình treo trên tường, dì cho biết chuyện gì xảy ra trên thế giới, dì cũng đều biết cả. Không biết khi theo dõi thời cuộc, dì tôi có biết chuyện hôm 14 tháng Năm vừa qua, Tổng thống Trump đã cho dời tòa Đại sứ Mỹ từ Tel Aviv về Jerusalem không. Với quyết định này, dù cho cả thế giới có chống đối cỡ nào, tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ vẫn ngang nhiên nhìn nhận cổ thành này là thủ đô của Israel. Nếu biết chuyện chắc dì tôi sẽ rất tâm đắc, bởi vì việc dời tòa đại sứ Mỹ về Jerusalem và chính thức nhìn nhận cổ thành này như thủ đô của Israel là một ứng nghiệm của một lời tiên tri trong Kinh Thánh của Do Thái và Kitô Giáo theo đó, khi người Do Thái tản mác khắp nơi trở về Jerusalem thì ngày đó chính là  ngày “thế tận” (Armageddon), ngày Chúa trở lại, ngày “con cái Chúa” được cứu thoát và dân “ngoại đạo” sẽ bị trừng phạt.
Tôi không tin rằng Tổng thống Trump “đạo đức” đến độ quyết định cho dời tòa Đại sứ Mỹ về Jerusalem để làm cho ngày “thế tận” mau xảy đến và “con cái Chúa” chóng được giải thoát. Với Tổng thống Trump, dời tòa Đại sứ Mỹ về Jerusalem là chỉ  để thực thi một lời hứa trong chiến dịch bầu cử mà ông đã cam kết với các “nhóm lợi ích” ủng hộ Israel và nhứt là những thành phần cơ bản dồn phiếu cho ông là các tín hữu Tin Lành bảo thủ. Theo các cuộc thăm dò, có đến 80 phần trăm các tín hữu Tin Lành bảo thủ đã dồn phiếu cho ứng cử viên Trump và hiện nay vẫn tiếp tục “sống chết” cho ông. Họ tin rằng ông là vị cứu tinh được Chúa gởi đến. Ông là khí cụ được Chúa sử dụng để thực hiện lời hứa của Ngài về ngày “thế tận”.
Cá nhân Tổng thống Trump có thể không phải là một tín hữu Tin Lành mẫu mực. Ông ít khi đến nhà thờ. Ông có 2 lần ly dị và 3 lần cưới vợ. Ông dính vào nhiều vụ bê bối tình dục. Ông mở nhiều sòng bạc. Ông lại khoe khoang và nhứt là nói dối như cuội. Ông cũng từng tuyên bố rằng ông chẳng bao giờ xin Chúa tha thứ cho mình. Nhưng các tín hữu Tin lành bảo thủ không màng đến tư cách của ông. Đối với họ chỉ có một điều quan trọng: ông là người được Thiên Chúa “tuyển chọn” để thực hiện kế hoạch của Ngài. Họ lý luận rằng trước bầu cử ai cũng nghĩ ứng cử viên Trump sẽ không bao giờ có thể đắc cử, nhưng ông đã chiến thắng một cách vẻ vang. Điều đó chứng tỏ rằng chẳng có Nga hay thế lực ngoại bang nào can thiệp vào cuộc bầu cử cả. Theo họ, Thiên Chúa đã làm phép lạ. Thiên Chúa đã  tuyển chọn ông. Cách đây 2500 năm, người Do Thái đã từng bị đày sang Babylone. Theo Kinh Thánh, chính vua Ba Tư là Cyrus đã ra lệnh chấm dứt cuộc lưu đày, đưa họ trở về Palestine và truyền lệnh cho tái thiết Đền thờ Jerusalem. Kinh Thánh xem vua Cyrus như một người được Thiên Chúa tuyển chọn để giải thoát người Do Thái khỏi cảnh lưu đày và đưa họ trở về quê cha đất tổ. Không riêng người Do Thái mà các tín hữu Tin Lành bảo thủ ngày nay cũng xem Tổng thống Trump như một vua Cyrus của thời đại được Thiên Chúa tuyển chọn để đưa dân Do Thái trở về Palestine. Tại Trung tâm Giáo dục “The Mikdash Educational Center” ở Israel, người ta thấy có một bức phù điêu trên đó chân dung của Tổng thống Trump và vua Cyrus chập vào nhau như bóng với hình. Chính Thủ tướng Israel, ông Benjamin Netanyahu cũng đã so sánh Tổng thống Trump với vua Cyrus và nói rằng với quyết định dời tòa Đại sứ Mỹ về Jerusalem, Tổng thống Trump “sẽ được dân tộc chúng tôi (Do Thái) muôn đời tưởng nhớ”.
Có lẽ Tổng thống Trump không đơn phương quyết định dời tòa Đại sứ Mỹ về Jerusalem. Xung quanh ông toàn là những người  được tác động bởi một niềm tin vững chắc vào ngày “thế tận” và ngày “thế tận” chỉ có thể xảy ra bằng lò lửa chiến tranh tại Trung Đông. Với những người này, chiến tranh tại Trung Đông có bùng nổ thì “thế tận” mới đến. Một trong những người ấy là Phó tổng thống Mike Pence. Không cần phải úp mở, ông là người đã từng tuyên bố thẳng thừng rằng chiến tranh tại Trung Đông là do “thánh ý” của Thiên Chúa, rằng Thiên Chúa muốn vùng đất Palestine phải được trao trả lại cho dân tộc Do Thái và ngày “thế tận” (Armageddon) là một phần trong kế hoạch của Thiên Chúa. Theo ông, dời tòa Đại sứ Mỹ về Jerusalem và nhìn nhận Jerusalem là thủ đô của người Do Thái chính là góp phần thực hiện kế họach của Thiên Chúa.
Nhân vật thứ hai cũng được tác động bởi cùng một niềm tin như Phó tổng thống Pence không ai khác hơn là ông Steve Bannon, người đã từng là cố vấn thân cận và đáng tin tưởng nhứt của Tổng thống Trump. Ông này đã công khai tuyên bố rằng ông là thành viên của một nhóm tin lành bảo thủ tự xưng là “Phong trào Sion Kitô”, tức những người tin tưởng rằng ủng hộ Israel là thực thi kế hoạch của Thiên Chúa.
Nói chung tất cả các tín hữu Tin lành bảo thủ đều đặt niềm tin của họ vào lời hứa của Thiên Chúa với Tổ phụ Abraham của người Do Thái: “Ta chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi và ai nguyền rủa ngươi, ta sẽ nguyền rủa nó; và tất cả mọi dân tộc trên mặt đất đều sẽ được chúc phúc xuyên qua ngươi” (sách Sáng Thế Ký 12,3). Hiểu một cách đơn giản, lời hứa này có nghĩa là: “ngươi sẽ không làm điều gì xấu xa trước mặt Thiên Chúa nếu ngươi ủng hộ Israel”. Nói cách khác, đứng về phía Israel là đứng về phía Thiên Chúa. Suy rộng ra, Tổng thống Trump là người đứng về phía Israel, vậy Tổng thống Trump đứng về phía Thiên Chúa. Và vì là người luôn đứng về phía Thiên Chúa cho nên Tổng thống Trump được Thiên Chúa trao cho quyền muốn làm bất cứ điều gì ông muốn.
Một trong những nhà lãnh đạo tinh thần được Tổng thống Trump tin tưởng nhứt là Mục sư Robert Jeffress, người đang cai quản một đại thánh đường tại Dallas, Tiểu bang Texas. Trong một cuốn sách được ấn hành hồi năm 2014, vị mục sư này viết rằng Tổng thống Barack Obama là người dọn đường do “Quỷ vương” ra đời. Là người đã tích cực vận động cho ứng cử viên Trump trong cuộc bầu cử hồi năm 2016, Mục sư Jeffress  đã được Tổng thống Trump mời đến hướng dẫn một buổi cầu nguyện riêng trong gia đình ông vào buổi sáng ngày 20 tháng Giêng năm 2017, tức ngày ông tuyên thệ nhậm chức tổng thống. Trong rất nhiều bài giảng, vị mục sư này luôn to tiếng kết án tất cả mọi tôn giáo khác. Với ông, tất cả mọi tôn giáo khác làm cho con người xa lánh Thiên Chúa chân thật và dẫn đưa con người xuống hỏa ngục. Riêng Công giáo, ông khẳng định rằng đây là một Giáo hội do quỷ Satan lãnh đạo.
Phải là người đóng một vai trò quan trọng trong các quyết định sinh tử của Tổng thống Trump cho nên Mục sư Jeffress  mới được mời đến cầu nguyện trong buổi lễ khai trương tòa Đại sứ Mỹ tại Jerusalem. Trong lời cầu nguyện, ông cảm tạ Thiên Chúa vì đã ban tặng cho Israel, Hoa Kỳ và thế giới một món quà cao quý là Tổng thống Trump, người luôn đứng về phía Thiên Chúa bởi vì đứng về phía Israel.
Dì tôi đã có lý để cầu nguyện mỗi ngày vì nghĩ đến ngày “tận thế”. Ngay chính ngày Tổng thống Trump đứng về phía Thiên Chúa và Israel để dời tòa đại sứ Mỹ về Jerusalem, bạo động đã bùng nổ tại Palestine, nhiều người Palestine đã chết dưới bàn tay thô bạo của quân đội Israel. Có phải vì muốn cho người Do Thái được trở về Jerusalem mà Thiên Chúa đã phải mượn tay của Tổng thống Trump để gây ra đau thương tang tóc cho một số người và tạo ra căng thẳng và bạo động tại Trung Đông không?
Mỗi khi nghĩ đến “thánh ý” của Thiên Chúa hay kiểu nói “đứng về phía Thiên Chúa”, tôi không thể không nghĩ đến câu nói nổi tiếng của Tổng thống Abraham Lincoln (1809-1865) trong thời nội chiến tại Hoa Kỳ. Vị tổng thống này nói: “Điều tôi quan tâm không phải là Thiên Chúa có đứng về phía chúng ta không. Mối quan tâm lớn nhứt của tôi là tôi phải đứng về phía Thiên Chúa, bởi vì Thiên Chúa luôn luôn đúng”. Dĩ nhiên, Thiên Chúa luôn luôn đúng. Nhưng Thiên Chúa nào? Thiên Chúa của ai? Lịch sử thế giới đã chẳng cho thấy  có quá nhiều “Thiên Chúa” đó sao?
“Thiên Chúa” của người Do Thái đã tuyển chọn họ làm dân riêng và ra lệnh cho họ tiêu diệt mọi dân tộc khác. Khi giải phóng họ khỏi kiếp nô lệ bên Ai Cập, Thiên Chúa này đã ra lệnh cho họ giết  tất cả những đứa con trai đầu lòng của người Ai Cập. Như đã hứa với Tổ phụ Abraham của họ, Thiên Chúa này “nguyền rủa tất cả những ai nguyền rủa họ”.
Vào thế kỷ thứ 4 sau Công nguyên, khi Kitô Giáo trở thành quốc giáo trong Đế quốc La Mã, nhân danh Thiên Chúa, người ta cũng đã bách hại và tiêu diệt những ai không tin Thiên Chúa của mình. Cũng nhân danh Thiên Chúa ấy, người ta mở các cuộc thập tự viễn chinh để chống lại người Hồi giáo. Cũng nhân danh Thiên Chúa ấy, các hệ phái của Kitô Giáo tàn sát lẫn nhau và cũng nhân danh Thiên Chúa ấy, người ta đi khắp nơi để chiếm đất đai của những dân tộc khác và xóa sạch những truyền thống văn hóa nghìn đời của họ.
Ngày nay, cũng nhân danh Thiên Chúa của mình, các tổ chức khủng bố Hồi giáo tha hồ muốn giết ai thì giết. Tại nhiều nước Hồi giáo, người ta cũng nhân danh Thiên Chúa để cấm đoán, loại trừ và bách hại tất cả những ai không tin Thiên Chúa của mình.
Ngay từ trang đầu tiên, Kinh Thánh viết rằng “Thiên Chúa đã tạo thành con người”. Nhưng lịch sử nhân loại xem ra đã đảo lộn chân lý ấy thành “con người đã tạo thành Thiên Chúa” và đã o ép để bắt Thiên Chúa đứng về phía mình hơn là “đứng về phía Thiên Chúa” như Tổng thống Lincoln đã cam kết.
Có lẽ 2 di sản đáng ghi nhớ nhứt trong sự nghiệp chính trị của Tổng thống Lincoln chính là tranh đấu để giải phóng người nô lệ Phi Châu và kiến tạo sự hòa giải sau cuộc nội chiến tại Hoa Kỳ. Ông đã chứng tỏ mình muốn “đứng về phía Thiên Chúa” bằng hai nỗ lực cụ thể ấy.
Có thể tôi chối bỏ những “kiểu mẫu” Thiên Chúa mà người ta nặn ra, nhưng tôi tin rằng chính lúc tôi đứng về phía con người, nhứt là những con người không đủ khả năng để bảo vệ cho chính mình...đó là lúc tôi đứng về phía Thiên Chúa, một Thiên Chúa, như Chúa Giêsu dạy, là “Đấng cho mặt trời mọc lên soi sáng cho người xấu cũng như kẻ tốt và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất lương” (Mt 5,45). Có thể tôi không đến nhà thờ hay một nơi thờ phượng nào, nhưng khi tôi vẫn còn thấy mình có thể mềm lòng khi nhìn thấy người khác bị đối xử bất công, đói khổ, có thể rơi lệ khi thấy trẻ con mình mẩy đầy thương tích vẫn phải cố chạy thoát thân trong bom đạn, hay vẫn còn có thể phẫn nộ và đau khổ khi thấy mình không làm được gì cho những người bị đẩy ra bên lề...lương tâm tôi mách bảo tôi rằng tôi đang đứng về phía Thiên Chúa.
Tôi tin như vậy! Bởi vì qua họ, tôi thấy mình nhìn thấy gương mặt sống động của Thiên Chúa.