Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2017

Sự thật là gì?



Chu Thập
10.02.17
Cuộc điện đàm giữa thủ tướng Úc Malcolm Turnbull và tổng thống Mỹ Donald Trump liên quan đến số phận của những người tầm trú tại đảo Manus và Nauru đã trở thành đề tài thời sự nóng bỏng trong những ngày vừa qua. Nội dung cuộc nói chuyện kéo dài 25 phút đồng hồ giữa hai vị nguyên thủ đã bị “rò rỉ” và được báo The Washington  Post cho đăng tải. Theo tờ báo này, tân tổng thống Mỹ đã có thái độ thiếu ngoại giao, bất lịch sự,  lại còn lên giọng kẻ cả và hằn học đối với nguyên thủ của một nước khác. Báo này viết rằng Tổng thống Trump không những gọi thỏa thuận về người tầm trú đạt được giữa Tổng thống Barack Obama và Thủ tướng Turnbull là một cuộc “ngả giá” ngu xuẩn nhứt, ông còn bảo rằng cuộc điện đàm giữa ông và thủ tướng Úc cũng là cuộc nói chuyện tệ hại nhứt. Ngoài ra, không biết có đúng không, cũng theo báo này, ông tổng thống vốn có thói quen chẳng xem ai ra gì còn “cúp” điện thoại ngay giữa cuộc nói chuyện. Trong chương trình “Saturday Night Live” của Đài NBC bên Mỹ hôm tối thứ Bảy 4 tháng 2  vừa qua , một lần nữa, tài tử gạo cội đã từng được đề cử giải Oscar Alec Baldwin lại đem chuyện này ra chế diễu. Trong vai Tổng thống Trump, tài tử này đã  mang lại cho khán thính giả một trận cười hả hê khi diễn lại thái độ và giọng điệu rất quen thuộc của ông tổng thống mà cả thế giới đều lo sợ vì tính khí bất thường và hành động khó đoán trước này.
Tại Úc Đại Lợi, dĩ nhiên câu chuyện lại còn nóng bỏng hơn. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho ký giả lão thành Laurie Oaks của Đài số 9 tối Chúa nhựt 5 tháng 2 vừa qua , giải thích về những đồn đãi cho rằng ông đã bị Tổng thống Trump cho “leo cây” và làm nhục trong cuộc điện đàm, Thủ tướng Turnbull đã khẳng định rằng ông đã tỏ ra hoàn toàn khẳng khái trong cuộc nói chuyện với tổng thống Mỹ.
Ngoài ra, trước đó, không rõ có phải bị thúc ép không, Thủ tướng Turnbull đã lên tiếng ca ngợi ông Trump như một con người có “một nhân cách rất lớn” (a very big personality) và  cuộc trao đổi giữa ông và Tổng thống Trump đã diễn ra trong bầu khí “thân tình” (cordial). Nghe được lời này, Tổng thống Trump hả dạ đến độ liền lên mạng Twitter để cám ơn rối rít Thủ tướng Úc vì đã “nói lên sự thật”. Đây là nguyên văn lời cám ơn của ông Trump: “Cám ơn Thủ tướng Úc Đại Lợi vì đã nói lên sự thật về cuộc nói chuyện rất lịch sự giữa chúng ta, vốn đã bị giới truyền thông chuyên đưa tin vịt xuyên tạc. Thật là tốt đẹp!” (Thank you to Prime Minister of Australia for telling the truth about our very civil conversation that FAKE NEWS media lied about. Very nice!)
Lời cám ơn của Tổng thống Trump dành cho Thủ tướng Turnbull khiến tôi bối rối. Có thật sự cuộc điện đàm giữa hai ông đã diễn ra một cách “thân tình” không? Riêng ông Trump hiểu như thế nào về “sự thật” khi ông bảo Thủ tướng Turnbull đã “nói lên sự thật”? Có “sự thật khách quan” không hay “sự thật” chỉ có khi nó có ích lợi cho ông?
Sở dĩ tôi cảm thấy bối rối là bởi vì trong suốt cuộc vận động bầu cử, ứng cử viên Trump đã trơ trẽn đến độ có thể phịa ra bất cứ  chuyện gì. Từ chuyện ông bịa ra rằng Tổng thống Barack Obama không hề chào đời tại Hoa Kỳ và sau đó phủi tay để khẳng định rằng chính bà Hillary Clinton là người đã dựng lên chuyện này cho đến chuyện hàng ngàn người Hồi giáo tại Tiểu bang New Jersey nhảy múa ăn mừng vì cuộc khủng bố 11/9/2001 hoặc chuyện thân phụ của Thượng nghị sĩ Ted Cruz có nhúng tay vào việc ám sát Tổng tống JF Kennedy...chuyện gì ông cũng phịa ra được và phịa mà chẳng bao giờ thấy ngượng!
Rồi mới đây, vẫn chứng nào tật ấy, mặc dù đã lên cầm quyền, Tổng thống Trump lại khẳng định rằng trong cuộc bầu cử vừa qua, sở dĩ ông thua bà Clinton đến 3 triệu phiếu phổ thông là bởi vì có đến 3 triệu lá phiếu bất hợp lệ dồn cho bà. Dĩ nhiên, cũng như trong suốt cuộc vận động bầu cử, khi được hỏi dựa trên bằng chứng nào để khẳng định điều này, ông lại nói quanh co. Nhưng điều khiến tôi lo sợ hơn cả khi theo dõi những lời tuyên bố của ông sau khi tuyên thệ nhậm chức, đó là việc ông “nổ” về số người tham dự lễ nhậm chức của ông. Không rõ đứng nhìn từ góc cạnh nào, ông nói rằng số người có mặt ở Công trường National Mall hôm 20 tháng Giêng vừa qua lên đến cả triệu hay triệu rưỡi. Người của ông là ông Sean Spicer, phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc, còn “nổ bạo” hơn khi bảo rằng số người tham dự lễ nhậm chức của Tổng thống Trump “đông chưa từng thấy trong lịch sử nước Mỹ”. Mà thôi, nhìn thấy một đám đông nhiều hay ít có khi còn  tùy thuộc ở vị trí của từng người. Đàng này, cả ông Spicer lẫn Tổng thống Trump đều muốn ăn thua đủ với giới truyền thông của Mỹ lẫn cả thế giới để khoe mẽ rằng số người tham dự lễ nhậm chức hôm 20 tháng Giêng vừa qua đông hơn nhiều so với số người có mặt trong Công trường National Mall trong ngày tuyên thệ của Tổng thống Barack Obama hồi tháng Giêng năm 2009. So sánh hai bức không ảnh chụp trong hai cuộc nhậm chức, chỉ có người đui hoặc mù mầu (color blind) may ra mới không thấy sự khác biệt về đám đông trong hai lần nhậm chức. Một bên là đám đông đen nghịt đứng chật trong công trường trong lễ nhậm chức của Tổng thống Obama, một bên là khoảng trống trắng xóa không thể chối cãi được trong ngày tuyên thệ của ông Trump. Vậy mà Tổng thống Trump và phe của ông vẫn chưa chịu thua và chấp nhận sự thật. Bà Kellyanne Conway, cố vấn của ông Trump, đã nhào vào ăn có và tặng cho giới truyền thông một từ mới là “những sự kiện khác” (alternative facts). Không hiểu vị nữ cố vấn này muốn nói gì khi, để bảo vệ lập trường cho rằng số người tham dự lễ nhậm chức của Tổng thống Trump đông hơn số người dự lễ nhậm chức của Tổng thống Obama, bà lại trưng ra “những sự kiện khác”. Khác như thế nào thì chẳng ai biết và cũng chẳng thấy bằng chứng nào cả.
Cho tới nay, tôi chẳng nghe nói có phản ứng nào của Tổng thống Obama hay của phe Dân Chủ. Có lẽ Tổng thống Obama và phe Dân Chủ cho rằng đây là chuyên nhỏ, hơi sức đâu mà ăn thua đủ với nhau. Nhưng với tôi thì đây không phải là chuyện nhỏ. Bởi lẽ Tổng thống Trump và phe của ông không nhắm vào cá nhân Tổng thống Obama hay phe Dân Chủ, mà chỉ muốn tuyên chiến  với giới truyền thông mà ông gọi là những người bất lương nhứt trên hành tinh (the most dishonest people). Cứ có bất cứ một tin nào được truyền thông loan tải mà bất lợi cho ông thì đó là “tin giả” (fake news). Trong bài diễn văn nhậm chức, ông đã tấn công tất cả các vị tổng thống tiền nhiệm của ông. Người đến sau chê người đi trước là chuyện thường. Tôi không ngạc nhiên về điếu đó, nhứt là với một người như ông Trump, người lúc nào cũng rêu rao về vị trí số một của mình. Điều khiến  lo sợ là bởi vì ông hiện đang muốn phủ nhận và tiêu diệt một trong những sức mạnh nền tảng và thiết yếu cho việc xây dựng và bảo toàn một xã hội dân chủ là tự do báo chí. Sức mạnh và sự vĩ đại của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ từ thời lập quốc đến nay được thể hiện qua tự do báo chí.
Tôi hiện đang cảm nhận được sức mạnh ấy trong xã hội Úc. Một số cơ quan truyền thông của Úc như Đài ABC hay Đài SBS, mặc dù được chính phủ tài trợ, nhưng lại không phải là cơ quan ngôn luận hay là cái loa tuyên truyền của chính phủ Úc. Những cơ quan truyền thông này hoàn toàn có tự do báo chí để nếu cần, sẵn sàng  lên tiếng phê bình và chỉ trích đường lối hay các chính sách của chính phủ Úc. Chính nhờ thông tin và sự hướng dẫn của những cơ quan truyền thông như thế mà người dân như tôi mới có thể hiểu được các chính sách của chính phủ và nhờ vậy mới sử dụng lá phiếu của mình một cách có trách nhiệm và đóng góp hữu hiệu vào việc xây dựng đất nước.
Tôi hãnh diện được làm công dân của một quốc gia tự do và dân chủ nhờ có tự do báo chí được thực thi qua các cơ quan truyền thông độc lập. Ở tuổi già, mỗi sáng thức dậy, việc đầu tiên trong ngày của tôi lúc nào cũng là ngồi vào bàn máy vi tính, lên mạng lưới thông tin toàn cầu và theo dõi tin tức của Úc Đại Lợi cũng như khắp thế giới. Tôi xem việc theo dõi tin tức hàng ngày như trách nhiệm của một người công dân. Đó cũng là một thú vui không thể thiếu được trong cuộc sống. Ngoài ra, nguồn thông tin toàn cầu như được các cơ quan truyền thông tự do mang lại không những giúp tôi mở mang kiến thức, rèn luyện óc phán đoán mà còn  gây ý thức nơi tôi về tình liên đới và sự cảm thông đối với người đồng loại. Mỗi ngày, các cơ quan truyền thông của thế giới tự do mang tôi đến bất cứ một nơi nào đang có những người đồng loại phải đau khổ vì chiến tranh, vì nghèo đói, vì bị bách hại hay bị đẩy ra bên lề xã hội.
Tôi không thể nào được “hiện diện” trên khắp thế giới và cảm thông với người đồng loại như thế nếu phải sống trong một chế độ bưng bít, thiếu tự do báo chí. Kinh nghiệm của những năm sống trong chế độ cộng sản đã cho tôi hiểu được những mất mát không thể tưởng tượng được của những người dân suốt ngày chỉ biết nghe “loa phường” và đọc báo đảng.
Tôi không biết người Mỹ và nhiều người trên thế giới có lo sợ như tôi không khi Tổng thống Trump muốn bịt miệng hoặc ngay cả tiêu diệt tự do báo chí. Kể từ khi Tổng thống Trump tuyên chiến với báo chí và nhứt là kể từ khi nữ cố vấn Kellyanne Conway của ông đưa ra khái niệm “những sự kiện khác” (alternative facts), thì cuốn tiểu thuyết có tựa đề “1984” của nhà văn George Orwell được dân Mỹ tìm đọc nhiều hơn cả. Theo báo The Telegraph của Anh, tác phẩm được xuất bản hồi năm 1949 này hiện đang nằm trong danh sách 5 cuốn sách bán chạy nhứt trên mạng Amazon.com. Sở dĩ có một hiện tượng như thế là bởi vì tác phẩm này mô tả một cách chính xác bộ mặt của các chế độ toàn trị, đặc biệt là toàn trị cộng sản trong đó có “Cảnh sát Tư tưởng” (Thought Police) để kiểm soát tư tưởng của người dân và nhứt là có cả một “Bộ Sự Thật” (Ministry of Truth) để không những tuyên truyền cho chế độ mà còn định nghĩa thế nào là “sự thật” buộc người dân phải tin nhận. Liệu Tổng thống Trump, khi tuyên chiến với báo chí, có nghĩ đến chuyện thiết lập một “Bộ Sự Thật” như được mô tả trong cuốn sách “1984” của tác giả George Orwell không? Tôi không tin rằng trong đất nước của “Nữ Thần Tự Do”, một ý đồ như thế sẽ trở thành hiện thực. Điều khiến tôi cảm thấy bối rối và lo ngại là vị tổng thống này xem ra muốn áp đặt một ý niệm mới về “sự thật”. Với ông, “sự thật” phải là “sự thật định hướng” và có lợi cho ông. Còn tất cả những gì không có lợi hoặc chống lại ông đều là “tin vịt” (fake news!). Cứ đọc các “thông điệp” được ông đưa lên mạng Twitter vào lúc 4 giờ sáng mỗi ngày sẽ thấy rõ điều đó!
Tôi liên tưởng đến đến phiên tòa xử Chúa Giêsu trong dinh Tổng trấn Philatô. Khi Chúa Giêsu nói: “Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”, Tổng trấn Philatô liền hỏi: “Sự thật là gì?” Và Chúa Giêsu đã không trả lời. Với sự thinh lặng ấy,  có lẽ Chúa Giêsu muốn nói rằng  với những kẻ chối bỏ sự thật thì có giải thích bao nhiêu cũng vô ích. Ông tổng trấn này biết quá rõ rằng chỉ vì ghen tức mà người Do Thái đã trao nộp Ngài cho ông. “Sự thật” rõ ràng là Ngài hoàn toàn vô tội. Biết rõ như thế nhưng ông vẫn không có đủ can đảm để trả tự do cho Chúa Giêsu. Vì hèn nhát, Tổng trấn Philatô không dám nhìn thẳng vào sự thật, nói lên sự thật và nhứt là hành xử dựa trên sự thật.
Kinh nghiệm ở đời thường dạy tôi rằng vì hèn nhát, vì danh vọng, quyền lực, tiền của hay vì bị xích xiềng của dục vọng  trói buộc, con người dễ trở nên mù quáng để không nhận ra sự thật, chối bỏ sự thật và ngay cả chỉ chấp nhận sự thật khi điều đó có lợi cho mình.





Thứ Tư, 15 tháng 2, 2017

Treo đầu dê bán thịt chó



Chu Thập

Không hiểu tại sao trong người tôi chẳng có chút máu Tây nào cả mà tôi lại thèm bánh mì hơn phở. Dĩ nhiên, phải là bánh mì do người Việt làm mới được. Cứ mỗi lần xuống núi về thành phố, tôi phải tìm mua cho bằng được bánh mì thịt, ổ thì ăn tại chỗ, ổ nữa mang về nhà. Ở Hornsby, ngoại ô Đông Bắc Sydney, có một tiệm phở với cái tên nghe rất tự tin là “Phở Ngon”. Ngon cỡ nào thì còn tùy khẩu vị và sự thẩm định của mỗi thực khách. Nhưng riêng cá nhân tôi, sau khi thử một hai lần, thấy không hợp khẩu vị, tôi đành quay trở về với chân lý “cơm nhà vẫn hơn phở chợ”. Cho nên cứ mỗi lần vào tiệm “phở ngon” này tôi không ăn phở mà lại gọi bánh mì thịt trước sự ngỡ ngàng của những người chạy bàn.
Phải công nhận bánh mì tây do người Việt chế biến có một hương vị độc đáo hơn bánh mì chính cống do Tây làm. Người Việt cũng giỏi “khắc phục” khó khăn nên ngay cả khi đến thăm trại tỵ nạn Palawan, Phi Luật Tân, tôi cũng được thưởng thức bánh mì nóng dòn nướng bằng những lò tự chế. Thời gian ở Pháp, tôi cũng đã nghe chính miệng mấy ông tây bà đầm từng sống ở Việt Nam bảo như thế. Bánh mì tây chính cống mà không có cả một khay “phó mát” (fromage) và rượu vang đỏ đi kèm sau mỗi bữa ăn, thì chắc chắn thua xa bánh mì nóng của Việt Nam chỉ được trét một chút “bơ” margarine, chớ đừng nói tới ổ bánh mì thịt.
Lúc mới lớn, tôi có một thằng bạn cùng xóm cũng thích ăn bánh mì như tôi. Không rõ do kinh nghiệm bản thân hay do ai đó mách bảo, nó tuyên bố như đinh đóng cột rằng “mỗi buổi tối ăn một ổ bánh mì nóng có trét bơ” sẽ mau lớn và “to con”. Vào cái thời mà cuốn sách “Bắp thịt Trước Đã” có in hình của lực sĩ đẹp Nguyễn Công Áng ngoài bìa do Bác sĩ Phạm Văn Tươi biên soạn đang thu hút thanh thiếu niên, tôi không đeo đuổi giấc mơ “làm người Quang Trung” của nhà văn Duyên Anh, mà chỉ thích có một thân hình vạm vỡ nở nang, ít nhứt cũng phải như anh Vọi trong “Trống Mái” của Khái Hưng. Thế là mỗi buổi chiều, nếu không ra sân banh thì chúng tôi cũng tập cử tạ và tối đến rủ nhau đi mua bánh mì nóng có trét bơ margarine. Hôm nào túi tiền rủng rỉnh mới dám chơi sang để trang bị cho ổ bánh mì nóng thêm chút xíu mại và đủ các thứ phụ tùng. Có lẽ do lớn lên và “to con” hơn một chút nhờ những ổ bánh mì của thuở hàn vi mà ngày nay, đi đâu tôi cũng thấy thèm bánh mì tây của người Việt Nam. Vì khẩu vị cũng có, mà vì tình tự dân tộc cũng có. Với tôi, ổ bánh mì nóng của người Việt Nam hải ngoại ăn đứt bánh mì của các sắc dân khác. Còn bánh mì thịt thì đúng là một phát minh riêng của người Việt Nam.
Có lần đi thăm một gia đình quen biết tại Mascot gần phi trường Sydney, tôi cảm thấy thật hãnh diện khi chứng kiến một đoàn người, phần lớn là dân Úc trắng, dài đến cả hàng trăm thước đang nối đuôi nhau trước một tiệm bánh mì thịt của Việt Nam. Sang Mỹ, tôi lại càng thấy hãnh diện hơn vì ổ bánh mì của người Việt. Có lẽ những thương hiệu như “Lee’s Sandwich” hay “Bánh mì Ba Lẹ” không chỉ nổi tiếng trong cộng đồng người Việt ở Mỹ, mà cũng chẳng còn xa lạ với người Mỹ. Ngồi trên xe đò Hoàng trên lộ trình San José - Little Saigon, xem các băng ca nhạc kịch của Thúy Nga Paris by Night hay Trung Tâm Asia và thưởng thức ổ bánh mì thịt của người Việt Nam, thì dù cho đường có dài cách mấy, cũng cảm thấy thú vị và ít lên ruột hơn đi máy bay.
Đã góp phần vào kho tàng ẩm thực của thế giới, người Việt hải ngoại cũng làm cho ngôn ngữ thế giới thêm phong phú hơn. Mà đâu chỉ có ngày nay. Ngay cả cái thời mấy chú lính Mỹ G.I mới sang Việt Nam, các “me mỹ” hay “chị em ta” cũng đã sáng chế và dạy cho mấy anh một số ngữ vựng hay thành ngữ mà ngày nay hầu như quốc gia Anh thoại nào cũng đều sử dụng. Chẳng hạn như câu “long time no see” (lâu rồi không gặp!), không biết dân Úc chính hiệu có biết rằng đây là một thành ngữ do người Việt Nam sáng chế ra không.
Nghe nói thời Pháp thuộc, người Việt không những sáng chế thêm nhiều từ cho tiếng Pháp, mà còn dạy mấy anh Tây nói cả tiếng lái nữa. Như một bà “me tây” nào đó đưa chồng đi sắm sửa. Hỏi giá một món hàng, thấy đắt quá, bà ghé tai nói nhỏ với ông chồng: “Très chaud” (nóng quá!). Ông chồng Tây hiểu ngay. Trời đang lạnh mà bà nói như thế tức là muốn nói lái: “trop cher” (đắt quá).
Nhưng độc đáo nhứt vẫn là danh hiệu “Hot Bread” được người Việt ở Úc dùng để “rửa tội” cho ổ bánh mì nóng của mình. Ngày nay, thương hiệu này đã đi vào hầu như mọi hang cùng ngõ hẻm của Úc Đại Lợi. Cứ thấy “Hot Bread” là biết ngay của người Việt. Nhưng dân Úc chính cống cứ nói tới “hot” (nóng) là nghĩ ngay đến gia vị và nhứt là sự “hưng phấn” về tình dục, chớ ai lại cho đó là hơi nóng bốc lên từ ổ bánh mì mới ra lò. Tôi nghe kể về một ông Việt Nam nào đó, không biết có phải là chủ tiệm “Hot Bread” không, một hôm có việc phải đến ngân hàng. Do bất đồng ngôn ngữ cho nên giữa anh và cô nhân viên ngân hàng phải to tiếng với nhau. Đến một lúc, để xoa dịu tình hình, anh mới xuống nước nói với cô: “You are so hot today!” (hôm nay cô nóng nảy quá!). Nhưng với lỗ tai của một người Úc, đặt trong ngữ cảnh này, “hot” chỉ có thể hiểu là “nóng về lửa tình” mà thôi. Nghe như vậy chắc chắn cô nhân viên ngân hàng phải đỏ mặt. Không biết cái ông Việt Nam vô tình “sàm sỡ” này có bị ăn một cái tát nào không.
Mỗi ngôn ngữ đều có cái “thần thái” riêng của nó. Do đó, như người ta thường nói “dịch là phản bội”. Nhưng ít nhứt trong trường hợp của “Hot Bread”, người Việt mình đã tỏ ra rất trung thực. Nóng thì bảo là nóng, chớ không có một ẩn ý nào khác. Có đâu như hai công ty bán lẻ lớn nhứt Úc Đại Lợi ngày nay là Coles và Woolworth.
Tôi mới đọc một bài viết có tựa đề “Fresh is what they say it is” (tạm dịch là “tươi theo ý họ muốn nói”) trên báo The Sydney Morning Herald số ra cuối tuần 6,7 tháng 7 vừa qua. Bài báo cũng đề cập đến chuyện bánh mì. Nhưng không phải bánh mì nóng của Việt Nam, mà là bánh mì “Panini” của Ý được bày bán trong các siêu thị Coles. Trên bao bì của bánh Panini, Coles quảng cáo “fresh, baked in store” (bánh nóng, nướng tại chỗ). Cũng như hàng triệu người Úc khác, một khách hàng đã mua bánh mang về nhà và khám phá ra rằng cái bánh mới ra lò này đang bị đông đá ở bên trong.
Ký giả Sarah Whyte, tác giả của bài báo, viết rằng “trong thế giới nhuộm mầu sặc sỡ của các siêu thị, chữ “fresh” (nóng, mới ra lò, tươi) không có ý nghĩa đơn giản của nó nữa”. Các sản phẩm được mô tả là sản xuất tại chỗ hay mới lấy từ trong lò ra, có khi đã phải băng qua cả 15 ngàn cây số trước khi được bày bán trên các kệ hàng.
Theo ước tính, mỗi tuần lễ có đến 32 triệu người đi mua sắm tại các siêu thị Coles và Woolworth. Cứ một Úc kim tiêu ra thì có đến 80 xu dùng để mua thức ăn. Và thức ăn nào, đặc biệt là trái cây và rau quả, cũng đều được dán thêm một lời mời gọi rất “đường mật” và “bắt mắt” là “nóng hổi, tươi”.
Ông Peter McDonald, một giảng sư về kinh doanh thuộc Đại học Sydney, nói rằng từ “fresh” (tươi) được dán trên các món hàng bị lạm dụng”.
Hãng truyền thông Fairfax Media đã phát giác rằng những đóa hoa được dán nhãn hiệu “xanh tươi vừa mới được cắt từ vườn ra” (freshly cut flowers) trong Coles và Woolworths, trong thực tế được nhập cảng từ Kenya và Columbia. Các loại cam quít được bày bán trong Coles với nhãn hiệu “được trồng tại Úc” thật ra lại được nhập cảng từ Pháp. Ngay cả bánh mì được ghi “nóng hổi mới ra lò” (freshly baked bread) cũng xuất phát từ Ái Nhĩ Lan, Đức và Đan Mạch.
Khi ông Martin Fisk, người mua bánh “Panini” còn đông lạnh bên trong biên thư yêu cầu Coles giải thích về ý nghĩa của chữ “Fresh” thì một nhân viên phục vụ khách hàng (customer service) của Coles mới email trả lời rằng từ “Fresh” được dùng theo nhiều nghĩa khi nói về bánh mì, hoa, trái cây và sữa. Nhân viên này giải thích rằng mặc dù có trải qua một số tiến trình, các sản phẩm này vẫn giữ nguyên phẩm chất nguyên thủy. Do đó, từ “fresh” cũng có thể được sử dụng để chỉ những sản phẩm đã từng được đông lạnh trước đó.
Nhưng Ủy ban cạnh tranh và bảo vệ người tiêu thụ (The Australian Competition and Consumer) đâu có đồng ý với cái lối định nghĩa “ba phải” trên đây của Coles về từ “fresh”. Trong 4 tuần lễ vừa qua, Ủy ban này đã tố cáo Coles cố tình đánh lừa khách hàng khi dán chữ “fresh” lên bánh mì đông lạnh. Hồi tháng trước, Coles đã bị kiện ra Tòa án liên bang vì các lời quảng cáo của siêu thị này có nội dung “ngụy tạo và đánh lừa” khách hàng, nhứt là đối với các loại bánh mì.
Hôm thứ Hai tuần trước, Coles đã bị tòa phạt 61 ngàn Úc kim vì đánh lừa khách hàng khi dán lên một số trái cây và rau quả nhãn hiệu “được trồng tại Úc”, trong khi chúng lại được nhập cảng từ Pháp và Mỹ.
Cuộc chiến “ngữ nghĩa” hiện cũng đã lôi kéo một số nhân vật có thế giá tại Úc Đại Lợi. Ông Jeff Kennett, cựu Thủ hiến tiểu bang Victoria đã than phiền với Ủy ban Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu thụ rằng hồi năm ngoái ông có mua bánh mì hiệu “Cuisine Royale”; trên bao bì có ghi “vừa mới ra lò”, nhưng nhìn kỹ lại thấy làm tại Ái Nhĩ Lan.
Ngay cả cựu Thủ tướng Malcolm Fraser cũng phẫn nộ với hệ thống siêu thị Coles. Ông kêu gọi tẩy chay loại rau quả có dán nhãn hiệu “trồng tại Úc” hay “giúp Úc tự sản xuất” nhưng trong thực tế lại được nhập cảng từ nước ngoài.
Hệ thống siêu thị Woolworths cũng chẳng thua gì Coles trong việc sử dụng các nhãn hiệu mập mờ để đánh lừa người tiêu thụ. Woolworths hiện đang có tất cả 900 siêu thị trên toàn Úc Đại Lợi. Mỗi tuần lễ có khoảng 19.5 triệu lượt người viếng thăm các siêu thị của Woolworths. Mới đây, một khách hàng đã than phiền với Ủy ban Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu thụ rằng ông ta đã mua loại bánh mì “Ciabatta” tại một siêu thị Woolworth. Mặc dù ngoài bao bì có ghi “bánh nóng ra ngày hôm nay, bán ngày hôm nay”, nhưng thực tế bánh đã làm từ mấy ngày trước. Tổng giám đốc về thực phẩm tươi của Woolworths là ông Pat McEntee cũng giải thích lòng vòng rằng chữ “fresh” được công ty của ông sử dụng chỉ có nghĩa là “đồ ăn không có chất bảo quản, không bị chế biến quá mức cho nên vẫn giữ được bản chất nguyên thủy”.
Tựu trung, ở đâu và thời nào cũng có chuyện treo đầu dê bán thịt chó. Có khác chăng là ở mức độ tinh vi mà thôi. Cách đây mấy tháng, thịt bò xay nhuyễn đóng hộp của Pháp, qua sự soi rọi của kính hiển vi, đã lòi ra cái mặt thịt ngựa. Hay như mới đây, công ty nuôi gà Steggles của Úc bị tố cáo vì quảng cáo gà “đi bộ” nhưng lại bán gà công nghiệp. Thời xa xưa, người ta còn phân biệt được cái đầu dê với đầu chó hoặc ngửi được mùi vị khác nhau của hai loại thịt này. Ngày nay, ở những nước như Trung Quốc hay cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, giống gì cũng làm giả được và nhứt là làm giả bằng các thứ độc chất. Ở những nước văn minh, nhờ sự kiểm soát của chính phủ và sự theo dõi của các cơ quan truyền thông, tuy có lừa được người tiêu thụ, người ta cũng chỉ lừa được ở một mức độ có thể tạm dung thứ được. Nhưng dù ở mức độ nào, đã lừa thì phải gọi đúng theo tên gọi của nó là lừa mà thôi.
Tôi hy vọng sẽ chẳng có ai than phiền hay đâm đơn kiện mấy cái lò bánh mì “Hot Bread” của tôi vì bánh mì “nóng” mà mua vào buổi chiều thì có khi cũng teo tóp và dai không kém gì cao su.
Bàn chuyện “ngữ nghĩa” về hai chữ “nóng” và “tươi” là cũng chỉ để tự nhắc nhở mình phải biết sống trung thực. Lại nhớ đến lời dạy của Chúa Giêsu: “Có thì nói có, không thì nói không. Thêm điều đặt chuyện là bởi ma quỷ mà ra.”









Thứ Hai, 13 tháng 2, 2017

Từ địa ngục Syria đến thiên đàng Thụy Điển



10.01.17

Omar al-Shogre là một trong hàng trăm ngàn tù nhân trong chế độ độc tài của Tổng thống Bashar al-Assad tại Syria. Anh đã trải qua 3 năm trong 10 trại tù với những cuộc tra tấn dã man nhất. Vậy mà ngày nay sau khi đã được định cư tại Thụy Điển, người thanh niên 21 tuổi này nói rằng thời gian tù đày là “những ngày tháng đẹp nhất” trong đời anh.
Ngày 11 tháng Sáu năm 2015, lần đầu tiên sau gần 3 năm bị giam tù, Shogre nhìn thấy ánh sáng. Anh chỉ còn cân nặng 35 ký và đầu không còn một sợi tóc. Trên một chuyến xe buýt gần Thủ đô Damascus, khi anh chào hỏi mọi người, chẳng có người nào buồn nhìn anh, vì họ đã quá quen thuộc với những khuôn mặt như thế.
Một năm sau, với chiếc quần jeans và chiếc áo thun ngắn, Shogre chạy bộ dọc theo một bờ sông ở Stockholm, Thụy Điển. Anh đã hòa nhập vào dòng người đang vui hưởng cuộc sống trong ấm no và tự do.
Shogre là một trong rất ít tù nhân Syria được may mắn như thế. Theo tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International) trên 17.000 người Syria đã bị sát hại trong các trại tù rải rác trên khắp Syria từ giữa tháng Ba năm 2011 đến tháng 12 năm 2015. Riêng Liên Hiệp Quốc đã không ngừng lên tiếng tố cáo chính phủ của Tổng thống Bashar al-Assad đã và đang phạm “những tội ác chống lại nhân loại như tiêu diệt, sát hại, hãm hiếp...tra tấn và giam tù”.
Tháng 11 năm 2012,  khi vừa tròn  17 tuổi, Shogre đã cùng với 3 người anh em bà con khác  bị bắt giữ tại Tartous, một tỉnh nằm ở Đông bộ Syria. Hai trong 3 người anh em bà con này đã chết trong tù. Shogre nói rằng anh không biết tại sao mình bị bắt giữ. Lính của chính phủ đã xông vào nhà của dì anh và không một lời giải thích, họ đã đấm túi bụi vào mặt anh cho đến khi máu me chảy đầm đìa. Sau đó họ lùa anh và 3 người anh em bà con lên xe về trại giam.
Từ đó,  Shogre đã bị chuyển đi qua 10 trại giam để rồi cuối cùng lọt vào nhà tù nổi tiếng Sednaya, nằm giữa vùng núi hiểm trở cách Thủ đô Damascus 30 cây số. Sau đó, anh đã trải qua một năm chín tháng trong một trung tâm có tên là “Chi Nhánh 215” (Branch 215). Đây là một trung tâm thẩm vấn của quân đội Syria nằm giữa Thủ đô Damascus. Các tù nhân gọi đây là “Chi nhánh Tử thần”.
Chia sẻ những gì mình đã trải qua tại “Chi nhánh Từ thần” này với một phóng viên của Đài Aljazeera, Shogre cho biết: “Các tù nhân phải thường xuyên chứng kiến cảnh một tù nhân bị cưỡng bách phải giao hợp với một tù nhân khác hoặc một trưởng phòng giam hãm hiếp một tù nhân khác.” Các tù nhân trẻ như Shogre rất sợ phải chứng kiến những cảnh như thế, vì không biết những điều tồi bại như thế có xảy ra cho họ không.
Tại “Chi nhánh Tử thần”, trong 7 tháng đầu tiên, Shogre đã bị biệt giam. Sau đó, được đưa vào một phòng giam khác, anh đã tận mắt chứng kiến cảnh các tù nhân ốm đau bị giam lại trong một phòng để chờ chết. Những người nào còn rán chống cự sẽ bị đánh đập cho đến khi không còn sức để chống cự.
Bị tra tấn và chết là chuyện thường tình trong nhà tù. Shogre cho biết: “Rất nhiều người bị hãm hiếp và sau đó bị giết chết. Đây là một điều khủng khiếp, nhưng đó là chuyện bình thường trong tù”. Anh nói rằng tù nhân bị hãm hiếp cũng như những người bị tra tấn và giết chết, tất cả đều chỉ như một thây chết đối với các tù nhân khác.
Sednaya là nhà tù cuối cùng và tồi tệ nhất đối với Shogre. Ngày 15 tháng Tám năm 2014, anh được “đón nhận” vào nhà tù này bằng một trận đòn bán sống bán chết. Anh kể lại: “Chúng tôi gồm 10 người, được cho đứng xếp hàng và một cai tù bắt đầu đánh hết người này đến người khác. Trong 15 ngày liền, tôi không thể mở mắt hay đứng dậy”.
Một tháng sau, anh được dẫn đến một tòa án. Sau một phiên xử kéo dài không quá 5 giây, anh bị kết án vì tội khủng bố. Đây là tội danh dành cho tất cả những ai hoạt động chống Chính phủ Assad. Shogre đã từng tham gia vào những cuộc biểu tình chống chính phủ trong cuộc cách mạng hồi năm 2011. Anh cho biết đã bị buộc phải nhận tội làm 10 căn cước giả.
Trong nhà tù Sednaya, thức ăn mà các cai tù mang đến cho các tù nhân chỉ gồm vài cái trứng và một ít bánh mì. Đây không phải là khẩu phần của một người, mà là của ít nhất trên 10 người. Cùng với thức ăn, các cai tù cũng thủ sẵn những cây gậy bằng kim khí để đánh các tù nhân. Shogre nhớ lại: thức ăn trong tù Sednaya lúc nào cũng hòa lẫn với máu của tù nhân. Nhưng dù sao, anh nói một cách mỉa mai, trong máu vẫn còn có chút muối!
Tổ chức Ân xá Quốc tế đã thực hiện nhiều cuộc điều tra về các nhà tù tại Syria. Tổ chức này nói rằng tất cả  những gì được Shogre mô tả về các nhà tù tại nước này đều trung thực. Nhiều tù nhân đã có thể ghi lại một cách chính xác ngày giờ và các chi tiết về những gì đã họ đã trải qua trong các nhà tù tại Syria. Bà Nicolette Boehland, một chuyên viên của Tổ chức Ân xá Quốc tế đặc trách về các nhà tù tại Syria giải thích rằng sở dĩ các tù nhân cố gắng ghi nhớ từng chi tiết về những năm tháng tù đày của họ tại Syria là để sử dụng sau này. Họ xem đó như một hành động phản kháng.
Cho tới nay, giấc ngủ của Shogre lúc nào cũng bị lấp đầy bởi những điều khủng khiếp mà anh đã trải qua trong các nhà tù ở Syria. Anh giải thích: “Khi ngủ, tôi luôn mơ thấy mình bị tra tấn. Tôi thấy những người anh em họ của tôi bị giết chết. Thức dậy sau những cơn ác mộng khủng khiếp ấy và thấy mình đang ở trong một căn phòng chứ không phải một nhà tù, tôi cảm thấy rất sung sướng”.
Nhưng ngày nay, khi ngồi bên một bờ hồ bên cạnh nhà ở Thụy Điển, Shogre huýt sáo lớn, mỉm cười và nhìn chim trời bay lượn trên nước.
Mặc dù thời gian tù đày là những tháng ngày đen tối và sầu thảm nhất trong cuộc sống, người thanh niên Syria này lại nói rằng “ đó  là những ngày đẹp nhất trong cuộc đời tôi. Tôi đã “thành nhân”. Đó là trường đại học tốt nhất. Tôi vào tù như một đứa trẻ và tôi đã học để  sống”. Nhìn thấy cái phúc trong cái họa, anh nói rằng nếu anh đã luôn sống trong hạnh phúc thì anh đã chẳng bao giờ biết được ý nghĩa của hạnh phúc.
Bên cạnh các cai tù đã từng tra tấn anh và anh vẫn tiếp tục thù ghét, Shogre nói rằng anh cũng nhận ra những gì là tốt đẹp nhất trong bản tính con người. Các tù nhân khác đã giúp anh chiến đấu để sống còn. Họ đã chia sẻ thức ăn cho anh và ngay cả  mua chuộc các cai tù để họ không giết anh. Mặc dù trong nhà tù Sednaya tù nhân không được phép thực hành đạo, Shogre vẫn âm thầm đọc 18 chương trong Kinh Coran trong thời gian bị biệt giam và thì thầm chia sẻ với các bạn tù khác.
Chuyện Shogre được ra khỏi tù bắt đầu vào tháng Năm năm 2013. Đó là thời điểm cha và hai người anh của anh bị giết chết trong một cuộc tàn sát. Mẹ và những anh chị em khác của anh trốn sang Thổ Nhĩ Kỳ. Tại đây họ đã kiếm  được 15.000 Mỹ kim để chạy chọt cho anh ra khỏi tù.
Tháng Sáu năm 2015, Shogre nhận được một lệnh tha trong đó có ghi rõ anh phải bị giam 3 năm 4 tháng vì các “hoạt động khủng bố”. Nhưng nhờ “lao động nặng”, anh được tha sớm, nghĩa là chỉ bị giam có một phần tư bản án.
Sau khi nhận được lệnh tha, Shogre bị bịt mắt và chở đến một nơi xa lạ để anh tự tìm đường về nhà. Mặc dù toàn bộ gia đình còn lại hiện đang ở Thổ Nhĩ Kỳ, Shogre đã chọn Thủy Điển làm quê hương thứ hai. Tại đây, anh đã được chữa trị về bệnh lao phổi mà anh đã bị lây nhiễm trong tù. Tại Thủ đô Stockholm, Thụy Điển, anh đã có một mái nhà ấm cúng và những người bạn đầy cảm thông. Tuy nhiên anh vẫn lo sợ rằng Chính phủ Syria sẽ tìm cách trả thù vì anh đã tố cáo trước thế giới chế độ lao tù tại Syria. Anh không biết điều gì sẽ xảy ra cho gia đình của anh tại Thổ Nhĩ Kỳ.
Đó là tâm trạng chung của rất nhiều người tỵ nạn Syria đã từng bị Chế độ Assad giam giữ. Chuyên gia tâm lý Jalah Nofal, người cũng đã từng trải qua 9 năm trong các nhà tù của Chế độ Assad hồi thập niên 1980, nói rằng những vấn đề chính của các cựu tù nhân Syria chính là trầm cảm và lo lắng. Chuyên gia tâm lý này khuyên họ đừng tự xem mình như những nạn nhân, mà là những người còn sống sót và hãy nghĩ đến sức mạnh của mình. Đôi khi các cựu tù nhân Syria vẫn cứ để mình bị ám ảnh bởi số phận của những bạn tù trong còn nước. Họ nói: “Làm sao tôi có thể tự do cười đùa, ăn ngon khi các bạn tôi vẫn còn đau khổ?”
Dĩ nhiên, không phải tất cả mọi cựu tù nhân Syria đều sống trong sợ hãi và lo lắng. Hanada al- Refai là một ngoại lệ. Người phụ nữ này đã trải qua 7 tháng trong các nhà tù của Chế độ Assad. Một người em trai của bà đã bị giết trong tù. Riêng bà đã trải qua không biết bao nhiêu cuộc tra tấn. Khủng khiếp nhất là khi bà bị buộc phải ăn uống trong cái “bô” dùng cho vệ sinh cá nhân và bị thẩm vấn trong một phòng đầy máu và những thứ do các tù nhân mửa ra cũng như bị đánh đập và đe dọa giết chết. Nhưng bà đã chiến đấu để sống còn hầu, như bà đã nói tại một hội nghị tìm kiếm hòa bình cho Syria được tổ chức tại Geneva, “trở thành một tiếng nói cho các nạn nhân” của chế độ vô nhân đạo của Assad.
Bà Refai cho biết: là một giáo viên và là một người mẹ, bà ít quan tâm đến chính trị. Nhưng cứ tưởng rằng cũng như người Ai Cập, người dân Syria sẽ có đủ can đảm để thực hiện một cuộc cách mạng ôn hòa để buộc nhà độc tài Assad phải ra đi, ba đã tham gia các cuộc biểu tình vốn đã diễn ra đầu tiên tại Thành phố Deraa của bà, nơi được xem như chiếc nôi của cuộc cách mạng. Bà đã thu thập các băng hình của các cuộc biểu tình và đưa lên mạng để cho thế giới thấy được điều gì đang diễn ra tại Syria. Nhưng tháng Ba năm 2012, bà bị bắt. Em trai của bà, vốn là một thẩm phán trong một tòa án quân sự, đến thăm bà. Một tuần lễ sau, ông cũng bị bắt. Sau hai năm và hai tháng bị giam tù, ông đã bị giết chết. Cho tới nay, gia đình vẫn chưa nhận được thi thể của ông.
Kể từ khi diễn ra cuộc cách mạng tại Syria năm 2011, theo ước tính có hơn 200.000 người Syria, kể cả phụ nữ và trẻ con, đã bị giam giữ như tù nhân chính trị. Bà Refai cho biết đã gặp trong tù ít nhất hơn 65 phụ nữ tuổi từ 12 đến 85.
Rất nhiều người Syria, sau khi thoát khỏi cảnh tù đày và được các nước đón nhận như người tỵ nạn, đã cương quyết trở thành tiếng nói của các nạn nhân để nói cho thế giới biết bộ mặt tàn bạo, độc ác của Chế độ Assad. Rụt rè như người thanh niên Shogre hay cương quyết  như bà Refai, tất cả đều muốn trở thành một tiếng nói sống động về chế độ độc tài vô nhân đạo ấy. Người Mỹ có lẽ sẽ bị bịt tai bịt mắt lại trước thảm cảnh của người dân Syria kể từ khi Tổng thống Donald Trump ký sắc lệnh hành chính ngưng chương trình tỵ nạn dành cho người Syria.


(nguồn: http://www.aljazeera.com/indepth/features/2017/01/alive-surviving-assad-prison-cells)

Thứ Tư, 8 tháng 2, 2017

Hòa nhã và tử tế hơn!





Chu Thập
04.07.13


Theo dõi những diễn biến trong nội bộ của Đảng Lao Động trong những ngày vừa qua, tôi thấy sinh hoạt chính trị quả là một cuộc đấu đá thô bạo. Những người có giây thần kinh mỏng manh như tôi đừng mong chen chân vào chốn này. Tôi thầm phục các chính trị gia trong các nước dân chủ tự do, nhất là những người nắm giữ địa vị lãnh đạo. Lúc nào họ cũng có thể tỏ ra là người quân tử và cao thượng: người chiến thắng vẫn ca ngợi những thành tựu của kẻ chiến bại; kẻ thua cuộc, dù lòng ruột có héo hon đến đâu, cũng vẫn chúc mừng người vừa đánh bại mình!
Có lẽ đã thấm đòn với những đấu đá trong nội bộ Lao Động và thấy trước viễn ảnh của một cuộc xâu xé cũng sẽ rất thô bạo giữa Lao Động và Liên Đảng cho nên, trong bài diễn văn đầu tiên tại Quốc hội Liên bang sau khi dành lại quyền lãnh đạo Đảng Lao Động, Thủ tướng Kevin Rudd đã kêu gọi các vị đại diện của dân hãy tỏ ra “hòa nhã và tử tế hơn” trong các cuộc tranh luận.
Lời kêu gọi này của Thủ tướng Rudd khiến tôi nhớ lại bài diễn văn đầu tiên mà bà Margaret Thatcher đã đọc tại Quốc hội Anh sau khi được bầu làm thủ tướng. Trong bài diễn văn, bà đã trích dẫn lời kinh của thánh Phanxicô Assisi, vị thánh thời Trung cổ được cả thế giới ngày nay xem như sứ giả của hòa bình. Bà Thatcher nói: “Nơi nào có bất hòa, chúng ta hãy mang lại an hòa.” (x.Margaret Thatcher, The Downing Street Years, Harper Collins Publishers, London, 1993, p.19)
Nghe cứ như từ tòa giảng của một nhà lãnh đạo tinh thần. Thật vậy, xây dựng hòa bình và sống “hòa nhã và tử tế” là cốt lõi của giáo huấn trong bất cứ tôn giáo nào. Sở dĩ chúng ta thường nói “tôn giáo nào cũng tốt” là bởi tôn giáo nào cũng dạy con người “ăn ngay ở lành”, nghĩa là đối xử tử tế với nhau.
Trở lại cầm quyền lần này, có lẽ ý thức được sự cần thiết của thái độ “hòa nhã và tử tế” trong việc đối nhân xử thế chăng mà vị thủ tướng vốn từng mang tiếng là thô lỗ, cộc cằn đối với các cộng sự viên, đã mang theo một Quyển Kinh Thánh để tuyên thệ trước mặt Tổng toàn quyền. Nhưng đâu phải chỉ có Kinh Thánh của Do thái và Kitô giáo mới khuyên dạy con người sống “hòa nhã và tử tế”. Kinh Coran của người Hồi giáo cũng chỉ dạy có thế. Thành ra, khi tuyên thệ nhậm chức, người hồi giáo đầu tiên được bổ nhiệm vào nội các chính phủ là ông Ed Husic, thư ký của thủ tướng tại Quốc hội, đã cầm theo một Quyển Kinh Coran. Tôi nghĩ thầm: giá như người ta mang tất cả những quyển "Kinh Thánh" của các tôn giáo đến đặt trên bàn của Tổng toàn quyền và nội các chính phủ đến tuyên thệ thì đẹp biết mấy!
Lần đầu tiên theo dõi một phiên họp của Quốc hội, tôi cũng nhận thấy một chi tiết có ý nghĩa: khi tuyên bố khai mạc phiên họp, bà Anna Burke, Chủ tịch Hạ Viện, đã mời mọi người đứng lên đọc “Kinh Lạy Cha”. Chắc chắn, một khi tuyên bố tách khỏi mẫu quốc Anh để thành lập cộng hòa, thế nào Úc Đại Lợi cũng sẽ bãi bỏ nghi thức “tôn giáo” này. Nhưng bỏ qua một bên truyền thống tôn giáo của mẫu quốc mà Úc Đại Lợi vẫn còn phải tôn trọng, tôi thấy rằng trong bối cảnh sôi sục hiện nay, nếu các vị đại diện của dân, bất luận thuộc tôn giáo nào, biết chăm chú lắng nghe hay đọc Kinh Lạy Cha, họ cũng sẽ nhận ra cùng một sứ điệp: hãy cư xử “hòa nhã và tử tế” với nhau, bởi vì đỉnh điểm của lời kinh này chính là cam kết “như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”. Tất cả những vế trước của Lời Kinh, từ việc xin cho “Danh Cha cả sáng” đến “Nước Cha trị đến”…đều chỉ có ý nghĩa và trở thành hiện thực nếu con người biết tha thứ cho nhau, nghĩa là biết vượt qua bất hòa để xây dựng hòa bình với nhau.
“Nhân Danh Cha” hay để bảo vệ tôn giáo, đức tin, Đạo Pháp mà loại trừ hay sát hại người khác là một thái độ mâu thuẫn. Chẳng có giáo huấn của tôn giáo nào chấp nhận hay khuyến khích như thế cả.
Cuồng tín tôn giáo là vết nhơ lớn nhứt trong lịch sử nhân loại. Là một tín hữu Kitô, tôi không thể không cảm thấy đau buồn vì lịch sử của Kitô giáo đã được viết lên với rất nhiều trang đầy dẫy những hành vi cuồng tín, trong đó lố bịch nhứt là hình ảnh thánh giá sánh vai với lưỡi gươm hay họng súng.
Là một người có tôn giáo, tôi cũng cảm thấy nhục nhã không kém khi chứng kiến vô số những hành vi cuồng tín, khủng bố do các tín đồ tôn giáo nhân danh thần minh, thượng đế, đấng sáng lập đạo hay đạo pháp…để miệt thị, loại trừ, sát hại người không đồng tín ngưỡng với mình. Thật là đắng cay khi phải nghe cố nhạc sĩ John Lennon của ban The Beatles gào thét: “Hãy thử tưởng tượng một thế giới không có tôn giáo. Mọi dân tộc sẽ sống trong hòa bình”. Tôn giáo gây chia rẽ hiềm khích ư? Hay chính con người lợi dụng tôn giáo để gây chia rẽ và hiềm khích? Tôn giáo dạy con người bạo động ư? Hay chính con người mới nhân danh tôn giáo để gây bạo động?
Gần đây, tôi cảm thấy lo ngại khi theo dõi những xung đột tôn giáo tại Miến Điện. Có lẽ chẳng có nơi nào các tín đồ phật giáo tỏ ra khoan nhượng, hòa nhã và tử tế cho bằng tại nước này. Các sư sãi, nếu có xuống đường một cách ôn hòa và bất bạo động, ngay cả sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình, thì cũng chỉ để bênh vực cho quyền lợi của người dân. Tôi khâm phục các nhà sư đã xả thân hy sinh trong cuộc phản kháng dân sự bất bạo động dạo tháng 9 năm 2007. Nhiều nhà sư đã bị nhà cầm quyền quân phiệt Miến Điện sát hại một cách dã man. Các vị này đã không “tử vì đạo” cho bằng chết cho nhân quyền, cho tự do và quyền sống của người khác. Thật đáng khâm phục gương hy sinh cao cả của những nhà sư như thế!
Nhưng mới đây, tạp chí Time, trong số ra ngày 1 tháng 7 vừa qua, lại trình bày điều mà tạp chí này gọi là “Bộ mặt khủng bố của Phật giáo” (The Face of Buddhist Terror). Đó là tựa đề trên hình bìa của tờ báo, kèm với bức hình của nhà sư Wirathu, người đang kêu gọi các phật tử mở “thánh chiến” chống lại người hồi giáo tại Miến Điện.
Theo phóng viên Hannah Beech, tại một ngôi chùa ở Mandalay, thành phố lớn thứ hai sau Thủ đô Rangoon, nhà sư Wirathu, người được mệnh danh là “Bin Laden của Miến Điện”, đã nói với các tín đồ rằng “Đã đến lúc không còn phải ngồi yên nữa. Đây là lúc phải đứng lên, làm cho máu sôi sục”.
Hiện nay máu đang sôi sục trong rất nhiều phật tử Miến Điện và dĩ nhiên máu của người hồi giáo lại tiếp tục chảy. Trong năm vừa qua, theo lời hiệu triệu của nhà sư Wirathu, một số tín đồ phật giáo cuồng tín đã tấn công cộng đồng hồi giáo thiểu số tại nước này. Các tổ chức tranh đấu cho nhân quyền cho biết đã có hàng trăm tín đồ hồi giáo bị giết chết. Phần lớn nạn nhân là những người Rohingya, nhóm thiểu số hồi giáo lớn nhứt tại Miến Điện. Dù chỉ chiếm có 5 phần trăm trong tổng số 60 triệu dân, những người hồi giáo này vẫn bị nhà sư Wirathu xem như một mối đe dọa cho xứ sở và văn hóa Miến Điện. Nhà sư này giải thích với các tín đồ: “Người hồi giáo sinh sản rất nhanh, họ cưỡng chiếm và hãm hiếp đàn bà con gái của chúng ta. Họ sẽ chiếm xứ sở của chúng ta. Tôi không để cho họ làm điều đó. Chúng ta phải gìn giữ bản sắc phật giáo của Miến Điện”.
Theo phóng viên Beech, Phật giáo cuồng tín hiện đang thâm nhập vào nhiều nước tại Á châu. Năm nay, tại Sri Lanka, một trong những nước có tỷ lệ tín đồ phật giáo cao nhứt thế giới, các tổ chức phật giáo ái quốc vốn có liên hệ với các viên chức cấp cao trong chính phủ, đang tạo uy thế; các nhà sư đã góp phần vào việc phá hủy tài sản của người hồi giáo và các tín hữu Kitô. Tại miền Nam Thái Lan, nơi cuộc nổi dậy của người hồi giáo đã khiến cho 5 ngàn người bị giết chết hồi năm 2004, quân đội hiện đang huấn luyện cho các dân quân và cũng thường tháp tùng các nhà sư mỗi khi các vị đi khất thực. Tại chùa Wat Lak Muang, ở Patani, hiện có 10 nhà sư trụ trì, nhưng có đến 100 binh sĩ canh gác. Sư đoàn 23 bộ binh của quân đội Thái hiện đặt bản doanh ngay trong khu vực của ngôi chùa. Mỗi năm có đến hàng ngàn thanh niên phật tử tình nguyện đến đây để được thụ huấn về quân sự và sau đó trở về canh giữ làng mạc của mình. Nhà sư Purassaro, một trong những vị đang trụ trì tại ngôi chùa cho biết ông hiện đang có 3 khẩu súng. Nhà sư này giải thích: “Là một phật tử, có thể tôi cảm thấy có lỗi. Nhưng chúng tôi phải tự bảo vệ”.
Dĩ nhiên, đưa quân đội và súng ống vào nhà chùa cũng có nghĩa là nhắn gởi với người hồi giáo rằng họ đang là một mối đe dọa. Về phía người hồi giáo, họ cũng sẽ cảm nhận rằng họ không phải là thành phần của dân tộc và đất nước. Mối nghi ngờ giữa hai bên đã lên đến cực độ. Hầu như nhà sư Thái nào tại miền Nam Thái Lan cũng đều cho rằng hồi giáo là một tôn giáo của bạo động và các đền thờ hồi giáo là nơi cất giữ võ khí. Đối lại với bạo động, một số nhà sư và phật tử đã từ bỏ tinh thần khoan nhượng và tha thứ của Phật Giáo để đi vào con đường ăn miếng trả miếng của bạo động.
Đây cũng chính là con đường mà nhà sư Wirathu của Miến Điện đã chọn. Hơn ai hết, nhà sư này biết rõ rằng dung hòa tinh thần vô chấp, khoan nhượng, bao dung và tha thứ của Phật Giáo với hận thù, bạo động là điều hoàn toàn đi ngược lại với giáo lý Nhà Phật. Nhưng ông lại biện minh: “Trong Phật Giáo, chúng tôi không được phép tấn công. Nhưng chúng tôi có quyền bảo vệ cộng đồng của chúng tôi”. Và “tự vệ” cuối cùng lại đồng nghĩa với loại trừ, trả đũa, tấn công và dĩ nhiên bạo động, thù hận và sát hại.
Dĩ nhiên, những người phật tử chân chính không bao giờ chấp nhận cách hành xử “mắt đền mắt răng thế răng” ấy. Ở những nơi mà hận thù đã cao chất ngất, người ta vẫn còn chứng kiến được tinh thần bao dung và tha thứ của Phật Giáo. Hồi năm 2011, một buổi sáng nọ, một nhà sư Thái trụ trì tại chùa Wat Lak Muang, tên là Watcharapong Suttha, đang đi khất thực với sự hộ tống của binh sĩ. Một quả bom đã phát nổ. Nhà sư bị thương nặng. Một nửa thân thể của ông bị ghim đầy những mảnh bom. Hiện nay, ông đã cởi áo cà sa. Mắt ông bị mờ đi và thân thể ông đầy sẹo. Nhưng ông không hề lên tiếng trách móc bất kỳ ai. Ông nói: “Hồi giáo là một tôn giáo ôn hòa, cũng như Phật Giáo và mọi tôn giáo khác. Nếu chúng ta đổ tội cho người hồi giáo, họ cũng sẽ đổ tội cho chúng ta và bạo động sẽ không bao giờ chấm dứt.” (x.Time, 1/7/2013)
Đây chính là tiếng nói đích thực của tôn giáo. Trên thế giới hiện đang xảy ra nhiều xung đột bạo động với sự can dự của các tín đồ tôn giáo. Có người nhân danh tôn giáo, đức tin, đạo pháp để khích động hận thù và tạo ra bạo động, chiến tranh. Nhưng chắc chắn, tự trong cốt lõi, tôn giáo nào cũng chỉ dạy con người “ăn ngay ở lành” mà thôi. Đó là giới răn chung của mọi giáo pháp. Đó là nơi gặp gỡ của mọi tôn giáo và cũng là nơi gặp gỡ của mọi con người. Khi con người biết cư xử “hòa nhã và tử tế” với nhau, họ mới thật sự “sống đạo” theo đúng tinh thần của tôn giáo mình.



Thứ Hai, 6 tháng 2, 2017

Vượt qua số phận!


Chu Thập
25.06.13

Được làm công dân Úc cho nên tôi cũng thường hướng lòng về mẫu quốc. Từ chuyện ông Hoàng tế Philip đau bụng phải vào nhà thương đến chuyện Nữ hoàng Elizabeth II cười thỏa chí khi con ngựa “Estimate” của bà thắng giải “The Royal Ascot Gold Cup” trị giá 250 ngàn bảng Anh hôm thứ Năm tuần trước và nhất là chuyện cô công chúa hay cậu hoàng tử của vợ chồng Thái tử William và Công nương Kate sẽ chào đời nội trong tuần này, tôi đều theo dõi tất! Mà có riêng gì tôi đâu. Trong khi chờ đợi một ngày nào đó Úc Đại Lợi sẽ tự cắt cuống rún lìa khỏi mẫu quốc Anh để trở thành một “cộng hòa”, ai mà chẳng thích hóng chuyện của các ông hoàng bà chúa bên đó. Tạp chí Reader’s Digest, số ra tháng này, đã chẳng dành trang chủ để bày tỏ cảm xúc của thần dân Úc đối với hoàng gia đó sao. Cứ theo dõi chuyện của những ông hoàng bà chúa bên Vương quốc Anh mà thấy thèm. Họ sướng thiệt. Đã sinh ra và lớn lên trong nhung lụa, họ lại còn được tiếng tăm nữa.
Nhưng đâu phải chỉ có ông hoàng bà chúa thứ thiệt mới sướng. Mấy ông “thượng đế” tự phong trong vài chế độ cộng sản còn rơi rớt lại trên thế giới cũng có thua gì đâu. Họ cũng hành xử theo lối cha truyền con nối. Họ cũng có “thái tử Đảng”. Mấy ông thái tử và công chúa đảng này lại được gởi sang du học tại các nước “tư bản đang dẫy chết” để về nước lại tiếp tục hô hào “thần dân” tiến lên thiên đàng xã hội chủ nghĩa và xây dựng vương quốc cộng sản. Đúng là chuyện “con vua thì được làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa”. Những lúc tôi tỏ ra bực tức một chút về những bất công trong cuộc đời, nhà tôi lại "mỉa mai" vỗ về: “Gối rơm ôm phận gối rơm, có đâu dưới thấp mà chồm lên cao”.
Thật ra, mỗi người sinh ra đều có một “số phận” cả. Có ai muốn được sinh ra đâu. Có ai chọn cha mẹ hay đất nước để chào đời đâu. Và dĩ nhiên, có ai chọn làm một thằng người đần độn, khuyết tật, kém thông minh và nghèo đói đâu. Số phận là điều mà chẳng có ai có thể thay đổi được. Có lột xác bao nhiêu cũng vẫn là mình. Như trường hợp một phụ nữ Trung Hoa nào đó được báo Việt Luận tường thuật cách đây không lâu, vì lỡ sinh ra với “nhan sắc của một người đàn ông không đẹp trai” cho nên cô đã phải nhờ đến dao kéo can thiệp để hóa kiếp thành một thiếu nữ kiều diễm và lập gia đình. Chẳng may, cô thay hình đổi dạng được nhưng lại không đổi được các “gen” di truyền bên trong, cho nên mấy đứa con cô sinh ra đều là một bản sao của cô trước khi cô giải phẫu thẩm mỹ. Thấy vợ mình đẹp như người mẫu mà con cái lại xấu xí, anh chồng sinh nghi bèn tra hỏi. Được vợ thú nhận có đi thẩm mỹ viện trước khi lấy chồng, anh chồng đã đâm đơn ly dị và đòi cô vợ phải bồi thường  bởi  vì anh cho rằng cô đã lừa dối anh.
Chẳng ai có thể thay đổi được số phận, nhưng ai cũng có thể vượt qua được số phận. Tôi thường có ý nghĩ ấy mỗi khi thấy Nick Vujicic, một người Úc sinh ra cụt cả tay chân, xuất hiện trước công chúng để thuyết giảng về sức mạnh của ý chí và niềm tin tôn giáo. Anh vẫn mãi mãi là một người khuyết tật. Tay chân anh sẽ chẳng bao giờ mọc ra để anh trở thành một con người bình thường. Nhưng nhờ ý chí và niềm tin tôn giáo, Nick đã vượt qua được những mất mát của số phận để vươn lên thành một người lúc nào cũng có thể mang lại niềm cảm hứng cho người khác.
Sinh ra, có người giàu kẻ nghèo, người thông minh, kẻ đần độn, người xinh đẹp, kẻ xấu xí, có người lành lặn khỏe mạnh, có kẻ khuyết tật ốm đau…nhưng đã là bình đẳng thì chẳng có ai hơn ai và nhất là chẳng có dân tộc nào hơn dân tộc nào. Cách đây mấy năm, có một nhà bác học “thông minh” đĩnh đạc, bởi đã được trao tặng giải Nobel Y Khoa, nhưng lại tỏ ra “ngu xuẩn” vô cùng khi đưa ra những tuyên bố có tính kỳ thị chủng tộc đối với người Phi Châu. Nhà bác học này là ông James Watson, người Mỹ được trao tặng giải thưởng Nobel về Y học và sinh lý học năm 1962.  Trong một cuộc phỏng vấn dành cho một tờ báo Anh, ông khẳng định rằng khả năng trí tuệ của người da đen thua kém trí tuệ của người da trắng, cho nên ông rất thất vọng về tương lai của lục địa Phi Châu. Ông giải thích rằng “toàn bộ chính sách xã hội của Hoa kỳ được xây dựng trên cơ sở cho rằng khả năng trí tuệ của người dân Phi Châu ngang bằng với người Mỹ, nhưng các công trình nghiên cứu lại khẳng định rằng không phải như vậy”. Nhà bác học này tin rằng trong vài năm nữa, rất có thể khoa học sẽ tìm ra được loại “gen” chịu trách nhiệm về những khác biệt trên bình diện trí tuệ của con người.
Ông Watson được thế giới biết đến như một trong những người đã tạo được bước đột phá trong lịch sử khoa học. Vào thập niên 1950 của thế kỷ trước, khi làm việc tại trường Đại học Cambridge, ông đã cùng với một nhóm  nhà nghiên cứu khám phá được chuỗi xoắn kép của cấu trúc DNA. Chính nhờ thành tựu này mà ông được trao tặng giải Nobel.
Giỏi giang như thế, nhưng có lẽ ông Watson đã không tỏ ra “thông minh” chút nào khi miệt thị người da đen là giống người kém thông minh. Bị cả thế giới lên án, ông Watson đã phải công khai cải chính những lời tuyên bố đầy kỳ thị của mình và xin lỗi công chúng.
Dĩ nhiên, kể từ khi ông Watson vén màn bí mật của sự sống qua khám phá cấu trúc DNA trong cơ thể con người, thế giới đã bắt đầu quan tâm đến “gen” di truyền. Các nhà khoa học bắt đầu đeo đuổi việc giải mã “gen” của con người khi họ nhận thấy rằng “gen” không chỉ quy định hình dạng cơ thể của mỗi người, mà còn có thể ảnh hưởng đến hành vi, cảm xúc và tâm tính  của chúng ta.
Theo luận cứ của nhiều nhà khoa học ngày nay, “số phận” của chúng ta bị kiểm soát bởi DNA mà chúng ta đã nhận được từ cha mẹ khi sinh ra. Họ cho rằng con người là “tù nhân” của di truyền. Họ quan sát một nhóm người, tính điểm cho mỗi người về mức độ hạnh phúc trong cuộc sống, rồi tìm xem sự khác biệt về “gen” giữa nhóm người hạnh phúc nhứt và nhóm ít hạnh phúc nhứt. Từ đó, họ đi đến kết luận: “gen” quyết định rất nhiều khía cạnh trong cuộc sống con người. Khả năng bị trầm cảm, bị ung thư hay ngay cả hạnh phúc đều nằm trong “gen” cả. Đây quả là một “tin buồn”, bởi vì con người thực sự chẳng còn có chút hy vọng nào để cải thiện hay thay đổi “gen” và vượt qua số phận của mình. Và dĩ nhiên, trách nhiệm của con người cũng được giảm thiểu tối đa. Nếu tôi có lười biếng là bởi cha tôi đã lười biếng và truyền lại cho tôi cái “gen” này; tôi không thể nào thay đổi được. Đừng trách tại sao tôi lười biếng!
Có thật sự DNA hay “Gen” đã quyết định mọi hành vi, cảm xúc, tâm tính và ngay cả “tật xấu” của tôi không?  Mới đây, trong tác phẩm có tựa đề “The Wisdom of Your Cells” (sự khôn ngoan của tế bào của bạn), Bác sĩ Bruce H Lipton đã phản bác luận điểm trên đây. Tác giả khẳng định rằng chúng ta không phải là một tù nhân trong bộ “gen” có trong con người chúng ta; chúng ta không phải là một cỗ máy sinh học chỉ biết tuân theo các quá trình sinh hóa của cơ thể. Theo ông, chúng ta có thể tác động trên các quá trình đó hay ngay cả thay đổi các yếu tố sinh học của cơ thể chúng ta.
Theo ông, ““gen” góp phần không nhỏ trong việc vận hành, điều phối mọi hoạt động của tế bào, nhưng chính những thông tin được nhập vào từ môi trường mới là thứ điều khiển cách sinh tồn của tế bào. Màng tế bào chính là nơi tiếp nhận những thông tin, tín hiệu từ môi trường. Do đó chính màng tế bào mới là bộ vi xử lý của tế bào. Do DNA ở trong nhân của mỗi tế bào đều lưu trữ mọi thông tin và chức năng của các tế bào khác thông qua 25 ngàn “gen”, cho nên các tế bào gốc đều có tiềm năng để biến đổi thành mọi loại tế bào khác trong cơ thể mà chúng muốn. Điều kiện để tác động đến tiềm năng, quá trình phát triển đó chính là điều kiện môi trường. Tùy vào môi trường yêu cầu, cần loại bỏ tế bào nào thì tế bào gốc có thể biến đổi thành kiểu tế bào đó. Nói cách khác, chính chúng ta mới là người “lập trình” nên các tế bào của chúng ta, thông qua những kinh nghiệm sống, suy nghĩ và cảm xúc của chúng ta…"
Bác sĩ Lipton giải thích rằng chúng ta thu nhận thông tin từ môi trường và điều chỉnh sinh lý học của cơ thể. Nhưng dĩ nhiên, điều quan trọng chính là nhận thức của chúng ta. Nhận thức sai lầm có thể khiến chúng ta làm những điều chỉnh sai lầm lên cơ thể, thậm chí hủy hoại cơ thể.
Ông đưa ra lời khuyên chí lý: “Nếu như cuộc sống diễn ra không thuận lợi, thay vì tìm cách điều chỉnh “gen”, hãy điều chỉnh tâm trí và thái độ sống” của chúng ta.
Lời khuyên đây của Bác sĩ Lipton mang lại cho tôi nhiều an ủi mỗi khi nhìn lại “số phận” của mình. Nhiều lúc, khi gặp thất bại, tôi thường đổ lỗi cho số phận và dễ bị cám dỗ muốn buông xuôi bỏ cuộc, mặc cho dòng đời xô đẩy. Nhưng nhìn lại, tôi cũng thấy rằng phần lớn những “thành công” tôi có được là do ý chí của tôi, tức ý muốn vươn lên và vượt qua “số phận” của mình.
Tôi vẫn thích xem lại cuốn phim “Karaté kid” được trình chiếu năm 1984. Phim kể về câu chuyện học võ lạ thường của một cậu bé. Đây là một cậu bé ốm yếu, thường bị chúng bạn ăn hiếp. Tức khí, cậu liền đi mua một quyển sách luyện võ về nhà để tự học. Nhưng lý thuyết trong sách vở chẳng giúp được bao nhiêu. Cậu vẫn tiếp tục bị chúng bạn đánh đập.
Một hôm, tình cờ cậu gặp được một ông thày Thái cực đạo, người Nhựt, tên là Miyagi. Cậu kể lể về tình cảnh của mình. Ông thày thương tình liền nhận cậu làm đệ tử. Cậu mừng như gặp được thuốc tiên, cứ tưởng ông thày sẽ dạy cho mình những bài học cao cấp vượt bực. Nhưng ông Miyagi xem ra chẳng truyền cho cậu món nghề nào cả. Ông bảo cậu phải dẹp lý thuyết qua một bên. Sau đó, ông ra lệnh cho cậu  đi tỉa cây cho ông. Ông bảo: nhớ tập trung ý chí vào việc tỉa cây. Khi chạm tay vào cành lá thì ý thức rằng mình đang động tới lá cành.
Mấy ngày sau, cậu bé nài nỉ xin ông dạy võ cho cậu. Nhưng ông lại bảo cậu đi lau xe cho ông. Ông dặn: nhớ lau theo nhịp thở; tay phải xoáy vòng vào thì hít hơi vào, tay trái xoáy vòng ra thì thở hơi ra.
Làm xong công tác, tuy mồ hôi nhễ nhại, cậu bé cũng cố gắng tỏ ra kiên nhẫn, vì nghĩ rằng cứ chịu khó lau xe thì chắc chắn thế nào ông thày cũng truyền nghề cho. Ngày hôm sau, cậu trở lại, nhưng ông thày cũng chẳng chịu truyền cho cậu ngón võ nào cả, mà chỉ bảo cậu đi lau sàn nhà, cũng theo thế xoáy vòng tay theo nhịp hít thở như hôm trước.
Ngày kế tiếp, thay vì được dạy võ như mong đợi, cậu bé lại bị ông thày bắt đi sơn hàng rào gỗ. Ông lại dặn: “Cũng hít thở theo chiều tay lên xuống”. Xong công tác, cậu bé nghĩ bụng: thế nào cũng được truyền nghề. Nhưng ông thày lại bắt cậu phải vào phía trong để sơn tiếp. Lần này, không còn đủ kiên nhẫn nữa, cậu liền phản đối và định bỏ đi. Lúc bấy giờ, ông thày mới giải thích: những gì ta đang truyền cho con làm, chính là luyện võ đó! Karaté có nghĩa là phải trống tay, cho nguồn lực từ bên trong vọt lên. Đừng cậy dựa vào bên ngoài. Lực ở trong đầu. Lực ở trong tâm”. Rồi ông tiếp tục dạy cậu cách giữ thăng bằng khi gặp xung khắc. Cứ thế, nhờ kiên nhẫn tập luyện, cậu bé đã trở thành một cao thủ có thể đánh bại những kẻ bắt nạt mình.
Tôi nghĩ cuộc đời chẳng khác nào một trường luyện võ, vốn là môn học đòi hỏi nhiều kiên nhẫn hơn cả. Và đối thủ cần được vượt qua và đánh bại hơn cả chính là “số phận” của mỗi người. Chúng ta không thể thay đổi được “số phận”, nhưng chúng ta lại có thể vạch ra cho mình một "số mệnh" để đeo đuổi.