Thứ Tư, 21 tháng 2, 2018

Xách nhiễu tình dục: trái bom đã nổ tung trong năm 2017!


Tất niên 2017
Dạo tháng Mười năm 2017 vừa qua, tiếp theo những tai tiếng về xách nhiễu tình dục của nhà đạo diễn nổi tiếng Harvey Weinstein, chiến dịch có tên “#MeToo” (Tôi cũng vậy) đã nở rộ trên các trang mạng xã hội, lôi kéo phụ nữ trên khắp thế giới ra khỏi bóng tối và sợ hãi để lên tiếng tố cáo các hành vi xách nhiễu tình dục của những người có quyền lực trên thế giới, từ kỹ nghệ giải trí, thể thao, truyền thông, tài phiệt đến chính trị.
Chiến dịch “#MeToo” do nhà hoạt động xã hội Tarana Burke khai sinh và đưa lên trang mạng xã hội MySpace (Không gian của tôi) vào năm 2006 và được nữ tài tử Alyssa Milano tiếp tay quảng bá. Cùng với những nhân vật nổi tiếng trong nhiều lãnh vực khác nhau, phụ nữ khắp nơi trên thế giới đã mạnh dạn lên tiếng tố cáo những hành vi xách nhiễu tình dục mà họ là nạn nhân.

Thế nào là xách nhiễu tình dục?

Bất cứ người phụ nữ nào ở bất cứ nơi nào, cũng đều có thể rơi vào hoàn cảnh sau đây: đi dạo trên đường phố một mình, trước mặt một nhóm đàn ông đi qua đi lại mà không biết sẽ đi về đâu. Nhiều điều có thể xảy ra khi người phụ nữ đi qua trước mặt họ. Có thể những người đàn ông này sẽ lên tiếng trêu ghẹo bằng câu chào: “Ê, người đẹp!”. Cũng có thể họ sẽ có thái độ táo bạo hơn như chạy lại chận đường với hy vọng sẽ được người phụ nữ đáp trả. Cũng có thể họ sẽ tỏ ra hung hãn hơn bằng cách đưa tay sờ vào thân thể, nhất là những nơi nhạy cảm của người phụ nữ.
Cuộc tấn công có khi không dừng lại ở đó mà có thể  kết thúc bằng những hành vi bạo động hơn như hãm hiếp.
Theo bà Rachel Jewkes, Giám đốc của chương trình “What Works to Prevent Violence Against Women and Girls” (Phải làm gì để ngăn ngừa hành vị bạo động đối với phụ nữ và trẻ em gái), “hãm hiếp là hậu quả tột cùng của xách nhiễu tình dục”. Nhưng theo bà Jewkes, có cả ngàn loại hành vi được xem là xách nhiễu tình dục. Xách nhiễu tình dục đối với nữ giới nói chung là một phần của cuộc sống hàng ngày, nhất là tại những nơi công cộng. Nó được sử dụng trước hết để hạ giảm hay tước đoạt tự do của người phụ nữ. Từ Hollywood, New York, Washington, London đến Mumbai hay Lagos, bất luận xứ sở hay văn hóa nào, những câu chuyện mà phụ nữ khắp nơi trên thế giới đã đáp trả lại chiến dịch “#MeToo” nói lên đều giống nhau. Có đến 35 phần trăm phụ nữ trên toàn thế giới đã từng là nạn nhân của bạo lực hay xách nhiễu tình dục. Dĩ nhiên, mức độ có khác nhau tùy mỗi lục địa và mỗi quốc gia.

Á Châu

Chương trình “What Works to Prevent Violence Against Women and Girls” đặt trụ sở tại Nam Phi, nhưng đặc biệt nghiên cứu về hành vi bạo lực của nam giới tại Á Châu và Thái Bình Dương.
Theo bà Jewkes, giám đốc của chương trình, xách nhiễu tình dục do nam giới chủ động là một hiện tượng đáng lo ngại tại Á Châu, nhất là tại Nam Á. Các nơi công cộng là “lãnh địa” của nam giới. Họ nghĩ mình là chủ nhân của những nơi ấy. Theo bà Jewkes, các chuẩn mực xã hội cho phép đàn ông có lối suy nghĩ như thế và ngay cả quyền được xách nhiễu nữ giới. Người ta viện cớ đường phố và các nơi công cộng không an toàn để giữ phụ nữ và các trẻ em gái trong nhà cũng như để kiểm soát họ.
Năm 2012, một vụ hãm hiếp tập thể một nữ sinh viên trên một chuyến xe buýt tại New Delhi, Ấn Độ, đã khiến cho cả nước này phải quan tâm đến vấn đề. Một cuộc nghiên cứu do tổ chức từ thiện có tên là ActionAid (Hành động và trợ giúp) thực hiện năm 2014 cho thấy có đến 44 phần trăm phụ nữ Ấn Độ được thăm dò cho biết đã từng bị sờ mó nơi công cộng.
Các số liệu của Cơ quan “Bình đẳng Giới tính và Thăng tiến Phụ nữ” của Liên Hiệp Quốc cho thấy cứ 10 người phụ nữ có đến 4 người đã từng là nạn nhân của bạo hành hay lạm dụng tình dục do người bạn tình hay phối ngẫu gây ra.
Các cuộc thăm dò cho biết tại Bangladesh, tỷ lệ phụ nữ bị xách nhiễu tình dục là 57 phần trăm. Tại Cam Bốt, tỷ lệ này là 77 phần trăm. Tại Ấn Độ, số phụ nữ bị xách nhiễu tình dục là 79 phần trăm. Riêng tại Việt Nam, các số liệu cho thấy tỷ lệ này lên đến 87 phần trăm. Tại Việt Nam và Cam Bốt, hơn 40 phần trăm phụ nữ không cảm thấy được an toàn trong những chỗ có đông thanh niên tụ tập. Còn tại những nước như Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh, tình trạng bất bình đẳng giới tính lại càng rõ rệt hơn. Cách riêng tại Bangladesh, nhiều phụ nữ làm việc trong các công ty may mặc thường không thể tránh được những hành vi xách nhiễu của giới chủ nhân và quản lý. Đây là lý do khiến cho nhiều người chồng không muốn để cho vợ mình đi làm trong các công sở.

Trung Đông và Bắc Phi

Vùng mà chiến dịch “#MeToo” xem ra ít được hưởng ứng hơn cả là thế giới Á Rập. Các chuyên gia cho rằng tính nghiêm trọng của xách nhiễu và lạm dụng trong vùng này cũng chẳng kém hơn so với những nơi khác trên thế giới. Chỉ có điều tiếng nói của các nạn nhân của xách nhiễu tình dục tại đây ít được nghe thấy mà thôi.
Bà Lina Abirafeh, giám đốc của Viện “Institute for Women’s Studies in the Arab World” (Viện Nghiên cứu về Phụ nữ trong thế giới Á Rập) có trụ sở tại Liban nói rằng có quá nhiều lý do đàng sau sự thinh lặng này. Theo bà, người phụ nữ trong vùng sợ đến độ không dám lên tiếng nói. Dĩ nhiên, ở đâu cũng vậy, ngay cả trong thế giới tự do và một nơi được xem là biểu tượng của tự do như trung tâm điện ảnh Hollywood, các nạn nhân của xách nhiễu tình dục thường giữ thinh lặng. Nhưng riêng trong thế giới Á Rập, vì sợ mất việc làm và ngay cả mất gia đình mà hầu hết các nạn nhân của xách nhiễu tình dục không dám lên tiếng. Một số gia đình còn giết cả con gái nếu họ không còn trinh. Bà Abirafeh khẳng định: “Chế độ phụ hệ còn rất mạnh tại đây”. Nhiều người đàn ông xem hành vi xách nhiễu tình dục là chuyện bình thường, nghĩa là chẳng có gì sai trái cả!
Theo bà Abirafeh, trong thế giới Á Rập,  nhóm phụ nữ dễ bị xách nhiều tình dục nhất là di dân và những người giúp việc nhà. Đây là nhóm người không có tiếng nói. Nếu họ có lên tiếng tố cáo thì tòa cũng chẳng muốn xét xử.
Tại Ai Cập, theo một bản phúc trình do Cơ quan “Bình đẳng Giới tính và Thăng tiến Phụ nữ”của Liên Hiệp Quốc phổ biến, có đến 99 phần trăm phụ nữ được thăm dò xuyên qua 7 vùng trên toàn quốc cho biết họ đã từng bị xách nhiễu tình dục.
Theo bà Abirafeh, những lý do phụ nữ tại 22 quốc gia Á Rập bị xách nhiễu tình dục rất khác nhau. Một số quốc gia vẫn còn đeo đuổi tập tục cắt âm hộ phụ nữ. Một số nơi khác phải bị chiến tranh và xung đột triền miên tàn phá . Đó là những hoàn cảnh khiến cho người phụ nữ dễ trở thành nạn nhân của xách nhiễu tình dục hay hãm hiếp.
Nạn tảo hôn cũng rất thịnh hành tại một số quốc gia Á Rập như Somalia và Yemen. Chỉ mới gần đây một số quốc gia như Jordan đã dẹp bỏ một số lỗ hổng trong luật pháp và nhờ vậy những kẻ hãm hiếp không còn được tha bổng để cưới chính nạn nhân của mình. Liban cũng loan báo sẽ theo chân Jordan trong vấn đề này. Nhưng hiện còn 8 quốc gia Á Rập vẫn tiếp tục duy trì các khoản luật tha bổng cho những kẻ hiếp dâm với điều kiện họ phải cưới nạn nhân của họ.

Tây Phi Châu  và Hạ Sahara

Xách nhiễu tình dục là chuyện rất phổ biến tại Phi Châu. Tại lục địa này, có hàng triệu triệu phụ nữ bị xách nhiễu tình dục. Nhưng riêng tại Tây  Phi và Hạ Sahara, tỷ lệ phụ nữ bị xách nhiễu tình dục còn cao hơn. Theo một bản phúc trình của Tổ chức Y tế Thế giới WHO, có trên 50 phần trăm phụ nữ tại Tanzania cho biết họ đã từng bị chồng hay bạn tình xách nhiễu tình dục. Riêng tại Ethiopia, tỷ lệ này lên đến 71 phần trăm.
Tại Nigeria, tỷ lệ trẻ em bị tảo hôn lên đến trên 43 phần trăm và cứ 10 trẻ em thì có đến 6 em dưới 18 tuổi bị lạm dụng tình dục. Tại Nam Phi, chỉ trong năm vừa qua, cứ 4 phụ nữ thì 3 người đã chịu một hình thức lạm dụng nào đó. Riêng tại Zimbabwe, nơi đã từng bị Tổng thống Robert Mugabe cai trị với bàn tay sắt trong 37 năm qua, tình trạng nghèo đói cùng cực đã xô đẩy vô số thiếu nữ vào nghề mãi dâm hoặc chấp nhận một cuộc hôn nhân ngoài ý muốn để mang chút đỉnh tiền còm về cho gia đình. Trong tình trạng này, trẻ em mồ côi được đại gia đình chăm sóc cũng dễ làm mồi cho cho những người đàn ông thất nghiệp ru rú suốt ngày trong nhà. Ngoài ra, đối với một đứa trẻ gái hay một thiếu nữ, lên tiếng tố cáo hành vi xách nhiễu tình dục cũng là một điều nguy hiểm: nếu đang sống với người thân, nạn nhân có thể bị tống ra khỏi nhà; nếu nguyên cáo là cần câu cơm bị giam tù, gia đình sẽ gặp khốn đốn về tài chính. Nếu đứa trẻ bị xách nhiễu và lên tiếng tố cáo, nó thường bị đánh đập và bị ngược đãi. Nếu có mang, nó thường bị cưỡng bách phải phá thai, thường là trong những điều kiện khủng khiếp.
Thành ra, chiến dịch “#MeToo” đã chẳng tạo ra được âm hưởng nào tại Zimbabwe. Một phần vì phần lớn phụ nữ tại đây không nghe nói đến chiến dịch và nếu có biết đi nữa, nhiều người cũng không dám tham gia vì những hậu quả mà họ không thể lường trước được.

Bắc Mỹ

Tại các nước Tây Phương, kể từ khi nổ ra những vụ tai tiếng về xách nhiễu tình dục của những người có thế lực trong xã hội, xã hội ngày càng ý thức hơn về thực trạng này. Theo ông Ted Bunch, đồng sáng lập viên của tổ chức “A Call to Men” (một lời kêu gọi gởi đến đàn ông), chuyện xách nhiễu tình dục không chỉ xảy ra trong thủ đô điện ảnh Hollywood. Xem phụ nữ như một sự vật để chiếm hữu và ít có giá trị hơn đàn ông là điều mà tất cả mọi người đàn ông đều đã được nhồi nhét vào đầu, ngay cả những thành phần có học thức.
Theo một cuộc nghiên cứu do tổ chức phi vụ lợi “Stop Street Harassment” (Hãy chấm dứt việc xách nhiễu trên đường phố) thực hiện, có đến 65 phần trăm phụ nữ Mỹ đã phải chịu một hình thức xách nhiễu nào đó, 23 phần trăm bị xách nhiễu tình dục và 37 phần trăm không cảm thấy an toàn khi ra khỏi nhà vào lúc ban đêm.
Dĩ nhiên, nếu so với những vùng khác trên thế giới, xách nhiễu tình dục và hãm hiếp ít xảy ra hơn. Xách nhiễu thường chỉ xảy ra trong những lần hẹn hò hoặc trong quan hệ vợ chồng. Theo trang mạng “Sex Assault Canada” (Tấn công tình dục tại Gia Nã Đại), 80 phần trăm những vụ tấn công tình dục thường xảy ra trong nhà và chỉ có một hay hai phần trăm những vụ hãm hiếp khi hẹn hò mới được trình báo với cảnh sát mà thôi.

Âu châu

Một cuộc điều tra do Cơ quan Quyền Căn Bản của Liên Âu thực hiện hồi năm 2012 cho thấy, nếu so với Bắc Mỹ, tỷ lệ phụ nữ bị xách nhiễu tình dục tại Âu Châu cao hơn. Riêng tại Vương quốc Anh, có đến 64 phần trăm phụ nữ từng bị xách nhiễu tình dục tại những nơi công cộng. Theo một bản phúc trình của tổ chức “Stop Street Harassment”, 35 phần trăm phụ nữ cho biết họ bị sờ mó ngoài ý muốn của mình.

Châu Mỹ Latinh

Về xách nhiễu và lạm dụng tình dục, Châu Mỹ Latinh hiện cũng đang phải đối phó với cùng một thách đố như Á châu. Nhiều người xem đó như “chuyện thường ngày ở huyện”. Nhiều người, kể cả cảnh sát, sẽ cười cợt về những vụ xách nhiễu và lạm dụng tình dục, khiến cho phụ nữ không thể hoặc không dám lên tiếng tố cáo. Phụ nữ không dám trình báo, người qua lại cũng không muốn can thiệp.
Các cuộc nghiên cứu do tổ chức ActionAid tại Ba Tây cho thấy 86 phần trăm phụ nữ được thăm dò nói rằng họ đã từng bị xách nhiễu hoặc bạo hành ở nơi công cộng. Điều đáng quan ngại hơn, tác giả của nhiều vụ xách nhiễu lại chính là cảnh sát.
Tỷ lệ phụ nữ bị xách nhiễu tại Mễ Tây Cơ còn cao hơn Ba Tây. Tại đây, cứ 10 phụ nữ, có đến 8 hay 9 người bị xách nhiễu. Nhiều nguyên nhân dẫn đến tệ nạn này: hạ tầng cơ sở yếu kém, các phương tiện di chuyển đông nghẹt người, đàn bà lại phải đi làm đêm hoặc vào những giờ giấc bất thường. Ngoài ra, văn hóa Mễ Tây Cơ vẫn còn trọng nam khinh nữ. Hệ thống pháp lý lỏng lẻo, người dân lại ít được gây ý thức về tệ nạn xách nhiễu. Đó là những yếu tố khiến cho tỷ lệ phụ nữ bị xách nhiễu tại Mễ Tây Cơ cao hơn nhiều nơi khác. Tại thủ đô Mễ Tây Cơ, 96 phần trăm phụ nữ được thăm dò cho biết họ bị xách nhiễu tình dục ở nơi công cộng và 58 phần trăm nói rằng họ đã từng bị sờ mó.

Úc Đại Lợi và Thái Bình Dương

Mặc dù có những khác biệt về văn hóa và trình độ phát triển, Úc Đại Lợi, Fiji và Papua New Guinea đều có tỷ lệ xách nhiễu tình dục cao.
Theo các số liệu, bị xách nhiễu trên đường phố là một vấn đề lớn đối với Úc Đại Lợi: 87 phụ nữ được Viện Úc Đại Lợi thăm dò nói rằng trên đường phố hay tại những nơi công cộng họ đã từng bị xách nhiễu, bạo hành trên thân xác hay bằng lời nói. 40 phần trăm không cảm thấy an toàn khi phải đi bộ một mình trong khu vực sinh sống của họ vào lúc ban đêm.
Tại Papua New Guinea, 77 phần trăm phụ nữ đã trải qua một hình thức bạo hành tình dục trên xe buýt hoặc khi đứng chờ xe buýt. Còn tại Fiji, thông tin về tệ nạn này không được nhiều. Tuy nhiên theo các số liệu của Liên Hiệp Quốc, có đến 64 phần trăm phụ nữ nước này là nạn nhân của những bạo hành tình dục mà tác giả là người phối ngẫu hay người tình. Hãm hiếp là chuyện thường xảy ra trong những nơi công cộng tại Papua New Guinea. Cũng như tại một số nước kém phát triển khác, tình trạng nghèo đói cùng cực, hệ thống giáo dục tồi tệ là những nguyên nhân dẫn đến tệ nạn này. Hệ thống an ninh kém cỏi, người phụ nữ lại ít được bảo vệ: bị hãm hiếp khi đi vào rừng một mình là điều rất dễ xảy ra.
Bức tranh toàn cảnh về xách nhiễu tình dục trên khắp thế giới có thể không đầy đủ. Bên kia những yếu tố như tình trạng phát triển, hệ thống an ninh, hạ tầng cơ sở...mẫu số chung của tất cả những vụ xách nhiễu tình dục và hãm hiếp vẫn là quan niệm trọng nam khinh nữ và nhất là quyền lực. Xách nhiễu hay hãm hiếp tựu trưng vẫn là một cách thể hiện quyền lực của đàn ông.
Trong thời kỳ tranh cử tổng thống tại Mỹ hồi năm 2016, một người anh em họ của Tổng thống George W.Bush là ông Billy Bush đã tung ra một đoạn băng  ghi lại cuộc đối thoại giữa ông và ứng cử viên Donald Trump. Trong một đoạn, ông Trump nói rằng cứ gặp bất cứ người đẹp nào là ông xáp tới ngay. Ông nói: “Tôi bắt đầu hôn hít họ. Nó giống như thỏi nam châm vậy. Hôn thôi. Tôi không cần phải chờ đợi”. Và người sẽ làm tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ khẳng định: “Khi bạn là một ngôi sao, họ (tức phụ nữ) để cho bạn làm điều đó. Bạn có thể làm bất cứ điều gì”. Ở một đoạn sau, ông còn nói đến một hành vi tục tĩu hơn nữa như “Grab’em by the pussy” (sờ vào chỗ kín của họ(x.https://www.nytimes.com/2016/10/08/us/donald-trump-tape-transcript.html).
Xét cho cùng, quyền lực của đàn ông, dù trong lãnh vực nào, chính là thứ ma mãnh thúc đẩy những hành vi xách nhiễu tình dục.


(nguồn:http://edition.cnn.com/2017/11/25/health/sexual-harassment-violence-abuse-global-levels/index.html)

Thứ Hai, 19 tháng 2, 2018

Cách mạng từ bản thân


Chu Thập
Xuân 2018
Suốt mùa đông và hai tháng đầu của mùa xuân vừa qua, Tiểu bang New South Wales, Úc Đại Lợi đã trải qua một cơn hạn hán mà có người cho là cả trăm năm mới có một lần. Trong suốt mấy tháng trời mà không có lấy một giọt mưa quả là chuyện lạ ở Úc Đại Lợi, nhứt là tại Tiểu bang New South Wales.  Nhìn cỏ cây bị nắng đốt cháy vàng khè, lòng tôi cũng héo hon. Những lúc cầm vòi tưới vườn, tôi chỉ còn biết ngước mắt lên trời và mượn ca từ trong bài hợp xướng “Cóc Quân” của cố Nhạc sĩ Hải Linh (1920-1988) để mà than trời: “Ta lên ta hỏi Ông Trời, làm sao nắng mãi nắng hoài mà chẳng mưa. Cỏ cây muôn vật ...thôi đành chết khô. Mà trời thì lơ đễnh để mưa đi đàng nào”. Dĩ nhiên nắng mưa là chuyện của trời. Có trách ông trời thì cũng phải lẽ thôi. Nhưng ngày nay, nhiều bằng chứng do khoa học cung cấp cho thấy nắng mưa đâu còn là chuyện của riêng một mình ông trời nữa. Con người cũng góp phần không ít vào việc làm cho trái đất bị hâm nóng và thời tiết thay đổi bất thường khiến xảy ra nhiều thiên tai như hạn hán, bão lụt, cháy rừng. Bằng chứng khoa học hẳn phải có sức thuyết phục lắm cho nên cả thế giới mới họp nhau lại để nhìn nhận vai trò của con người đối với hiện tượng trái đất bị hâm nóng và tìm cách đối phó với hiện tượng này. Ngày 12 tháng Mười Hai năm 2015, tại một hội nghị thượng đỉnh được tổ chức tại Paris, Pháp quốc, đại diện của 196 quốc gia đã ký tên vào một Thỏa ước nói lên quyết tâm đối phó với hiện tượng thời tiết thay đổi. Từ ngày 6 đến ngày 17 tháng Mười Một năm 2017, đại diện các nước lại tập trung về thành phố Born, Đức quốc để bày tỏ quyết tâm thực hiện Thỏa ước Paris. Sự kiện đáng chú ý là Hội nghị Thượng đỉnh Born trao quyền chủ tọa cho Fiji, một quốc gia nhỏ bé nghèo nàn trong Thái Bình Dương đang bị mực nước biển dâng cao đe dọa nhận chìm.
Nhưng bằng chứng khoa học về hiện tượng trái đất hâm nóng xem ra chẳng có giá trị gì đối với một số người. Như Tổng thống Mỹ Donald Trump chẳng hạn. Dạo tháng Sáu vừa qua, ông đã chính thức loan báo rằng Hoa Kỳ rút tên ra khỏi Thỏa ước Paris để trở về “thời kỳ đồ ...than đá”. Mặc cho cả thế giới có phản đối đến đâu, Hoa Kỳ vẫn cứ thản nhiên sử dụng tối đa than đá và tha hồ nhả khí thải. Với ông tổng thống thích làm ngược đời này, hiện tượng thời tiết thay đổi và trái đất hâm nóng chỉ là một “cú lừa” (hoax) của Trung Cộng mà thôi. Với ông, con người chẳng có ăn nhập gì với chuyện nắng mưa cả. Mới đây, trong một bản phúc trình hàng năm về những hậu quả của sự thay đổi thời tiết, Ủy ban Khoa học Liên bang Hoa Kỳ về Khí hậu đã khẳng định rằng hoạt động của con người là “nguyên nhân nổi bật” làm cho nhiệt độ của trái đất gia tăng trong lịch sử hiện đại dẫn đến mực nước biển lên cao, cộng với những đợt nóng thường xuyên và bầu khí quyển ngày càng bị ô nhiễm vì khí thải. Nhưng Tổng thống Trump và bộ sậu của ông vẫn nhắm mắt làm ngơ và  cương quyết bảo vệ lập trường của ông.
Bên Úc Đại Lợi của tôi, cựu Thủ tướng Tony Abbott cũng thích chơi nổi  không kém khi công khai tuyên xưng rằng nắng mưa là chuyện của trời, con người chẳng có trò trống gì trong chuyện làm cho thời tiết thay đổi cả. Trong một bài diễn văn đọc tại London, Anh quốc dạo đầu tháng Mười vừa qua, ông đã so sánh những nỗ lực đối phó với hiện tượng trái đất hâm nóng với việc “người tiền sử giết dê để tế các vị thần núi lửa”. Ông khẳng định: cả trăm năm nay có thấy mực nước biển ở Bondi dâng lên chút nào đâu mà bảo trái đất bị hâm nóng khiến mực nước biển lên cao! Giá như ông cựu thủ tướng này chịu khó đi thăm các nước nhỏ trong Thái Bình Dương hay Đảo Maldives trong Ấn Độ Dương thì có lẽ ông phải rùng mình thôi! Các vị nguyên thủ của các nước nhỏ này đã không bắc thang lên hỏi ông trời và cũng chẳng than trời đâu. Họ đang gào thét kêu cầu cả thế giới hãy  nghĩ đến họ, vì đất nước của họ sắp bị nhận chìm xuống đại dương rồi đó!
Không biết có phải do ông Abbott xúi bẫy không mà đương kim Thủ tướng Úc Malcolm Turnbull cũng muốn đưa cả nước quay về thời kỳ “ đồ...than đá”. Lấy lý do giá điện ngày càng cao ảnh hưởng đến cuộc sống của nhiều gia đình Úc, Thủ tướng Turnbull cho gác qua một bên chương trình năng lượng sạch và khuyến khích các công ty sản xuất điện sử dụng tối đa than đá. Theo ông, nhờ điện năng từ than đá, giá điện sẽ hạ và mỗi năm mỗi gia đình Úc tiết kiệm được khoảng 115 Úc kim. Vừa đủ để đổ xăng một tuần hay hút thuốc một tuần!
Có lúc tôi cũng muốn làm “trạng sư của quỷ” để biện hộ cho lập trường của những người phủ nhận hiện tượng thời tiết thay đổi và trách nhiệm của con người trong việc làm cho trái đất bị hâm nóng. Thiên tai như hạn hán, bão lụt, cháy rừng... thì thời nào mà chẳng có, chớ có phải mới bắt đầu từ cuộc cách mạng kỹ nghệ tại Anh quốc đâu. Thương hải biến vi tang điền là chuyện xưa như trái đất mà!
Tôi không phải là một nhà khoa học để có thể đo lường được lượng khí thải và ảnh hưởng của khí thải đối với hiện tượng trái đất bị hâm nóng và mực nước biển dâng cao cỡ nào. Tôi chỉ biết và cảm nghiệm được mỗi một điều là: khí thải hay cụ thể là khói bốc lên từ đủ loại máy móc của con người thời đại thực sự ảnh hưởng đến sức khỏe của tôi. Chỉ cần về Sài Gòn, xuống đường đi bộ vài tiếng đồng hồ mà không cần mang khẩu trang sẽ  tức khắc thấy được khí thải tác động lên sức khỏe như thế nào rồi! Đó là chưa nói đến bầu trời lúc nào cũng xám xịt, u ám đến nghẹt thở tại Bắc Kinh. Tôi hiểu được tại sao người dân Trung Quốc đổ xô đi mua nhà ở Úc Đại Lợi khiến cho  giá nhà tại những thành phố lớn như Sydney, Melbourne lên vùn vụt. Giàu có nhưng suốt ngày phải hít khói như ở Bắc Kinh và nhiều thành phố khác ở Trung Cộng, dại gì không đi mua nhà ở các nước khác để chuẩn bị hạ cánh an toàn và hít thở không khí trong lành. Tôi nghĩ đó là cách bỏ phiếu bằng chân để xác nhận hiện tượng trái đất bị hâm nóng và ô nhiễm do con người tạo ra. Nếu không đeo khẩu trang thì tốt nhứt là “đào vi thượng sách”: trốn chạy để khỏi phải hít thở không khí đó là xong!
Ở Úc này, ngoại trừ một số người bị bệnh suyễn hay sợ lây cúm cho người khác, ít có ai ra đường phải đeo khẩu trang để chống lại không khí ô nhiễm cả. Nhưng điều đó không có nghĩa là cái đất nước may mắn (lucky country!) này không hề bị ô nhiễm. Khó tin nhưng có thật, mỗi năm ô nhiễm tại Úc Đại Lợi khiến cho nhiều người bị tử vong hơn là ung thư vú, tai biến mạch máu não hay các thứ bệnh về phổi.
Trong năm 2015, đã có gần 10 ngàn người Úc chết yểu vì không khí bị ô nhiễm, vì nguồn nước và đất đai bị nhiễm độc cũng như vì các hóa chất độc hại như asbestos và silicon.
Trên toàn thế giới, cứ 6 người thì có một người chết vì ô nhiễm. Đây là kết quả của một cuộc điều tra do 40 chuyên gia hàng đầu của thế giới về ô nhiễm và sức khỏe thực hiện và được cho phổ biến trên tạp chí y khoa nổi tiếng The Lancet dạo trung tuần tháng Mười vừa qua.
Một trong những chuyên gia của nhóm điều tra là Giáo sư Peter Sly, thuộc trường Đại học Queensland, cảnh cáo rằng ô nhiễm hiện đang là một vấn đề lớn đối với sức khỏe của dân chúng trên toàn thế giới, nhưng lại ít được chú ý tới.
Theo cuộc điều tra, có đến gần 90 phần trăm dân số thế giới sống trong các đô thị phải hít thở một loại không khí mà Tổ chức Y tế Thế giới WHO cho là không đủ lành mạnh.
Ngay cả như tại  Úc Đại Lợi này, dù so sánh với các nước đang phát triển như Ấn Độ và nhứt là Trung Cộng vẫn còn may mắn hơn, nhưng khí hậu thay đổi hiện cũng đang làm cho không khí ngày càng bị ô nhiễm.
Theo Giáo sư Sly, “ai cũng biết rằng không khí tại những nơi như Bắc Kinh và Mexico đang bị ô nhiễm, nhưng họ lại không ý thức đủ về những vấn đề sức khỏe trong các thành phố của họ như Brisbane, Sydney và Melbourne”. Dù với một lượng tương đối nhỏ, nhưng không khí bị ô nhiễm tại những thành phố này cũng có ảnh hưởng đến việc phát triển của các thai nhi, dẫn đến vô số những bệnh tật như suyễn, tim mạch và tai biến.
Trong một cuộc nghiên cứu hồi năm 2008, các chuyên gia đã nhận thấy rằng các phụ nữ tại Brisbane sống gần những con đường lớn  đều mang những bào thai nhỏ hơn bình thường. Những giai đoạn đầu trong thời kỳ thai nghén rất quan trọng đối với sự phát triển các cơ phận của thai nhi và những bào thai nhỏ thường có chỉ số thông minh IQ thấp và dễ bị bệnh tim và tiểu đường khi trưởng thành. Theo Giáo sư Sly, sự phát triển não bộ của đứa bé và tính tình của nó tùy thuộc trực tiếp vào mức độ ô nhiễm lúc chúng còn nhỏ, nhứt là khi chúng còn trong lòng mẹ.
Theo các chuyên gia về ô nhiễm và sức khỏe, tại Úc Đại Lợi không khí ô nhiễm làm cho những người bị bệnh tim giảm tuổi thọ 6.8 phần trăm, những người bị tai biến mạch máu não giảm tuổi thọ 4 phần trăm và những người bị bệnh phổi  giảm 5.5 phần trăm. Tổng cộng, trong 17 người chết tại Úc, có một người là nạn nhân của tình trạng  ô nhiễm.
Không khí ô nhiễm là điều dễ cảm nhận được hơn cả  ở các thành phố lớn. Nhưng ở các vùng quê, người dân Úc cũng không tránh khỏi ô nhiễm. Theo Giáo sư Sly, bên ngoài các thành phố lớn, nhiều người Úc sống nhờ nước giếng. Tự nó, nước giếng cũng có thể bị nhiễm độc. Nhưng mức độ ô nhiễm của nguồn nước giếng lại càng bị kỹ nghệ như các nhà máy khai thác khí đốt tự nhiên làm cho tồi tệ hơn.
Không lạ gì tại nhiều nơi, dân chúng Úc luôn đứng lên chống lại việc khai thác than đá, khí đốt tự nhiên và các nhà máy điện chạy bằng than đá. Cái lợi trước mắt không thể bù đắp được những thiệt hại về lâu về dài. Theo ước tính, cái chết và đủ các loại bệnh tật do ô nhiễm tạo ra mỗi năm  ngốn đến 33.9 tỷ Úc kim, tức 2.4 phần trăm tổng sản lượng quốc gia của Úc Đại Lợi (x. http://www.huffingtonpost.com.au/2017/10/20/we-are-literally-polluting-ourselves-to-death-and-its-only-getting-worse).
Tôi được may mắn sống xa các thành phố lớn, tương đối ít bị ô nhiễm. Nhưng trong tình liên đới nhân loại, thời tiết thay đổi và trái đất bị hâm nóng là một cuộc khủng hoảng chung của toàn thế giới. Không riêng các chính phủ hay các vị nguyên thủ quốc gia, mà mọi người đều chia sẻ trách nhiệm trong việc đối đầu với cuộc khủng hoảng này. Mẹ Đất, Mẹ Thiên Nhiên là Mẹ của mọi người. Ai cũng có bổn phận giảm bớt nỗi đau của Mẹ Đất. Trước khi các chính phủ đưa ra các chính sách và biện pháp giảm bớt khí thải, một trong những bước hữu hiệu nhứt mà mỗi một công dân của thế giới có thể làm được, theo tôi, chính là thay đổi cách dinh dưỡng của mình, bởi vì chính thực phẩm con người tạo ra và sử dụng hiện đang tiêu hủy sự cân bằng sinh thái của trái đất.
Có một số sự kiện đáng suy nghĩ. Hoa Kỳ, nơi có một ông tổng thống đang phủ nhận hiện tượng trái đất bị hâm nóng, hiện đang dành khoảng một nửa đất đai của mình cho nông nghiệp. Phần lớn đất đai này lại được dùng để nuôi súc vật như bò, heo, gà hoặc sản xuất nông phẩm chỉ để nuôi súc vật. Một cách cụ thể, Hoa Kỳ sử dụng trên 90 triệu mẫu Anh (mỗi mẫu Anh tương đương với khoảng 4.000 thước vuông) để trồng bắp mà phần lớn được dùng để nuôi súc vật.
Nông nghiệp hướng về chăn nuôi không chỉ là sở trường của Hoa Kỳ. Tại nhiều nơi khác trên thế giới, đất đai cũng được khai thác tối đa để chăn nuôi. Phần lớn rừng Amazone tại Châu Mỹ La Tinh bị phá hủy  là để trồng cỏ và đậu nành mà 80 phần trăm thu hoạch đều được dùng để nuôi súc vật (x. https://www.psychologytoday.com/blog/buddhist-economics/201709/how-your-diet-can-save-you-and-the-planet).
Ngoài lượng khí thải do phân súc vật tạo ra, kỹ nghệ chăn nuôi gắn liền với nông nghiệp cũng sử dụng đủ loại thuốc sát trùng và phân hóa học. Nói chung, kỹ nghệ nông nghiệp làm ô nhiễm đất đai, nguồn nước và không khí cho nên cũng gây nguy hại cho sự sống của thú rừng và nhứt là của con người.
Ngoài ra, một vấn đề lớn khác không thể né tránh được trong kỹ nghệ sản xuất và tiêu thụ thực phẩm là có trên 30 phần trăm thực phẩm được sản xuất bị phung phí. Những sản phẩm thường được gọi là “không hoàn hảo”, tức không đúng tiêu chuẩn của các siêu thị hay người tiêu thụ thường bị bỏ đống trên các cánh đồng hoặc bị ném đi trên đường di chuyển đến các siêu thị hoặc kho chứa. Vô số thức ăn tồn kho bị hư hỏng. Phần lớn bị ném vào các hố rác để rồi từ đó bị phân hủy và tạo ra khí thải.
Với 7.6 tỷ con người hiện đang có mặt trên trái đất, nhu cầu thực phẩm ngày càng gia tăng và dĩ nhiên lượng thực phẩm bị phung phí cũng ngày càng nhiều. Riêng tại Úc Đại Lợi này, thức ăn là một trong những thứ bị phí phạm nhứt. Mỗi năm, số thực phẩm bị người dân Úc ném đi trị giá không dưới 8 tỷ Úc kim. Trung bình mỗi năm mỗi gia đình Úc ném vào sọt rác khoảng 950 Úc kim vì số thực phẩm bị phung phí.
Gia đình tôi hiện chỉ có “hai con khỉ già”, vậy mà cái thùng nhỏ chứa thức ăn thừa như cơm thừa canh cặn, xương cá và vỏ trái cây, rau cỏ ...ngày nào cũng đầy. Thay vì ném vào thùng rác, chúng tôi cho vào các “trại nuôi giun” (worm farm) đặt rải rác trong vườn. Giun sẽ ăn các thứ cặn bã ấy và thải “trà phân” (worm tea) ra để bón cho đất đai được mầu mỡ. Sạch nhà mà cũng xanh vườn. Thùng rác cũng nhẹ đi hơn phân nửa và không bị hôi vì thức ăn hư thối. Ít ra tôi thấy biện pháp này hữu hiệu cho nơi cư ngụ của chúng tôi.
Đó chỉ là một kế hoạch nhỏ để gọi là góp phần vào cuộc chiến chống lại ô nhiễm, thời tiết thay đổi, hiện tượng trái đất bị hâm nóng. Nhưng tôi nghĩ: quan trọng hơn cả vẫn là thay đổi cách ăn uống của mình.
Nếu so sánh với đậu nành, thịt bò đỏi hỏi nhiều đất canh tác gấp 20 lần và đồng thời cũng nhả ra lượng khí thải gấp 20 lần so với cùng một lượng chất đạm từ đậu nành. Theo các chuyên gia, nếu mỗi ngày tôi chỉ ăn khoảng 100 gram thịt thôi, thì cách dinh dưỡng này đòi hỏi phải tạo ra khoảng 7.2 ký khí thải. Ăn chay, theo nghĩa chỉ ăn thực vật, sẽ giảm đi lượng khí thải rất nhiều!.
Thịt cũng có nhiều loại thịt. Thịt bò tạo ra khí thải gấp 2 lần thịt heo và gần gấp 4 lần thịt gà. Thịt trừu lại còn tệ hại hơn cả thịt bò. Trong khi đó, trái cây, rau xanh và các loại hạt tạo ra không bằng một phần ba khí thải do gà tạo ra và chỉ bằng một phần 12 so với thịt bò.
Mới đây tôi có xem một cuốn phim tài liệu về Bộ lạc Kogi tại Colombia, do Phóng viên Simon Reeve của Đài BBC thực hiện. Kogi là một bộ lạc sống giữa một khu rừng già thuộc vùng núi  Sierra Nevada de Santa Marta của Colombia. Kể từ 500 năm qua, nghĩa là sau khi người Tây Ban Nha chiếm Colombia, bộ lạc này vẫn tiếp tục sống biệt lập với thế giới bên ngoài và tự nhận có sứ mệnh  bảo tồn thiên nhiên mà họ cho rằng thế giới văn minh đang tiêu hủy. Trái đất hay thiên nhiên đối với họ là một người Mẹ.
Năm 1990, cũng xuyên qua một cuốn phim tài liệu của Đài BBC, người Thổ dân Kogi đã liên lạc với thế giới bên ngoài để cảnh cáo các xã hội kỹ nghệ hóa về nguy cơ hủy hoại của trái đất nếu loài người không chịu thay đổi cách sống của họ.
Trong một cảnh được Đài CNN ghi lại năm 2006, người Kogi đã đi bộ hàng bao nhiêu cây số để phản đối việc tháo nước làm khô cạn các hồ nước để xây dựng một hải cảng lớn. Theo họ, việc xây dựng hải cảng này ảnh hưởng đến sự cân bằng sinh thái trong toàn vùng.
Trong cuốn phim tài liệu mới đây của Phóng viên Simon Reeve cũng thế, những người đại diện của bộ lạc này cũng lập lại cùng một sứ điệp: hãy thay đổi cách sống để cứu trái đất!
Khác với những bộ lạc khác vốn chỉ biết săn bắn và hái lượm,  tất cả mọi người dân Kogi đều mặc sắc phục trắng như tín đồ của một giáo phái và nhứt là ăn chay: thức ăn của họ gồm toàn trái cây như chuối, bắp, khoai tây, trái bơ (avocado), đu đủ, đậu, cà chua...và nhiều loại đặc sản khác của Châu Mỹ La Tinh do chính họ tự trồng lấy.
Không biết mình có giây mơ rễ má gì với Bộ lạc Kogi không, tôi thèm cuộc sống của họ. Giấc mơ cuối đời của tôi là được một lần đến những khu rừng già bên Châu Mỹ La Tinh để chiêm ngưỡng cuộc sống đơn giản, lành mạnh và gần gũi với thiên nhiên của các bộ lạc bán khai. Càng lúc tôi càng nhận thấy rằng càng đơn giản hóa cuộc sống, càng gần gũi với thiên nhiên con người càng có được thân tâm an lạc hơn.
Gần đây tôi có cơ duyên được làm quen với một số cặp vợ chồng trẻ người Việt ở Sydney. Thỉnh thoảng tôi cũng được mời đến chia sẻ một bữa ăn trong vòng bạn bè thân quen. Điều khiến tôi phải suy nghĩ là hầu hết các cặp vợ chồng trẻ này đều ăn chay. Nếu không cả hai thì người vợ cũng ăn chay. Vì lý do tôn giáo, vì một ước nguyện nào đó hay vì sức khỏe, có người ăn chay trường, có người ăn chay mỗi tuần vài ngày, có người mỗi năm ăn chay vài tháng. Nhìn chung, tôi thấy những người ăn chay thường có gương mặt đỏ hồng, tươi tắn ít bịnh. Nhưng quan trọng hơn, theo nhận xét của tôi, người nào cũng nói năng từ tốn, biết lắng nghe và luôn tỏ ra ân cần quan tâm đến người khác.
Tôi còn quá nhiều tham sân si. Không biết chừng nào mới ăn chay được. Nhưng tôi tin rằng một trong những giải pháp cho cuộc khủng hoảng về thời tiết thay đổi và đồng thời cũng là một bài thuốc hiệu nghiệm chữa được nhiều thứ bệnh tật trong thể xác cũng như tâm hồn con người là thay đổi cách ăn uống. Ăn uống lành mạnh không những có lợi cho sức khỏe thể lý và tinh thần mà còn là một đóng góp cho việc bảo tồn thiên nhiên, chống lại hiện tượng thời tiết thay đổi.
Đơn giản hóa cách sống, ăn uống lành mạnh, tôn trọng và bảo tồn thiên nhiên, không phung phí thực phẩm và để dành tài nguyên cho thế hệ tương lai...tôi tin rằng mình không quá ngây thơ để nghĩ rằng một chút thay đổi của tôi sẽ làm cho trái đất này bớt bị hâm nóng, mực nước biển sẽ rút xuống ở một số nơi. Bởi vì cách đây hơn 45 năm, cố Nhạc sĩ John Lennon của Ban the Beatles, trong nhạc phẩm Imagine đã mơ mộng:
“Hãy thử tưởng tượng một thế giới đại đồng trong đó bạn không còn cảm thấy tham lam hay đói khát.
Hãy thử tượng tượng một thế giới huynh đệ trong đó mọi người đều cùng chia sẻ mọi sự cho nhau.”
(Imagine no possessions
I wonder if you can
No need for greed or hunger
A brotherhood of man
Imagine all the people sharing all the world, you)
Và vì tin đó là một giấc mơ có thể thực hiện được cho nên cố nhạc sĩ này mới kêu gọi:
“Có thể bạn sẽ bảo rằng tôi là một kẻ mơ mộng
Nhưng tôi không phải là người duy nhứt
Tôi hy vọng rằng một ngày nào đó
Bạn cũng sẽ liên kết với chúng tôi
Và thế giới này sẽ nên Một”
(You may say I'm a dreamer
But I'm not the only one
I hope some day you'll join us
And the world will be as one
)

Tôi cũng tin và cũng mơ mộng như John Lenon. Bởi vì khi thay đổi cách sống phù hợp với thiên nhiên, tôi tin chắc rằng sẽ có sự thay đổi trong chính bản thân tôi: khi sống hòa hợp với thiên nhiên hơn thì tôi cũng hài hòa với người đồng loại hơn. Và dĩ nhiên, phần thưởng lớn nhứt dành cho tôi chính là thân tâm tôi được an lạc. Xét cho cùng, cuộc cách mạng chân chính nào cũng bắt đầu từ chính bản thân của mỗi người.


















Thứ Sáu, 16 tháng 2, 2018

Mùa Xuân quanh tôi





Chu Thập
09/02/18

Lâu nay tôi vẫn ao ước được đến Hạ Uy Di một lần cho biết. Lúc nhỏ, tôi thường nghe nhiều người bảo rằng chỉ có ở tiểu bang thứ 50 của Hoa Kỳ này mới có “mùa xuân bất tận”. Mà thật, có đặt chân đến Hạ Uy Di mới thấy khí hậu ở đây thật là lý tưởng: mùa hè không quá oi bức như tại những nước thuộc vùng nhiệt đới khác, bão tố lụt lội cũng ít khi xảy ra, còn mùa đông thì lại không lạnh như các nước ôn đới.
Tôi và nhà tôi đến thăm vợ chồng một người bạn “đồng hội đồng thuyền” trong chuyến vượt biên hồi năm 1981. Họ vừa mới từ đất liền ra Hạ Uy Di để an hưởng tuổi già. Cảnh nhà thật là lý tưởng. Sau nhà là núi, trước mặt là biển. Nhìn về hướng nào cũng thấy mình đang ở giữa thiên nhiên. Chỉ ở chơi có vài ngày, nhưng hầu như ngày nào tôi cũng được người con trai của vợ chồng người bạn đưa đi câu cá ngay trên mỏm đá phía trước nhà. Với riêng tôi vậy cũng đủ là đi du lịch rồi. Nhưng để thăm dân cho biết sự tình, tôi và nhà tôi được vợ chồng người bạn thuyết phục làm một vòng bờ biển phía trước nhà cho biết.
Tôi cứ tưởng ở cái xứ có “mùa xuân bất tận” này chỉ có cảnh đẹp và những hình ảnh đẹp. Nhưng ngồi trên xe chạy dọc theo bờ biển phía trước nhà và liên tục hơn 30 cây số, tôi chứng kiến một cảnh tượng khiến tôi phải ngỡ ngàng: Hạ Uy Di không chỉ có du khách từ khắp nơi trên thế giới, mà còn là nơi thường trú của những người vô gia cư. Trên thế giới này, ở đâu mà chẳng có người vô gia cư. Nhưng dọc theo con đường xa lộ song song bờ biển phía trước nhà vợ chồng người bạn của tôi ở Hạ Uy Di, người vô gia cư tập trung lại thành một ngôi làng. Họ dựng lên những túp lều lụp xụp, phần lớn bằng giấy cạt tông và những tấm bạt rách rưới bằng nhựa. Bên cạnh lều có nồi niêu xoong chảo, rác rưởi và những xác xe bị đốt, họ còn có một con chó và ngay cả một khu vườn nhỏ. Ngôi làng vô gia cư dọc bờ biển này có một sắc thái rất đặc biệt: trước hay bên cạnh bất cứ túp lều nào cũng có một chiếc xe hơi. Có vẻ như họ đã an cư lạc nghiệp ở đây từ thuở nào!
Theo giải thích của vợ chồng người bạn cũng như qua những tài liệu tôi đọc được trên các phương tiện truyền thông của địa phương, con số người vô gia cư tại Hạ Uy Di ngày càng nhiều. Theo Bộ Gia cư và Phát triển Đô thị thì với 1.4 triệu dân, Hawaii có đến 7620 người vô gia cư mà đa số “định cư” ở thành phố chính Honolulu (https://www.nytimes.com/2016/06/04/us/hawaii-homeless-criminal-law-sitting-ban.html). Chỉ trong năm qua đã có 6 em bé chào đời trong cảnh vô gia cư.
Thoạt tiên là những gia đình không trả nổi tiền thuê nhà quá cao tại tiểu bang du lịch này. Kế đó là những người dân địa phương  bị thất nghiệp, mãn hạn tù và những người mắc bệnh tâm thần. Tôi không có dịp đến gần bất cứ “ngôi làng” vô gia cư nào. Nhưng vợ chồng người bạn của tôi khẳng định rằng phần lớn dân cư của những ngôi làng vô gia cư lại là dân “da trắng” từ đất liền ra. Điều không thể tưởng tượng được là nhiều người vô gia cư cho biết rằng để giải quyết vấn đề gọi là “nhà chính phủ” (housing) trong đất liền, một số chính quyền địa phương, nhứt là tại những tiểu bang có mùa đông khắc nghiệt, đã mua vé máy bay một chiều cho người vô gia cư để họ được đi “nghỉ mát” dài hạn tại Hawaii. Dĩ nhiên, không có nơi cư trú, không tìm được việc làm, không có đủ phương tiện để sinh sống...hầu hết đều chạy ra bờ biển có “mùa xuân bất tận” của Hạ Uy Di để “lập nghiệp”.
Cũng theo giải thích của người bạn tôi, trước sự bất mãn của người dân Hawaii vì bị các chính quyền địa phương trong đất liền xem như một bãi phế thải để “đổ” người vô gia cư vào, cho nên chính quyền Tiểu bang Hawaii lại phải bỏ tiền ra để mua vé một chiều cho người vô gia cư được trở lại đất liền khi mùa lạnh trong đất liền chấm dứt. Và cái vòng lẩn quẩn đẩy người ra Hawaii rồi tống người về đất liền cứ xảy ra theo chu kỳ của khí hậu.
Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ, đất nước vĩ đại của Tổng thống Donald Trump quả là một quốc gia lạ lùng. Là miền đất hứa đối với rất nhiều người trên thế giới, cho nên quốc gia này cũng có rất nhiều điều lạ thường, nếu so với các nước phát triển khác. Một hôm, vợ bạn tôi ngã bệnh cần được đưa đi cấp cứu. Có bảo hiểm tư cho nên bạn tôi gọi xe cấp cứu đến một cách dễ dàng. Nhân viên xe cấp cứu tỏ ra rất hữu hiệu, họ làm mọi xét nghiệm, vô nước biển... ngay tại chỗ và gởi mọi chi tiết của bệnh nhân về bệnh viện ngay lập tức. Tôi mừng vì như vậy vợ bạn tôi sẽ được chăm sóc ngay khi đến bệnh viện. Nhưng rồi vợ của bạn tôi cũng phải ngồi chờ ở phòng đợi của bệnh viện đến hơn ba tiếng đồng hồ mới được bác sĩ khám bệnh qua loa, cho toa rồi cho về! Không một viên thuốc uống tạm trong đêm hôm khuya khoắt. Bạn tôi nói, phải tự mua thuốc lấy, trong nhà thương không cho thuốc uống chỉ cho toa đi mua. Tôi ngẫm nghĩ đến sự “hữu hiệu” của hệ thống bảo hiểm y tế tư mà bạn tôi đang là thành viên mà buồn cho bạn.
Hồi cuối tuần qua, dân Anh xuống đường biểu tình để ủng hộ hệ thống bảo hiểm y tế công cộng (Universal Health Care) và kêu gọi chính phủ tài trợ nhiều hơn. Chụp lấy cơ hội, Tổng thống Trump liền lên giàn Twitter của ông để phóng đi một “tuýt” qua đó ông  khẳng định rằng hệ thống bảo hiểm y tế công cộng của Anh Quốc đang phá sản và không hữu hiệu (broke and not working). Chê hệ thống bảo hiểm y tế công cộng của Anh không hữu hiệu, ông lên án Đảng Dân Chủ vì muốn tăng thuế để lấy tiền cho mọi người dân Mỹ cũng được hưởng bảo hiểm y tế công cộng như người Anh. Trong một tuyên ngôn để gọi là “đáp lễ” trước những lời chỉ trích của ông Trump, phát ngôn viên của Thủ tướng Theresa May viết rằng “thủ tướng Anh rất hãnh diện về hệ thống bảo hiểm công cộng , bởi vì nó miễn phí cho mọi người.” Phát ngôn viên của chính phủ Anh cho biết mỗi năm chính phủ trích từ ngân sách ra 2.8 bảng Anh cho bảo hiểm y tế công cộng. Và theo một cuộc thăm dò của Quỹ Commonwealth Fund, hệ thống bảo hiểm y tế công cộng của Anh được đánh giá liên tiếp 2 lần là hệ thống bảo hiểm tốt nhứt thế giới.
Tôi không biết bảo hiểm y tế công cộng của Úc Đại Lợi đứng hàng thứ mấy trên thế giới. Nhưng khi tôi giải thích rằng cũng như tại Gia Nã Đại, Anh Quốc hay nhiều nước khác ở Âu Châu, người dân Úc chúng tôi không cần phải mua bảo hiểm tư mà vẫn hưởng được mọi phúc lợi căn bản về y tế, vợ chồng  bạn  tôi tỏ ra rất ngạc nhiên về điều đó!
Tôi thích khí hậu của Hạ Uy Di. Tôi mê cảnh trí của quần đảo này. Tôi cũng bị thu hút bởi tính hiếu khách của người dân Hawaii. Rất nhiều người Việt từ đất liền ra đều chọn Hawaii làm “quê hương cuối đời” của họ. Một số thành công trong kinh doanh buôn bán. Một số cũng dư ăn đủ mặc với nghề lái taxi. Một số mua đất lập vườn. Bất cứ người Việt nào tôi gặp tại Hawaii cũng đều thỏa mãn về cuộc sống tại Hawaii. Có người còn bảo rằng bắt trở lại đất liền chẳng khác nào “xuống hỏa ngục”. Hạ Duy Di quả là thiên đàng đối với nhiều người Việt. Nhưng dĩ nhiên, thiên đàng hay hỏa ngục trên trần gian này cũng chỉ là chuyện tương đối.
Được phóng viên của một tờ báo địa phương có tên là Hawaii Affairs Magazine phỏng vấn, một người vô gia cư từ đất liền mới đến Hawaii được 6 tháng cho biết lý do tại sao ông không cần phải đi tìm việc làm: “Ồ tại sao tôi phải đi làm. Bạn có thể có một cuộc sống thoải mái và không cần phải đi làm bởi vì bạn có thể sống ngoài trời quanh năm ngày tháng. Và chúng tôi có thể có thức ăn miễn phí ngay ở góc đường”.
Hawaii quả là thiên đàng đối với người vô gia cư. Nhưng dĩ nhiên không phải tất cả mọi người vô gia cư đều có cùng một suy nghĩ. Cũng trên báo Hawaii Affairs Magazine, một người vô gia cư từ đất liền ra cho biết: ông được vợ mua cho một vé máy bay một chiều ra Hawaii. Không tiền, không việc làm và cũng chẳng có nơi nào để sống, người vô gia cư này khuyên: “Nếu bạn nghĩ rằng đây (tức Hawaii) là thiên đàng, bạn lầm. Thiên đàng là có được một ngôi nhà và một gia đình. Đừng đi đến bất cứ nơi nào nếu bạn là một người vô gia cư và không có một kế hoạch nào” (theo http://www.hawaiiaffairsmagazine.com/fearlesspen/is-hawaii-the-dumping-ground-for-mainland-homeless/).
Dù Hawaii có là thiên đàng hay không, tôi vẫn xem đây là một địa điểm du lịch đáng tìm đến. Dĩ nhiên chỉ đến như một lữ khách dừng chân tạm thời. Giọng triết lý của người vô gia cư trên đây gợi lại cho tôi câu ca dao quen thuộc của người Việt Nam: ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn. Mà thật vậy, chỉ đi chơi mới có mấy ngày tôi đã thấy nhớ nhà. Đúng hơn nhớ vườn. Nhớ “vườn địa đàng” của tôi.
Nhớ đến độ về đến nhà đã hơn 11 giờ khuya, tôi vẫn còn bật đèn lên để nhìn cho bằng được ngôi vườn của mình. Bước vào tháng Hai, khi người Việt chuẩn bị ăn Tết, thanh long trong vườn của tôi đã bắt đầu chín rộ. Những nụ hoa thanh long ra đợt cuối cũng nở rộ. Sau một tuần đi vắng, về nhà nhìn lại ngôi vườn, tôi cảm thấy lâng lâng trong người. Tôi “tự sướng”: đây chẳng là vườn địa đàng sao!
Ôn lại chuyến đi Hawaii, nơi có “mùa xuân bất tận”, tôi liên tưởng đến một câu nói của văn thi hào Pháp Victor Hugo (1802-1885). Khi về già, ông nói: “Mùa đông ở trong đầu tôi, còn mùa xuân bất tận thì ở trong trái tim tôi”. Thì ra, tuổi đời chỉ là chuyện tương đối. Nếu tôi có tinh thần trẻ trung, lạc quan, yêu đời, can đảm, thích mạo hiểm và đầy nhuệ khí, tôi sẽ mãi mãi là người trẻ trung. Trong trái tim tôi lúc nào cũng có mùa xuân. Xung quanh tôi lúc nào cũng có thiên đàng. Đi loanh quanh chi cho đời thêm mỏi mệt. Ở đâu mà chẳng có được thiên đàng nếu như lúc nào mình cũng tìm thấy được ý nghĩa của cuộc sống và nhứt là biết mang lại niềm vui sống cho người xung quanh.
Một ông bạn đã gởi cho tôi một bài viết về điều được gọi là “tần số yêu”. Theo bài viết, đây là khám phá của một chuyên gia người Anh nổi tiếng là Sir David R. Hawkins. Sau nhiều năm nghiên cứu, chuyên gia này khám phá ra rằng những người biết quan tâm đến người khác, giàu lòng từ bi, nhân ái, hướng thiện, bao dung, độ lượng...luôn làm tỏa ra một  “tần số yêu” cao. Tần số yêu này có sức tỏa lan khiến người xung quanh cũng có thể cảm nhận được. Trái lại, nơi những người hay oán trách, chỉ trích, hận thù người khác...tần số yêu sẽ thấp. Tôi không biết kết quả nghiên cứu này có đáng tin cậy không. Tôi chỉ biết rằng sự hiện diện của những người tử tế nói chung luôn mang lại cho tôi niềm vui, sự phấn khởi, tinh thần lạc quan và nhứt là niềm cảm hứng để cũng biết sống tử tế với người khác.
Mỗi dịp Tết đến, cũng như rất nhiều người Việt khác, tôi cũng gởi lời cầu chúc thịnh vượng và an vui đến bạn bè và người thân. Thật ra, đó cũng chính là những lời tự kỷ ám thị tôi muốn nói với chính bản thân. Chúc cho người khác được an vui cũng chính là quyết tâm sống an vui trước đã. Mình có vui, mình có cảm nhận được “thiên đàng” trong trái tim của mình, thì niềm vui ấy mới có thể thực sự được chia sẻ cho người khác.



Thứ Hai, 12 tháng 2, 2018

Đông Nam Á: chiếc mũ “Tin Giả” và Truyền thông


09/02/18
Kể từ khi Tổng thống Mỹ Donald Trump sáng chế ra từ “Tin Giả” (Fake News), một số nhà lãnh đạo tại Đông Nam Á cũng nối gót theo ông để mở cuộc chiến chống lại các ký giả và các cơ quan truyền thông tự do. Mặc dù tại Mỹ, truyền thông bị Tổng thống Trump lên án như “kẻ thù của nhân dân”,  cho tới nay vẫn chưa thấy có nhà báo nào bị bắt giữ và cũng chẳng có cơ quan truyền thông nào bị đóng cửa. Nhưng tại một số nước Đông Nam Á, nhiều ký giả đã bị bắt giữ và một số cơ quan truyền thông đã bị đóng cửa.
Tại Phi Luật Tân, một tờ báo mạng độc lập, vì bị Tổng thống Rodrigo Duterte tố cáo đưa “tin giả”, hiện đang bị đe dọa đóng cửa sau khi Ủy ban An ninh và Giao dịch (Securities and Exchange Commission, gọi tắt là SEC) của chính phủ ra lệnh rút giấy phép.
Tại một số nước Đông Nam Á khác như Miến Điện chẳng hạn, hai ký giả làm việc cho hãng thông tấn Reuters bị truy tố vì đã tường trình về cuộc khủng hoảng của người dân tộc thiểu số Rohingya. Tại nước láng giềng của Miến Điện là Cam Bốt, một cơ quan truyền thông được Hoa Kỳ tài trợ đã phải đóng cửa sau khi hai phóng viên bị bắt giữ.
Các nhà phân tách và quan sát viên nói rằng một số nhà lãnh đạo có khuynh hướng độc tài tại Á Châu hiện đang làm mưa làm gió vì không hề bị chính phủ của Tổng thống Trump chỉ trích về những thành tích vi phạm nhân quyền của họ.
Shawb Crispin, một đại diện của Ủy bản Bảo vệ Ký giả (Committee to Protect Journalists (CPJ) tại Đông Nam Á nói rằng “đây là một chiều hướng nguy hiểm”. Theo ông, một số nhà lãnh đạo tại Đông Nam Á đang học bài học từ một trong những quốc gia có truyền thống bảo vệ tự do báo chí là Hoa Kỳ, dĩ nhiên dưới thời Tổng thống Trump.
Cách đây hai tuần, tại Phi Luật Tân, Ủy ban An ninh và Giao dịch, trên nguyên tắc vốn là một cơ quan độc lập với chính phủ, đã loan báo rút giấy phép hoạt động của một tờ báo mạng có tên Rappier.
Theo Ủy ban này, báo mạng Rappier đã vi phạm Hiến pháp của Phi Luật Tân. Ngoài ra, Ủy ban này cũng nại đến lý do để đóng cửa tờ báo là vì nó thuộc quyền sở hữu của người ngoại quốc. Rappier đã mạnh mẽ bác bỏ những cáo buộc nói trên.
Được thành lập vào năm 2012, trong những năm gần đây, báo mạng Rappier đã theo dõi thật sát cuộc chiến chống ma túy “đẫm máu” của Tổng thống Duterte.
Bà Maria Ressa, một cựu phóng viên của Đài Truyền Hình CNN, sáng lập viên của báo mạng Rappier cho rằng sở dĩ tờ báo của bà bị đóng cửa là vì đã mạnh mẽ lên tiếng chỉ trích chiến dịch chống ma túy tàn nhẫn vô nhân đạo của Tổng thống Duterte. Nhưng phát ngôn viên của chính phủ Phi, ông Harry Roque lại nói với một phóng viên của Đài CNN rằng  văn phòng chính phủ “chẳng có ăn nhập gì với quyết định của Ủy ban An ninh và Giao dịch”.
Sau khi bị đe dọa đóng cửa, báo mạng Rappier tường thuật rằng Bộ Tư Pháp Phi và Cơ quan Điều tra Trung ương của chính phủ Phi đã gởi trát tòa yêu cầu bà Ressa phải khai hữu thệ về một bài phóng sự của tờ báo hồi năm 2012.
Theo đúng sách của Tổng thống Trump, ông Duterte hiện cũng đang mạt sát thậm tệ các cơ quan truyền thông độc lập tại Phi Luật Tân. Giáo sư Peter Greste, hiện đang giảng dạy về môn báo chí tại Đại học Queensland, Úc Đại Lợi, cho rằng kiểu nói “Tin Giả” do Tổng thống Trump sáng chế hiện đang rất thịnh hành và được ông Duterte sử dụng để chống lại báo mạng Rappier.
Giáo sư Greste, một cựu phóng viên của Đài Truyền Hình Al Jazeera, đã từng bị giam tù tại Ai Cập trên 400 ngày vì tội gọi là thông đồng với Tổ chức “Huynh Đệ Hồi Giáo” để phổ biến “tin giả” và làm nguy hại cho nền an ninh quốc gia. Theo giáo sư này, Tổng thống Duterte áp dụng triệt để “sách” của ông Trump: bất cứ tin tức nào không có lợi cho ông đều là “tin giả”. Cho tới nay, trong nước thì lúc nào Tổng thống Trump cũng hùng hổ gây chiến với các cơ quan truyền thông, nhưng lại im thin thít trước các vụ vi phạm nhân quyền của các chế độ độc tài hay có khuynh hướng độc tài.
Nhưng Tổng thống Duterte của Phi Luật Tân không chỉ là đệ tử duy nhất của ông Trump tại Đông Nam Á. Một số nhà lãnh đạo khác trong vùng cũng hùa theo một sách. Ngay cả bà Aung San Suu Kyi, người đã từng được trao Giải Nobel Hòa Bình vì cuộc tranh đấu bất bạo động cho nhân quyền tại Miến Điện và hiện đang được xem như nhà lãnh đạo thực sự của nước này, tuy không sử dụng từ “Tin Giả” của ông Trump, vẫn bác bỏ các bài tường thuật của các phóng viên về việc ngược đãi đối với sắc tộc Rohingya tại Tiểu bang Rakhine. Bà luôn gọi tin tức của truyền thông về cuộc khủng hoảng này là một “tảng băng lớn về tin thất thiệt”.
Miến Điện, dưới quyền lãnh đạo của bà Aung San Suu Kyi, hiện đang tìm cách tuy tố hai ký giả của hãng thông tấn Reuters là những người đang theo dõi và tường thuật về cuộc khủng hoảng của Sắc tộc Rohingya. Theo Luật Bí Mật Quốc gia, một luật đã có từ thời thuộc địa nhưng vẫn hiện hành tại Miến Điện, hai ký giả Wa Lone và Kyaw Soe Oo có thể bị giam tù đến 14 năm chỉ vì tường thuật về cuộc khủng hoảng của người Rohingya.
Trong một tuyên ngôn được gởi đến Đài CNN, chủ bút của hãng thông tấn Reuters, ông Steve Adler, gọi việc giam giữ các ký giả là một “cuộc tấn công trắng trợn vào tự do báo chí”.
Tại một nước Đông Nam Á khác là Cam Bốt, hai ký giả làm việc cho Đài Á Châu Tự Do là Uon Chhin và Yeang Sothearin, đã bị bắt giữ vì tội gọi là “gián điệp”. Luật sư của hai ký giả này, ông Keo Vanny khẳng định rằng hai “thân chủ của ông không hề phạm bất cứ tội nào liên quan đến những cáo buộc chống lại họ”.
Đài Á Châu Tự Do đã cho đóng của văn phòng của đài tại Cam Bốt. Trước cuộc bầu cử sẽ diễn ra vào năm tới, Thủ tướng Hun Sen đã ráo riết tấn công vào các cơ quan truyền thông độc lập tại Cam Bốt.
Cũng tại Cam Bốt, một tờ báo có nhiều uy tín là tờ Cambodia Daily cũng đã bị chế độc độc tài của Thủ tướng Hun Sen ra lệnh đóng cửa vì không đủ khả năng để trả một món tiền thuế lên đến 6.3 triệu Mỹ kim. Báo này cho rằng lệnh này hoàn toàn có tính cách chính trị.
Theo hãng thông tấn Reuters, tuy không bắt chước Tổng thống Trump để gọi các cơ quan truyền thông là “kẻ thù của nhân dân”, Thủ tướng Hun Sen nói rằng có một số cơ quan truyền thông hành động như “băng đảng Mafia” và “không tôn trọng luật pháp, không đăng ký theo luật pháp và tránh thuế”.
Báo Cambodia Daily hoàn toàn bác bỏ những cáo buộc trên đây.
Phi Luật Tân, Miến Điện, Cam Bốt...là một số quốc gia tại Đông Nam Á đang mượn oai hùm của Tổng thống Trump để đàn áp các cơ quan truyền thông độc lập và tự do báo chí nói chung. Tuy nhiên nếu so với một nước khác trong khối Đông Nam Á là Việt Nam thì ba nước nói trên chỉ là “học trò”. Theo chỉ số về Tự do Báo chí của năm 2017 (World Press Freedom Index 2017), các nước Đông Nam Á được xếp vào hạng những quốc gia có thành tích tồi tệ nhất trong việc đàn áp tự do báo chí. Đứng hạng 175, chỉ trên Trung Cộng, Syria, Turkmenistan, Eritrea và Bắc Hàn, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là nước đàn áp dã man nhất các ký giả tại Đông Nam Á. Không thể kể hết danh sách của các ký giả, nhất là những người viết báo mạng, đã và đang bị giam tù tại Việt Nam: tất cả đều bị quy cho một tội là “tuyên truyền chống chế độ”.
Trở lại với Phi Luật Tân. Tại quốc gia hải đảo này, ngay cả trước khi Chính phủ Duterte ra lệnh đóng cửa báo mạng Rappier và tung ra những lời đe dọa đối với bất cứ ký giả nào dám lên tiếng phê bình chính phủ, Phi Luật Tân cũng đã từng nổi tiếng là một trong những nơi nguy hiểm nhất trên thế giới để hành nghề ký giả. Kể từ năm 1992 đến nay, Phi Luật Tân đứng hàng thứ 3 về con số các ký giả bị sát hại trong lúc đang hành nghề. Đứng đầu danh sách là Syria và Iraq là hai nước hiện đang có xung đột vũ trang. Nhưng ngày nay với Tổng thống Duterte, mối nguy hiểm cho các ký giả hành nghề tại Phi Luật Tân ngày càng gia tăng. Cũng giống như Việt Nam, Chính phủ Duterte ũng đã cho thành lập một đội ngũ “cảm tình viên” hay “chiến sĩ mạng” chuyên lên mạng để đe dọa và tấn công các nhà báo độc lập. Những lời đe dọa và các cuộc tấn công của các “chiến sĩ mạng” này khiến cho các ký giả dễ bị tổn thương hơn. Theo ông Carlos Conde, một nhà nghiên cứu làm việc cho một chi nhánh của Tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền (Human Rights Watch) tại Phi Luật Tân, những người ủng hộ ông Duterte lúc nào cũng sẵn sàng để lên mạng và tấn công bất cứ nhà báo nào dám lên tiếng phê bình chính phủ Duterte. Nery, chủ bút của một tờ báo lớn tại Phi Luật Tân là tờ The Inquirer, nói rằng hiện nay bầu khí trên mạng tại nước này lúc nào cũng sôi sục hận thù. Ngay cả trang mạng Facebook cũng không còn được an toàn. Cứ có một bài báo hay một bài tường thuật nào có nội dung phê bình chính phủ thì tức khắc có cả một nhóm “ủng hộ viên” của chính phủ xung trận tức khắc. Các cơ quan truyền thông ngày nay đã mang lại cho các ký giả và các trang mạng xã hội nhiều không gian tự do hơn đối với sự kiểm duyệt của các chính phủ. Nhưng cũng chính những không gian ấy lại tràn ngập những trang chống lại truyền thông và tự do báo chí.
Theo bà Ressa, sáng lập viên và giám đốc điều hành của báo Rappier, các chế độ dân chủ còn non nớt như Phi Luật Tân luôn tỏ ra nghi ngờ và sợ hãi trước sự phê bình và chỉ trích của báo chí. Dạo tháng Hai năm 1986, với  cuộc cách mạng thường được mệnh danh là “Sức mạnh của quần chúng” (People’s Power), người dân Phi đã đứng lên lật đổ chế độ độc tài của Tổng thống Ferdinand Marcos. Một trong những giá trị được tái lập và đề cao trong nền dân chủ còn non nớt này là tự do báo chí. Kể từ đó cho đến tháng Sáu năm 2016, tự do báo chí tại Phi Luật Tân đã góp phần rất lớn trong việc hướng dẫn dư luận quần chúng, kiểm soát các chính phủ và đồng thời cũng nâng cao ý thức về tự do và dân chủ cho người dân. Nhưng kể từ khi ngày Tổng thống Duterte nhậm chức đến nay, tự do báo chí luôn bị đe dọa, số phận của những người làm truyền thông ngày càng bấp bênh.
Trong bài diễn văn đọc tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới được tổ chức tại Davos, Thụy Sĩ trong tháng Giêng vừa qua, Tổng thống Trump đã rêu rao rằng việc cải tổ thuế má của chính phủ ông nhằm giảm thuế cho giới doanh nghiệp và người giàu tại Hoa Kỳ không những làm hạ giảm mức thất nghiệp trong nước mà còn góp phần tạo thêm công ăn việc làm cho khắp thế giới. Không biết điều đó có thực sự diễn ra tại các nước Đông Nam Á không. Chỉ có một điều thấy rõ trước mắt là: cuộc chiến chống truyền thông của ông tại Hoa Kỳ đã tràn lan sang các nước Đông Nam Á, bóp nghẹt tự do báo chí và đe dọa mạng sống của không biết bao nhiêu ký giả.

(Nguồn:https://edition.cnn.com/2018/01/28/asia/asia-fake-news-media-repression)