Thứ Tư, 10 tháng 5, 2017

Đa thọ đa nhục


Chu Thập
11.10.13
Tôi đã bước vào cái tuổi nhìn lui nhiều hơn ngó tới. Thích ôn lại những kỷ niệm đẹp của tuổi thơ đã đành, mà cũng hối tiếc không ít về những thất bại và thiếu sót trong cuộc sống. Có những điều lẽ ra phải làm mà không làm. Có những phí phạm thời giờ và ngay cả sức khỏe có thể tránh được mà vẫn cứ lao vào. Có những kiến thức có thể và phải học hỏi nhưng lại bỏ qua. Có những tình bạn và quan hệ cần được duy trì và vun xới thì lại phớt lờ…Có biết bao nhiêu điều mà khi bước vào tuổi già, người ta thường chỉ biết ngồi đó mà ngẩn ngơ hối tiếc và than thở: “Giả như thế này, giả như thế kia…!”
Nhưng bên cạnh những hối tiếc, tôi lại thấy mình bị dằn vặt nhiều hơn vì những hối hận. Hối hận vì biết bao nhiêu lần trong cuộc sống mình đã không sống tử tế và đối xử tốt với nhiều người. Cướp của giết người hay hà hiếp thì chưa, nhưng làm tổn thương người khác bằng thái độ ích kỷ, bằng hành động và nhứt là bằng lời nói thì vô số kể. Hối hận là bởi vì thái độ sống ích kỷ và những hành vi xúc phạm đối với người khác đã trở thành một thứ định mệnh vẫn còn đó để khuấy động niềm an bình nội tâm của mình. Một chút gió của ích kỷ, tham lam, hận thù mình đã gieo có khi đã biến thành một cơn bão ngầm đang dằn xóc tâm tư. Tôi vẫn thắc mắc: liệu có người nào bước vào tuổi già mà không có gì để hối hận không?
Tôi nghĩ đến đại tướng Võ Nguyên Giáp, người vừa qua đời hôm 4 tháng 10 vừa qua. Dù có thù ghét ông đến đâu đi nữa, thế giới Tây Phương vẫn không hết lời ca ngợi ông như một thiên tài quân sự, một “Nã Phá Luân Đỏ”, một người đã chẳng cần được đào tạo tại một trường võ bị nào mà vẫn chỉ huy thành công những trận đánh lẫy lừng nhứt trong quân sử thế giới. Dù có xem ông như kẻ thù không đội trời chung, tôi cũng đành phải cố gắng tỏ ra khách quan hết sức để nhìn nhận tài điều binh khiển tướng của ông.
Nhắc đến ông là nhớ đến điều được gọi là chiến thắng Điện Biên Phủ tháng 5 năm 1954. Để đạt được chiến thắng này và để được thế giới ca tụng như một viên tướng “huyền thoại”, ông đã nướng hơn 15 ngàn thanh niên Việt Nam. Tên tuổi và huyền thoại của ông cũng gắn liền với “Cuộc tổng tấn công và tổng nổi dậy Mậu Thân 1968”. Chính ông là tổng chỉ huy của chiến dịch “nướng” thanh niên thiếu nữ miền Bắc và sát hại không biết bao nhiêu đồng bào ruột thịt miền Nam. Và như tác giả Nguyễn Thu Trâm đã ghi nhận trong bài viết “Võ Nguyên Giáp: nhất tướng công thành vạn cốt khô”, “để có được cái gọi là “Đại Thắng Mùa Xuân 1975”, chính Giáp cũng là tổng chỉ huy của chiến dịch xua quân xâm lược miền Nam từ Xuân-Hè 1972 bằng những vi phạm trắng trợn hiệp định Geneva, tấn công vào vùng phi quân sự rồi nã pháo nghiền nát hàng chục ngàn đồng bào Quảng Trị trên Đại Lộ Kinh Hoàng, khi họ đang trên đường lánh nạn cộng sản vào mùa Hè đỏ lửa 1972. Rồi từ đó, với khẩu lệnh “Thần Tc, Thần Tốc Hơn Nữa - Táo Bạo, Táo Bạo Hơn Nữa…” chính Giáp cũng đã xua quân cưỡng chiếm toàn miền Nam, mang hiểm họa cộng sản với bất công, đói nghèo và phi dân chủ, phi nhân quyền cho đồng bào cả nước…để từ đó nước Việt Nam thụt lùi hàng thế kỷ so với các nước láng giềng, dân tộc Việt Nam mất nhuệ khí quật cường vốn được ông cha lưu truyền qua nhiều ngàn năm dựng, giữ nước và chống ngoại xâm, để đến nỗi cả nhân sỹ trí thức cũng đều phải trở thành nô lệ tự nguyện, phải khom lung, cúi đầu và câm nín trước mọi hành vi bạo ngược của chế độ cộng sản, để nhìn đất đai, biển đảo của tổ quốc mất dần vào tay Tàu cộng và để đợi chờ một đại họa mất nước và cả dân tộc sẽ bị Hán hóa vào một ngày thật gần. Vậy xin được hỏi nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam rằng tướng Giáp là một công thần hay là một tội đồ của dân tộc?”
“Công thần” hay “tội đồ” thì có lẽ chỉ có người dân Việt Nam hiện nay mới có thể phán quyết. Nhưng riêng bản thân ông, có bao giờ con người xây dựng đài danh vọng của mình trên xương máu của không biết bao nhiêu đồng bào vô tội, đã một lần dừng lại để, cũng như bao nhiêu “đồng chí” cộng sản khác, hối hận vì mình đã chọn lầm lý tưởng và nhứt là đã gây ra đau thương tang tóc cho dân tộc chưa?
Trong một cuộc phỏng vấn dành cho hãng thông tấn AP hồi năm 2005, nhân dịp kỷ niệm 30 năm Sài Gòn sụp đổ, ông Giáp đã nhìn nhận rằng “không có cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc nào khốc liệt và gây ra nhiều tổn thất như cuộc chiến tranh này”. Nhưng lập lại câu nói nổi tiếng của ông Hồ Chí Minh, ông Giáp vẫn khẳng định: “Chúng tôi vẫn chiến đấu cho Việt Nam, không có gì quý hơn độc lập tự do”.
Nhìn nhận sự tổn thất nặng nề về nhân mạng do tính hiếu chiến tàn bạo của mình gây ra, nhưng tướng Giáp chưa một lần tỏ ra hối hận về sự độc ác của mình. Trong bài nhận định có tựa đề “chỉ huy nhưng không lãnh đạo”, nhà báo Ngô Nhân Dụng đã viết trên báo Người Việt: “Một độc giả báo Người Việt mới góp ý kiến sau khi nghe tin ông Võ Nguyên Giáo qua đời. Bạn đọc này viết: “Tôi thấy dường như cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay, ông Võ Nguyên Giáp không một lần tỏ ra ân hận về những việc của ông làm trong thời gian tại chức. Bằng chứng là khi trả lời phỏng vấn của một phóng viên ngoại quốc hỏi:“Général Giáp, regrettez-vous de quatre millions de Vietnamiens…morts dans la guerre du Vietnam?” (Thưa đại tướng, ông có hối tiếc gì về việc bốn triệu người Việt đã chết trong chiến tranh Việt Nam không?), ông Giáp đã không đắn đo trả lời ngay: “Non, je ne regrette rien. NON, PAS DU TOUT!” (Không, tôi không hề hối tiếc. Không một mảy may nào).
Tôi nghe câu trả lời trên đây mà thấy rụng rời tay chân. Về sự độc ác, lâu nay người ta thường chỉ liên tưởng đến những tên tuổi như Tần Thủy Hoàng, Nero, Hitler, Stalin, Mao Trạch Đông, Polpot…Một con người đã có thể tế sát đến 4 triệu đồng bào ruột thịt của mình để, đàng sau chiêu bài độc lập giải phóng, leo lên đến đỉnh điểm của các bậc thang trong quân hàm và đạt danh hiệu “đại tướng huyền thoại”, cho tới lúc chết vẫn không “một mảy may hối hận” vì tang tóc mình đã gây ra…một con người như thế quả có một tuổi thọ đặc biệt! Đặc biệt không phải vì con số kỷ lục của năm tháng để sống so với số đông người Việt Nam, mà vì vẫn có thể trơ lì trước nỗi khốn khổ của người đồng loại do chính tay mình gây ra. Tại sao trên thế giới lại có những con người như thế?
Trong một lá thư gởi cho ông Phó chủ tịch Tỉnh Nghệ An, nhân vụ đàn áp giáo dân ở giáo xứ Mỹ Yên, giám mục Hoàng Đức Oanh, giám mục Kontum, đã trích dẫn một số câu nói thời danh về chủ nghĩa cộng sản của chính những người đã từng đi theo chủ nghĩa này. Như cựu lãnh tụ Đảng Cộng Sản Nam Tư, Milovan Djilas, tuyên bố: “20 tuổi mà không đi theo cộng sản là không có trái tim. 40 tuổi mà không từ bỏ cộng sản là không có cái đầu”. Hoặc ngay cả đương kim tổng thống Liên bang Nga, ông Vladimir Putin, người đã từng đứng đầu cơ quan tình báo KGB của Liên Xô, cũng nhìn nhận: “Ai tin cộng sản là không có cái đầu. Ai làm theo lời của cộng sản là không có trái tim”. Ở tuổi thanh niên, có thể vì “có trái tim” mà người giáo viên sử địa Võ Nguyên Giáp đã đi theo lý tưởng cộng sản. Nhưng dường như chủ nghĩa này không những đã chặt cái đầu, mà còn móc lấy cả trái tim của ông để đến ni ở cái tuổi lẽ ra phải ngộ được điều ngay lẽ trái, điều thiện điều ác, ông vẫn có thể tỏ ra chai lì trước nỗi khổ đau của người đồng bào của mình.
Quả thật, chủ nghĩa cộng sản, một thứ chủ nghĩa mà một vị giáo hoàng của Giáo hội công giáo đã cho là “đồi bại xấu xa từ trong bản chất”, đã cướp đi cái đầu và trái tim của con người đ biến họ thành những người máy. Người máy không biết hối hận bởi vì người máy không có khả năng xấu hổ. Tôi không sợ bị kết án “cường điệu” hay hàm hồ khi định nghĩa rằng cộng sản là người không biết xấu hổ. Đã biết xấu hổ thì chẳng ai còn dám vỗ ngực tự xưng mình là người cộng sản!
Mới đây, tôi lại phục lăn ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Dạo cuối tháng 9 vừa qua, “cũng như người ta”, ông cũng lên diễn đàn của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ở New York để đọc một bài diễn văn, dĩ nhiên đã được ai đó soạn sẵn với những công thức cũ rích có sẵn. Có cả hàng trăm nguyên thủ quốc gia tham dự Đại hội, cho nên ông có nói hưu nói vượn bằng tiếng Việt, thì cho dù có dịch sang các ngôn ngữ chính, chẳng có ma nào chú ý. Ngay cả tại Pháp trước đó, chẳng có cơ quan truyền thông nào bỏ giờ ra để theo dõi cuộc họp báo của ông với thủ tướng có cái tên mà anh cựu du kích vô bưng năm 11 tuổi, chẳng bao giờ được học một chữ tiếng Tây tiếng u nào cho nên mới đọc thành “Giăng Mắc Ê rô” (Jean Marc Ayrault). Chỉ có mỗi một Đài Truyền hình của Pháp là Canal + bỏ giờ ra theo dõi, nhưng cuối cùng lại mang cử chỉ và giọng điệu ngu ngốc, ngớ ngẩn của ông thủ tướng của một quốc gia ra để chế diễu. Chẳng hạn như trong lời chào mừng thủ tướng Pháp, ông thủ tướng xuất thân từ trường “đại học bưng biền” muốn dạy cho cử tọa và cả nước Pháp biết rằng nước Pháp “ở Âu Châu và trên thế giới”. Tôi không biết trên thế giới này còn có một ông thủ tướng nào trơ trn đến độ bộc lộ sự ngu ngốc không thể tha thứ được mà vẫn tnh bơ không!
Không “mảy may hối hận” và cũng chẳng biết xấu hổ: chủ nghĩa cộng sản đã “tôi thế đấy”! Năm 2005, khi trả lời cuộc phỏng vấn qua đó ông Võ Nguyên Giáp vẫn trước sau như một không tỏ ra “một mảy may” hối hận nào vì đã tế sát 4 triệu người Việt Nam trên bàn thờ cộng sản, ông tướng “công thành vạn cốt khô” đã 94 tuổi. Bước vào tuổi này thì nhiều cụ ông cụ bà người Việt Nam thường thốt lên “đa thọ đa nhục”. Do bệnh tật hành hạ, nhiều người già đâm ra chán đời. Có cụ, do tính nết bất thường, khiến cho nhiều người, ngay cả con cháu cũng muốn xa lánh. Có người thấy mình vô dụng lại bị bỏ rơi hoặc lâm cảnh cùng cực, lại càng thấy sống lâu là một gánh nặng. Đó là chưa nói đến sự ngược đãi của người đời hay những “tủi nhục” mà người già cho là con cháu gây ra cho mình, cứ như bao nhiêu “nhục nhã” mình đang gánh chịu là do người khác tạo ra.
Ở cái tuổi thích nhìn lại hơn ngó tới, tôi cũng biết sợ chết và chỉ mong được sống lâu. Tôi chưa cảm nhận được thế nào là “đa thọ đa nhục”. Thật ra, tôi vẫn luôn nghĩ rằng nhục hay không là do mình, bởi lẽ chẳng có ai có thể xúc phạm hay tước đoạt danh dự và phẩm giá của mình. Nếu tôi không bán đứng danh dự của tôi thì chẳng có ma nào làm tôi cảm thấy nhục nhã cả. Bị lột quần áo và treo trên thập giá, người La mã cho đó là một thứ “nhục hình” tột cùng. Nhưng tôi tin chắc rằng Chúa Giêsu chẳng hề cảm thấy đó là một ô nhục. Nhục hay không chính là cái đám đông ngày hôm trước tung hô Ngài, ngày hôm sau hò hét đòi đóng đinh Ngài vào thập giá. Người bị “làm nhục” và bị xúc phạm không đương nhiên là người phải xấu hổ cho bằng chính những kẻ hành hạ và làm tổn thương người khác. Tôi chỉ mong mình còn biết hối hận và xấu hổ vì đã xúc phạm đến người khác. Có còn biết hối hận và xấu hổ như thế tôi mới biết mình vẫn còn là “người” và cố gắng sống cho ra người hơn.
Khi nghĩ rằng vì còn biết xấu hổ nên tôi vẫn còn là “người”, vậy chẳng lẽ những ai tự xưng là người cộng sản không còn là “người” nữa sao?









Thứ Hai, 8 tháng 5, 2017

Đảo Faroe và những cô dâu Á Châu


05/05/17
Đảo Faroe đang trải qua tình trạng trai thừa gái thiếu, cho nên đàn ông ở đây phải đi rất xa, có khi phải sang tận Á Châu, cách riêng Thái Lan và Phi Luật Tân để tìm vợ. Nhưng chịu đựng được cái lạnh khủng khiếp của Đảo Faroe là cả một vấn đề đối với các cô dâu Á Châu.
Athaya Slaetalid là một cô dâu Thái Lan đã về nhà chồng cách đây 6 năm. Trong thời gian đầu, cô phải ru rú bên cạnh lò sưởi suốt ngày. Cô và Jan, một người dân Đảo Faroe, đã gặp nhau tại Thái Lan, khi anh làm việc cho một người đồng hương tại nước này. Jan biết trước rằng đưa vợ về nước là cả một vấn đề lớn đối với cô, bởi vì phong cảnh, thời tiết và văn hóa của nước anh hoàn toàn khác với quê hương của cô. Tuy nhiên Jan tin tưởng rằng vợ anh có thể vượt qua được mọi thách đố và khó khăn.
Hiện đang có trên 300 phụ nữ người Thái Lan và Phi Luật Tân đang sinh sống tại Đảo Faroe. 300 người chỉ là một con số nhỏ. Tuy nhiên so với một dân số chỉ có khoảng 50.000 người thì đây quả là một thiểu số đáng kể trong một nước gồm có 18 hòn đảo nhỏ năm giữa Na Uy và Băng Đảo.
Faroe là một vùng tự trị bên trong Vương quốc Đan Mạch. Vùng đất gồ ghề này lại có một khí hậu vô cùng khắc nghiệt: mưa, gió, ẩm ướt, mây mù và lạnh quanh năm. Người dân Đảo Faroe mỗi năm chỉ thấy ánh mặt trời được 6 tháng và nhiệt độ cao nhất của tháng hè thường không quá 16 độ C.
Faroe là một quần đảo gồm 18 đảo nhỏ nằm cách bờ biển Bắc Âu khoảng 655 cây số, với diện tích tổng cộng khoảng 1400 cây số vuông.
Kể từ năm 1388, Faroe nằm dưới sự kiểm soát của Na Uy và Đan Mạch. Nhưng từ giữa năm 1035 đến 1814, Faroe đã trở thành một phần của Vương quốc Đan Mạch. Năm 1814, Hiệp ước Kiel dành cho Đan Mạch quyền được kiểm soát đối với Faroe, cũng với hai đảo khác thuộc Na Uy là Greeland và Băng Đảo.
Trong những thập niên vừa qua, phong trào đòi độc lập đã thu hút được sự ủng hộ của đa số dân Faroe. Sau Đệ nhị Thế chiến, cao trào độc lập mạnh đến độ ngày 14 tháng Chín năm 1946, một cuộc trưng cầu dân ý về độc lập đã được tổ chức. Tuy nhiên, đây  là một cuộc trưng cầu dân ý chỉ có mục đích tham khảo ý kiến của người dân mà thôi. Điều đó có nghĩa là Quốc hội không bị buộc phải theo ý kiến của người dân. Đây là lần đầu tiên người dân Faroe được hỏi ý kiến có nên tuyên bố độc lập hay muốn tiếp tục ở lại trong Vương quốc Đan Mạch. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý cho thấy đa số dân chúng Faroe muốn có độc lập. Tuy nhiên, liên đảng trong Quốc hội không đạt được thỏa thuận về thủ tục tiến hành nền độc lập. Vì những khác biệt không thể vượt qua được, liên đảng đã tan rã. Một cuộc bầu cử Quốc hội mới vài tháng sau đó  đã đưa những thành phần chống độc lập lên cầm quyền. Và họ đã bỏ phiếu thuận cho việc ở lại trong Vương quốc Đan Mạch.
Tuy vậy, kể từ năm 1984, Đảo Faroe đã tranh đấu để cuối cùng được quyền tự trị bên trong Đan Mạch. Người dân Faroe tự quản lý trong hầu hết các vấn đề nội bộ. Những lãnh vực khác như quốc phòng, cảnh sát, tiền tệ và ngoại giao thuộc trách nhiệm của Vương quốc Đan Mạch. Dù vậy, về ngoại thương, Faroe vẫn đeo đuổi một chính sách riêng. Họ có thể thương thảo để đạt những hiệp ước thương mại với các nước khác. Họ cũng có đại diện trong Hội Đồng Bắc Âu ngang hàng với các thành viên của phái đoàn Đan Mạch. Ngay cả trong một số hoạt động thể thao, Faroe cũng thi đấu dưới lá cờ riêng của họ.
Trong những năm gần đây, Faroe phải trải qua một thời kỳ giảm sút dân số trầm trọng. Người trẻ bỏ nước ra đi, thường là để đeo đuổi việc học hành và họ không bao giờ trở về. Ngay cả phụ nữ cũng đi lập nghiệp ở những nước khác. Kết quả là, theo Thủ tướng Axel Johannesen, cán cân giới tính ngày càng mất thăng bằng: hiện trên toàn đảo, số phụ nữ ít hơn nam giới đến cả 2000 người. Do đó, tìm được người ăn đời ở kiếp với mình không phải là dễ dàng đối với nhiều đàn ông Faroe.
Tuy nhiên, một số không chấp nhận bỏ cuộc để mang tiếng “ế vợ”. Với sự tiến bộ của các phương tiện truyền thông ngày nay, lên mạng để tìm vợ là giải pháp thông thường nhất. Hầu hết đàn ông thanh niên Faroe tìm được người phối ngẫu Á Châu qua các trang mạng xã hội và ngay cả thương mại hoặc qua sự giới thiệu của những người đã đi trước, tức những người đã có vợ Á Châu.
Với những cô dâu mới đến Faroe, khác biệt văn hóa là một vấn đề lớn.
Mặc dầu là một phần lãnh thổ của Vương quốc Đan Mạch, Faroe lại có ngôn ngữ và văn hóa riêng, nhất là ẩm thực. Người dân đảo này thích ăn món thịt trừu lên men, cá mú phơi khô, mỡ cá và ngay cả thịt cá voi. Nêm nếm và gia vị thì chẳng bao giờ có rau cỏ và mùi vị của Á Châu.
Athaya là một phụ nữ tự tin và can đảm. Hiện đang làm việc trong một tiệm ăn ở Torshavn, thủ phủ của Faroe, lúc nào trên môi cô cũng có nụ cười. Cô và chồng cô sống trong một ngôi nhà gỗ ấm cúng bên cạnh một con sông nhỏ uốn khúc giữa một khe núi. Cô thú nhận rằng hội nhập vào một xứ sở hoàn toàn xa lạ với quê hương cô không phải là điều dễ dàng. Cô cho biết: “khi đứa con trai đầu lòng tên là Jacob của chúng tôi chào đời, tôi ở nhà suốt ngày mà chẳng có ai để nói chuyện với”. Đa số dân làng là người có tuổi và hầu hết không nói được tiếng Anh. Còn những người cùng độ tuổi với vợ chồng Athaya thì lại phải đi làm. Riêng cậu con trai Jacob thì chẳng có trẻ con cùng lứa để chơi đùa. Athaya than thở: “Tôi thực sự cô đơn. Ở đây, ở nhà có nghĩa là ở nhà một mình. Tôi có thể nói là mình bị trầm cảm. Nhưng tôi cũng biết rằng điều đó thường xảy ra trong hai ba năm đầu”.
Chỉ khi cậu con trai đến tuổi được gởi đi nhà trẻ, Athaya mới bắt đầu đi làm việc trong một tiệm ăn và gặp gỡ với những phụ nữ Thái khác. Nhờ vậy cô cảm thấy bớt nhớ nhà.
Một cô dâu Thái khác tên là Krongrak Jokladal lúc đầu cũng có cùng một tâm trạng như Athaya. Trondur, chồng cô, là một thủy thủ. Anh phải xa nhà trong nhiều tháng. Krongrak mở một tiệm “thoa bóp” trong trung tâm Thủ đô Torshavn. Làm chủ tiệm cho nên Krongrak tổ chức thời giờ làm việc theo ý muốn của mình để có thời giời rảnh rỗi dành cho đứa con mới sinh. Cha mẹ chồng cô cũng đỡ đần một phần trong việc trông coi đứa bé.
Trước khi về nhà chồng, Krongrak đã từng đứng đầu một phân bộ kế toán trong một cơ quan chính quyền địa phương. Mặc dầu có trình độ học vấn cao, nhiều phụ nữ Á Châu như Krongrak vẫn gặp nhiều trở ngại về ngôn ngữ cho nên thường chỉ làm những công việc thấp hơn khả năng của họ.
Thủ tướng Axel Johnnesen nói rằng chính phủ rất quan tâm đến việc giúp cho những người di dân mới đến Đảo Faroe vượt qua được những trở ngại như thế. Thủ tướng Faroe nhìn nhận rằng các phụ nữ Á Châu là những thành phần rất tích cực trong thị trường lao động. Do đó, một trong những ưu tiên hàng đầu của chính phủ là giúp họ học tiếng Faroe. Hiện chính phủ đang mở những lớp học tiếng Faroe miễn phí cho người di dân.
Kristijan Arnason là một người đàn ông cũng lấy vợ Thái. Vợ ông, cô Bunlom đã đến Faroe năm 2002. Ông cho biết mỗi ngày, sau một ngày làm việc cực nhọc, cô còn phải chúi mũi vào quyển tự điển Anh-Faroe để học tiếng địa phương. Người vợ Thái này khoe rằng mình là người may mắn. Trước khi đến Đảo Faroe, cô được người chồng tương lai hứa hẹn rằng thế nào cô cũng tìm được việc làm. Và ông đã giúp cô tìm được việc làm. Hiện cô đang làm việc trong một khách sạn. Vì phải tiếp xúc với người khác cho nên cô thấy cần phải cố gắng học tiếng của họ.
Vào thời buổi di trú đang là một vấn đề nóng bỏng tại nhiều nước Âu Châu, xã hội Faroe lại mở rộng vòng tay để đón nhận di dân ngoại quốc.
Một chính trị gia hàng đầu của Faroe là ông Magni Arge, người hiện cũng đang giữ một ghế trong Quốc hội Đan Mạch, cho biết: cho tới nay phần lớn những người di dân đến Faroe đều là phụ nữ. Tất cả đều tìm được công ăn việc làm cho nên không tạo ra bất cứ vấn đề xã hội nào. Ông Arge giải thích rằng vì đã chứng kiến những khó khăn mà người di dân đã phải đương đầu khi nhập cư vào những nước như Anh quốc, Thụy Điển và một số nước khác ở Âu Châu cho nên Chính phủ Faroe đã cố gắng để giúp cho người di dân không bị cô lập.
Antonette Egholm là một phụ nữ Phi Luật Tân. Cô cho biết không phải trải qua bất cứ khó khăn nào trong việc hội nhập vào xã hội mới. Antonette giải thích: “Dân chúng ở đây rất thân thiện. Tôi chưa bao giờ gặp bất cứ phản ứng tiêu cực nào vì là người ngoại quốc. Tôi đã từng sống tại Manila (Phi Luật Tân). Kẹt xe, ô nhiễm, tội phạm là cả một vấn đề. Trong khi đó ở đây (Faroe), chúng tôi không phải sợ đến độ phải khóa cửa nhà cũng như chẳng phải lo về chuyện bảo hiểm sức khỏe. Ngoài ra giáo dục lại còn được miễn phí nữa...” Antonette nói rằng ở xứ sở mới cô cũng vẫn cảm thấy thoải mái như ở Phi Luật Tân.
Chồng cô, ông Regin, cũng tin rằng tính đa diện ngày càng gia tăng của xã hội Faroe là điều cần phải được đón nhận chứ không đáng lo sợ. Ông cảm thấy hãnh diện về những đứa con mang hai dòng máu của ông. Ông cho biết thỉnh thoảng cũng có một số bạn bè trêu chọc và hỏi có phải ông đặt hàng mua vợ trên máy vi tính không. Nhưng nói chung, hai vợ chồng ông không gặp bất cứ thành kiến nào về mối quan hệ của họ.
Xa quê hương, lạc lõng giữa một nền văn hóa hoàn toàn khác biệt lại phải sống ở một nơi hẻo lánh có thể là một thử thách lớn đối với các cô dâu Á Châu. Athaya cho biết nhiều người bạn Thái của cô hỏi tại sao cô không chịu rời bỏ ngôi làng nhỏ ở nơi đèo heo hút gió và dọn về thủ đô là nơi hiện có đến 40 phần trăm dân Faroe đang sinh sống. Ở đây, cậu con trai Jacob ít ra cũng có nhiều bạn hơn. Nhưng Athaya trả lời dứt khoát: “Không, tôi thấy không cần phải làm điều đó. Tôi đang cảm thấy hạnh phúc và xây dựng cuộc sống cho gia đình chứ không phải chỉ sống cho qua ngày”.
Chỉ về hướng dòng sông giữa khe núi, Athaya giải thích rằng cậu con trai của cô đang chơi trên bãi cát bên bờ sông. Xung quanh cậu bé là đàn cừu. Lúc nào đứa bé cũng sống giữa thiên nhiên. Ông bà nội của cháu chỉ sống bên kia đường. Ở đây không có ô nhiễm, cũng không có tội phạm. Athaya khẳng định: “Ngày nay, không có nhiều đứa trẻ có được như thế. Đây có thể là địa đàng cuối cùng trên trái đất”
Nói chung, các cô dâu Á Châu ở Faroe xem ra được may mắn và hạnh phúc hơn phần lớn các cô dâu Việt Nam tại một số nước Á Châu khác, nhất là tại Trung Cộng.

(Theo: wives wanted in the Faroe Islands, http://www.bbc.com/news/magazine-39703486)





Thứ Sáu, 5 tháng 5, 2017

Biết ơn đời những tin vui


Chu Thập
28/04/17
Ngày mai, 29 tháng Tư, là ngày  kỷ niệm đúng 100 ngày tỷ phú địa ốc Donald Trump nhậm chức tổng thống của đệ nhứt siêu cường thế giới. Không riêng Hoa Kỳ mà cả thế giới đều xem đây là một ngày quan trọng. Tuy ông không phải là nguyên thủ quốc gia của tôi, nhưng bởi lẽ nhứt cử nhứt động của ông đều ảnh hưởng đến trên 7 tỷ con người đang có mặt trên trái đất này, cho nên tôi cũng xem đây là một ngày đáng chú ý.
100 ngày là một thời lượng đầy ý nghĩa thường được nhắc đến trong lịch sử thế giới. Con số 100 ngày này được nhắc đến trước tiên với Đại đế Nã Phá Luân của Pháp. Ông bị hạ bệ năm 1814 và bị đày qua Đảo Elba. Elba là một hòn đảo nhỏ của Tuscani, quần đảo lớn thứ ba của Ý Đại Lợi, chỉ sau Sicilia và Sardinia. Tài liệu lịch sử cho biết  sau đúng 300 ngày bị giam giữ, Nã Phá Luân đã trốn thoát khỏi nơi lưu đày và trở về Pháp. Và 100 ngày sau đó, ông đã có mặt tại Thủ đô Paris, qui tụ lại quân đội cũng như liên kết được hầu như toàn nước Pháp. Tưởng mình có thể làm mưa làm gió như trước kia, ông đã điều binh khiển tướng để đối đầu với liên minh Âu Châu. Nhưng sự thất trận thê thảm tại Waterloo, Bỉ, đã chấm dứt tham vọng đại đế của ông và giấc mộng bá quyền của nước Pháp. Tất cả chỉ diễn ra đúng 100 ngày!
Tại Hoa Kỳ, khi nhắc đến 100 ngày đầu tiên của một tổng thống, ai cũng đều nghĩ đến tổng thống Franklin Delano Roosevelt (1882-1945). Tổng thống Roosevelt nhậm chức ngày 4 tháng Ba năm 1933. Đây là cao điểm của cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhứt trong lịch sử Hoa Kỳ. Để đối phó với những hậu quả của tình trạng suy trầm kinh tế, Tổng thống Roosevelt đã đề ra 4 điểm ưu tiên: mang lại công ăn việc làm cho người dân Mỹ, bảo vệ tiền kiết kiệm của người dân và tạo ra sự thịnh vượng, chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân và người già, phục hồi kỹ nghệ và nông nghiệp. Được hậu thuẫn của Quốc hội, Tổng thống Roosevelt đã thành công trong việc đương đầu với cuộc suy trầm kinh tế. Tất cả 15 dự luật được ông đề ra trong 100 ngày đầu tiên của nhiệm kỳ tổng thống đều được Quốc hội thông qua. Ông được tiếng là vị tổng thống thành công nhứt trong việc thương lượng với Quốc hội. Kể từ đó, truyền thống Mỹ xem 100 ngày đầu tiên trong nhiệm kỳ của một vị tổng thống là một cột mốc rất quan trọng và ý nghĩa. Và cũng kể từ đó, 100 ngày đầu của tất cả những người kế vị tổng thống Roosevelt để làm chủ Tòa Bạch Ốc cũng đều được dân chúng Mỹ xem trọng.
Theo truyền thống này, tôi cũng theo bước các cơ quan truyền thông lớn, nhứt là của Hoa Kỳ, để nhìn lại 100 ngày đầu của Tổng thống Trump. Ở các nước Tây Phương, 100 ngày đầu tiên trong chức vụ nguyên thủ quốc gia của bất cứ chính trị gia nào cũng đều được xem là thời kỳ trăng mật. Hầu như vị nào cũng đều nhận được sự tán thành nồng nhiệt của dân chúng. Nhìn lại 100 ngày đầu của những vị tổng thống Mỹ gần đây nhứt như Bill Clinton, George Bush và Barack Obama, tôi thấy vị nào cũng đều được “điểm cao” cả. Trong 100 ngày đầu, điểm của Tổng thống Clinton có xuống, nhưng theo Viện thăm dò dư luận Gallup, ông  vẫn còn được 55 phần trăm dân chúng Mỹ tán thành. Tổng thống George W. Bush được bầu lên với một tỷ lệ ủng hộ rất thấp, vậy mà trong 100 ngày đầu , từ 57 phần trăm, tỷ lệ ủng hộ của dân chúng dành cho ông   đã vọt lên đến 62 phần trăm. Về phần mình, khi mới  đắc cử, Tổng thống Barack Obama nhận được đến 68 phần trăm sự ủng hộ của dân chúng. Trong 100 ngày đầu, tỷ lệ này có giảm đi phần nào, nhưng vẫn còn ở mức 65.
Còn 100 ngày đầu của đương kim Tổng thống Trump thì sao? Kết quả của hầu hết các cuộc thăm dò dư luận đều cho thấy tỷ lệ ủng hộ của dân chúng Mỹ dành cho ông chỉ giao động ở giữa 45.5 và 41 phần trăm hoặc có khi xuống cả dưới mức 40.  Tỷ lệ ủng hộ này được xem là thấp nhứt trong lịch sử Hoa Kỳ. Nhìn chung, kể từ khi nhậm chức đến nay, Tổng thống Trump đã mất 4 điểm.
Vốn không tin các cơ quan truyền thông mà ông gọi là “kẻ thù của nhân dân”, ông luôn xem kết quả trên đây là “tin giả”. Ông vẫn nằng nặc cho rằng “không có một chính phủ (Mỹ) nào đã thành công trong 90 ngày đầu tiên” cho bằng ông. Vốn thích “nổ”, trong một cuộc phỏng vấn dành cho hãng thông tấn Associated Press (AP) hôm thứ Bảy tuần trước, ông khẳng định rằng việc ông xuất hiện trên hai đài truyền hình Fox News và CBS mới đây đã thu hút được số người theo dõi “kỷ lục”, nhiều nhứt kể từ sau cuộc khủng bố ngày 11 tháng Chín năm 2001.
Thật ra, theo nhận định của báo The New York Post, số ra ngày 24 tháng Tư vừa qua, có lẽ vì thiếu hiểu biết về lịch sử hoặc vì thù ghét truyền thông chăng, tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ xem việc đánh giá một  tổng thống trong 100 ngày đầu là “một thước đo nhân tạo” hoặc như ông viết trên Twitter “một tiêu chuẩn (đánh giá) kỳ cục”  do truyền thông sáng chế ra chớ không phải xuất phát từ một truyền thống do Tổng thống Roosevelt lập ra.
Dù xem việc đánh giá 100 ngày đầu là chuyện “rất vô nghĩa”, nhưng trong tuần lễ vừa qua, Tổng thống Trump vẫn tìm cách đánh bóng tối đa những thành tựu của ông: ông là tổng thống thành công nhất vì đã ký nhiều sắc lệnh và dự luật nhất, vì đã có những quan hệ tốt đẹp nhứt với các nhà lãnh đạo nước ngoài, vì đã làm được nhiều việc hơn bất cứ tổng thống nào trong 100 ngày đầu!
Sử gia Robert Dallek, chuyên nghiên cứu về các tổng thống Mỹ, đã nhận xét một cách chí lý về trường hợp Tổng thống Trump: “Một phút trước, ông nói rằng 100 ngày đầu của ông là thời gian tốt đẹp nhứt mà chẳng có tổng thống nào sánh kịp và một phút sau, ông lại đả phá ý tưởng đánh giá 100 ngày đầu của một tổng thống”.
Thật ra, 100 ngày đầu chỉ là một phần trong nhiệm kỳ của một tổng thống. Không thể chỉ dựa trên 100 ngày đầu để đánh giá một vị tổng thống. Nhiều ông bắt đầu nhiệm kỳ trong vinh quang để  rồi ra đi trong thất bại nhục nhã. Có ông lúc bắt đầu không được ủng hộ, nhưng đã dần dần lấy được uy tín và nhận được sự ủng hộ cao. Tôi hy vọng và cầu mong cho nhiệm kỳ của tổng thống Trump sẽ diễn ra tốt đẹp, nước Mỹ sẽ “vĩ đại” hơn và thế giới này sẽ ổn định và an toàn hơn. Chỉ có điều, với tính khí bất thường, xem thường sự thật, nói trước chối sau của Tổng thống Trump, tôi cảm thấy lo sợ. Những căng thẳng hiện nay tại Bán đảo Triều Tiên do “Chí Phèo” Kim Jong-un cố tình tạo ra và dĩ nhiên cũng do những đe dọa của Tổng thống Trump  làm cho nghiêm trọng, khiến tôi phải run sợ trước viễn ảnh của một cuộc chiến tranh nguyên tử. Không những người dân Nhựt Bổn và Nam Hàn đang ăn ngủ không yên, mà người dân Miệt Dưới như tôi cũng phải bồn chồn lo lắng vì nghe đâu Darwin của Úc Đại Lợi hiện cũng đang nằm trong tầm nhắm của hỏa tiễn Bắc Hàn.
Trong những ngày này, tôi cảm thấy lo sợ khi nhìn lại 100 ngày đầu của tổng thống Mỹ và dĩ nhiên cũng chẳng cảm thấy phấn khởi chút nào khi nhìn về quê hương Việt Nam của mình. Như Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, “góc phố nào cũng thấy quê nhà”, đi đâu, ở đâu, làm gì tôi cũng cảm thấy nhớ quê hương. Nhứt là trong những ngày này, khi người Việt tỵ nạn khắp nơi trên thế giới tưởng nhớ ngày 30 Tháng Tư. Cũng như mọi năm, năm nay tôi lại ngao ngán thốt lên: “Đã 42 năm rồi!” 42 năm rồi, mà người Việt trong nước vẫn tiếp tục quằn quại dưới ách thống trị của cộng sản độc tài.
Cộng sản ở nước nào cũng đều rêu rao về những thành tựu  của họ. Thời Liên Xô cực thịnh, đứng nhìn tượng Lenin ngạo nghễ giữa Thủ đô Hà Nội, một người Việt nào đó đã tức cảnh sáng tác một bài ca dao thật ý nghĩa: “Ông Lê Nin ở nước Nga. Sao ông lại đứng vườn hoa nước này. Ông ưỡn ngực, ông chỉ tay. Ông xem như thể nước này của ông. Ông Lê Nin ở nước Nga. Cớ sao lại đứng vườn hoa nước này. Ông vênh mặt, ông chỉ tay: Tự do hạnh phúc chúng mày con xa. Kìa xem gương của nước Nga. Bảy mươi năm lẻ có ra đếch gì!”
“Bảy mươi năm lẻ có ra đếch gì”. Không hiểu câu ca dao này có thấu đến tai đương kim Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng không. Sau “Bảy mươi năm lẻ” xây dựng thiên đàng xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc và gần 40 năm áp đặt chủ nghĩa cộng sản lên Miền Nam, vậy mà năm 2013, trong bài phát biểu về dự thảo sửa đổi hiến pháp năm 1992,  người có bằng tiến sĩ về xã hội chủ nghĩa đã phải  nhìn nhận: “Đến hết thế kỷ (21) này không biết đã có Chủ nghĩa Xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa...” Ít ra, khi cùng với ông Lê Nin trong Vườn hoa Chi Lăng nhìn lại một đoạn đường đã đi qua, ông Nguyễn Phú Trọng đã nhìn nhận sự thất bại của chủ nghĩa cộng sản. Về điểm này, ít ra ông Trọng không đến nỗi “lú” như người ta nghĩ!
Nhìn lại “70 năm lẻ” người cộng sản xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc và 42 năm họ áp đặt chủ nghĩa cộng sản lên Miền Nam, tôi cũng ôn lại đoạn đường mà chính mình đã trải qua. Ngày 30 tháng Tư mỗi năm là dịp để tôi ý thức về bản sắc của mình. Mãi mãi tôi vẫn là một người tỵ nạn. Một cách nào đó, con người của tôi, một cách cụ thể những suy nghĩ của tôi đã luôn bị ám ảnh bởi chủ nghĩa cộng sản mà tôi đã được may mắn “sờ sẫm”, chạm mặt ít nhứt trong hơn 5 năm. Mỗi ngày 30 tháng Tư, nhiều người Việt ở Úc tập trung về Thủ đô Canberra để lên án những vi phạm nhân quyền của chế độ cộng sản ở Việt Nam và dĩ nhiên cũng để khẳng định rằng họ chống cộng, họ không thể đội trời chung với người cộng sản. Trong ngày này, tôi cũng hâm nóng lại lập trường và quyết tâm chống cộng của mình. Với tôi, chống cộng không chỉ đơn thuần là cầm cờ Việt Nam Cộng Hòa, giơ tay và hô khẩu hiệu “đả đảo cộng sản”, mà thiết yếu phải là sống và thực hành những giá trị nhân bản vốn hoàn toàn bị bóp nghẹt trong chế độ cộng sản. Một trong những giá trị nhân bản hàng đầu ấy theo tôi chính là thái độ  khoan nhượng và sự cảm thông trước những khác biệt và khổ đau của người khác.
Trong những ngày này, tôi thấy mình phải tỏ lòng biết ơn đối với những quốc gia xem trọng tính đa chủng tộc và văn hóa của người dân. Úc Đại Lợi, quê hương thứ hai của tôi, là một trong những nước như thế. Đất nước này tạo điều kiện và không ngừng kêu gọi, nhắc nhở tôi phải sống tinh thần khoan nhượng và cảm thông. Ở đây tôi đã và đang hít thở được không khí tự do, tôi thấy mình lớn thêm trong sự khoan nhượng và cảm thông.
Nhìn lại 100 ngày đầu của Tổng thống Donald Trump, tôi thấy lo sợ. Nhìn lại “70 năm lẻ” của chế độ cộng sản ở Việt Nam, tôi cảm thấy ngao ngán. Nhưng ít ra, nhìn lại đoạn đường tỵ nạn mình đã trải qua, tôi thấy phải “cám ơn đời vì những tin vui” (Trịnh Công Sơn) bởi lẽ luôn thấy mình được nhắc nhở và hướng dẫn để sống những giá trị nhân bản mà tôi không ngừng tìm kiếm khi chạy trốn khỏi chế độ cộng sản.





Thứ Tư, 3 tháng 5, 2017

Trao tặng là nhận lãnh


Chu Thập
01.10.13
Hàng năm, cứ hết mùa Đông là tôi bắt đầu dọn dẹp lại tủ quần áo. Mỗi lần làm động tác này tôi lại thấy mình già thêm một chút. Người già thường “sinh tật” dè xẻn đến độ hà tiện. Tôi nhận ra nét già nua ấy khi nhìn lại tuổi của cái đống quần áo. Có cái đã 20 năm mà tôi vẫn cứ giữ. Chẳng có chút kỷ niệm nào cả, mà chỉ vì tiếc cho nên không muốn cho nó “tái sinh” thôi. Cho hội St Vincent hay Salvation Army thì lại thấy bất xứng. Thực ra, tôi vẫn luôn làm bài tính: nếu không “chạy theo” thời trang, mỗi năm tôi có thể dành dụm được một chút đỉnh để gởi về giúp người thân còn ở Việt Nam, tặng cho các hội từ thiện hoặc bảo trợ cho một em bé nghèo tại Á châu hay Phi châu. Không những thế, tôi còn có thể “ki cóp” thêm một khoản tiền nữa: Mỗi tháng tôi nhờ nhà tôi đè đầu ra để tân trang lại mái tóc muối nhiều hơn tiêu. Vừa khỏi phải mất giờ đi tiệm mà còn tiết kiệm được mười mấy Đô. Xấu mặt thì lâu chớ xấu đầu thì mấy lát. Nghĩ như thế cho nên tôi không phải mất giờ và tốn tiền để o bế mái tóc mà lại để dành được chút đỉnh để làm “công quả”.
Thật ra, đâu phải bắt đầu già như tôi mới dở tính trùm sò. Đọc tin tôi thấy có biết bao nhiêu tỷ phú trên thế giới này xem ra còn “trùm sò” hơn tôi đến cả tỷ lần. Như nhà tài phiệt địa ốc Warren Buffet chẳng hạn: với tổng tài sản lên đến 47 tỷ nhưng vẫn tiếp tục sống trong ngôi nhà nhỏ mà ông đã mua với giá chỉ có 31 ngàn Mỹ Kim từ hơn 50 năm trước. Trùm sò như tỷ phú này quả là đáng tôn thành thánh sống, bởi vì ông đã trao tặng hầu hết tài sản của mình cho các công việc từ thiện.
Tỷ phú Frederik Meijer cũng nổi tiếng “keo kiệt”. Xuất thân từ một gia đình nghèo, nhà tỷ phú đang có trong tay đến cả 5 tỷ này chọn những chiếc xe tiết kiệm nhiên liệu nhứt và mặc những bộ quần áo rẻ tiền nhứt từ hệ thống các cửa hàng do mình làm chủ.
Nhưng đáng đề cao nhứt có lẽ là tỷ phú Chuck Feeney. Ông đã từng đóng góp cho các tổ chức từ thiện chuyên chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, nhưng luôn muốn giấu tên. Nhà tỷ phú này “trùm sò” đến độ không sắm bất cứ chiếc xe hơi hay ngôi nhà riêng nào. Khi được hỏi lý do tại sao ông vẫn đi tàu điện ngầm và tiết kiệm tiền để bí mật làm từ thiên, ông giải thích: “Không ai có thể mang tiền theo xuống mồ cả”.
Riêng tôi phục lăn tỷ phú David Cheriton. Là một giáo sư tại đại học nổi tiếng Stanford, tiểu bang California, Hoa Kỳ, ông Cheriton bỏ túi không dưới một tỷ Mỹ kim nhờ cổ phiếu của Google. Nhưng ông tỷ phú này hơn tôi ở chỗ là tự cắt tóc cho mình. Ông vẫn sống trong ngôi nhà cũ kỹ mua từ năm 1981 và tự lái chiếc xe Volkswagen đời 1986. Vậy mà năm 2005, ông tặng 25 triệu cho trường đại học Waterloo để trang bị máy tính.
Nói về xe hơi, thì hai anh em ông Karl và Theo Albrecht người Đức, đồng sáng lập chui siêu thị Aldi với chủ trương giảm giá sản phẩm tối đa, còn đi xa hơn. Mặc dù có tổng tài sản lên đến 50 tỷ Mỹ kim, họ vẫn sống trong một ngôi nhà khiêm tốn và nhứt là vẫn lái chiếc xe Volkwagen đời 1980.
Thế giới không thiếu những người giàu có “trùm sò” như thế. Có người ăn tiêu dè xẻn, có người đi lượm từng ve chai, lon thiếc để bán kiếm tiền và đóng góp vào các công việc từ thiện. Vì không còn cơ hội làm tỷ phú nên tôi có trùm sò một chút để có thể ra tay “hào phóng” kể ra cũng không có gì là “bất thường”.  
Chúa nhựt vừa rồi, tôi được nghe lại bài Tin Mừng về một tên “trùm sò” thứ thiệt. Bài dụ ngôn có tựa đề “Lazarô và người phú hộ” kể lại câu chuyện của một người giàu có ngày ngày yến tiệc linh đình, bất kể có một người hành khất tên là Lazarô, ghẻ lỡ đy mình, ngày ngày ở trước cng nhà ông, chỉ mong được ăn những miếng bánh vụn rơi từ bàn ăn xuống mà cũng chẳng được. Hai người cùng chết trong một đêm: người giàu có bị trầm luân, còn ngưi nghèo đưc lên thiên đàng.
Nhân bài dụ ngôn này, các vị giám mục Úc Đại Lợi cho công bố một lời kêu gọi với tựa đề “Lazarus at our gate” (Lazarô trước cng nhà chúng ta). Đọc tài liệu này, tôi biết rằng tính cho đến năm 2015, trên thế giới vẫn còn có khoảng gần một tỷ người sống với thu nhập mỗi ngày không tới 1.25 Úc kim. Hơn 250 ngàn phụ nữ vẫn chết khi sinh con. Mỗi năm có đến 8 triệu trẻ em chết vì suy dinh dưỡng và những chứng bệnh có thể phòng ngừa được như đi tả, ban sởi đỏ và sốt rét. Trên thế giới, cứ 8 người thì có một người bị thiếu dinh dưỡng.
Tài liệu của các nhà lãnh đạo công giáo Úc cũng nhắc lại rằng năm 2000, các nhà lãnh đạo của 189 quốc gia trên khắp thế giới đã gặp nhau và cam kết giải quyết vấn đề nghèo đói trên thế giới. Bản tuyên ngôn mang chữ ký của các nhà lãnh đạo thế giới đã đưa ra điều được gọi là 8 “Mục tiêu phát triển của thiên niên kỷ” (Millenium Development Goals) phải đạt cho bằng được vào năm 2015. Đã có những bước tiến đáng kể trong việc thực hiện những mục tiêu của thiên niên kỷ. Nhưng xem ra còn lâu thế giới mới thực hiện trọn vẹn mục tiêu đầu tiên là tận diệt sự nghèo đói cùng cực vào năm 2015. Sự chênh lệch giàu nghèo giữa các nước giàu và các nước nghèo, giữa người giàu và người nghèo trong cùng một nước, nhứt là ở những nước nghèo nàn mạt rệp như Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam…hiện vẫn còn là một trời một vực. Tôi biết rằng nếu tôi có một tủ lạnh để dự trữ thức ăn, một cái giường để ngủ và một mái nhà để trú nắng che mưa thì tôi vẫn là người giàu có hơn 75 phần trăm dân số trên thế giới.
Phải nhìn nhận rằng kể từ khi tất cả các nhà lãnh đạo quốc gia trên khắp thế giới đã biết ngồi lại với nhau để đề ra những “mục tiêu phát triển của thiên niên kỷ” tỷ lệ của những người sống trong nghèo nàn cùng cực đã giảm đi được một nửa. Năm 1990, có đến 47 phần trăm dân số thế giới sống trong cảnh nghèo cùng, nghĩa là phải sống bằng thu nhập mỗi ngày dưới 1.25 Úc kim. Năm 2008, tỷ lệ này chỉ còn 24 phần trăm.
Dĩ nhiên, nghèo không chỉ đơn thuần là nghèo tiền. Bên cạnh cái nghèo về tiền, còn có biết bao nhiêu hình thức nghèo khác như nghèo giáo dục, nghèo những dịch vụ xã hội, nghèo nhân quyền, nghèo tự do, nghèo hòa bình, nghèo về những cơ hội được sống và đạt được mục đích tối hậu của phát triển là hạnh phúc.
Tài liệu của các vị giám mục Úc Đại Lợi về muôn mặt của sự nghèo nàn trên thế giới ngày nay và hình ảnh của ông “trùm sò” được Chúa Giêsu mô tả trong bài dụ ngôn mà trên một tỷ người công giáo, trong đó có tôi, đã nghe hôm Chúa nhựt vừa qua, không khỏi gợi lên cho tôi thái độ dửng dưng, mùa lòa, điếc lác, chai lì  của chính tôi trước nỗi khốn khổ của những người “đang ở trước cng nhà tôi”. Dĩ nhiên, trong cái xóm nhỏ của tôi, tôi chưa từng thấy có bóng dáng của một người hành khất nào cả. Thỉnh thoảng “xuống phố” tôi có gặp một vài người ngồi khất thực ở va hè, có khi với một con thú cưng bên cạnh. Thuật ngữ “trước cng nhà” được Chúa Giêsu xử dụng trong bài dụ ngôn và được các vị giám mục công giáo Úc lập lại trong tài liệu có lẽ muốn nói lên sự kề cận, thiết thân của nỗi khổ của người đồng loại mà không ai có thể tránh né được. Dù cho con người khốn khổ ấy có ở cách xa tôi đến nửa vòng trái đất và tôi sẽ chẳng bao giờ mường tượng được khuôn mặt ấy như thế nào, người đó vẫn là tha nhân, là người “lân cận”, là người “láng giềng” (neighbour) của tôi. Tôi không thể thực sự hưởng hạnh phúc riêng tư của mình mà có thể nhắm mắt làm ngơ hay sống như thể không có những người khốn khổ trên mặt đất này. Xét cho cùng, hạnh phúc của tôi luôn có tính tương đối, theo nghĩa nó tùy thuộc vào ý thức của tôi về sự hiện hữu và nhứt là nỗi khổ của người khác. Đây là điều mà tôi cảm nhận được khi nghe lại bài dụ ngôn về “Lazarô và người phú hộ” hay người hành khất “trước cng nhà tôi”.
Tôi luôn tin có sự thưởng phạt về hành vi, thái độ sống của con người, nhứt là trong tương quan với tha nhân. Có thiên đàng  hay hỏa ngục, có niết bàn hay trầm luân sau cuộc sống tại thế này, điều đó còn tùy niềm tin tôn giáo của mỗi người. Nhưng bên kia niềm tin tôn giáo ấy, tôi vẫn luôn tin và cảm nhận rằng sự thưởng phạt diễn ra ngay trong cuộc sống này. Ngạn ngữ Anh nói: “Trao tặng tự nó đã là phần thưởng” (giving is its own reward). Khi tôi trao tặng cũng là lúc tôi nhận lãnh. Và thường phần thưởng tôi nhận được lúc nào cũng nhiều gp bội phần điều tôi trao tặng. Tiền bạc tự nó không thể mua hạnh phúc và nhứt là sự an bình cho tâm hồn tôi. Nhưng chắc chắn, đáp lại một chút đỉnh tôi trao tặng với tất cả tấm lòng trân trọng và vô vị lợi của tôi, tôi nhận được niềm hạnh phúc mà tiền bạc không bao giờ mua được. Hạnh phúc của tôi tùy ở sự trao tặng của tôi. Tôi có an bình nội tâm hay không tùy ở tấm lòng quảng đại của tôi. Thiên đàng mở ra cho tôi ngay khi tôi biết mở rộng tâm hồn và đôi bàn tay để trao tặng. Ngược lại, tôi cũng sẽ bị trầm luân trong dày vò và ray rứt ngay khi tôi nhắm mắt làm ngơ trước người khốn khổ đang ở “trước cng nhà tôi”.
Tôi vẫn luôn xác tín về câu nói của ai đó: “Chẳng có ai giàu có đến độ không cần sự giúp đỡ của người khác và cũng chẳng có ai nghèo đến độ không có gì để trao tặng cho người khác.” Đức Phật cũng đã từng dạy như thế. Chuyện kể rằng một hôm có một người nghèo đến hỏi Đức Phật: “Tại sao con phải nghèo như thế này?” Đức Phật nói: “Vì con chưa học được cách bố thí cho người khác”. Người ấy thắc mắc: “Con không có thứ gì cả, thì lấy gì con bố thí”. Đức Phật liền dạy: “Cho dù con hoàn toàn không có gì, con cũng vẫn có thể bố thí 7 điều này: 1. Nhan thí: bố thí nụ cười. 2. Ngôn thí: bố thí ái ngữ, nói lời hay. 3. Tâm thí: bố thí tâm hòa ái, lòng biết ơn. 4. Nhãn thí: bố thí ánh mắt nhìn thẳng hiền từ. 5. Thân thí: bố thí hành động nhân ái. 6. Tọa thí: bố thí nhường chỗ cho người cần. 7. Phòng chí: bố thí lòng bao dung.”
“Nghèo nàn”, dù là vật chất hay tinh thần, cũng có thể là một quà tặng cho người khác. Tôi nghĩ đến người đàn ông Á châu thường đứng chỉ đường vào mỗi trưa Chúa nhựt tại ngã tư Arthur St và Centenary Drive gần nghĩa địa Lidcombe. Tôi tin chắc ông là một người mắc bệnh tâm thần. Cứ mỗi trưa Chúa nhựt, khi dừng lại chờ đèn ở ngã tư này, tôi đều thấy ông đeo một tấm bảng có nụ cười toe trước ngực, đứng ở một góc đường và làm những động tác của một người cảnh sát công lộ để hướng dẫn giao thông. Cứ mỗi lần nhìn thấy người đàn ông “tự nguyện” làm cảnh sát công lộ này, tôi nghĩ đến niềm vui và sự an bình mà ông đang có. Dường như ông muốn san sẻ niềm hạnh phúc ấy cho người qua lại và đồng thời cũng nhắc nhở họ phải cẩn thận khi lái xe. Không biết tại sao tôi luôn nghĩ về người đàn ông này với tất cả sự tôn trọng và lòng biết ơn. Lâu rồi, có lẽ cũng hơn nửa năm, tôi không còn gặp lại ông. Ông bị tai nạn rồi chăng hay không chừng đã bị đưa vào một nhà dưỡng lão cũng có. Nhưng hình ảnh của người đàn ông đứng chỉ đường ở ngã tư này vẫn còn ngự trị trong tâm trí tôi. Ông đúng là một người đang ở “trước cng nhà tôi”. Ông mang lại cho tôi quà tặng của niềm vui và sự an bình, nhưng ông cũng không ngừng “tra vấn” tôi.
Tôi chợt nghĩ: bất cứ con người khốn khổ nào ở “trước cng nhà tôi” cũng đều là một quà tặng quý giá cho tôi, bởi vì họ hiện diện như một lời nhắc nhở cho tôi rằng chỉ có sự trao tặng mới mang lại cho tôi niềm hạnh phúc và an bình đích thực mà thôi.





Thứ Hai, 1 tháng 5, 2017

Trung Cộng: đầu thai và chỉ định cư trú


28/04/17
Các cơ quan truyền thông thế giới đã chú ý nhiều đến chuyến viếng thăm của Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Quận Tawang,Ttiểu bang Arunachal Pradesh, Ấn Độ từ ngày 7 đến 11 tháng Tư vừa qua. Arunachal Pradesh là một trong 29 tiểu bang của Ấn Độ. Tiểu bang này giáp giới với Bhutan ở phía Tây, Miến Điện ở phía Đông và nhất là Tây Tạng ở phía Bắc. Chính vì giáp giới với Tây Tạng mà tiểu bang này,  đã từng có nhiều tranh chấp về lãnh thổ với Trung Cộng. Trung Cộng vẫn ngang nhiên cho rằng Quận Tawang thuộc về lãnh thổ của họ.
Nhân chuyến viếng thăm của Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Tawang , một trong những vấn đề được bàn tán nhiều nhất là việc nhà lãnh đạo tinh thần của Phật Giáo Tây Tạng có quyết định đầu thai không và  đầu thai ở đâu.
Trung Cộng đã tỏ rõ lập trường về vấn đề này. Quốc gia Cộng sản khổng lồ này không những chống lại chuyến viếng thăm của Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Tawang, mà còn nêu lên vấn đề về việc đầu thai của Ngài. Lập trường dứt khoát của Trung Cộng là: việc đầu thai của Đức Đạt Lai Lạt Ma phải được họ phê chuẩn. Theo những người lúc nào cũng ra rả tuyên bố theo chủ nghĩa vô thần, việc  đầu thai của nhà lãnh đạo tôn giáo Tây Tạng không những chỉ diễn ra theo “những qui định lịch sử” mà còn phải phù hợp với “luật pháp Trung Cộng”. “Luật pháp” mà Trung Cộng nói đến là Luật Tôn Giáo được họ ban hành hồi năm 2007. Luật này qui định các thủ tục để chọn các nhà sư đầu thai. Theo luật này, người Tây Tạng sống lưu vong hay bất cứ tổ chức hải ngoại nào khác không được phép xen vào việc tuyển chọn vị Đạt Lai Lạt Ma.
Để củng cố cho lập trường này, Trung Cộng lúc nào cũng trưng dẫn thủ tục đã được Nhà Thanh qui định hồi cuối Thế kỷ 18. Theo thủ tục này, tên tuổi của các ứng viên phải được cho vào một cái hũ và kết quả của việc bốc thăm sẽ quyết định ai mới thực sự là người mà vị ban thiền Lạt Ma muốn đầu thai vào. Do đó, theo Trung Cộng, bất cứ phương pháp tuyển chọn nào được Đức Đạt Lai Lạt Ma đưa ra cũng đều đi ngược lại với thủ tục đã được quy định và như vậy bị xem là bất hợp pháp, bởi vì Ngài đã chối bỏ quyền bính của Chính phủ Trung Cộng trong việc tuyển chọn người kế vị.
Không riêng người Tây Tạng đang sống dưới ách cai trị của Trung Cộng hay lưu vong, mà các viên chức chính quyền địa phương tại Quận Tawang Ấn Độ cũng đều mong muốn rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ đầu thai tại địa phương của họ. Giáo sư Robert Barnett, thuộc trường Đại học Columbia, Hoa Kỳ cũng nhìn thấy ý nghĩa quan trọng của chuyến viếng thăm của Đức Đại Lai Lạt Ma tại Tawang. Theo Giáo sư Barnett, với chuyến viếng thăm này, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng muốn đi lại con đường của các vị tiền nhiệm của ngài là viếng thăm “những nơi mà các vị muốn đầu thai thành thơ nhi”. Giáo sư Barnett cho rằng với chuyến viếng thăm này, Đức Đạt Lai Lạt Ma muốn nói thẳng với Trung Cộng rằng họ hoàn toàn không có quyền gì trên tiến trình đầu thai của Ngài.
Ông Jayadeva Ranade, người đã từng làm việc trong nội các chính phủ Ấn Độ và hiện đang đứng đầu Trung tâm Phân tích và Chiến lược về Trung Cộng, cũng nhận thấy rằng với chuyến viếng thăm Tawang, nhà lãnh đạo tinh thần Tây Tạng muốn “nhắn gởi một tín hiệu về việc đầu thai” của Ngài. Nhận định về vấn đề này, báo The Wall Street Journal cũng cho rằng “khi báo trước cái chết của Ngài, Đức Đạt Lai Lạt Ma muốn gởi đi một tín hiệu rằng, theo truyền thống Tây Tạng, Ngài muốn được tái sinh ở Tawang”.
Trong một cuộc họp báo tại Tawang ngày 8 tháng Tư vừa qua, tức một ngày sau khi đến đây, Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng có đề cập đến vấn đề đầu thai. Tuy nhiên, Ngài không trả lời dứt khoát là liệu Ngài có đầu thai không và sẽ đầu thai ở đâu. Đây cũng là thái độ mà Ngài đã bày tỏ trong một cuộc phỏng vấn tại Đức hồi năm 2014. Trả lời cho câu hỏi liệu Ngài có đầu thai không, Ngài nói rằng điều đó tùy thuộc ở ý muốn của người dân Tây Tạng. “Nếu dân chúng cảm thấy không cần thiết nữa thì tập tục này có thể chấm dứt”. Tuy nhiên, hiện nay không những người Tây Tạng, mà nhiều người Mông Cổ và đông đảo dân chúng tại Tiểu bang Arunachal  cũng rất trân quý tập tục này. Dó đó, chuyện đầu thai của Đức Đạt Lai Lạt Ma là điều có thể xảy ra.
Tuy Ngài không nói dứt khoát có đầu thai không và sẽ đầu thai ở đâu, nhưng người kế vị Ngài trong cương vị lãnh đạo chính trị là ông Sikyong Lobsang Sangay nói rằng vị Ban thiền Lạt Ma kế tiếp sẽ là một người Monpa. Monpa là sắc dân chính của Quận Tawang, nơi Đức Đạt Lai Lạt Ma mới viếng thăm. Theo ông Sangay, Đức Đạt Lai Lạt Ma nên chọn một thanh niên từ 15 đến 20 tuổi, có mang trong mình dòng máu Monpa. Sở dĩ ông Lobsang đưa ra đề nghị này là vì tầm quan trọng của Tiểu bang Arunachal Pradesh trong cuộc tranh chấp hiện nay giữa Ấn Độ và Trung Cộng. Theo nhà lãnh đạo chính trị Tây Tạng này, người thanh niên này không nhất thiết phải là một vị ban thiền đầu thai, mà là “hiện thân” (emanation) của Ngài. Người kế vị này có thể là một đệ tử hoặc một thanh niên được nhìn nhận là hiện thân của Đức Đạt Lai Lạt Ma.
Đưa ra đề nghị trên đây, ông Sangay muốn nhấn mạnh đến tương quan giữa vấn đề tranh chấp lãnh thổ Ấn-Trung và việc đầu thai của Đức Đạt Lai Lạt Ma.
Cuộc tranh chấp lãnh thổ giữa Ấn Độ và Trung Cộng bắt nguồn từ Thỏa hiệp Simla được ký kết giữa Tây Tạng và Chính quyền thực dân Anh tại Ấn Độ hồi năm 1914. Với thỏa hiệp này, một lằn ranh có tên là McMahon Line đã được kẻ ra giữa Ấn Độ và Tây Tạng. Với lằn ranh này, dĩ nhiên Chính quyền Anh tại Ấn Độ cũng nhìn nhận chủ quyền của Tây Tạng. Dĩ nhiên, Trung Cộng cho rằng thực dân Anh không có tính chính danh và thực quyền tại Ấn Độ, do đó thỏa hiệp không có giá trị. Sở dĩ Trung Cộng bác bỏ thỏa hiệp là bởi vì nhìn nhận thỏa hiệp có nghĩa là nhìn nhận chủ quyền của Tây Tạng và như vậy không thể xem Tây Tạng như “một phần bất khả xâm phạm của Trung Cộng”. Ngoài ra, nhìn nhận thỏa hiệp cũng đồng thời có nghĩa là nhìn nhận rằng việc đem quân sang gọi là “giải phóng” Tây Tạng hồi năm 1950 chỉ là một hành động “cướp  đất” của một quốc gia khác. Như vậy, khi đòi chủ quyền trên Quận Tawang, Trung Cộng cũng muốn thể hiện chủ quyền của họ đối với Tây Tạng.
Cho đến năm 2008, chính quyền Anh vẫn giữ lập trường là Trung Cộng có quyền bảo hộ đối với Tây Tạng, chứ không có chủ quyền đối với nước này. Cho tới thời điểm đó, Anh Quốc là nước duy nhất còn giữ lập trường này. Tuy nhiên ngày 29 tháng 10 năm 2008, Anh Quốc đã duyệt xét lại lập trường này và nhìn nhận rằng Trung Cộng có toàn chủ quyền trên Tây Tạng. Nhiều người cho rằng sở dĩ Anh Quốc thay đổi lập trường là để Trung Cộng đóng góp nhiều hơn vào Quỹ Tiền Tệ Thế Giới. Số phận của Tây Tạng cũng giống như Đài Loan: chủ quyền của một quốc gia bị mang ra đổi chác giữa các cường quốc!
Nhìn từ phía Ấn Độ, dĩ nhiên quốc gia có đông dân số thứ nhì thế giới này rất hài lòng với việc Đức Đạt Lai Lạt Ma nhìn nhận thỏa hiệp Simla và lằn ranh McMahon. Trung Cộng đã tự chọn Ban Thiền Lạt Ma thứ 15. Vị Lạt Ma này đương nhiên không nhìn nhận thỏa hiệp nói trên. Trung Cộng vẫn luôn tạo áp lực để Đức Đạt Lai Lạt Ma tuyên bố rằng Tây Tạng là một phần của lãnh thổ Trung Cộng. Nếu Đức Đạt Lai Lạt Ma công nhận điều này thì lằn ranh McMahon được vẽ lên hồi năm 1914 rất mong manh và đương nhiên Ấn Độ sẽ ở vào thế yếu trong cuộc đàm phán về biên giới với Trung Cộng.
Về phía Tây Tạng, tuy không công khai tuyên bố, nhưng đến thăm Tawang và xem đây như một phần lãnh thổ của Ấn Độ, Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng gián tiếp tuyên bố chủ quyền của Tây Tạng. Thế giới không ngạc nhiên khi nhìn thấy Trung Cộng lồng lộn lên vì chuyến viếng thăm này.
Chính quyền Trung ương Ấn Độ không tỏ rõ lập trường về vấn đề này. Tuy nhiên, Thống đốc Tiểu bang Arunachal Pradesh, ông Pema Khandu đã có thái độ dứt khoát. Tháp tùng Đức Đạt Lai Lạt Ma trong chuyến viếng thăm Quận Tawang, Thống đốc Khandu tuyên bố rằng Trung Cộng không có bất cứ quyền gì để đe dọa Ấn Độ khi Ngài đi lại bên trong phần đất nằm giữa biên giới Ấn Độ và Tây Tạng, chứ không phải Ấn Độ và Trung Cộng. Là người thuộc Đảng Ấn giáo  Bharatiya Janata, chính ông Khandu là người đã đứng ra mời Đức Đạt Lai Lạt Ma viếng thăm Tawang.
Trung Cộng đã lên tiếng cảnh cáo Ấn Độ vì để cho Đức Đạt Lai Lạt Ma được viếng thăm Tiểu bang Arunachal Pradesh mà họ cho rằng một phần thuộc về Tây Tạng và như vậy cũng thuộc về họ.
Với Thống đốc Khandu, “láng giềng gần nhất” của Tiểu bang Arunachal Pradesh không phải là Trung Cộng mà là Tây Tạng. Lằn ranh McMahon chia ranh giới không phải giữa Ấn Độ và Trung Cộng, mà là giữa Ấn Độ và Tây Tạng.
Dĩ nhiên, đây chỉ là lập trường của một thống đốc tiểu bang chứ không phải của Chính phủ trung ương Ấn Độ. Trong cuộc tranh chấp lãnh thổ, Ấn Độ vẫn không muốn vượt qua “lằn ranh đỏ” (red line) do Trung Cộng vẽ ra. Chính vì thế mà mặc dù ủng hộ việc Đức Đạt Lai Lạt Ma đến viếng thăm Tawang, ông Kiren Rijiju, Bộ trưởng Nội vụ của tiểu bang, đã thân hành tháp tùng ngài đến biên giới Quận Tawang, nhưng lại không đi vào đó. Hành xử của ông Rijiju nói lên sự dè dặt của Ấn Độ trong cuộc tranh chấp lãnh thổ với Trung Cộng.
Như thế, việc đầu thai của Đức Đạt Lai Lạt Ma cần phải được nhìn trong bối cảnh rộng rãi của cuộc tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Cộng và Ấn Độ cũng như vấn đề chủ quyền của Tây Tạng. Dù chẳng tin có thần thánh hay cuộc sống mai hậu, nhưng nếu cần thì những người cộng sản Trung Hoa cũng vẫn có thể chắp tay cúi đầu niệm Phật và tuyên xưng niềm tin vào sự đầu thai theo giáo lý Phật Giáo. Và nếu có đầu thai và đầu thai theo lệnh của Đảng Cộng sản thì đương nhiên phải chấp nhận chủ trương “chỉ định cư trú” của người cộng sản, nghĩa là phải đầu thai làm một người Trung Hoa ở Trung Cộng mới được!
Thật ra, dù cho Trung Cộng có muốn lèo lái việc đầu thai của Đức Đạt Lai Lạt Ma đến đâu, quyết định có nên đầu thai không và đầu thai ở đâu là chuyện của ngài. Ngài đã có lần tuyên bố rằng thà không có một vị ban thiền kế vị ngài hơn là một vị ban thiền “ngu xuẩn”. Có lẽ ngài muốn ám chỉ đến một vị ban thiền “con rối” nằm trong tay điều khiển của Trung Cộng. Ở đây, người ta thấy rằng dù có quyền lực cỡ nào đi nữa, Trung Cộng cũng không thể làm chủ được tôn giáo, trừ phi họ muốn tạo ra một tôn giáo riêng cho mình.


(nguồn:http://thediplomat.com/2017/04/the-politics-of-reincarnation-india-china-and-tibet/)