Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2016

Tự do và hạnh phúc


Chu Thập
5.8.16
Hạnh phúc có lẽ  là một trong những ý niệm tương đối và khó định nghĩa nhứt. Chẳng có ai đưa ra được một định nghĩa dứt khoát về hạnh phúc và dĩ nhiên cũng chẳng có ai dám bảo rằng mình hạnh phúc hơn người khác. Do đó, khi người dân một quốc gia bảo rằng họ hạnh phúc hơn người dân của một nước khác, đó cũng chỉ là chuyện rất tương đối. Chính vì tính tương đối của khái niệm hạnh phúc mà hầu như trong cuộc khảo sát nào, người dân Việt Nam đang sống dưới chế độ độc tài cộng sản hiện nay vẫn nghĩ rằng họ hạnh phúc và hạnh phúc hơn người dân tại rất nhiều nước trên thế giới.
Mới đây, một cuộc khảo sát về Chỉ số Hạnh phúc trên Thế giới do Quỹ Tân Kinh Tế Học bên Anh Quốc thực hiện đã xếp Việt Nam vào hạng 5 trên thế giới. Nghèo mạt rệp như Costa Rica mà lại được xếp vào hạng nhứt thế giới về hạnh phúc. Tham nhũng, mất an ninh vì trộm cướp và băng đảng ma túy như Mễ Tây Cơ mà cũng đứng thứ nhì về hạnh phúc. Trong khi đó thiên đàng Mỹ, nơi mà hầu hết người dân của bất cứ nước nào, nhứt là của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, cũng muốn tìm đến an cư lạc nghiệp hay lánh nạn, thì lại rơi vào hạng thứ 108. Nhưng  dưới con mắt của Bắc Hàn, Hoa Kỳ lại tuột xuống hạng chót về chỉ số hạnh phúc.  Theo kết quả của một cuộc “khảo sát” được các nhà nghiên cứu của Đài truyền hình Bắc Hàn thực hiện và cho phổ biến dạo tháng 6 năm 2011,  quốc gia nơi người dân hạnh phúc nhứt thế giới là Trung Cộng, đứng hàng thứ hai dĩ nhiên là Bắc Hàn và kế đó là những nước “xã hội chủ nghĩa anh em” như Cuba hay “bà con  của xã hội chủ nghĩa” như  Iran và Venezuela. Kẻ thù không đội trời chung của Bắc Hàn là Hoa Kỳ dĩ nhiên đứng chót về chỉ số hạnh phúc. Vậy mà khi đọc kết quả của cuộc khảo sát “khoa học xã hội chủ nghĩa” này, một công dân mạng ở Trung Quốc đã xót xa bày tỏ: “Xin làm ơn gởi tôi sang Hoa Kỳ để tôi cùng đau khổ với họ (x. Daily Mail 3/6/2011).
Hạnh phúc không những là một ý niệm tương đối. Nó cũng chẳng hoàn toàn lệ thuộc vào những yếu tố vật chất như sự giàu có, danh vọng hay địa vị xã hội. Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng, đã nói: “Hạnh phúc được quyết định bởi tâm trạng của con người hơn là ngoại cảnh”. Nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột. Buồn ngủ mà gặp chiếu manh còn sướng hơn trằn trọc trong lầu son gác tía. Chính vì hạnh phúc là một tâm trạng không hoàn toàn tùy thuộc vào những điều kiện vật chất mà Vương quốc Bhutan nằm dưới chân dãy núi Hy Mã Lạp Sơn, nơi có tuyệt đại đa số dân theo Phật Giáo, đã xem trọng Tổng sản lượng Hạnh phúc hơn Tổng sản lượng kinh tế nội địa. Đây là quốc gia duy nhứt trên thế giới xem “hạnh phúc của người dân” là sự thịnh vượng đích thực của đất nước. Đến đất nước này, du khách sẽ không thấy nhiều bảng quảng cáo cho hàng hóa hay các tiện nghi vật chất mà là những khẩu hiệu như “Cuộc sống là một hành trình. Hãy lên đường” hoặc “Hãy để thiên nhiên dẫn đường chỉ lối”...Tựu trung, tại quốc gia này, người dân, nhứt là các em học sinh, luôn được nhắc nhở để làm những công dân tốt hơn là ganh đua để đạt thành tích tốt.
Trong khi Vương quốc Bhutan xem trọng tổng sản lượng hạnh phúc hơn tổng sản lượng kinh tế thì tại Trung Đông, các Tiểu Vương quốc Á Rập Thống nhứt lại muốn trở thành quốc gia hạnh phúc nhứt trên thế giới khi thành lập một bộ mới lấy tên là Bộ Hạnh Phúc.
Ứng dụng những hiểu biết khoa học về Hạnh Phúc vào cuộc sống, các ban ngành của Bộ Hạnh Phúc tại các Tiểu Vương quốc Á Rập Thống nhứt đặc biệt chú trọng đến 3 phẩm chất có thể mang lại hạnh phúc cho con người, nhứt là trong các công sở.
Trước hết là sự dấn thân tích cực của con người trong công việc. Kinh nghiệm cho thấy rằng con người sẽ hạnh phúc hơn nếu họ dồn tất cả thời giờ, nỗ lực và hiểu biết vào công việc.
Kế đó, sự quyết tâm cũng giúp mang lại hạnh phúc cho con người. Trong bất cứ công việc nào, sự căng thẳng, tâm trạng lo lắng và mệt mỏi có thể được vượt qua nếu người ta dốc hết tâm trí và sự cương quyết vào công việc mình đang làm. Các cuộc nghiên cứu đã chứng minh rằng những người hạnh phúc thường là những con người cương quyết và bền chí. Họ cũng là những người có khả năng đương đầu với nghịch cảnh hơn.
Ngoài ra, năng suất cũng là một yếu tố quan trọng mang lại hạnh phúc cho con người. Các cuộc nghiên cứu đã cho thấy có mối liên kết tích cực giữa hạnh phúc và năng suất của con người. Con người càng cảm thấy hạnh phúc thì càng có năng suất cao và ngược lại năng suất cao cũng khiến cho con người cảm thấy hạnh phúc hơn.
Thì ra thời nào cũng vậy, “lao động” luôn được xem như một giá trị có thể mang lại hạnh phúc cho con người. Nhàn cư vi bất thiện. Người Việt Nam nào cũng biết điều đó. Ngay từ thuở nhỏ, tôi cũng đã học được một lời răn đe trong “nhà đạo” của tôi: ở không là cội rễ mọi sự dữ! Không biết có học được từ nhà đạo của tôi không, sau năm 1975, mấy ông cộng sản Việt Nam cũng dạy cho người dân Miền Nam một bài học tương tự: “Lao động là vinh quang”. Nhưng vinh quang thì không thấy đâu cả, mà chỉ biết rằng trong “thiên đàng cộng sản” vừa chớm nở trên đất nước, càng lao động càng đói khổ, càng đánh mất tính người.
Đức Quốc Xã cũng đề cao lao động và dĩ nhiên đề cao một cách độc ác. Trước cửa các trại tập trung của Đức Quốc Xã, người ta thường đọc được khẩu hiệu: “Lao Động mang lại tự do” (Arbeit macht frei). Chỉ có các tù nhân mới hiểu được ý nghĩa của khẩu hiệu vô cùng độc ác ấy. Họ luôn được các bác sĩ “kiểm tra” sức khỏe. Còn đủ sức lao động là còn hy vọng sống sót. Trái lại, “mất sức lao động” có nghĩa là sẽ được “giải thoát” trong các lò hơi ngạt. Đọc hồi ký “Đêm” (Night) của tác giả Elie Wiesel, người được trao tặng Giải Nobel Hòa Bình năm 1986 và qua đời hôm tháng 7 vừa qua, người ta mới thấy được sức chiến đấu của các tù nhân để được “lao động” và nhờ đó được sống còn. Lao động quả thực đã giúp họ được tự do.
Liên Hiệp Quốc không nhấn mạnh đến quyền được lao động cho bằng tự do khi nói đến hạnh phúc. Ngày 19 tháng 7 năm 2011, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua một nghị quyết về hạnh phúc. Khác với những vấn đề khác được mang ra thảo luận và biểu quyết tại Liên Hiệp Quốc, nghị quyết về hạnh phúc đã được Đại hội đồng đồng thanh thông qua. Với nghị quyết này, Liên Hiệp Quốc khẳng định rằng tìm kiếm hạnh phúc là một quyền căn bản của con người. Liên Hiệp Quốc cũng giải thích rằng tổng sản lượng nội địa của một quốc gia không hoàn toàn phản ảnh hạnh phúc và phúc lợi của người dân nước đó. Nhưng mục đích của nghị quyết chính là kêu gọi các quốc gia hãy đề ra những chính sách có thể tạo điều kiện để người dân được hạnh phúc. Và nếu mưu tìm hạnh phúc là một trong những quyền căn bản của con người thì hạnh phúc đương nhiên gắn liền với tự do. Đây mới thực sự là thông điệp mà Liên Hiệp Quốc muốn nhắn gởi đến tất cả mọi quốc gia qua nghị quyết về hạnh phúc. Nếu độc tài, nhứt là độc tài toàn trị, theo định nghĩa là chối bỏ mọi quyền tự do căn bản của con người, thì người dân sống dưới bất cứ chế độ độc tài nào cũng đều không hưởng đầy đủ các phúc lợi và như vậy không thể thực sự có hạnh phúc. Độc tài luôn đẻ ra sợ hãi. Mà đã sợ hãi thì không thể nào có hạnh phúc được.
Bao lâu người Việt Nam vẫn còn sống dưới chế độ độc tài cộng sản, tôi nghi ngờ về địa vị thứ 5 của người dân Việt Nam trong bảng xếp hạng hạnh phúc. Có thể do thành kiến với chế độ cộng sản mà tôi không có một cái nhìn tích cực về chỉ số hạnh phúc của người Việt Nam. Nhưng từ trong nước, một số người cũng tỏ ra nghi ngờ về kết quả của cuộc khảo sát do Quỹ Tân Kinh Tế Học ở Anh Quốc thực hiện. Bà Khuất Thu Hồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội của Việt Nam, đặc biệt nói đến môi trường sống tồi tệ và tình trạng nghèo đói tại Việt Nam, cho nên không tin tưởng ở sự đánh giá và nghiên cứu của Quỹ Tân Kinh Tế Học của Anh Quốc. Nhưng có lẽ phản ảnh đúng tâm trạng của rất nhiều người nghèo ở Việt Nam là một cư dân ở thôn Cồn Sẻ, ven biển Tỉnh Quảng Bình, ngay sát nơi khởi nguồn thảm họa cá chết do công ty Formosa gây ra. Khi được một phóng viên của  Đài VOA hỏi có cảm thấy hạnh phúc không, cư dân này trả lời: “Không hạnh phúc được tí mô anh ạ. Toàn là bất an đến giờ, hạnh phúc chi anh” (x. Vi Anh, Việt Nam Cộng Sản Hạnh Phúc Thứ 5 Thế Giới, Việt Báo 1/8/2016).
Với khẩu hiệu “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” đi kèm với cái tên nước dài thòong chẳng giống ai “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”, hạnh phúc được chế độ cộng sản hứa hẹn với người dân chỉ là chiếc bánh vẽ.
Tự do là điều kiện tất yếu của hạnh phúc. Điều này đúng khi nói về một chế độ chính trị, về những chỉ số hạnh phúc của người dân trong một quốc gia. Nhưng với riêng tôi là người đang sống trong một đất nước trong đó người dân đang được hưởng tất cả mọi quyền tự do căn bản của con người và nhứt là có đầy đủ các điều kiện vật chất và tinh thần để sống xứng với phẩm giá con người, tôi cho rằng, dù sống trong hoàn cảnh nào, chỉ có tự do thật sự mới mang lại hạnh phúc đích thực cho tôi.
Thời đại này không còn chế độ nộ lệ. Nhưng con người thời đại lại tự mình biến thành nô lệ của rất nhiều “ông chủ”. Nghiện ngập, dù là ma túy, cờ bạc hay bia rượu... là điển hình rõ nét nhứt của tình trạng nô lệ. Đã vướng vào những thứ ấy, con người mới thấy thế nào là mất tự do. Bên cạnh ma túy, cờ bạc hay bia rượu...còn có những “ông chủ” giấu mặt tàn bạo và độc ác không kém như tiền bạc, quyền lực, danh vọng...Nhiều người lao mình vào đó chẳng khác nào những con thiêu thân. Vì tiền bạc, người ta có thể nhắm mắt làm ngơ trước nỗi khổ đau của người đồng loại. Vì quyền lực, người ta sẵn sàng chối bỏ và chà đạp những quyền tự do căn bản của người khác. Vì một chút bã danh vọng, người ta cũng có thể đạp lên đầu người khác đến tiến tới...Nhưng độc ác và khủng khiếp nhứt trong các “ông chủ” vẫn là sự thù hận trong tâm hồn con người. Thù hận không những thúc đẩy con người tiêu diệt người khác mà cũng đưa dẫn con người đến chỗ tự hủy. Hãm hại người khác một cách nào đó cũng chính là hãm hại chính mình.
Hạnh phúc là một ý niệm tương đối. Tôi không biết mình có thực sự hạnh phúc không. Tôi cũng không dám bảo mình hạnh phúc hơn người khác. Chỉ biết một điều: càng cố gắng sống đơn giản,  nhứt là càng cố gắng loại bỏ sự thù hận ra khỏi tâm hồn, tôi càng cảm thấy tự do. Tôi hiểu được lời dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma: “Nếu bạn muốn người khác được hạnh phúc, hãy thực thi sự cảm thông. Nếu bạn muốn chính mình được hạnh phúc, hãy thực thi sự cảm thông”.





Thứ Tư, 10 tháng 8, 2016

Đã mang tiếng khóc vào đời...




Chu Thập
13.11.12


Tôi rất sợ đi “khám” bác sĩ. Cứ như bị đưa ra tòa. Lần nào bác sĩ bảo “không có tin xấu”, tôi ra về thơ thới hân hoan. Gặp lúc bác sĩ tuyên bố “một cơ phận nào đó có vấn đề” hay “chưa rõ nguyên do”, tôi lại mất ăn mất ngủ vài ngày. Không biết tôi có vấn đề tâm lý nào không, nhưng dứt khoát là tôi không bao giờ chịu đi gặp bất cứ chuyên gia tâm lý, tâm lý trị liệu hay cố vấn tâm lý nào cả. Về sức khỏe tâm lý, tôi chủ trương tự “khám” lấy. Và cứ theo những tiêu chuẩn thông thường, tôi thấy mình vẫn còn đủ cả thất tình“hỉ nộ ái ố...”
Trong những biểu hiện của thất tình, tôi lại thấy mình vẫn còn  có hai thứ cảm xúc và phản ứng rất bình thường và “rất người” là cười và khóc. Mỗi sáng khi thức dậy tôi vẫn cố gắng cười với cuộc sống. Còn cười để tiêu sầu giải khoây thì hầu như ngày nào tôi cũng đọc được một chuyện tiếu lâm do mấy ông bạn già chia sẻ trên “meo đàn”.
Riêng về “khả năng” khóc thì tôi thấy mình cũng có thừa. Một trong những kỷ niệm vẫn còn in đậm trong ký ức non dại của tôi là những lần khóc dối. Đó là những lần tôi khóc mà chẳng có giọt lệ nào chịu trào ra khóe mắt cả và đa số những tiếng khóc nhè như thế được nhắm thẳng vào mẹ tôi. Thường thì mẹ tôi chịu thua và phải thỏa mãn những yêu cầu của tôi. Nhưng cũng có lúc bà bỏ thí và tôi là người thua cuộc. Càng lớn tôi càng nhận ra đây là một thứ khí giới không mấy hữu hiệu.
Lúc nhỏ, tôi khóc dối cũng nhiều, mà khóc thiệt, nghĩa là khóc tức tưởi, cũng không phải là ít. Đó là những lần, sau nhiều ngày trốn học, tôi bị các “bà xơ” đưa ra trước “tòa án nhân dân” của cả lớp, dùng cán cờ đánh bầm mông và bắt phải ra giữa lớp để xin lỗi mọi người. Nhưng khóc với tất cả sự căm giận vẫn là những lần tôi bị ông cha sở tát sưng hai má giữa nhà thờ chỉ vì tội không chịu đi học giáo lý.
Tuổi thơ, tôi đã biết khóc thành tiếng và có nước mắt. Nhưng không hiểu sao kể từ lúc lên trung học, tôi lại giã từ tiếng khóc và những giọt nước mắt. Tôi nghĩ có lẽ tôi đã chịu ảnh hưởng nặng của những tư tưởng của thi sĩ Pháp, Alfred de Vigny vào thế kỷ 19, đặc biệt là bài thơ “La mort du loup”(cái chết của con sói) trong đó tôi học thuộc lòng và mang ra tâm niệm mấy câu: “Than vãn, khóc lóc, cầu khẩn đều là hèn nhát cả. Hãy nhiệt tình làm bổn phận lâu dài và nặng nề của bạn, trong con đường mà Số Phận đã muốn kêu gọi bạn. Rồi sau đó, cũng như ta, hãy đau khổ và chết mà không hề mở miệng” (gémir, pleurer, prier est également lâche...). Vì nghĩ rằng khóc lóc là hèn yếu cho nên tôi luôn tập ý chí để cố nén giữ những cảm xúc trong lòng. Duy chỉ có một lần tôi không thể kìm hãm được cảm xúc đó là buổi sáng ngày 29 Tết năm 76, khi tôi nhận được tin mẹ tôi bất thần ra đi. Tôi đã khóc và có lẽ đó là lần cuối cùng tôi đã khóc thành tiếng. Từ đó cho đến nay, dĩ nhiên tôi vẫn khóc, nhưng có khi chỉ là “những tiếng khóc khô không lệ”.
Với tôi, tiếng khóc vẫn là âm thanh tuyệt dịu nhứt và nước mắt vẫn là những viên ngọc đẹp nhứt trong cuộc đời. Dĩ nhiên, phải là những tiếng khóc và những giọt nước mắt trào ra từ chính tấm lòng của con người.
Mới đây, tôi thấy tổng thống Barack Obama của Hoa kỳ khóc. Khuôn mặt ông đẫm nước mắt và ngón tay trỏ của bàn tay phải của ông đưa lên để quẹt những giọt nước mắt. Tôi cứ tưởng tổng thống Obama đã khóc khi đến thăm các nạn nhân của trận bão Sandy vừa qua tại New York. Đọc kỹ bản tin, tôi mới biết ông đã khóc hai lần: một lần tại thành phố Des Moines, tiểu bang Iowa, chỉ một ngày trước khi diễn ra cuộc bầu cử và lần thứ hai tại Chicago, một ngày sau khi ông được tin tái đắc cử. Chắc chắn, đây chỉ có thể là những giọt nước mắt cảm động, cảm động vì sự hy sinh của ban tranh cử và sự nâng đỡ của các ủng hộ viên, cảm động vì quá vui mừng trước tin tái đắc cử.
Các nhà lãnh đạo chính trị ngày nay không muốn hoặc không thể che giấu vì hổ thẹn nếu khóc trước công chúng, bởi vì họ xem đó như một biểu lộ tình cảm chân thành của mình. Trong sinh hoạt chính trị, tiếng khóc và những giọt nước mắt có khi cũng có sức thuyết phục bằng những bài diễn văn hùng hồn. Cho nên ngay cả những con người vốn được xem là cứng rắn và lạnh lùng cũng có lúc  phải “nói” bằng tiếng khóc và những giọt nước mắt. Người đàn bà được mệnh danh là “Iron Lady” (người đàn bà sắt đá) Margaret Thatcher, thủ tướng lừng danh của Anh quốc từ năm 1979 đến năm 1990 (thủ tướng lâu nhứt trong thế kỷ 20) đã rơi lệ khi rời khỏi văn phòng thủ tướng lần cuối cùng hồi năm 1990. Lạnh lùng theo truyền thống cố hữu của các nhà lãnh đạo trong điện Kremlin, vậy mà dạo tháng 3 vừa qua, tổng thống Vladimir Putin của Liên bang Nga cũng đã khóc khi thắng cử, mặc dù việc tái cử của ông được thế giới Tây phương xem như một trò hề của các nhà độc tài của thời đại. Người ta cũng thường nhắc đến những tiếng khóc và những giọt nước mắt của một “người hay khóc ở Quốc hội” là ông John Boehner, đương kim chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ (x. Hà Tường Cát, Nước mắt Obama, NgườiViệt online, 10/11/12).
Bị “đâm sau lưng” cho nên trong bài diễn văn đọc khi rời khỏi chiếc ghế thủ tướng, ông Kevin Rudd đã gần như không cầm được những tiếng nấc uất nghẹn và những giọt nước mắt. Có lẽ người Úc nào cũng tin rằng đây không phải là những giọt nước mắt trên sân khấu, mà là những cảm xúc xuất phát từ tận đáy lòng của một chính trị gia bị phản bội.
Khóc là động từ được “chia đều” cho mọi người, bất luận nam phụ lão ấu, giàu nghèo, thông minh, đần độn hay ở trong địa vị nào trong xã hội. Đã mang tiếng khóc vào đời thì có lẽ bao lâu còn hít thở không khí là còn khóc, không khóc thành tiếng và có nước mắt thì cũng khóc trong lòng. Có khác nhau là ở chỗ khóc dối và khóc thiệt mà thôi. Trên sân khấu, các diễn viên thường khóc “giả”. Người ta có thể cảm động vì tiếng khóc “giả” ấy, nhưng chẳng có ai trách các diễn viên vì đã khóc giả cả. Người ta cũng chẳng chê trách những người khóc mướn trong các đám ma. Họ được trả tiền để khóc mà. Thế giới có lẽ cũng chẳng hẹp hòi để lên án cái đám đông dân chúng bị cưỡng bách phải khóc lóc thảm thiết trong đám tang của một lãnh tụ độc tài như đã xảy ra trong thiên đàng cộng sản Bắc Hàn dạo tháng 12 năm ngoái, khi “lãnh tụ muôn vàn kính yêu” Kim Jong Il nằm xuống.
Tiếng khóc và những giọt nước mắt là những gì thánh thiêng nhứt trong con người, cho nên chỉ có hạng người xử dụng nó để lừa bịp người khác mới đáng lên án mà thôi. Liệu ngày nay, ngay cả những người cộng sản gộc, có người Việt nam nào còn tin ở tiếng khóc “tru tréo” của văn nô Tố Hữu dành cho đồ tể Staline nữa không? Và tôi cũng tin rằng có lẽ đa số người Việt nam trong nước cũng chẳng xem những tiếng khóc nức nở của ông Hồ Chí Minh dành cho các nạn nhân của Cải Cách Ruộng Đất là chân thật.
Người công giáo như tôi thỉnh thoảng có nghe những tiếng khóc của một số tín hữu khi vào tòa xưng tội với linh mục. Khóc lóc ăn năn là biểu hiện của sám hối. Không ai đo lường được mức độ thành thật của những tiếng khóc này. Nhưng ít nhứt, bí tích cáo giải của Đạo công giáo đòi hỏi hối nhân phải thực sự sám hối, nghĩa là nhìn nhận những sai phạm và thiệt hại mình đã gây ra cho bản thân hay tha nhân và chấp nhận “đền bù”. Không đền bù bằng tiền bạc của cải phải trả lại cho tha nhân vì những thiệt hại mình đã gây ra thì ít nhứt cũng phải làm một số hành động hay cử chỉ nào đó, như đọc một lời kinh chẳng hạn, để nói lên quyết tâm sám hối của mình. Chỉ với điều kiện này thì may ra tiếng khóc và những giọt nước mắt mới thực sự là biểu hiện của lòng sám hối. Bằng không đây chỉ là những tiếng kêu vô nghĩa và là những giọt nước mắt cá sấu mà thôi.
Tôi đã xem thước phim ghi lại cảnh Hồ Chí Minh đọc báo cáo trước Quốc hội khi nhìn lại kết quả của cuộc cải cách ruộng đất. Ông đã khóc và hai lần lấy khăn tay lau nước mắt. Tôi không tin đây là tiếng khóc và những giọt nước mắt được tuôn ra vì mạng sống của trên 150 ngàn người bị ông ra lệnh đấu tố và hành hạ cho đến chết. Cho dẫu ông đã công khai làm điều mà người cộng sản gọi là “tự phê”, nhưng rốt cục chính ông, người ra lệnh tiến hành cải cách ruộng đất, Trường Chinh, người thừa hành và vô số cán bộ cộng sản đã nhúng tay vào máu của người dân vô tội, đều lấy nước rửa tay và tự “xá giải” cho mình. Cho tới nay vẫn chưa có một tòa án nào đem tội ác tày đình này ra xét xử. Có “xưng thú” nhưng chẳng có “sám hối” và cũng chẳng có một “đền bù” nào cả. Ông Hồ Chí Minh đã đóng một màn kịch tồi tệ nhứt trong lịch sử dân tộc: tiếng khóc và những giọt nước mắt của ông là tiếng khóc và những giọt nước mắt của một tên đểu cáng!
Từ đó đến nay, những người cộng sản vẫn tiếp tục màn kịch khóc lóc tồi tệ ấy. Điển hình nhứt là mới đây, kết thúc Hội nghị trung ương VI vừa qua, tổng bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam, ông Nguyễn Phú Trọng, cũng theo đúng sách của Hồ Chí Minh, đã đọc diễn văn trong uất nghẹn gần như khóc lóc để cũng gọi là “tự phê”, nghĩa là để tự “xá giải” cho nhau vì bao nhiêu tội ác gây ra cho dân tộc. Tham nhũng ngập đầu và công khai như một thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không những không hề bị truy tố và mang ra xét xử tại bất cứ một tòa án nào, mà vẫn tiếp tục ngự trị trên chiếc ngai bất khả xâm phạm của ông. Ra trước Quốc hội, ông này cũng chỉ cần “nhận trách nhiệm chính trị” là xong.
Đã là người, ai cũng còn có khả năng khóc. Nhưng tôi tin rằng những kẻ suốt đời chỉ biết khóc dối, khóc láo, khóc đểu như Hồ Chí Minh và những người cộng sản...e khó có thể khóc thật. Nếu họ còn khả năng khóc thật thì với một đất nước đầy dẫy bất công, khốn khổ, chết chóc do chính họ tạo ra, họ có khóc lóc và chảy nước mắt suốt một đời cũng chưa đủ.
Những tiếng khóc và những giọt nước mắt chân thành không thể không đi kèm với quyết tâm sám hối và cải hóa.
“Một tên cướp, sau khi đã tung hoành ngang dọc, bỗng cảm thấy mệt mỏi, muốn trút bỏ gánh nặng tội lỗi và làm lại cuộc đời. Anh tìm đến với một vị linh mục để xưng tội. Vị linh mục bảo anh ta làm một việc “đền tội” khác thường, đó là hãy đi chôn cất tất cả những người chết mà anh ta gặp, đồng thời hãy khóc lóc như thể đó chính là những người thân yêu của mình. Và để làm bằng chứng, vị linh mục trao cho anh một cái chai nhỏ để anh hứng lấy những giọt nước mắt ấy. Anh ra về và nghe ở đâu có đám tang, liền tìm đến đó. Nhưng mắt anh vẫn cứ ráo hoảnh, chẳng nhỏ được một giọt nước mắt nào cả. Anh liền than thở với Chúa về nỗi khổ đau là mình không thể nào khóc được. Thật là bất ngờ, anh bỗng thấy từ khóe mắt của tượng Chúa những giọt nước mắt long lanh chảy xuống. Chính lúc đó, tự nhiên nước mắt của anh cũng trào dâng. Anh đã hứng lấy vào chai những giọt nước mắt ấy. Từ lúc đó, anh đã hiểu được thế nào làm sám hối và quyết tâm làm lại cuộc đời bằng cách ăn ngay ở lành và sống lương thiện.” (Gã Siêu, Khóc, mạng lưới Dũng Lạc).
Ngẫm nghĩ về nụ cười tiếng khóc, tôi lại nhớ đến lời khuyên của ai đó: “Con ơi, ngày con mở mắt chào đời, mọi người nhìn con mỉm cười, còn con thì lại khóc. Con hãy sống như thế nào để khi ra đi, mọi người bật khóc, còn con thì lại thanh thản mỉm cười.”



Thứ Hai, 8 tháng 8, 2016

Tanzania: giá một cô dâu nhỏ bằng 12 con bò


5.8.16

Tệ nạn gả bán con gái nhỏ hiện vẫn còn hiện hành tại một số quốc gia. Tanzania bên Phi Châu là một điển hình.
Tanzania mà tên gọi chính thức là Cộng hòa Thống nhất Tanzania là một đất nước rộng lớn nằm ở miền Đông Phi Châu, trong vùng Ngũ Đại Hồ Phi Châu. Với một phần lãnh thổ nằm ở miền Nam Phi Châu, Tanzania giáp giới với Kenya và Uganda về phía Bắc, Rwanda, Burundi và Cộng hòa Dân chủ Congo về phía Tây. Ở phía Nam, Tanzania có biên giới chung với một số quốc gia như Zambia, Malawi và Mozambique. Còn ở phía Đông, Tanzania hướng ra Ấn Độ Dương.
Với gần 52 triệu dân rải rác trên gần một triệu cây số vuông, dân số Tanzania gồm nhiều sắc tộc, ngôn ngữ và tôn giáo khác nhau. Sau Đệ nhất Thế chiến, Tanzania bị Anh Quốc cai trị. Mãi cho đến đầu thập niên 1960, Tanzania mới được trao trả độc lập. Cho tới nay, Tanzania vẫn còn bị xếp vào hạng một trong những nước nghèo nhất thế giới. Theo chỉ số Nghèo đói Toàn cầu (Global Hunger Index) của năm 2010, tình trạng nghèo đói tại Tanzania được xem là ở mức báo động. Trẻ con tại các vùng nông thôn không những bị xem là thiếu dinh dưỡng mà còn đói lả triền miên. Có đến 68 phần trăm dân số nước này sống dưới mức nghèo đói, tức mỗi ngày không kiếm được 1.25 Mỹ kim để sống.
Tình trạng nghèo đói  dĩ nhiên đẻ ra nhiều tệ nạn trong đó đáng báo động hơn cả là nạn gả bán con gái còn nhỏ như một đồ vật. “Kupura” là tiếng mà người Tanzania dùng để diễn tả tình trạng bắt cóc, hãm hiếp và cưỡng bách kết hôn tại miền Bắc nước này. Tương ứng với 3 tệ nạn trên đây là 3 thứ “đặc tính” của người đàn ông thuộc bộ lạc Sukuma, thuộc tỉnh Shinyanga, Bắc Tanzania. Đó là rượu, thịt và đàn bà! Đây là 3 thứ mà người đàn ông thuộc bộ lạc này xem như “đặc quyền” của họ.
Theo giải thích của ông Revocatus Itendelebanya, một luật sư đang làm việc cho tổ chức phi chính phủ có tên là AGAPE hiện đang hoạt động tại Tanzania, “khi một người đàn ông thuộc bộ lạc Sukuma cảm thấy bị hấp dẫn bởi một cô gái, ông ta liền hỏi xem người dân địa phương cô ta sống ở đâu và có những thói quen nào”. Một khi đã có được đầy đủ thông tin về cô gái, ông liền rình rập ở một nơi nào đó và bắt cóc cô ta.
Đây là chuyện xảy ra như cơm bữa tại miền Bắc Tanzania. Thành ra cha mẹ của cô gái thường không tỏ ra ngạc nhiên khi biết được chuyện gì đã xảy ra con gái của mình. Nhưng thay vì đi trình báo cho cảnh sát, họ lại đi tìm người đàn ông để thương lượng và thương lượng không phải để chuộc lại mà để ngả giá về con mình.
Tại miền Bắc Tanzania, con gái thường được xem như một thứ sở hữu để đầu tư trong ngắn hạn. Với giá chỉ bằng vài con bò, đứa con gái nhỏ có thể giúp thay đổi được tình trạng tài chính của gia đình. Gặp trường hợp con gái của mình không được người đàn ông nào để ý tới, cha mẹ của em sẽ mang em đến một người vừa là lang y vừa là phù thủy để tiến hành thủ tục trừ tà và mang lại may mắn cho em và gia đình em. Thông thường vị lang y kiêm phù thủy này sẽ dùng dao lam kẻ trên ngực và bàn tay cô gái những hình chữ thập. Đây là những hình thù không những được cho là có sức tẩy trừ bất hạnh ra khỏi cô gái mà còn biến cô thành một người hấp dẫn hơn đối với những người đàn ông lớn tuổi.
Bị gả bán khi còn nhỏ, một cô gái tên là Grace Masanja đã kể lại nỗi nhục nhã và đớn đau mà cô phải trải qua khi bị gia đình gả bán cho một người đàn ông lớn tuổi. Cha cô đã cưỡng bách cô phải lấy một người đàn ông lớn tuổi. Mặc dù bị cha dùng gậy và nịt da đánh đập, cô gái vừa mới học xong bậc tiểu học này  vẫn cương quyết không chịu lấy người đàn ông già. Nhưng cuối cùng, khi không còn đủ sức để chống lại sự bức bách của người cha, cô đành phải nhắm mắt xuôi tay mặc cho số phận đẩy đưa. Và giá mà cha cô đã bán  cô cho người đàn ông lớn tuổi chỉ là một chục con bò. Một buổi sáng nọ, người chồng tương lai đến nhận hàng. Cô bị bắt đưa lên một chiếc xe gắn máy. Kể từ đó, hàng đêm trong 11 tháng sau đó, cô đã bị hãm hiếp và đánh đập một cách dã man. Lúc đó, Grace Masanja chỉ mới 12 tuổi.
Về  hôn nhân và gia đình, luật pháp Tanzania hiện vẫn còn đầy dẫy những luật lệ mâu thuẫn. Năm 1971, Quốc hội nước này thông qua luật hôn nhân, theo đó tuổi tối thiểu để kết hôn đối với phái nữ là 15, với điều kiện phải có sự ưng thuận của cha mẹ. Nhưng cũng theo luật này, một cô gái 14 tuổi cũng có thể lập gia đình nếu có sự đồng ý của tòa án.
Đến năm 2009, chính phủ nước này lại ban hành Luật Thiếu Nhi. Luật này  không minh thị bãi bỏ luật hôn nhân trước đó mà chỉ định nghĩa trẻ con như một người dưới 18 tuổi cần được cha mẹ bảo vệ khỏi những hành vi “kỳ thị, bạo động và lạm dụng”.
Bên cạnh luật hôn nhân được ban hành năm 1971 vốn vẫn còn có giá trị, Tanzania còn một luật khác có từ năm 1963, gọi là Luật “Phong tục Địa phương”. Luật này cho phép nhiều sắc dân khác nhau của nước này sống theo những phong tục và truyền thống riêng của họ.
Chính phủ Tanzania đã nhiều lần bắn tiếng sẽ dựa vào Hiến Pháp để duyệt xét lại những luật đầy mâu thuẫn trên đây. Nhưng trong cuộc vận động tranh cử tổng thống hồi năm ngoái, vì thiếu những cuộc thăm dò dư luận trong nước, cho nên vấn đề này không hề được đề cập tới.
Chỉ mới dạo tháng 7 vừa qua, chính phủ mới tuyên bố sẽ bãi bỏ việc cưỡng bách trẻ con lập gia đình. Nhưng nhiều người cho rằng đây có thể chỉ là một lời tuyên bố suông. Kinh nghiệm cho thấy Chính phủ Tanzania luôn tỏ ra bất lực trước vô số truyền thống, phong tục và hủ tục của nhiều bộ lạc khác nhau.
Năm 1998, chính phủ ban hành luật ngăn cấm việc cắt âm vật của phụ nữ. Thế nhưng một cuộc nghiên cứu do chính phủ thực hiện hồi năm 2010 lại cho thấy tại thôn quê trong vùng Mara, vẫn còn 40 phần trăm phụ nữ và trẻ em gái bị cắt âm vật.
Hiện nay tại Tanzania, cứ 10 em gái, có khoảng 4 em bị cưỡng bách phải kết hôn trước tuổi 18. Đây không phải là tỷ lệ cưỡng bách kết hôn cao nhất trong những nước vẫn còn giữ hủ tục này. Tuy nhiên đó vẫn là một trong những vấn đề xã hội trầm trọng của Tanzania, cách riêng trong vùng Shinyanga là nơi có đến gần 60 phần trăm trẻ em gái, trong đó có những em chưa đầy 9 tuổi, bị đem gả bán cho những người đàn ông lớn tuổi.
Thật ra, theo ông Itenlelebanya, những con số được phổ biến có lẽ chưa nói hết được thực trạng đang xảy ra tại nhiều vùng nông thông của Tanzania. Một phần vì nạn tham nhũng trong giới cảnh sát, một phần vì các viên chức tòa án tìm cách che đậy do bị mua chuộc.
Luật sư Itendelebanya cho biết: có một số trường hợp cảnh sát được trả tiền để nhắm mắt làm ngơ trước những vụ cưỡng bách kết hôn ở vùng thôn quê hoặc để xóa bỏ bằng chứng hoặc ngay cả giúp ngụy tạo giấy khai sinh của những trẻ em bị gả bán.
Vụ gả bán một cô gái tên là Agnes Dotto là một trường hợp điển hình cho thấy tình trạng tham nhũng của cảnh sát Tanzania.  Dạo tháng 9 năm vừa qua, người dân tại một làng quê ở Muchambi bỗng nhiên thấy xuất hiện trong nhà của một người dân quê nghèo 16 con bò. Ai cũng biết rằng người nông dân nghèo này có một cô con gái 13 tuổi tên là Agnes Dotto. Một bằng chứng rõ rệt hơn nữa là người nông dân này tổ chức tiệc cưới và mời dân làng đến tham dự.
10 ngày sau đó, được nhân viên của tổ chức phi chính phủ AGAPE phi báo, cảnh sát đã đến điều tra. Chú rể đã bị bắt giữ và dẫn về trạm cảnh sát gần đó. Trên nguyên tắc, người đàn ông này sẽ phải bị giữ lại trong đồn cảnh sát để đợi ngày ra tòa. Nhưng ngày hôm sau ông ta được trả tự do. Rồi kể từ đó chẳng còn ai thấy bóng dáng của ông và cô gái. Một nhân viên của tổ chức AGAPE đã thấy tối hôm đó nhân viên cảnh sát đã đi gặp các “tiên chỉ” trong làng. Theo nhân viên này, các “tiên chỉ” của làng đã được gia đình cô gái trả tiền để dàn xếp cuộc hôn nhân. Do đó, đến lượt mình, các “tiên chỉ” cũng đã trả tiền cho viên cảnh sát và như vậy người đàn ông được gia đình gả bán đứa con đương nhiên được trả tự do.
Ba tháng sau đó, cảnh sát báo cáo rằng họ không thể tìm ra tung tích của cô gái hay người đàn ông mà cô bị cưỡng bách phải làm vợ.
Được sống sót hay được trả tự do sau một vụ cưỡng bách kết hôn không phải là điều thường xảy ra đối với những bé gái bị gia đình mang ra gả bán. Grace Masanja là một trong rất ít nạn nhân đã tìm được tự do, nhưng không bao giờ có được một cuộc sống bình thường. Sau 11 tháng liền hãm hiếp và hành hạ Grace, chồng cô đã bị thiệt mạng trong một tai nạn giao thông. Được giải thoát, nhưng Grace, hiện chỉ mới 13 tuổi, đã không bao giờ biết được thế nào là niềm vui của tuổi thơ. Người đàn ông đã hãm hiếp và hành hạ em đã ra đi, nhưng em hiện phải chăm sóc cho một đứa con nhỏ mà không có một đồng trong túi.
Grace và đứa con trai tên là Mathias hiện đang sống trong gia đình của cha mẹ em. Giữa em và cha em lúc nào cũng có chiến tranh lạnh. Được hướng dẫn qua đài phát thanh, Grace đã ghi danh theo học nghề tại một trung tâm huấn nghệ do tổ chức AGAPE điều khiển. Phần lớn các thiếu nữ theo học nghề may. Nhưng cũng có một số học nghề điện và hàn xì. Những em này đã chọn nghề này để đánh đổ những quan niệm và lối cư xử trọng nam khinh nữ vốn ăn sâu trong xã hội Tanzania. Ngoài ra, có được kỹ năng để sinh sống, các thiếu nữ này cũng muốn góp phần vào việc tránh cho gia đình khỏi rơi vào cái bẫy của việc gả bán con cái như đồ vật.
Người cha của Grace đã hối hận vì đã gả bán con mình để đổi lấy một số hiện vật. Ông đã xin lỗi con gái mình. Nhưng vết thương trong thân xác và tâm hồn cô vẫn còn sâu đậm. Cô vẫn lo sợ cho số phận của cô em gái mới 4 tuổi của cô. Cô cho biết: cha cô đã gã bán cô với giá trên 10 con bò. Ông đã bán một số để xây nhà mới. Hiện ông chỉ còn 6 con bò. Cô gái lo sợ cho số phận của cô em gái mình là phải, bởi vì một khi đã bán hết số bò còn lại, cha cô sẽ nghèo đi và dĩ nhiên, viễn tượng của việc gả bán con gái để lấy tiền không phải là chuyện không thể xảy ra, nhất là khi cảnh sát và giới chức tòa án lúc nào cũng dễ dàng bị mua chuộc và luật pháp Tanzania lại dung túng cho những hủ tục vẫn được duy trì dưới danh nghĩa phong tục và tập quán địa phương.
(http://www.aljazeera.com/indepth/features/2016/07/tales-child-bride-father-sold-12-cows)


Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2016

Thế giới vẫn mãi là một nơi đáng sống


Chu Thập
29.7.16

Tôi vẫn mơ ước trước khi “về cội” được làm một chuyến viễn du đến một số nước mà mình chỉ thăm thú một cách hàm thụ qua sách vở hay truyền hình. Nhưng tình hình thế giới hiện nay khiến tôi chùn bước. Nhìn đâu cũng thấy sợ. Tôi đã bắt đầu cảm thấy dị ứng với đám đông. Cứ thấy có đông người là tôi sợ. Không riêng gì ở Trung Đông hay các nước “Hồi Giáo” là những nơi mà các cuộc khủng bố giết người hàng loạt xảy ra như cơm bữa, mà ngay tại các nước Tây Phương cảnh bắn giết cũng đã trở thành “chuyện thường ngày ở huyện”.
Nhìn vào Hoa Kỳ và nghe những lời “tuyên sấm” của các chính trị gia, tôi thấy bức tranh lại càng ảm đạm u ám hơn. Cứ như tận thế sắp xảy ra. Tôi không phải là công dân Mỹ. Có nhiều lý do riêng tư khiến tôi không muốn vào thiên đàng Mỹ. Nhưng bởi Hoa Kỳ đang là siêu cường số một thế giới và nhứt cử nhứt động của nước này đều có ảnh hưởng đến tình hình thế giới cho nên tôi thấy chuyện của nước Mỹ cũng là chuyện của mình. Hoa Kỳ chỉ cần ho nhẹ hay cảm sốt xoàng thôi thế giới cũng đã ớn lạnh xương sống rồi chớ đừng nói tới chuyện nước này sắp dẫy chết đến nơi. Vậy mà nghe bài diễn văn dài hơn 4000 từ mà ông Donald Trump đã đọc tối thứ Năm 21 tháng 7 vừa qua,  khi được Đảng Cộng Hòa chính thức đề cử ra tranh chức tổng thống Mỹ vào tháng 11 tới đây, tôi thấy muốn “rụng rời tay chân”. Hoa Kỳ sắp sụp đổ đến nơi và chỉ có ông mới là vị cứu tinh duy nhứt có thể cứu vãn tình hình.
Bức tranh mà ông Trump đã vẽ ra về nước Mỹ thật là u ám. Và dĩ nhiên, vì ảnh hưởng rộng lớn của nước Mỹ, bóng đen của nước này cũng bao phủ lên toàn thế giới.
Trong cố gắng đi tìm sự thanh thản và bình an cho tâm hồn, tôi luôn tập nhìn vào các biến cố trên thế giới với cái nhìn lạc quan. Lượng thông tin quá tải được dội vào tai mắt tôi mỗi ngày quả thật chỉ toàn là tin xấu. Thế giới như  trở thành một nơi ngày càng nguy hiểm. Nhưng có thật như thế không?
Trong cuốn sách có tựa đề “The Better Angels of Our Nature: Why violence has declined” (Những thiên thần tốt hơn của bản chất chúng ta: Tại sao bạo động đã giảm sút) được xuất bản năm 2011, tác giả Steven Pinker đã đưa tôi vào một thế giới tốt đẹp hơn nhiều. Trước hết, về tỷ lệ sát nhân trên toàn thế giới, tác giả ghi nhận rằng số người chết không do chiến tranh đã giảm sút rất nhiều. Bức tranh của thế giới cũng sáng sủa hơn trước kia nhiều bởi vì nạn bạo hành đối với phụ nữ ngày càng được phơi bày, ý thức của dân chúng ngày càng cao do đó tệ nạn này cũng ngày càng được đề phòng và giảm sút đáng kể. Trong khi ngọn đèn của truyền thông lúc nào cũng rọi vào những vụ bạo hành nơi giới nghệ sĩ, thể thao...khiến cho người ta có cảm tưởng như bạo hành đối với phụ nữ ngày càng gia tăng, thì tại Mỹ chẳng hạn, những con số thống kê chính thức của Bộ Tư pháp lại cho thấy tỷ lệ bạo hành đối với phụ nữ đã giảm sút rất nhiều từ vài thập niên vừa qua.
Riêng về bạo hành đối với trẻ con, truyền thông đã tỏ ra rất tinh nhậy về những vụ bắn giết trong các trường học, những chuyện bắt cóc, bắt nạt và hãm hiếp...như thể trẻ em ngày nay phải sống trong một thế giới ngày càng nguy hiểm. Trong thực tế, các số liệu lại chứng tỏ rằng trẻ con ngày nay được an toàn hơn bao giờ hết.
Nhưng quan trọng hơn cả, nói đến tình hình thế giới là phải nói đến chiến tranh. Tác giả Pinker khẳng định rằng trong một diễn biến lịch sử chưa từng có, con số các cuộc chiến tranh giữa các nước đã giảm đi rất nhiều kể từ năm 1945 và những cuộc đụng độ giữa các siêu cường hay các nước phát triển đã hầu như trở thành lịch sử. Trong một bài báo được đăng trên tạp chí The Wall Journal Street, tác giả đã khẳng định rằng bạo động đã sút giảm đi nhiều và ngày nay chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên an bình nhứt (https://www.psychologytoday.com/blog/excellent-beauty/201607/is-the-world-more-dangerous-now-ever).
Nhìn lại hoạt động của Liên Hiệp Quốc trong thời gian gần đây, tôi cũng nhận thấy bức tranh của thế giới vẫn còn sáng sủa. Chương trình Thực phẩm Thế giới WFD đã giúp cứu đói hàng triệu triệu người. Trong năm 2015, chương trình này đã cung cấp thực phẩm cho hơn 6 triệu người tỵ nạn. Đáng kể nhứt là hoạt động của Tổ chức Y tế Thế giới WHO. Nhờ chương trình này, tỷ lệ của trẻ em dưới 5 tuổi  bị thiếu ký tại các nước đang phát triển đã từ 28 giảm xuống còn 17 phần trăm. Số trẻ em chết dưới 5 tuổi cũng đã giảm đi rất nhiều. Con số những người chết vì nhiễm vi rút HIV trên toàn thế giới đã giảm đến 43 phần trăm. Riêng Quỹ Nhi Đồng Quốc Tế UNICEF cũng đã giúp nâng cao sức khỏe của hàng triệu trẻ em tại các nước đang phát triển. Nói gì đến Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc UNHCR và Quân đội Gìn giữ Hòa bình của Liên Hiệp Quốc: Liên Hiệp Quốc đã không giải quyết được mọi vấn đề của thế giới, nhưng ít ra cũng giúp xoa dịu các vết thương đau và mang lại hy vọng hòa bình cho nhiều nơi (x. Who can run the U.N? Tạp chí Time 1/8/2016).
Tôi tin tác giả Pinker hơn các nhà “tiên tri” của thời đại chuyên vẽ ra một thế giới u ám để hù dọa và thổi bùng lên ngọn lửa thù hận trong lòng người.  Như tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc đã nhận định trong  bài “ văn hóa thù hận” (x.http://www.voatiengviet.com/a/van-hoa-thu-han), sự thù ghét người di dân, cách riêng người Hồi giáo, ngày càng lan rộng. Tại Hoa Kỳ, ứng cử viên Donald Trump đã nhiều lần đưa ra những tuyên bố sặc mùi phân biệt chủng tộc và chống người di dân. Tại Vương quốc Anh, sự kiện có đến 52 phần trăm dân chúng bỏ phiếu chọn tách ra khỏi khối Liên Hiệp Âu Châu cũng nói lên phần nào sự thù ghét đối với người di dân. Riêng tại Úc Đại Lợi, sự trở lại Quốc Hội của bà Pauline Hanson, lãnh tụ của Đảng One Nation chống Hồi giáo và di dân, cách riêng người Á Châu, quả là một điều đáng lo ngại.
Nếu thế giới này có trở nên u ám, nguy hiểm và khó sống hơn hẳn không phải vì thiếu an toàn cho bằng sự thù hận đang đốt cháy tâm hồn con người. Nhưng tôi lạc quan bởi vì bên cạnh những lãnh tụ chuyên hù dọa và khai thác sự thù hận vẫn còn có những tiếng nói của lương tâm, lẽ phải và tình người. Tôi đặc biệt chú ý đến thái độ của người con trai của ông Curtis Cheng, kế toán viên lâu năm trong ngành cảnh sát đã bị một thiếu niên Hồi Giáo cuồng tín sát hại hồi đầu tháng 10 năm ngoái. Trong một lần xuất hiện trong chương trình Q&A của Đài ABC mới đây, bà Pauline Hanson đã nhắc đến cái chết của ông Cheng và yêu cầu chính phủ phải cho thiết lập một Ủy ban Hoàng gia để điều tra về Hồi Giáo, vì cho rằng Hồi Giáo  là một ý thức hệ chính trị chớ không phải là một niềm tin tôn giáo.
Mới đây, trong một lá thư ngỏ gởi cho bà Pauline Hanson, người con trai cả của ông Cheng là Alpha Cheng đã yêu cầu bà đừng liên kết cái chết của cha anh cũng như cuộc khủng bố tại tiệm cà phê Lindt cách đây 2 năm với cộng đồng Hồi Giáo. Alfa Cheng viết: “Cha tôi đã bị một thiếu niên 15 tuổi sát hại. Tôi không thể chối bỏ sự kiện các hung thủ đã tự xưng là người của “Quốc gia Hồi giáo”. Tuy nhiên, không thể suy luận từ những sự kiện này để bảo rằng Hồi Giáo là những người đáng sợ”. Alfa cho biết các mối quan hệ thân thiết của anh với các bạn và sinh viên Hồi Giáo đã không hề thay đổi sau cái chết của cha anh. Anh khẳng định: “Họ (những người Hồi Giáo) cũng có những hy vọng và ước mơ như mọi người Úc là được thành công trong cuộc sống và hưởng được mọi thứ tự do như chúng ta”.
Đề cập đến đề nghị của bà Pauline Hanson không nhận người di dân Hồi Giáo vào Úc, Alfa kể lại: “Tôi còn nhớ khi mới đến Úc, tôi đã là nạn nhân của những thái độ thù hận và sợ hãi mà Đảng One Nation đã khơi dậy. Tôi còn nhớ đã từng cho biết sẽ bị mang trả lại nơi tôi đã đến vì tôi là một người Á Châu.”
Alfa kêu gọi: “Chúng ta cần phải tìm cách hàn gắn và xây dựng, chớ không phải chia rẽ và loại trừ. Cha tôi là một người hiền hậu và hiếu hòa. Đừng sử dụng tên của ông để gieo rắc sợ hãi và loại trừ”.
Thù hận thường làm cho con người trở nên bi quan và do đó dễ có cái nhìn nghi kỵ, sợ hãi đối với người khác. Đó là thế giới đặc trưng của người cộng sản. Người cộng sản nhìn đâu cũng thấy kẻ thù. Dù có ăn cướp và tích lũy được tiền rừng bạc bể đi nữa, sống trong một thế giới đầy hận thù và nghi kỵ như thế, con người khó có được sự an lạc và hạnh phúc.
Thế giới chưa phải là một nơi hoàn hảo. Nhưng tôi tin rằng thế giới này vẫn là một nơi đáng sống và là nơi tôi vẫn tìm ra được ý nghĩa cho cuộc sống tại thế này. Tất cả đều tùy ở cái tâm của tôi. Nếu tầm hồn tôi lúc nào cũng cưu mang hận thù, ghen ghét, đố kỵ và sợ hãi tôi không thể nào có được niềm an bình và tìm ra được lẽ sống đích thực.
Mấy ngày vừa qua, đối lại những cảnh bắn giết xảy ra liên tục tại nhiều nơi trên thế giới và nhứt là bức tranh ảm đạm của nước Mỹ và thế giới được ứng cử viên Donald Trump vẽ ra để hù dọa và gieo rắc sợ hãi và thù hận, tôi nghiền ngẫm một câu chuyện được một số bạn bè chia sẻ trên “meo đàn”. Chuyện kể về một lão bà đã 92 tuổi được đưa vào một viện dưỡng lão. Người chồng đã chung sống với bà 70 năm vừa mới qua đời. Sau nhiều giờ kiên nhẫn chờ đợi trong phòng khách của viện dưỡng lão, bà cụ cười một cách mãn nguyện khi được báo phòng của bà đã sẵn sàng.
Khi nhân viên của viện dưỡng lão mô tả vài nét về căn phòng nhỏ bé nơi bà sẽ ở, cụ bà hớn hở thốt lên “tôi thích lắm” như một bé gái 8 tuổi vừa tiếp nhận một con chó nhỏ. Người có trách nhiệm dìu cụ bà về phòng thắc mắc: “Nhưng thưa cụ, cụ đã thấy phòng của mình đâu mà thích?” Cụ nhanh nhẩu giải thích: “Điều đó không quan trọng. Hạnh phúc là một điều bạn quyết định trước. Tôi có thích phòng của tôi hay không không tùy thuộc vào các nội thất được bày biện trong phòng...mà chính là cách chúng được sắp đặt trong tâm trí tôi. Tôi đã quyết định thích căn phòng của tôi. Đó là một quyết định tôi làm mỗi buổi sáng khi thức dậy.Tôi có một chọn lựa: hoặc là tôi nằm lì trên giường suốt ngày để gậm nhấm những khó khăn do một số cơ phận trong thân thể tôi tạo ra vì chúng  không còn hoạt động nữa hoặc là ra khỏi giường và tạ ơn vì vẫn còn một số cơ phận đang hoạt động. Mỗi ngày là một quà tặng và bao lâu mắt tôi còn mở thì tôi sẽ tập trung vào ngày mới và những kỷ niệm đẹp mà tôi đã tích lũy cho giây phút này đây. Tuổi già cũng giống như một sổ băng: bạn rút ra những gì mà bạn đã gởi vào.”
Để sống hạnh phúc, cụ bà đưa ra một số lời khuyên như: đừng quá lo lắng, hãy sống đơn giản, hãy trao ban nhiều hơn, hãy chờ đợi ít hơn. Nhưng được đặt lên hàng đầu là lời khuyên: hãy loại bỏ khỏi tâm hồn mọi hận thù.
Tôi tin đó là liều thuốc an thần đích thực có thể mang lại cho tôi thanh thản và bình an.






Thứ Tư, 3 tháng 8, 2016

Con người kỳ lạ


Chu Thập
6.11.12


Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ đã được tôi theo dõi với tất cả say mê và hồi hộp chẳng khác nào Giải Túc Cầu Thế Giới. Và cũng như nhiều người Việt tỵ nạn khác, trái tim tôi nghiêng hẳn về đội Cộng hòa. Nghe ứng cử viên cộng hòa Mitt Romney chiến thắng trong cuộc tranh luận đầu tiên, tôi mừng. Thấy ông thua điểm trong hai cuộc tranh luận còn lại, tôi buồn. Tôi đi theo vết chân ông trong từng tiểu bang.
Rất dễ hiểu, tôi ủng hộ Cộng hòa vì một lý do rất đơn giản: cũng như nhiều người Việt tỵ nạn khác, tôi nghĩ một cách đơn giản rằng chỉ có Cộng Hòa mới “chống cộng”, chỉ có cộng hòa mới dám làm dám chọi với mấy chế độ độc tài. Tôi phục lăn ông tổng thống cựu tài tử đóng phim cao bồi Ronald Reagan: đứng trước bức tường Berlin chia cách Đông và Tây Đức, ông dám nói thẳng với “đồng chí” tổng bí thư cộng sản Liên Xô Mikhail Gorbachev: “Hãy đạp đổ bức tường này đi”. Chỉ có ông mới dám “tháu cáy” anh cộng sản Liên xô khi đề ra cuộc chiến tranh không gian và buộc anh này phải chạy đua cho đến lúc kiệt sức và té nhào mới thôi!
Tôi cũng hết sức cảm phục khí phách của ông tổng thống cộng hòa “cao bồi Texas” George W. Bush. Chỉ có ông mới dám thẳng thừng gọi đích danh ba nước “mất dạy” Iran, Irak và Bắc Hàn là “cái trục Ma quỷ”. Và cũng chỉ có ông tổng thống cộng hòa này, liền sau cuộc khủng bố 11 tháng 9 năm 2001, mới dám đưa quân sang xâm chiếm Irak và truy lùng bọn khủng bố ở tận sào huyệt bên Afghanistan.
Thích cộng hòa, cho nên dĩ nhiên tôi không thể chơi với mấy anh Dân Chủ. Tôi không mấy nể phục cái ông tổng thống tài ba và đào hoa Bill Clinton. Dẻo miệng nói sao cũng được, nhưng lại mang tiếng “bội thề” khi phải ra cung khai trước công chúng về chuyện dan díu của mình với một cô tập sự viên trong Tòa bạch ốc. Tôi lại càng không ưa cái anh Barack Obama ba hoa chích chòe, hứa hẹn đủ thứ mà xem ra chẳng làm được gì cả. Ngoài ra, do những xác tín cá nhân, tôi dứt khoát không bỏ phiếu cho ông, vì ông công khai ủng hộ hôn nhân đồng tính và cho phép phá thai.
Về chuyện ủng hộ Cộng Hòa hay Dân Chủ trong cuộc bầu cử vừa qua, tôi đã có thái độ rõ ràng và dứt khoát như thế. Nhưng nhìn lại, tôi mới thấy mình thật nông nổi. Có ông tổng thống Mỹ nào trắng ra trắng và đen ra đen hẳn đâu. Nhiều khi ra tranh cử nói vậy, đến lúc cầm quyền không phải vậy. Nhớ lại thời chiến tranh Việt nam. Rõ ràng là dưới thời một tổng thống Dân chủ là Lyndon B. Johson mà quân đội Mỹ được ào ạt đưa vào Việt nam. Ai bảo Dân Chủ không chống cộng? Thế rồi lại chính dưới thời một tổng thống cộng hòa Richard Nixon mà Miền Nam Việt Nam đã bị bán đứng cho cộng sản, sau khi ông tổng thống này sang tận Trung Cộng bắt tay với đồ tể Mao Trạch Đông. Ai bảo Cộng Hòa triệt để chống cộng?
Tôi thấy các ông tổng thống Mỹ, dù thuộc Đảng nào, cũng giống nhau hết. Ông nào cũng có thể nói một cách trắng trợn như tổng thống Richard Nixon khi sang Trung quốc hồi năm 1972: Hoa kỳ bắt tay với Trung Quốc là trước tiên vì quyền lợi của mình. Dù thuộc Đảng nào, ông tổng thống Mỹ nào cũng vì nước Mỹ mà thôi, chớ hơi sức đâu mà để ý đến mấy chuyện mà họ cho là bao đồng ở Việt nam của tôi!
Xét cho cùng, Cộng hòa hay Dân Chủ có lẽ cũng chỉ là cái áo khoác bên ngoài. Bên trong cái áo khoác ấy là gì mới là điều quan trọng và cái bên trong ấy thường là một điều “kỳ lạ” khó hiểu.
Hai tiếng “kỳ lạ” mà tôi sực nhớ đến là ngôn ngữ của một trong những vị tổng thống nổi tiếng nhứt trong lịch sử Hoa kỳ là Abraham Lincoln. Tạp chí Time số ra ngày 5 tháng 11 vừa qua đã dành nhiều trang để nói về ông tổng thống này. Theo tạp chí Time, trong một số bài tự sự, tổng thống Lincolm đã tự mô tả mình như “một thanh niên kỳ lạ, không bạn bè, vô học, không một đồng xu dính túi” khi ông rời  bỏ làng mạc để gia nhập vào “thế giới” văn minh. Chữ “kỳ lạ” được tôi dịch từ tiếng Anh “strange” do chính ông Lincoln xử dụng. Về sau, những nhà xuất bản Toàn tập các tác phẩm của ông nhận thấy chữ này có thể gây ngộ nhận và lúng túng chăng cho nên họ mới sửa lại thành “ stranger” , nghĩa là “người lạ”.
Kỳ thực, khi tự mô tả như  một người “kỳ lạ”, tổng thống Lincoln thực sự muốn nói rằng ông là một người chẳng giống ai. Các đối thủ của ông đã tặng cho ông một tên riêng chẳng thanh tao chút nào là “Gorilla” (Khỉ đột), bởi vì người ông cao lớn lại có hai cánh tay dài quá khổ và cặp lông mày rậm rạp trông chẳng khác gì khỉ. Vậy mà khi nói, giọng ông lại cao và the thé nghe chẳng hấp dẫn chút nào.
Chính vì “kỳ lạ” không giống ai mà vị tổng thống thứ 16 của Hoa kỳ này rất lạc lõng cô độc. Có thể nỗi buồn vì cái chết của người mẹ trẻ và người em gái khó nguôi ngoai chăng mà tổng thống Lincoln thích sống đơn độc hơn là đi vào thâm giao với người khác. Luật sư đồng nghiệp của ông là ông William Herndon viết rằng ông “không bao giờ có một người thân tín. Ông là con người trầm lặng và khép kín chưa từng thấy”.
Sau khi tổng thống Lincoln qua đời, nhiều người bắt đầu thu thập tài liệu để viết tiểu sử của ông. Nhưng không có lấy hai người đồng ý với nhau về tính khí của vị tổng thống lừng danh này. Người thì bảo ông là một con người đầy tham vọng. Kẻ khác lại cho rằng ông không có chút mảy may tham vọng nào. Người thì quả quyết rằng ông là mẫu người vui vẻ nhứt chưa từng thấy. Người lại nói rằng ông là người buồn bã nhứt. Với người này, ông là người có một ý chí sắt đá.Với người khác, ông là người hầu như chẳng có chút ý chí nào. Có người đề cao ông như một con người có trái tim nhân hậu. Nhưng cũng không thiếu người tố cáo ông là một bạo chúa. Tác giả của quyển tiểu sử đầu tiên về Abraham Lincoln là ông J.G Holland viết rằng con người thật của ông chính là tổng hợp của những mâu thuẫn nói trên.
Chính vì những mâu thuẫn này mà tổng thống Lincoln được lắm người ủng hộ và ca ngợi nhưng cũng bị lắm kẻ dèm pha và tố cáo. Ông được ca tụng như một “Nhà đại giải phóng”, nhưng đồng thời cũng bị chỉ trích như một kẻ kỳ thị chủng tộc. Ông được tung hô như một vị anh hùng giải phóng người nô lệ nhưng cũng bị tố cáo như một dụng cụ của các kỹ nghệ gia. Ông vừa được ca ngợi như một người xây dựng hòa bình vừa bị chê cười như một kẻ gây hấn, được yêu mến vì tranh đấu cho tự do nhưng cũng bị chỉ trích vì chống lại các quyền tự do dân sự.
Chính vì những mâu thuẫn ấy mà tổng thống Lincoln được cả Cộng hòa lẫn Dân chủ đều ca ngợi. Cả hai Đảng đều xem ông như một tổng thống vĩ đại của lịch sử Hoa kỳ. Từ cuộc đời và tính khí đầy mâu thuẫn của ông, họ có thể học được bài học về “quân tử”. Một thí dụ điển hình cho thấy tính quân tử của con người đày mâu thuẫn này là cách xử đẹp của ông với một đối thủ là ông Edwin Stanton, người đã từng gọi ông là “con khỉ khốn nạn có đôi cánh tay dài” . Mặc dù bị ông luật sư này luôn xem thường, ông vẫn đặt ông ta ngồi vào ghế Bộ trưởng Chiến tranh.
Theo tạp chí Time, tổng thống Lincoln cũng dạy cho các vị tổng thống tương lai đức tính nhẫn nhục. Nhiều người chỉ trích ông đã chờ đợi quá lâu trước khi công bố tuyên ngôn bãi bỏ chế độ nô lệ. Nhưng con người luôn nhẫn nhục chịu đựng này lúc nào cũng hành động theo nguyên tắc “mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời”.
Cùng với sự nhẫn nhục, ông cũng chứng tỏ một óc khôi hài cao độ. Tất cả những ai biết rõ ông đều mô tả ông như một người dí dỏm. Chẳng hạn, khi có người tố cáo ông là người hai mặt, ông liền trả lời: “Nếu tôi có hai mặt, bạn nghĩ tôi chịu mang cái bản mặt này sao?”
Tựu trung, “kỳ lạ” vẫn là từ diễn tả đúng nhứt cho con người và cá tính của tổng thống Lincoln. Khi nhìn lại dung mạo của các vị tổng thống Mỹ mà tôi biết được, dường như tôi thấy vị nào cũng “kỳ lạ” cả. Dù có thuộc Cộng Hoa hay Dân Chủ, mỗi ông đều có thế giới riêng của mình; chẳng có ông nào giống ông nào.
Từ chuyện bầu cử tổng thống Mỹ, suy nghĩ mông lung và lạc đề một chút, tôi cũng nhận thấy rằng “kỳ lạ” không chỉ là thuộc tính của những vị tổng thống Mỹ, mà là đặc điểm của mỗi một người có mặt trên hành tinh này. Ai cũng là một tổng hợp của những mâu thuẫn: trong mỗi người đều có thiên thần và ác quỉ, trong mỗi người đều có thiện có ác. Chính vì thế mà trên trái đất này, chẳng có ai là người “hoàn hảo” theo đúng nghĩa.  Mỗi người, vì là “cá nhân”, cho nên đều là một thế giới đầy bí hiểm. Ông bà ta đã bảo: sông sâu còn có kẻ đo, nào ai lấy thước mà đo lòng người!
Thiên thần và ác quỉ hiện diện trong cùng một cá nhân, cho nên cuộc sống của mỗi người, xét cho cùng, cũng là một cuộc song đấu liên lỉ giữa thiện và ác. Cuộc sống của cá nhân và mối quan hệ với tha nhân sẽ tốt đẹp hơn khi sự thiện thắng cái ác. Chuyện kể về một nông dân và một người thợ săn là hàng xóm của nhau. Người thợ săn nuôi một đàn chó săn rất dữ tợn. Chúng thường nhảy qua hàng rào để rượt đuổi đàn cừu của người nông dân. Có lúc nhiều con cừu bị thương tích nặng nề. Người nông dân liền đem chuyện trình lên quan phủ. Sau khi lắng nghe câu chuyện, quan phủ bảo: “Ta có thể phạt người thợ săn và bắt anh ta xích hoặc nhốt đàn chó lại. Nhưng anh sẽ mất đi một người bạn và có thêm một kẻ thù. Anh muốn điều gì: một người bạn hay một kẻ thù?”
Dĩ nhiên, người nông dân chỉ muốn có bạn hơn là thù. Quan phủ liền hiến cho anh một cái kế rất hay. Về đến nhà, anh bắt ba con cừu con tốt nhứt của mình và mang tặng cho ba cậu con trai nhỏ của người thợ săn. Đám trẻ vui thích suốt ngày vì được quấn quít bên mấy con trừu con. Để bảo vệ mấy con thú, người thợ săn liền làm một cái cũi để nhốt đàn chó lại. Từ đó trở đi, đàn chó không bao giờ quấy rầy đàn cừu của người nông dân nữa. Cảm kích trước cử chỉ đẹp của người nông dân đối với mấy đứa con của mình, người thợ săn cũng đáp lễ và mang những chiến lợi phẩm sang biếu người nông dân. Cứ thế, hai bên biếu qua biếu lại những gì họ có và dĩ nhiên đã trở thành những người bạn tốt của nhau.
Chuyện đơn sơ nhưng không thiếu phần thâm thúy. Nếu ai cũng biết chiến đấu chống lại cái ác trong bản thân và khơi dậy điều thiện nơi người khác thì mối quan hệ giữa người với người chỉ có thể tốt đẹp hơn mà thôi.
Cái thế giới “kỳ lạ” của mỗi người cũng là một thế giới bí hiểm đầy huyền nhiệm. Con người có thể đi mãi lên Hỏa Tinh để thám hiểm, nhưng chắc chắn sẽ chẳng có ai có thể đi vào nội tâm sâu thẳm của người khác hay ngay cả của chính mình. Hiểu được chính mình đã là điều khó, hiểu được người khác lại càng là điều bất khả thi hơn.  Con người chỉ có thể đi vào cái thế giới “kỳ lạ” của người khác bằng sự cảm thông mà thôi. Cảm thông là cùng chịu đựng, cùng đau khổ với người khác vì những bất toàn và thiếu sót của họ.
Mọi thứ trên đời này đều có thể mai một và qua đi. Nhưng tấm lòng cảm thông thì vẫn mãi mãi còn đó. Cảm thông đưa chúng ta đi vào thế giới thâm sâu của người khác, hiểu hơn cái thế giới “kỳ lạ” của chính mình và dĩ nhiên cũng làm cho chúng ta lớn lên trong nhân cách.



Thứ Hai, 1 tháng 8, 2016

Phụ nữ Pakistan và danh dự gia đình



29.7.16
Mới đây, tin cô Qandeel Baloch, người được mệnh danh là “Kim Kardashian của Pakistan” bị một người anh sát hại để bảo vệ danh dự gia đình, đã làm cả thế giới chấn động.
Với những bức ảnh và băng hình gây tranh cãi, người thiếu nữ 26 tuổi này đã thu hút được một đám đông đáng kể tại một quốc gia Hồi giáo bảo thủ. Nhưng tối ngày 15 tháng 7 vừa qua, trong lúc đang ngủ trong nhà của cha mẹ cô tại Muzaffarabad, một khu ngoại ô của thành phố Multan thuộc tỉnh bang Punjab, cô đã bị một người anh bắt đem đi và siết cổ cho đến chết.
Sau khi bị bắt giữ, Waseem Ahmed Azeem, tên sát nhân, đã dõng dạc tuyên bố rằng ông giết cô em gái chỉ vì cô đã đưa lên Facebook những hình ảnh làm tổn hại danh dự của gia đình.
Trong khi nhiều người, nhất là những người tranh đấu cho nữ quyền tại Pakistan lên tiếng ca ngợi cô Baloch như biểu tượng của sự giải phóng phụ nữ, thì cũng không thiếu những người dùng các trang mạng xã hội để “ăn mừng” vì có thêm một phụ nữ được sát hại để bảo vệ danh dự gia đình.
Theo Đài BBC, hồi năm ngoái đã có khoảng trên 1000 phụ nữ bị người thân sát hại vì bị cho là đã làm tổn thương danh dự của gia đình. Trong bản phúc trình hàng năm mới đây, Ủy ban Nhân quyền Độc lập có trụ sở tại Pakistan cho biết có trên 900 phụ nữ bị bạo hành về tình dục và khoảng 800 người đã tự tử hay toan tự tử. Trong năm 2014, khoảng 1000 phụ nữ đã bị giết chết vì tay người thân để gọi là bảo vệ danh dự gia đình. Phần lớn các nạn nhân hoặc bị bắn hoặc bị đánh đập cho đến chết. Nhưng bị tạt át xít là điều rất thường xảy ra. Được chú ý nhiều nhất là trường hợp bị ném đá đến chết của cô Farzana Parveen bên ngoài Tòa án Tối cao tại Lahore hồi năm 2014. Người phụ nữ này đã tự động kết hôn ngược lại với ý muốn của gia đình. Cha, anh, người anh họ và ngay cả người mà cô đã bị buộc phải đính hôn với đã toa rập với nhau để giết cô.
Vấn đề giết hại phụ nữ để bảo vệ danh dự gia đình tại Pakistan đã tạo cảm hứng cho một cuốn phim tài liệu có tựa đề “A Girl in the River-The Prize of Forgiveness” (Một cô gái trong dòng sông: Giá của sự tha thứ). Cuốn phim đã nhận được trao tặng giải Oscar trong năm nay. Trong bài diễn văn nhận giải thưởng, đạo diễn của cuốn phim, cô Sharmeen Obaid Chinoy nói rằng sau khi xem cuốn phim, Thủ tướng Nawaz Shariff cho biết sẽ nỗ lực chấm dứt tệ nạn giết người vì danh dự gia đình.
Mặc dù Thủ tướng Nawaz Sharif khẳng định rằng giết người thân để bảo vệ danh dự gia đình là điều không hề có trong giáo huấn của Hồi giáo, nhưng  trong thực tế phần lớn những tội ác như thế không hề được mang ra xét xử.
“Giết người vì danh dự gia đình” trong tiếng Urdu, ngôn ngữ chính thức của Pakistan, được gọi là “Karo-kari”. Thoạt tiên, “Karo-kari” là từ dùng để chỉ những kẻ ngoại tình. Về sau, ý nghĩa của từ này được nới rộng để nói đến nhiều hình thức khác nhau của những hành động được xem là vô luân. Và hành động vô luân thì vô số kể: từ việc ngoại tình đến việc từ chối không tuân thủ một cuộc hôn phối được gia đình dàn xếp hoặc có cử chỉ lả lơi và ngay cả bị hãm hiếp. Không cần có đầy đủ chứng cớ mới trở thành nạn nhân của những vụ giết người vì danh dự gia đình. Trong nhiều trường hợp, chỉ cần bị nghi ngờ hoặc do một lời tố cáo vu vơ người phụ nữ cũng có thể bị mang ra hành hình. Một khi người phụ nữ bị dán lên nhãn hiệu “kari” thì những thân của chị tự cho mình có quyền sát hại chị và ngay cả kẻ ngoại tình với chị để gọi là bảo vệ danh dự gia đình. Trong phần lớn các trường hợp, nạn nhân của những vụ tấn công đều là phụ nữ và hầu hết những kẻ tấn công là đàn ông trong gia đình hay ngay cả trong cộng đồng. Cũng không thiếu những trường hợp người phụ nữ bị người nhà sát hại vì những lý do hoàn toàn không ăn nhập gì đến danh dự gia đình như để giải quyết việc thừa hưởng gia tài, dàn xếp chuyện tranh chấp trong gia đình hoặc ngay cả để bỏ vợ và cưới một người khác. Các tổ chức bênh vực nhân quyền tại Pakistan đã không ngừng nhấn mạnh rằng các nạn nhân thường là những phụ nữ muốn được kết hôn theo ý muốn của họ. Trong những trường hợp như thế, các nạn nhân thường là những người đang nắm giữ trong tay một số tài sản mà các thành viên nam trong gia đình không muốn để mất nếu người phụ nữ lấy một người đàn ông bên ngoài gia đình.
Trong một bản phúc trình được cho công bố năm 1999, Tổ chức Ân Xá Quốc Tế khuyến cáo rằng Chính phủ Pakistan đã không tìm cách ngăn chận những vụ giết người vì danh dự gia đình khi không cho mở các cuộc điều tra và trừng phạt thích đáng những kẻ sát nhân. Theo các tổ chức bênh vực quyền phụ nữ,  người phụ nữ Pakistan bị xem như một vật sở hữu hay một thứ “danh dự của gia đình” cần phải bảo vệ bằng mọi giá. Ý niệm này đã ăn sâu vào  cuộc sống xã hội, chính trị và kinh tế của quốc gia Hồi giáo này đến độ chính phủ nhắm mắt làm ngơ trước thảm trạng của các phụ nữ bị người thân trong gia đình sát hại. Sở dĩ chính phủ Pakistan gặp khó khăn trong việc thi hành luật pháp là vì có quá nhiều vùng được tự trị và cai quản bởi những lãnh tụ cực đoan. Người dân trong những vùng tự trị này phải tuân thủ các luật lệ địa phương hơn là luật của chính phủ liên bang. Các vụ giết người vì danh dự gia đình thường xảy ra ở những vùng tự trị hơn các nơi khác. Tỉnh bang Punjab là nơi có tỷ lệ giết người vì danh dự gia đình cao nhất nước. Tại những vùng tự trị, các vụ giết người như thế thường cũng không được báo cáo và do đó cũng khó được điều tra. Một lý do khác khiến các vụ giết người như thế không được báo cáo và điều tra là vì không bị xem như tội ác. Những kẻ giết người được xem như những người thi hành công lý và bảo vệ trật tự xã hội, trong khi đó nạn nhân lại bị xem như những người phạm tội ác và gây xáo trộn trật tự trong xã hội. Thành ra, giết người vì danh dự gia đình hoàn toàn đảo lộn ý niệm “phải trái”, “đúng sai”, “thiện ác” trong xã hội Pakistan. Kẻ giết người trở thành nhà vô địch bảo vệ công lý, còn nạn nhân trở thành tội phạm và bị tố cáo vì hành vi “tội ác”. Cô thân cô thế trong một xã hội mà mình không có tiếng nói, nhiều nạn nhân của những vụ tấn công và giết người vì danh dự gia đình không còn một chọn lựa nào khác hơn là tự tử .
Như Thủ tướng Nawaz Sharif đã khẳng định, Hồi giáo không hề đề cao hành động giết người vì danh dự gia đình. Luật pháp Pakistan cũng không hề cho phép một hành động giết người như thế. Tuy nhiên vì không tích cực cho điều tra và trừng phạt những kẻ sát nhân, Chính phủ Pakistan đã không tìm cách ngăn ngừa hành động giết người vì danh dự gia đình. Như bất cứ một kẻ sát nhân nào, những kẻ sát hại người phụ nữ để bảo vệ danh dự gia đình lẽ ra cũng phải bị truy tố và đem ra xét xử. Nhưng trong thực tế, cảnh sát và các công tố viên thường nhắm mắt làm ngơ trước những hành động  sát nhân như thế.
Sự thất bại của Chính phủ Pakistan trong việc đưa ra những biện pháp thích đáng để chấm dứt tệ nạn giết người vì danh dự gia đình nói lên phần nào sự yếu kém của guồng máy cai trị, tình trạng tham nhũng và nền kinh tế èo uột của nước này. Khi không còn tin tưởng ở chính phủ nữa, người dân thường chạy đến các truyền thống bộ tộc. Tại một số vùng quê của Pakistan, người dân sống theo nguyên tắc “phép vua thua lệ làng”: hội đồng bộ tộc gồm toàn đàn ông quyết định mọi chuyện và những quyết định của họ có giá trị cao hơn luật pháp quốc gia. Quan niệm về công lý và cách thực thi công lý trong các bộ lạc cũng thường được xây dựng trên bạo động.
Trên nguyên tắc, Pakistan là một quốc gia cam kết tôn trọng và bảo vệ quyền của người phụ nữ. Tháng 3 năm 1996, nước này đã phê chuẩn Công ước CEDAW (Convention on the Elimination od All Forms of Discrimination against Women), tức Công ước về việc loại trừ mọi hình thức kỳ thị đối với phụ nữ. Khi phê chuẩn Công ước này, Pakistan cam kết sẽ loại trừ mọi luật pháp có tính kỳ thị và thiết lập những cơ chế và tòa án để bảo vệ phụ nữ.
Đã có một số dấu hiệu cho thấy Chính phủ Pakistan muốn tỏ ra tôn trọng Công ước về việc loại trừ mọi hình thức kỳ thị đối với phụ nữ. Tháng 9 năm 2010, Bộ trưởng Tư pháp của tỉnh bang Punjab đã loan báo rằng những tội ác chống lại phụ nữ, kể cả giết người vì danh dự gia đình, sẽ bị đem ra xét xử theo Luật Chống Khủng Bố của quốc gia. Trước đó, năm 2008, trước áp lực của quốc tế cũng như những tổ chức tranh đấu cho nhân quyền trong nước, Pakistan đã thông qua một luật theo đó kẻ giết người vì danh dự gia đình có thể bị tử hình hay bị tù 7 năm.
Tuy nhiên, các tổ chức bênh vực nhân quyền và quyền của người phụ nữ, đã không tin tưởng rằng luật nói trên được thi hành một cách nghiêm chỉnh. Bằng chứng là thay vì bị trừng phạt, những kẻ sát nhân vẫn tiếp tục được tự do bằng cách trả một món tiền bồi thường cho người thân của các nạn nhân. Sở dĩ có chuyện “bù qua cấn lại” một cách dễ dàng như thế và kẻ sát nhân vẫn không bị trừng phạt là vì trong nhiều trường hợp, gia đình của nạn nhân và gia đình của nguyên cáo cũng là một. Luật pháp Pakistan vẫn tạo ra một kẽ hở để những kẻ sát nhân trong những vụ giết hại vì danh dự gia đình thoát khỏi mạng lưới công lý một cách dễ dàng. Dạo tháng 3 năm 2005, Quốc hội Pakistan đã bác bỏ một dự luật nhằm củng cố luật pháp chống lại việc giết người vì danh dự gia đình. Quốc hội đã tuyên bố rằng luật này không hợp với luật Hồi giáo Sharia. Một năm sau, luật này được thông qua. Tuy nhiên luật này có được triệt để áp dụng không là một chuyện khác.
Dạo tháng 3 vừa qua, sau khi cô Sharmeen Obaid Chinoy nhận giải Oscar vì cuốn phim tài liệu “A Girl in the River: The Price of Forgiveness”, những vụ giết người vì danh dự gia đình vẫn tiếp tục. Tại Lahore, Mohammad Rehmat đã giết cô con gái 18 tuổi của mình chỉ vì cô không chịu cho biết trong 5 tiếng đồng hồ trước đó cô đã ở đâu và làm gì. Ngày hôm sau tại làng Noorshah, Mohammad Asif đã bắn hạ hai cô em gái chỉ vì không chấp nhận “lối sống” của hai cô.
Cuốn phim tài liệu của cô Sharmeen Obaid Chinoy không những là tiếng nói của các nạn nhân, mà còn là một thông điệp cho thấy phim ảnh có thể mở ra con đường cho sự thay đổi xã hội trong một đất nước mà văn hóa và tôn giáo được sử dụng như một vũ khí để nhục mạ và sát hại phụ nữ hơn là nâng cao phẩm giá của họ. Tiếc thay, đối với nhiều người Pakistan hiện nay, gây ý thức để thay đổi xã hội vẫn còn bị xem như một điều tối kỵ và có thể nguy hiểm đến tính mạng.