Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2015

Khắc khoải khôn nguôi


Chu Thập
7.8.15

Khoa học ngày càng làm được những bước dài trong khám phá và tìm hiểu vũ trụ.
Ngày 14 tháng 7 vừa qua, sau một cuộc hành trình kéo dài 9 năm, vượt qua đoạn đường gần 5 tỷ cây số, phi thuyền New Horizons của cơ quan không gian NASA, Hoa Kỳ,  đã đến gần Pluto, hành tinh xa nhứt trong thái dương hệ, để có thể gởi về trái đất của chúng ta một số hình ảnh về hành tinh này. Cách đây hơn một phần tư thế kỷ, có lẽ không ai dám nghĩ tới khám phá này.
Rồi cũng trong những ngày vừa qua, cơ quan NASA lại tuyên bố đã tìm thấy một hành tinh mới mà sự cấu tạo , điều kiện địa chất và khí hậu  giống với trái đất của chúng ta đến ni họ đã đặt cho nó cái tên là “Earth 2.0” (Trái đất 2), một “chị em song sinh” của trái đất chúng ta. Quay xung quanh một mặt trời khác, “Earth 2.0” cách trái đất chúng ta đến gần 1500 năm ánh sáng, nhưng lại không quá nóng và cũng không quá lạnh. Yếu tố này khiến cho các khoa học gia tin rằng rất có thể có sự sống trên “chị em song sinh” của trái đất này.
Ngoài trất đất của chúng ta, liệu trong vũ trụ bao la này có thể có một “loài người” khác, tức những con người cũng có trí khôn như chúng ta không? Trung tâm  Điện ảnh Hollywood đã từng đưa ra giả thuyết ấy qua nhiều cuốn phim về người ngoài hành tinh. Nay đến lượt khoa học lại cũng muốn “làm việc” với một giả thuyết như thế.
Với sự khuyến khích của nhà vật lý học người Anh nổi tiếng của thế kỷ là ông Stephen Hawking, một tỷ phú người Nga là ông Yuri Milner đã sẵn sàng bỏ ra 100 triệu Mỹ kim để tìm cho ra được trong vũ trụ rộng đến 92 tỷ năm ánh sáng không những sự sống nói chung mà còn cả sự sống của một hay vô số những “loài người” khác giống như chúng ta. Với dự án trị giá 100 triệu này ở khởi đầu, các khoa học gia sẽ “thám thính” và dò xét đến cả triệu ngôi sao và 100 giải ngân hà gần nhất, mỗi cái có thể chứa đựng đến hàng trăm tỷ ngôi sao mà họ cho là biết đâu lại chẳng cưu mang một sự sống nào đó. Người ngoài hành tinh “E.T” (extraterrestrial) có thể cũng bay nhảy như loài người chúng ta. Còn nếu họ cũng nói chuyện ồn ào như chúng ta, thì họ không thể ln trốn đi đâu được. Nói cách khác, từ nơi họ ở hẳn phải có những tín hiệu được phát ra. Những cố gắng của khoa học là làm sao tiếp nhận được những tín hiệu ấy. Còn không thì về phía loài người chúng ta, cứ bắn tín hiệu đi khắp nơi và càng xa càng tốt. Biết đâu ở một nơi nào đó, người ngoài hành tinh lại chẳng nhận được tín hiệu của loài người chúng ta và sẽ tìm cách đáp trả.
Giả thuyết về sự hiện hữu của một hay nhiều “loài người” khác ngoài trái đất không chỉ thu hút sự chú ý của các khoa học gia hay những người tiền rừng bạc b, mà cũng trở thành một mối quan tâm đặc biệt của các tôn giáo, cách riêng của Giáo hội Công giáo mà Vatican là cơ quan đại diện. Cách đây 4 thế kỷ, dựa trên tường thuật “thi vị” của Kinh Thánh về vị trí trung tâm của trái đất trong vũ trụ, Giáo hội Công giáo đã xem Galileo Galilei (1564- 1642) như một người “lạc đạo”, khi ông tuyên bố ngược lại với Kinh Thánh rằng trái đất quay xung quanh mặt trời chớ không phải ngược lại. Từ đó, nhiều người thường nhìn vào Giáo hội Công giáo như một thứ lực cản hủ lậu, ngăn chận bước tiến của khoa học. Công bình mà nói, vụ án Galilei quả là một sai lầm đáng tiếc của Giáo hội Công giáo. Giáo hội này đã không biết bao lần lên tiếng nhìn nhận sai lầm và đấm ngực sám hối. Nay không những khuyến khích nghiên cứu khoa học, Giáo hội Công giáo cũng dấn thân vào công cuộc nghiên cứu ở nhiều địa hạt khác nhau. Với mục đích đó, Tòa Thánh Vatican đã cho thiết lập một Hàn Lâm Viện Khoa Học để đích thân tham gia vào công cuộc nghiên cứu khoa học. Điển hình nhứt là sự kiện ngay từ thế kỷ 18, Tòa Thánh Vatican đã có cả một Đài Thiên Văn. Liên quan đến giả thuyết về sự hiện hữu của một loài người khác ngoài hành tinh, mới đây Tòa Thánh Vatican đã cho tổ chức một hội nghị qui tụ trên 30 nhà khoa học gồm các nhà thiên văn học, vật lý học và sinh học, trong đó có những người ngoài công giáo.
Về giả thuyết của sự sống ngoài hành tinh, giám đốc Đài Thiên Văn của Tòa Thánh Vatican, Linh mục Jose Gabriel Funes, một nhà thiên văn học, đã tỏ ra rất tích cực. Với nhà thiên văn học này, một giả thuyết như thế xem ra chẳng có gì trái ngược với niềm tin tôn giáo và dĩ nhiên cũng chẳng phủ nhận được sự hiện hữu của một Đấng Tạo Hóa mà các tín đồ của các tôn giáo độc thần như Do Thái giáo, Hồi giáo và Ki Tô giáo hằng tin tưởng và tuyên xưng.
Tôi là một trong vô số những tín đồ như thế. Với tôi, điều đáng suy nghĩ không phải là sự hiện hữu của một hay nhiều loài người bên ngoài trái đất của chúng ta, mà chính là cái khả năng hiểu biết và khám phá hầu như vô tận của loài người trên trái đất này. Ngày 12 tháng Tư năm 1961 là một ngày đáng ghi nhớ trong lịch sử nhân loại khi phi hành gia Nga Yuri Gargarin trở thành người đầu tiên được phóng lên không gian trong phi thuyền Vostok 1. Không đầy một tháng sau đó, chuyện đi vào không gian đã trở thành bình thường khi phi hành gia Mỹ đầu tiên là ông Alan Shepard cũng thực hiện được một chuyến đi như thế. Nhưng năm 1968, cả thế giới đã phải sửng sốt và thán phục khi Hoa Kỳ cho phi hành gia của họ đổ bộ xuống mặt trăng và cm cờ của họ ở đó. Ngày nay, chuyện đi vào không gian không còn là độc quyền của Nga hoặc Mỹ nữa. Thế giới đang tính đến chuyện đưa người lên “lập nghiệp” trên Hỏa Tinh hoặc ngay cả sẽ du lịch đến những nơi có người ngoài hành tinh đang sinh sống.
Thám hiểm không gian, tìm hiểu vũ trụ...khả năng hiểu biết và khám phá của con người xem ra không có giới hạn. Kể từ khi Isaac Newton (1642- 1726) công bố định luật về sức hút của vũ trụ, kế đó James Clerk Maxwell (1831-1879) đưa ra Phương trình Điện từ trường, rồi Albert Einstein (1879-1955) khai sinh Thuyết Tương đối...dường như những bí ẩn của vũ trụ đều có thể giải thích được bằng những công thức toán học chắc nịch như định lý mà Pythagoras (570-495 BC) đã suy diễn từ những định đề của Euclides (300 BC).
Sinh thời, có lần nhà bác học Einstein tâm sự rằng điều khiến cho ông quan tâm nhiều nhứt là liệu “Thiên Chúa” có một chọn lựa nào không khi tạo dựng vũ trụ này. Nói cách khác, liệu con người có thể đi vào “đầu óc” của “Thiên Chúa” để hiểu được “tư tưởng” của Ngài khi Ngài tạo dựng vũ trụ này không? Dĩ nhiên, nhà bác học này không hề sử dụng từ “Thiên Chúa” theo ý nghĩa tôn giáo quen thuộc của các tôn giáo độc thần. Với ông, từ “Thiên Chúa” chỉ là một ẩn dụ để nói đến những câu hỏi sâu sa về sự hiện hữu của vũ trụ mà thôi. Nỗi thao thức của cha đẻ thuyết tương đối đã được nhiều nhà khoa học ngày nay chia sẻ. Họ tin rằng con người có thể đi vào “đầu óc” của “Thiên Chúa”, nghĩa là có thể tìm ra được câu trả lời cho mọi bí ẩn của vũ trụ. Cụm từ “Lý thuyết của mọi sự” (Theory of Everything) thường được dùng để nói đến cái khả năng của con người có thể giải thích được mọi sự. Mọi sự đều có thể cân đo đong đếm một cách chính xác theo các phương trình toán học.
Tôi tin ở sự tiến bộ không ngừng của khoa học. Tôi tin ở khả năng tuyệt vời của trí khôn con người. Tôi tin rằng rồi đây bức màn của không biết bao nhiêu bí ẩn của vũ trụ sẽ được vén mở. Nhưng với tôi, dù cho khả năng hiểu biết của con người có vô tận đi nữa, “mầu nhiệm”, nghĩa là sự hiện hữu của những điều không thể giải thích được, vẫn mãi mãi bao trùm lấy chỗ đứng và sự hiện hữu của con người trong vũ trụ này.
Một linh mục công giáo người Đức ở thế kỷ 17 tên là Johann Angelus Silesius có để lại những bài thơ và thánh ca nổi tiếng. Có một bài thánh ca trong đó vị linh mục này viết: “Con người có hai con mắt. Một con mắt chỉ thấy những gì chuyển động trong thời gian. Một con mắt lại nhận ra điều vĩnh cửu và thần linh”. Linh mục Silesius có lẽ muốn nhắc nhở rằng con người không chỉ bước đi bằng con mắt khoa học để chỉ nhìn thấy những gì có thể cân đo đong đếm được, mà còn cần phải tỉnh thức để nhận ra những thực tại vĩnh cửu và thần linh trong cuộc sống.
Thời trung học, tôi rất say mê những “tư tưởng” (Penseés) của nhà toán học, vật lý học, nhà phát minh và đồng thời cũng là một triết gia người Pháp là Blaise Pascal (1623-1662). Tôi vẫn nhớ mãi những suy tư của ông về điều thường được gọi là “nỗi khắc khoải của Pascal” (L’angoisse pascalienne). Ông viết: “Khi thấy sự mù quáng và nỗi khốn khổ của con người, khi nhìn vào vũ trụ câm lặng và con người không có ánh sáng, bơ vơ một mình và như thể lạc lõng trong gốc vũ trụ này, mà không biết ai đã đặt mình vào đó, mình đến đó để làm gì, mình sẽ như thế nào khi chết, không có khả năng hiểu biết...tôi cảm thấy run sợ như một người đang ngủ bỗng bị mang đến một đảo hoang đáng sợ và khi thức giấc không biết mình đang ở đâu và không có phương tiện để ra khỏi đó. Tôi thán phục và không hiểu tại sao người ta không hề thất vọng khi lâm vào môt hoàn cảnh khốn khổ như thế. Tôi thấy xung quanh tôi có những người cũng có một bản tính như tôi: tôi hỏi họ liệu họ có hiểu biết hơn tôi không. Họ trả lời không. Những con người lạc lõng đáng thương này, khi nhìn xung quanh mình và nhận thấy có vài đồ vật có thể “mua vui” được, đã lăn xả vào đó và gắn bó với chúng” (Blaise Pascal, Les Penseés, Section XI, Les prophéties)
Bơ vơ, lạc lõng giữa vũ trụ như mọi người, nhưng Pascal đã chạy đến với niềm tin tôn giáo. Với ông, chỉ có niềm tin tôn giáo mới có thể xoa dịu được nỗi khắc khoải khôn nguôi của con người.
Cũng như triết gia Pascal và vô số những tín đồ tôn giáo, những lúc hụt hẫng, chao đảo trong cuộc sống, tôi chỉ biết dựa vào niềm tin tôn giáo.Tôi nghĩ rằng đó là thân phận chung của con người trên trái đất này. Ngay cả những người đấm ngực tự xưng là “vô thần” cũng không tránh khỏi những giây phút hụt hẫng, chao đảo như thế và muốn hay không họ cũng bám víu vào một “niềm tin” hay “tín ngưỡng” nào đó, dù là niềm tin hay tín ngưỡng “vô thần”.
Trong tôn giáo của tôi cũng như nhiều tôn giáo khác, nhiều người bên ngoài nhìn vào có lẽ chỉ thấy những điều “vớ vn” hoặc ngay cả “phi lý”. Làm sao hiểu hay cảm được sự kiện hàng năm có đến 30 triệu tín đồ Ấn Giáo đổ xô đến dòng sông Hằng để tắm gội và thanh tẩy trong dòng nước dơ bẩn thiếu vệ sinh nếu không phải là một tín đồ Ấn Giáo? Làm sao hiểu hay cảm được lòng thành tín của hàng triệu triệu người hàng năm tìm đến dòng nước suối Lộ Đức mà chỉ có những người có lòng thành tín mới “nhìn thấy” và cảm nhận được hiệu năng chữa trị?
Dù có “vớ vn” hoặc “phi lý” cách mấy dưới cái nhìn luận lý hay khoa học, với tôi, niềm tin tôn giáo vẫn mãi mãi cần thiết cho cuộc sống, bởi vì chỉ có niềm tin tôn giáo mới có thể giúp tôi xoa dịu được nỗi khắc khoải khôn nguôi trong tôi và đưa tôi đi vào “mầu nhiệm” của cuộc sống mà khoa học, dù có tiến bộ đến đâu, cũng không thể giải thích được. Mãi mãi tôn giáo vẫn là chiếc phao cứu hộ cho con người đang bơ vơ lạc lõng giữa đại dương của cuộc đời. Dù là Niết Bàn hay Tây Phương cực lạc trong đó con người sẽ hoàn toàn được giải thoát khỏi kiếp sống khổ đau, dù  là Thiên Đàng trong đó con người sẽ được “hưởng mặt Chúa sáng láng vui vẻ vô cùng”, niềm tin tôn giáo nào cũng đều là động lực thúc đẩy con người ăn ngay ở lành. Con người cần có niềm tin tôn giáo để được sống an bình và góp phần xây dựng một xã hội lành mạnh.




Thứ Hai, 10 tháng 8, 2015

El Salvador: vùng tử địa của Châu Mỹ La Tinh



 7.8.15
Khi các “tân binh”  gia nhập vào băng Mara Salvatrucha tại El Salvador, các thành viên kỳ cựu của băng này đón chào họ bằng một nghi thức khai tâm rất tàn bạo. Cuộc đánh đập thô bạo này được cho là một biểu trưng của sự cam kết mà những người mới được thu nhập vào băng muốn bày tỏ với gia đình mới của mình. Nghi thức khai tâm này cũng là một cách để chuẩn bị cho các thành viên mới đảm nhận hai vai trò của họ: vừa là nạn nhân vừa là kẻ đi hành hạ người khác. Rất nhiều người tại El Salvador đã chết vì đóng một lúc hai vai trò như thế.
Marvin Gonzalez, 32 tuổi, là người đã từng đứng đầu một “chi bộ” của đảng Mara Salvatrucha tại Ilopango, cách thủ đô San Salvador vài cây số về hướng Đông. Anh kể lại: “Từ lúc nhỏ, chúng tôi đã chứng kiến những cảnh (chém giết) như thế. Những cảnh này diễn ra mỗi ngày, không bao giờ hết. Có những cảnh người chết bị chặt đầu, thân thể vứt đi một nơi”. Cựu thành viên của băng đảng này nói: “Những người nghèo chúng tôi tàn sát lẫn nhau. Đây là một cuộc chiến vô nghĩa”.
Gonzalez đã sa lưới pháp luật. Anh được trả tự do năm 2012. Kể từ đó, anh quyết tâm chấm dứt cuộc chiến vô nghĩa này, bằng cách bắt liên lạc và “hưu chiến” với một băng khác tên là Barrio 18. Trong hai năm liền, thỏa hiệp giữa anh và băng này đã làm giảm đi phần nào con số người chết. Nhưng trong năm vừa qua, những cuộc giao chiến lại tái phát, một phần vì lãnh tụ của các băng đảng không thể hoàn toàn kiểm soát được các thành viên của mình.
Tỷ lệ sát nhân tại El Salvador hiện được cho là cao nhất trong vài thập niên gần đây. Chỉ nội trong tháng 6 vừa qua, trong một quốc gia chỉ có 6 triệu dân, số người bị giết lên đến 677 người. Nếu tỷ lệ này tiếp tục cho đến hết năm nay, El Salvador sẽ là nước có số người bị sát hại cao nhất bên ngoài một vùng đang có chiến tranh. Trước đây, Honduras, một quốc gia Trung Mỹ khác, đã đứng đầu danh sách. Nay El Salvador đã qua mặt nước này về số người bị sát hại.
Nhiếp ảnh viên người Ý, Patrick Tombola, người đã theo dõi những cuộc thanh toán bên trong và giữa các băng đảng tại El Salvador cho biết ông đã từng gặp gỡ với nhiều thành viên của các băng đảng, gia đình của họ cũng như giới cảnh sát. Tombola đã từng có mặt tại Syria, Dải Gaza và Libya là những nơi đã và đang diễn ra những cuộc chiến được cho là tàn khốc nhất. Nhưng ông cho rằng những cảnh chém giết tại những nước này chẳng là gì so với những cảnh đẫm máu tại El Salvador. Tại đây, nhiều thành viên băng đảng trẻ đã tỏ ra “khát máu” hơn bất cứ nơi nào trên thế giới. Theo nhiếp ảnh viên Tombola, có cả một thế hệ trẻ đang bị cuốn hút vào con đường tội phạm khát máu như thế.
Barri 18 và Mara Salvatrucha là hai băng đảng đang giao chiến với nhau để giành quyền kiểm soát lãnh thổ hầu có thể “khuếch trương” các vụ tống tiền, buôn bán ma túy và những hình thức tội phạm có tổ chức khác. Cuộc chiến không chỉ diễn ra giữa các băng đảng. Các thành viên của mỗi băng đảng cũng luôn sẵn sàng thanh toán đồng đội đối thủ của mình để leo lên những bậc thang trong tổ chức nội bộ. “Cuộc chiến vô nghĩa” tại El Salvador như Gonzalez đã nói, quả là một cuộc chiến không có lối thoát.
Có điều đáng suy nghĩ là băng Mara Salvatrucha đã không phát sinh tại El Salvador, mà đã thành hình trong các đường phố tại Los Angeles, Hoa Kỳ vào đầu thập niên 1980. Lúc bấy giờ, El Salvador đang phải trải qua một cuộc nội chiến tàn khốc. Các nhóm du kích quân khuynh tả chiến đấu chống lại một chế độ độc tài được Hoa Kỳ hậu thuẫn. Trong cuộc nội chiến, đã có hàng ngàn thanh niên El Salvador rời bỏ xứ sở để sang tỵ nạn tại tiểu bang California. Để chống đỡ trước các băng đảng gốc Mễ Tây Cơ và Phi Châu vốn đã có chân đứng trong xã hội Mỹ, giới trẻ tỵ nạn El Salvador đã thành lập băng Mara Salvatrucha. “Mara” trong tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là “nhóm thân hữu”. Còn “Salvatrucha” là một từ được kết hợp từ hai tiếng “Salvador” và “Trucha” có nghĩa là “bụi đời khôn lõi”.
Năm 1992, khi các nhóm du kích buông khí giới, chính phủ Hoa Kỳ đã trục xuất nhiều tù nhân thuộc băng Mara Salvatrucha về lại El Salvador. Ngoài ra cũng cần phải ghi nhận là trong cuộc nội chiến, nhiều người tỵ nạn El Salvador tại Hoa Kỳ cũng đã gia nhập băng Barrio 18. Khi bị Hoa Kỳ trục xuất về El Salvador, các cựu tù nhân thuộc băng Mara Salvatrucha và băng Barrio 18 đã đưa các cuộc chém giết tại Los Angeles về đất nước của họ.
Những cuộc chém giết giữa hai băng đảng này, mặc dù diễn ra tại El Salvador, cũng trở thành một vấn đề lớn cho chính phủ Hoa Kỳ. Các cuộc bạo động giữa các băng đảng đã khiến cho nhiều người trẻ tại Trung Mỹ rời bỏ xứ sở của họ và tìm cách chạy sang Hoa Kỳ. Năm ngoái, Hoa Kỳ đã phải bắt giữ con số kỷ lục các thanh thiếu niên và trẻ con vượt biên giới Mễ Tây Cơ sang Hoa Kỳ. Một số thành viên băng đảng cũng tiến về hướng Bắc để gia nhập vào các băng đảng của El Salvador hiện vẫn còn đang hoạt động tại một số thành phố Mỹ.
Tổng thống El Salvador, ông Sanchez Cerén, đã hứa sẽ mở chiến dịch càn quét các băng đảng. Chính phủ El Salvador thành lập một số tiểu đoàn mới với các binh sĩ được huấn luyện đặc biệt để chiến đấu chống lại các băng đảng tội phạm. Điều này có nghĩa là sẽ có nhiều cuộc chiến đẫm máu hơn tại El Salvador. Chính vì đã quá thất vọng về cuộc chiến vô nghĩa của các băng đảng mà nhiều người dân El Salvador xem ra không muốn ủng hộ chiến dịch chống băng đảng tội phạm của chính phủ. Nếu chiến dịch này của chính phủ không thành công, các băng đảng sẽ giành quyền kiểm soát rộng rãi hơn tại Trung Mỹ và sẽ có nhiều người tìm đường trốn sang Hoa Kỳ hơn (x. Tạp chí Time, The Kill Zone, 3/8/2015).
Mara Salvatrucha và Barrio 18 hiện có tổng cộng 70 ngàn thành viên. Với một lực lượng hùng hậu như thế, mới đây, để làm tê liệt cuộc sống của người dân, hai băng đảng này đã cưỡng bách các tài xế xe buýt phải tham gia một cuộc đình công. Cuộc đình công đã khiến cho các sinh hoạt bình thường tại thủ đô San Salvador phải hầu như tê liệt, vì người dân buộc phải đi bộ đến các sở làm.
Với các cuộc đình công này, các băng đảng muốn được thương thảo với chính phủ và đòi hỏi phải được có mặt trong một ủy ban có trách nhiệm tìm kiếm những giải pháp cho việc chận đứng bạo động trong các thành phố mà phần lớn thủ phạm là chính họ.
Nhưng Tổng thống Cerén đã bác bỏ đề nghị trên đây của các băng đảng. Ông đã ra lệnh cho cảnh sát và quân đội đóng chốt tại các trạm xe buýt ở thủ đô San Salvador và các vùng phụ cận. Nơi nào xe buýt chưa hoạt động trở lại thì người dân di chuyển bằng xe tải. Đây là một trong những hình ảnh rất quen thuộc tại El Salvador.
Cộng Hòa El Salvador là quốc gia nhỏ bé nhất và có mật độ dân số đông nhất tại Trung Mỹ. Hầu hết dân số nước này là những người lai giữa người Âu Châu và người thổ dân. El Salvador, “Đấng Cứu Thế” là tên gọi mà nhà chinh phục Pedro De Alvarado đã đặt cho vùng đất mới này.
El Salvador đã bị đế quốc Tây Ban Nha chiếm đóng vào năm 1525 và cho sát nhập vào tiểu vương quốc Tân Tây Ban Nha do một phó vương tại Mễ Tây Cơ cai trị. Năm 1821, El Salvador được độc lập khỏi đế quốc Tây Ban Nha, nhưng lại trở thành một phần của đế quốc Mễ Tây Cơ và kế đó gia nhập vào Cộng Hòa Liên Bang Trung Mỹ. Năm 1841, Cộng Hòa Liên Bang này tan rã, El Salvador mới thực sự trở thành quốc gia có chủ quyền, nhưng sau đó lại liên hiệp với hai nước khác trong vùng là Honduras và Nicaragua để thành lập Đại Cộng Hòa Trung Mỹ. Liên hiệp này chỉ kéo dài từ năm 1895 đến năm 1898.
Kể từ cuối thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20, El Salvador đã không ngừng trải quả những cuộc đảo chính, nổi loạn và nhiều chế độ độc tài chuyên chế. Những bất bình đẳng về kinh tế-xã hội và tình trạng mất an ninh đã dẫn đến cuộc nội chiến kéo dài từ năm 1979 đến năm 1992. Cuộc chiến giữa các nhóm du kích quân thiên tả và chính phủ quân phiệt chỉ chấm dứt sau khi hai bên đã đạt được một thỏa hiệp để thiết lập một nền cộng hòa đa đảng. Hai đảng chính tại El Salvador hiện nay là Liên Minh Cộng Hòa Quốc Gia gọi tắt là ARENA và Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia Farabundo Marti gọi tắt là FMLN. Đương kim tổng thống, ông Sanchez Cerén, thuộc Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia Farabundo Marti.
Kinh tế El Salvador tập trung vào nông nghiệp. Cây chàm, được trồng trong thời kỳ thực dân và hiện nay cây cà phê là hai nông sản quan trọng nhất của nước này. Đầu thế kỷ 20 vừa qua, cà phê chiếm đến 90 phần trăm sản lượng xuất cảng của El Salvador. Nhưng sau đó, nước này đã tìm cách hạ giảm sự lệ thuộc vào việc xuất cảng cà phê để chuyển sang thương mại và kỹ nghệ chiến biến. Bên cạnh kỹ nghệ chế biến, El Salvador cũng rất chú trọng đến kỹ nghệ du lịch. Trong năm 2014, đã có khoảng gần một triệu rưỡi khách du lịch đến viếng thăm nước này. Kỹ nghệ du lịch mỗi năm mang về cho El Salvador khoảng gần một tỷ Mỹ kim và chiếm khoảng 3,5 phần trăm Tổng sản lượng quốc gia. Trong năm 2013, theo ước tính, ngành du lịch đã trực tiếp tạo được trên hai trăm ngàn công ăn việc làm cho người dân, nghĩa là chiếm đến 8,1 phần trăm lực lượng lao động tại El Salvador. Du khách, đặc biệt là du khách từ Bắc Mỹ và Âu Châu thường tìm đến những bãi biển và cuộc sống về đêm tại nước này. Về tiền tệ, kể từ năm 2001, El Salvador đã bỏ đồng tiền “Colón” có từ thời thực dân để chuyển sang đồng Mỹ kim. Nhờ việc sử dụng đồng Mỹ kim cũng như những chuyến bay trực tiếp từ El Salvador đến hầu hết những thành phố lớn của Hoa Kỳ là những yếu tố thu hút du khách Mỹ đến nước này.
Năm 2010, El Salvador được xếp hạng 12 trong khối Châu Mỹ La Tinh về Chỉ số Phát triển Nhân bản và đứng hàng thứ 4 tại Trung Mỹ, chỉ sau Panama, Costa Rica và Belize, nhờ mức phát triển kỹ nghệ nhanh chóng. Tuy nhiên, hiện nay nước này vẫn tiếp tục chiến đấu với tình trạng nghèo đói cao, sự bất bình đẳng xã hội và nhất là tội phạm do các băng đảng gây ra.
Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International) đã đặc biệt chú ý đến những nhiều vụ bắt giữ các viên chức cảnh sát vì những vụ hạ sát bất hợp pháp. Một số vấn đề khác cũng khiến cho Tổ Chức này lo ngại là trong 10 năm qua, tại El Salvador đã xảy ra nhiều vụ trẻ con mất tích, nhưng không được điều tra thấu đáo.
Cũng như nhiều nước nghèo khác trên thế giới, El Salvador cũng bị nạn tham nhũng tác hại một cách trầm trọng. Tuy nhiên, theo sự đánh giá của dân chúng về tình trạng tham nhũng trong năm 2014, El Salvador xếp hạng 80 trong tổng số 175 nước trên thế giới, khá hơn Việt nam đến 34 hạng.



Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2015

Một cách thể hiện lòng yêu nước


Chu Thập
31.7.15
Tôi là người dốt đặc về nền tân nhạc của Úc Đại Lợi, quê hương mới của tôi. Theo dõi chương trình “Who wants to be a millionnaire” trên Đài số 9, cứ mỗi lần có câu hỏi liên quan đến các ca nhạc sĩ hay các ca khúc, dù nổi tiếng cách mấy, tôi cũng đều “ngọng”. Một phần vì tiếng Anh của tôi thuộc loại ăn đong, có nghe đến năm lần bảy lượt, tôi thấy mình chẳng khác nào vịt nghe sấm. Một phần vì tuổi tác chăng, tôi thấy  mình “bị bỏ lại đàng sau” đối với các trào lưu nhạc mới.
Nhưng mới đây, tôi lại bị thu hút bởi một ca sĩ mà tôi nghĩ tên tuổi có lẽ cũng rất sáng giá trong nền tân nhạc Úc. Nghe đâu ông đang có chuyến lưu diễn tại một số tiểu bang. Tên ông là Jimmy Barnes trong ban kích động nhạc Cold Chisel. Sở dĩ tôi chú ý đến ông trước hết là vì ông có hát một ca khúc nghe rất Việt Nam mang tên là “Khe Sanh”.
Trước năm 1975, có lẽ không có người Việt Nam nào mà không nghe nói tới thung lũng “Khe Sanh” ở tỉnh Quảng Trị này. Nó là cơn ác mộng trong ký ức của nhiều binh sĩ Việt Nam, bên này hay bên kia, cũng như của các chiến binh trong quân đội Đồng minh. Úc Đại Lợi tham gia vào trận chiến với hai phi đoàn thuộc Không Lực Hoàng Gia đặc trách việc yểm trợ quân đội Đồng minh. Nơi đây, vào năm 1968,  đã diễn ra một trận đánh ác liệt giữa quân đội Đồng minh và bộ đội Cộng sản Bắc Việt. Hoa Kỳ cho là đã có tới 15 ngàn cán binh Việt Cộng bỏ xác tại trận. Nhưng phía Hà Nội, nhân dịp vừa mới kỷ niệm đúng 45 năm trận đánh vào đầu tháng 7 vừa qua thì vẫn cho đó là một chiến thắng với “11.900 “tên địch” bị giết chết, 480 chiếc máy bay bị bắn rơi, 120 xe quân sự bị thiêu hủy, hàng trăm khẩu pháo cùng nhiều vũ khí trang bị quân sự khác bị thu hay phá hủy”. Nhưng dù nhìn từ bên nay hay bên kia, nói như cố thủ tướng Anh Winston Churchill, “chẳng có gì buồn cho bằng chiến thắng”. Dù cho bên nào có chiến thắng đi nữa, chiến thắng ấy cũng vẫn là một thứ vinh quang được đếm bằng xác người.
Năm 1978, cảm hứng từ trận chiến ấy, nhạc sĩ dương cầm Úc Don Walker đã sáng tác ca khúc “Khe Sanh” để diễn tả tâm trạng của một cựu chiến binh Úc trở về từ chiến trường Việt Nam và cố gắng hội nhập vào đời sống dân sự. Bên kia chấn thương của hầu hết các chiến binh thuộc quân đội Đồng minh đã từng tham gia vào cuộc chiến Việt Nam, ca khúc cũng cố gắng bày tỏ lòng yêu nước nồng nàn của người cựu chiến binh Úc.
Tôi chú ý đến ca sĩ Jimmy Barnes bởi vì tiếng hát của ông trong ca khúc “Khe Sanh” đã gợi lại cho tôi bao nhiêu biến cố đau thương mà cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn do những người Cộng Sản Miền Bắc chủ xướng đã tạo ra cho dân tộc. Nhưng cũng có một lý do khác khiến tôi dành nhiều thiện cảm và ngưỡng mộ đối với ca sĩ Jimmy Barnes là vì mới đây ông đã lên tiếng yêu cầu những người thuộc Phong trào có tên là “Reclaim Australia” (Đòi lại Úc Đại Lợi) hãy ngưng sử dụng ca khúc này trong các cuộc biểu tình của họ.
Theo tin tức, tôi biết được là trong cuối tuần cách đây hai tuần, đã có những cuộc biểu tình do hai phe nhóm kình chống nhau tổ chức cùng một lúc tại một số thành phố của Úc. Một bên là nhóm “Reclaim Australia” với một số khẩu hiệu có nội dung chống người Hồi Giáo và xã hội đa văn hóa.  Bên kia là  nhóm chống kỳ thị chủng tộc. Cũng may, nhờ sự can thiệp của cảnh sát, đã không có cuộc đụng độ đáng tiếc nào xảy ra giữa hai nhóm.
Riêng về tổ chức “Reclaim Australia”, tôi đọc được một bài phóng sự khá lý thú của ký giả gốc Do Thái John Safran. Hình ảnh đầu tiên được ông ghi nhận và đưa lên Facebook là cảnh một người phụ nữ da trắng lên phía sau của một chiếc xe tải nhỏ đậu trước tòa nhà Nghị viện Tiểu bang Victoria. Bà là người đầu tiên lên tiếng phát biểu trong cuộc biểu tình của tổ chức “Reclaim Australia” mà mục đích là chống lại người Hồi Giáo và xã hội đa văn hóa. Đây là câu nói mở đầu mà ký giả Safran cho là “nghe rất lạ” của bà: “Trước hết tôi muốn bày tỏ sự kính trọng đối với dân tộc Wurundjeri, những người đã từng làm chủ mảnh đất này”. Đã có vài trăm người có mặt để ủng hộ phong trào “Reclaim Australia”. Họ được cảnh sát dàn ngang để bảo vệ chống lại hàng ngàn người đang hô những khẩu hiệu ủng hộ chính sách đa văn hóa.
Nhưng lạ lùng hơn cả là trong nhóm người chống lại xã hội đa văn hóa, ký giả Safran lại thấy có một người di dân gốc Sri Lanka. Anh này cũng leo lên một chiếc xe tải nhỏ để hô lớn  “Aussie! Aussie! Aussie! Oi! Oi! Oi” rồi lên tiếng cảnh cáo về việc luật Hồi Giáo Sharia đang xâm nhập vào Úc Đại Lợi. Người đàn ông gốc Sri Lanka này nói rằng người Hồi Giáo đến Úc nhưng không chịu hội nhập vào xã hội Úc.
Người đàn ông gốc Sri Lanka này không phải là người di dân duy nhất trong đám đông biểu tình ủng hộ tổ chức “Reclaim Australia”. Ký giả Safran cũng điểm mặt được rất nhiều người gốc Á Châu, Ấn Độ và Phi Châu. Theo ông, những người da mầu này cũng đã từng là nạn nhân của nạn kỳ thị chủng tộc của người da trắng.
Lẫn trong đám đông, nhưng ký giả Safran cũng bị một người da trắng nhận diện được. Biết ông là người gốc Do Thái, ông ta hô lớn: “Hãy cho mở bình ga”. Người này có ý ám chỉ đến lò hơi ngạt mà Đức Quốc Xã đã từng dựng lên để sát tế người Do Thái trong thời Đệ Nhị thế chiến. Ký giả Safran hỏi vặn lại: “Ông nói đùa chứ?” Người đàn ông da trắng tỉnh bơ trả lời: “Không”, để khẳng định mối thù đối với người Do Thái rồi bỏ đi. Ký giả Safran viết: “Tôi đã từng gặp những người phủ nhận cuộc sát tế người Do Thái. Nhưng đây là người phủ nhận đầu tiên mà tôi phải đối đầu”.
Một cảm tình viên khác của Đức Quốc Xã cũng tiến đến gần ông và hét vào mặt: “Mày là tên Do Thái ăn bám” và nhiều lời lẽ đe dọa khác.
Bài phóng sự của ký giả Safran có nhắc đến ca khúc “Amazing Grace” quen thuộc của Kitô Giáo, cách riêng của các cộng đồng Tin Lành, được những người trong tổ chức “Reclaim Australia” cất hát một cách thành tín, nhưng lại không đá động đến ca khúc “Khe Sanh” của ca sĩ Jimmy Barnes (x.ABC, John Safran reports from “Reclaim Australia” rally 22/7/2015)
Thật ra, chính vì tiếng hát thu âm của người ca sĩ này được cho phát ra trong ít nhất một vài  đám biểu tình của nhóm “Reclaim Australia” mà ông đã phải lên tiếng. Ông yêu cầu tổ chức này đừng bao giờ sử dụng tiếng hát của ông trong các cuộc biểu tình nữa.  Trong một thông báo, người ca sĩ đã từng là một di dân đến từ Tô Cách Lan và có vợ Thái này viết: “Tôi được biết một số nhóm người đã sử dụng giọng hát, các bài hát của tôi như “khúc hoan ca” trong các cuộc biểu tình của họ. Không có bất cứ người nào trong các nhóm này đại diện cho tôi và tôi không hề ủng hộ họ. Tôi chỉ muốn nói một điều là nước Úc Đại Lợi mà tôi là công dân và tôi hằng yêu mến là một Úc Đại Lợi khoan nhượng. Đây là một nơi cởi mở và trao ban. Đây là một nơi ôm trọn lấy mọi hạng người khác biệt nhau. Thật vậy, đây là một nơi được làm cho vững mạnh hơn nhờ tính đa dạng của người dân” (x.ABC online 22/7/2015).
Có nhiều cách thể hiện lòng yêu nước. Những lời trên đây của ca sĩ Jimmy Barnes là một trong những cách đáng trân trọng nhứt. Tôi cũng muốn lập lại những lời trên đây của người ca sĩ này: “Nước Úc Đại Lợi mà tôi là công dân và tôi hằng yêu mến là một Úc Đại Lợi khoan nhượng”. Thỉnh thoảng trong những giao tiếp hàng ngày, tôi cũng gặp một vài “tên” kỳ thị chủng tộc. Nhưng nhìn chung, đây là một đất nước khoan nhượng. Sự kiện có đủ mọi sắc dân đang sống trên đất nước này chứng tỏ tinh thần ấy. Đất nước này trước tiên là của người thổ dân và kế đó là người di dân chớ không phải chỉ riêng của người da trắng. Tuyệt đại đa số người dân Úc đều có nguồn gốc di dân. Nếu đất nước này có phát triển và lớn mạnh là nhờ ở sự thành công của chính sách đa văn hóa mà cốt lõi là tinh thần khoan nhượng. Như vậy, nếu có “đòi lại Úc Đại Lợi” thì tiên vàn hãy đòi cho bằng được tinh thần khoan nhượng ấy. Lòng yêu nước mà tôi thấy cần phải bày tỏ đối với Úc Đại Lợi của tôi chính là sống tinh thần khoan nhượng, chấp nhận những khác biệt về mầu da, ngôn ngữ, văn hóa và tôn giáo của nhau.
Mới đây, tại Hoa Kỳ ứng cử viên đang lên của Đảng Cộng Hòa trong cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc là tỷ phú Donald Trump, vốn quen phát ngôn bừa bãi, đã chối bỏ công trạng của các cựu chiến binh Mỹ như thượng nghị sĩ John McCain chẳng hạn, người cựu phi công đã từng bị Cộng Sản Việt Nam giam trong nhà tù Hỏa Lò ở Hà Nội. Đây là một hành động xúc phạm nặng nề nhứt, bởi vì không có tấm lòng yêu nước nào cao quý bằng hành động xã thân hy sinh trong chiến tranh.
Nhưng bên cạnh tấm lòng yêu nước của các chiến sĩ ấy, tôi thấy còn có một cách thể hiện khác cũng đáng được đề cao không kém: đó là cố gắng sống tinh thần khoan nhượng vốn là một trong những đức tính cao quý nhứt của một dân tộc. Mỗi khi đi du lịch ở nước ngoài, tôi thường đánh giá về một quốc gia không chỉ qua sự phát triển kinh tế, trật tự kỷ cương hay trình độ dân trí, mà qua cách cư xử của người dân nước đó. Với tôi, nếu người dân nước đó tỏ ra lịch sự, tử tế, hiếu khách, khoan nhượng và nhứt là không có thái độ kỳ thị...đó chính là lúc họ thể hiện lòng ái quốc. Họ thực sự yêu mến đất nước của mình bởi vì họ muốn chứng tỏ cho người ngoại quốc thấy bộ mặt tốt đẹp thực sự của đất nước họ.
Thời Đệ nhị Thế chiến, nhiều người dân Đức đã chạy theo Đức Quốc Xã để chứng tỏ cho thế giới thấy bộ mặt “siêu nhân” của dân tộc Đức. Người Do Thái và nhiều dân tộc khác đã phải điêu đứng vì thứ ái quốc mù quáng và tàn bạo ấy. Đó không phải là lòng yêu nước đích thực, bởi vì nó chỉ cho thế giới thấy bộ mặt của một nước Đức độc ác, đồi bại. Gia nhập vào “Trục” do Đức Quốc Xã lãnh đạo để đi khắp Đông Nam Á cày xéo các dân tộc khác, người Nhựt Bổn cũng đã từng chuốt lấy sự oán hận và nguyền ra của thế giới. Người ta không thể bày tỏ lòng yêu nước bằng cách đi chém giết và cướp của của các dân tộc khác.
Ngày nay, thế giới cũng đang nói đến chủ nghĩa “Đại Hán” của chế độ cộng sản Trung Quốc. Họ càng giương cao ngọn cờ bá quyền thì càng phô bày bộ mặt xấu xa của đất nước và càng bị thế giới thù ghét và nguyền ra. “Người Trung Quốc xấu xí” không chỉ vì, khi đi du lịch ở nước ngoài, họ tỏ ra vô lễ, thiếu lịch sự, mà còn vì thái độ hung hãn xem trời bằng vung của họ khi xem thường các dân tộc khác để ngang nhiên lấn chiếm Biển Đông. Người Nga cũng bị cả thế giới nguyền rũa và oán ghét khi đưa quân sang chiếm Crimea của Ukraine và gây xáo trộn trong vùng. Chủ nghĩa dân tộc và lòng ái quốc mù quáng nào cũng đáng bị lên án bởi vì nó đi ngược lại một trong những đức tính cốt lõi làm nên nhân cách là tinh thần khoan nhượng.
Tôi đã chọn Úc Đại Lợi làm quê hương mới. Tôi yêu mến đất nước này. Và để bày tỏ lòng yêu nước ấy, tôi thấy không gì xứng hợp bằng cố gắng sống tinh thần khoan nhượng đối với mọi thành phần sắc tộc, ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo làm nên đất nước này. Xét cho cùng, cũng chính tinh thần ấy giúp tôi nên người lương thiện và tử tế hơn.





Thứ Tư, 5 tháng 8, 2015

Còn Biết Xấu Hổ, Tôi Còn Là Người


Chu Thập
8.11.11




Tôi luôn hãnh hiện được làm một công dân Úc. Dĩ nhiên, tôi có lý do của tôi. Trước hết, tôi không thể không hãnh diện được làm công dân của một đất nước rộng lớn, có bốn mùa đầy đủ, nhưng không quá khắc nghiệt,với mọi thứ cây trái và nhứt là lại được xếp vào hạng giàu có nhứt nhì thế giới về khoáng sản. Tôi biết mình không quá chủ quan khi hãnh diện về quê hương mới của mình, bởi vì mới đây Úc đại lợi lại được xếp vào hàng thứ nhì trên thế giới, chỉ sau Na Uy, về những điều kiện tốt nhứt để chọn làm nơi sinh sống. Nhưng cũng đáng nở mày nở mặt hơn khi Úc đại lợi được bầu chọn là quốc gia mà dân chúng được xem là giàu nhứt thế giới. Giàu nhứt thế giới ở đây không có nghĩa là Úc đại lợi có người giàu nhứt thế giới, có nhiều người giàu nhứt thế giới hoặc có số ngoại tệ nhiều nhứt thế giới, mà là có khoảng cách ngắn nhứt giữa giàu và nghèo. Theo một bản báo cáo mới đây của Ngân hàng tín dụng Thụy sĩ, tài sản trung bình của người dân Úc hiện nay là 221.701 Mỹ kim. Đây là mức trung bình cao nhứt thế giới. Bản báo cáo nói rằng sở dĩ Úc có mức tài sản trung bình cao nhứt thế giới một phần là nhờ một hệ thống an sinh xã hội và y tế cao.
Tôi cũng hãnh diện được làm công dân của một quốc gia hiện đang là thành viên của câu lạc bộ gồm 20 nước giàu mạnh nhứt thế giới. Tuần vừa qua, tại cuộc họp Thượng Đỉnh của Khối G 20 được tổ chức tại Cannes, Pháp quốc, nhái giọng của một cựu chủ tịch nhà nước Việt nam chuyên làm trò hề cho người ta cuời, tôi thấy nữ thủ tướng Julia Gillard của Úc “cũng ăn nói ngang hàng như người ta”.
Nếu tôi nói rằng tôi cũng hãnh diện về vị nữ thủ tướng của tôi, thì có lẽ nhiều người cũng sẽ nhạo cười tôi như khi nghe chủ tịch Nguyễn Minh Triết của Việt nam phát biểu. Tôi vẫn biết: vị nữ thủ tướng đầu tiên của Úc đại lợi này có lẽ không có tài cao, đức trọng như nhiều vị tiền nhiệm của bà và bà hiện đang không được đại đa số dân Úc ủng hộ. Nhưng nhìn dưới một khía cạnh khác, tôi thấy không thể không khâm phục bà. Trong mắt tôi, bà là một con người dám làm và dám sống thực với lòng mình. Trong một đất nước có truyền thống Kitô giáo cao và có đa số người di dân đều có tín ngưỡng, bà dám công công khai tuyên bố mình là một người vô thần và sống theo niềm xác tín vô thần của mình. Trong một xã hội vốn cũng còn đề cao đời sống hôn nhân và gia đình, bà hiên ngang sống với một người bạn tình. Bà lại càng hiên ngang hơn nữa khi “cặp bồ” với một người thợ hớt tóc chắc chắn chẳng có môn đăng hộ đối chút nào so với học vị và địa vị của bà.
Có thể bà là một người tham vọng sẵn sàng thỏa hiệp để bám lấy quyền lực. Nhưng ít ra, tôi chưa từng thấy bà khóc lóc hoặc rủa sả đối thủ của mình thậm tệ như bà Hilary Clinton khi ra tranh cử tổng thống. Có người còn kể rằng lần nọ, ông Tim Mathieson, người thợ hớt tóc đang là bạn tình của bà, đã o ép mái tóc của bà như thế nào đó khiến bị nhiều người cười chê. Vậy mà, trong khi ông Mathieson ốm lên ốm xuống vì bị trầm cảm, bà vẫn tỉnh bơ như không có chuyện gì xảy ra. Có thể bà lạnh lùng và khô cứng đến độ gần đây có dư luận nói rằng bà phải rước thày về dạy học nói và học cười. 
Nhưng điều khiến tôi nể phục nhứt nơi người đàn bà quyền lực nhứt nước này là trong một nước Úc mà tham nhũng là một từ ngữ hầu như xa lạ với đại đa số chính trị gia, tôi thấy có thể xem bà như một biểu tượng của sự trong sạch và lý tưởng tranh đấu cho người nghèo. Khác với đa số các chính trị gia, ngay cả chính trị gia thuộc Đảng Lao động, như trường hợp cựu nữ dân biểu Reba Meagher, bà “Mẹ Ghẻ” của dân Lao động, đại diện cho dân nghèo ở Cabramatta nhưng lại sống trong một căn nhà sang trọng ở phía Đông Sydney, bà Gillard vẫn sống giữa người Lao động trước khi dọn vô tòa nhà The Lodge ở Canberra của thủ tướng. Là một luật sư nổi tiếng, một dân biểu lâu năm và nhứt là một phó thủ tướng, bà Gillard vẫn ở trong một ngôi nhà khiêm tốn ở ngoại ô Altona, miền Tây Nam Melbourne.
Tôi hãnh diện được làm công dân của một đất nước có một nhà lãnh đạo như thế. Nhưng càng trông người thì lại nghĩ đến ta. Mang quốc tịch Úc, hãnh diện khi đi ra nước ngoài với sổ thông hành Úc, tôi cũng không sao che dấu được cái bộ mặt da vàng mũi tẹt của mình. Nhưng càng ý thức mình là người Việt nam, tôi càng thấy buồn và xấu hổ.
Dĩ nhiên, buồn và xấu hổ không phải vì là người Việt nam, mà vì đất nước đang bị cai trị bởi một bọn người mà nhiều người trong nước thường mỉa mai rằng giây thần kinh xẩu hổ đã bị đứt.
Trong chuyến đi Việt nam vừa qua, mỗi lần đối mặt với một người ngoại quốc hoặc phải đi chung một chuyến xe với người ngoại quốc, càng tự nhận mình là người Việt nam, tôi càng thấy xấu hổ. Tôi còn nhớ: trên chuyến mini bus từ Hà nội đi Vịnh Hạ long, vợ chồng tôi là người Việt duy nhứt. Hướng dẫn viên du lịch hôm đó là một thanh niên “nổ” thuộc loại đại bác chứ không phải súng ngắn. Bằng một thứ tiếng Anh “gẫy gọng” (broken) chứ không phải “gẫy gọn”, anh khoe rằng giáo sư Anh văn của anh là một người Úc chính hiệu, anh chỉ đọc hai tạp chí lớn trên thế giới là Time (cũng may, anh không phát âm thành “ti-me”) và Newsweek, anh cũng chỉ xem hai đài truyền hình nổi tiếng trên thế giới là CNN và BBC (cũng may anh không đọc thành Cờ Nờ Nờ và Bờ Bờ Cờ). Đến lúc mời hành khách trên chuyến xe cho biết họ là người nước nào, người hướng dẫn viên du lịch lại càng khoác lác một cách vô duyên hơn. Nói với dân Miệt Dưới, anh thao thao bất tuyệt về Kangaroo. Với dân Mỹ, anh lại nói về nhà văn Ernest Hemingway. Với bốn hành khách người Áo, anh làm như thể mình là một nhà nghiên cứu về nhạc sĩ Mozart.Với mấy cô gái người Singapore, Nhựt Bản hay Đại hàn, anh cũng thủ sẵn một câu chào bằng tiếng nước họ. Riêng đến lúc chúng tôi tự giới thiệu là người Việt nam và không xác định đến từ nước nào, thì xem ra anh chàng có vẻ ú ớ và lúng túng.
Thật ra, tôi thấy cũng chẳng có gì để “phiền trách” người hướng dẫn viên du lịch này. Chẳng qua, đây cũng chỉ là một cái nghề kiếm sống. Chỉ tiếc một điều là bộ mặt của một đất nước đã không được hiển thị một cách đứng đắn hơn qua những người lẽ ra phải được huấn luyện nhuần nhuyễn để làm công tác giới thiệu đất nước của mình cho người ngoại quốc.
Nhưng buồn nhứt đối với tôi có lẽ là chuyến xe buýt từ Hội An về Đà nẵng. Hôm đó, sau một ngày lang thang ở Cửa Đại và Phố Cổ, tôi cố gắng bắt kịp chuyến xe buýt để về lại Đà nẵng trước khi chiều xuống. Vừa bước lên xe, tôi nhận thấy một cặp vợ chồng du khách ngoại quốc đang mặc cả và kỳ kèo như thế nào đó với một chú nhóc lơ xe khoảng 14, 15 tuổi.  Sau đó hai người không chịu lên xe mà lại bỏ đi. Nhưng một lát sau, chú lơ xe chạy theo nói gì đó, và lôi kéo họ trở lại. Cuối cùng, họ cũng lên xe và ngồi bên cạnh tôi. Nghe họ nói chuyện với nhau, tôi biết đây là một cặp vợ chồng người Pháp. Đến lúc thu tiền xe, chú nhóc lơ xe lại dở trò “tống tiền”. Buổi sáng, tôi thấy tất cả mọi hành khách, bất kể Việt nam hay ngoại quốc đều trả cùng một giá là 20 ngàn đồng. Vậy mà giờ đây, chú đòi cặp vợ chồng người Pháp này mỗi người 50 ngàn. “Giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha”, tôi liền nhảy vô can thiệp để tranh đấu cho họ. Thấy bên cạnh có một người đàn ông ăn mặc bảnh bao ra dáng là cán bộ, đảng viên, tôi liền lớn tiếng lên lớp cậu bé lơ xe và gián tiếp nhắn gởi với ông cán bộ. Đại khái, tôi nói rằng “nhà nước ta đang mời du khách nước ngoài đến thăm đất nước mình, mà mình lại giở trò gian manh, lừa gạt, bằt chẹt người ngoại quốc như thế, chẳng phải là bôi bẩn bộ mặt đất nước sao?” Có lẽ trong cậu bé giây thần kinh xấu hổ vẫn còn hoạt động cho nên cậu đã ngồi thừ ra một lúc rồi tính giá đúng với cặp vợ chồng người Pháp. Hai người phân trần với tôi rằng một hai đô Mỹ chẳng là bao, nhưng họ muốn đâu phải ra đó cho sòng phẳng rõ ràng. Không hiểu tại sao lúc đó tôi lại buột miệng nói với họ: “Tôi cảm thấy xấu hổ là người Việt nam”.
Nói câu đó, tự nhiên tôi thấy mình có bổn phận phải xin lỗi bao nhiêu du khách ngoại quốc nạn nhân của những trò lừa bịp gian manh của người Việt nam xã hội chủ nghĩa. Trong chuyến đi Việt nam trước tôi một tháng, một người  bạn tôi kể lại rằng tại Hà nội anh có gặp ba người thanh niên “balô” người Hòa lan đang méo mặt mà không biết tỏ cùng ai. Chuyện họ bị gạt mới đau: tưởng xích lô là phương tiện di chuyển rẻ và có tính “du lịch” nhứt ở giữa Hà nội, ba chàng liền nhảy lên ba chiếc làm một vòng thành phố. Các bác tài lại còn tỏ ra hào phóng hơn khi cho ba anh được ghé chơi bất cứ nơi nào các anh muốn và sẵn sàng chờ đợi. Chiều đến, mỗi anh nhận được một cái bill “bất thành văn” là 300 Mỹ kim. Chẳng biết cầu cứu ai, ba chàng xứ hoa Tulip đành bóp bụng trả tiền và ghi nhớ mãi bài học ấy để còn chia sẻ với bạn bè năm châu trên mạng.
Vợ chồng tôi cũng bị một vố đau như thế ở Vũng Tàu. Đi bách bộ dọc theo Bãi Sau, thấy một anh đạp xích lô ế khách réo gọi, tôi thích đi bộ nhưng nghĩ thôi thì làm một vòng cho vui. Ngoài cái giá rẻ như bèo là 20 ngàn cho một cuốc xe, người tài xế “tốt bụng” còn hứa sẽ ngồi chờ trong khi chúng tôi đi chợ. Vậy mà khi trở về chỗ cũ, anh đòi 80 ngàn! 4 Úc kim thì chẳng là bao. Vả lại, tôi cũng đã định bụng trả thêm cho anh. Nhưng nghĩ tức trong bụng, bởi vì mình bị lừa một cách quá dễ dàng!
Tôi không trách cậu bé lơ xe trên chuyến xe buýt Hội An-Đà nẵng. Em đã lớn lên trong một xã hội mánh mung dối trá mà để sống còn người ta phải lưu manh mà thôi.Tôi cũng chẳng giận cái anh đạp xích lô nghèo ở Vũng Tàu: nghèo túng quá gạt được người nào hay người đó. Tôi cũng chẳng thù ghét gì ba cái anh đạp xích lô ở Hà nội đã lừa được mấy người thanh niên Hòa lan ngây ngô: chắc chắn họ cũng nhiều lần từng là “nạn nhân” của sự lừa bịp vì đang sống dưới một chế độ bịp bợm mà người ta thường mỉa mai là thời kỳ đồ đểu.
Điều làm cho tôi buồn và cảm thấy xấu hổ cho quê hương là chính những kẻ đang lãnh đạo đất nước chẳng còn biết thế nào là xấu hổ nữa. Trong khi thủ tướng của một đất nước giàu có như Úc đại lợi chỉ có một căn nhà bình dân thiếu điều thua cả những căn nhà của người Việt tỵ nạn, thì tại Việt nam, lãnh đạo của một chính phủ tự xưng là của người nghèo và tất cả những người tự xưng là đầy tớ nhân dân thì lại có những cơ ngơi sang trọng và sống trên đầu trên cổ người dân. Chính trị gia và giới cầm quyền chính trị ở đâu cũng đều tuyên bố lấy dân làm “gốc” cả. Nhưng ít ra, họ không lố bịch và vô liêm sỉ đến độ vừa ăn cướp vừa la làng, vừa áp bức vừa ra rả tự xưng là đầy tớ của nhân dân.
Trong khi đất nước còn bao nhiêu vấn đề sinh tử như Hoàng Sa, Trường Sa, Bô-xít, Vinashin, Dân oan khiếu kiện, nạn kẹt xe, thiếu bệnh viện,  thiếu cả nhà vệ sinh...chưa giải quyết được thì mới đây tại Quốc hội, mấy ông dân biểu công cụ của Đảng chứ không phải đại diện của dân, lại đề nghị đưa luật “nhà thơ, nhà văn” ra mà thảo luận. Đây quả là tận cùng của sự lố bịch.
Như những người Việt lưu vong, tôi luôn mơ ước nhiều điều tốt lành cho đất nước. Nhưng bây giờ, tôi hết dám “mơ mộng cao xa” mà chỉ còn một điều ước: mong một phép lạ xảy ra để những người cộng sản Việt nam được nối lại giây thần kinh xấu hổ.
Nhà toán học kiêm triết gia người Pháp là René Descartes đã nói một câu để đời: “Tôi suy tư, vậy tôi hiện hữu.” (Cogito, ergo sum). Tôi cũng muốn tập tành làm triết gia để nói: “Còn biết xấu hổ, tôi còn là người”. Dĩ nhiên, tôi cũng luôn xem đây như một phương châm sống và hành động của tôi. Có ai tránh khỏi sai phạm? Tôi chỉ mong được mãi mãi làm một con người bình thường để biết nhận ra những sai trái của mình và nếu không hổ thẹn với lương tâm thì ít ra cũng không trơ mặt ra trước những sai phạm của mình.












Thứ Hai, 3 tháng 8, 2015

Tunisia sau Mùa Xuân Á Rập


31.7.15

Ngày 26 tháng 6 vừa qua, vào đúng giờ ngọ, tại một bãi biển nổi tiếng ở thành phố Sousse, Tunisia, một người thanh niên đã rút khẩu súng dấu trong chiếc dù ra và bắn xối xả vào đám đông. Trước khi bị cảnh sát bắn hạ, người thanh niên 23 tuổi tên là Seifeddine Rezgui đã hạ sát 38 người trong đó có 30 khách du lịch người Anh. Hành động bắn giết  tại thành phố biển Sousse trên đây được xem là cuộc tấn công khủng bố dã man nhất trong lịch sử hiện đại của Tunisia. Đây là cuộc tấn công khủng bố thứ hai trong năm nay. Ngày 18 tháng 3 vừa qua, hai tay súng đã xông vào Bảo tàng viện Bardo ở thủ đô Tunis và bắn gục 22 người, phần lớn là du khách.
Tên khủng bố tại bãi biển Sousse trên đây có lẽ đã nhận được sự yểm trợ và hướng dẫn rất tỉ mỉ của những tên khủng bố khác mà người ta cho là có liên hệ với Tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” IS.  Cuối tháng 6 vừa qua, một nhân viên an ninh Tunisia đã cho hãng thông tấn AP biết rằng Rezgui và hai tay súng tại Bảo tàng viện Bardo đã từng đến Libya để theo một khóa huấn luyện trong các căn cứ khủng bố.
Gia đình của Rezgui và những người hàng xóm của anh tại đảo Gaafour đã không biết phải giải thích như thế nào với các ký giả về việc người thanh niên đã bị nhồi sọ đ trở thành một tên khủng bố như thế.
Tuy nhiên, tại Tunisia, sau cuộc Cách mạng thuờng được mệnh danh là “Mùa Xuân Á Rập”, những câu chuyện tương tự như của Rezgui không  gây ngạc nhiên chút nào. Quốc gia Bắc Phi này tưởng đã trở thành biểu tượng cho một cuộc cách mạng thành công, nhưng không ngờ đã trở thành nguồn cung cấp thánh chiến quân lớn nhất cho Tổ chức “Quốc gia Hồi giáo”.
Theo uớc tính, kể từ tháng 3 năm 2011, đã có khoảng 3000 người Tunisia đã rời bỏ xứ sở để gia nhập vào Tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” tại Syria và Iraq. Đã có hàng trăm người hồi hương. Nhưng chính phủ Tunisia lo ngại rằng trong số này có cả trăm người như Rezgui, sẵn sàng đưa cuộc xung đột vũ trang về xứ sở và không từ bỏ bất cứ hành động khủng bố nào.
Tại sao Tunisia, cái nôi của “Mùa Xuân Á Rập” lại biến thành nguồn cung cấp nhân sự cho Tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” ? Nhiều người giải thích rằng những nguyên nhân thúc đẩy cuộc “Cách mạng Hoa Lài” như nền kinh tế trì trệ, tệ nạn tham nhũng, tỷ lệ giới trẻ thất nghiệp cao, hiện vẫn còn đó. Do bất mãn, giới trẻ Tunisia đã trở thành miếng mồi ngon cho tổ chức “Quốc gia Hồi giáo”.
Jabeur Amami, một thanh niên 31 tuổi là một điển hình. Tốt nghiệp kỹ sư sau cuộc cách mạng, nhưng Amami vẫn không tìm được việc làm. Anh bắt đầu tìm đến đền thờ địa phương tại Sidi Bouzid, một thành phố nghèo cách Gaafour khoảng 177 cây số về hướng Nam. Gaafour chính là thành phố nơi thủ phạm của vụ bắn giết tại bãi biên Sousse đã lớn lên. Cũng chính tại quảng trường chính ở Sidi Bouzid mà dạo tháng 12 năm 2010, người thanh niên tên là Mohammad Bouazizi đã tự thiêu, châm ngòi cho cuộc cách mạng “Mùa Xuân Á Rập” tại Trung Đông. Không bao lâu sau đó, các đảng “Hồi Giáo” nở rộ tại Tunisia, khai thác triệt để sự bất mãn của dân chúng, cách riêng giới trẻ. Người chị gái của Amami tên là Hayet, một nhà hoạt động xã hội, cho biết các nhà thuyết giảng Hồi Giáo cực đoan tại Sidi Bouzid phân phát truyền đơn và mở các lớp học sau các buổi cầu nguyện để giảng giải cho giới trẻ về Hồi Giáo. Trong thực tế, theo bà Hayet, “đây chỉ là một cuộc ty não”.
Ngày 4 tháng 7 năm 2014, chỉ vài ngày sau khi Tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” tuyên bố thành lập quốc gia, bà Hayet đã thức dậy trong bàng hoàng khi khám phá ra rằng người em trai của bà đã bỏ gia đình ra đi. Người thanh niên đã đến Syria để gia nhập vào Tổ chức “Quốc gia Hồi giáo”. Nhưng tại đây, thất vọng với điều được gọi là “thánh chiến”, Amami mới hiểu được rằng tổ chức này chỉ hoạt động vì tham vọng và tư lợi cá nhân hơn là đánh đổ chế độ độc tài của tổng thống Bashar Assad. Ngày 7 tháng 9 năm đó, Amami trở về Tunisia. Anh đã bị bắt tại phi trường với cáo buộc tham gia một tổ chức khủng bố. Với hy vọng có thể ngăn ngừa thanh thiếu niên Tunisia đi theo con đường của em mình, bà Hayet đã đưa ra nhiều sáng kiến để giúp cho các thanh niên vừa tốt nghiệp có thể tìm được công ăn việc làm.
Một số người Tunisia nói rằng chính phủ nước này đã không nỗ lực đủ để đối phó với những người đang chiêu mộ giới trẻ vào con đường khủng bố hoặc ngăn ngừa các thánh chiến quân rời bỏ xứ sở. Ngày 17 tháng Tư vừa qua, Bộ trưởng Nội vụ Tunisia, ông Najem Gharsali cho biết  kể từ tháng Ba năm 2013 , bộ của ông đã ngăn cản  được 12.490 người Tunisia rời bỏ xứ sở để tham gia chiến đấu tại Iraq, Libya và Syria.
Chính phủ mới đắc cử gần đây, mặc dù phải đương đầu với những khó khăn về kinh tế cũng như tình trạng bất ổn chính trị ở biên giới, vẫn cam kết sẽ làm nhiều hơn để chống lại chủ nghĩa cực đoan. Tuy nhiên, bao lâu chính phủ này không tạo ra được một tương lai tốt đẹp cho giới trẻ Tunisia, thì sự bất mãn và phẫn nộ đã từng châm ngòi n cho cuộc cách mạng dân chủ dạo tháng 12 năm 2010, cũng sẽ nuôi dưỡng chủ nghĩa cực đoan mà thôi (x. Time, Tunisia’s Jihadist Pipeline, 20/7/2015).
Tunisia là quốc gia nằm ở cực Bắc Phi Châu, với diện tích khoảng 165 ngàn cây số vng và trên dưới 11 triệu dân. Là một trong những quốc gia Phi Châu có chỉ số phát triển cao, Tunisia có quan hệ thân thiết với Liên Âu và là thành viên của Khối Pháp Thoại, Liên Hiệp Á Rập Magreb, Liên Hiệp Á Rập và Liên Hiệp Phi Châu. Nhờ có quan hệ mật thiết với Âu Châu, đặc biệt là với Pháp và Ý, so với các nước Phi Châu khác, Tunisia theo đuổi chính sách tư hữu hóa và có một nền kỹ nghệ tương đối hiện đại.
Vào thời cổ, người dân Tunisia thuộc giống người Berbères. Tổ tiên của họ là người Phenixi đã có mặt tại vùng đất này tử thế kỷ thứ 12 trước Công nguyên. Họ đã xây  dựng được một thành phố nổi tiếng là Carthage. Đây là nơi đã từng xảy ra những cuộc chiến giữa Hy Lạp và Tunisia cũng như giữa Tunisia và người La Mã. Đế quốc La Mã đã mang đến Tunisia không những lối kiến trúc của họ mà còn cả Kitô Giáo nữa. Nhưng ngay từ thế kỷ đầu của kỷ nguyên Hồi Giáo, tức thế kỷ thứ 7 sau Công nguyên, Tunisia đã bị những người Á Rập theo Hồi Giáo xâm chiếm. Kế đó, từ năm 1534 đến năm 1574, Tunisia lại chịu sự đô hộ của Đế Quốc Thổ. Mãi cho đến năm 1881, người Pháp mới đặt chân đến Tunisia và biến nước này thành thuộc địa. Vào thời đó, người Pháp và người Ý đổ xô đến định cư tại nước này.
Năm 1956, dưới sự lãnh đạo của ông Habib Bourguiba, Tunisia đã giành được độc lập. Trở thành tổng thống đầu tiên của Tunisia, Bourguiba đã cai trị đất nước bằng bàn tay sắt. Từ năm 1956 cho đến năm 2010, tức năm xảy ra cuộc cách mạng “Mùa Xuân Á Rập”, Tunisia là một trong nước phải trải qua những chế độ độc tài nhất trong thế giới Á Rập.
Tháng 11 năm 1987, khi các bác sĩ tuyên bố Tổng thống Bourguiba không còn đủ khả năng để cai trị đất nước nữa, Thủ tướng Zine El Abidien Ben Ali đã thực hiện một cuộc đảo chính không đổ máu và lên làm tổng thống. Từ đó, ông liên tiếp được tái cử trong nhiều nhiệm kỳ. Mãi cho đến tháng Giêng năm 2011, cuộc nổi dậy của người dân trong cuộc “Cách mạng Hoa Lài” do cuộc tự thiêu của người thanh niên Bouazizi khởi xướng, Tổng thống Ben Ali đành phải bỏ trốn ra nước ngoài.
Tổng thống Ben Ali và gia đình ông bị cáo buộc về hai tội là tham nhũng và tham lạm công quỹ quốc gia. Hầu hết doanh nghiệp trong nước đều nằm dưới sự kiểm soát của gia đình ông. Đệ nhất phu nhân Leila Ben Ali được mô tả như một người phụ nữ “bị bệnh mua sắm”. Bà sử dụng máy bay của chính phủ để thường xuyên đi mua sắm ở các thủ đô thời trang tại Âu Châu.
Các tổ chức tranh đấu cho nhân quyền như Ân Xá Quốc Tế, Freedom House (Ngôi nhà Tự do)...đã thu thập rất nhiều tài liệu cho thấy các quyền căn bản của con người và quyền chính trị tại Tunisia đều đã không được tôn trọng dưới thời Tổng thống Ben Ali. Chế độ của ông đã hoàn toàn bóp nghẹt hoạt động của các tổ chức nhân quyền trong nước. Năm 2008, Tunisia được xếp hạng thứ 143 trong tổng số 173 nước trên thế giới về thành tích vi phạm nhân quyền.
Sau cuộc “Cách mạng Hoa Lài” và bầu cử tự do, một số tổ chức không chính phủ đã được tổ chức lại và hàng trăm tổ chức khác xuất hiện. Đáng chú ý nhất là Tổ chức có tên “Liên Minh Nhân Quyền Tunisia”. Đây là tổ chức nhân quyền đầu tiên tại Phi Châu và trong thế giới Á Rập. Trước đây tổ chức này phải chịu sự chi phối và kiểm soát chặt chẽ của chính phủ, nay đã được hoàn toàn tự do để hoạt động.
Sau cuộc cách mạng, một số tổ chức của người Hồi Giáo thuộc hệ phái Salafi có khuynh hướng cực đoan trong việc áp dụng luật Hồi Giáo, đã xuất hiện. Các nhóm này đã tìm cách áp chế tự do của văn nghệ sĩ, nhưng gặp sự chống đối của đa số người Hồi giáo tại Tunisia. 98 phần trăm dân số Tunisia theo Hồi giáo. Chỉ có khoảng 2 phần trăm theo Kitô Giáo, Do Thái Giáo hoặc một số tôn giáo khác. Phần lớn người Hồi Giáo tại Tunisia thuộc hệ phái Sunni. Mặc dù Hiến Pháp Tunisia tuyên bố Hồi Giáo là Quốc Giáo và đòi hỏi tổng thống nước này phải là một tín đồ Hồi Giáo, các tôn giáo khác vẫn được tự do hoạt động; các quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và thực hành đạo vẫn được tôn trọng. Ngoài ra, Tunisia cũng là một quốc gia thế tục, nghĩa là tôn giáo không những tách biệt khỏi chính trị mà còn ngay cả trong đời sống công cộng. Ngay cả trước khi xảy ra cuộc “cách mạng Hoa Lài”, chính phủ hạn chế việc mang khăn trùm đầu (hijab) trong các cơ quan chính phủ, trên đường phố và trong các cuộc hội họp công cộng. Chính phủ Tunisia cho rằng khăn “Hijab” có nguồn gốc ngoại lai không phù hợp với văn hóa dân tộc. Năm 2006, chính Tổng thống Ben Ali tuyên bố rằng ông sẽ chống lại việc mang khăn “Hijab” vì ông cho rằng đây là một lối phục sức của riêng một sắc dân, chứ không của chung toàn dân. Theo một số nguồn tin, cảnh sát Tunisia còn làm khó dễ những người đàn ông có “ngoại diện Hồi Giáo” như để râu chẳng hạn; họ có thể bị bắt giữ và đôi khi bị buộc phải cạo râu.
Tuy nhiên, sau cuộc cách mạng, một chính phủ Hồi Giáo dung hòa hơn đã cho nhiều tự do hơn trong việc thực hành đạo. Nhưng đây cũng là một cánh cửa được mở ra cho những nhóm cực đoan như hệ phái Salafi là những người luôn kêu gọi áp dụng Luật Hồi Giáo Sharia một cách khắt khe.
Nhìn chung, người Tunisia tỏ ra khoan nhượng đối với tự do tôn giáo. Họ thường không quan tâm đến tín ngưỡng của người khác. Như vậy, như tạp chí Time đã nhận xét, những nguyên nhân khiến cho giới trẻ Tunisia dễ bị đầu độc, “cực đoan hóa” và bị tổ chức khủng bố “Quốc gia Hồi giáo” chiêu mộ, không phải là niềm tin tôn giáo, cho bằng là tình trạng kinh tế trì trệ, tỷ lệ thất nghiệp cao của giới trẻ và tệ nạn tham nhũng.


Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2015

Một thế giới không hận thù


                                                                              
                                                                                            Chu Thập
31.7.15
Trên tạp chí Reader’s Digest, số tháng Tư năm 2013, tôi đọc được một câu chuyện về tha thứ thật cảm động. Nhân vật chính của câu chuyện là một thanh niên Hồi giáo đến từ Bangladesh tên là Rais Bhuiyan. Chuyện thương tâm đến với anh chỉ đúng 10 ngày sau khi xảy ra cuộc tấn công khủng bố nhắm vào Ngũ Giác Đài và Tòa Tháp Đôi ngày 11 tháng 9 năm 2001.
Sau khi nhận được “thẻ xanh” để trở thành thường trú nhân được một năm, Rais đã rời bỏ New York để đến thành phố Dallas, tiểu bang Texas, với hy vọng tìm được một việc làm tốt hơn, mặc dù bạn bè anh cảnh cáo rằng người dân tại đây không có nhiều thiện cảm đối với người di dân. Nhưng niềm hy vọng được đón rước người vợ sắp cưới khiến anh luôn tỏ ra lạc quan.
Anh không ngờ rằng lời cảnh cáo của bạn bè đã trở thành sự thật. Buổi trưa ngày 21 tháng 9 năm đó, giữa lúc Rais đang làm thêm giờ phụ trội tại một trạm xăng, một người đàn ông da trắng 31 tuổi tên là Mark Stroman đã xông vào tiệm và làm hành động mà ông ta nói rằng “hàng triệu người Mỹ cũng muốn làm” sau biến cố 11 tháng 9. Đứng cách Rais khoảng 1 thước 2, với cây súng săn hai nòng, ông nhả đạn vào người anh.
Khi Mark vừa bước vào trong trạm xăng, Rais cứ nghĩ rằng anh sẽ phải đối phó với một vụ cướp thứ nhì kể từ khi anh đến làm việc tại đây. Lần đó anh ngỡ tên cướp là một người bình thường, muốn xách súng đi gạ bán như người dân tại tiểu bang Texas vẫn thường làm, cho nên mới hỏi: “Giá cây súng bao nhiêu?”
Lần này, anh cũng cố gắng tỏ ra bình thản và thân thiện với người đang cầm trên tay khẩu súng hai nòng. Nhưng chưa kịp mở miệng, Rais đã phải trả lời cho câu hỏi của Mark: “Mày đến từ nước nào?” Kể từ sau ngày 11 tháng 9, đây không phải là một câu hỏi bình thường nữa. Cách đó vài ngày, Rais cũng đã từng trả lời một câu hỏi như thế cho các viên cảnh sát thường ghé vào tiệm để mua bánh kẹo, nước giải khát. Anh ngạc nhiên vô cùng, vì nhiều người Mỹ vẫn nghĩ rằng chỉ có người Á Rập mới theo Hồi Giáo.
Sau khi Mark cho nổ súng vào người anh, Rais có cảm tưởng như có “hàng triệu con ong đang chích vào mặt anh”.
Sau này, tên sát nhân cho cảnh sát biết rằng hắn đang truy lùng những người Á Rập. Hắn phịa ra rằng mình có một người em gái đã bị sát hại trong vụ tấn công khủng bố vào một trong hai tòa nhà tháp đôi. Hắn cũng nói rằng ngoài người Á Rập, hắn cũng không tha những di dân đến từ Pakistan và Ấn Độ. Trước Rais, hắn đã hạ sát một người Ấn Độ.
Ra trước tòa, tên sát nhân không để lộ bất cứ một cử chỉ hối hận nào. Năm 2002, Mark đã bị tòa kết án tử hình vì tội giết người Ấn Độ.
Về phần mình, Rais được may mắn thoát chết mặc dù nhận đến 38 mảnh đạn trên mặt, sọ và mắt.Vì không có bảo hiểm y tế để được chữa trị đầy đủ, Rais bị mù một mắt. Ngoài ra, mỗi lần làm một cử động nhỏ trên đầu, anh cũng cảm thấy rất đau đớn.
Là một tín hữu Hồi Giáo thuần thành, mỗi ngày anh cũng cầu nguyện 5 lần. Cứ mỗi lần đầu anh chạm xuống nền nhà, anh cảm thấy đau đớn tột cùng. Mẹ anh đã từng nói rằng anh là một người “cứng đầu”. Bây giờ anh mới thực sự nhận ra điều đó.
Sau khi Mark bị đưa vào hành lang tử thần, cuộc sống của Rais cũng không sáng sủa hơn. Không tiền, không xe, lại mang theo một lố hóa đơn y tế đến cả chục ngàn Mỹ Kim. Ngoài ra, người bạn và đồng thời cũng là chủ của tiệm xăng đã không tỏ ra tận tình với anh như trước nữa khiến anh cảm thấy mình chỉ còn là gánh nặng cho người khác. Nhưng Rais không chịu bỏ cuộc, nghĩa là quay đầu về nước. Anh cương quyết ở lại Dallas, mặc dù vẫn còn lo sợ mỗi khi ra khỏi nhà. Bị trầm cảm nặng sau chấn thương, nhưng anh cũng không có đủ tiền để được tư vấn về tâm lý. Năm 2003, sau khi đã suy nghĩ và cầu nguyện, anh quyết định đi xin việc làm và lần này, anh được nhận như một chân chạy bàn trong một nhà hàng. Qua trung gian một người bạn bác sĩ, chuyện nợ nần của anh cũng được một Quỹ tài trợ của tiểu bang thanh toán. Hết nợ, anh mở trương mục tiết kiệm và tín dụng, thuê phòng và mua xe.
Khoảng tháng 11 năm 2009, sau khi đã theo học một khóa về vi tính, Rais thấy mình cần phải thực hiện điều mà trong cơn thập tử nhứt sinh anh đã từng hứa với Đấng Allah là: phải làm một cuộc hành hương sang Mecca. Cha anh đã từng đến đó 3 lần. Do đó, lần này Rais đưa mẹ cùng đi với mình. Họ đã ở lại đó cả tháng trời.
Trở lại Dallas, Rais thấy mình đã hoàn toàn trở thành một con người mới. Anh cho biết không còn màng đến bản thân nữa, mà chỉ còn nghĩ đến Mark Stroman, người đang ở trong hành lang tử thần từ 9 năm qua. Anh nói: “Ông ta (Mark) cũng là một con người như tôi. Ông đã phạm một sai lầm. Dĩ nhiên đó là một sai lầm khủng khiếp. Nhưng trong Kinh Coran có nói rõ ràng rằng nếu bạn lâm vào một hoàn cảnh như tôi, hoặc là bạn đòi hỏi công lý, bạn yêu cầu được đền bù về mặt tài chính hoặc là bạn tha thứ. Và một khi bạn tha thứ, thì điều đó có nghĩa là người đó được tha thứ; người đó không phải bị giam tù nữa. Một khi tôi đã tha thứ rồi thì có ích gì để mà trừng phạt anh ta nữa. Đó là giáo huấn của Hồi Giáo. Tôi đã đau khổ tột cùng rồi...Chẳng có ích gì khi giết Mark Stroman nữa. Ông ta cần phải được cứu thoát”.
Với niềm xác tín này, Rais bắt đầu mở chiến dịch “cứu sống” Mark. Anh tham dự các chương trình gây quỹ, lắng nghe các thuyết trình viên dẫn giải để thành lập một mạng lưới tranh đấu cho mạng sống của Mark cũng như bãi bỏ án tử hình tại Texas. Ngày 16 tháng 11 năm 2011, tức 18 tháng sau khi Rais mở chiến dịch cứu sống Mark, báo “The Dallas Morning News” đã cho đăng một bài phóng sự với tựa đề “Người di dân Bangladesh tìm cách xin đình hoãn việc hành quyết người đã bắn anh để trả thù cho vụ khủng bố ngày 11 tháng 9”. Sau khi bài báo được nhiều người đọc, Rais công khai xuất hiện để kêu gọi chuyển án tử hình của Mark thành chung thân. Anh giải thích trên báo “The Dallas Morning News”: “Tôi đã tha thứ cho Mark Stroman từ nhiều năm nay rồi. Tôi tin rằng ông ta là một người thiếu hiểu biết, đã không thể phân biệt phải trái. Nếu không, ông đã không hành động như thế. Tôi tin rằng khi tha mạng cho Mark Stroman, chúng ta sẽ dành cho ông một cơ hội để, nhờ thời gian giúp cho suy tư và trưởng thành, ông sẽ nhận thức được rằng hận thù sẽ chẳng mang lại bất cứ một giải pháp ôn hòa nào cho bất cứ một hoàn cảnh nào. Có lẽ, nếu có cơ hội, sự tha thứ sẽ có ảnh hưởng tích cực nơi ông để ông trở thành một người đứng ra kêu gọi chống lại những tội ác vì hận thù”.
Rất tiếc là chiến dịch cứu sống Mark của Rais đã không thành công. Mark đã bị hành quyết ngày 20 tháng 7 năm 2011. Nhưng ít ra, trước khi ra đi, Mark đã biết hối hận và cảm nhận được sự tha thứ của Rais. Trong một cuộc nói chuyện qua điện thoại, Mark Stroman đã nói với Rais: “Chào bạn, cám ơn bạn vì tất cả những gì bạn đã cố gắng làm cho tôi. Bạn mang lại sự phấn khởi. Cám ơn bạn tận đáy lòng”. Về phần mình, Rais nói: “Ông Mark, ông phải biết rằng tôi đang cầu nguyện với Thiên Chúa, Đấng Nhân Từ và Cảm Thông. Tôi tha thứ cho ông. Tôi không thù ghét ông. Tôi đã không bao giờ thù ghét ông...”
Sau khi Mark bị hành quyết, Rais vẫn tiếp tục chiến dịch tha thứ và chống án tử hình của anh. Anh đã lập ra tổ chức “World Without Hate” (Thế Giới Không Hận Thù). Mỗi cuối tuần, Rais đi đây đi đó để phổ biến sứ điệp của anh: “Cần phải giúp mọi người biết rằng họ không nên thù hận nhau chỉ vì những khác biệt của nhau. Nếu bạn thực sự muốn thù ghét, hãy thù ghét thái độ ấy”.
Hành động tha thứ và hoạt động cho một “Thế Giới Không Hận Thù” của người thanh niên Hồi Giáo Bangladesh trên đây giúp tôi hiểu thêm về Hồi Giáo. Lâu nay, nhứt là kể từ sau cuộc khủng bố 11 tháng 9 năm 2001, tôi dễ có khuynh hướng chỉ nhìn Hồi Giáo xuyên qua lăng kính của các tổ chức khủng bố như al-Qaeda, Boko Haram, al-Shabab...hoặc gần đây tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” IS. Tệ hơn, có khi hình ảnh của tiên tri Mahomet chỉ được tôi nhìn thấy xuyên qua một số bức hình biếm họa đầy xúc phạm mà một số báo trào phúng và châm biếm như “Jyllands-Posten” ở Đan Mạch hay  “Charlie Hebdo” ở Pháp nhân danh điều được gọi là tự do ngôn luận để vẽ vời.
Tôi phải thú nhận rằng tôi chẳng có chút hiểu biết nghiêm chỉnh nào về Hồi Giáo. Tôi chưa từng đọc Kinh Coran. Có chăng chỉ là một số trích đoạn rời rạc dễ khiến cho người ta bôi nhọ và xuyên tạc về tôn giáo này. Dĩ nhiên, cũng như bất cứ một phong trào tôn giáo nào, Hồi Giáo đã xuất hiện trong lịch sử và mang theo hay đúng hơn cũng đành phải hứng chịu những giới hạn của lịch sử. Nhưng trong cốt lõi của nó, cũng giống như mọi tôn giáo theo đúng nghĩa đã từng xuất hiện trong lịch sử nhân loại, Hồi Giáo chỉ dạy con người ăn ngay ở lành mà thôi. Đây là điều mà người thanh niên Bangladesh cũng như tuyệt đại đa số những tín đồ Hồi Giáo thuần thành trên thế giới này đang cố gắng thực hiện. Những người này cho tôi thấy được bộ mặt đích thực của Hồi Giáo. Họ nhắc nhở tôi rằng Hồi giáo không phải là năm ba đoạn kinh Coran tiêu cực được tách ra khỏi văn mạch và bối cảnh lịch sử để hiểu một cách sai lạc về Hồi Giáo như những phần tử cực đoan và những kẻ khủng bố đã làm.
Là một tín hữu Kitô, tôi cũng luôn được cảnh cáo để không chỉ trích dẫn một vài câu Kinh Thánh ra khỏi văn mạch hoặc giải thích một cách nông cạn để rồi bác bỏ toàn bộ giáo huấn của Chúa Giêsu. Đồng hành trong lịch sử nhân loại, Kitô Giáo cũng đã trải qua bao nhiêu thăng trầm lịch sử. Thời Cựu Ước, đã từng có những tiên tri xuất hiện đúng lúc để cảnh cáo về những lệch lạc của dân Do Thái. Suốt cuộc đời, Chúa Giêsu cũng đã không ngừng lên án những lạm dụng và những lệch lạc của tôn giáo. Qua từng thời kỳ, Giáo Hội của tôi cũng đã không ngừng đấm ngực về những hành động sai trái của mình. Ai cũng biết rằng Giáo Hội hay đúng hơn Tin Mừng của Chúa Giêsu không phải là đế quốc La Mã, không phải là những cuộc thập tự chinh, không phải là những tòa điều tra để trừng phạt những người lạc giáo, không phải là các đế quốc thực dân, không phải là những cuộc chiến tranh tôn giáo giữa Công giáo và Tin lành và chắc chắn ngày nay lại càng không phải là những ông “cố đạo” phạm tội ấu dâm. Tôi không thể chỉ vì một vài cây cỏ dại mà cày xéo cả một thuở ruộng tươi tốt. Tôi không thể chỉ vì một vài cây rừng ngã đổ mà không muốn nhìn thấy cả một khu rừng xanh tươi.
Tin Mừng của Chúa Giêsu, như luôn được Kitô Giáo loan truyền là Tin Mừng của tình thương, của quảng đại, của cảm thông và nhứt là của tha thứ. Tôi xác tín về Tin Mừng ấy khi nhìn lại cuộc đời của Chúa Giêsu mà kết thúc là cái chết trên thập giá và tuyệt đỉnh chính là cử chỉ tha thứ của Ngài đối với những kẻ sát hại Ngài. Toàn bộ giáo huấn và cuộc đời của Ngài sẽ vô nghĩa nếu không được thể hiện và kết thúc bằng cử chỉ tha thứ ấy.
Tôi vẫn luôn nghiền ngẫm về câu nói của Đức Đạt Lai Lạt Ma: tôn giáo nào giúp bạn thành người tốt hơn là tôn giáo tốt nhứt đối với bạn. Với tôi, Kitô Giáo là tôn giáo tốt nhứt. Nhưng tôi cũng tin rằng các tôn giáo khác cũng là những tôn giáo tốt nhứt đối với các tín đồ của các tôn giáo đó, bởi vì tôn giáo nào cũng chỉ dạy con người cố gắng sống cho ra người lương thiện và tử tế hơn mà thôi. Tử tế hơn để không có thái độ miệt thị, xúc phạm hay chê bai mỗi khi nói đến niềm tin tôn giáo của người khác. Tử tế hơn để cố gắng xây dựng một “Thế Giới Không Hận Thù”.