Thứ Hai, 16 tháng 10, 2017

Puerto Rico: lãnh thổ bị lãng quên của Hoa Kỳ


13/10/17
Ngày 20 tháng Chín 2017 vừa qua, trận bão Maria đã thổi qua vùng Vịnh Caribe. Với sức gió mạnh hơn trận bão Irma thổi vào Tiểu bang Florida và mang lại nhiều mưa hơn cả trận bão Harvey đã nhận chìm thành phố Houston, bão Maria đã tàn phá Puerto Rico, một hòn đảo với 3.4 triệu dân vốn là lãnh thổ của Hoa Kỳ trong vùng Vịnh Caribe.
Trận bão đã làm cho 16 người chết và 44 phần trăm cư dân trên đảo không có nước uống. Với mức độ tàn phá của trận bão, cộng với tình trạng nợ nần của Puerto Rico và nhất là phản ứng lơ là của chính phủ Mỹ, nhiều người cho rằng lãnh thổ này đã bị Hoa Kỳ lãng quên. Khi bà Carmen Yulin Cruz, Thị trưởng San Juan, thủ phủ của Puerto Rico, lên tiếng cầu cứu, bà liền bị Tổng thống Donald Trump quở trách nặng lời về thái độ ỷ lại. Gần cả 2 tuần lễ sau khi bão Maria đã đi qua, Tổng thống Trump mới đích thân đến Puerto Rico để thăm dân cho biết sự tình. Tại đây, đứng trước cảnh người chết và cửa nát nhà tan, ông chỉ nói lên những điều ngớ ngẩn. Thay vì bày tỏ sự cảm thông trước thảm kịch mà người dân Puerto Rico đã và đang  trải qua, ông chỉ đề cao sự đáp ứng kịp thời và hữu hiệu “không thể tưởng tượng được” của chính phủ của ông. Thậm chí ông còn nói rằng người dân Puerto Rico  “có thể rất hãnh diện” vì chỉ có 16 người bị thiệt mạng mà thôi. Lố bịch hơn nữa khi ông so sánh trận bão Maria với Katrina, tức trận bão đã tàn phá New Orleans hồi năm 2005: ông cho rằng Puerto Rico chưa thực sự trải qua “một thảm họa thực sự như trận bão Katrina”.
Thái độ của Tổng thống Trump đã khiến cho một soạn giả và diễn viên chính của vở ca nhạc kịch “Hamilton” được trình diễn trên sân khấu Broadway gần đây là ông Lin-Manuel Miranda tuyên bố rằng ông Trump sẽ “đi thẳng xuống hỏa ngục”.  Ông Miranda đã lên tiếng phê bình Tổng thống Trump sau khi ông này tấn công Thị trưởng Carmen Yulin Cruz. Giải thích về lời tuyên bố của mình, ông Miranda nói trên đài CBS rằng “đây là thứ ngôn ngữ chưa từng có của tôi, nhưng cũng chưa từng có một tổng thống Mỹ nào đã tấn công các nạn nhân của một thiên tai” như thế!
Hoa Kỳ có một ông tổng thống thiếu sự cảm thông đối với người dân đang gặp hoạn nạn đã đành, mà nói chung dường như người  Mỹ cũng chẳng mấy quan tâm đến “khúc ruột” ngàn dặm của họ tại Puerto Rico. Theo Tạp chí Time , số ra ngày 9 tháng Mười vừa qua, một ngày sau khi thống đốc Puerto Rico, ông Ricardo Rossello, lên tiếng cảnh cáo rằng “mặc dù là một phần lãnh thổ của Hoa Kỳ, Puerto Rico có thể trải qua một cuộc khủng hoảng nhân đạo” vì trận bão Maria, một cuộc thăm dò dư luận cho thấy gần một nửa dân chúng Mỹ không hề biết rằng người dân Puerto Rico cũng là những công dân Mỹ chính hiệu.
Puerto Rico hay Porto Rico (hải cảng giàu có) là một quần đảo gồm có hòn đảo chính là Puerto Rico và một số đảo nhỏ như Mona, Culebra và Vieques. Thủ phủ và cũng là thành phố đông dân nhất của Puerto Rico là San Juan. Người dân Puerto Rico sử dụng hai ngôn ngữ chính là Tây Ban Nha và Anh ngữ.
Trước khi nhà thám hiểm Cristoforo Colombo đặt chân đến Puerto Rico vào năm 1493, sắc dân chính sinh sống tại đây là người Taino. Họ gọi tên quần đảo này là Boriken. Colombo đặt tên lại cho quần đảo là San Juan Bautista.
Vào đầu Thế kỷ 16, người Tây Ban Nha bắt đầu định cư tại Puerto Rico. Mặc dù triều đình Tây Ban Nha ban hành luật bảo vệ người thổ dân Taino, các thực dân Tây Ban Nha vẫn áp đặt chế độ cưỡng bách lao động đối với họ. Bị nhiều thứ dịch bệnh do người Tây phương mang đến hoành hành, dân số Taino ngày càng bị thu hẹp. Để trám vào chỗ trống của người Taino, thực dân Tây Ban Nha đã đưa người nô lệ từ Phi Châu sang.
Mặc dù chủ quyền của Puerto Rico đã thuộc về Tây Ban Nha, nhưng một số nước Tây Phương khác trong đó có Hòa Lan cũng bắt đầu dòm ngó vào quần đảo này. Năm 1625, một trận chiến khốc liệt đã diễn ra tại San Juan giữa quân đội Tây Ban Nha và Hòa Lan. Mặc dù người Hòa Lan đã đốt phá nhiều làng mạc tại San Juan, họ đã không chiếm được Puerto Rico. Sau cuộc chiến, Tây Ban Nha đã cho xây dựng nhiều công thự phòng thủ hơn.
Vào cuối Thế kỷ 16 và đầu Thế kỷ 17, Tây Ban Nha cũng cho mở mang đường sá, phát triển nông nghiệp cũng như khai thác tài nguyên thiên nhiên. Số người nô lệ được đưa từ Phi Châu sang để khai thác các đồn điền mía đường và cà phê cũng gia tăng đáng kể.
Giữa tháng Tư năm 1797, quân đội Anh đưa một hạm đội với trên 64 tàu chiến đến xâm chiếm Puerto Rico. Quân đội Tây Ban Nha chống trả mãnh liệt. Hai bên đều chịu tổn thất nặng nề. Cuối tháng Tư năm đó, Anh tuyên tố ngưng chiến và bắt đầu rút lui khỏi San Juan. Vào thời điểm này, các phong trào tranh đấu giành độc lập tại các thuộc địa Tây Ban Nha cũng bắt đầu nổi lên.
Năm 1809, Puerto Rico đã được Tây Ban Nha nhìn nhận như một tỉnh hải ngoại. Được nhiều quyền tự trị hơn, người dân bản xứ và người nô lệ Phi Châu cũng bắt đầu tổ chức nhiều cuộc nổi loạn. Nổi tiếng nhất là cuộc nổi của ông Marcos Xiorro năm 1821. Mặc dù cuộc nổi loạn không thành công, nhưng ông Xiorro đã tạo được một khí thế mạnh trong lòng dân bản địa và được dành cho một chỗ đứng  quan trọng trong lịch sử Puerto Rico.
Đầu Thế kỷ 19, cảm hứng từ những lý tưởng của nhà cách mạng Simon Bolivar, người đã lãnh đạo cuộc tranh đấu giành độc lập cho một số nước Châu Mỹ La Tinh như Venezuela, Bolivia, Colombia, Ecuador, Peru và Panama...người dân Puerto Rico cũng đứng lên tranh đấu đòi độc lập. Tuy nhiên, người lãnh đạo của phong trào là Thống đốc Puerto Rico, ông Miguel de la Torre cùng với những thành phần chủ chốt của phong trào, đã bị giam tù hay bị đày ra nước ngoài.
Trước sự gia tăng của các phong trào giành độc lập tại các thuộc địa ở Nam và Trung Mỹ trong thượng bán Thế kỷ 19, Triều đình Tây Ban Nha xem Puerto Rico như một điểm chiến lược quan trọng cho nên đã ào ạt đưa di dân sang lập nghiệp tại đây. Bên cạnh 450.000 người Tây Ban Nha, Triều đình Tây Ban Nha còn mời mọc những người Tây Phương khác như Anh, Pháp và cả Mỹ đến định cư tại Puerto Rico, với điều kiện là họ phải tuyên thệ trung thành với triều đình và với Giáo hội Công giáo La Mã. Chiến dịch chiêu dụ này rất thành công. Người Tây Phương từ khắp nơi dồn về Puerto Rico. Tuy nhiên, tình trạng nghèo đói và các chính sách hà khắc của Tây Ban Nha đã khiến cho nhiều người thất vọng. Song song với các cuộc nổi dậy, người dân Puerto Rico cũng đứng lên tranh đấu để giải phóng người nô lệ. Năm 1873, chế độ nô lệ đã chính thức được bãi bỏ tại Puerto Rico. 25  năm sau, trước sự tranh đấu liên lỉ của các nhà cách mạng Puerto Rico, Triều đình Tây Ban Nha đã dành cho thuộc địa này quy chế bán tự trị và được tổ chức như một tỉnh hải ngoại của Tây Ban Nha.
Song song với các phong trào nổi lên giành độc lập tại Châu Mỹ La Tinh, Tây Ban Nha còn phải đối đầu với Hoa Kỳ, một cường quốc mới tại Mỹ Châu. Với một lực lượng hải quân ngày càng hùng mạnh, Hoa Kỳ cũng muốn có những thuộc địa tại vùng vịnh Caribe, vừa để khai thác than đá, vừa đề thiết lập các căn cứ hải quân. Những căn cứ này sẽ là những căn cứ chiến lược để bảo đảm việc xây dựng một kênh đào xuyên qua Panama hầu tàu bè có thể qua lại dễ dàng giữa Đại tây dương và Thái bình dương. Ngoại trưởng dưới thời hai tổng thống Abraham Lincoln và Andrew Johnson là ông William H. Seward đã từng đề nghị Hoa Kỳ sáp nhập Cộng hòa Domingo và Cuba. Nhưng Thượng viện Mỹ đã bác bỏ đề nghị này. Ngoài ra việc Hoa Kỳ muốn viện trợ cho Puerto Rico và Cuba 160 triệu Mỹ kim cũng bị Tây Ban Nha bác bỏ.
Có thể đây là một trong những lý do khiến Hoa Kỳ tuyên chiến với Tây Ban Nha. Ngày 25 tháng Bảy năm 1898, Hoa Kỳ đưa quân xâm chiếm Puerto Rico. Sự thù nghịch giữa 2 nước đã lên đến cao điểm sau khi Tây Ban Nha đánh chìm Chiến hạm USS Maine của Hoa Kỳ đang đậu tại Hải cảng Havana, Cuba. Lấy cớ này, Hoa Kỳ đã can thiệp vào Cuba và giúp cho thuộc địa này giành độc lập. Kết thúc cuộc chiến với Hòa ước Paris, Tây Ban Nha đã phải nhượng Puerto Rico cùng với Phi Luật Tân và đảo Guam cho Hoa Kỳ. Tuy không chịu nhượng Cuba cho Hoa Kỳ, nhưng Tây Ban Nha cũng từ bỏ chủ quyền đối với Cuba. Kể từ đó, mặc dù được độc lập, nhưng Cuba lại nằm dưới quyền bảo hộ của Hoa Kỳ mãi đến cho đến năm 1958 là năm  Fidel Castro thực hiện cuộc cách mạng “vô sản” và Cuba rơi vào quỹ đạo của thế giới cộng sản.
Sau khi chiếm Puerto Rico, Hoa Kỳ xem lãnh thổ này như một thuộc địa. Đầu Thế kỷ 20, Puerto Rico được trao cho quân đội quản trị  và thống đốc được tổng thống Hoa Kỳ bổ nhiệm. Sau đó, một chính quyền dân sự đã được thành lập với một hạ viện được dân chúng bầu lên. Nhưng thượng viện và thống đốc vẫn phải được Hoa Kỳ bổ nhiệm.
Năm 1914, Hạ viện Puerto Rico đồng thanh bỏ phiếu đòi được độc lập khỏi Hoa Kỳ, nhưng Quốc hội Mỹ xem đây là một hành động vi hiến.
Năm 1917, Quốc hội Mỹ thông qua một luật mới thừa nhận quyền công dân của tất cả những người Puerto Rico nào sinh vào hoặc sau ngày 25 tháng Tư năm 1898. Hạ viện Puerto Rico lại đồng thanh bỏ phiếu để phản đối luật này vì cho rằng Hoa Kỳ “áp đặt” quyền công dân lên người dân Puerto Rico là để cưỡng bách họ gia nhập quân đội Mỹ  và chiến đấu trong Đệ nhất Thế chiến. Tuy nhiên, Hoa Kỳ vẫn cương quyết bảo vệ luật này.
Thiên tai, trong đó có một trận động đất mạnh tạo ra sóng thần năm 1918 và nhiều trận bão cũng như cuộc Đại khủng hoảng kinh tế tại Hoa Kỳ đã khiến cho Puerto Rico trở nên nghèo nàn trong những thập niên đầu dưới quyền cai trị của Hoa Kỳ.
Năm 1947, Hoa Kỳ đã cho phép người dân Puerto Rico được bầu chọn thống đốc của họ. Trong 2 thập niên 1950 và 1960, từ nền kinh tế nông nghiệp, Puerto Rico đã được kỹ nghệ hóa một cách nhanh chóng mang lại nhiều công ăn việc làm cho người dân. Ngày nay Puerto Rico đã trở thành một điểm du lịch nổi tiếng thế giới  và là một trung tâm toàn cầu về kỹ nghệ dược phẩm.
Kể từ cuối Thế kỷ 20, Puerto Rico đã cho tổ chức nhiều cuộc trưng cầu dân ý về quy chế chính trị của lãnh thổ. Trong cuộc trưng cầu dân ý mới nhất dạo tháng Sáu năm 2017 vừa qua, vấn đề thành lập tiểu bang và độc lập đã được đưa ra cho người dân chọn lựa. Đa số dân chúng muốn trở thành một tiểu bang hơn là độc lập. Cùng với kết quả của cuộc trưng cầu dân ý này, các nhà lập pháp của Puerto Rico cũng muốn thông qua một dự luật cho phép thống đốc được soạn thảo hiến pháp của tiểu bang và tổ chức bầu cử để chọn thượng nghị sĩ và dân biểu vào Quốc hội Liên bang. Quốc hội Mỹ vẫn chưa thảo luận về đòi hỏi này. Nhưng dù cho quy chế chính trị của Puerto Rico có thay đổi như thế nào đi nữa, người dân của lãnh thổ này vẫn mãi mãi là công dân Mỹ và họ chỉ mong được đối xử một cách bình đẳng, nhất là khi xảy ra thiên tai.

(Nguồn
https://www.washingtonpost.com/news/posteverything/wp/2017/10/06/president-trump-has-no-idea-whats-happening-in-puerto-rico
-https://en.wikipedia.org/wiki/Puerto_Rico)


Thứ Sáu, 13 tháng 10, 2017

Bình đẳng và huynh đệ

Chu Thập
06/10/17

Hugh Hefner, người sáng lập tạp chí Playboy nổi tiếng của Mỹ, đã qua đời hôm 27 tháng Chín 2017 vừa qua, hưởng thọ 91 tuổi, để lại người vợ thứ ba chỉ mới 31 tuổi.
Tôi chỉ bắt đầu nghe nói tới tạp chí Playboy kể từ khi quân đội Mỹ ào ạt đổ vào Việt Nam. Chỉ nghe thôi, chớ đọc hay nhìn hoặc ngay cả cầm trên tay nguyên một tờ báo thì không bao giờ. Thời đó, tức giữa thập niên 1960, nói đến văn hóa Mỹ là phải nói đến Playboy. Văn hóa Mỹ xâm nhập vào Việt Nam, Playboy cũng len lỏi vào Việt Nam. Thật ra, được bày bán trong các tiệm sách hoặc ngay cả trên các vỉa hè, có lẽ Playboy chưa có được vinh dự ấy trong xã hội truyền thống của Việt Nam. Nhưng xuyên qua dân  “làm sở Mỹ” và nhứt là những người làm “bồi phòng”, Playboy được chuyền đến tay người Việt Nam và được xem như một sản phẩm văn hóa quý hiếm.
Thời đó, được nhào nặn theo truyền thống “nhà đạo” vốn xem tính dục như “chỗ dơ dáy” hay thứ hang hùm chớ mó tới, tôi xem  tất cả những gì có liên quan đến cơ phận thầm kín của con người  là “đồ xấu xa”. Lúc bấy giờ, tôi chưa biết đến kiểu nói “văn hóa đồi trụy” của mấy ông Việt Cộng. Tình cờ hoặc do xúi bẫy của bạn bè, lỡ liếc nhìn vào một vài trang của Playboy, mặt mày của người thanh niên như tôi đỏ lên như thể bị bắt quả tang ăn vụng hay làm điều “tội lỗi”. Ngay cả vào những năm gần cuối thập niên 1960, khi nhà trí thức công giáo Nguyễn Văn Trung tung ra hai quả bom là hai cuốn sách có tựa đề  “Ca tụng thân xác” và “Ngôn ngữ và Thân xác”, cái đầu “trong trắng” của tôi cũng vẫn chưa làm quen được với ý nghĩa đích thực của tính dục. Với tôi lúc đó, tính dục vẫn mãi mãi là “đồ dơ dáy”. Mãi cho đến khi đi tỵ nạn ở Pháp vào đầu thập niên 1980, được một số bạn thanh niên dắt đến các hồ tắm công cộng hay ra các bãi biển để “rửa mắt”, tôi mới được “rửa tội” lại để không còn phải đỏ mặt hay lúng túng khi phải chiêm ngắm những tấm thân “tươi mát” xuất hiện trước mặt mình một cách đầy thách thức. Mắt của tôi đã bắt đầu được miễn nhiễm khi bước vào các tiệm sách hay sạp báo ở các vỉa hè hoặc ngay cả khi phải đi ngang những khu phố dành riêng cho “người lớn”, nơi đó bên cạnh Playboy là vô số những tờ báo của mẫu quốc đầy dẫy hình ảnh của những “người nghèo mới” không có đủ vải để che thân!
Tôi là dân của một nước chậm tiến cho nên đầu óc tôi cũng chậm tiến, nhứt là về vấn đề tính dục. Phong trào thường được gọi là “cuộc cách mạng tình dục” hay “giải phóng tình dục” đã  phát sinh  tại Hoa Kỳ và lan rộng đến cả thế giới từ thập niên 1960. Với sự bùng nổ các phương tiện ngừa thai, phong trào này đã thách thức những chuẩn mực truyền thống về tính dục và dĩ nhiên cũng đã ít hay nhiều góp phần  “giải phóng” phụ nữ . Một cách nào đó, người phụ nữ đã được giải phóng khỏi rất nhiều ràng buộc gắn liền với tính dục và từ cuộc giải phóng tình dục, người phụ nữ cũng hưởng được nhiều quyền tự do hơn mà trước đó họ không bao giờ biết đến.
Tôi không biết người sáng lập tạp chí Playboy có thật sự đóng góp cho cuộc “cách mạng tình dục”và nhứt là giải phóng phụ nữ không. Mới đây, khi ông vừa nằm xuống, nhiều người đã không tiếc lời để đưa ông lên hàng “thần tượng” (icon) và gọi ông là người đã khởi xướng cuộc cách mạng tình dục và giải phóng phụ nữ. Nhưng nhìn vào hình tượng của một người đàn ông lúc nào cũng có các kiều nữ “tươi mát” bao quanh, tôi thấy mình không cách nào bị thuyết phục về danh dự người ta dành cho ông.
Nữ ký giả Shelly Horton, chủ biên của mục “Life & Style” của báo The Sydney Morning Herald đã có một cái nhìn hoàn toàn khác về người sáng lập tạp chí Playboy. Nữ ký giả này nhận định: “Nếu hôm qua (tức ngày 27 tháng Chín vừa qua) các bạn hỏi tôi nghĩ gì về ông (Hugh Hefner), tôi sẽ nói một cách đơn giản điều tôi nghĩ là: ông ta là một kẻ miệt thị đàn bà; ông đã kiếm lợi bằng cách khai thác phụ nữ một cách chuyên nghiệp và cho cá nhân ông.”
Theo Horton, Hefner là người đã làm giàu và đạt được tiếng tăm khắp thế giới bằng cách đưa những người đàn bà đẹp ăn mặc hở hang hay ngay cả trần truồng  lên thị trường như những sản phẩm để mua bán. Ký giả Horton trích dẫn một cuộc phỏng vấn hồi năm 1967 qua đó người sáng lập tạp chí Playboy tuyên bố rằng phụ nữ đẹp cũng giống như một con thỏ: vừa nhút nhát, vừa linh động, vừa gợi dục. Tựu trung, với ông, phụ nữ đẹp chẳng khác nào một món đồ chơi.
Theo ký giả Horton, chính Hefner đã từng huênh hoang rằng ông đã ăn nằm với “hàng ngàn phụ nữ”.
Chuyện xảy ra trong biệt thự Playboy Mansion của ông  thì vô số kể. Hai người phụ nữ song sinh người Anh là Carla và Melissa Howe là những người đã từng hẹn hò với ông cách đây vài năm. Hai người phụ nữ này cho biết  họ đã nghe kể  rằng ông đã từng giữ một lúc đến 16 cô gái trong biệt thự của ông và một khi đã chán chê, ông đã chuyền tay cho một người đàn ông khác.
Biệt thự Playboy của ông Hefner chẳng khác nào một hang động kín đáo: máy quay phim được cài đặt khắp nơi, tất cả mọi điện thoại đều được nghe lén. Theo ông Stefen Tetenbaum, người đã từng làm “bồi phòng” cho ông Hefner trong 2 năm 1978 và 1979, khách mời đến biệt thự không được phép tiếp xúc với các kiều nữ trong biệt thự. Không có bất cứ phó nhòm săn ảnh nào hoặc thám tử tư nào được lọt vào biệt thự. Người sáng lập Playboy luôn luôn thu hình các cuộc gặp gỡ của ông với người khác. Ông có 2 máy quay phim đặt ở đầu giường  và những màn ảnh rộng trong phòng ngủ. Tất cả những cuộc “ăn chơi” đều được thu hình. Người có nhiệm vụ cất giữ những băng hình này cho biết ông Hefner dùng chúng để chống lại bất cứ cộng sự viên hay khách mời nào dám đe dọa viết hồi ký về ông hay biệt thự của ông.
Theo ông Tetenbaun, những cuộc “ăn chơi” trác táng của ông Hefner thường được gọi là những “Đêm con heo” (Pig Nights). Đó là những cuộc truy hoan về đêm mà một người như tôi nghe đến chỉ muốn nôn mửa mà thôi.
 Riêng về quan hệ của ông Hefner với một người “bồi phòng” như ông Tetenbaun, ông này nói rằng ông chủ của Playboy “không phải là một người tử tế. Nếu ông nếm nước ngọt Pepsi mà thấy nó không đủ lạnh, ông ném đi và bảo tôi phải thay thế bằng một ly khác. Tôi không biết ông ta có bao giờ biết tôi tên gì không. Ông chỉ gọi tôi là tên “bồi phòng”. Theo ông Tetenbaun, ông Hefner tỏ ra rất vũ phu đối với các bạn gái và bạn tình của ông...Ông không chấp nhận những người phụ nữ không có ngực lớn. Nếu các phụ nữ không chịu bơm ngực cho vừa ý ông, ông liền tống cổ họ vào bệnh viện và sa thải họ. Ông Tetenbaun nói rằng đối với ông Hefner, phụ nữ chỉ là những món đồ chơi, không xài được nữa thì ném đi (x. http://www.news.com.au/entertainment/celebrity-life/celebrities-gone-bad/hefners-former-valet-reflects-on-pig-nights-with-hookers-and-hef/news).
Với những thâm cung bí sử từ ngôi biệt thự Playboy của ông Hefner vừa được tiết lộ, tôi cho rằng có thể ông  đã góp phần đẩy mạnh cuộc “cách mạng tình dục”, nhưng không hề là một người   giải phóng phụ nữ. Thật ra, “giải phóng” lúc nào cũng là một từ hàm hồ. Chả có nơi nào từ này được sử dụng nhiều cho bằng trong các nước cộng sản. Mấy ông cộng sản Việt Nam lúc nào mà chẳng  tự hào về cuộc giải phóng mà họ đã thực hiện bằng bạo lực và hệ quả chỉ là nô lệ, áp bức và nghèo nàn lạc hậu. Khi hậu quả của một cuộc giải phóng là phẩm giá của con người bị khinh miệt và chà đạp thì không thể xem đó là một cuộc giải phóng.
Khi tôi viết đến đây thì Hoa Kỳ lại trải qua một thảm kịch khủng khiếp nữa. Vẫn là nan đề của chuyện súng ống. 59 người chết, trên 500 người bị thương. Kể từ năm 1949, đây là cuộc thảm sát gây nhiều tử vong nhứt trong lịch sử Mỹ. Các cơ quan điều tra vẫn chưa cho biết động lực nào đã thúc đẩy kẻ sát nhân, một người da trắng giàu có, đã hành động như thế. Chỉ biết rằng kẻ giết người hàng loạt này đã có cả một kho vũ khí đủ loại và đã chuẩn bị rất kỹ trước khi ra tay hành động. Vào thập niên 1960, tôi đã đồng hóa văn hóa Mỹ với Playboy. Nay cứ nói đến Mỹ thì tôi lại liên tưởng đến súng đạn. Nghĩ như thế cũng phải thôi, bởi vì tính đổ đồng, mỗi công dân Mỹ có ít nhứt một khẩu súng. Ai muốn có súng cũng được.
Cuộc thảm sát tại trường tiểu học Sandy Hook, thành phố Newtown, Tiểu bang Connecticut tháng 12 năm 2012 khiến cho 20 trẻ em và 6 giáo viên bị thiệt mạng đã không đánh động lương tâm của các chính trị gia đủ để thông qua luật kiểm soát súng ống. Kế đó, Quốc hội cũng chẳng làm gì sau khi một người thanh niên da trắng đã xông vào một giáo đường để sát hại một số tín đồ da đen đang thờ phượng tại Charleston, Tiểu bang South Carolina. Những giọt nước mắt của Tổng thống Barack Obama cũng chẳng thấm vào đâu để thúc đẩy Quốc hội thông qua luật kiểm soát khí giới cá nhân. Cũng chẳng có chút thay đổi nào ngay cả sau khi có đến 2 dân biểu bị bắn trọng thương. Dĩ nhiên, các cuộc thăm dò dư luận cho thấy đa số người Mỹ muốn có những luật kiểm soát súng đạn chặt chẽ hơn. Nhưng cho tới nay đương kim Tổng thống Donald Trump vẫn cứ giữ vững lập trường duy trì Tu chính án thứ 2 cho phép và khuyến khích quyền được mang súng của công dân Mỹ. Dạo tháng Tư vừa qua, khi nói chuyện với các thành viên của Hội có súng (National Rifle Association), ông đã cam kết sẽ bảo vệ cho đến cùng quyền được cầm súng của cá nhân.
Trong 2 nhiệm kỳ 8 năm của ông, Tổng thống Obama đã phải đối diện với không biết bao nhiêu cuộc thảm sát bẵng võ khí cá nhân. Lần nào ông cũng gọi đó là một thứ “thông lệ” (routine). Chuyện bắn giết bằng súng đạn trong xã hội Mỹ ngày nay xem ra chẳng khác nào chuyện xảy ra trong các phim cao bồi một thời ở miền Viễn Tây: cứ có xích mích một chút là rút súng ra giải quyết; buồn tình chẳng biết làm gì, người ta cũng rút súng ra giải sầu. Chuyện bắn giết nhau diễn ra chẳng khác nào một trò chơi và dĩ nhiên trong trò chơi, mạng người và phẩm giá con người cũng chỉ còn là một món đồ chơi và đồ chơi rẻ mạt!
Tuần qua, tôi có xem chương trình “48 hours” (48 tiếng đồng hồ) trên đài số 10. Câu chuyện có thật xảy ra cách đây 2 năm tại Tiểu bang California được ghi lại trong chương trình là một vụ thảm sát trong đó một thanh niên 19 tuổi đã dùng súng sát hại cha mẹ và làm thương tích một đứa em nhỏ. Người mẹ là một triệu phú. Nhưng giết cha mẹ để chiếm đoạt tài sản không phải là động lực thúc đẩy người thanh niên ra tay. Căm thù cũng chẳng phải là nguyên nhân khiến cậu phạm tội ác. Cuộc điều tra cho thấy trước đó người thiếu niên đã say mê và bị ám ảnh bởi một vụ bắn giết tương tự. Cậu đã làm một bài luận văn xuất sắc về vụ thảm sát này. Người thanh niên có lẽ đã muốn dàn dựng lại câu chuyện như thể một trò chơi và cha mẹ cậu đã được chọn làm vật tế thần trong trò chơi ấy.
Từ chuyện của người sáng lập tạp chí Playboy đến vụ thảm sát mới đây tại Las Vegas, tôi nghĩ đến phẩm giá con người và sự bình đẳng. Một sự bình đẳng đích thực chỉ có được thể xây dựng trên ý thức về phẩm giá con người. Nhưng phẩm giá con người và bình đẳng sẽ chỉ là những ý niệm mơ hồ và trống rỗng, nếu không có tình huynh đệ. Những nhà  cách mạng Pháp hồi năm 1789 đã có lý để thêm hai chữ “huynh đệ” vào khẩu hiệu “Tự do và Bình đẳng”. Nghĩ cho cùng, nếu tôi nhìn người khác như người anh em của tôi thì liệu tôi có xem họ như một món đồ chơi hay một sự vật để sử dụng, miệt thị và vứt bỏ không tiếc thương không?







Thứ Hai, 9 tháng 10, 2017

Vương quốc Á rập Saudi: phụ nữ và quyền được lái xe!


06/10/17

Sáng thứ Tư 27 tháng Chín 2017 vừa qua, với một cử chỉ được xem là “phi thường”,  Quốc vương Á rập Saudi Mohammaed bin  Salman đã ban hành một sắc chỉ cho phép phụ nữ được phép lái xe kể từ năm tới.
Đây là một chiến thắng lớn cho phụ nữ tại vương quốc Hồi giáo này. Kholoud Attar, chủ một tiệm thời trang tại Thủ đô Riyadh, đã nói với một phóng viên của đài CNN rằng quyết định trên đây sẽ mang lại một sự thay đổi lớn lao cho cá nhân chị cũng như các nữ nhân viên của chị. Người phụ nữ 32 tuổi này giải thích rằng được lái xe sẽ giúp tiết kiệm rất nhiều thời giờ. Riêng đối với các nữ nhân viên đang làm việc trong tiệm thời trang của cô Attar, được lái xe sẽ giúp họ tiết kiệm được một số tiền lớn vì phải thuê người chở tới sở làm. Thuê một người lái xe đưa đón ngốn đến gần một nửa lương tháng của người phụ nữ. Chẳng hạn lương tháng của một nữ giáo viên là 1.600 Mỹ kim. Người giáo viên này phải trả cho tài xế đưa đón mình gần 800 Mỹ kim.
Manak al-Sharif, một trong những người phụ nữ chủ động trong chiến dịch có tên là “Women2Drive” (Phụ nữ được quyền lái xe) tại Á rập Saudi, nói rằng đối với người phụ nữ đang sống trong vương quốc Hồi giáo này, đây là một chiến thắng lớn lao. Cô Sharif hiện đang sống tại Úc Đại Lợi. Năm 2011, cô đã bị giam tù sau khi đưa lên YouTube một băng hình cho thấy cô đang lái xe. Hành động thách thức  này đã khiến cô bị đe dọa giết chết, nhưng đồng thời cũng thúc đẩy cô mở chiến dịch tranh đấu cho quyền được lái xe của người phụ nữ.
Trong cuộc phỏng vấn dành cho đài CNN từ Úc Đại Lợi, người phụ nữ đầy can đảm này đã lên tiếng ca ngợi giới lãnh đạo trẻ tại Á rập Saudi. Nhưng theo cô, động lực khiến giới lãnh đạo Á rập Saudi nhìn nhận quyền được lái xe của phụ nữ chính là tình trạng kinh tế trì trệ hiện nay. Để đẩy mạnh kinh tế, chính phủ nước này thấy  cần phải kêu gọi sự đóng góp tích cực của nữ giới. Được lái xe là một trong những điều kiện để họ có thể tham gia vào hoạt động kinh tế.
Á rập Saudi là một vương quốc áp dụng triệt để giáo lý Wahhabi, một hệ phái Hồi giáo rất bảo thủ. Hệ phái Hồi giáo này không cho phép nam giới và nữ giới được trà trộn với nhau trong các buổi lễ, các cuộc tập trung và ở những nơi công cộng. Mỗi khi đi ra khỏi nhà, nữ giới phải luôn được một người thân trong gia đình thuộc nam giới tháp tùng. Còn để được đi làm hoặc du lịch, họ cũng phải có phép của một người đàn ông giám hộ.
Nhưng với sắc lệnh mới của nhà vua, phụ nữ Á rập Saudi sẽ không phải xin phép người nam giám hộ để học lái xe. Tuy nhiên, các qui định khác về việc giám hộ phụ nữ vẫn còn có giá trị và sẽ tiếp tục chi phối nhiều khía cạnh trong cuộc sống hàng ngày của người phụ nữ. Do đó, mặc dù được phép lái xe là một bước tiến quan trọng đối với phụ nữ Á rập Saudi, con đường tự do và bình đẳng đối với họ vẫn còn dài và đầy chông gai.
Cùng với sắc chỉ cho phép phụ nữ lái xe, việc tháo gỡ một số những giới hạn đối với phụ nữ mở ra nhiều triển vọng cho kinh tế của Vương quốc Á rập Saudi và cách riêng cho sự đóng góp của người phụ nữ vào nhiều lãnh vực, nhất là kinh tế. Đây là thay đổi mới nhất trong một loạt cải tổ tại Á rập Saudi kể từ khi Quốc vương Mohammed bin Salman lên kế vị vua cha.
Ông được vua cha truyền ngôi kể từ tháng Sáu 2017 vừa qua. Kể từ khi đăng quang, ông đã đưa ra chương trình cải cách kinh tế mà mục tiêu phải đạt được là năm 2030. Với mục tiêu này, ông muốn đặc biệt gia tăng con số nữ giới vào nguồn nhân lực.
Được lái xe là một chiến thắng và đồng thời là một nhân quyền đối với người phụ nữ tại Á rập Saudi. Tuy nhiên, sắc lệnh cho phép phụ nữ lái xe đã không được nhiều người, nhất là giới mày râu tại đây hưởng ứng. Trên nhiều trang mạng xã hội, một số người đã bày tỏ quan ngại rằng cho phép phụ nữ lái xe sẽ vi phạm các luật lệ nghiêm nhặt về “nam nữ thọ thọ bất thân” trong vương quốc.
Thật ra, được quyền lái xe không phải là vấn đề lớn nhất đối với nhiều phụ nữ Á rập Saudi. Quan trọng hơn chính là quyền bình đẳng đối với nam giới, như được ra khỏi nhà một mình mà không cần phải có một người thân là đàn ông hay một nam giám hộ  cho phép hay đi kè kè một bên.
Nhiều người phụ nữ Á rập Saudi đã đón nhận sắc lệnh cho phép phụ nữ lái xe như một tin vui. Nhưng trong thực tế, sắc lệnh này vẫn chưa tháo gỡ được nhiều thứ rắc rối khác có thể xảy ra trong việc lái xe của người phụ nữ. Chẳng hạn, khi chiếc xe do người phụ nữ lái bị hỏng giữa đường thì sao? Dĩ nhiên, trong cái nhìn miệt thị phụ nữ trong vương quốc Hồi giáo này, người phụ nữ không thể tự động đứng ra thay bánh xe hay sửa máy ở giữa đường được.
Nhưng còn chuyện rắc rối hơn phải nghĩ tới là: nếu người phụ nữ ngồi một mình trên xe, nghĩa là không có người giám hộ hay một người thân là đàn ông bên cạnh thì làm sao chị có thể mở miệng kêu gọi người qua lại đến giúp đỡ, bởi vì bắt chuyện với một người đàn ông không phải là người thân trong gia đình là một hành động phạm pháp có thể bị trừng phạt một cách nặng nề.
Về quyền của phụ nữ, Á rập Saudi là một trong những nơi đầy mâu thuẫn. Nước này tỏ ra tiến bộ hơn rất nhiều nước khác về một số quyền của phụ nữ. Kể từ năm 2015, lần đầu tiên phụ nữ Á rập Saudi được đi bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử của hội đồng thị xã. Cùng với quyền này, phụ nữ cũng được phép vận động để tranh vào một số chức vụ trong công quyền. Tuy nhiên các ứng cử viên nữ giới lại không được phép “nói chuyện” với các cử tri nam và dĩ nhiên cũng không được phép để cho nam giới và nữ giới được cùng có mặt bên nhau trong các văn phòng vận động bầu cử của họ.
Bên cạnh quyền này, nữ giới cũng được bổ nhiệm vào hội đồng tham vấn. Ít nhất đã có 17 phụ nữ được bầu vào hội đồng này trong cuộc bầu cử cấp thị xã hồi năm 2015. Năm 2011, Quốc vương Abdullah đã ban hành một sắc lệnh cho phép phụ nữ được đi bỏ phiếu và hai năm sau, ông qui định rằng phải dành ít nhất 20 phần trăm số ghế trong hội đồng tham vấn cho nữ giới.
Về phương diện giáo dục, Á rập Saudi cũng tỏ ra rất tiến bộ. Một bản phúc trình của chính phủ được công bố hồi năm 2015 cho thấy có nhiều nữ sinh viên hơn nam sinh viên trong các đại học.
Ngoài ra cũng đáng chú ý không kém là sự kiện nữ giới Á rập Saudi cũng được tham gia thi đấu trong các thế vận hội. Nước này đã cử 2 nữ lực sĩ tham gia thi đấu trong thế vận hội 2012 được tổ chức tại London, Anh quốc.
Song song với những quyền trên đây, phụ  nữ Á rập Saudi vẫn còn phải chịu rất nhiều hạn chế. Phụ nữ nước này vẫn chưa được phép lập gia đình, ly dị, tìm công ăn việc làm hoặc trải qua một cuộc giải phẫu đặc biệt mà không có phép của nam giám hộ . Luật giám hộ vẫn còn chi phối hầu như mọi khía cạnh trong cuộc sống của phụ nữ. Trong trường hợp cha của người phụ nữ qua đời hay vắng mặt, thì người chồng, một người thân thuộc nam giới, người anh em hoặc trong một số trường hợp, ngay cả con trai của họ, mới có quyền chấp thuận trước khi một người phụ nữ có thể hưởng được những quyền thường là rất căn bản của họ.
Một điều cấm kỵ khác đối với phụ nữ Á rập Saudi là họ không được tùy ý tiếp xúc hay có mặt tại những nơi chỉ dành cho đàn ông, ngoại trừ một số trường hợp ngoại lệ như đi bệnh viện, vào ngân hàng và các trường y khoa. Năm 2013, Chính quyền Á rập Saudi đã ra lệnh cho các tiệm buôn nào mướn cả đàn ông lẫn đàn bà làm nhân viên đều phải xây những “bức tường ngăn cách” để triệt để thi hành luật cấm nam nữ trà trộn với nhau.
Phụ nữ Á rập Saudi không được phép xuất hiện nơi công cộng mà không mặc chiếc áo dài đen (abaya) phủ từ đầu đến chân. Luật này là để bảo vệ sự trang nghiêm, kín đáo của phụ nữ ở nơi công cộng.
Phụ nữ Á rập Saudi không được phép làm một số kinh doanh nếu không có một người đàn ông đỡ đầu. Muốn đứng ra mở một doanh nghiệp riêng, người phụ nữ nước này thường phải xin ít nhất 2 người đàn ông đến làm chứng cho tư cách của họ để họ được vay mượn tiền của ngân hàng hoặc được phép kinh doanh.
Trong trường hợp ly dị, phụ nữ nước này không được phép giữ con cái cho đến khi chúng được 7 tuổi nếu là con trai và 9 tuổi nếu là con gái.
Người phụ nữ Á rập Saudi cũng không thể nộp đơn xin cấp thẻ căn cước hay sổ thông hành nếu không có phép của một nam giám hộ.
Người phụ nữ nước này cũng không được phép ăn uống trong các tiệm ăn nếu các tiệm ăn này không có một nơi dành riêng cho gia đình. Tại Á rập Saudi, hầu như tiệm ăn nào cũng có một khu dành riêng cho gia đình tách biệt với những khu chỉ có thực khách nam. Dĩ nhiên, để vào các tiệm ăn, nữ giới cũng phải đi theo một lối dành riêng cho họ, thường là cửa hông.
Về phương diện tố tụng, nữ giới Á rập Saudi không hề có quyền hưởng một phiên xử phân minh. Tại tòa án, lúc nào “chứng cớ của một người đàn ông cũng có giá trị bằng chứng cớ của 2 người phụ nữ”. Tại Á rập Saudi, trước pháp luật, người phụ nữ chỉ được xem như một trẻ em vị thành niên do đó không thể hoàn toàn làm chủ được cuộc sống của mình.
Cuối cùng, người phụ nữ Á rập Saudi không được quyền thừa hưởng gia tài bình đẳng với đàn ông. Theo luật thừa kế dựa theo luật Hồi giáo Sharia, con gái chỉ nhận được nửa gia tài. Vì chỉ nhận được một nửa hoặc có khi bị loại khỏi chúc thư của người cha, phụ nữ Á rập Saudi dễ rơi vào cảnh nghèo túng.
Theo bản phúc trình của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum) được công bố năm vừa qua, trong 144 nước được khảo sát, Á rập Saudi đứng hàng thứ 141 xét về khoảng cách bình đẳng giữa nam giới và nữ giới, đứng sau cả những nước như Syria, Pakistan và Yemen.
Được phép lái xe quả là một bước tiến đáng kể đối với người phụ nữ của Vương quốc Á rập Saudi. Đây là một chiến thắng mà họ chỉ đạt được sau gần 2 thập niên chiến đấu. Tuy nhiên, được lái xe chỉ là một thứ “ân huệ” nhỏ mà vương quốc này “ban” cho thần dân nữ giới của họ. Người phụ nữ Á rập Saudi không chỉ mong có thế. Điều họ chờ đợi không chỉ là được lái một chiếc xe, mà là được hoàn toàn bình đẳng với nam giới trong mọi quyền lợi và nghĩa vụ.
Họ muốn được “lái” cuộc đời của họ.




Thứ Sáu, 6 tháng 10, 2017

Tình người vẫn chiếu sáng

Chu Thập
29/09/17

Nhân trận bão lụt Harvey vừa qua tại Houston, Tiểu bang Texas, Hoa Kỳ tỷ phú Hoàng Kiều ở Mỹ đã làm “vẻ vang dân Việt” khi ông mở hầu bao trao tặng đến 5 triệu Mỹ kim để đóng góp vào việc cứu trợ và tái thiết. Tổng thống  tỷ phú Donald Trump, tuy cũng thuộc hạng giàu nứt đố đổ vách, nhưng cũng chỉ mở túi cho có đúng một triệu thôi. So sánh hành động của hai nhà tỷ phú này, báo Việt Luận, số ra ngày 15 tháng Chín vừa qua, đã chạy “tít” ngay ở trang nhứt: “Tổng thống Trump bị tỷ phú Việt chơi gác”.  Còn trên một trang mạng xã hội nào đó ở Mỹ, có người còn thách thức Tổng thống Trump: “Tôi hy vọng là ngài sẽ đọc tin này, thưa ngài tổng thống Trump” (I hope you’re seeing this, Pres. Trump). Thế giới sẽ tốt đẹp hơn khi người giàu đua nhau làm việc thiện!
Đứng trước hoạn nạn, khổ đau của người đồng loại, nhứt là khi xảy ra thiên tai như bão lụt, động đất, núi lửa...những người giàu có thường tỏ ra hào sảng. Lòng quảng đại của người giàu, dĩ nhiên luôn được đề cao và nhắc nhớ. Tên tuổi của họ được mọi người biết đến. Tuy nhiên, với tôi, cử chỉ chia sớt của người giàu cũng chỉ là những viên kim cương lác đác trong tòa nhà tình người vốn được xây dựng và đứng vững nhờ vô số những viên gạch đóng góp của những người vô danh. Tình người được đo lường không bằng số lượng đóng góp hay tên tuổi, mà thiết yếu bằng sự vô danh.
Với tựa đề “Sự tử tế của người xa lạ” (The kindness of Strangers), Tạp chí Time số ra ngày 25 tháng Chín vừa qua đã ghi lại những đóng góp “vô danh” của người Mỹ cho công cuộc cứu trợ sau trận bão Harvey vừa qua nói riêng và trong các công tác từ thiện nói chung.
Khi trận bão lụt Harvey nhận chìm căn nhà của anh tại thành phố Houston, Isaih Courtney chỉ còn đủ thì giờ để vơ vét chút đỉnh quần áo, ôm con chó cưng trong vòng tay và đưa vợ con đến một nơi an toàn. Trận bão lụt đã để lại khoảng 150 tỷ Mỹ kim thiệt hại vật chất và làm cho trên 70 người thiệt mạng. Hai ngày sau khi trận bão đã đi qua, người cha 28 tuổi và người vợ trẻ đã mon men trở về nhà. Họ nhận thấy không có bất cứ thứ gì trong nhà còn nguyên vẹn; hầu như mọi thứ thiết bị gia dụng đều hư hại.
Courtney vốn là một nhân viên làm việc cho một hãng dầu. Dù vậy, anh không có bảo hiểm về lụt lội và cũng chẳng có đủ tiền để dành để sửa chữa những thiệt hại trong nhà. Bà con, bạn bè tại Houston, ai cũng cùng chung số phận như anh. Thành ra, Courtney nghĩ bụng: chỉ còn một nơi duy nhứt để gõ cửa là tấm lòng của người xa lạ.
Nghĩ như thế cho nên Courtney mới vào trang mạng GoFundMe (xin giúp tôi) để xin 40.000 Mỹ kim. Đây là số tiền mà anh nghĩ là vừa đủ để sửa lại ngôi nhà và thay thế các đồ gia dụng cũng như bàn ghế trong nhà. Kèm theo tấm hình chụp gia đình anh đang đứng trước nhà với đủ thứ mọi vật dụng hư hại, Courtney viết thêm: “Bất cứ thứ gì cũng đều có ích”. Chỉ  vài ngày sau, anh đã nhận được sự đáp trả quảng đại của trên 900 người xa lạ vô danh: tổng cộng số tiền lên đến 32.000 Mỹ kim.
Courtney chỉ là một trong hàng ngàn người Mỹ đã chạy tới những trang mạng như GoFundMe và YouCaring để cầu cứu, vì họ tin ở tấm lòng vàng của những người xa lạ.
5 ngày sau khi trận bão Harvey tấn công vào Thành phố Houston, GoFundMe đã mở được trên 850 chiến dịch quyên góp và thu về được hơn 4.5 triệu Mỹ kim để đáp ứng với nhiều nhu cầu khác nhau, từ những chiếc tã lót cho thơ nhi của những gia đình di tản đến thực phẩm cho thú cưng. Hình ảnh của một bé gái 3 tuổi đang bám chặt thi thể vô hồn của người mẹ đã tạo một xúc động mạnh: em đã nhận được hơn 175.000 Mỹ kim để được cắp sách đến trường. Một gia đình phải chôn cất đến 6 người thân bị chết đuối cũng nhận được trên 47.000 đô.
Riêng trang mạng YouCaring đã tổ chức được trên 6.000 chiến dịch và đã thu về khoảng 44 triệu Mỹ kim. Nói chung, chưa bao giờ những cuộc quyên góp trên các trang mạng và từ những người vô danh đã thu về được nhiều tiền như thế.
Trước đây, kêu gọi đám đông vô danh đóng góp thường chỉ diễn ra trong các cuộc vận động bầu cử. Nhưng theo Tạp chí Time, từ hơn 5 năm vừa qua, những cuộc quyên góp từ đám đông vô danh đã trở thành một “kỹ nghệ” từ thiện thu góp về hàng tỷ Mỹ kim. Những người vô danh không còn trao tặng xuyên qua các tổ chức từ thiện mà trực tiếp gởi tiền đến các cá nhân đang gặp hoạn nạn.
GoFundMe đã được thành lập năm 2010. Con số các ân nhân vô danh nay đã lên đến 40 triệu người. Số tiền họ trao tặng đã lên đến trên 4 tỷ Mỹ kim. Còn kể từ năm 2011 đến nay, trang mạng YouCaring cũng  đã quyên góp được hơn 800 triệu Mỹ kim.
Theo một cuộc thăm dò do trung tâm Pew Research Center thực hiện, có đến 22 phần trăm người Mỹ trao tặng trên những trang mạng như thế và vì trao tặng mà không thông qua một tổ chức từ thiện có tên tuổi, cho nên họ cũng chẳng được miễn thuế.
Tấm lòng quảng đại của những người Mỹ vô danh một phần đã được khích động do các trang mạng xã hội vốn có thể trình bày ra trước mắt thực tại khổ đau của những người cần được giúp đỡ. Ngoài ra, người Mỹ cũng dễ bị đánh động hơn khi họ nhìn thấy tận mắt khoảng cách giàu nghèo và những khó khăn về tài chính của rất nhiều người trong xã hội. Theo Tạp chí Time, có hơn 40 phần trăm người Mỹ không có đủ khả năng tài chính để bất thần phải chi trả một số tiền khoảng 400 Mỹ kim trở lên như sửa một chiếc xe hơi bị hỏng máy,  tu bổ một ngôi nhà bị lụt lội tàn phá hoặc  trong trường hợp khẩn thiết phải vào bệnh viện mà không có bảo hiểm.
Kể từ năm 2010, số tiền dâng cúng của người Mỹ cho các hoạt động từ thiện đã không ngừng gia tăng. Năm 1976, tổng số tiền đóng góp của người Mỹ cho các công cuộc từ thiện là 234 tỷ Mỹ kim. Năm 2009, con số này đã lên gần gấp 3 lần. Và  năm 2016 vừa qua, số tiền quyên góp được lên đến 390 tỷ Mỹ kim. Nhìn chung, người Mỹ lúc nào cũng quảng đại và ngày càng có thêm nhiều người quảng đại.
Với tôi, nước Mỹ lúc nào cũng vĩ đại và vĩ đại nhờ tấm lòng vàng của người dân. Thật ra, ngày nay, khi thế giới ngày càng được thu hẹp thành một ngôi làng, sợi giây  liên đới nhân loại ngày càng nối dài , tình người ngày càng dâng cao, sự chia sẻ ngày càng trở nên thúc bách hơn. Ngay cả giữa hai nước thù nghịch là Nam và Bắc Hàn, cho dù tình hình có căng thẳng đến đâu và chiến tranh có thể xảy ra bất cứ lúc nào, Nam Hàn vẫn cứ tiếp tục mở rộng bàn tay để san sẻ cho Bắc Hàn. Mới đây chính phủ đã phê chuẩn một ngân khoản viện trợ cho Bắc Hàn lên đến 8 triệu Mỹ kim để trợ giúp nhân đạo đặc biệt cho trẻ em và phụ nữ có mang.
Ngay như ở Việt Nam, mặc dù sự vô cảm vẫn là tình trạng chung của cả nước, người ta vẫn thấy có nhiều hoạt động từ thiện. Ngoài các tổ chức có tên tuổi và được “đăng ký”, không thiếu các cá nhân đã và đang tỏ ra  tích cực, có khi rất âm thầm, trong việc bỏ tiền túi hoặc đứng ra quyên góp để giúp đỡ những thành phần yếu kém trong xã hội hoặc những người đang gặp hoạn nạn dưới nhiều hình thức khác nhau. Ít ra, trong bóng đêm của ích kỷ, dửng dưng và vô cảm, ánh sáng của tình người vẫn còn có thể chiếu sáng.
Nhìn vào một bức tranh như thế trên khắp thế giới, tôi cảm thấy lạc quan. Tôi có thể không có niềm tin tôn giáo. Tôi không tin ở các ý thức hệ. Tôi lại càng nghi ngờ về thiện chí của các chính trị gia hơn. Nhưng nếu còn có chút niềm tin thì niềm tin của tôi trước tiên được đặt vào tình người.
Tôi vẫn còn nhớ lời khuyên của tỷ phú Bill Gates trên Tạp chí Time hồi năm vừa qua. Ông viết rằng nếu có một món quà mà ông muốn tặng cho các sinh viên mới ra trường, thì món quà đó phải là cuốn sách có tựa đề “Những thiên thần tốt hơn trong bản chất con người chúng ta” (The Better Angels of Our Nature) của tác giả Steven Pinker, được xuất bản hồi năm 2011.
Trong chương Tám của cuốn sách, tác giả Pinker đã phân tách 5 “thứ quỷ trong con người” đã từng ngự trị và lèo lái lịch sử của thế giới trong quá khứ. Trước hết là con quỷ bạo động: bạo động dưới mọi hình thức đã từng được xem như phương thế thực tiễn để giải quyết mọi vấn đề. Kế đó là con quỷ của óc thống trị. Con quỷ này thường dựa vào chủng tộc, tôn giáo, dân tộc...để thúc đẩy con người bằng mọi giá tìm kiếm quyền lực và danh vọng. Con quỷ thứ ba luôn hoành hành trong bản tính con người là sự thù hận. Nhưng độc ác và bỉ ổi hơn cả vẫn là con quỷ của tàn bạo. Đây là loại quỷ dữ luôn thúc đẩy con người tìm kiếm niềm vui sướng trên chính nỗi khổ đau của người khác. Cuối cùng, con quỷ thứ năm trong bản tính con người là các ý thức hệ.
Nhưng theo tác giả, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy 5 con quỷ trên đây đã dần dần nhường chỗ cho 4 vị thiên thần trong bản tính con người. Thay cho bạo động, hận thù, óc thống trị...nhân loại ngày càng hướng đến sự hợp tác và tình vị tha. Tác giả Pinker gọi 4 thiên thần đó là: sự cảm thông, tinh thần tự chế, ý thức luân lý và lý trí.
Thời xa xưa, nhứt là ở Âu Châu, cứ có  xích mích là người ta liền rút kiếm ra để song đấu; mạng mình và mạng người khác rẻ như bèo. Giữa các quốc gia cũng thế, hễ có xung đột người ta liền dàn quân ra để ăn thua đủ với nhau. Hai cuộc Đại thế chiến có lẽ cũng đã xảy ra vì bạo động và vũ lực luôn được xem như phương thế duy nhứt để giải quyết vấn đề.
Tôi không biết tình trạng căng thẳng tại Bán đảo Triều Tiên có kết thúc bằng một cuộc chiến tranh nguyên tử không. Cuộc đấu võ mồm giữa lãnh tụ Kim Jong Un và Tổng thống Donald Trump nghe chan chát. Bên này gọi bên kia là “Người hỏa tiễn”, bên kia gọi bên này là “kẻ mất trí”. Trừ phi có một kẻ mất trí nào đó, trong cơn điên loạn, sẽ bấm nút vào ngòi nổ của kho vũ khí hạt nhân, hầu hết các nhà lãnh đạo trên thế giới hiện nay đều kêu gọi sử dụng lý trí, suy nghĩ bằng cái đầu tỉnh táo để giải quyết cuộc xung đột. Tôi tin rằng chẳng có lãnh tụ nào muốn có chiến tranh nguyên tử. Cùng với tác giả Pinker, tôi tin rằng “những thiên thần tốt hơn trong bản chất con người của chúng ta” sẽ tích cực hoạt động để ngăn ngừa một cuộc chiến tranh như thế.
Đó là niềm hy vọng của tôi vào  chuyện đại sự. Còn trong phạm vi của cuộc sống âm thầm và vô danh của tôi, tình người và sự cảm thông mà tôi cảm nhận được từ những người xung quanh tôi và nhứt là những người xa lạ mà tôi gặp gỡ trên mọi nẻo đường, lúc nào cũng khơi dậy trong tôi niềm lạc quan vui sống. Và dĩ nhiên, kinh nghiệm bản thân cũng luôn nói với tôi rằng mỗi lần tôi làm được một nghĩa cử, dù nhỏ bé và âm thầm đến đâu, tôi lại thấy cuộc sống có ý nghĩa và đáng sống.


Thứ Hai, 2 tháng 10, 2017

Rohingya: những đứa trẻ mồ côi



27/09/17
Rashid là một cậu bé chỉ mới 10 tuổi, nhưng đôi vai nhỏ bé của em đã phải gánh vác một trách nhiệm nặng nề: em phải chăm sóc cho đứa em gái Rashida, 6 tuổi!
Rashid và Rashida là hai trẻ em mồ côi trong số trên dưới 1.400 em Rohingya đã đến được Bangladesh, gần biên giới Miến Điện mà không có cha mẹ các em đi cùng. Cha mẹ của các em hoặc đã bị giết chết hoặc đã mất tích trong cuộc săn đuổi và truy lùng dã man tại Tỉnh bang Rakhine, miền Tây Miến Điện. Nhiều người đã gọi thảm kịch của người Rohingya tại Miến Điện là một cuộc diệt chủng.
Trong nước mắt, Rashid khẳng định rằng cha mẹ em đã bị quân đội Miến giết chết.
Người Rohingya đã tố cáo quân đội Miến về những cuộc tàn sát nhắm vào sắc tộc của họ. Quân đội Miến đã  lấy cớ bị một nhóm vũ trang người Rohingya tấn công để xua đuổi toàn bộ sắc tộc này ra khỏi Miến Điện.
Tuyệt đại đa số người Rohingya sống tại Tỉnh bang Rakhine. Theo các tài liệu lịch sử, trước đây tỉnh bang này là một vương quốc độc lập có tên là Arakan và chỉ mới bị sáp nhập vào Miến Điện vào năm 1785. Trong khoảng thời gian từ Thế kỷ 15 đến Thế kỷ 17, Vương quốc Arakan đã được các vị vua mang tước hiệu Hồi giáo “Shah” cai trị. Phần lớn người Rohingya đã sống trong vương quốc này trước khi lãnh thổ này bị sáp nhập vào Miến Điện. Tính đến  năm 2013, con số người Rohingya sống tại Miến Điện lên đến khoảng trên dưới một triệu người. Hầu hết theo Hồi giáo, nhưng giữa họ và người Miến theo Phật Giáo, mối quan hệ lúc nào cũng hài hòa. Trong thời  Đệ nhị Thế chiến, nhiều người Rohingya theo người Anh, trong khi đó người Miến theo Phật Giáo lại ngả về phía Nhật bản.
Sau khi Miến Điện được độc lập và nhất là kể từ thập niên 1960, khi quân đội lên cầm quyền, người Rohingya bắt đầu bị kỳ thị. Chính phủ Miến đưa ra nhiều đạo luật buộc người Rohingya phải chứng minh rằng họ đã sống trên đất Miến trước năm 1824 nếu muốn nhập quốc tịch của nước này. Đây là một đòi hỏi hầu như bất khả thi đối với tuyệt đại đa số người Rohingya. Chính vì thế mà họ bị coi như những người vô tổ quốc, không được tự do đi lại và dĩ nhiên phải chịu nhiều bất công khi phải đương đầu với các viên chức nhà nước, đặc biệt trong những vấn đề liên quan đến quyền sở hữu đất đai hoặc hôn thú.
Dĩ nhiên, đàng sau những áp bức và bất công là những kỳ thị bắt nguồn từ chủng tộc và nhất là tôn giáo. Phật giáo chiếm gần 90 phần trăm dân số. Tại Miến Điện, có một sự đồng hóa chặt chẽ giữa Phật Giáo và dân tộc. Tuy theo Hiến pháp, Phật giáo không phải là quốc giáo và các tôn giáo thiểu số cũng không công khai bị bách hại, nhưng nhiều người dân Miến nghĩ rằng đã sinh ra trên đất Miến thì đương nhiên phải theo Phật giáo. Trong các tôn giáo thiểu số, Hồi giáo bị kỳ thị một cách đặc biệt. Tại một số làng quê, người ta đọc được những tấm bảng có nội dung như: “Cấm người Hồi giáo ở lại qua đêm. Cấm người Hồi giáo thuê nhà. Cấm không được kết hôn với người Hồi giáo”.
Ngay cả trong hàng ngũ các chức sắc của Phật giáo Miến Điện cũng có những nhà sư đã tỏ ra rất hung hãn trong việc hô hào chống Hồi giáo. Nổi tiếng nhất là nhà sư Asin Wirathu. Trước hàng trăm tín đồ, nhà sư này đã từng hỏi: “Nên lấy một kẻ bụi đời hay một người Hồi giáo?” Đám tín đồ đồng thanh đáp: “Bụi đời”. Nhà sư lại hỏi: “Nên lấy chó hay lấy người Hồi giáo?” Rồi ông giải thích: “Chó không bao giờ buộc người khác phải cải đạo như Hồi giáo”. Dĩ nhiên, Phật giáo, vốn là tôn giáo của khoan nhượng và vô chấp, không hề có chủ trương cấm cải đạo. Nhưng nghe một nhà sư “giảng đạo” như thế, người ta hiểu được thái độ kỳ thị và mối căm thù của một số tín đồ Phật giáo Miến Điện đối với người Rohingya theo Hồi giáo.
Người Rohingya là một sắc tộc đã từng có mặt trên đất Miến từ nhiều thế kỷ qua. Đây là một sự thật lịch sử mà Chính phủ Miến đã muốn chối bỏ khi ra lệnh cho quân đội tấn công họ hầu buộc họ phải rời bỏ Miến Điện.
Bị bức bách, người Rohingya đành phải bồng bế nhau chạy qua biên giới Bangladesh. Trong lúc chạy loạn, gia đình bị ly tán, trẻ con bị thất lạc là chuyện thường xảy ra.
Rashid, em gái Rashida của em đang sống trong một trại tỵ nạn tại Kutupalong, Bangladesh, cùng với trên 60 em khác. Trong khi những đứa trẻ khác nô đùa thì Rashid lại ngồi thinh lặng, trầm tư. Em đã sống với cha mẹ và 6 anh chị em tại làng Shiderpara, huyện Maungdaw. Ngày 25 tháng Tám vừa qua, quân đội Miến đã bất thần tấn công vào làng. Shiderpara là một trong những ngôi làng của người Rohingya bị quân đội Miến tấn công và đốt phá. Theo Liên Hiệp Quốc, đây là một “hành động thanh lọc chủng tộc tiêu biểu”.
Rashid kể lại: “Đó là một ngày thứ Sáu. Cháu đã nắm tay em gái của cháu để chạy qua một ngọn đồi bên cạnh. Sau khi quân đội đi khỏi, cháu trở về và thấy cha mẹ cháu đã bị giết chết”.
Rashid không có đủ thời giờ để than khóc về cái chết của cha mẹ mình. Em đã nhập vào đoàn người láng giềng gần ngọn đồi và bắt đầu cuộc chạy trốn. Rashid cho biết: em đã phải đi 3 đêm mới tới được biên giới Bangladesh. Em đã lội qua sông Naf để vào Bangladesh một ngày trước lễ Eid ngày 1 tháng Chín. (Trong ngày lễ Eid, người Hồi giáo trên khắp thế giới tưởng niệm việc tổ phụ Abraham chuẩn bị tế sát con trai mình là Isaac, nhưng Thiên Chúa đã cho ông một con dê đực để thế chỗ cho Isaac. Đây là ngày lễ quan trọng của người Hồi giáo).
Hiện nay Rashid không biết những anh chị em khác của mình đang ở đâu. Em nói: “Cháu nghe nói tất cả anh chị em của cháu đều đã bị giết chết cả rồi”.
Trại tỵ nạn tại Kutupalong nơi Rashid đang tạm trú là một trong những trại hiện đang được tổ chức Child Friendly Space (Một không gian thân thiện dành cho trẻ con) điều khiển. Được Quỹ Nhi Đồng UNICEF của Liên hiệp quốc và các cơ quan viện trợ địa phương yểm trợ, trại tỵ nạn đã trở thành nơi nương tựa cho các trẻ em đang bị chấn thương tâm lý trầm trọng. Nhiều em còn quá nhỏ để hiểu được thảm kịch khủng khiếp mà các em phải trải qua.
Faria Selim, một chuyên viên tâm lý đang làm việc cho UNICEF tại Bangladesh cho biết: khi Rashid vừa đặt chân vào trại, cứ vài phút em chạy đến với cô và nói rằng cha mẹ em đã chết!
Rashid nói rằng em đã bỏ học lúc còn ở Miến Điện. Nhưng em thích được học và sinh hoạt trong trung tâm do tổ chức Child Friendly Space điều khiển. Cô Salim cho biết hiện có tất cả 42 trung tâm như thế để tiếp nhận trên 400.000 người tỵ nạn Rohingya. Rashid nói một cách tin tưởng: “Ở đây người ta không phải lo sợ bị tấn công nữa. Chẳng có ai theo dõi chúng tôi. Mọi người đều được tự do để làm bất cứ điều gì”. Rashid muốn được học hành để trở thành một giáo viên hầu dạy dỗ những trẻ em Rohingya khác.
Câu chuyện của Rashid có lẽ cũng tương tự như câu chuyện của 2 em bé gái khác. Dilara Begum 11 tuổi và em của em là Ajija Begum 9 tuổi. Cha mẹ của 2 em cũng đã bị giết chết trong cuộc tấn công của quân đội Miến. Ajija không thể nào quên được chuyện đã xảy ra lúc gia đình sắp ăn trưa. Em đang chơi đùa với các chị thì nghe tiếng súng nổ. Sợ hãi em đã chạy vào một khu rừng gần nhà tại làng Bargojibil, thuộc huyện Maungdaw. Núp trong bụi cây, em thấy các binh sĩ Miến đã bắn vào cha mẹ em. Sau đó họ đã cắt cổ cha em và dùng dao đâm vào bụng mẹ em.
Ajija không dám trở về nhà. Trong cảnh hỗn loạn, em không còn nhìn thấy các chị của mình nữa. Nghe câu chuyện của cha mẹ em, những người láng giềng đang sống trên đồi đã giúp em cùng đi trốn với họ. Tại trại tỵ nạn Kutupalong, Ajija đã gặp lại các chị của mình.
Câu chuyện của một em khác tên là Mushtakim cũng thảm thương không kém. 8 anh chị em của em đều đã bị giết trong cuộc tấn công của quân đội Miến. Riêng em phải mang một mảnh đạn trong người.
Tại Miến Điện, cũng như Rashid và nhiều trẻ con khác, Ajija thường trốn học vì quân đội Miến thường hành quân trong làng. Còn Dilara, chị của em, thì không bao giờ cắp sách đến trường.
Rải rác trong các trại tỵ nạn tại Bangladesh, có rất nhiều thiếu niên cùng một cảnh ngộ như Rashid, Dilara và Ajiji. Nur Hossein là một thiếu niên 12 tuổi. Gia đình em có tất cả 9 anh chị em. Hiện chỉ có em và đứa em gái tên là Jahura Begum 7 tuổi còn sống sót sau cuộc tấn công của quân đội Miến.
Hossein kể lại: “Làng Rodiongsong, miền Bắc huyện Maungdaw, bị tấn công vào lúc 10 giờ sáng ngày 25 tháng Tám vừa qua. Nắm tay em Jahura, em đã cùng với những người dân làng khác bỏ chạy xuyên qua các cánh đồng”. Em cho biết cha mẹ em đã bị giết chết trong cuộc tấn công và dân làng đã giúp đưa 2 em sang Bangladesh.
Kể lại cuộc sống tại Miến Điện, Hossein nói rằng trước kia trẻ con Miến tại Rakhine và trẻ con Rohingya học chung với nhau. Nhưng từ 2 năm nay, trẻ con Rohingya bị tách riêng ra và phải đi học trong một trường khác. Em rất thích môn bóng tròn, nhưng vì sợ quân đội Miến, em đã bỏ chơi. Cuộc sống trong trại tỵ nạn, tuy thiếu thốn và tạm bợ, nhưng Hossein nói rằng em cảm thấy an toàn, vì không còn phải sợ bị quân đội tấn công nữa. Dù vậy, em không thể nào quên được cha mẹ em.
Anjuman là một trẻ em Rohingya mồ côi khác hiện cũng đang sống trong tại tỵ nạn ở Bangladesh. Theo lời kể của Anjuman, thảm kịch đã xảy ra cho gia đình em khi em và đứa em trai cùng với các chị em gái đang chơi đùa trong nhà của người anh rể tại làng Saheb Bazar, huyện Buchidong thì bất thần, quân đội tấn công vào nhà và bắt đầu nổ súng vào mọi người. Người anh rể đã kịp chạy ra cửa, nhưng không tránh khỏi những viên đạn. Anh đã chết cùng vơi 10 người khác trong gia đình, kể cả cha mẹ của em.
Anjumin đã đến được Bangladesh cùng với người anh cả 35 tuổi.
Theo các nhân viên làm việc trong các trại tỵ nạn, hầu hết các trẻ em Rohingya đặt chân được đến Bangladesh và hiện đang sống trong các trại tỵ nạn đều bị chấn thương tâm lý một cách trầm trọng. Trong các trại tỵ nạn, trẻ em không có cha mẹ hay thân nhân được chia thành hai nhóm: một nhóm tuổi từ 4 đến 11 và một nhóm tuổi từ 12 đến 18. Những em thuộc nhóm tuổi từ 4 đến 11 là những em dễ bị tổn thương nhất. Riêng nhóm các em tuổi thừ 12 đến 18 được cho ở trong những trung tâm dành cho thiếu niên. Ngoài các chương trình học thông thường khác, các em được dạy một cách đặc biệt về chương trình ngừa thai.
Tại trung tâm do tổ chức Child Friendly Space điều khiển, hiện có khoảng 562 trẻ em mồ côi, phần lớn đến sau ngày 25 tháng Tám. Mặc dù được cung cấp đầy đủ dụng cụ để học hành cũng như được cố vấn tâm lý, nhiều em hoàn toàn tỏ ra bất động còn một số khác thì không muốn nói chuyện.


 Nguồn: (http://www.aljazeera.com/indepth/features/2017/09/rohingya-children-recall-horror-losing-parents)