Thứ Hai, 11 tháng 9, 2017

Nga: một não trạng thời hậu Liên Xô


08/09/17

Christian Neef là một ký giả của báo Đức Der Spiegel chuyên về Liên Xô và Nga trong 3 thập niên vừa qua. Năm 1992, liền sau khi Liên Xô sụp đổ, ông đã cho xuất bản một cuốn sách có tựa đề “Russia: Faces of a Torn Country” (Nga: những gương mặt của một đất nước bị xâu xé). Trong tác phẩm, ông đã ghi lại chân dung của 18 người  tiêu biểu cho một nước Nga cách đây một phần tư thế kỷ. Vào thời điểm Liên Xô vừa sụp đổ, hy vọng về một khởi đầu mới cho xứ sở hoàn toàn là một ảo ảnh. Trong thời kỳ tranh sáng tranh tối ấy, ăn nên làm ra là những cựu viên chức chính phủ cộng sản biết chộp lấy thời cơ và thủ lợi cho bản thân. Trong khi một số ít trở nên giàu có thì phần đông dân chúng rơi vào cảnh nghèo túng: các cụ bà phải đứng giữa mưa tuyết hàng giờ tại các chợ trời để bán bất cứ thứ gì còn lại trong nhà. Sinh viên thì quảng cáo về những sưu tập tem thư của họ.
Một trong những nhân vật được Ký giả Neef nhắc đến trước tiên trong cuốn sách của ông là ông Dzhokkar Dudayev. Năm 1991, chính ông là người đã tuyên bố độc lập cho Cộng hòa Chechnya và kêu gọi dân chúng vùng Caucasus đứng lên chống  lại thực dân Mạc Tư Khoa. Nga liền điều động hơn 60.000 binh sĩ đến cộng hòa nhỏ bé này. Chỉ ba tháng sau khi Ký giả Neef nói chuyện với Tổng thống Dudayev của Cộng hòa Chechnya, văn phòng chính phủ của ông đã hoàn toàn bị bình địa. 15 tháng sau đó, ông Dudayef đã thiệt mạng vì một hỏa tiễn của Nga. Và 15 năm sau, “hòa bình” đã hoàn toàn được tái lập tại Chechnya. Đã có không dưới 160.000 người  bị thiệt mạng trong cuộc chiến. Kể từ đó, không còn có bất cứ vùng nào trong cựu Liên Xô dám đòi ly khai khỏi Nga nữa!
Một chân dung nổi bật khác được Ký giả Neef dành cho một chỗ đứng quan trọng trong cuốn sách của ông là ông Sergei Debov, một nhà  hóa sinh học và chuyên gia về da. Năm 1952, ông Debov đã gia nhập vào đơn vị bảo vệ “Lăng Lenin”. Đơn vị này gồm một nhóm khoa học gia đã từng ướp xác cho Lenin khi cha đẻ của chủ nghĩa cộng sản nằm xuống hồi năm 1924. Là người cũng đã từng tham gia ướp xác cho đồ tể Stalin, trong suốt gần 40 năm trời, ông Debov là người chuyên làm một công việc là giữ cho cái xác ướp của Lenin luôn được tươi tắng. Cứ hai lần một tuần, ông đều đặn bơm một thứ dung dịch bí mật vào xác của lãnh tụ.
Thế rồi Liên Xô sụp đổ, chủ nghĩa cộng sản cáo chung và Tổng thống Boris Yeltsin ra lệnh dẹp bỏ đơn vị “Lăng Lenin” cũng như đội canh gác trước lăng của ông. Trong chốc lát, Lenin đã trở thành một kẻ “cùng đinh” và nhiều người dân đã bắt đầu kêu gọi tống táng ông tại một nghĩa trang ở St.Petersburg. Lúc đó, ông Debov đã nói với Ký giả Neef rằng ông thật sửng sốt trước phản ứng này. Ông nói: “Loại bỏ Lenin ra khỏi lịch sử Nga ư? Đó là điều không thể chấp nhận được!”
Cho tới nay, ngay cả sau khi Liên Xô đã sụp đổ từ 25 năm nay, xác ướp của Lenin vẫn còn được trưng bày tại Công trường Đỏ ở Thủ đô Mạc Tư Khoa. Những người kế vị ông Debov vẫn tiếp tục công việc bảo quản cái xác ướp ấy. Sự kiện này cho thấy Nga vẫn xem sự ổn định chính trị là điều quan trọng. Một đồ tể như Stalin, người đã sát tế không biết bao nhiêu mạng người cho lý tưởng cộng sản, vẫn tiếp tục được xem như một biểu tượng quan trọng về mặt chính trị. Sự hiện diện liên tục của ông trong xã hội Nga mang lại một niềm an ủi lớn lao cho những người vẫn tiếp tục tin vào chủ nghĩa cộng sản và đồng thời cũng nói lên niềm tin của giới lãnh đạo chính trị Nga hiện nay rằng chẳng có gì trong lịch sử Nga, ngay cả vô số tội ác của chế độ cộng sản, đáng phải hối tiếc cả. Một cách nào đó, đây cũng chính là cái nhìn về lịch sử của Nga dưới thời Tổng thống Vladimir Putin.
Một chân dung tiêu biểu khác của người Nga được Ký giả Neef mô tả trong cuốn sách của ông là một người hiện vẫn còn sống và năm nay chỉ mới 53 tuổi. Ông chào đời vào chính sinh nhật của đồ tể Stalin. Ông đã từng leo lên đến chức phó thủ tướng trong triều đại Putin và hiện đang chịu trách nhiệm về kỹ nghệ quốc phòng của Nga. Người đàn ông tên là Dmitry Rogozin này chỉ mới 31 tuổi khi được Ký giả Neef tiếp xúc. Trước đó không lâu, ông là một thành viên tích cực của Komsomol, tức đoàn thành niên cộng sản Nga. Sau đó ông làm đại sứ Nga tại khối NATO, tức Liên minh Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương.
Sau khi Liên Xô sụp đổ, ông Rogazin phụ trách số phận của 25 triệu người Nga hải ngoại đang sống gần biên giới Nga trong các cựu cộng hòa Liên Xô. Ông đã thành lập “Hội các cộng đồng Nga” để bảo đảm quyền lợi của người Nga hải ngoại. Với trách nhiệm này, ông là người đã đưa ra ý niệm về “Thế giới Nga”, tức một thế giới bao gồm tất cả những nơi nào có người Nga sinh sống và theo ông Putin, đây là những thành phần dân tộc cần phải được bảo vệ. Đây là lý do ông Putin đã đưa ra để xâm chiếm Crimea và một số nơi khác của Ukraine. Được xem như lý thuyết gia của chủ nghĩa dân tộc Nga hiện nay, ông Rogazin  đã từng gọi các chính trị gia Tây Phương là “đồ cặn bã”.
Tái chiếm cộng hòa Chechnya, phục hồi lịch sử Liên Xô và xây dựng “Thế giới Nga”...đây chính là những yếu tố làm nên bộ mặt của một nước Nga mới ngày nay. Và chính vì vậy mà người Nga hiện nay đang hết lòng bày tỏ lòng biết ơn đối với ông Putin. Tỷ lệ ủng hộ lên đến 80 phần trăm dành cho ông là một biểu lộ của chính lòng biết ơn ấy!
Ký giả Neef cho biết cách đây vài tuần lễ ông có trở lại thăm một thành phố nhỏ tên là Gvardeysk, nằm ở miền Tây Nga. Dân số chỉ có vỏn vẹn 13.000 người. Lần cuối cùng ông đến đây là năm 1998, không bao lâu sau khi cuộc khủng hoảng của đồng Rubble đã khiến cho chính phủ suýt phải tuyên bố phá sản. Nhà máy giấy trong thành phố cũng như nhà máy xi măng và phó mát đều đóng cửa. Các nhà máy sưởi cũng không còn than đá để hoạt động và ba phần tư dân chúng phải sống dưới mức nghèo đói. Bệnh viện trong thành phố cũng thiếu thuốc men và ngay cả găng tay cho các bác sĩ. Các trại binh sĩ và nhà tù cũng khan hiếm thực phẩm. Trong những làng lân cận, tình trạng suy dinh dưỡng và nguồn nước uống bị ô nhiễm khiến cho nhiều người bị lao phổi và đau màng óc.
Nhưng ngày nay, nhà cửa trong công trường chính của thành phố đều được sửa sang, nhiều nhà máy, kể cả xưởng thịt và đóng gói cũng được mở cửa. Có cả một trung tâm sinh hoạt dành cho giới trẻ và một trung tâm tập thể dục. Nơi đã từng là nhà tù đã biến thành một địa điểm du lịch.
Nếu đi về hướng đông của thành phố, tức đi sâu vào vùng nông thôn, người ta cũng sẽ thấy một thực tế hoàn toàn khác. Người ta không còn nhận ra cảnh nghèo nàn lạc hậu của 2 thập niên trước nữa.
Tuy nhiên, theo Ký giả Neef, có một điều vẫn không hề thay đổi, tại Thủ đô Mạc Tư Khoa cũng như tại hầu hết các nơi khác trên toàn quốc. Người dân Nga vẫn tiếp tục cúi đầu khuất phục trước mọi quyết định của nhà nước. Chẳng hạn như tại Thủ đô Mạc Tư Khoa, chính quyền địa phương đã ra lệnh phá hủy các chung cư tiền chế trong thành phố. Một triệu cư dân sẽ phải rời thành phố để được định cư tại một số nơi khác. Một số người lên tiếng phản đối. Nhưng đó chỉ là một tiếng nói yếu ớt, bởi vì đa số dân Nga hiện nay đều tin rằng nhà nước là cha mẹ, cha mẹ nói thì con phải vâng phục và chỉ đâu thì con phải ngồi đó.
Nói chung, người dân Nga hiện nay hoàn toàn thụ động và dửng dưng. Mọi việc đều để cho nhà nước “lo” và “no”. Một xã hội dân sự phục vụ xã hội là điều hoàn toàn xa lạ đối với rất nhiều người Nga. Ký giả Neef kể lại rằng cách đây không lâu ông tình cờ có mặt tại một trạm cảnh sát ở trung tâm Thành phố St.Peterburg. Ông nói rằng chẳng có nơi nào trên thế giới cho thấy nhà nước tìm cách làm cho người dân cảm thấy mình không quan trọng và vô tích sự cho bằng tại trạm cảnh sát này. Viên cảnh sát trực ngày hôm đó không thèm để nửa con mắt để nhìn đến dân chúng đến gặp ông để trình bày các mối quan tâm của họ. Những cánh cửa sắt dày cộm đã chận dân chúng lại ở ngay lối vào. Thỉnh thoảng những cánh cửa này mới được mở ra và vì một lý do nào đó chẳng ai biết được. Trên những bức tường của văn phòng, người ta thấy treo nhiều bức hình của ông Felix Dzerzhinsky. Ông này là giám đốc đầu tiên của cơ quan tình báo dưới thời Liên Xô. Ông chính là người đã thành lập “Phòng Khủng Bố Đỏ”. Hàng trăm ngàn người đã bị cơ quan này giết chết. Bức tượng của ông trước tòa nhà Lubyanka tại Thủ đô Mạc Tư Khoa là tượng đài đầu tiên đã bị đập bỏ sau khi Liên Xô sụp đổ. Vậy mà ngày nay, chân dung của ông lại đang tiếp tục ngự trị trong trạm cảnh sát ở Thủ đô Mạc Tư Khoa.
Tại sao người dân Nga hiện nay chấp nhận điều đó mà không hề lên tiếng phản đối?  Ký giả Neef trả lời rằng chính thái độ thụ động và dửng dưng cộng với sự sợ hãi và cam chịu số phận đã khiến cho phần lớn người Nga không dám đối đầu với những sự thật lịch sử. Nhiều người đã tỏ ra dửng dưng trước sự kiện nhiều tượng đài mới của Stalin hiện đang được thiết lập. Một ký giả tại Mạc Tư Khoa so sánh sự kiện này với việc người Do Thái dựng tượng cho đồ tể Hitler!
Lập luận hiện nay của chính quyền các cấp tại Nga là: bạn không thể thay đối bất cứ điều gì đã xảy ra!
Theo Ký giả Neef, thụ động, dửng dưng, cam chịu số phận, mặc cảm tự ti đối với thế giới bên ngoài...Đây không phải là những nét tâm lý mà chính ông Putin đã tạo ra. Đó là di sản đã có sẵn trong xã hội Nga sau khi Liên Xô sụp đổ. Thoạt tiên, người ta nghĩ ông Putin là một người có đầu óc phóng khoáng sẽ đưa Nga đi theo con đường dân chủ của Tây Phương. Nhưng tham vọng quyền lực đã biến ông thành một lãnh tụ dân túy. Thay vì chữa lành những nét tâm lý tiêu cực trên đây của người dân Nga, ông đã triệt để khai thác và biến thành công cụ trong tay ông. Ông đã gãi đúng chỗ ngứa của một xã hội thời hậu Liên Xô, vừa dửng dưng và sợ hãi, vừa mang mặc cảm tự ti và thích đồn đẩy trách nhiệm cho nhà nước. Ông đã khai thác và phục vụ đúng mức não trạng ấy bằng chính sách mị dân, dối trá hay chỉ nói một nửa sự thật. Theo ký giả Neef, đây là “thành tựu” quan trọng nhất 25 năm sau khi Nga hồi sinh!

(Nguồn::http://www.spiegel.de/international/world/understanding-moscow-the-mysteries-of-the-russian-mindset)





Thứ Sáu, 8 tháng 9, 2017

Niềm vui người này, nỗi đau người khác


Chu Thập
01.09.17

Lâu nay, có lẽ cũng như phần lớn người dân Úc, cứ đến ngày Quốc Khánh 26 tháng Giêng là tôi thấy vui. Vui với niềm vui chung của mọi công dân Úc. Nhưng mới đây, khi theo dõi tin tức về việc hội đồng Thành phố Yarra, thuộc vùng nội ô Đông Bắc Melbourne, quyết định tẩy chay ngày này, tôi thấy niềm vui của mình trong ngày Quốc Khánh không còn trọn vẹn nữa.
Thay cho nghi lễ đón nhận và tuyên thệ nhập quốc tịch của một số công dân mới cũng như một số lễ hội khác trong ngày 26 tháng Giêng, Hội đồng Thành phố Yarra quyết định lấy ngày này để “đánh dấu sự mất mát của người thổ dân”. Ngoài ra, với nghị quyết thông qua việc tẩy chay ngày 26 tháng Giêng, Hội đồng Thành phố Yarra cũng kêu gọi vận động để Chính phủ Liên bang cử hành Quốc Khánh vào một ngày khác. Hội đồng thành phố này cũng đề ra một kế hoạch thông tin để giúp cho dân chúng Úc hiểu rõ hơn nỗi đau của người thổ dân trong ngày 26 tháng Giêng hàng năm.
Trở thành công dân Úc khá muộn màng, tôi hiểu rất lơ mơ về lịch sử của đất nước mình đã chọn làm quê hương thứ hai. Riêng về ngày 26 tháng Giêng hàng năm, tôi chỉ biết rằng đó là ngày kỷ niệm biến cố xảy ra năm 1788 khi những chiếc thuyền đầu tiên chở các tù nhân Anh cập bến vào Hải cảng Jackson, Tiểu bang New South Wales và giương cao ngọn cờ của nước Anh để đánh dấu việc thành lập cơ sở thuộc địa đầu tiên của nước này tại Úc Đại Lợi.
Đọc lại tài liệu lịch sử, tôi cũng biết rằng ý nghĩa của ngày 26 tháng Giêng cũng biến chuyển theo thời gian. Thoạt tiên, ngày này được gọi một cách mơ hồ là “Ngày kỷ niệm”, “Ngày đổ bộ đầu tiên”, “Ngày thành lập” hay “ANA Day” ( Ngày của  hiệp hội Australian Natives’ Association, tức hiệp hội của người da trắng chào đời tại Úc). Mãi cho đến ngày đầu năm dương lịch năm 1901, các thuộc địa của Anh tại Úc Đại Lợi mới hợp lại để thành lập Liên bang, đánh dấu ngày chào đời của một nước Úc hiện đại. Kể từ đó, người ta mới nghĩ đến một ngày quốc khánh. Nhưng phải chờ cho đến năm 1935, ngày 26 tháng Giêng mới được các tiểu bang và lãnh thổ Úc chính thức đặt tên là “Australia Day” (Quốc Khánh) và phải đợi  cho đến năm 1994, ngày này mới được mọi tiểu bang và lãnh thổ nhìn nhận và mừng  như một ngày nghỉ lễ trên toàn quốc.
Đó là lịch sử chính thức về ngày Quốc Khánh 26 tháng Giêng như tôi được biết. Nhưng Úc Đại Lợi không chỉ và cũng không còn là Úc Đại Lợi của riêng người Anh hay người da trắng. Lịch sử của Úc Đại Lợi cũng không chỉ mới có từ hơn 200 năm nay sau khi được Thuyền trưởng Cook “khám phá” hoặc sau khi đợt tù nhân người Anh đầu tiên được đày sang để giúp thành lập thuộc địa Anh. Trước khi được người Anh “khám phá” và đặt chân đến, Úc Đại Lợi đã từng là quê hương của những  người “thổ địa” đã có mặt ở đó từ hơn 60 ngàn năm nay. Chắc chắn những người này nhìn ngày 26 tháng Giêng hàng năm với một cái nhìn khác.
Nếu tôi là một người thổ dân thì ngày 26 tháng Giêng hẳn sẽ  không bao giờ là một ngày để vui mừng đối với tôi. Với người thổ dân, 26 tháng Giêng chỉ có thể là khởi đầu của một tiến trình truất hữu đất đai, đất nước tràn ngập đủ các thứ dịch bệnh mà trước đó họ chưa từng biết đến, biên giới và đất đai được phân chia bằng bạo lực, văn hóa bị phá hủy, con người bị bóc lột, lạm dụng, hãm hiếp, gia đình ly tán và chịu đủ mọi thứ luật pháp và trừng phạt về mặt xã hội.
Tôi hiểu được tại sao ngày 26 tháng Giêng hàng năm đối với nhiều người thổ dân không phải là ngày Quốc Khánh, mà là Ngày Xâm Lăng. Rõ ràng đó là ngày người Anh ngang nhiên xâm chiếm đất đai của người thổ dân.
Với nỗi buồn của người mất nước, một số người thổ dân còn gọi ngày 26 tháng Giêng là Ngày Than Khóc. Than khóc cho số phận của cả một dân tộc bị tàn sát, hãm hiếp và phân ly vì các chính sách đồng hóa của người da trắng.
Cũng có người, với một cái nhìn tích cực hơn, xem ngày 26 tháng Giêng hàng năm như một Ngày Sống Còn. Dù có bị đô hộ, tàn sát hay kỳ thị, dân tộc và văn hóa thổ dân vẫn tồn tại.
Một biến cố lịch sử, hai cái nhìn: khai hóa, lập quốc đối với người này, nhưng lại là thực dân, nô lệ, đọa đày, diệt chủng... đối với người khác. Chuyện xảy ra tại Mỹ trong thời gian gần đây cũng cho thấy hai cái nhìn như thế về cùng một biến cố, một biểu tượng hay một số nhân vật lịch sử. Đối với nhiều người Mỹ, các bức tượng của một số tướng lãnh thuộc Nam quân đòi tự trị trong cuộc nội chiến là những nhân vật lịch sử cần được duy trì, nhưng đối với người da đen thì lại là biểu tượng của chế độ nô lệ tại Hoa Kỳ.
Ngay cả bức tượng của nhà thám hiểm lừng danh là Cristoforo Colombo có lẽ cũng gợi lên những trang sử đau buồn cho người thổ dân Châu Mỹ. Ngày 12 tháng Mười năm 1492 là ngày đầu tiên Cristoforo Colombo tiếp xúc với người thổ dân Châu Mỹ. Ông ghi lại trong nhựt ký rằng những người thổ dân sẽ là những tên đày tớ tốt. Do đó ông quyết định sẽ mang về nước 6 người. 6 người này đã được mang ra trình diện cho dân chúng Tây Ban Nha xem. Sau chuyến đi thứ hai, ông đã gởi về nước nguyên một đoàn người thổ dân để được đem đi bán như nô lệ...
Ngày 12 tháng Mười năm 1492 được tưởng nhớ như một ngày “khám phá” Châu Mỹ, nhưng chắc chắn sẽ mãi mãi là một ngày đau buồn đối với rất nhiều người thổ dân Mỹ. Tượng của Cristoforo Colombo rải rác tại nhiều tiểu bang Mỹ không thể không gợi lên những trang sử đau buồn như thế cho người thổ dân Mỹ. Tôi hiểu được tại sao tại một số nơi như thành phố New York chẳng hạn, người ta đang nghĩ tới chuyện tháo gỡ tượng của ông.
Riêng tại Úc, nhiều người cũng đặt lại vấn đề về bức tượng của Thuyền trưởng Cook tại công viên Hyde Park ở Sydney. Cách đây mấy hôm, người ta thấy có những dòng chữ thóa mạ chung quanh chân tượng của Thuyền trưởng Cook: “Change the date” (Hãy đổi ngày (mừng Quốc khánh) và “No pride in Genocide” (Chẳng có gì đáng hãnh diện vì sự diệt chủng). Không riêng chính phủ liên bang mà nhiều người cũng đã phẫn nộ vì hành động phá phách, thóa mạ đối với nhà thám hiểm nổi tiếng này.
Một ký giả người thổ dân nổi tiếng là ông Stan Grant cũng đã lên án một hành động ấu trĩ và thiếu dân chủ như thế. Tuy nhiên, trong một bài  phân tách được đăng trên trang mạng của đài ABC mới đây, ký giả này cho rằng dành cho ông cái công “khám phá” ra Úc Đại Lợi là một hành động bôi nhọ đối với lịch sử của người thổ dân vốn là dân tộc đã có mặt tại vùng đất này từ hơn 60 ngàn năm nay. Theo ông, cho rằng Thuyền trưởng Cook đã “khám phá” vùng đất này năm 1770” là một huyền thoại đầy xúc phạm. Nó phản ảnh cái nhìn theo đó người da trắng theo Kitô Giáo là chủng tộc trổi vượt hơn mọi chủng tộc khác. Và dĩ nhiên đó là một thứ niềm tin đã tiêu diệt người thổ dân khắp nơi trên mặt đất này.
Ký giả Stan Grant trích dẫn một số sự kiện như: năm 1452, chính nhà lãnh đạo Giáo hội Công giáo lúc đó là Giáo hoàng Nicolas V đã chuẩn y cho việc các nước theo Kitô Giáo ở Âu Châu được lên đường đi chinh phục, thực dân hóa, khai thác, bóc lột và ngay cả tiêu diệt  tất cả mọi dân tộc không theo Kitô Giáo; năm 1493, sau khi nhà thám hiểm Cristoforo Colombo (Christopher Columbus) trở về Âu Châu sau khi đã gọi là “khám phá” ra Châu Mỹ, Giáo hoàng Alexander VI đã ban hành một chiếu chỉ khẳng định rằng những vùng đất nào không được các vua chúa Kitô Giáo cai trị đều là đất được tự do chiếm hữu. Một từ mới trong tự điển La Tinh được đẻ ra là “Terra Nullius”, nghĩa là đất vô chủ. Và đất “vô chủ” cũng có nghĩa là đất được tự do “cắm dùi” và chiếm hữu, mặc dù đã có những dân tộc không phải là người da trắng theo Kitô Giáo đã từng cư ngụ và sống ở đó từ thuở nào.
Theo Ký giả Stan Grant, bức tượng của Thuyền trưởng Cook tại công viên Hyde Park không chỉ gợi lên cái niềm tin cho rằng người da trắng theo Kitô Giáo là một chủng tộc trội vượt hơn các chủng tộc khác, rằng Úc Đại Lợi của người thổ dân là một vùng đất “vô chủ”. Nó cũng chính là một thứ bia mộ chôn vùi cái chết tức tưởi của cả một dân tộc đã từng có mặt trên vùng đất này từ bao nhiêu ngàn năm trước.
Ngày nay, chủ trương về một vùng đất “vô chủ” để “khám phá” và chinh phục không còn nữa. “Với Diễn đàn Thường trực về các Vấn đề Thổ dân” (The UN Permanent Forum on Indigenous Issues), Liên Hiệp Quốc đã không ngừng lên án một chủ trương như thế và xem đây như “nền tảng của những hành động vi phạm nhân quyền của người thổ dân”.
Đau buồn vì thân phận của cả một dân tộc bị đày đọa và ngay cả tiêu diệt, Ký giả Stan Grant viết rằng ông cũng chẳng còn muốn bước xuống dòng sông dài nhứt của Úc Đại Lợi được đặt theo tên của một người đã từng muốn tiêu diệt dân tộc của ông. Ông có ý nói đến dòng sông Murray và Sir George Murray (1772-1846).
Nghĩ đến tượng của nhà thám hiểm Cristoforo Colombo hay của một số tướng lãnh trong quân đội Nam quân trong thời Nội chiến tại Hoa Kỳ cũng như tượng của Thuyền trưởng Cook tại Úc Đại Lợi, tôi không thể không liên tưởng đến những biểu tượng của Đức quốc xã đối với người Do Thái. Ngày nay, nội việc phủ nhận cuộc diệt chủng đối với người Do Thái do Đức quốc xã chủ xướng cũng đủ để bị kết án rồi, nói gì đến việc trưng bày hay giương cao những biểu tượng của thứ chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc đồi bại và độc ác này.
Có lẽ hơn ai hết, người Việt tỵ nạn cộng sản dễ đồng cảm với người Do Thái hơn cả. Có người Việt tỵ nạn cộng sản đích thực nào mà không “sôi máu” khi nhìn thấy lá cờ máu, chớ đừng nói đến tượng của ông Hồ Chí Minh hay những “ông thánh” của thứ chủ nghĩa vô nhân đạo như Lenin, Stalin và Mao Trạch Đông. Tôi hiểu được tại sao tại các nước cựu cộng sản như Đông Âu chẳng hạn, người ta đã xóa sạch hầu như mọi thứ biểu tượng của chủ nghĩa ấy. Chẳng ai nại đến lý do lịch sử hay những nhân vật lịch sử để duy trì hay trưng bày những biểu tượng chỉ làm cho những vết thương đang rỉ máu của nhiều người không bao giờ lành.
Là một công dân Úc, tôi cảm được nỗi đau của người thổ dân. Lịch sử của Úc Đại Lợi không chỉ mới được viết lên kể từ khi Thuyền trưởng Cook đặt chân tới đất nước này. Lịch sử ấy đã bắt đầu từ hơn 60 ngàn năm qua và bắt đầu với chính người thổ dân. Như ký giả Stan Grant đã khẳng định: “Úc Đại Lợi được xây dựng trên 3 câu chuyện lớn là: Các Dân Tộc Tiên Khởi (tức người thổ dân), truyền thống của người Anh và câu chuyện phong phú của người di dân”.
Tôi không biết rồi đây ngày Quốc Khánh của Úc có được mừng vào một ngày khác hơn ngày 26 tháng Giêng không. Tôi sẽ vui hơn trong ngày đó nếu ngày đó không còn là một ngày đau buồn đối với người thổ dân. Xét cho cùng sẽ là một niềm vui quái ác khi niềm vui của mình là nỗi đau của người khác.




Thứ Tư, 6 tháng 9, 2017

Putin Chí Phèo


Chu Thập
28/03/14
Tình cờ tôi biết được hôm nay 28 tháng 3 là ngày kỷ niệm đúng 430 năm ngày qua đời của Nga hoàng Ivan le Terrible (1530-1584). Với đa số ủng hộ việc Tổng thống Vladimir Putin xâm chiếm hết nước này đến nước khác và mong trở lại thời Đại Nga, hẳn hôm nay người dân Nga phải tổ chức mừng trọng thể để tưởng nhớ vị nga hoàng đầu tiên và nổi tiếng nhứt trong lịch sử này của họ. Riêng Tổng thống Putin, trước khi ngang nhiên lấn chiếm vùng Crimea của Ukraine, biết đâu lại chẳng vào nhà thờ thánh Basil mà người Việt gọi là nhà thờ củ hành tại quảng trường đỏ ở Thủ đô Moskva để khấn vái vị “thánh tổ” Ivan le Terrible, bởi vì “vị thánh” này đã ra lệnh xây cất ngôi thánh đường này sau khi chiếm được vùng Kazan của người Mông Cổ.
Thời trung học, vốn không phải là một học sinh có trí nhớ tốt cho nên tôi chẳng mấy thích thú với môn phụ là sử địa. Vậy mà về ông vua đầu tiên của Nga này, tôi vẫn nhớ mãi những chiến công hiển hách và tên gọi đặc biệt của ông. Trong 53 năm trị vì, Nga hoàng Ivan le Terrible đã chinh phục Kazan, Astrakhan ở miền Đông Bắc Nga rồi tiến quân xuống phía nam để chiếm Crimea và sau đó ngược lên Siberia, lấn chiếm luôn lãnh thổ các nước xung quanh để tạo nên nước Nga rộng lớn ngày nay. Ông muốn đánh chiếm nước nào là được nước đó. Gót giày của ông đạp đến đâu, người ta sợ đến đó.
Người dân Nga hẳn phải hãnh diện về ông vua đã có công mở mang bờ cõi này. Nhưng vào thế kỷ 16, không những người dân của các nước bị trị, mà ngay cả một số thần dân của ông vua này cũng phải “khiếp sợ” mỗi khi nhắc đến tên ông chớ đừng nói đến chuyện phải diện kiến ông. Với Âu Châu, ông được mệnh danh bằng một tĩnh từ của tiếng Pháp là “Le Terrible”. Danh xưng này tương đương với tiếng Nga “Grozny” được trao tặng cho ông vừa với sự tôn kính, ngưỡng mộ, vừa với nỗi sợ hãi. Với những ai biết đôi chút về tiếng Latinh và tiếng Pháp thì “terrible” chỉ có thể gợi lên sự khủng bố và sợ hãi. Mà đúng như vậy, ai cũng phải sợ ông vua này. Sợ vì sự độc ác, tàn bạo của ông; sợ vì tính khí của ông bất thường đến độ trở thành bệnh hoạn. Trong một cơn thịnh nộ, ông đã giết chính thái tử mà ông đã chọn để nối ngôi.
Sinh ra, lớn lên, được giáo dục và đào tạo thành một người cộng sản thứ thiệt, một người đã từng được tín nhiệm đến độ được cất nhắc vào chức giám đốc tình báo KGB của Liên Xô như ông Putin, hẳn không những ngước nhìn lên các vị “thánh” cộng sản  Lenine, Staline như thần tượng, mà có lẽ cũng tôn kính Nga hoàng Ivan le Terrible như một vị thánh bổn mạng  để noi gương bắt chước. Người dân Ukraine và thế giới đã dán vào môi trên của ông nguyên bộ râu mép độc đáo của Hitler và rửa tội cho ông thành  Hitler Putin. Nhưng ai đó đã biết rõ lịch sử của nước Nga cho nên đã tặng cho ông danh hiệu của ông vua đầu tiên của Nga. Vladimir Putin ngày nay cũng chính là Ivan Grozny hay Ivan Le Terrible của thế kỷ 16. Giữa Putin ngày nay và Ivan cách đây 4 thế kỷ có một nét giống nhau: cả hai đều tạo được sự sợ hãi. Mà quả thật, sở dĩ ở thế kỷ 21 này mà ông Putin dám ngang nhiên đưa quân đi xâm chiếm hết nước này đến nước khác là bởi vì ông nghĩ rằng ông là một người “đáng sợ” và cả thế giới đều sợ ông, chớ không chỉ riêng những người bất đồng chính kiến trong nước.
Mà thật sự, tôi nghĩ cả thế giới đang sợ ông. Hoa Kỳ và khối Tây Âu đang đề đủ mọi thứ trừng phạt và cấm vận. Nga có thể sẽ bị loại ra khỏi nhóm 8 nước giàu mạnh nhứt thế giới và ngay cả câu lạc bộ 20 nước tiên tiến nhứt. Nhưng theo các nhà phân tách, dường như ông Putin chẳng tỏ ra chút lo sợ nào cả. Lá bài chủ ông đang nắm trong tay vẫn là dầu và khí đốt mà Nga đang cung cấp  cả khối Tây Âu. Sau lưng ông, muốn hay không vẫn còn có sự hậu thun thầm lặng của không biết bao nhiêu công ty giàu mạnh nhứt thế giới đang khai thác thị trường béo bở của Nga. Ông Putin xem ra chẳng lo sợ. Sợ chăng là những nước đang phải lệ thuộc vào Nga về dầu và khí đốt.
Thế giới có cấm vận là để ăn hiếp mấy nước nghèo cho vui và chiếu lệ. Đụng vào những nước giàu như Nga hay Trung Quốc, cấm vận kinh tế là thua. Và nhứt là đụng vào những nước cùi l như Bắc Hàn, thế giới cũng thua luôn. Xem ra anh chàng trẻ và ngông cuồng Kim Jong Un chẳng xem cả thế giới này ra cái thá gì cả. Có ai dám đụng đến anh đâu. Từ mấy chục năm qua, quốc gia côn đồ này tự cho mình có quyền tự do vi phạm nhân quyền. Vậy mà chỉ mới đây, thế giới mới nghĩ đến chuyện truy tố nước này ra tòa án nhân quyền thế giới. Có lẽ lãnh tụ “anh minh” Kim Jong Un sẽ cười khẩy vì anh biết rằng thế giới chẳng dám động đến sợi lông chân của anh. Chỉ cần anh đặt tay lên ngòi nổ của vài trái bom hạt nhân là cả thế giới run bần bật rồi. Thế giới văn minh, nhứt là các nước giàu mạnh, có quá nhiều thứ để mất, cho nên lúc nào cũng nơm nớp lo sợ. Nghèo như Bắc Hàn không những không có gì để mất, mà còn nắm trong tay một thứ võ khí đáng sợ nhứt là mạng sống của mình để sẵn sàng thí bỏ thì thử hỏi có còn phải sợ nữa không?
Mỗi lần nghĩ đến những kẻ không biết sợ như Ivan le Terrible, như Vladimir Putin hay như Kim Jong Un, tôi không thể không liên tưởng đến nhân vật Chí Phèo của nhà văn Nam Cao. Cả làng Vũ Đại đều sợ anh. Ai anh cũng chửi được cả. Chửi trời, chửi đất, chửi đời và chửi luôn cả “thằng cha con mẹ nào đã đẻ ra mình”. Cả làng Vũ Đại không ai chửi lại anh, bởi vì không có ai coi anh là “con người” cả. Thảm kịch của con người không còn biết sợ là gì nằm ở đó: bị xã hội cướp đi linh hồn, có muốn làm người lương thiện cũng không được cho nên Chí Phèo chẳng còn có gì để mà bảo vệ và gìn giữ. Chí Phèo đã bộc lộ tất cả bi kịch nội tâm đau đớn của mình như sau: “Tao muốn làm người lương thiện. Không được! Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện được nữa. Biết không!” Muốn làm người lương thiện không được. Muốn làm người thôi cũng không được. Chí Phèo chẳng còn gì để mất nữa. Đây chính là lý do khiến Chí Phèo không còn biết sợ là gì.
Suy nghĩ về một khía cạnh khác trong con người của Chí Phèo, tôi thấy sở dĩ con người ta “sợ” là bởi có quá nhiều thứ để mất.
Sợ mất hơn cả có lẽ là sợ mất tiền của. Có sợ là bởi do có tham. Như tác giả Alan Phan đã nhận định, nói đến tiền là nói đến tư bản và bất cứ ai tham tiền cũng đều là “nhà tư bản” cả. Ai cũng có chút lòng tham cả. Tác giả kể lại rằng  lần nọ, ông được một người bạn, vì bận việc khẩn cấp, nhờ coi giùm những học sinh lớp mẫu giáo của cô ta cho đến hết giờ. Ông biết không có cách nào để kiểm soát hơn 20 cô cậu nhóc phá như lũ quỉ. Cuối cùng ông nghĩ ra một giải pháp: ông móc tờ giấy 100 Đô la trong túi ra, để trên bàn và nói: “Em nào mà ngồi im lặng nhất, không nói hay làm gì trong 25 phút tới sẽ được thưởng 100 Đô la này”. Lớp học im như tờ và sau cùng, 5 em (chỉ mới 6,7 tuổi) ngồi “thiền” giỏi nhứt, chia nhau mỗi em 20 Đô la.
Tác giả kết luận: “Nghĩ tới nghĩ lui, có lẽ giải pháp này của tôi đang được Bộ ngoại giao Mỹ và Tòa Bạch Ốc lấy làm cốt lõi cho chánh sách đối ngoại của họ” (x.Alan Phan, “Tư Bản nào mà không...hoang dã?” Đàn Chim Việt Online 21/3/2014).
Cộng sản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa hay “bất cứ cái gì” chủ nghĩa đi nữa, chẳng ai thực sự hiểu nó là gì cả. Nhưng tư bản chủ nghĩa thì thật rõ ràng. Tác giả Alan Phan viết: “Tư bản không cần lập đảng, tìm lãnh tụ, tụ họp cảnh sát công an. Tư bản nằm trong thâm tâm mọi người, vì thực ra, lòng tham cố hữu luôn luôn hiện diện, dù nhiều khi bị che mờ bởi những cố gắng của xã hội qua tôn giáo, văn hóa, giáo dục, gia đình...Nhiều người phải an phận, không dám “tham” vì không đủ khả năng cạnh tranh hay vì lười biếng hoặc thiếu may mắn trong việc tìm gặp cơ hội. Nhưng ngay cả những con “vượn” lớn lên trong trong rừng rậm vẫn có thể cảm nhận giá trị của đồng tiền...nhất là những lợi ích mà đồng tiền đó đem lại” (bđd). Thành ra khi chúng xuống núi, về thành là tranh nhau chụp giựt và “ăn cướp” còn tàn bạo và “hoang dã” hơn bất cứ nhà tư bản nào “rừng rú” và tham tàn nào, bởi lẽ chúng cai trị bằng cách nắm chặt cái bụng của người dân. Có người nêu câu hỏi: tại sao thời thực dân Pháp, người Việt Nam dám đứng lên để tranh đấu và đòi quyền sống, nhưng ngày nay chẳng thấy có phong trào nào thực sự hô hào được đám đông đứng lên lật đổ chế độ cộng sản? Không biết có phải quá đơn giản hóa không khi bảo rằng dưới chế độ cộng sản người Việt Nam đã quá “sợ” và ngày nay vẫn tiếp tục “sợ”: sợ mất hầu bao, sợ đụng vào cái bụng của mình!
Thật ra có nhiều thứ con người sợ mất chớ không chỉ có tiền của. Sợ mất uy tín, mất danh dự, mất thể diện, mất tiếng tốt... Nhưng có một thứ mất mà có lẽ con người thường ít màng tới đó là mất chính mình. Đây là thứ “tài sản” mà chỉ có mình tự đánh mất chớ chẳng ai có thể cướp lấy được. Người ta có thể chiếm đoạt tài sản của người khác. Người ta có thể bôi nhọ, chà đạp danh dự của người khác. Người ta cũng có thể cướp lấy những quyền cơ bản của người khác như quyền sống, quyền đi lại, quyền tự do ngôn luận, quyền phát biểu... Nhưng chắc chắn chẳng ai có thể cướp lấy “cái tôi” của tôi. Chỉ có tôi mới làm cho tôi “vong thân”. Chỉ có tôi mới đánh mất chính mình. Chỉ có tôi mới “tha hóa” chính mình. Chỉ có tôi mới có thể “bán mình” vì những thứ rẻ mạt như tiền của, quyền lực hay một chút tiếng tăm hão huyền. Tôi nghĩ, xét cho cùng, đây mới thực sự là điều đáng sợ nhứt, bởi lẽ mất tất cả, mất tiền của, mất uy tín, mất thể diện mà vẫn giữ được chính mình thì chẳng mất gì cả.
Tôi không biết Putin Chí Phèo hay các lãnh tụ cộng sản còn rơi rớt lại trên thế giới ngày nay có bao giờ ngồi nghĩ lại sự “đánh mất” đó không. Tôi tặng cho tổng thống Nga biệt danh “Chí Phèo” vì tôi nghĩ rằng qua một số những hành động ngang ngược hiện nay của ông, dường như ông chẳng còn biết “sợ” là gì nữa. Tôi thấy danh xưng “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao không chỉ gợi lên số phận tăm tối đau thương của người dân nghèo dưới thời phong kiến ở Việt Nam, mà cũng “xứng đáng” để được trao tặng cho các lãnh tụ cộng sản ngày nay, bởi vì Chí Phèo, xét cho cùng, cũng là hình tượng của những con người không còn gì để mất nữa vì họ đã đánh mất chính mình bằng cướp bóc, dối trá, độc ác, tàn bạo, vô liêm sỉ...





Thứ Hai, 4 tháng 9, 2017

Đức Quốc: Kỳ thị chủng tộc: di sản của một thời thực dân!



01/09/17

Với những lời tuyên bố đầy tranh cãi của Tổng thống Mỹ Donald Trump về vụ Charlottesville, thế giới nói nhiều đến chuyện kỳ thị chủng tộc tại Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ. Lá cờ chữ Vạn lộn ngược của Đức quốc xã và cuộc sát tế 6 triệu người Do Thái lại hiện về ám ảnh ký ức tập thể của thế giới. Có lẽ phải quay trở về Đức mới hiểu được chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc được thể hiện qua nhiều nhóm “thượng tôn da trắng” hiện nay tại Hoa Kỳ.
Mnyaka Suburu Mboro đi dọc theo Wedding, một khu phố nằm ở Tây Bắc Berlin. Với chút cay đắng, ông nói về khu phố này: “Nó làm cho bao tử của tôi cồn cào mỗi khi đi xuống những con đường này”.
Những con đường mà người đàn ông gốc Phi Châu này nói đến được mệnh danh là Khu Phi Châu. Khu phố này được gọi như thế vì nó nhắc lại thời kỳ Đức còn là một đế quốc thực dân vào cuối Thế kỷ thứ 19.
Đặc biệt con đường có tên là Peters  gợi lên nhiều đắng cay hơn cả cho người đàn ông gốc Tanzania này.  Carl Peters chính là ông tổ thành lập vùng thuộc địa của Đức tại miền Đông Phi Châu và là người được Đức Quốc Xã tung hô như một anh hùng. Nhưng đối với ông Mboro, người đã sống tại Đức từ thập niên 1970 sau khi  được cấp cho một học bổng, thì tên của ông Carl Peters gợi lên một thời kỳ bạo động và đàn áp đối với quê hương của ông và cách riêng gia đình ông.
Ông Mboro hồi tưởng: “Lúc nhỏ tôi sống tại Kilimanjaro. Hàng đêm tôi thường ngồi với bà tôi và lắng nghe bà kể chuyện cổ tích. Một đêm nọ, bà tôi bảo tôi nhìn lên mặt trăng. Đó là một đêm trăng tròn. Sau vài phút, bà tôi hỏi tôi có thấy cái bóng trên mặt trăng không. Bà hỏi: “Trông nó không giống một người sao?” Tôi lại chăm chú nhìn lên. Bà tôi liền giải thích: “Đó là một người Đức tên là Carl Peters. Ông là quan toàn quyền của vùng Kilimanjaro và thời của bà, người ta gọi ông là “Mkono Wa Damu”, nghĩa là “bàn tay đẫm  máu”.
Ngày nay phần đông người dân Đức ít biết về những nhân vật như ông Carl Peters hoặc cái quá khứ thực dân của Đức giữa thập niên 1880 và đầu Thế kỷ 20. Nhà xã hội học Serpil Polat cho rằng đây là một vấn đề ít được mang ra mổ xẻ tại Đức. Theo nhà xã hội học này, một mặt người dân Đức hiện nay ít có hiểu biết về vấn đề này. Mặt khác, nếu có bàn đến thì người ta lại nuối tiếc cái thời ấy vì nghĩ rằng những gì Đức đã làm cũng chẳng tệ bằng các nước Âu Châu thực dân khác.
Tuy nhiên, nhờ phong trào chống thực dân ngày càng mạnh, Đức đã bắt đầu ý thức về vấn đề. Một trong những dấu hiệu cho thấy ý thức chống thực dân và kỳ thị chủng tộc gia tăng là việc đặt lại tên của một số đường phố. Thập niên 1980, Thành phố Berlin tuyên bố rằng con đường Peters sẽ được đặt lại là Hans Peters. Hans Peters là một trong những anh hùng chống Đức quốc xã. Nhưng những nhà tranh đấu cho rằng một nỗ lực như thế vẫn chưa đủ, bởi vì dù sao con đường vẫn còn mang tên “Peters” và như vậy vẫn còn gợi lên cái quá khứ thực dân và kỳ thị gắn liền với ông Carl Peters.
Song song với việc đổi tên một số đường phố, mới đây Bảo tàng viện “Deusche Historische Museum” (Bảo tàng viện Lịch sử Đức) tại Berlin đã tổ chức một cuộc triển lãm về thời kỳ thực dân của Đức và đang chuẩn bị một cuộc triễn lãm thường trực trong những năm sắp tới. Bên ngoài thủ đô, cách đây 2 năm, Đại học Hamburg cũng đã thành lập một trung tâm nghiên cứu để nhìn lại di sản thực dân của hải cảng này.
Bên ngoài Đức, hậu duệ của những người Namibia bị sát hại trong thời kỳ thực dân của Đức hiện cũng đang đòi hỏi phải có những đền bù cân xứng sau khi nước này nhìn nhận trách nhiệm trong vụ diệt chủng hồi năm 1904. Nhưng cho tới nay Đức vẫn không chịu đền bù và cũng không chịu ra hầu tòa tại Mỹ dạo tháng Ba vừa qua. Những nhà tranh đấu của người Namibia đang chuẩn bị cho một phiên xử khác sẽ diễn ra vào tháng Mười tới đây.
Đức quốc đã trở thành một đế quốc 30 năm sau khi được thống nhất vào năm 1871. Nhưng ít nhất 3 thế kỷ trước đó, các tỉnh bang nói tiếng Đức và các doanh nghiệp tư nhân cũng đã trục lợi rất nhiều từ các hoạt động thực dân, kể cả việc buôn bán nô lệ.
Vào giữa lúc các nước Âu Châu đang tranh giành để chiếm lấy lục địa Phi Châu, Đức đã thiết lập được một vùng thuộc địa tại miền Đông Phi Châu. Đây là vùng hiện có các nước Tanzania, Rwanda và Burundi. Vùng này cũng được cai trị bởi Toàn quyền Đức của vùng Tây Nam Phi Châu. Vùng này hiện nay gồm có các nước Namibia, Cameroun, Togo và Ghana. Đức chỉ chịu buông bỏ các lãnh thổ này sau khi bị bại trận trong Đệ nhất Thế chiến. Trong Đệ nhất Thế chiến, Đế quốc Đức là một trong những trung tâm quyền lực bại trận. Chiến tranh đã diễn ra sau khi Đức tuyên chiến với đồng minh của Serbia là đế quốc Áo-Hung. Các lực lượng Đức đã phải chống đỡ từ 2 mặt trận Đông và Tây. Bị phong tỏa và lâm vào tình trạng khan hiếm thực phẩm trầm trọng, cuối cùng Đức đành tuyên bố đầu hàng. Sau chiến tranh, sự bại trận của Đức và sự bất mãn của dân chúng đã châm ngòi cho cuộc Cách mạng Đức năm 1918-1919.  Chế độ quân chủ bị lật đổ và nền Cộng hòa được thiết lập. Lúc đó Đức mới chịu từ bỏ các thuộc địa tại Phi Châu, nhưng lại không dứt khoát từ bỏ cái quá khứ thực dân của mình.
Quá khứ thực dân tàn bạo của Đức vẫn được duy trì và đã được viết lên trên chính những tên đường ở Thủ đô Berlin. Năm 1939, chính Đức quốc xã đã lấy tên của ông Carl Peters để đặt cho một con đường tại Thủ đô Berlin: họ muốn vinh danh một người đã từng cưỡng bách người dân Phi Châu vào lao động khổ sai và áp đặt sưu cao thuế nặng lên đầu họ.
Năm nay đã 66 tuổi cho nên ông Mboro biết rõ những câu chuyện như thế. Trong thời kỳ thực dân Đức, ông cố nội của ông bị cưỡng bách gia nhập vào lực lượng xây một tuyến đường hỏa xa. Không còn chịu đựng nổi cách đối xử dã man của thực dân Đức, ngày nọ ông và một số công nhân khác đã quyết định đốt cuốc xẻng  và bỏ trốn. Nhưng tất cả đều bị bắt. Ông Mboro giải thích: “Ông nội tôi không hề biết mặt cha mình, bởi vì ông cố nội tôi đã bị người Đức giết khi vợ mình đang mang thai. Tôi không bao giờ được kể lại người Đức đã xử tử ông cố nội tôi như thế nào, nhưng tôi rất hãnh diện được mang tên của ông”.
Tại Tanzania, một cuộc nổi loạn có vũ trang chống lại người Đức đã bùng nổ. Cuộc nổi loạn thường được gọi là “cuộc chiến tranh Maji Maji”. Nhưng cuộc nổi loạn đã bị đè bẹp. Theo ước tính có đến 75.000 người đã bị người Đức giết chết chỉ trong vòng 2 năm.
Sau con đường mang tên Karl Carters, ông Mboro hướng đến đường Swakopmunder. Swakopmunder là tên một thành phố của Namibia. Chính tại Namibia mà Đức đã thiết lập những trại tập trung đầu tiên của họ.
Năm 1904, người dân thuộc 2 bộ lạc Herero và Nama đã nổi lên chống lại sự cai trị của người Đức. Cuộc nổi dậy chỉ kéo dài được 4 ngày. 65.000 người thuộc Bộ lạc Herero và 10.000 người thuộc Bộ lạc Nama đã bị giết chết hoặc để cho chết đói trong các trại tập trung. Theo người dân Namibia, đây là cuộc diệt chủng đầu tiên trong Thế kỷ 20.
Những con đường tại Thành phố Berlin mà ông Mboro vừa đi qua đều dẫn đến một công trường có tên là Nachtigalplatz. Nachtigal chính là người đã thành lập thuộc địa của Đức tại miền Tây Phi Châu.
Sau Đệ nhị Thế chiến, người Đức đã xây dựng bản sắc của họ trên việc tẩy chay Đức quốc xã. Họ xem đó như một nỗi ô nhục chung của cả dân tộc. Tuy nhiên các sử gia và các nhà tranh đấu ngày càng tìm ra bằng chứng cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa Đệ tam Đế chế, tức chế độ Đức quốc xã và Đế quốc Đức trước đó. Theo các sử gia và các nhà tranh đấu, xã hội Đức không thể hoàn toàn loại bỏ ý thức hệ kỳ thị chủng tộc của Đức quốc xã nếu không nhìn lại quá khứ thực dân của họ.
Sử gia Jurgen Zimmerer, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu về thời hậu thực dân tại trường Đại học Hamburg giải thích rằng “Đức quốc xã không phải là một chủ nghĩa từ trời rơi xuống, mà là một não trạng kỳ thị chủng tộc, bài ngoại sâu xa trong lịch sử Đức”.
Năm 2005, trong một bài nghiên cứu có tựa đề “Từ Phi Châu đến Auschwitz”, Sử gia Benjamin Madley, thuộc trường Đại học Yale, đã nhấn mạnh đến mối liên kết giữa Đế quốc Đức và Đức quốc xã. Theo ông, những người thực dân Đức lý luận rằng chiếm đất đai và tài sản của người Phi Châu là một thứ “quyền lợi” gắn liền với sự “thượng tôn” của giống nòi Đức. Đây cũng chính là lập luận mà Hitler đã đưa ra tại Đông Âu khi ông khẳng định “quyền được chiếm đất đai” của các nước khác.
Joshua Kwesi Aikins, một nhà tranh đấu cho nhân quyền tại Berlin đã khẳng định: “Cựu thuộc địa Namibia đã báo trước những gì sẽ xảy ra tại trại tập trung Auschwitz”.
Mối liên hệ giữa các cựu thuộc địa và Đệ tam Đế chế lại càng rõ rệt hơn nếu người ta nhìn vào nguồn gốc của một số lãnh tụ của Đức quốc xã. Đồ tể Hermann Goering, cánh tay mặt của Hitler, chính  là con của Heinrich Goering, toàn quyền đầu tiên của thuộc địa Namibia. Đúng là cha nào con nấy!
Các nhà tranh đấu cho rằng đã đến lúc Đức quốc cần phải nhìn thẳng vào quá khứ thực dân của họ. Theo ông Aikins, tại Đức, mỗi khi đề cập đến chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc, người ta thường chỉ nghĩ đến hành động cá nhân của một số người. Thật ra, trong thời kỳ thực dân, người Đức đã từng được nuôi dưỡng bởi ý tưởng cho rằng họ là người da trắng, rằng chủng tộc của họ siêu đẳng hơn các dân tộc khác, rằng họ được sinh ra để cai trị các dân tộc khác. Theo ông Aikins, “chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc là một truyền thống đã ăn sâu tại Đức và nếu chỉ giới hạn nó vào xã hội chủ nghĩa dân tộc (Đức quốc xã) thì có nghĩa là bạn sẽ không thể hiểu được nguồn gốc sâu xa của nó”.
Đối với ông Mboro, thực tế mà ông nhìn thấy mỗi lần về lại Tanzania là một vấn đề quan trọng. Ông giải thích: “Chúng tôi biết những lý do tại sao Tanzania (ngày nay) vẫn còn nghèo đói. Đức muốn cho thấy tình trạng ấy bởi vì họ chỉ muốn cho thấy một khía cạnh của vấn đề. Nhưng lịch sử đã xảy ra và lịch sử không thể thay thế”. Người đàn ông gốc Tanzania này muốn nói rằng lịch sử của những bóc lột, đàn áp và nô lệ hóa trong thời kỳ Đức chiếm Tanzania làm thuộc địa không hề thay đổi và chính nó đã là căn cội sâu xa của chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc đã từng là nỗi ô nhục của dân tộc Đức.

(nguồn:http://www.aljazeera.com/indepth/features/2017/07/germany-confronting-colonial-roots-racism)


Thứ Sáu, 1 tháng 9, 2017

Tiếng nói cuối cùng vẫn thuộc về Đạo Đức


Chu Thập
25/08/17

Trong  tuyển tập tạp ghi đầu tiên của ông xuất bản năm 2003, nhà văn Huy Phương bên Mỹ đã mô tả cuộc sống tất bật, đầu tắt mặt tối  của người Việt tỵ nạn trong một bài viết có tựa đề “Nước Mỹ lạnh lùng”.  Và ông kết thúc những ghi nhận của mình như sau: “Ôi! Nước Mỹ lạnh lùng...Nước Mỹ khép kín. Nước Mỹ thiếu tình người...Ngày thường bạn thử lái xe đi một vòng vào các khu dân cư xem sao, nó chẳng có sinh khí chút nào, kiểu  vườn không nhà trống, kiểu vùng tạm chiếm “vắng bóng trâu cày trên đồng, vắng bóng heo gà trong sân” (P.D). Và con người lạnh lùng, đầu môi chót lưỡi, miệng nói: “Hi, how do you do?” nhưng trong lòng thì chẳng mảy may rung động”.
Tôi có đi Mỹ vài lần. Có khi cũng ở lâu đến cả hai ba tháng. Nhưng chưa sống và làm việc bên Mỹ cho nên tôi chưa cảm được cái vùng đất hứa của người tỵ nạn này nó  “lạnh lùng” đến cỡ nào. Với tôi thì nước Mỹ lúc nào cũng “lạ lùng”. Giàu có nhứt, văn minh nhứt, vậy mà nước Mỹ không có lấy được một thành phố nào được xếp vào danh sách 10  thành phố “ đáng sống” nhứt trên thế giới theo sự xếp hạng của một số cơ quan truyền thông. Ở tận miệt dưới như Úc Đại Lợi của tôi vậy mà Thành phố Melbourne hầu như năm nào cũng  được xếp hạng nhứt và hai thành phố khác là Adelaide và Perth cũng lọt vào “top ten” ở hạng 6 và 7.
“Lạ lùng” hơn nữa là, tuy là nước có nền dân chủ lâu đời và mẫu mực nhứt để cả thế giới ngưỡng mộ và mơ ước, vậy mà mới đây, sau những lời phát biểu đầy tranh cãi của Tổng thống Donald Trump về việc một thanh niên thuộc nhóm “thượng tôn da trắng” dùng xe ủi vào một đám đông khiến cho một người chết và nhiều người bị thương, tôi lại thấy trồi lên không biết bao nhiêu nhóm cực hữu kỳ thị chủng tộc ra mặt. Với Tu chính án Thứ nhứt (First Amendment), lạ lùng quá, quốc gia dân chủ nhứt thế giới này nới rộng quyền tự do phát biểu đến độ cho phép bày tỏ sự miệt thị và ngay cả thù hận đối với người khác. Có lẽ đây là nét lạ lùng làm cho nước Mỹ chẳng giống ai hết!
Trên thế giới ngày nay, tại  nhiều quốc gia đã có luật nghiêm cấm việc bày tỏ những ý kiến có nội dung thù hận hay miệt thị đối với người khác. Luật pháp của Đức Quốc chẳng hạn cấm trưng bày những biểu tượng của Đức Quốc Xã. Tại quốc gia này, ngay cả mang một biểu tượng của Đức Quốc Xã cũng đủ để vào tù bóc 3 cuốn lịch rồi! Nói gì đến những lời phát biểu kích động hận thù và phỉ báng các tôn giáo. Còn tại Pháp Quốc thì đừng nói tới chuyện bênh vực hay biện hộ cho chủ nghĩa khủng bố hay các hành động khủng bố. Ngay cả chối bỏ cuộc sát tế người Do Thái do Đức Quốc Xã chủ xướng hoặc miệt thị ai đó vì chủng tộc hay tôn giáo của họ cũng đủ để bị truy tố và đưa ra tòa. Riêng tại Úc Đại Lợi của tôi, Luật chống kỳ thị chủng tộc được ban hành năm 1975 cấm mọi lời nói kích động hận thù. Theo luật này, sẽ là một hành vi phạm pháp nếu xúc phạm, phỉ báng, đe dọa một người hay một nhóm người vì chủng tộc, màu da, văn hóa hay tôn giáo của họ...
Nước Mỹ lạ lùng hết sức, bởi vì trong hằng bao thập niên qua vẫn cứ dung chấp Đức Quốc Xã. Vào cuối thập niên 1930, những tay Đức Quốc Xã sừng sỏ nhứt đã thu hút được hàng ngàn người tập trung lại để diễn hành. Ngay tại Công viên Madison Square Garden ở giữa thành phố New York, Đức Quốc Xã đã tổ chức được một cuộc biểu dương lực lượng rất qui mô. Thay vì bài trừ cái chủ thuyết kỳ thị chủng tộc đồi bại đã sát tế 6 triệu người Do Thái và gây đau thương tang tóc cho không biết bao nhiêu người trên khắp thế giới, luật pháp của Hoa Kỳ lại bảo vệ nó. Năm 1939, một lực lượng cảnh sát gồm cả 1.500 người đã được bố trí tại các ngã đường bên ngoài Công viên Madison Square Garden để ngăn ngừa đụng độ giữa những người theo Đức Quốc Xã và những người biểu tình chống lại họ. Thập niên 1950, những người “thượng tôn da trắng” đã công khai xuất hiện sau khi lãnh tụ của họ là ông George Lincoln Rockwell thành lập Đảng Đức Quốc Xã Mỹ và đặt trụ sở tại Thành phố Arlington, Tiểu bang Virginia.
Theo các số liệu, hiện nay trên toàn nước Mỹ có tất cả 99 nhóm Tân Đức Quốc Xã, thô bạo nhứt có đến 130 trụ sở của tổ chức thường được mệnh danh là Ku Klux Klan, 43 nhóm theo chủ trương nô lệ hóa người da đen, 78 nhóm “đầu trọc” kỳ thị chủng tộc và hàng trăm nhóm thượng tôn da trắng. Cùng chung một sàng với các nhóm trên đây là các tổ chức chống di dân, chống Hồi giáo và nói chung có chủ trương hận thù chủng tộc. Theo ước tính, từ năm 2014 đến năm 2016,  con số các nhóm có chủ trương hận thù chủng tộc tại Mỹ đã  gia tăng 17 phần trăm.
Với khuynh hướng  kỳ thị chủng tộc ngày càng gia tăng, nước Mỹ quả là lạ lùng. Nhưng có lẽ lạ lùng hơn là vì có một ông  tổng thống hiện đang ra mặt yểm trợ cho trào lưu ấy. Các tổng thống Mỹ thường có một phản ứng giống nhau mỗi khi đất nước trải qua một thảm họa. Ngày 28 tháng Giêng năm 1986, chỉ sau 73 giây được phóng lên không gian, phi thuyền Challenger đã phát nổ khiến cho 7 phi hành gia thiệt mạng. Trong bài diễn văn liền sau đó, Tổng thống Ronald Reagan đã tuyên bố đó là một ngày đau buồn, tiếc thương và tưởng nhớ của nước Mỹ. Dù ủng hộ hay chống ông, tất cả mọi người Mỹ đều liên kết với nhau trong niềm đau chung. Ngày 19 tháng Tư năm 1995, một cựu chiến binh 27 tuổi tên là Timothy McVeigh đã  điều khiển một chiếc xe tải có cài bom đâm vào một tòa nhà của chính phủ liên bang tại Thành phố Oaklahoma, Tiểu bang Oaklahoma. Cuộc đánh bom đã làm cho 168 người bị thiệt mạng và hàng trăm người khác bị thương. Trong bài diễn văn đọc trong lễ cầu nguyện và tưởng niệm các nạn nhân, Tổng thống Bill Clinton đã nói: “Hôm nay đất nước chúng ta cùng với quý vị đau buồn. Chúng tôi cùng thương khóc với quý vị.” Bài diễn văn cũng đã liên kết được mọi người dân Mỹ bên kia mọi khác biệt về chính kiến. Cũng vậy, liền sau cuộc khủng bố ngày 11 tháng Chín năm 2001, Tổng thống George W. Bush cũng đã liên kết được tất cả mọi người dân Mỹ trong một niềm đau chung và trong cùng một quyết tâm chống khủng bố. Tổng thống Barack Obama cũng có cùng một phản ứng và cách ứng xử của tất cả các vị tổng thống Mỹ khi đất nước trải qua thảm họa. Tối ngày 17 tháng Sáu năm 2015, một người thanh niên   21 tuổi  tên là Dylann Roof thuộc một tổ chức thượng tôn da trắng đã cầm súng xông vào một nhà thờ của người da đen tại Charleston, Tiểu bang South Carolina và bắn hạ 9 người kể cả vị mục sư đang hành lễ. Bài diễn văn của Tổng thống Obama trong buổi lễ cầu nguyện cho các nạn nhân có lẽ là một trong những bài diễn văn đáng ghi nhớ nhứt của ông. Lên án bạo động đã đành, nhưng ông cũng nhấn mạnh đến sự đoàn kết, sức mạnh và tình thương của mọi người vượt lên trên mọi chủng tộc và tín ngưỡng.
Ngày thứ Bảy 12 tháng Tám vừa qua quả là một trong những ngày buồn thảm nhứt trong lịch sử của nước Mỹ. Buồn thảm vì tại Thành phố Charlottesville, Tiểu bang Virginia, nhiều người, trẻ có già có, đã đeo phù hiệu của Đức Quốc Xã, nhiều người công khai trang bị khí giới, hô lớn những khẩu hiệu kỳ thị chủng tộc và xô xát với những người biểu tình phản đối họ. Một người thanh niên thuộc nhóm thượng tôn da trắng đã lái xe tải tung vào đám đông những người biểu tình ôn hòa. Một phụ nữ thiệt mạng và nhiều người bị thương. Đây quả là một thảm họa đau buồn cho nước Mỹ. Nhưng buồn thảm hơn khi một vị tổng thống lúc nào cũng rêu rao mình là tổng thống của tất cả mọi người dân Mỹ, đã không bày tỏ được tức khắc một lời cảm thương nào với nạn nhân. Đã vậy, ông còn lên án bạo động từ “nhiều phía”, miệt thị những người biểu tình chống kỳ thị chủng tộc và nhứt là đề cao “một số người tốt” trong đám người kỳ thị chủng tộc. Hèn chi, David Duke, một cựu lãnh tụ của nhóm thượng tôn da trắng Ku Klux Klan, đã lên tiếng đề cao “sự thanh liêm và dũng cảm” của Tổng thống Trump và cám ơn ông vì đã “lên án những tên thiên tả khủng bố”. Tôi hiểu được cái cảm giác “nước Mỹ lạnh lùng” của người viết tạp ghi Huy Phương khi nghe kể về một phản ứng “lạ lùng” khác của Tổng thống Trump như được Tạp chí Time số ra ngày 28 tháng Tám 2017 này ghi lại: khi được báo chí hỏi liệu ông có theo thói quen của các vị tổng thống tiền nhiệm để đi thăm viếng nơi xảy ra thảm họa, cụ thể là Charlottesville không, Tổng thống Trump liền  trả lời nghe rất “lạ lùng” rằng ông đã từng làm chủ một vườn nho gần thành phố này!
Tôi không biết có nên biểu đồng tình với Chủ bút Klaus Brinkbaumer  của báo Đức Spiegel không, khi ông khẳng định rằng  “Tổng thống Mỹ Donald Trump là một người kỳ thị chủng tộc và là  một người rao giảng sự thù hận”. Chủ bút báo Spiegel chỉ trích dẫn vài sự kiện. Năm 1973, Donald Trump bị kiện vì ông không cho người da đen thuê một hệ thống chung cư có tới 14 ngàn phòng của ông tại New York. Tài liệu còn lưu trữ cho thấy tất cả những người da đen đến thuê phòng đều được ghi chữ “C” (colored: da mầu) và bị từ chối. Nhưng chỉ vài phút sau, người da trắng đến thuê phòng, họ liền được mời vào. Trong thập niên 1980, ông chủ Trump của các sòng bạc Casino tuyên bố rằng người da đen lười hơn người da trắng. Ông cũng sợ rằng người da đen sẽ ăn trộm tiền bạc, của cải của ông. Tháng Tư năm 1989, khi một nhà đầu tư ngân hàng da trắng tên là Trisha Meili bị hãm hiếp tại Công viên Central Park và bị đánh đập đến nỗi bị hôn mê, 4 người da đen và một người gốc Châu Mỹ La Tinh đã bị bắt. Trump liền kêu gọi: “Hãy tái lập án tử hình!”  Tòa đã kết án 5 người này. Các cuộc điều tra sau đó đã đảo ngược phán quyết của tòa án, bởi vì họ hoàn toàn vô tội. Vậy mà họ chỉ được trả tự do nhiều năm sau đó!
Tôi vẫn cố gắng làm “trạng sư của quỷ” để biện hộ rằng những thành tích kỳ thị chủng tộc trên đây là chuyện xưa rồi. Nhưng tôi sợ rằng mình sẽ đuối lý bởi vì trong những lá phiếu đưa ông Trump vào Tòa Bạch Ốc, những người thượng tôn da trắng, những người kỳ thị chủng tộc là một thành phần cơ bản quan trọng đã dồn phiếu cho ông.
Tôi đã hoàn toàn sai khi “bói” về kết quả bầu cử tổng thống Mỹ dạo tháng 11 năm vừa qua. Tôi sợ mình sẽ lại đoán mò một lần nữa nếu chạy theo ông Tony Schwartz, người đã từng “viết giùm” cho ông Trump tác phẩm nổi tiếng “The art of the deal” (Nghệ thuật thương lượng) xuất bản năm 1987. Không biết căn cứ vào đâu mà ông này dám tuyên bố rằng Tổng thống Trump sẽ từ chức!
Nước Mỹ “lạ lùng”. Chuyện gì cũng có thể xảy ra ở Mỹ. Chính vì vậy mà tôi luôn lạc quan về nước Mỹ. Lạc quan là vì các tổng giám đốc các công ty được Tổng thống Trump mời vào hai hội đồng cố vấn doanh nghiệp của ông đều từ từ rút lui hết sau vụ Charlottesville. Bên Hội đồng Nghệ thuật (Art Council) cũng thế, 16 trên 17 thành viên của hội đồng này đã ký tên vào một lá thư lên án những phát biểu của Tổng thống Trump về vụ Charlottesville  và đồng loạt từ chức.
Tôi cảm kích về thái độ của Tổng giám đốc công ty dược phẩm Merck, ông Kenneth Frasier. Sau những lời tuyên bố của ông Trump về vụ Charlottesville, ông này nêu lên lý do lương tâm để từ chức.
Tôi cũng thích định nghĩa của đương kim Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson về kỳ thị chủng tộc. Ông nói rằng kỳ thị chủng tộc là một sự dữ. Còn bao nhiêu  dân biểu, nghị sĩ thuộc cả hai đảng nữa. Tất cả đều đồng loạt lên án kỳ thị chủng tộc. Xét cho cùng, họ đã nhân danh các giá trị đạo đức để lên án chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc. Tiếng nói cuối cùng ở Mỹ chắc chắn sẽ thuộc về Đạo Đức.