Thứ Hai, 16 tháng 11, 2015

Chuyện chỉ có ở Vanuatu


13.11.15
Vanuatu là một quốc gia nhỏ bé trong Thái Bình Dương. Ngoài cảnh trí thiên nhiên thơ mộng và cơn bão “Pam” hồi đầu năm nay, các cơ quan truyền thông thế giới ít khi nhắc đến quốc gia có trên 80 hòn đảo nhỏ và với dân số khoảng 250.000 người này. Tuy nhiên, mới đây, theo nhật báo Anh ngữ “The Vanuatu Daily Post”,  đã xảy ra chuyện có lẽ chỉ có ở Vanuatu.
Ngày thứ Sáu 9 tháng 10 vừa qua, 14 người gồm bộ trưởng và các nhà lập pháp Vanuatu, tức một phần ba Quốc Hội, đã bị Tòa án Tối cao nước này kết tội tham nhũng và có thể lãnh bản án 10 năm tù. Hơn nữa, đứng đầu danh sách này lại là Chủ tịch Quốc Hội, ông Marcellino Pipite và Phó thủ tướng, ông Moana Carcasses Kalosil. Theo báo “The Vanuatu Daily Post”, 14 người bị kết án tham nhũng này, theo chương trình, sẽ bị tuyên án vào ngày 22 tháng 10.
Trong khi chờ đợi thì, theo Hiến pháp Vanuatu, khi tổng thống nước này đi công cán ở nước ngoài, Chủ tịch Quốc Hội vẫn đảm nhận tất cả quyền hành và nghĩa vụ của tổng thống, kể cả quyền được ân xá cho bất cứ tội nhân nào. Chuyện đã xảy ra là khi Tổng thống Vanuatu, ông Baldwin Lonsdale đi thăm viếng nước láng giềng Samoa, Chủ tịch Quốc Hội Pipite đã nại đến quyền đang có trong tay để tự ân xá cho mình và 13 nhà lập pháp bị kết tội tham nhũng. Theo ông Pipite, sở dĩ ông có hành động như thế là để “bảo đảm hòa bình và đoàn kết cho Vanuatu”, nghĩa là để tránh bất ổn như thường xảy ra tại các nước láng giềng như Fiji, Papua New Guinea và Salomon Islands.
Dĩ nhiên, nếu để bảo đảm hòa bình và ổn định cho xứ sở mà tự ân xá cho mình, thì quả thật ông Chủ tịch Quốc Hội Vanuatu xem người dân như không hề có mặt trong đất nước này. Bởi lẽ người dân đã tỏ ra phẫn nộ khi nghe Tòa Án Tối Cao kết án 14 nhà lập pháp về tội tham nhũng. Họ đã hy vọng rằng phán quyết này sẽ chấm dứt tệ nạn tham nhũng vốn đã trở thành một thứ dịch bệnh hầu như vô phương cứu chữa.
Kể từ khi trở về Vanuatu sau chuyến viếng thăm Samoa, Tổng thống Lonsdale chưa đưa ra bất cứ hành động pháp lý nào để đối phó với việc Chủ tịch Quốc Hội Pipite tự ân xá cho mình và các đồng nghiệp. Tuy nhiên, trong một cuộc họp báo, ông Lonsdale đã tuyên bố rõ ràng rằng “không ai có thể đứng trên luật pháp”. Ông nói rằng với tư cách là nguyên thủ quốc gia, ông muốn cho dân chúng biết rằng ông rất buồn vì chuyện đã xảy ra cho xứ sở. Dù vậy, ông vẫn không cho biết ông sẽ có biện pháp nào đối với các chính trị gia đã bị kết vị tội tham nhũng. Ông chỉ nói một cách bóng gió rằng ông sẽ “dọn dẹp nhà bếp”. Nhưng dọn dẹp như thế nào cũng tùy ở các cố vấn pháp luật của ông.
Với những lời tuyên bố ưm ờ như thế từ một nguyên thủ quốc gia, người ta không ngạc nhiên tại sao người dân Vanuatu đã chán đến tận cổ về hệ thống chính trị của đất nước mình. Kể từ khi được độc lập từ thập niên 1980 đến nay, Vanuatu đã trải qua nhiều bất ổn chính trị và tranh chấp với các nước láng giềng, đặc biệt là với Fiji. Cứ mỗi lần tổng thống hoặc thủ tướng nước này xuất ngoại là có chuyện xảy ra. Năm 2010, khi Thủ tướng Edward Natapei sang Mễ Tây Cơ để tham dự Hội nghị Thượng đỉnh về Thời tiết, hội đồng nội các đã bỏ phiếu bất tín nhiệm và lật đổ ông. Theo báo “The Economist”, trong 2 năm cầm quyền, ông Natapei đã bị nội các đưa ra kiến nghị truất phế đến 6 lần. Mặc dù không phải là một lãnh tụ không được lòng dân, nhưng ông Natapei luôn luôn bị phe đối lập chống đối và tìm cách lật đổ.
Đầu năm nay, khi Tổng thống Lonsdale đang viếng thăm Nhật Bản thì bão Pam càn quét Vanuatu. Mặc dù trận bão không gây ra nhiều thiệt hại về nhân mạng, nhưng ông Lonsdale bị chỉ trích là đã không tỏ ra tích cực trong việc cứu trợ và tái thiết xứ sở.
Bão Pam đã thổi qua Vanuatu trong 5 ngày liên tiếp dạo tháng 3 vừa qua. Phần lớn dân số nước này lâm cảnh màn trời chiếu đất, 90 phần trăm cơ sở ở Thủ đô Port Vila bị thiệt hại nặng nề. Port Vila được xem là thành phố dễ bị tổn thương nhất trên thế giới mỗi khi xảy ra thiên tai. Ngoài bão lụt, thủ đô Port Vila còn bị đe dọa triền miên bởi sóng thần và động đất. Là một quần đảo, lại nằm trong vùng nhiệt đới, Vanuatu luôn bị đe dọa bởi mưa bão.
Bên ngoài Thủ đô Port Vila, các đảo khác của Vanuatu cũng không an toàn hơn. Đã vậy, mỗi khi xảy ra thiên tai, việc cứu trợ lại không được hữu hiệu. Vì tham nhũng và thiếu phối trí, Chính phủ Vanuatu không được các cơ quan cứu trợ và tổ chức từ thiện hợp tác. Sau trận bão Pam vừa qua, đã có đến hàng trăm cơ quan và tổ chức tôn giáo tham gia cứu trợ, nhưng chỉ có một số nhỏ chịu hợp tác với chính phủ.
Là một quần đảo được khai sinh từ núi lửa, Vanuatu cách Úc Đại Lợi về phía Bắc khoảng 1750 cây số, cách New Caledonia về hướng Đông Bắc 500 cây số và là nước láng giềng của New Guinea, Solomon Islands và Fiji.
Qua một số di tích, các nhà khảo cổ cho rằng quần đảo Vanuatu đã có người đến ở cách đây khoảng 4000 năm. Những mnh sứ được tìm thấy ở đây đã được làm ra trước Công nguyên đến cả trên cả ngàn năm.
Các nhà thám hiểm Âu Châu đã khám phá được Vanuatu vào đầu Thế kỷ 17, nhưng mãi đến năm 1768, họ mới chính thức trở lại đây. Năm 1774, Thuyền trưởng Cook đặt tên cho quần đảo này là “New Hebrides”. Tên này được sử dụng mãi cho đến khi Vanuatu được độc lập hồi  năm 1980.
Năm 1825, khi người lái buôn tên là Peter Dillon khám phá được gỗ đàn hương (sandalwood) tại đảo Erromango, nhiều người di dân từ các nước đã đổ xô đến đây để làm ăn. Tuy nhiên, giữa người di dân và người bản xứ gốc Polynesian đã xảy ra nhiều cuộc đụng độ khiến làn sóng di dân chấm dứt. Vào thập niên 1860, nhu cầu canh tác tại Úc Đại Lợi, Fiji và Solomon Islands đã khiến nhiều người bản xứ rời bỏ xứ sở để đi làm ăn xa.
Vào thế kỷ 19, các nhà truyền giáo Công giáo và Tin Lành từ Âu Châu và Bắc Mỹ đã đến Vanuatu để truyền đạo. Cùng với các nhà truyền giáo, người Tây Phương cũng sang chiếm đất để mở các đồn điền trồng bông vải. Nhưng khi giá bông vải trên thị trường thế giới sút giảm, các chủ đồn điền mới chuyển sang trồng cà phê, cacoa, chuối và nhất là dừa. Lúc đầu, phần lớn các chủ đồn điền và dân nhập cư là người Anh xuất phát từ Úc Đại Lợi. Về sau, người Pháp từ New Caledonia cũng tràn qua. Vào đầu thế kỷ 20, dân nhập cư gốc Pháp đông gp 2 lần người Anh.
Vì quyền lợi của dân mình, cả Pháp và Anh Quốc, ai cũng đều muốn sát nhập Vanuatu vào lãnh thổ của mình. Nhưng năm 1906, hai nước này đã thỏa thuận chia chác với nhau để cùng quản lý quần đảo Vanuatu. Được đặt tên là “Condominium” (đồng trị) của Anh Pháp, Vanuatu có một chính phủ độc nhất vô nhị trên thế giới từ trước đến nay.
Đầu thập niên 1940, người dân Vanuatu bắt đầu chống lại hình thức cai trị này. Trong Đệ nhị Thế chiến, người Mỹ đặt chân đến quần đảo này. Họ mang theo của cải và góp phần khơi dậy tinh thần quốc gia của người dân hải đảo. Người dân đặt niềm tin nơi một nhân vật huyền thoại có tên là John Frum, người có chủ trương giải phóng người dân gốc “Melanesian”. Ngày nay, “John Frum” đã trở thành một tôn giáo và đồng thời cũng là một đảng chính trị.
Đảng chính trị đầu tiên được thành lập tại Vanuatu vào đầu thập niên 1970 lấy tên là “New Hebrides National Party” (Đảng Quốc gia New Hebrides). Một trong những người sáng lập Đảng này là linh mục Walter Lini, về sau trở thành thủ tướng. Năm 1974, lấy tên là Vanua’aku Pati, Đảng này đã đứng ra tranh đấu cho độc lập và Cộng hòa Vanuatu được thành lập năm 1980. Cộng hòa Vanuatu theo dân chủ đại nghị. Theo Hiến pháp nước này, “nguyên thủ quốc gia được gọi là tổng thống, tượng trưng cho sự đoàn kết quốc gia”. Được bầu cử với quyền hạn 5 năm, chức vụ tổng thống Vanuatu chỉ có  tính cách nghi lễ và tượng trưng. Người nắm thực quyền mới là thủ tướng được Quốc Hội bầu lên. Đứng đầu chính phủ, chính thủ tướng là người bổ nhiệm các bộ trưởng.
Chính phủ và xã hội Vanuatu được phân chia dựa theo hai ngôn ngữ chính là Anh và Pháp. Đây là lý do khiến việc thành lập chính phủ liên minh không phải là việc dễ dàng tại nước này. Trong khi các chính trị gia nói tiếng Pháp có khuynh hướng bảo thủ và ủng hộ việc duy trì quan hệ mật thiết với “mẫu quốc” Pháp và Tây Phương thì những người nói tiếng Anh, mà đại diện là Đảng Vanua’aku Pati, lại theo khuynh hướng xã hội và chống thực dân. Thật ra bên cạnh tiếng Anh và tiếng Pháp, người dân Vanuatu còn có ngôn ngữ chính là tiếng “Bislama”. Và song song với tiếng “Brislama”, còn có cả hàng trăm thổ ngữ khác vẫn còn được người dân Vanuatu sử dụng. Tính theo tỷ lệ, Vanuatu là nơi có nhiều thứ tiếng nhất: trung bình cứ 2000 người thì có một thứ tiếng.
Vốn không có mỏ dầu và các thứ quặng mỏ khác, Vanuatu chỉ biết sống dựa vào nông nghiệp, ngư nghiệp và du lịch. Nông sản được làm ra để xuất khẩu và nuôi sống đến 65 phần trăm dân số. Riêng kỹ nghệ du lịch đưa về một lượng ngoại tệ đáng kể. Vanuatu được nhìn nhận như một trong những điểm đến của những người thích lặn xuống biển để thám thính những bãi san hô trong vùng Nam Thái Bình Dương. Những tay thợ lặn cũng bị thu hút bởi xác của chiếc tàu du lịch được biến thành chiến hạm “SS President Coolidge” trong đảo Espiritu Santo. Bị đánh chìm trong thời ĐNhị Thế chiến, đây là một trong những xác tàu nổi tiếng nhất thế giới được biến thành nơi giải trí cho các thợ lặn.
Kỹ nghệ du lịch đã biến Vanuatu thành một trong những “thiên đàng” đối với các chương trình truyền hình thực tế. Như chương trình “Survivor” (sống sót) chẳng hạn được dàn dựng và quay tại Vanuatu.
Là một nước kém phát triển, Vanuatu chưa có đủ điều kiện để nâng cao trình độ giáo dục của người dân. Nước này chưa có chính sách cưỡng bách giáo dục. Tỷ lệ trẻ em cắp sách đến trường vẫn còn rất thp. Tình trạng y tế tại Vanuatu cũng còn rất thô sơ. 80 phần trăm dân số nước này sống ở nông thôn. Do bị cô lập về địa lý, người dân không hưởng được đy đủ các dịch vụ y tế cơ bản. Các Giáo hội và các tổ chức không chính phủ đang cố gắng bù đắp phần nào cho những thiếu sót này, nhưng chỉ giải quyết được một số nhu cầu cơ bản của người dân ở các vùng nông thôn mà thôi. Các dịch vụ y tế và giáo dục của chính phủ hiện đang phải đương đầu với tình trạng “nhân mãn” của dân nghèo sống ở các khu ổ chuột tại Thủ đô Port Vila và một thành phố lớn khác là Luganville. Dù vậy, các số liệu chính thức cho thấy tử suất của trẻ con đã có phần thuyên giảm trong hậu bán thế kỷ 20 vừa qua: năm 1967, cứ một ngàn người dân có đến 123 đứa trẻ chết; vào năm 1999, tỷ lệ này chỉ còn 25.


(Theo the Diplomat Oct 15,2015:Trouble in Paradise: Intrigue and Corruption in Vanuatu)

Thứ Sáu, 13 tháng 11, 2015

Khi người khổng lồ không có trái tim


Chu Thập
6.11.15

Nhạc mẫu tôi đang ở Việt Nam. Năm nào bà cũng làm một chuyến về thăm quê hương và người thân. Mặc dù đã cao tuổi, bà vẫn còn khỏe mạnh và minh mẫn. Khi lái xe, bà cũng lượn qua lượn lại như ai. Còn nói về các khoản Iphone, Ipad hay Facebook, bà qua mặt tôi rất xa. Ngày nào bà cũng lên mạng và tin tức nào cũng nằm trong tầm tay “săn đuổi” của bà. Năm nay, từ Việt Nam, bà làm “thông tín viên” để gởi về Úc không biết bao nhiêu tin tức quốc nội và quốc ngoại. Trong lượng thông tin hầu như quá tải do bà chuyển về, vì tình hình sôi sục ở Biển Đông, tôi đặc biệt chú ý đến một thước phim trên “YouTube” về cách ăn uống của người Trung Quốc xã hội chủ nghĩa. Thước phim ghi lại cảnh giành giựt và “hôi của” theo đúng nghĩa đen trong một nhà hàng “muốn ăn bao nhiêu tùy thích” (All you can eat).
Năm 1985, tôi đến làm việc tại Phi Luật Tân. Vào thời điểm đó, những loại quán ăn như thế đã rất thịnh hành tại quốc gia hải đảo này. Mặc dù Phi Luật Tân không phải là một quốc gia đã phát triển và đa số người dân vẫn còn vất vả với cái ăn cái mặc hàng ngày, nhưng vào bất cứ nhà hàng “muốn ăn bao nhiêu tùy thích” và bất cứ nơi nào, ngay cả hàng rong dọc đường, tôi chưa bao giờ nhìn thấy cái cảnh “cướp giựt” bát nháo như trong thước phim về Trung Quốc được nhạc mẫu tôi chuyển về. Tôi không thể tưởng tượng được cái cảnh ăn uống phải nói là “khủng khiếp” diễn ra trong một quốc gia có nền kinh tế đứng hàng thứ hai trên thế giới này: đi ăn trong nhà hàng mà lại mang theo bao bị để tranh nhau “thộn” vào cho đầy bất cứ món ăn nào được bày biện trên bàn.
Trong bối cảnh của Biển Đông đang dậy sóng, cái cảnh ăn giành ăn giựt của người dân Trung Cộng trong nhà hàng gợi lên trong tôi hai mặt của cùng một đồng tiền. Một mặt là hành động “cướp giựt” ngang ngược của Trung Cộng trong Biển Đông. Mặt khác là chính sách “mỗi gia đình một con” của quốc gia cộng sản khổng lồ này. Cả hai đều là những hành động cướp bóc. Ở Biển Đông, Trung Cộng cướp biển cướp đảo của các nước khác, trong đó có Việt Nam. Trong nước, với chính sách “mỗi gia đình một con”, họ “cướp” đi mạng sống của không biết bao nhiêu con người. Đây là hai mặt của cùng một đồng tiền là sự “vô đạo” của người cộng sản Trung Quốc.
Chuyện Biển Đông hiện vẫn chưa ngã ngũ. Còn chính sách “mỗi gia đình một con” thì đã rõ. Ngày 29 tháng 10 vừa qua, Trung Cộng đã chính thức loan báo chấm dứt chính sách và cho phép mỗi gia đình được có hai con. Sau 35 năm “cướp” đi mạng sống của không biết bao nhiêu con người và bạo hành đối với gia đình là nền móng của xã hội, những người Cộng Sản mới nhận ra những hậu quả tàn khốc của chính sách vô đạo này. Không nói đến 300 triệu người đang nghiện thuốc lá và trở thành một gánh nặng y tế cho đất nước, 30 triệu đàn ông “thặng dư” được sản sinh từ chính sách một con cũng tạo ra không biết bao nhiêu hệ quả cho sự cân bằng xã hội. Đó là chưa kể đến sự già nua của dân số.
Trong lịch sử nhân loại, chưa có nơi nào trên thế giới người ta đã chứng kiến một chính sách hạn chế sinh sản tàn bạo, độc ác và vô nhân đạo như ở Trung Cộng. Năm vừa qua bên Pháp, người ta thấy xuất hiện một quyển tiểu thuyết viết về chính sách này. Tác giả của cuốn tiểu thuyết được dịch sang tiếng Pháp với nhan đề “La Route Sombre” (con đường tăm tối) là ông Ma Jian, người đã sống lưu vong tại Anh Quốc từ năm 1987. Tuy là tiểu thuyết, nhưng cuốn sách của ông Ma Jian thuật lại câu chuyện mà ông cho là một sự thật cần phải phơi bày cho thế giới thấy. Theo câu chuyện, một thôn nữ tên là  Meili kết hôn với một thanh niên tên là Kongzi, một anh giáo làng hậu duệ của Đức Khổng Tử. Qua câu chuyện, tác giả Ma Jian phơi bày tình trạng khốn khổ của người phụ nữ Trung Hoa. Họ là những người phải sống trên đe dưới búa: một bên là thứ “đạo đức” Khổng Giáo buộc họ phải bằng mọi giá sinh cho chồng một đứa con trai để nối dõi tông đường; bên kia là chính sách một con của một Nhà nước luôn theo dõi rình rập để buộc họ phải phá thai hoặc tuyệt sinh.
Meili và Kongzi đã có một đứa con gái. Nhưng ý thức về nghĩa vụ “thiêng liêng” như Khổng Giáo dạy là phải có một đứa con trai để nối dõi tông đường cho nên hai người đã lén lút sinh thêm một đứa con mà không xin phép nhà nước. Bị công an phát giác, cũng như hàng triệu triệu cặp vợ chồng khác, vì không chấp nhận phá thai, hai vợ chồng Meili và Kongzi  đành phải đi trốn. Họ trốn đến một nơi mà tác giả đặt tên là “thiên xã”. Ở đó người đàn ông hoàn toàn bị tuyệt sinh và đàn bà được làm chủ thân thể của họ. Thật ra đó chỉ là một ảo tưởng, bởi vì theo tác giả Ma Jian, ở Trung Cộng, không có một nơi nào người dân có thể thoát khỏi cặp mắt cú vọ của chính quyền: chính quyền này có mặt khắp nơi, người dân không thể nào có tự do và an toàn.
Đó là điều khủng khiếp nhứt mà chính sách một con của Trung Cộng đã tạo ra cho người dân từ 35 năm qua. Nhưng cũng khủng khiếp không kém đó là sự hiện diện của 30 triệu đàn ông bị buộc phải sống độc thân mà chính sách này đã tạo ra. Phải giải quyết vấn đề này như thế nào? Đây quả là một bài toán nhức óc cho các nhà xã hội học. Nhưng một ông giáo sư kinh tế tại Trường đại học Tài chính và Kinh tế ở Chiết Giang là ông Xie Zuochi mới đây lại nhào vô để đưa ra một “phương án” độc đáo: cho phép phụ nữ đa phu. Nói cách khác, để giải quyết nạn trai thừa gái thiếu, ông giáo sư kinh tế này đề nghị hoặc là cho phép phụ nữ cưới nhiều chồng hoặc là những người đàn ông đang có vợ nên “san sẻ” vợ mình với những người đàn ông độc thân. Liệu ông giáo sư này có dám đi bước tiên phong để “san sẻ” bà vợ của mình với những người đàn ông khác không?
Không biết  ông giáo sư này và giới mày râu ở Trung Cộng có sẵn sàng chấp nhận cuộc sống hôn nhân “vợ chung” này không. Chớ còn cái chuyện bắt người phụ nữ phải sống cái cảnh “chồng chung” thì có lẽ chẳng có nơi nào trên thế giới thịnh hành cho bằng ở  Trung Cộng hiện nay. Tạp chí Time số ra ngày 2 tháng 11 vừa qua đã cho đăng một bài phóng sự về tình trạng “năm thê bảy thiếp”, dĩ nhiên một cách lén lút, của các viên chức chính phủ Trung Cộng. Theo một cuộc nghiên cứu được Đại học “Jenmin” thực hiện và được báo Time trích dẫn, có đến 95 phần trăm các viên chức cấp cao trong chính phủ bị bắt giữ vì tham nhũng hồi năm 2010 đều có “phòng nhì”. Sự thất sủng của 60 phần trăm viên chức này đều dính líu đến chuyện bồ bịch ngoài hôn nhân. Trường hợp nổi tiếng nhứt là chuyện của ông Ji Yingnan, phó giám đốc của Phòng văn khố quốc gia. Sau một thời gian đi lại với ông và được ông tặng cho không biết bao nhiêu quà cáp đắt tiền, một cô gái nhỏ hơn ông 15 tuổi đã đứng ra tố cáo ông, khi biết ông là người đã có vợ. Giá trị của hiện vật ông tặng cho cô lên đến 1.6 triệu Mỹ kim, trong khi lương của ông, dù là một viên chức cao cấp trong chính phủ, cũng không cao lắm. Ngay cả lương của Chủ tịch Tập Cận Bình mỗi năm cũng chỉ có khoảng 20 ngàn Mỹ kim. Đồ tể này hiện đang mở chiến dịch bài trừ tham nhũng trong chính phủ, vì theo lời ông “tham nhũng có thể tiêu diệt Đảng và phá hoại xứ sở”. Nhưng nhiều người cũng nêu lên thắc mắc về cá nhân ông: với số lương một năm chỉ có khoảng 20 ngàn Mỹ kim, lấy đâu ra tiền để ông gởi cô con gái rượu theo học tại Đại học Harvard, Hoa Kỳ với một tên tuổi khác. Về tham nhũng, ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của Việt Nam tỏ ra “trong suốt” hơn: cả 3 đứa con của ông đều theo học tại Anh và Mỹ với tiền thuế của dân nghèo Việt Nam, mà chẳng cần phải dấu diếm gì cả!
Chống tham nhũng không thành như ở Việt Nam thì đành câm miệng. Còn ở Trung Cộng, thay vì qui trách cho quyền lực và tiền bạc là nguyên nhân đẻ ra tham nhũng và những tệ đoan khác, người ta lại trút hết trách nhiệm lên đầu người đàn bà. Người ta bảo rằng “Lịch sử Trung Quốc, vốn được viết bởi người đàn ông, nhưng lại đầy dẫy những chuyện đàn bà sai khiến các vua chúa làm điều xấu hoặc gây ra bao nhiêu rắc rối”. Một ông giáo sư Trung Quốc hiện đang giảng dạy tại Viện nghiên cứu Á và Phi học ở London, đã giải thích như thế. Ông này còn khẳng định: “Một nữ tình nhân tham lam là kẻ thù của nhân dân. Đây là điều đã từng có trong truyền thống lâu dài của Trung Quốc”.
Tuy nhiên, xưa kia, đàn ông Trung Hoa có “sung” cỡ nào thì cũng chỉ có “năm thê bảy thiếp” là cùng. Nay, theo các số liệu được chính các cơ quan truyền thông Nhà nước phổ biến, các viên chức cấp cao muốn có bao nhiêu thê thiếp cũng được. Chẳng hạn như ông Liu Zhijun, cựu Bộ trưởng Hỏa xa, có tới 18 tình nhân một lúc, ông Xu Mengjia, Bí thư Đảng tại thành phố Ya’an có tất cả 30 tình nhân. Còn ông Long Jing, Trưởng phòng Hỏa xa Thượng Hải, có đến 47 tình nhân. Đó là những gương mặt được mang ra ánh sáng. Còn có biết bao nhiêu viên chức chính phủ khác mà chuyện tham lạm công quỹ để ăn chơi đàng điếm hoặc chưa được phanh phui hoặc được bao che.
Suy nghĩ về hiện tượng này, tôi cho rằng nguyên nhân của nó chính là nền kinh tế không hồn của Trung Cộng. Kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa thường nói rằng “kinh tế cũng là chính trị”. Riêng tôi nghĩ rằng “kinh tế cũng là đạo đức”. Dưới thời Mao Trạch Đông, con ếch ngồi đáy giếng Trung Cộng, muốn bằng mọi giá phải có một nền kinh tế mạnh bằng kinh tế Anh Quốc cho nên mới phát động điều mà người ta gọi là “lò luyện kim sau hè”. Triệu triệu sinh linh được biến thành phương tiện để bị thiêu sống trong cái lò luyện kim sau hè ấy. Tới thời Đặng Tiểu Bình, với khẩu hiệu “làm giàu là vinh quang”, và lập luận “mèo trắng mèo đen không quan trọng, miễn là bắt được chuột” (nghĩa là bằng mọi phương tiện ngay cả bất chính và vô đạo), kinh tế Trung Quốc đã đạt được những thành tích ngoạn mục chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại. Nhưng cái giá phải trả vẫn là hy sinh phẩm giá con người và mọi giá trị đạo đức. Trung Cộng hiện nay đã hiện nguyên hình như một người khổng lồ không có trái tim như được tác giả Trần Duy của thời Nhân văn Giai phẩm ngoài Bắc đã dự báo (x.Trần Duy, Những Người Khổng Lồ, trong “Trăm hoa đua nở trên đất Bắc”, Mặt trận Bảo vệ Tự do Văn hóa).
Tôi cảm thấy buồn khi theo dõi bài diễn văn được cựu thủ tướng Úc của tôi là ông Tony Abbott đọc tại Anh Quốc hôm 27 tháng 10 vừa qua, nhân dịp ôn lại di sản của cố thủ tướng Anh Margaret Thatcher. Ông “lên lớp” các nhà lãnh đạo Âu Châu về chính sách đối với người tầm trú và cho rằng chính vì thực thi giáo huấn của Kitô Giáo “yêu thương tha nhân như chính mình” mà các nước Âu Châu ngày nay phải trải qua cuộc khủng hoảng về người tầm trú.  Có lẽ ông Abbott quên rằng chính giới răn đó đã từng là động lực phát triển của nền văn minh Tây Phương, đặt nền móng cho những ý niệm như nhân phẩm, nhân quyền, dân chủ và tình liên đới nhân loại.
Thật ra, “yêu thương tha nhân như chính mình” đâu phải là giới răn riêng của Ki Tô Giáo. Đạo lý của bất cứ dân tộc và nền văn hóa nào mà chẳng dạy như thế. Người Việt Nam nào mà chẳng thuộc nằm lòng câu: “Thương người như thể thương thân”. Sự tồn vong của bất cứ dân tộc nào cũng tùy thuộc vào đạo lý ấy. Đạo lý ấy chính là trái tim mà người khổng lồ Trung Quốc đang đánh mất. Xét cho cùng,  giá trị đích thực của con người, cũng không được thẩm định dựa trên tài sản vật chất hoặc những thành tích họ đạt được, mà thiết yếu bằng chính cuộc sống được xây dựng trên đạo lý ấy mà thôi.


Thứ Hai, 9 tháng 11, 2015

Turmenistan: nhân quyền và Á vận hội


6.11.15

Ngoại trưởng Mỹ, John Kerry đang viếng thăm các nước Trung Á. Turmenistan là một trong các nước này. Đây là một trong những quốc gia bưng bít nhất thế giới. Mới đây nước này đã bị tố cáo dùng xe ủi giật sập hàng ngàn ngôi nhà của dân chúng để chuẩn bị cho Á Vận Hội.
Tổ chức Ân xá Quốc tế cho biết có khoảng 50 ngàn người bị Chính phủ Turmenistan cưỡng chiếm đất đai và nhà cửa để chuẩn bị cho Á Vận Hội chuyên về các cuộc thi đấu trong nhà và các môn võ thuật.
Theo những hình ảnh chụp được từ vệ tinh do Tổ chức Ân xá Quốc tế phổ biến, đã có khoảng 5000 ngôi nhà bị phá hủy tại Thủ đô Ashgabat từ giữa tháng 3 năm 2014 đến tháng 4 năm nay. Tổ chức này cũng nói rằng có nguyên một khu gồm trên 10 ngàn ngôi nhà cũng bị giựt sập hồi tháng trước và những cuộc đập phá hiện đang tiếp diễn tại một số nơi khác ở Thủ đô Turmenistan.
Trong một tuyên cáo, Tổ chức Ân xá Quốc tế, vốn bị cấm hoạt động tại Turmenistan, khẳng định rằng hành động phá hủy nhà cửa một cách tàn bạo như thế là một vi phạm trắng trợn các quyền con người. Trước viễn ảnh của một mùa đông khắc nghiệt sắp đến, tổ chức này yêu cầu chính quyền Turmenistan hãy ngưng những vụ đập phá nhà bất hợp pháp này, bồi thường cho các nạn nhân cũng như cung cấp nhà ở xứng đáng cho họ.
Cách đây 5 năm, Turmenistan đã giành được quyền tổ chức Á Vận Hội chuyên về các môn thể thao trong nhà. Những cuộc thi đấu mà Úc Đại Lợi cũng được mời tham dự, sẽ diễn ra tại một trong những nước có thành tích vi phạm nhân quyền trầm trọng nhất thế giới. Tổng thống Turmenistan, ông Gurbanguly Berdymukhamedov hiện đang cai trị một trong những quốc gia bưng bít nhất thế giới. Theo một bản phúc trình được Tổ chức Theo dõi Nhân quyền cho phổ biến cách đây một tuần, quốc gia Trung Á này hoàn toàn không màng đến những chuẩn mực về nhân quyền của thế giới. Không có bất cứ một tổ chức phi chính phủ nào hoặc của Liên Hiệp Quốc được phép đặt chân đến quốc gia này. Trong bản phúc trình mới nhất, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nói rằng Tổng thống Berdymukhamedov, gia đình ông và phe nhóm của ông nắm quyền kiểm soát hoàn toàn mọi khía cạnh của đời sống công cộng tại Turmenistan. Tự do ngôn luận, tự do hiệp hội và tự do tôn giáo là những điều hầu như hoàn toàn xa lạ tại Turmenistan. Chính sách cai trị của ông Berdymukhamedov đặt trên việc tôn thờ cá nhân hơn là chủ nghĩa đa nguyên. Vừa lên cầm quyền, ông tự đặt cho mình tước hiệu “Arkadag” (nhà bảo hộ). Theo một nhóm tranh đấu cho nhân quyền, các học sinh tại một trường ở Thủ đô Ashgabat phải tuyên thệ làm “những đứa con có hiếu” đối với ông.
Tổng thống Berdymukhamedov năm nay 58 tuổi. Xuất thân là một nha sĩ, ông đã được người tiền nhiệm của ông là nhà độc tài Saparmurat Niyazov chọn làm nha sĩ riêng. Sau đó, ông được bổ nhiệm làm bộ trưởng y tế và năm 2006, khi ông Niyazov qua đời, ông lên làm tổng thống. Người lẽ ra sẽ lên kế vị ông Niyazov đã bị bãi nhiệm và bị tố cáo với nhiều tội ác.
Năm 2007, sau khi ông Berdymukhamedov tái cử tổng thống, các cơ quan truyền thông nước ngoài đã loan ti một số tin đồn cho rằng ông là con rơi của ông Niyazov. Nhiều người trưng bằng chứng nói rằng hai người giống nhau như đúc. Một số khác thì lại cho rằng chính vì giống người tiền nhiệm của mình mà ông Berdymukhamedov mới được thăng thưởng như thế.
Khi mới lên cầm quyền, Tổng thống Berdymukhamedov hứa hẹn sẽ làm những cải tổ chính trị để mang lại ấm no hạnh phúc cho người dân của quốc gia giàu dầu hỏa này. Ông đã ra lệnh ân xá cho hàng ngàn tù nhân, trợ cấp xã hội cho trên một trăm ngàn người già và gia tăng phụ cấp cho các cựu chiến binh và gia đình của họ. Ông cũng đưa ra nhiều sáng kiến nhằm thu hút du khách đến viếng thăm đất nước và tìm cách thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước.
Tuy nhiên theo Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, vào khoảng năm 2014, thành tích nhân quyền của Chính phủ Turmenistan tồi tệ đến mức hầu như không còn thuốc chữa. Chính phủ Berdymukhamedov vừa đàn áp người dân vừa đưa đất nước vào chỗ bưng bít. Người dân Turmenistan không còn được quyền ra khỏi nước. Những người đồng tính nam bị giam tù đến 2 năm. Và hiện nay chính phủ đang mở chiến dịch cưỡng bách dân chúng phải phá hủy hệ thống đĩa truyền hình từ vệ tinh và chỉ được phép xem các đài truyền hình do chính phủ kiểm soát. Điều đáng lo ngại hơn cả, theo Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, là sự kiện chính quyền Turmenistan bắt giam và thủ tiêu những nhà bất đồng chính kiến. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nhận định: “Không thể xác định được con số những người bị giam giữ vì lý do chính trị, bởi vì hệ thống tư pháp (của Turmenistan) thiếu sự minh bạch và không có các tổ chức độc lập để theo dõi các vụ án này”.
Chuyện xảy ra cho ông Gulgeldy Annaniazov là một trường hợp điển hình. Nhà bất đồng chính kiến này bị bắt giữ hồi năm 2008 và bị giam tù 11 năm vì những cáo buộc mà ngay cả gia đình ông cũng không hề hay biết.
Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nói rằng có hàng chục cá nhân khác, mà phần lớn bị bắt giữ hồi cuối thập niên 1990 và 2000 vì lý do chính trị, đã “mất tích” ngay trong nhà tù.
Trong 12 năm cầm quyền của ông Berdymukhamedov,  chính phủ đã không cho phép các tù nhân chính trị được có bất cứ tiếp xúc nào với gia đình của họ. Chính vì vậy mà người thân của họ không thể biết được họ vẫn còn sống hay đã chết.
Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nói rằng các quyền tự do ngôn luận và tự do hiệp hội bị kiểm soát ngặt nghèo. Chính quyền luôn đe dọa, xách nhiễu hoặc giam tù bất cứ ai dám đặt vấn đề về các chính sách của mình.
Cao ủy Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc và Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua nhiều kiến nghị lên án các thành tích nhân quyền của Turmenistan. Năm 2006, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, ông Ban Ki-moon đã tuyên bố rằng “những cuộc vi phạm nhân quyền trắng trợn và có hệ thống vẫn tiếp diễn tại Turmenistan”.
Nhưng xem ra ông Berdymukhamedov không màng đến những lời chỉ trích từ bên ngoài. Tại Turmenistan, ở bất cứ nơi nào người ta cũng đều thấy hình ảnh của ông. Đầu năm nay, một bức tượng khổng lồ của ông đang ci trên lưng một con ngựa vàng đã được khánh thành. Bức tượng, được mạ bằng vàng 24 carat, được đặt trên một khối cẩm thạch trắng khổng lồ. Ông Berdymukhamedov đã đi lại dấu chân của người tiền nhiệm của mình. Thật vậy, ông Niyazov đã từng lấy tên của ông và gia đình ông để đặt cho ngày tháng. Ông này cũng đã từng cho dựng một bức tượng bằng vàng của mình tại Thủ đô Ashgabat. Ông ra lệnh cho các kiến trúc sư và kỹ sư phải thiết kế bức tượng như thế nào để nó được quay xung quanh mặt trời. Nhưng khi lên cầm quyền, ông Berdymukhamenov đã ra lệnh dời bức tượng của người tiền nhiệm ra vùng ngoại ô.
Nằm ở Trung Á, với diện tích khoảng gần 5 trăm ngàn cây s vuông, Turmenistan giáp giới với Kazakhstan về hướng Tây Bắc, với Uzbekistan về hướng Bắc và Đông, với Afghanistan về hướng Đông Nam, với Iran về phía Nam và Tây Nam và với biển Caspian về hướng Tây. Trong hàng nhiều thế kỷ, nước này nằm ở ngã tư giao lưu của các nền văn hóa và là một trạm dừng quan trọng trên con đường Tơ Lụa vào thời Trung Cổ. Năm 1881, Turmenistan bị Đế quốc Nga sát nhập. Về sau Turmenistan đã trở thành tiền đồn của phong trào chống cộng sản Bolchevik. Nhưng năm 1924, Turmenistan đã trở thành một cộng hòa của Liên bang Xô viết. Năm 1991, khi Liên Xô tan rã, Turmenistan giành lại độc lập.
Đây là quốc gia đứng hàng thứ tư trên thế giới về tr lượng khí đốt. Phần lớn lãnh thổ nước này bị bao trùm bởi sa mạc Karakum. Kể từ năm 1993, công dân nước này được chính phủ cung cấp miễn phí điện, nước, khí đốt tự nhiên và muối. Người có xe được cấp phát miền phí mỗi tháng 120 lít xăng dầu. Xe buýt, xe vận tại và máy cày có thể được cấp phát đến 200 lít. Riêng xe gắn máy được 40 lít mỗi tháng.
Đứng hàng thứ tư trên thế giới về khí đốt tự nhiên và dầu hỏa, giữa năm 1998 và 2002, kim ngạch xuất cảng của quốc gia Trung Á này đã tăng vọt nhờ giá dầu hỏa và khí đốt trên thị trường quốc tế gia tăng. Tuy nhiên, vì tình trạng nghèo đói và gánh nặng của nợ nần, viễn ảnh của kinh tế Turmenistan không mấy tốt đẹp. Nhà độc tài Niyazov đã dùng quá nhiều lợi tức quốc gia để xây dựng và canh tân các đô thị, nhất là Thủ đô Ashgabat. Thêm vào đó, việc quản lý tài nguyên thiên nhiên và khí đốt lại quá tồi tệ. Ngoài ra, một trong những nguyên nhân chính khiến cho nền kinh tế nước này trì trệ chính là nạn tham nhũng, gia đình trị và tệ nạn sùng bái cá nhân của các lãnh tụ.
Tôn giáo tại Turmenistan là một yếu tố quan trọng. Theo một bản phúc trình năm 2009 của Trung Tâm “Pew Research” có trụ sở tại Hoa Kỳ, có đến 93 phần trăm dân số Turmenistan theo Hồi Giáo. Phần còn lại theo Chính Thống Giáo hoặc không thuộc tôn giáo nào. Dưới thời Cộng sản Liên Xô, tất cả mọi tôn giáo đều bị chính quyền xem như mê tín dị đoan và “tàn tích của phong kiến”. Hầu hết mọi thực hành và học hỏi giáo lý đều bị cấm. Hầu hết các đền thờ Hồi giáo đều bị đóng cửa. Tuy nhiên, sau khi chế độ cộng sản tại Nga sụp đổ và Turmenistan thu hồi độc lập, di sản văn hóa bị tàn phá dưới thời cộng sản đã dần dần được khôi phục. Cố tổng thống Niyazov ra lệnh phải dạy những nguyên tắc căn bản của Hồi giáo trong các trường công lập. Các tổ chức tôn giáo, trong đó có trường học và đền thờ, đã tái xuất hiện, nhờ sự yểm trợ của một số quốc gia Hồi giáo như Á Rập Saudi, Kuwait và Thổ Nhĩ Kỳ. Các lớp giáo lý được tổ chức trong các trường học và đền thờ: học sinh học tiếng Á Rập, Kinh Coran và lịch sử Hồi giáo. Chính cố tổng thống Niyazov là người đích thân soạn thảo sách giáo lý. Chính quyền yêu cầu phải xem sách giáo lý do tổng thống biên soạn ngang hàng với Kinh Coran. Muốn thi lái bằng lái xe, học viên bị buộc phải thông thuộc sách giáo lý này. Dĩ nhiên, ông Niyazov dành cho “tác phẩm” của ông một vinh dự như thế vì muốn người dân phải tôn thờ cá nhân ông.
Trong khi đưa Hồi giáo lên hàng quốc giáo như thế, cả ông Niyazov lẫn ông Berdykhamenov đều theo đuổi chủ trương bóp nghẹt mọi niềm tin tôn giáo khác. Bahai là một trong những tôn giáo ngoài Hồi giáo bị đối xử tàn tệ nhất. Hiện vẫn còn một vài cộng đồng Bahai tại Turmenistan. Vào đầu thế kỷ 20 một nhà thờ phượng của đạo này đã được xây cất tại Thủ đô Ashgabat. Nhưng vào thập niên 1920, Liên Xô đã tịch thu và biến thành một phòng triển lãm nghệ thuật. Cơ sở này đã bị tàn phá nặng nề trong trận động đất năm 1948 và về sau bị phá hủy. Hiện nay, nơi đã từng có đền thờ Bahai đã biến thành một công viên.
Nếu chính phủ Hoa Kỳ lấy nhân quyền làm trọng tâm của chính sách đối ngoại, thì hẳn Ngoại trưởng Kerry không thể nhắm mắt làm ngơ trước thành tích vi phạm nhân quyền trầm trọng của chính phủ Turmenistan.

(Theo www.abc.net.au/.../turkmenistan-bulldozes-homes-to-make-way-for-asia.)



Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2015

Bên kia làn khói thuốc lá


Chu Thập
30.10.15

Theo dõi những phản ứng của mình về tất cả những gì có liên quan đến Trung Cộng, có lúc tôi tự hỏi không biết tâm lý của mình có bình thường không. Tôi buồn khi thấy người ta “tung hô” quốc gia cộng sản hay các nhà lãnh đạo của nước này. Chẳng hạn như mới đây, tôi thấy buồn khi nhìn cái cảnh cả Hoàng gia Anh xúm xít xung quanh đồ tể Tập Cận Bình, thiếu điều muốn “khấu đầu” trước mặt ông. Trái lại tôi vui khi thấy ông bị đón tiếp một cách lạnh nhạt. Tôi vui khi đọc được những bài phân tích và phê bình cho thấy rõ bộ mặt thật của quốc gia cộng sản này. Chẳng hạn, tôi vui khi nghe nói kinh tế của Trung Cộng sắp sụp đến nơi hoặc quân đội của nước này chỉ là một con cọp giấy.
Mới đây, tôi lại vui hơn nữa khi đọc được một bản tin ngắn về Trung Cộng do thông tín viên trưởng của tạp chí Time tại Bắc Kinh là bà Hannah Beech cho đăng trên tạp chí này trong số ra ngày 20 tháng 10 vừa qua. Theo bản tin, “sống tại Trung Quốc, nơi có hơn 300 triệu người đang nghiện thuốc lá, chẳng khác nào được “muối” trong biển khói thuốc. Thông tín viên Beech đã trích dẫn một cuộc nghiên cứu mới được phổ biến trên  tuần báo y khoa  “The Lancet” (dao mổ) xuất bản tại Anh Quốc. Những nhà nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng “sống tại Trung Quốc có nghĩa là phải chết vì khói thuốc lá”. Theo dự đoán, vào khoảng năm 2050, thuốc lá có thể gây ra cái chết cho 3 triệu người mỗi năm tại Trung Quốc và nếu tỷ lệ này không thuyên giảm, thì ít nhứt một nửa dân số đàn ông nước này có thể chết vì chất nicotine. Tạp chí “The Lancet”  gọi đây là “một dịch bệnh làm cho chết yểu”.
Trong khi trên trên thế giới việc hút thuốc đang giảm dần thì tại Trung Quốc có đến hai phần ba đàn ông vẫn tiếp tục hít nhả khói thuốc. Phụ nữ nước này cũng có hút, nhưng với một tỷ lệ tương đối thấp hơn. Sở dĩ nhiều người dân Trung Quốc không thể bỏ thuốc lá là bởi vì hiện nay giá trung bình của một gói thuốc chỉ trên dưới một Mỹ kim. Ngay cả những người nghèo nhứt cũng có thể mua được. Mà tại sao người dân Trung Quốc lại phải bỏ hút thuốc? Thuốc lá được quảng cáo khắp nơi, ngay cả trong các trường học và các bệnh xá mà!
Trong khi người dân Trung Quốc xem “điếu thuốc là đầu câu chuyện”, nghĩa là một nghi thức không thể thiếu được trong các quan hệ xã hội hàng ngày thì chính phủ cộng sản nước này vẫn biết rõ rằng hút thuốc có thể gây nguy hại cho sức khỏe. Ý thức như thế cho nên mùa hè vừa qua, chính phủ đã ra lệnh cấm hút thuốc trong các văn phòng hay cơ sở công cộng ở Thủ đô Bắc Kinh. Nhưng chính phủ chỉ ra luật “cho vui thôi”, bởi vì chẳng có ma nào tuân thủ kỷ luật cả.
Người ta hiểu được cái sĩ diện hão của chính quyền cộng sản Trung Quốc khi ra lệnh cấm hút thuốc tại một số nơi mà chẳng màng xem dân chúng có tuân thủ không, bởi vì “China National Tobacco Corp” (công ty thuốc lá Trung Quốc) là công ty quốc doanh sản xuất thuốc lá lớn nhứt tại Trung Quốc hiện nay. Mỗi năm công ty này sản xuất hơn 2.5 ngàn tỷ điếu thuốc lá dưới cả tá nhãn hiệu khác nhau. Vì “China National Tobacco Corp” là một công ty quốc doanh cho nên “ông chủ” của nó không ai khác hơn là chính phủ. Là một công ty ăn nên làm ra và đóng góp đến 7 phần trăm cho tổng sản lượng quốc gia, cho nên “China National Tobacco Corp” hiện đang là một con cưng của nhà nước cộng sản Trung Quốc. Chuyện Trung Cộng “nhả” công ty này ra còn khó hơn là việc người dân bỏ thuốc lá!
Đọc bản tin trên đây tôi thấy “vui” vì nghĩ đến tương lai của Trung Cộng. Tôi cũng vui một cách “quái ác” khi theo dõi tình trạng nghiện rượu tại Liên Bang Nga. Vào giữa lúc đồ tể Vladimir Putin đang xây mộng bá quyền thì trong nước con sâu rượu đang tàn phá xã hội Nga: tội ác, tự tử, bạo hành gia đình, xáo trộn xã hội và ngay cả sự giảm sút của mức sinh xuất...đều gắn liền với rượu. Đâu cần có một sức mạnh kinh tế hay quân sự  bên ngoài nào để đánh đổ chế độ độc tài của ông Putin. Rượu là sức mạnh khủng khiếp có thể phá tan nền móng xã hội, tạo ra bất ổn dẫn đến sự sụp đổ của bất cứ một chế độ độc tài nào. Tôi tin như thế. Tôi cũng tin ở sức mạnh tàn phá hiện nay của thuốc lá đối với Trung Cộng. Chỉ có  thuốc lá may ra mới làm cho mộng bá quyền của ông Tập Cận Bình tan ra mây khói và đánh đổ chế độ độc tài cộng sản này.
Nhìn Trung Cộng rồi lại nghĩ đến Việt Nam. Nhìn xuyên qua làn khói thuốc lá ở Trung Cộng, tôi cũng muốn đoán mò về tương lai của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Hai nước cộng sản “môi hở răng lạnh” cộng với “4 tốt 16 chữ vàng” này giống nhau như đúc. Thật ra, công bình mà nói, chuyện gì của Trung Cộng cũng đều được người em xã hội chủ nghĩa Việt Nam răm rắp “cóp” lại và tuân theo.
Mới đây tôi tình cờ quen được với một người Mã Lai gốc Hoa. Ông là một bác sĩ làm việc tại Melbourne. Thỉnh thoảng vợ chồng ông bay lên chỗ tôi để thăm cô con gái rượu hiện đang là một bác sĩ thực tập trong một bệnh viện gần chỗ tôi ở. Không ở nhà với vợ con thì ông bác sĩ người Hoa này lại vác cần đi câu. Chúng tôi gặp nhau trên một bãi câu và trở thành bạn bè với nhau. Trong một  bữa cơm gia đình tại nhà tôi, ông kể đủ chuyện về nguồn gốc, gia thế và văn hóa Trung Hoa để rồi khẳng định rằng ông không phải là người “Trung Cộng”. Trong nhiều chuyện ông kể về một chuyến đi Trung Quốc, tôi đặc biệt chú ý đến lối hành xử của các tài xế Trung Quốc: khi gây ra một tai nạn, người tài xế sẽ lui xe lại cán lên người nạn nhân cho đến chết. Sở dĩ tài xế Trung Quốc xử sự như thế là vì họ biết rằng tiền bồi thường cho người chết ít hơn là tiền phải trả cho các chi phí y tế nếu nạn nhân chỉ bị thương.
Tôi chú ý đến câu chuyện này bởi vì tôi đã nghe nó rất nhiều lần mỗi khi có ai đó đề cập đến tai nạn giao thông, tính vô cảm và sự độc ác của con người “xã hội chủ nghĩa Việt Nam” hôm nay. Câu chuyện cho thấy người Việt Nam “xã hội chủ nghĩa” là một học sinh xuất sắc của người thày Trung Cộng. Chẳng có gì phải ngạc nhiên cả, bởi vì Hồ Chí Minh đã mở ra “truyền thống” ấy. Tại đại hội Đảng ở Tuyên Quang năm 1951, Hồ Chí Minh đã tuyên bố “Về lý luận, đảng Lao Động Việt Nam (tức Đảng Cộng Sản) theo chủ nghĩa Mác-Lenin...lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam”. Cũng trong đại hội này, ông nhiều lần nhấn mạnh: “Ai đó thì có thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Đông thì không thể sai được”.
Ngày nay, khi “đạo đức Hồ Chí Minh” được đề ra như khuôn vàng thước ngọc để cho người dân sống theo, thì đương nhiên người cộng sản Việt Nam không thể không rập khuôn theo tư tưởng, đường lối, tác phong “đạo đức”, dĩ nhiên vô đạo, của đồ tể Mao Trạch Đông. Suy diễn như thế cho nên tôi cũng nghĩ rằng dịch bệnh thuốc lá ở Trung Quốc cũng là một thứ dịch bệnh mà Việt Cộng đã sao chép từ đàn anh của mình. Nói chung, trong khi Karl Marx xem “tôn giáo như thuốc phiện ru ngủ quần chúng”, thì những người cộng sản cũng dùng thuốc lá như một thứ thuốc phiện để ru ngủ người dân khỏi cuộc sống đầy ác mộng mà họ đã tạo ra.
Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nam giới hút thuốc lá cao nhứt thế giới. Theo một số thống kê, Việt Nam hiện có khoảng 15 triệu người trưởng thành hút thuốc. Điều đáng nói ở đây là không chỉ có người hút thuốc mới trực tiếp gánh chịu những tác hại của khói thuốc, mà còn lôi kéo khoảng 47 triệu người khác vào hít thở khói thuốc của mình. Theo ước tính của các chuyên gia y tế Việt Nam, tính trung bình mỗi ngày có hơn 100 người Việt Nam chết vì các bệnh do khói thuốc gây ra.
Dĩ nhiên, Chính phủ Việt Nam cũng bắt chước đàn anh Trung Cộng ban hành đủ thứ luật để hạn chế hay cấm hút thuốc. Nhưng cũng như tại Trung Cộng, luật lệ được ban hành cho vui mà thôi. Người cộng sản Việt Nam biết quá rõ ràng rằng thuốc lá, cũng như bia rượu và đủ các thứ món ăn chơi đàng điếm trong xã hội Việt Nam hiện nay là một thứ thuốc phiện cần thiết để ru ngủ người dân và biến họ thành những con người vô cảm. Vô cảm đối với khổ đau của người khác đã đành, nhưng quan trọng hơn, vô cảm đối với vận mệnh đất nước mà người cộng sản muốn độc chiếm trong tay mình.
Tôi “vui” khi nghĩ đến viễn ảnh của một sự sụp đổ mà thuốc lá có thể tạo ra cho chế độ cộng sản Trung Quốc, một sự sụp đổ chắc chắn có ảnh hưởng đến mộng bá quyền của nước này. Nhưng nghĩ đến tương lai của con người Việt Nam mà thuốc lá có thể dẫn đến, tôi thấy buồn. Ai lại đi vui khi thấy người đồng bào ruột thịt của mình phải chết dần chết mòn vì thứ thuốc phiện ru ngủ này. Cái chết trong thân xác mà thuốc lá có thể gây ra cho người Việt Nam hiện nay là điều đáng buồn. Nhưng với tôi, đáng buồn hơn chính là cái chết trong nhân cách của người Việt Nam.
Trong chuyến đi xuyên việt cách đây vài năm, có rất nhiều điều để tôi than phiền về xã hội Việt Nam dưới chế độ cộng sản. Nhưng đáng phiền nhứt là khói thuốc lá mà bất cứ ở đâu tôi cũng đều buộc phải hít vào một cách thụ động. Người Việt Nam hút thuốc vô tội vạ và phà khói thuốc vào người khác mà không cần biết điều đó có làm phiền họ không. Xuyên qua khói thuốc ở Việt Nam, tôi nhận ra cái chết của sự tế nhị, của mối quan tâm và lòng ưu ái mà lẽ ra bất cứ một con người bình thường nào cũng đều phải có đối với người khác. Chỉ có cộng sản mới tạo ra một cái chết như thế.
Ở Úc Đại Lợi này vẫn còn rất nhiều người hút thuốc. Dù cho chính phủ có đánh thuế cao vào thuốc lá cỡ nào, dù cho những lời cảnh cáo đầy tính đe dọa về những nguy hại của thuốc lá có được quảng bá khắp nơi đi nữa, người ta vẫn cứ tiếp tục hút. Chỉ khác một điều là người ta hút có nơi có chốn, chớ không bạ đâu hút đó.
Tôi vẫn nhớ đến cách cư xử tế nhị của một người bạn. Là một tay ghiền thuốc lá, nhưng suốt bữa ăn kéo dài hơn cả tiếng đồng hồ, anh không đụng đến một điếu. Chờ cho xong bữa cơm, khi mọi người bắt đầu uống trà, anh lặng lẽ bỏ ra ngoài và tìm đến một góc khuất bên hông nhà để xoa dịu cơn ghiền. Xuyên qua làn khói thuốc lá của anh, tôi nhìn thấy sự dễ thương, cử chỉ tế nhị, mối quan tâm đối với người khác.
Cách đây 25 năm, mỗi ngày tôi hút không dưới 2 gói Malborough. Lúc đó tôi chưa nhận thức được những tác hại của thuốc lá đối với bản thân cũng như đối với người khác. Vì bao tử có vấn đề cho nên tôi mới quyết tâm bỏ thuốc lá và phải trày vi tróc vẩy đến 6 lần tôi mới quăng được của nợ. Tôi thông cảm với những ai đang ghiền và nhứt là những ai muốn bỏ thuốc mà không bỏ được. Nhưng tôi nể phục hết mình những ai, mỗi lần muốn thỏa mãn cơn ghiền của mình, vẫn còn nghĩ đến những người xung quanh như ông bạn của tôi.



Thứ Tư, 4 tháng 11, 2015

“Có Thiên Đường hay không?”


Chu Thập
26.4.12

Hôm thứ Bảy 14 tháng 4 vừa qua, thế giới tưởng niệm đúng 100 năm ngày chiếc tàu Titanic bị đắm ngoài khơi Đại tây dương. Với không biết bao nhiêu huyền thoại, thảm kịch đã trở thành nguồn cảm hứng cho không biết bao nhiêu tác phẩm văn chương và điện ảnh. Duy có một thực tế ít được nói đến hay cố tình tránh né, đó là lòng kiêu hãnh và tính mong manh bất toàn của con người. Không những được đặt tên là “Titanic”, nghĩa là “vĩ đại” (dĩ nhiên “vĩ đại” nhứt cho đến năm 1912), chiếc tàu chở khách này còn được những người chế tạo ra ủy thác cho một định mệnh rất kiêu hùng là “unsinkable” (không được phép chìm!). Vậy mà, theo ước tính, chỉ trong 10 giây đồng hồ sau khi chạm phải tảng băng ngầm cách thành phố Newfoundland, Canada khoảng 640Km về hướng nam, chiếc tàu tưởng sẽ không bao giờ bị chìm đã từ từ vỡ vụn và chìm sâu trong đại dương, khiến cho 1496 người trong số 2208 người gồm hải đoàn và hành khách bị thiệt mạng. Đây là một tai nạn khủng khiếp nhứt trong lịch sử hàng hải.
Đã nói đến “tai nạn” thì phải nói đến chữ “ngờ” mà dù có tiến bộ và đề phòng đến đâu, con người cũng chẳng bao giờ “học” được. Mới đây, thế giới lại một phen đứng tim nhìn về “thiên đàng trần gian” Bắc Hàn khi lãnh tụ mặt búng ra sữa Kim Jong Un chơi trò mà ký giả Ngô Nhân Dụng gọi là “bắn pháo”. Thật ra, chuyện hỏa tiễn Teapodong-2 của Bắc Hàn có “tịt ngòi” và nổ tung liền sau khi được phóng lên không gian không đáng làm cho thế giới phải ngạc nhiên. Văn minh, giàu có và có kỹ thuật tối tân như Liên Xô, Hoa kỳ, Nhựt bản...mà tai nạn cứ xảy ra dài dài, thì huống chi một quốc gia nghèo xơ nghèo xác và lạc hậu như Bắc Hàn.
Tai nạn gắn liền với thân phận bất tất, có cùng và “phải chết” của con người. Đã làm người thì không thể tránh khỏi tai nạn và cuối cùng phải chết. Đó là chân lý nghìn đời mà ở đâu và thời đại nào chẳng có con người nào có mặt trên trần gian này có thể tránh né được. Gắn liền với thân phận phải chết là câu hỏi xem ra còn nhức nhối hơn: chết rồi sẽ đi về đâu?
Nhiều lúc tôi thích được làm một người vô thần. Vô thần là người không tin có Thượng Đế hay thần linh và do đó cũng chẳng màng đến cuộc sống mai hậu hay chuyện thiên đàng hỏa ngục. Nếu chết là một “tận cùng bằng số không” thì cần gì phải bận tâm với cuộc sống mai hậu hay cố gắng sống lương thiện trong cuộc sống tại thế này. Khổ nỗi, còn làm người là còn thao thức, còn ray rứt và cứ vẫn cứ suy tư. Còn làm người thì cứ phải tự hỏi: sống để làm gì? sống như thế nào cho cuộc đời này có ý nghĩa và đáng sống?...Ngay cả tuổi thơ vô tư lự cũng mơ mộng một thiên đàng: “một buổi sáng mùa xuân, một đứa bé ra đồng, đạp phải trái mìn nổ chậm, xác không còn đôi chân.., bờ môi dường thầm hỏi, có thiên đường hay không?” (Trịnh Công Sơn, Một Buổi Sáng Mùa Xuân). Lẽ ra, nhạc sĩ họ Trịnh nên đặt câu hỏi trên đây cho những người cộng sản là những người có chủ trương lấy bom đạn, chiến tranh, hận thù, chết chóc...để xây dựng thiên đường trần gian. Thiên đường mai hậu bị khước từ đã đành, mà thiên đường trần gian chỉ còn là một bãi tha ma buồn thảm.
Tôn giáo, mà ông tổ của những người cộng sản cho là “thuốc phiện ru ngủ quần chúng” hay “tiếng thở dài của những con người bị áp bức”, xét cho cùng, vẫn có sức mang lại cho con người niềm hy vọng để phấn đấu , để ít ra, cố gắng tồn tại trong cái thiên đường trần gian “chó má” của người cộng sản  hay để  biến thế giới này thành một nơi tốt đẹp hơn.
Trên đây là tư tưởng được gợi lên cho tôi nhân đọc được một bài viết trong tuần báo Time số ra ngày 16 tháng 4 vừa qua. Nhân mùa Phục Sinh của Kitô giáo, tạp chí Time đã dành trang chủ để bàn về sức tác động của niềm tin vào cuộc sống mai hậu đối với cuộc sống tại thế này. Với tựa đề “Thiên đường không chờ đợi. Tại sao suy nghĩ lại về cuộc sống mai hậu có thể làm cho thế giới này trở thành một nơi tốt đẹp hơn?” ký giả Jon Meacham lướt qua một vòng những quan niệm thông thường của các tín hữu Kitô về cuộc sống mai hậu.
Mở đầu bài viết là câu chuyện được kể lại trong một cuốn sách bán chạy có tựa đề “Thiên đường có thật” (Heaven is for real) của tác giả Lynn Vincent. Trong câu chuyện, cậu bé 4 tuổi tên là Colton Burpo kể lại cho cha em là mục sư Todd Burpo rằng em đã được viếng thăm thiên đàng khi trải qua cuộc giải phẫu về ruột thừa. Cậu bé cho biết cậu đã leo ngồi trên đùi của Chúa Giesu, người đang mặc chiếc áo choàng trắng và mang trên vai một tấm khăn choàng mầu đỏ. Chúa Giêsu đã gọi các thiên thần “có cánh” đến và yêu cầu các vị cho nhạc trổi lên. Bên cạnh Chúa Giêsu là Đấng ngự bên hữu Chúa Cha, còn có một con ngựa trắng và vô số những hào quang sáng chói. Cậu bé cũng cho biết đã gặp thánh Gioan Tẩy giả mà cậu nói là rất lịch sự tử tế. Dĩ nhiên cậu cũng thấy Đức Mẹ Đồng Trinh Maria, là người luôn cư xử như Mẹ của Chúa Giêsu...
Không những trẻ con như cậu bé Colton Burpo trên đây mới tưởng tượng hay tin có một thiên đàng “đầy mầu sắc” như thế. Biết bao nhiêu người lớn cũng vẫn tin ở một thiên đàng như thế. Chẳng hạn như mới đây, khi được tạp chí Time phỏng vấn, cha mẹ của người thanh niên da đen Trayvon Martin bị bắn chết một cách oan ức tại tiểu bang Florida Hoa kỳ, cũng tin rằng con trai họ “hiện đang ở với Chúa và đang mặc trên người  cái áo “hoodie” quen thuộc (Hoodie là chiếc áo gió có một cái nón gắn liền, thường được sinh viên Mỹ thời thập niên 60 mặc. Một đêm nọ, cậu Trayvon Martin đã khoác lên người chiếc áo này và ra phố để mua bánh kẹo. Một người tình nguyện viên chuyên canh chừng an ninh của khu xóm đã lầm anh với một thanh niên băng đảng và đã nổ súng hạ sát anh. Tất cả chỉ vì cái áo Hoodie ấy. Lê Phan, Câu chuyện Hoodies, Việt luận 3/4/2012).
Câu chuyện của cậu bé Colton Burpo hay niềm tin của cha mẹ người thanh niên Trayvon Martin cũng chính là câu chuyện thần tiên mà lúc nhỏ tôi thường hay tưởng tượng ra và ngay cả khi đã trưởng thành, thỉnh thoảng tôi cũng thấy lại trong một số giấc mơ hay những cơn mê sảng khi bệnh nặng. Là một tín hữu Kitô, dĩ nhiên tôi tin có cuộc sống mai hậu, tôi tin có thiên đàng. Nhưng với một niềm tin trưởng thành hơn, tôi biết và tin rằng thiên đàng chẳng phải là một nơi để đi đến mà trước tiên chính là “cách thế tôi sống cuộc sống tại thế gian này”. Như trong một bài thánh ca, cố nhạc sĩ Hùng Lân đã hát “thiên đàng ở trong tôi nếu tôi ăn ở thuận hòa...” Thiên đàng mai hậu sẽ là một nơi xa lạ đối với tôi, nếu ngay từ cuộc sống tại thế này tôi đã không tập làm quen với thiên đàng ấy.
Tôi thích câu chuyện về thiên đàng mà một người bạn đã sưu tầm và gởi đến cho tôi để cùng suy gẫm về “đời sau”: “Vừa nhắm mắt lìa đời, vị tu sĩ già và thánh thiện đã thấy mình đứng xếp hàng ngay trước một cánh cổng. Lòng ông hơi lo lắng. Chẳng lẽ mình được lên thiên đàng sao? Sao mà dễ dàng và nhanh chóng như vậy!
Khi đến phiên ông đến trình diện trước mặt thánh Phêrô, vị thánh được trao chìa khóa để giữ cửa thiên đàng, thánh nhân chỉ nhìn lướt qua cuốn sổ rồi lẹ làng trao cho một chiếc chìa khóa, rồi chỉ vào một lối đi trước mặt và nói: “Này con, hãy đi theo lối này. Khoảng nửa tiếng là đến Thiên Đàng. Ta đang bận một tí. Con chịu khó tự đi tìm phòng và nghỉ ngơi. Chút nữa xong việc ta sẽ đến thăm con”.
Vị tu sĩ già ngẩn ngơ. Ông không tin vào tai mình. Ông đã được lên Thiên Đàng. Thiệt đúng là một giấc mơ!
Đi theo lối mà thánh Phêrô đã chỉ khoảng mươi phút, ông gặp một ngã ba. Vị tu sĩ già phân vân. Theo bên phải hay bên trái bây giờ? Cuối cùng, ông nghĩ, thôi thì cứ theo sự khôn ngoan mà quẹo phải, nếu không đúng thì quay lại. Chỉ có hai ngã, chẳng lạc đi đâu mà sợ.
Đi khoảng muời lăm phút, ông bắt đầu nghe tiếng ca hát, tiếng nói chuyện và cười đùa. Vui như một ngày hội. Ông nghĩ bụng: như vậy là đúng đường rồi. Trước mắt ông hiện ra một hội đường thật lớn. Đến gần, dòm qua cửa sổ ông thấy không khí trong hội đường thật vui tươi. Ông quan sát và thấy có nhiều nhóm khác nhau đang sinh hoạt. Gần nơi ông đứng là một nhóm đang cầu nguyện. Cạnh bên là một nhóm đang chuẩn bị bữa ăn. Bên trái là nhóm đang lau chùi, giặt giũ. Những nhóm xa hơn thì làm những công việc khác. Nhưng dù làm gì thì họ cũng làm chung và tỏ ra săn sóc cho nhau. Điều làm cho ông ngạc nhiên nhứt là: dần dà khi mắt đã làm quen với khung cảnh, ông nhận ra rằng hầu hết những người đã từng đến nghe ông giảng dạy đều có mặt ở đây. Ông cũng nhìn thấy hầu hết học trò của mình, những tu sĩ đã từng theo ông. Tất cả bọn họ đang sum vầy trong hội đường này. Và họ thật vui vẻ. Đây chắc chắn phải là Thiên Đàng thôi. Niềm hãnh diện chợt bừng lên trong tâm hồn ông. Như vậy những gì ông giảng dạy đã mang lại kết quả tốt đẹp cho quá nhiều người. Với tất cả phấn khởi và tự tin, ông đẩy cửa bước vào.
Quả như ông dự đoán, ai cũng ùa ra chào đón ông. Nhìn quanh dáo giác một hồi, ông hỏi họ: “Chúa Giêsu đâu?” Họ đồng thanh đáp: “Chúa không có ở đây”. Rồi họ đưa mắt nhìn nhau và hỏi ông: “Thánh Phêrô có cho cha biết là cha sẽ ở đâu không?”  Giơ cao chiếc chìa khóa phòng, vị tu sĩ già hãnh diện nói: “Tôi được ở đây với các bạn, trên Thiên Đàng”.
Thế là một người trong bọn mới vội xua tay: “Ồ cha đã đi lộn chỗ rồi. Đây không phải là thiên đàng. Đây chỉ là luyện ngục thôi”. Ông ngạc nhiên: “Luyện ngục, sao lạ vậy. Tôi chưa từng nghe nói có một thứ luyện ngục tốt đẹp và vui vẻ như vầy”.
Người kia trả lời như giảng dạy: “Không đâu, người trần thế nghĩ như vậy là vì họ không hiểu được Thánh Ý Chúa. Chúa muốn cho chúng tôi ở đây là vì khi còn ở trần gian, chúng tôi đã được dạy để biết cách “lên” Thiên Đàng nhưng  lại chưa hề học biết làm sao để “sống” ở Thiên Đàng. Sống ở thiên đàng cũng không khác gì nơi trần gian, ngoại trừ, bạn không cần lo cho bản thân bạn, mà phải hết sức quan tâm và làm điều tốt cho người khác. Khi nào tất cả chúng tôi có thể chăm sóc lo lắng cho những người trong nhóm theo mong muốn của họ, lúc đó chúng tôi mới có thể ở thiên đàng”.
Nghe giải thích xong, vị tu sĩ già lầm lũi quay lại đường cũ. Vừa đi vừa suy nghĩ miên man, ông đến trước cửa phòng lúc nào không hay. Thánh Phêrô đang lóng ngóng chờ ông với cái gà-men cơm đã nguội. Ngài hỏi ông: “Con có sao không? Bị đi lạc hả? Không sao đâu. Con về đây được là tốt rồi. Bây giờ thì ta yên tâm. Vậy còn vô phòng tắm rửa, ăn uống chút đỉnh rồi nghỉ ngơi sớm. Ngay mai ta đưa con đi gặp Chúa Giesu, Đức Mẹ và các thánh”.
Vị tu sĩ lắc đầu: “Không thưa ngài, con không muốn ở đây nữa”. Thánh Phêrô tròn xoe đôi mắt: “Trời ơi, đừng dại dột con à. Đã được lên Thiên Đàng mà con còn không ưng nữa thì ở đâu mới chịu”.
Vị tu sĩ thưa: “Con muốn qua bên Luyện ngục”.
Thánh Phêrô lại dỗ dành: “Con có nói điên không vậy. Tại sao lại muốn chuyện ngược ngạo như thế?”
Ông trả lời: “Thưa là vì hình như cả đời, con chưa bao giờ nghĩ đến chuyện học để biết cách sống trên Thiên Đảng”
Câu chuyện tưởng tượng trên đây gợi lên cho tôi một ý nghĩ không biết có “lạc đạo” không: nếu tôi không làm quen và sống với thiên đàng trong trần thế này thì tôi sợ rằng tôi sẽ chẳng bao giờ tìm thấy thiên đàng ở đời sau. Như ký giả Jon Meacham của tạp chí Time viết, “Thiên đàng là thực tại mà con người tạo ra qua sự phục vụ người nghèo, các bệnh nhân, người bị áp bức, kẻ bị bắt làm nô lệ. Không phải thiên đàng trên trời cao mà chính những hành động của vị kỷ và yêu thương mới mang không gian thánh thiện và ân sủng của Chúa vào trong một thế giới đầy dẫy thảm họa cho đến khi, nói theo ngôn ngữ thần học, vào một giờ khắc không ai biết được, thế giới mà chúng ta đang cố gắng hàn gắn sẽ được hợp nhứt trở lại.”




Thứ Hai, 2 tháng 11, 2015

Ấn Độ trước nạn tự tử của nông dân


30.10.15

Ngày 14 tháng 5 vừa qua, ông Ramnariam Barma, một nông dân Ấn Độ, đã thức giấc với quyết tâm tự kết liễu cuộc sống. Ông đã cân nhắc rất lâu trước khi đi đến quyết định này và việc Chính phủ Ấn Độ từ chối không chấp nhận bồi thường những thiệt hại do hạn hán gây ra chính là nguyên nhân đưa đến quyết định này. Ông đã giải thích: “Chúng tôi đã mất tiền trong 4 năm liền vì hạn hán. Nhưng sau những trận mưa lũ và mưa đá trong mùa đông, chúng tôi chẳng còn gì nữa. Tôi đã vay mượn của ngân hàng 140 ngàn Rupee (tương đương 2.200 Mỹ kim) và 130 ngàn Rupee từ các chủ nợ khác để mua giống cũng như  trả tiền hồi môn cho đứa con gái lớn và tôi biết rằng tôi không thể nào trả ni những món nợ ấy”.
Sáng hôm đó, ông Barma đã lấy một giây thừng và nói với vợ rằng ông dắt trâu ra ruộng. Nhưng ông đã đến một ngọn tháp gần mẫu đất của mình. Trong tháp vốn có một gắn một giây điện cao thế. Ông leo lên tháp, cột sợi giây vào một chiếc cột cao và chuẩn bị tròng cổ vào. Nhưng một số người láng giềng đã kịp chạy đến. Họ khuyên ông: “Hãy nghĩ đến 6 đứa con của ông. Vợ ông sẽ làm gì nếu không có ông?” Cảnh sát cũng đã đến kịp thời. Họ khuyên ông Barma hãy từ bỏ ý định tự tử.
Nhưng người nông dân nợ ngập đầu này vẫn không thể an tâm. Ông sợ đến lúc phải đối mặt với những người chủ nợ. Theo ông, họ không chỉ đến để đe dọa, mà sẽ tra tấn ông, nếu ông không có tiền để trả nợ. Muốn bán đất để trả tiền cũng không được vì hiện nay mẫu đất của ông đang trong tình trạng khô cằn nứt n. Chính phủ đã hứa sẽ đền bù cho ông 9 ngàn Rupee (khoảng 140 Mỹ kim). Nhưng số tiền ấy cũng chẳng thấm vào đâu để nuôi con hay trả học phí cho chúng. Cả một gánh nặng đè trên vai ông. Vợ ông, với đứa con nhỏ nhất chỉ mới 18 tháng, dọa: “Nếu anh tự tử, em cũng chẳng còn lý do gì để tiếp tục sống”.
Tại Tendura, một làng nhỏ với 8000 dân cư sống trong những ngôi nhà tranh vách đất thuộc Tiểu bang Uttar Pradesh, miền Bắc Ấn Độ, chuyện xảy ra cho gia đình người nông dân trên đây chẳng khiến cho bất cứ ai phải ngạc nhiên. Thật vậy, trong 5 tháng đầu của năm nay, đã có nhiều nông dân tự tử. Và bất cứ người dân làng nào cũng đều tin rằng con số người tự tử sẽ gia tăng, bởi vì mùa màng ngày càng xấu đi. Từ 4 năm nay, người nông dân ở đây phải trải qua một trong những cơn hạn hán tồi tệ nhất. Hầu như ai cũng phải vay nợ và không thể hoàn trả. Nhiều người không còn thấy một lối thoát nào khác hơn là tự tử. Từ giữa tháng 3 đến tháng 5 đã có 65 người tự tử chỉ riêng tại huyện Banda.
Uttar Pradesh không là tiểu bang duy nhất bị hạn hán và có tỷ lệ tự tử cao nơi người nông dân. Kể từ thập niên 1990, sau khi Chính phủ Ấn Độ quyết định tự do hóa nông nghiệp thì tự tử đã trở thành một dịch bệnh trên toàn quốc. Theo những con số thống kê chính thức, đã có trên 300 ngàn nông dân Ấn Độ tự kết liễu cuộc sống kể từ năm 1995. Con số các vụ tự tử của người nông dân Ấn chiếm đến 11.2 phần trăm tất cả các vụ tự tử khác trên toàn quốc. Và mặc dù kinh tế Ấn Độ đang bước vào thời kỳ vàng son, nền nông nghiệp của nước này lại ngày càng đi xuống, cho dẫu có đóng góp đến 13 phần trăm vào tổng sản lượng quốc gia và tạo ra 50 phần trăm công ăn việc làm. Và so với hai thập niên vừa qua, thành quả của nông nghiệp Ấn Độ trong năm 2015 này bị xem là tồi tệ hơn cả. Theo một viên chức y tế của tiểu bang, con số tự tử đã gia tăng gp đôi tại hầu hết các tiểu bang. Có nơi, tỷ lệ này đã gia tăng gp ba.
Cho đến nay, biện pháp duy nhất mà Chính phủ Ấn Độ đã đề ra để ngăn chận nạn tự tử của nông dân là đền bù khoảng 700 ngàn Rupee (khoảng 10.700 Mỹ kim) cho những gia đình nông dân nào có người tự tử. Nhiều người cho rằng một sự đền bù như thế có thể khuyến khích người nông dân tự tử. Điều này xem ra đúng trong một số trường hợp. Một người nông dân tên là Bhagunte Prajapati, 37 tuổi, biết rõ điều đó. Dạo tháng 3 vừa qua, cha anh đã treo cổ tự tử trong lẫm lúa của gia đình. Cha anh tin rằng số tiền đền bù của chính phủ đủ để giúp cho gia đình ông tiếp tục sống sau vụ mất mùa vừa qua.
Người con trai kể lại rằng cha anh đã giữ thinh lặng trong suốt hai ngày. Anh hiểu được quyết định của cha mình, bởi vì 28 người trong đại gia đình hoàn toàn tùy thuộc vào vụ mùa. Họ đã bỏ ra đến 6,7 tấn giống, nhưng chỉ thu về được 300 ký .
Gia đình ông Prajapati đã bắt đầu làm các thủ tục để xin chính phủ đền bù, nhưng họ không biết chắc sẽ nhận được bao nhiêu. Họ hy vọng ngân hàng sẽ xóa nợ cho họ. Nhưng số tiền mà người cha đã vay từ các chủ nợ tư nhân, họ không biết bao nhiêu. Họ chỉ có thể nói chuyện và thương lượng với các chủ nợ này sau khi được chính phủ đền bù.
Một viên bác sĩ làm việc tại một bệnh viện công ở thị xã Lalitpur cho biết có đến 40 phần trăm nông dân tự tử bằng cách uống thuốc trừ sâu hoặc thuốc nhuộm tóc. Nhưng cũng không thiếu trường hợp một cái chết vì nguyên nhân tự nhiên được biến thành một vụ tự tử để mong được chính phủ đền bù.
Về nông nghiệp, Ấn Độ được xếp vào hạng những nước có mức sản xuất cao nhất. Nông nghiệp và những lãnh vực khác như lâm nghiệp và ngư nghiệp đóng góp vào tổng sản lượng quốc gia khoảng 13.7 phần trăm. Vào năm 2013, nông sản được xuất cảng trị giá 39 tỷ Mỹ kim. Nhờ vậy Ấn Độ được xếp vào hạng thứ 7 trên thế giới về xuất cảng nông sản và hàng thứ sáu về mạng lưới xuất cảng. Hầu hết hàng xuất cảng của Ấn Độ nhắm đến những nước đang phát triển và kém phát triển trên thế giới.
Một bản phúc trình năm 2008 của Ngân hàng Thế giới cho thấy dân số Ấn Độ gia tăng nhanh hơn khả năng sản xuất  gạo và lúa mì của nước này. Nhưng các cuộc nghiên cứu gần đây cho rằng Ấn Độ vẫn có đủ khả năng nuôi sống dân số của mình và thừa gạo và lúa mì để xuất cảng nếu biết kiểm soát được việc phung phí lương thực, cải thiện hạ tầng cơ sở và nâng cao năng xuất nông nghiệp như một số nước đang phát triển như Ba Tây và Trung Quốc.
Cũng theo bản phúc trình nói trên, tình trạng trì trệ trong phát triển nông nghiệp của Ấn Độ là một mối lo ngại cho các nhà hoạch định chính sách, bởi vì hiện vẫn còn hai phần ba dân số Ấn Độ sống dựa vào nông nghiệp. Lối canh tác hiện nay bị xem là “không có tính cách bền vững” (unsustainable) xét về mặt kinh tế cũng như môi sinh. Hệ thống dẫn thủy nhập điền còn thô sơ. Người nông dân lại không có điều kiện để đưa nông sản vào thị trường vì đường sá xấu, thị trường thiếu hạ tầng cơ sở và nhất là bị giới hạn bởi quá nhiều quy định.
Theo một bản phúc trình khác cũng do Ngân hàng Thế giới công bố vào năm 2011,  dân số Ấn Độ đã vượt quá 1.2 tỷ. Đây là quốc gia dân chủ lớn nhất thế giới. Trong thập niên vừa qua, Ấn Độ đã chứng kiến một sự tăng trưởng kinh tế rất nhanh. Từ tình trạng lạc hậu, sự gia tăng kinh tế nước này đã được xếp vào hạng thứ tư trên thế giới. Ấn Độ đã đạt được tiến bộ đáng kể để đạt được hầu hết những Mục tiêu Phát triển của Thiên niên kỷ như được Liên Hiệp Quốc đề ra hồi năm 2000. Sự hội nhập của Ấn Độ vào kinh tế toàn cầu đã giúp đẩy mạnh kinh tế và mang lại cho quốc gia những lợi ích đáng kể về kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, theo ghi nhận của Ngân hàng Thế giới, những khoảng cách về thu nhập và phát triển nhân bản lại đang trên đà gia tăng. Đây có thể là nguyên nhân dẫn đến nạn tự tử của giới nông dân.
Thật ra, nạn tự tử của nông dân là một hiện tượng toàn cầu, chứ không riêng của Ấn Độ. Bên ngoài Ấn Độ, những cuộc nghiên cứu tại Sri Lanka, Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Anh Quốc và Úc Đại Lợi cho thấy nông nghiệp là một nghề tạo ra nhiều căng thẳng khiến tỷ lệ tự tử nơi nông dân cao hơn so với bất cứ lãnh vực nào. Điều này thường xảy ra nơi giới tiểu nông và nhất là sau những gia đoạn có suy thoái về kinh tế. Hầu hết các cuộc nghiên cứu đều đưa đến kết luận rằng giới nông dân tại Anh Quốc, Âu Châu, Úc Đại Lợi, Gia Nã Đại và Hoa Kỳ có tỷ lệ tự tử cao nhất so với bất cứ kỹ nghệ nào và ngày càng có bằng chứng cho thấy nhà nông có nguy cơ cao để mắc các chứng bệnh tâm thần. Các cuộc nghiên cứu đã chỉ ra một loạt những lý do đàng sau các cuộc tự tử của nông dân như bệnh tâm thần, môi trường thể lý, những vấn đề gia đình, tình trạng căng thẳng về kinh tế và những bấp bênh của việc canh tác. Nhìn chung, tỷ lệ tự tử trong nông nghiệp cao hơn các ngành nghề khác.
“Dịch bệnh” tự tử nơi người nông dân Ấn Độ hiện nay không phải là một ngoại lệ và cũng không phải là một hiện tượng mới m. Các tài liệu lịch sử tại nước này cho thấy sự bất mãn, các cuộc ni dậy và tỷ lệ tử vong cao trong giới nông dân Ấn Độ, đã có từ Thế kỷ 19. Tệ nạn sưu cao thuế nặng, nạn cho vay cắt cổ và thu lúa non...đã khiến cho người nông dân Ấn ni dậy nhiều lần. Năm 1897, Chính phủ Thực dân Anh đã phải ban hành luật để giới hạn nạn cho vay cắt cổ. Tỷ lệ tử vong nơi giới nông dân rất cao, nhất là từ năm 1850 đến năm 1940. Tuy nhiên, vào thời đó con số những người chết vì đói cao hơn số người tự tử.
Chỉ mới gần đây, tỷ lệ tự tử trong giới nông dân Ấn mới gia tăng. Những cuộc nghiên cứu tại Tiểu bang Tamil Nadu vào năm 1965 đã đề nghị chính phủ nên kiểm soát việc phân phối các loại phân có chứa chất độc. Cũng thế, các cuộc nghiên cứu hồi năm 1979 ghi nhận sự đóng góp đáng kể của các loại thuốc trừ sâu vào các cuộc tự tử của người nông dân tại Tiểu bang Tây Bengal và yêu cầu chính phủ nên kiểm soát chặt chẽ việc phân phối các loại thuốc trừ sâu này.
Có nhiều lý do đã được đưa ra để giải thích tại sao người nông dân Ấn tự tử như: hạn hán, nợ nần, việc sử dụng loại hạt giống đã biến đổi về “gen”, nền y tế công cộng yếu kém, các chính sách kinh tế của chính phủ, những vấn đề cá nhân và gia đình. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu vẫn chưa có được một kết luận đồng thuận nào về những nguyên nhân chính dẫn đến tự tử. Thông thường cuộc tự tử nào cũng được thúc đẩy bởi nhiều nguyên nhân cùng một lúc.
Theo các nhà quan sát, nhìn chung kinh tế Ấn Độ đang đi lên. Nhiều người còn cho rằng nay mai nền kinh tế này có thể qua mặt kinh tế Trung Cộng. Nhưng bao lâu nền nông nghiệp của nước này vẫn còn trì trệ và tỷ lệ tự tử của giới nông nghiệp tiếp tục gia tăng, thì đây quả là một thách đố lớn cho quốc gia có đông dân số đứng hàng thứ hai thế giới này.

(Theo Zigor Aldama and Miguel Candela “India’s Deadliest Epidemic”, The Diplomat, 20/10/2015)