Thứ Hai, 13 tháng 7, 2015

Một số hiện tượng xã hội nơi thanh thiếu niên Nhật Bản


10.7.15
“Hikikomori” là cụm từ người Nhật Bản hiện nay sử dụng để nói về hiện tượng thanh niên nước này tự giam mình trong phòng ngủ và chấm dứt mọi quan hệ với xã hội và thế giới bên ngoài. Đây là một trong những vấn đề xã hội và y tế trầm trọng nhất hiện nay tại quốc gia có nền kinh tế đứng hàng thứ 3 trên thế giới. Hiện đang có khoảng một triệu người, phần lớn thuộc nam giới, đang giam mình trong phòng ngủ và không muốn ra khỏi đó.
Các chuyên gia y tế Nhật Bản đang phải điên đầu trong nỗ lực ngăn ngừa hội chứng này nơi các thế hệ tương lai. Hiện tượng tự giam tù này không những làm xáo trộn cuộc sống gia đình mà còn đe dọa đến nền kinh tế của quốc gia.
Từ 3 năm nay, thế giới của Yuto Onishi, một cư dân tại Tokyo, được thu gọn vào chiếc phòng nhỏ của anh. Người thanh niên 18 tuổi này ngủ suốt ngày. Đêm đến, con ma cà rồng này lướt mạng và đọc chuyện “manga”, một loại truyện khôi hài nổi tiếng hiện nay của Nhật Bản. Anh từ chối mọi giao tiếp với bạn bè và gia đình. Nếu có chờ đêm xuống để ra khỏi phòng, anh cũng chỉ rón rén ra phố để ăn uống mà thôi.
Giải thích về hiện tượng này, Onishi nói với đài ABC rằng “một khi đã vướng vào hội chứng này, bạn hoàn toàn không còn ý thức về thực tại”. Chính anh biết rằng đây là một tình trạng bất thường, nhưng anh lại không muốn thay đổi. Anh nói rằng anh cảm thấy an toàn trong tình trạng tự giam tù này.
Một trong những nguyên nhân khiến nhiều thanh niên Nhật Bản rơi vào hội chứng này là sức ép và sự căng thẳng trong việc học hành. Thời trung học đệ nhất cấp, Onishi đã từng muốn được làm trưởng lớp. Nhưng vì không đạt được ước vọng và  bị chúng bạn đánh giá thấp, anh cảm thấy xấu hổ cho nên rút lui vào bóng tối. Đối với Onishi và hàng triệu thanh niên Nhật Bản như anh, áp lực của gia đình và xã hội là một gánh nặng họ không chịu đựng nổi.
Bác sĩ Takahiro Kato là một trong những chuyên gia về hội chứng “Hikikomori”. Bác sĩ Kato nói: “Trong các xã hội Tây Phương, nếu bạn giam mình trong nhà, người ta bảo bạn hãy đi ra ngoài. Tại Nhật Bản thì không. Cuộc chơi đã thay đổi: tất cả đều diễn ra trên màn ảnh, chứ không phải là những hoàn cảnh của cuộc sống thực tế nữa”. Theo ông, cũng có những yếu tố văn hóa khiến thanh niên Nhật Bản mắc hội chứng “Hikikomori”: họ cảm thấy không đủ tự tin và nhất là về mặt tình cảm lại quá lệ thuộc vào người mẹ.
Vì những nguyên nhân và sự chữa trị hội chứng “Hikikomori” ít được biết đến cho nên bác sĩ Kato đã làm mọi nỗ lực để ngăn ngừa thanh thiếu niên Nhật Bản khỏi rơi vào hội chứng này. Hiện nay, viên bác sĩ này đang cầm đầu một nhóm nghiên cứu tại Đại học Kyushu để tìm hiểu về hội chứng này. Ông cho biết: người ta chỉ chú trọng đến khía cạnh tâm lý khi nghiên cứu về hiện tượng này, trong khi đó hội chứng “Hikikomori” không chỉ là một thứ tâm bệnh. Chính vì vậy mà nhóm nghiên cứu của bác sĩ Kato đặt nặng những khía cạnh xã hội và sinh lý của hiện tượng. Nói chung, nhóm nghiên cứu của bác sĩ Kato muốn có một sự chẩn đoán đa diện về hội chứng này.
Tiến trình hồi phục khỏi hội chứng “Hikikomori” có thể là một con đường dài và người càng tự giam mình lâu trong phòng ngủ thì càng khó ra khỏi đó.
Một trong những bệnh nhân của bác sĩ Kato, một thanh niên 23 tuổi, đã được chữa trị từ một năm nay. Người thanh niên này cho biết mẹ anh là một người đàn bà “độc tài”, kìm kẹp, luôn thúc ép con mình phải là một học sinh giỏi. Nhưng vì không thể là một học sinh giỏi trong lớp cho nên anh đã bỏ học và tự giam mình trong phòng ngủ. Anh nói: “Tôi muốn dẹp bỏ mọi sự...Tôi muốn ngưng mọi sự. Tôi không muốn suy nghĩ...Tôi cũng chẳng muốn có bất cứ cảm xúc nào”.
Bác sĩ Kato nói rằng sự hồi phục từ hội chứng này chỉ có thể diễn ra nếu có sự thay đổi trong các quan hệ trong gia đình. Điều đó có nghĩa là không riêng bệnh nhân mà cả gia đình cũng cần được cố vấn về tâm lý. Nói cách khác, những bước đầu của việc hồi phục chính là tái lập sự giao hảo và lòng tín nhiệm trong gia đình.
Yuto là một thanh niên đã được chữa lành khỏi hội chứng “Hikikomori” từ 6 tháng nay. Anh đã ra khỏi phòng ngủ của mình. Chính giấc mơ được đi du lịch và làm việc ở nước ngoài đã đưa anh ra khỏi phòng tự giam của mình. Anh cho biết: tự mình đương đầu với nỗi đau của mình là một điều khủng khiếp. Theo anh, cần phải có sự giúp đỡ của người khác bệnh nhân mới có thể có được một cái nhìn khác về tương lai của mình.
Trường hợp được chữa trị và ra khỏi phòng tự giam của mình như Yuto không phải là nhiều. Hiện vẫn còn hàng triệu thanh niên Nhật Bản đang tiếp tục giam mình trong phòng ngủ của họ.
Nói chung, áp lực của gia đình và trường học vẫn là nguyên nhân chính đẩy thanh thiếu niên Nhật Bản vào hiện tượng “Hikikomori”. Có lẽ hơn bất cứ nơi nào trên thế giới, trường học là một nơi tạo nhiều áp lực hơn cả. Ngay từ tuổi thơ, trẻ con Nhật Bản nào cũng được nhồi nhét vào đầu ý tưởng cho rằng bằng cấp đại học là hành trang cần thiết cho sự thành công của chúng trong cuộc sống tương lai. Vào được đại học danh tiếng thì sự thành công càng được bảo đảm. Nhiều đại học đã bắt đầu tuyển lựa sinh viên không những tại các trường trung học mà còn cả ở bậc mẫu giáo nữa. Càng thức thời thì cha mẹ càng muốn đầu tư cho con cái càng sớm càng tốt. Mới 3,4 tuổi, trẻ con đã được gởi vào những vườn trẻ nổi tiếng nhất để chuẩn bị cho bậc đại học của chúng. Chính vì hệ thống ganh đua một mất một còn này mà khi chưa tới tuổi dậy thì, thanh thiếu niên đã được đánh giá là thành công hay không trong tương lai.
Bên cạnh sức ép do sự ganh đua tạo ra, học sinh Nhật Bản còn phải đối đầu với một tệ nạn ngày càng phổ biến là sự bắt nạt của chúng bạn. Nhiều em học sinh phải bỏ học vì sợ bị chúng bạn bắt nạt. Nhưng không chỉ có học sinh mới bắt nạt nhau. Đôi khi chính thày cô cũng tham gia vào trò chơi quái ác này. Người học sinh bị bắt nạt không còn biết phải tìm sự cứu giúp và nương tựa vào ai nữa. Chuyện thi cử ở Trung Học lại càng là một cơn ác mộng cho nhiều học sinh vì bị báo chí và truyền thông theo dõi chặt chẽ.
Những áp lực do hệ thống giáo dục tại Nhật Bản tạo ra không chỉ tạo ra hiện tượng tự giam mình trong phòng ngủ của thanh thiếu niên, mà còn là nguyên nhân dẫn đến việc tự tử. Nhật Bản hiện vẫn còn là một trong những quốc gia có tỷ lệ tự tử nơi thanh thiếu niên cao nhất trong các nước có kỹ nghệ hàng đầu hiện nay. Nếu so với Hoa Kỳ, tỷ lệ tự tử của thanh thiếu niên Nhật Bản cao gấp hai lần.Trong năm 2003, cứ 15 phút, có một vụ tự tử. Theo thống kê, Tokyo là thành phố có tỷ lệ cư dân chết do chính bàn tay của mình cao gấp 5 lần so với cái chết vì tai nạn giao thông.Tỷ lệ tự tử nơi người lớn được xem là cao nhất. Nguyên nhân chính vẫn là những lo lắng về sức khỏe và kinh tế. Tuy nhiên, hành động tự tử nơi giới trẻ hiện đang gia tăng theo một tỷ lệ đáng báo động. Trong hai năm 2001 và 2002, số vụ tự tử nơi học sinh trung học đệ nhất cấp và ngay cả tiểu học chiếm đến 57 phần trăm.
Cùng với hiện tượng tử tử,  hệ thống giáo dục của Nhật Bản  cũng khiến cho thanh thiếu niên nổi loạn chống lại xã hội truyền thống. Sự xuất hiện của các băng mô tô chuyên quậy phá về đêm trên các đường phố là một trong những thể hiện của sự nổi loạn của thanh thiếu niên.
Bên cạnh các hiện tượng như “Hikikomori”, tự tử hoặc nổi loạn, vào thập niên 1980, còn có một hiện tượng khác mà người Nhật gọi là “furita”. Từ này dùng để chỉ những người chỉ làm việc bán thời gian và tự do. Nhiều thanh niên, nhất là những người không qua nổi kỳ thi tú tài để vào đại học, quyết định sống mà không màng đến sự nghiệp tương lai. Họ chấp nhận làm công việc bán thời gian với mức lương thấp để được tự do làm những gì mình muốn. Thái độ này có thể được xem như một cuộc nổi loạn thụ động chống lại một xã hội trong đó hình ảnh và địa vị xã hội có được nhờ bằng cấp và học vị luôn được trọng nể. Theo thống kê, hiện tại Nhật Bản, con số những người “furita” tuổi từ 15 đến 34 tính từ năm 1991 đến năm 2001 đã tăng gấp đôi. Có khoảng 10.1 phần trăm lực lượng lao động của Nhật Bản thuộc thành phần “furita” này.
Nhưng trong các hiện tượng xã hội tại Nhật Bản hiện nay, đáng lo ngại nhất vẫn là hiện tượng giới trẻ bị thu hút bởi bạo lực và chết chóc. Trong hậu bán thế kỷ 20 vừa qua, Nhật Bản được ghi nhận là một trong những nước không có bạo động giết người, ngay cả trong các đô thị. Tuy nhiên, năm 1997, một thiếu niên 14 tuổi đã khiến cho cả nước phải sửng sốt khi chặt đầu một học sinh 11 tuổi và đem bỏ trước cổng trường của học sinh này. Kể từ đó, người dân Nhật thường xuyên chứng kiến hay nghe nói đến các vụ bạo động nơi thanh thiếu niên. Trong một bài phóng sự  dạo tháng 8 năm 2004, báo The Washington Post của Hoa Kỳ đã ghi nhận rằng tính đến năm 2002, tỷ lệ các vụ bạo động trong trường học tại Nhật Bản đã gia tăng gấp năm lần so với thập niên trước. Một tờ báo tại Nhật Bản cũng đã cảnh cáo rằng sân trường đã biến thành chiến trường.
Dĩ nhiên, tương ứng với nạn bạo động gia tăng và hiện tượng thanh thiếu niên chạy trốn khỏi xã hội chính là sự xuống cấp về đạo đức của xã hội. Lâu nay, Nhật Bản vẫn là thị trường tình dục lớn nhất đối với các phụ nữ Á Châu. Đàn ông Nhật vẫn được xem là nhóm người du lịch tình dục lớn nhất tại lục địa này. Chỉ riêng tại một khu dành cho kỹ nghệ tình dục không rộng bằng một nửa cây số vuông tại Tokyo, người ta đếm được 3.500 “tiệm” tình dục đủ loại. Tham gia vào kỹ nghệ này cũng có những thiếu nữ vị thành niên đang học trung học. Sở dĩ họ làm nghề này là vì họ “quá lười biếng” để làm việc, nhưng lại thích có tiền để sắm hàng hiệu.
Nhìn chung, các hiện tượng xã hội tại Nhật Bản hiện nay, từ việc tự giam tù đến tự tử và bạo động nơi thanh thiếu niên, đều qui về một mối: rất nhiều người thuộc thế hệ trẻ Nhật Bản hiện nay không còn nhìn thấy đâu là lý tưởng và mục đích của cuộc sống. Chính quyền và các chuyên gia vẫn chưa tìm được những giải pháp thích đáng cho cuộc khủng hoảng mà người ta có thể nói là “đạo đức” của giới trẻ hiện nay. Lời hứa hẹn về một cuộc sống phồn vinh xem ra không còn đủ sức hấp dẫn đối với giới trẻ Nhật Bản bởi vì họ đã nhìn thấy sự trống rỗng tinh thần của những thế hệ đi trước.

(theo ABC và báo mạng “The Mercer Family”)

Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2015

Còn biết hổ thẹn với lương tâm


Chu Thập
3.7.15

Học sinh Úc đang chuẩn bị thi tốt nghiệp trung học. Với đa số, đây là cửa ngõ để bước vào đại học. Còn tại hầu hết các nước Âu Châu, bằng tú tài được xem như “chứng chỉ” để vào đời. Tại Ý chẳng hạn, bằng tú tài được gọi là chứng chỉ về sự trưởng thành (maturità). Có lẽ vì bằng tú tài được xem như một hành trang vừa đủ để vào đời chăng mà năm nay (2015), đề thi triết ban Khoa học S (Scientifique-Sciences de la vie et de la Terre: Khoa học, Khoa học về sự sống và Trái Đất) tại Pháp lại xoáy vào một vấn đề rất đáng suy nghĩ: “Làm chính trị có buộc phải tôn trọng sự thật không?” (La politique échappe-t-elle à l’exigence de vérité?)
Khi đưa ra một đề thi như thế với các cô cậu tú tương lai, những người lần đầu tiên sẽ sử dụng lá phiếu của mình để góp phần xây dựng đất nước, hẳn các nhà sư phạm Pháp muốn đặt họ trước một thực tại khó chối cãi được trong xã hội ngày nay: trong bất cứ một cuộc thăm dò nào về sự tín nhiệm của dân chúng đối với các ngành nghề khác nhau trong xã hội, hầu như ở đâu, các chính trị gia,  nếu không đứng chót thì cũng gần đội sổ. Nếu bảo “nhà báo nói láo ăn tiền” thì có lẽ cũng chẳng quá đáng để nói rằng các chính trị gia nói láo như Cuội!
Chỉ cần nhìn vào chính trường Úc cũng đủ để thấy nhan nhản những bằng chứng về tài nói láo của các chính trị gia. Mới đây, lãnh tụ Đối lập Bill Shorten đã nhìn nhận rằng mình đã từng nói dối về âm mưu lật đổ Thủ tướng Julia Gillard hồi năm 2013. Ngày 19 tháng 6 năm 2013, ông đã lén lút đi gặp ông Kevin Rudd để bàn về một âm mưu lật đổ bà Gillard. Nhưng 3 ngày sau đó, ông lên đài phát thanh 3AW để khẳng định: “Tôi vẫn tiếp tục ủng hộ thủ tướng (Gillard) của chúng ta. Chấm hết!” Chỉ mới đây, nhân dịp Đài ABC cho trình chiếu cuốn phim tài liệu có tựa đề “The Killing Season” (Mùa Sát phạt) về cuộc đấu đá giữa hai cựu thủ tướng Lao Động là Kevin Rudd và Julia Gilliard, ông Bill Shorten mới lên tiếng nhìn nhận rằng ông đã “nói dối” với đài 3AW về chuyện ông đi đêm với ông Rudd, rằng ông hối hận về hành động này. Sau lời “thú tội” này, uy tín của lãnh tụ đối lập đã giảm đi không ít trong lòng cử tri Úc.
Dường như người dân Úc không chấp nhận “quyền” của các chính trị gia được nói dối. Cho nên, chiếc ghế của bất cứ thủ tướng nào cũng dễ bị lung lay nếu một lần dối trá nào đó của họ bị phanh phui. Nữ Thủ tướng Gillard ra đi không chỉ vì bà mang tội “đâm sau lưng chiến sĩ” khi hạ bệ ông Rudd mà còn vì đã “hứa cuội” về thuế Khí thải. Trước cuộc bầu cử, bà thề thốt sẽ không bao giờ có thứ thuế đó trong chính phủ của bà. Nhưng liền sau đó, vì phải liên minh với Đảng Xanh để thành lập chính phủ thiểu số, bà đành phải “nuốt lời” để ban hành thuế này. Kể từ đó, Lãnh tụ Đối lập Tony Abbott đã triệt để khai thác cái hỗn danh “Juliar” (Julia dối trá!) của bà và tấn công vào điều mà ông gọi là “nhân cách” của bà.
Nhưng ông “thày dòng điên” (Mad monk) Abbott này cũng đâu có vừa gì trong chuyện nói láo. Chỉ một ngày trước cuộc bầu cử năm 2013, ông đã long trọng thề thốt trên đài SBS rằng sẽ không có “cắt giảm về giáo dục, về y tế, về trợ cấp xã hội...không có cắt giảm đối với đài ABC hay đài SBS”. Vậy mà trong ngân sách đầu tiên, Thủ tướng Abbott tỉnh bơ coi như mình chẳng hề có hứa hẹn gì về những cắt giảm trên đây. Nếu cách đây mấy tháng, uy tín của ông có xuống thấp đến mức chưa từng thấy trong lịch sử Úc là cũng một phần bởi cái “tật” dối trá của các chính trị gia mà chính ông không tránh khỏi.
Thật ra đâu chỉ trong sinh hoạt chính trị người ta mới mặc nhiên xem như mình có “quyền” nói dối. Tôi nghĩ nếu có một thứ tội “tổ tông” thì cốt lõi của tội ấy là dối trá. Ngày nay khoa học không còn cho phép tôi tin câu chuyện sa ngã ăn trái cấm của ông bà nguyên tổ loài người như một sự thật lịch sử nữa. Nhưng nói bảo đó là một câu chuyện đầy ý nghĩa để giải thích về những khuyết điểm trong bản tính con người, trong đó nổi bật nhứt là thói dối trá, tôi thấy dễ dàng chấp nhận hơn. Dối trá là một phần trong cuộc sống hàng ngày của con người. Có ai mà không một lần nói dối và biết đâu mỗi ngày ai trong chúng ta lại chẳng hơn một lần nói dối. Triết gia Đức Friedrich Nietzche (1844-1900) có lẽ đã không sai khi bảo rằng nói láo là một điều kiện sống. Với kinh nghiệm bản thân, từ lúc có trí khôn cho đến lúc “già đầu” như hiện nay, tôi tin như  đinh đóng cột kết quả của một cuộc nghiên cứu do Tiến sĩ Bella DePaulo, một chuyên gia tâm lý thuộc trường đại học Virginia, Hoa Kỳ thực hiện hồi năm 1996. Tiến sĩ DePaulo và các đồng nghiệp của bà đã mời 147 người tuổi từ 18 đến 71 tham gia cuộc nghiên cứu. Những người này được đề nghị ghi nhựt ký về những lần nói dối của họ trong vòng một tuần lễ. Kết quả cho thấy hầu hết những người tham gia cuộc nghiên cứu đều nói dối một hay hai lần mỗi ngày. Việc nói dối cũng thường xuyên và bình thường như mở cửa tủ lạnh hay đánh răng. Cũng theo cuộc nghiên cứu, đàn ông lẫn đàn bà đều nói dối trung bình một phần năm trong các cuộc giao tiếp xã hội kéo dài 10 phút hoặc hơn; trong vòng một tuần lễ họ lừa dối khoảng 30 phần trăm những người họ nói chuyện với. Cuộc nghiên cứu còn cho biết: cứ  trong hai lần nói chuyện với cha mẹ thì có một lần các học sinh trung học nói dối.
Bà Pamela Meyer, tác giả của cuốn sách có tựa đề “Liespotting” (nhận diện sự dối trá) còn đi xa hơn khi khẳng định rằng “chúng ta nói dối từ 10 đến 200 lần mỗi ngày” (x.Psychologytoday, the truth about lying và why we lie and how to stop it).
Sự thật phũ phàng, nhưng vẫn là sự thật: ai trong chúng ta cũng đều ít hay nhiều, nặng hay nhẹ, phạm một trong 10 giới răn nền tảng: “Ngươi chớ nói dối”. Có khác chăng là có người nhìn nhận mình nói dối, có kẻ lại vòng vo để chối bỏ sự dối trá của mình. Trong cuốn phim có tựa đề “Something’s Gotta Give” (Có điều nên trao ban) do Đạo diễn Nancy Meyers thực hiện năm 2003, có một cảnh đầy ý nghĩa về chuyện dối trá hay lừa dối. Sau khi theo dõi và bắt quả tang người đàn ông mình yêu thương hẹn hò với một người đàn bà khác, Diane Keaton đã bị chính người chồng là Jack Nicholson xua đuổi ra khỏi tiệm ăn. Sau đó, người chồng chạy theo vợ để phân bua: “Anh đã không bao giờ nói dối với em cả. Anh đã luôn luôn nói với em một cách giải thích khác về sự thật”. Nghe thế, người vợ vặn lại: “Sự thật không có nhiều cách giải thích”. Sự thật là sự thật...Sự thật có thể phức tạp hoặc khó hiểu, nhưng nó  hiện hữu và chỉ có một cách giải thích mà thôi. Có thể chúng ta không phải là những kẻ dối trá trắng trợn hoặc vô liêm sỉ, nhưng rất thường, trong cuộc sống hàng ngày, cũng như người chồng ngoại tình trong cuốn phim trên đây,  chúng ta tìm cách che đậy, lèo lái, uốn nắn, cắt xén hoặc giải thích sự thật cho phù hợp với hành động, cách cư xử hay lối sống của chúng ta, để không bị thiệt thòi trong công ăn việc làm, để giữ thể diện và nhứt là để bảo vệ các mối quan hệ của chúng ta với người khác, nhứt là những người thân quen gần gũi với chúng ta. Dẫu biết rằng cần phải luôn luôn nói sự thật, nhưng trong thực tế xã hội lại khuyến khích chúng ta nói dối. Các công thức lịch sự chúng ta sử dụng hàng ngày có khi cũng chỉ là những lời lẽ đãi bôi và dối trá. Được mời đi ăn cơm khách, có những món ăn nuốt không nổi, vậy mà chúng ta vẫn cứ phải khen lấy khen để. Tuổi tác của một người hiện rõ trên khuôn mặt của người đó. Vậy mà nếu cần chúng ta lại khen người đó trẻ mãi không già. Nói dối có khi lại là một phần thiết yếu của một số ngành nghề. Như nghề luật sư chẳng hạn. Biết bao lần trong tòa án, chúng ta thấy các luật sư nhân danh thân chủ của mình để bày vẽ đủ mọi lý thuyết để nếu không chạy tội thì cũng che đậy bớt tội phạm của họ. Các phóng viên hay ký giả cũng thế: họ dễ có khuynh hướng vẽ rắn thêm chân hoặc ngay cả phịa chuyện để câu khách.
Ngay cả trong quan hệ vợ chồng con người cũng khó tránh được dối trá. Cuộc nghiên cứu của Tiến sĩ DePaulo cho thấy có đến 85 phần trăm vợ chồng hoặc những người bạn tình sống chung với nhau đều nói dối về những quan hệ trong quá khứ của họ. Ngay cả những người đang hẹn hò với nhau cũng nói dối với nhau trong khoảng một phần ba những cuộc gặp gỡ của họ, có khi còn hơn cả những lần họ lừa dối người khác.
Chỉ có điều ai cũng biết rằng nói dối là một điều xấu cho nên ai cũng cố tình che đậy để người khác không biết mình nói dối. Con người không những nói dối. Họ cũng nắm vững nghệ thuật nói dối. Bất cứ ai có chút máu cờ bạc đều biết rằng biết được đối thủ của mình “tháu cáy”, tức tố láo, không phải là điều dễ dàng. Ngay cả kỹ thuật ngày nay, dù có tối tân cách mấy, cũng khó mà dò được lòng dạ kẻ nói dối. Máy đo sự nói dối có khi cũng đành phải chào thua: máy dò tìm được  nỗi sợ hãi hơn là sự dối trá!
Ai cũng biết nói dối và cố tình che đậy sự dối trá của mình, bởi vì họ biết đó là điều không nên làm. Chỉ trừ một loại người: những người cộng sản! Người cộng sản nói dối một cách trắng trợn, không úp mở, không che đậy. Nói một cách đơn giản, với người cộng sản, dối trá là sự thật. Còn nếu triệt để hơn, sẽ chẳng sợ mang tiếng cực đoan hay quá khích để bảo rằng chính vì không còn lương tâm để phân biệt tốt xấu, thiện ác, đúng sai mà người cộng sản xem nói dối là lẽ sống. Có lẽ không có định nghĩa nào chính xác hơn về chủ nghĩa cộng sản cho bằng hai chữ dối trá. Cộng sản đồng nghĩa với dối trá. Đây là điệp khúc mà chúng ta có thể nghe được từ cửa miệng của hầu hết những người đã hy sinh cả đời để xây dựng thiên đàng xã hội chủ nghĩa để rồi cuối cùng nhận ra rằng đã bị lừa dối. Tổng Bí thư cuối cùng của Liên Xô, ông Mikhail Gorbachev đã nhìn nhận: “Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng cộng sản. Ngày hôm nay, tôi phải đau buồn mà nói rằng: “Đảng Cộng Sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá”. “Đau buồn” là phải, bởi vì sự dối trá, một khi đã trở thành ý thức hệ và chính sách, cũng kéo theo cái chết của lương tâm và xã hội. Ngày nay, ai cũng than phiền về sự vô cảm của toàn xã hội Việt Nam trước nỗi khổ của người khác, trước các tệ nạn xã hội cũng như trước tiền đồ đất nước. Sự vô cảm ấy chính là biểu hiện của cái chết của lương tâm. Đó là sự hủy diệt khủng khiếp nhứt mà sự dối trá có thể tạo ra cho con người và xã hội.
Tôi được may mắn sống trong một xứ sở tự do. Tự do không có nghĩa là không có dối trá. Nhưng ít ra, tôi thấy mình luôn được cảnh cáo về những lời nói dối trá và hành động gian dối, thiếu trung thực của mình. Tôi mừng vì xã hội này  luôn tạo điều kiện để lương tâm của tôi không bị thui chột, để tôi vẫn còn cảm thấy ray rứt mỗi khi làm điều bất chánh và nhứt là còn biết xúc động trước nỗi khổ đau của người khác.









Thứ Tư, 8 tháng 7, 2015

Đất Nước có nhiều Tượng Đài hơn nhà Vệ Sinh Công Cộng



Chu Thập
1.10.11



Tôi dễ bị ray rứt vì một hành vi xúc phạm đến người khác và cũng dễ bị đánh động bởi một nghĩa cử nhỏ của người khác.
Cách đây 40 năm, lúc còn dạy học và làm giám thị trong một trường dòng tu Công giáo, trong một giờ sinh hoạt ngoài trời, tôi đã lỡ tay “tát” vào mặt một học sinh lớp đệ thất. Vào thời điểm đó, chuyện sửa trị bằng hình phạt hay ăn vài thước kẻ vào mông là chuyện bình thường, chẳng bao giờ bị luật pháp lên án. Cái tát của tôi chỉ vừa đủ để vãn hồi trật tự chứ chẳng gây chút “chấn thương” thể xác hay tinh thần gì cả. Thế mà tôi vẫn cứ mãi bị “ray rứt” về hành động thiếu tự chủ ấy.
Mới đây, nhân chuyến đi Việt nam của tôi, người học sinh ấy, nay là một “đại gia” ở Sài gòn, đã nằng nặc đòi gặp tôi và mời vợ chồng tôi cùng một số bạn bè đi ăn ở Chợ lớn. Trong bữa ăn, anh có nhắc lại chuyện cũ, dĩ nhiên, không phải để trách móc tôi, mà để biện minh hay đúng hơn tự hào về cái tính nghịch ngợm phá phách khiến anh bị hầu hết các giáo sư trong lớp chiếu cố. Vui vì được gặp lại một người học trò cũ còn nhớ đến mình, nhưng tôi vẫn cảm thấy cái hành vi xúc phạm của 40 năm trước ấy cứ đeo đuổi mình.
Cũng may, trong cuộc đời, người ta không chỉ bị ám ảnh vì những hành vi xúc phạm của người khác, mà cũng luôn cảm thấy được vực dậy nhờ không biết bao nhiêu nghĩa cử nhỏ đã nhận được. Tôi vẫn luôn trân quý và giữ kỹ trong ký ức vô số những sự đối xử tốt mà người khác dành cho tôi hoặc tôi đã được mục kích.
Trong chuyến về thăm quê hương vừa qua, tôi ghi nhớ hai hình ảnh đẹp. Trước hết là chuyện xảy ra chỉ một thoáng ở Singapore là nơi tôi dừng chân đúng một ngày trước khi về Việt nam. Singapore là xứ sở mà du khách chỉ có thể ca ngợi chớ không có gì để phiền trách. Ngoài chuyện kỷ luật, trật tự, vệ sinh, tôi thực sự ngây ngất trước những bông hoa được trồng dọc suốt theo con đường từ phi trường về thành phố. Từ trong xe buýt nhìn ra những thảm hoa, du khách có thể quên cái nắng nóng ngột ngạt của vùng nhiệt đới. Nhưng với tôi, bông hoa rực rỡ nhứt đuợc ghi đậm trong tâm trí tôi là hình ảnh của một người mẹ trẻ và cậu con trai trên 10 tuổi trên một chuyến xe lửa ngầm. Khi chúng tôi vừa bước lên xe, hai mẹ con đã nhanh nhẹn đứng lên nhường chỗ cho vợ chồng tôi. Người mẹ và cậu con trai đã không làm cử chỉ ấy như một cái máy, mà với một nụ cười thân thiện, dễ mến. Singapore không thực sự đánh động tôi bằng sự giàu sang, mà chỉ bằng một nghĩa cử nhỏ ấy.
Hình ảnh thứ hai mà có lẽ tôi sẽ không bao giờ quên là nụ cười “thiên thần” mà tôi đã bắt gặp trên khuôn mặt một cô gái trẻ trong khu phố cổ của Hà nội. Đa số các thiếu nữ Hà nội có làn da trắng mịn. Nhưng đa số các cô, nói theo cách nói thời thượng ở Việt nam, đều “chảnh” cả. Nhưng riêng cô gái mà tôi gặp trước cửa một văn phòng bán vé máy bay hôm đó quả là một thứ bông hoa quý hiếm giữa cái thủ đô “lầy lội” cả về thể lý lẫn tinh thần này. Hôm đó, vừa đến thủ đô “Nước Bắc”, cầm bản đồ của trung tâm Hà nội trên tay, đứng giữa phố Hàng Bài hay Hàng Mã gì đó, tôi chẳng biết phải đi về hướng nào để ra Hồ Hoàn Kiếm. Đang lớ ngớ giữa rừng người, bỗng gặp một cô gái vừa dựng xe máy trước văn phòng bán vé máy bay. Linh tính giúp tôi lấy can đảm để ngỏ lời và hỏi thăm về đường sá, mà không sợ bị chửi hay lạnh nhạt như thường xảy ra. Người thiếu nữ mà tôi đoán ở độ trăng tròn không những nở nụ cười thân thiện và tận tình giải thích từng đường đi nước bước, mà sau đó còn cúi người chấp tay vái chào từ giã như một người con gái Thái lan chính hiệu. Hình ảnh của cô thiếu nữ và nghĩa cử của cô đã làm cho ngày hôm đó trở thành một trong những ngày vui và ý nghĩa nhứt trong chuyến đi Việt nam của tôi.
Tôi biết rằng mình sẽ khó quên Hà nội chỉ vì một cử chỉ nhỏ ấy của cô thiếu nữ. Trong suốt một tháng rong ruổi hầu như khắp đất nước, tôi ghi nhận một điều: ở Việt nam hiện nay, kể từ khi có một người tự xưng là cha già và bác của cả dân tộc và được tôn vinh với danh xưng “Vĩ đại” thì dường như người ta thích lập những thành tích “vĩ đại” hơn là quan tâm đến chuyện nhỏ và những nghĩa cử nhỏ.
Đi từ Bắc chí Nam, tôi nhận thấy các doanh trại quân đội “nhân dân”, công an, các trụ sở của Ủy ban nhân dân hay đảng bộ, các đài tưởng niệm liệt sĩ...đều là những tòa nhà sang trọng hay những công viên hoành tráng. Bên cạnh đó có khi là một khu phố nghèo nàn bẩn thỉu hay một khu dân cư lụp xụp. Nhưng nổi bật hơn cả là các tượng đài. Trong những ngày đi bộ dọc theo bến Ninh Kiều ở Cần Thơ, mỗi lần nhìn lên tượng đài của Hồ chí Minh “vĩ đại”, tôi không thể không nhớ đến câu ca dao dân giã được sáng tác liền sau 75: “Chiều chiều ra bến Ninh Kiều, dưới chân tượng Bác đĩ nhiều hơn dân”.
Xót xa hơn nữa khi mới đây, tôi lại nghe nói ở Quảng Nam, “thành đồng của cách mạng”, người ta đang nghĩ đến chuyện xây một Tượng Mẹ Việt Nam lớn nhứt thế giới. Như báo Việt luận trong số ra ngày thứ sáu 23 tháng 10 vừa qua đã đưa ra nhận xét: “Bốn trăm mười tỷ đồng bỏ ra xây dựng “tượng đài mẹ Việt nam anh hùng”, con số đó hoàn toàn không nhỏ, và nó lớn gấp bội khi mà đời sống người dân hiện tại vẫn còn nhiều bà mẹ già mỗi ngày chỉ kiếm được chưa đến 10 ngàn đồng đề sống qua ngày”.
Trên báo Calitoday, tác giả Nguyệt Quỳnh đã kêu gọi: “Xin đừng dựng tượng đài cho mẹ trên mảnh đất nghèo xơ, nghèo xác này. Mảnh đất mẹ để lại cho con từ ngàn xưa đâu có những tượng đài tráng lệ, nhưng mỗi vóc đất trên nắm tay con là xương là thịt, là dấu tích của những hy sinh vô bờ, của những vinh quang kỳ vĩ. Chưa bao giờ đất mẹ lại có nhiều tượng đài như ngày hôm nay, những tượng đài vô cảm, đứng kiêu hãnh nhìn ra biển đông khi các con mẹ bị tàu Trung quốc rượt đuổi, bức hại...
Dựng tượng đài cho mẹ làm chi trên mảnh đất nghèo khó này và hàng ngàn vùng nghèo khác trên cả nước. Mẹ đứt ruột nhìn các chắt, các chít của mẹ bơi qua sông đi học như ở Quế Sơn. Ai quên được cảnh những cháu học sinh thơ dại chết chìm ở Nghệ An. Vào đúng ngày 19 tháng 5 năm nào, khi lãnh đạo rình rang khánh thành tuợng đài Hồ chí Minh, trị giá 50 tỉ đồng, ở Nghệ An thay vì làm một cái cầu đơn sơ cho trẻ em đi học. Chỉ tám tiếng đồng hồ sau khi tượng đài được khánh thành, một thảm họa kinh hoàng đã xảy đến. Mưa gió đã lật úp chiếc xuồng nan, lấy đi sinh mạng của 18 em học sinh tiểu học!!” (Nguyệt Quỳnh “Lời Tượng Mẹ”, Calitoday, ấn bản điện tử, 8/10/2011)
Người trong nước có đủ lý do để phẫn nộ khi đứng trước những tượng đài “vĩ đại” được dựng lên khắp nơi. Có quá nhiều cụ bà phải làm đủ mọi công việc để kiếm sống và nuôi cháu chắt.  Trẻ em Việt Nam vẫn chưa được giáo dục miễn phí, đến trường bằng những kiểu cách kinh hoàng, khi đau bịnh vẫn phải chia nhau giường bệnh...
Riêng tôi, cũng như các em thiếu nhi trong cuốn phim “Chuyện tử tế” của đạo diễn Trần văn Thủy được thực hiện hồi đầu thập niên 80, “vĩ đại” thì tôi chẳng thấy đâu cả, mà chỉ thấy sự lạc hậu mà một chế độ lúc nào cũng rêu rao khẩu hiệu “thực hiện nếp sống văn minh” lại chẳng bao giờ biết cảm thấy xấu hổ!
Một trong những điều nhỏ nhứt mà lẽ ra cái chế độ đó phải biết cúi đầu, gục mặt xấu hổ, phải nói đến trước tiên là tình trạng thiếu nhà vệ sinh công cộng một cách không thể tưởng tượng được trong thế kỷ 21 này. Là một người Việt nam, cứ mỗi lần thấy có một khách ngoại quốc phải buộc bụng đi vào một nhà vệ sinh công cộng ở Việt nam, tôi chỉ muốn độn thổ. Không ngoa để nói rằng số tượng, đài ở Việt nam có lẽ nhiều hơn nhà vệ sinh công cộng. Khi có nhu cầu, tìm được một nhà vệ sinh công cộng mừng hết lớn, đến nơi mới biết nhà vệ sinh chỉ mở cửa theo giờ qui định! Chẳng lẽ tào tháo không được phép rượt ngoài giờ qui định?  Trong đa số các trường hợp, nhà vệ sinh công cộng nào cũng có người ngồi gác và thu lệ phí ngay phía trước. Trong cảnh bị “thúc bách”, người ta lại bị buộc phải cởi giày ra để mang vào một đôi giép dơ bẩn đặt ở trước cửa nhà vệ sinh. Chưa hết! Trả tiền mà vào bên trong chỉ muốn dội ngược ra vì tình trạng bẩn thỉu ở mức độ không thể chịu đựng được và chẳng có giấy vệ sinh gì ráo trọi. Muốn lại phải lội ra trả tiền thêm. Tôi chỉ còn biết đứng đó mà nguyền rủa cái chế độ thích xây tượng đài vĩ đại mà chẳng màng đến những nhu cầu “sống còn” nhứt của người dân mà thôi! Tôi không biết cái chế độ này khuyến khích người dân thực hiện nếp sống văn minh như thế nào mà rất nhiều lần tôi tận mắt chứng kiến cái cảnh cán bộ hay đại gia béo phì lái những chiếc xe bóng lộn, đắt tiền dừng lại bên lề đường và vô tư làm chuyện “cam dai bay” trước mặt người qua lại!
Còn chuyện khác nữa cũng khiến người ta phải chửi rủa thậm tệ cái chế độ không biết xấu hổ này: đó là tình trạng thiếu thùng rác công cộng! Đi đâu cũng thấy khu dân cư văn hóa, thôn văn hóa và những khẩu hiệu đại loại như “toàn đảng, toàn dân...quyết tâm thực hiện nếp sống văn minh”, nhưng có khi phải đi cả cây số may ra mới tìm được một thùng rác công cộng! Có lần tôi thấy từ một chiếc xe bóng loáng, nguyên một gói rác được tung vào một tiệm sửa xe dọc đường. Cái tiệm bị vứt rác vào lại thảy gói rác ra đường trúng ai rán chịu. Cả nước quả là một cái thùng rác “vĩ đại”; ai muốn vứt rác chỗ nào và lúc nào cũng được!
Trong cái ngày dừng chân tại Singapore, tôi nhận thấy có rất nhiều du khách từ Việt nam. Dĩ nhiên đa số những người Việt nam này là cán bộ hay những người thuộc giai cấp giàu mới “ăn nên làm ra” nhờ “móc ngoặc” với chế độ. Tôi tin rằng cũng như tôi, những người Việt nam này cũng có đủ khả năng quan sát như tôi. Cũng như tôi, những người Việt nam này cũng phải nhận thấy rằng trong khắp quốc gia hải đảo Singapore,  chưa có nơi nào dựng lên một tượng đài của ông Lý Quang Diệu, vị cha già  lập quốc và là người đã đưa đất nước lên địa vị vĩ đại đúng nghĩa và phú cường như ngày nay. Bù lại, nếu có một khẩu hiệu, thì khẩu hiệu đó chỉ kêu gọi người dân Singapore biết sống kỷ luật. Trên một bảng quảng cáo của một ngân hàng, tôi không thấy nói đến địa vị “thượng đế” của khách hàng như ở Việt nam, mà chỉ nhấn mạnh đến hai chữ “kỷ luật”. Ngoài những kỳ tích vĩ đại, nhờ kỷ luật nên Singapore trở thành một quốc gia không có rác, và là một trong những quốc gia  sạch sẽ nhứt thế giới. Chính nhờ kỷ luật mà người dân nước này cố gắng làm những nghĩa cử nhỏ và sống tử tế với mọi người.
Tôi nghĩ Việt nam cần nhiều nghĩa cử nhỏ hơn là những tượng đài lớn. Tôi nhớ có lần ghé vào một tiệm sách Phương Nam trên đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn. Sau khi tìm được một số sách và mang đến quầy thu ngân để trả tiền, theo thói quen mà tôi đã học được không phải ở một nước Úc văn minh mà là tại một nước Phi luật tân nghèo nàn, tôi tự động đứng xếp hàng. Đứng mãi mà không bao giờ đến phiên mình được, bởi vì lúc nào cũng có những khách hàng khác “vô tư” chen ngang để lên đứng phía trước mình. Thấy tôi cứ ngớ ngẩn như người ngoài hành tinh, cô thu ngân nhìn tôi cười rồi nói tỉnh bơ: “Ở đây người ta không xếp hàng đâu”. Lạ thật, tôi nghĩ, trong một đất nước được mệnh danh là “cộng hòa xếp hàng cả ngày”, người dân lại  chẳng biết thế nào là xếp hàng để, nếu không vì bị bắt buộc, thì ít nhứt cũng để tỏ ra mình còn chút tự trọng và tôn trọng người khác.
Phi luật tân là một nước Á châu nghèo.Tham nhũng làm hoen ố hình ảnh của đất nước này. Nhưng ít ra, hình ảnh của người dân đứng sắp hàng khi trả tiền trong một siêu thị hay khi chờ bước lên một phương tiện di chuyển công cộng, cũng đủ để tôi nghĩ rằng người dân nước này còn nghèo về của cải vật chất, nhưng họ không nghèo về những giá trị nhân bản như tự trọng, tôn trọng, tử tế, quảng đại...
Tôi chợt nghĩ: cả triệu cái tượng đài “vĩ đại” cũng không bằng một nghĩa cử nhỏ!





Thứ Hai, 6 tháng 7, 2015

Nạn cướp biển ở Đông Nam Á



3.7.15
Lâu nay, nhắc đến cướp biển, người ta chỉ nghĩ đến Somalia, bên Phi Châu. Trong thực tế, Đông Nam Á mới thực sự là thủ đô của nạn cướp biển. Cùng với những căng thẳng do hành động “cướp biển” theo đúng nghĩa của Trung Cộng tạo ra, Biển Đông hiện đang dậy sóng hơn bao giờ hết.
Hôm 11 tháng 6 vừa qua, với súng ống và mã tấu, 8 tên cướp biển đã xông lên chiếc tàu dầu “Orkim Harmony”. Chuyên chở 6000 tấn dầu hỏa, tàu “Orkim Harmony” đã rời Hải cảng Kuantan Port, nằm ở  duyên hải miền tây Mã Lai và sắp kết thúc hải trình sau khi đã đi một vòng qua mũi phía nam Mã Lai. 8 tên cướp đã khống chế được thủy thủ đoàn và xóa bỏ 3 nét chữ trên tên của chiếc tàu “Orkim Harmony” để biến nó thành “Kim Harmon”. Sau đó, họ ra lệnh cho thuyền trưởng của chiếc tàu phải trực chỉ hướng Bắc để đi Cam Bốt, với hy vọng tìm được một hải cảng “thân thiện” để xuống hàng. Nhưng 7 ngày sau đó, chiếc tàu bị phát giác. Những tên hải tặc đã cảnh cáo các lực lượng tuần duyên rằng họ sẽ giết các con tin. Nhưng sau đó họ đã chuồn xuống một chiếc ca nô cứu hộ cùng với một vài chiến lợi phẩm mà họ đã cướp vội được. Toàn bộ thủy thủ đoàn của chiếc “Orkim Harmony” đều an toàn, ngoại trừ người đầu bếp, vì bị bắn vào đùi cho nên đã được trực thăng vận về một bệnh viện gần đó.
Cuộc tấn công vào tàu “Orkim Harmony” là một trong những vụ cướp biển mới nhất xảy ra trong vùng biển Đông Nam Á, là nơi mà eo biển chia cách Tân Gia Ba và Mã Lai với Nam Dương, lâu nay đã trở thành con đường đi lại của khoảng một phần ba tàu bè trên thế giới.
Theo Phòng Hàng Hải Quốc Tế (the International Maritime Bureau), một chi nhánh của Phòng Thương Mại Quốc Tế, trong năm 2014 đã xảy ra tất cả 15 vụ cướp biển. So với năm trước đó, con số này không tăng bao nhiêu. Tuy nhiên, chỉ trong 6 tháng vừa qua, lại xảy ra đến 9 vụ. Đây là dấu chỉ đáng lo ngại trong hiện tượng cướp biển. Trong khi, nhờ nỗ lực chung của cộng đồng thế giới, vùng biển Somalia xem như tạm yên thì Đông Nam Á lại nổi tiếng như một vùng bị cướp biển hoành hành nhất thế giới hiện nay.
Cách đây 10 năm, các quốc gia Đông Nam Á xem ra đã thành công trong việc xua đuổi quân cướp biển, nhờ một phần vào các cuộc tuần tra trong eo biển Malacca ở ngoài khơi Tây Nam của Mã Lai. Nhưng cũng kể từ đó, dân cướp biển lại di chuyển hoạt động xuống phía Đông. Những vụ cướp biển mới đây đã xảy ra gần bờ biển Tân Gia Ba. Đây là một vùng biển nhộn nhịp giúp cho bọn cướp biển có thể trú ẩn mà không sợ bị phát giác. Ngoài ra, chúng cũng ẩn nấp ở mạn Tây Nam Biển Đông.
Khác với bọn cướp biển Somali, vốn nhắm đến việc bắt cóc thủy thủ đoàn và ngay cả giam giữ tàu để đòi tiền chuộc, những tên hải tặc Đông Nam Á chỉ hy vọng đánh cắp dầu hỏa, dầu dừa và các chất hóa học từ những chiếc tàu nhỏ, có tốc độ chậm. Chúng luôn trả lại tàu và phóng thích thủy thủ đoàn sau khi đã hoàn tất vụ đánh cướp. Một nguy hiểm khác cũng thường xảy ra ở Đông Nam Á là các băng cướp chỉ lên tàu để cướp tiền mặt, phụ tùng máy móc và máy vi tính.
Hiện nay những vụ cướp này chỉ ảnh hưởng đến khoảng trên dưới 120 tàu bè qua lại mỗi năm gần eo biển Malacca. Dạo tháng 12 năm vừa qua, một thủy thủ Việt Nam đã bị bắn vào đầu trong một cuộc đụng độ với bọn cướp. Đây là một trong 3 nạn nhân người Đông Nam Á đã bị cướp biển sát hại trong năm 2014. Ông Philip Belcher, thuộc hiệp hội chủ tàu dầu có tên là “Intertanko” cho biết: ngay cả những tên cướp cạn cũng có thể gây nguy hiểm chết người khi chúng khống chế một chiếc tàu. Điều đáng lo ngại nhất cho các chủ tàu hiện nay là các hãng bảo hiểm sẽ gia tăng tiền bảo hiểm cho tàu bè đi lại trên eo biển Malacca.
Các chủ tàu thường than phiền rằng các chính phủ trong vùng đã giảm các hoạt động tuần duyên. Các chính phủ Nam Dương, Tân Gia Ba và Mã Lai cho biết họ đang thảo luận về vấn đề này. Nhưng tình hình cẳng thẳng hiện nay do việc hung hăng lấn chiếm Biển Đông tạo ra khiến cho việc đi lại của bất cứ tàu bè nào cũng đều có thể gặp khó khăn. Lời qua tiếng lại giữa ba nước này cũng đã cản trở việc truy lùng bọn cướp biển, vì nước nào cũng tìm cách ngăn cản không cho các lực lượng tuần duyên của nước khác săn đuổi các hải tặc đang ln trốn trong vùng biển của mình. Ngay cả việc chia sẻ thông tin cũng gặp khó khăn: Mã Lai và Nam Dương không chịu gia nhập vào tổ chức chung có tên là ReCAAP nhằm phối hợp cách đối phó của các chính phủ chống lại nạn cướp biển.
Nam Dương là nước tỏ thái độ thiếu hợp tác nhất. Nam Dương vốn nghèo hơn hai nước láng giềng nếu tính theo thu nhập đầu người và các tàu tuần duyên của nước này lại cũ k đòi hỏi quá nhiều tốn kém để bảo trì và hoạt động. Nam Dương lại có quá nhiều đảo, khiến việc truy lùng cướp biển không được dễ dàng. Các hải cảng không được trang bị và canh phòng đầy đủ của nước này cũng dễ dàng trở thành hang trú ẩn cho trộm cướp. Hơn nữa, Nam Dương cũng chẳng xem việc bảo đảm an ninh cho tàu bè của mình là một ưu tiên.
Tuy nhiên, trách nhiệm trong việc giải quyết vấn đề cướp biển không chỉ thuộc về các nước trong vùng. Các chủ tàu và thuyền trưởng cũng phải chịu một phần trách nhiệm. Các tên hải tặc Somali đã phải khựng lại khi các chủ tàu chịu chi một ít tiền để trang bị vệ binh và vũ khí cho tàu của mình. Những tên hải tặc Đông Nam Á sẽ bỏ chạy nếu bị các vệ binh có vũ trang và thủy thủ đoàn phát giác. Các công ty hàng hải thường không chịu báo cáo về những vụ tấn công của cướp biển. Họ làm thế để tránh cho thân chủ của họ cũng như các hãng bảo hiểm khỏi lo ngại. Ngoài ra, cũng có nguồn tin cho rằng các thủy thủ đoàn, vì  được trả lương thấp, cũng đồng lõa với các hải tặc trong một số vụ cướp.
Dĩ nhiên giải pháp lâu bền nhất, nhưng lại ít được mang ra thảo luận nhất, chính là phải giải quyết những vấn đề kinh tế và xã hội vốn là nguyên nhân làm phát sinh và khuyến khích nạn cướp biển. Trong quá khứ, một số chính phủ trong vùng đã tìm cách giải quyết các cuộc xung đột. Chẳng hạn năm 2005, Chính phủ Nam Dương và các phiến quân tại tỉnh Aceh, Tây Bắc nước này, đã ký một hòa ước. Hòa ước này đã giúp xoa dịu được một số vấn đề do nạn cướp biển tạo ra. Ngày nay, nhiều tên cướp biển Nam Dương được cho là xuất phát từ những thành phố cảng nghèo của nước này. Đây là những nơi mà nạn đánh cá bừa bãi, bất hợp pháp cũng như những hủy hoại về môi sinh đã khiến cho việc kiếm sống lương thiện và bình thường của người dân trở nên khó khăn. Một số đã từng là hải tặc trước đây đã quay về việc buôn bán, vì không thể kiếm sống bằng nghề cướp bóc nữa.
Tổng thống Joko Widodo của Nam Dương đã hứa sẽ đẩy mạnh kinh tế hàng hải của đất nước. Đây là một chương trình đầy triển vọng, mặc dù sự tiến bộ chắc chắn sẽ rất chậm. Trong khi đó, theo ông Pottengal Mukundan, thuộc Phòng Hàng Hải Quốc Tế, gần đây đã có nhiều vụ bắt giữ những tên đầu sỏ của các tổ chức cướp biển. Đây là một bước đầy triển vọng trong việc chận đứng nạn cướp biển tại Đông Nam Á. Trong số những tên cướp bị bắt giữ, người ta thấy có những người đã từng đánh cướp chiếc tàu dầu “Orkim Harmony”. Đây là công trạng của các thủy thủ tuần duyên của Việt Nam. Họ đã giả làm những người sống sót từ một chiếc thuyền bị đắm cho nên mới có thể đến gần tàu “Orkim Harmony” và giải cứu được thủy thủ đoàn của tàu này.
Mặc dù cũng có một vài tiến bộ trong việc tẩy trừ nạn cướp biển tại Đông Nam Á, nhưng ông Belcher, thuộc hiệp hội tàu dầu “Intertanko” cho rằng các chủ tàu vẫn còn tỏ ra rất bi quan.
Bi quan một phần vì nền kinh tế hiện nay của Nam Dương. Sự phát triển kinh tế của nước này hiện đang chậm lại. Là một thành viên của câu lạc bộ 20 quốc gia có nền kinh tế mạnh nhất thế giới, kinh tế của Nam Dương tùy thuộc nhiều vào các thương phẩm. Nước này đứng đầu thế giới về việc xuất cảng dầu dừa và thiếc, đứng hàng thứ hai về cao su và hàng thứ tư về than đá. Mỏ vàng Grasberg tại Papua được xem là mỏ vàng lớn nhất thế giới. Ngoài ra tại đây cũng có mỏ đồng lớn thứ 3 trên thế giới. Cũng như Úc Đại Lợi, kể từ khi “cơn đói” thương phẩm của Trung Quốc gia tăng và giá thương phẩm lên cao, nền kinh tế của Nam Dương lên vùn vụt. Nhưng kể từ năm 2011, mức tăng trưởng kinh tế của Nam Dương khựng lại, vì nhu cầu nguyên liệu của Trung Quốc cũng như giá thương phẩm hạ giảm.
Tổng thống Jokowi đã kịp thời chuyển hướng nền kinh tế của Nam Dương từ việc xuất cảng thương phẩm sang chế xuất. Tuy nhiên công cuộc đổi mới này lại gặp phải một trở ngại cố hữu của Nam Dương là tệ nạn bàn giấy và hạ tầng cơ cấu tồi tệ thừa hưởng từ thời Tổng thống Suharto. Hầu hết tiền đầu tư vào việc cải tiến hạ tầng cơ sở lại chảy vào các công ty “quốc doanh” vốn lúc nào cũng làm ăn lỗ lã. Đó là chưa kể đến những luật về thương mại cứng nhắc của Nam Dương. So với tại Thái Lan và Mã Lai, các công ty đầu tư vào Nam Dương phải tốn thêm đến 50 phần trăm cho các thủ tục bàn giấy và hạ tầng cơ sở. Chính vì vậy mà trong những năm gần đây, đầu tư ngoại quốc vào Nam Dương đã giảm hẳn.
Thêm vào đó, địa lý của Nam Dương cũng là một cản trở lớn cho sự phát triển kinh tế. Nước này có đến hơn 13 ngàn đảo. Điều đó có nghĩa là việc di chuyển hàng hóa bằng đường thủy từ chỗ này đến chỗ khác luôn phức tạp và tốn kém hơn so với việc được di chuyển bằng xe tải. Vào thời mà nhu cầu thương phẩm lên cao trên toàn thế giới, bằng mọi giá các công ty vẫn có thể lặn lội khắp nơi và sẵn sàng chịu tốn kém để săn tìm thương phẩm. Nhưng nay, tình trạng hầu như đã đảo lộn. Một nền kinh tế chỉ dựa vào việc “đào đất bán mà ăn” không còn mang lại thịnh vượng cho xứ sở nữa. Nếu những cải cách kinh tế của Tổng thống Jokowi không hữu hiệu vì nạn bàn giấy rườm rà và tình trạng hạ tầng cơ sở yếu kém, thì triển vọng phát triển của Nam Dương vẫn còn xa vời. Và như người Việt Nam vẫn thường nói “bần cùng sinh đạo tặc”, tình trạng nghèo đói dễ đưa đẩy người dân vào chuyện cướp bóc. “Làm ăn” trên bờ không dễ cho nên chỉ còn một đường là làm hải tặc.
Đây chính là lý do khiến giới chủ nhân của những chiếc tàu dầu qua lại trên eo biển Malacca nới liền 3 nước Nam Dương, Tân Gia Ba và Mã Lai, tỏ ra bi quan về cuộc chiến chống hải tặc hiện nay tại Đông Nam Á.
(theo báo The Economist)

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2015

Học Làm Người Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa


Chu Thập
25.9.11



Quê hương thì ai cũng nhớ cũng thương. Dù chùm khế ngọt có héo đi, dù cây đa cũ bên đò xưa có thay đổi, dù con sông bờ ruộng có bị lấp đi...quê hương ấy vẫn cứ sống mãi trong ký ức và tiềm thức của tôi. Nhà văn Sơn Nam đã có lý để viết: “Phong sương mấy độ qua đường phố, hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê”. Sau 30 năm xa cách, tôi cũng trở về Việt nam với tâm trạng ấy và ra đi cũng với tâm trạng ấy.
Tôi không thể nào không thương nhớ quê hương. Nhưng tôi không sợ bị kết án là vong bản để nói rằng tôi không thể nào hòa nhập trở lại vào cuộc sống ở quê hương. Sau đúng một tháng đi “xâm nhập thực tế” từ Nam chí Bắc, bằng mọi phương tiện di chuyển thượng vàng hạ cám từ máy bay đến taxi, xe đò, xe buýt, xe ôm, xe xích lô, thuyền bè, tiếp xúc với hầu hết mọi giai cấp xã hội, tôi vẫn chưa thấy mình “tốt nghiệp” từ trường học làm người Việt nam XHCN. Tôi vẫn cảm thấy lạc lõng ngay trên chính quê hương của mình.
Suốt một tháng sống ở quê hương, theo lời ông bà dạy, tôi đã bắt đầu lại bài học vỡ lòng là “học ăn”. Trong trường XHCN hiện nay, đây là môn khó nuốt nhứt đối với tôi. Về Việt nam để ăn cho thỏa thích là chuyện có thể hiểu được đối với nhiều người Việt hải ngoại. Ai mà chẳng thèm các món đặc sản ở quê hương. Nhưng tôi hoàn toàn thất vọng về khoản này. Hàng ăn ở Việt nam không thiếu. Thật không ngoa để nói rằng cả nước Việt nam hiện nay là một “hàng ăn”. Trên vỉa hè và ngay cả trên đường phố, dọc theo những con lộ ở thôn quê, chỗ nào cũng có tiệm cà phê và quán ăn. Đó là chưa kể những gánh hàng rong. Đồ ăn, món nhậu và thức uống được dọn ngay trước mặt mình vào bất cứ lúc nào trong ngày.
Đầu thập niên 80, mới đến Pháp, tôi thực sự thất vọng và cảm thấy bơ vơ trong xã hội mới: đi tìm một hàng quán là chuyện trần ai. Giá cả thì lại làm cho những người tỵ nạn chân ướt chân ráo phải dội ngửa. Đó là chưa kể ngày chúa nhựt:  phố xá đóng cửa im thin thít. Có đói thì cũng đành phải bóp bụng mà kéo lê từng bước mỏi mệt đến hằng bao cây số may ra mới tìm được một tiệm ăn bình dân.
Đến Ý tôi lại càng bực mình hơn: cứ từ hai giờ trưa đến bốn giờ chiều, mọi quán sá đều đóng cửa. Mặc cho du khách có réo gọi, người ta vẫn cứ tỉnh bơ ngủ trưa đã.
Ở Việt nam XHCN hiện nay thì trái lại, muốn ăn cái gì cũng có, muốn ăn giờ nào cũng được, muốn ngồi ăn ở đâu cũng chẳng ai cười. Có lần trên một chuyến taxi, tôi nêu thắc mắc với người tài xế: tại sao ở Việt nam người ta “ăn nhậu” liên tục như thế?  Anh trả lời rằng đa số người Việt nam hiện nay sống rất hiện sinh. Anh giải thích rằng người Việt nam ăn nhậu xả láng là vì không muốn nghĩ đến ngày mai và cũng chẳng có ngày mai mà nghĩ. Kiếm được đồng nào xài đồng đó. Đó là chủ trương sống của rất nhiều người Việt nam hiện nay. Không chỉ có những cán bộ phì nộn, ăn mặc bảnh bao hay các đại gia và giai cấp nhà giàu mới mới ăn nhậu, xem ăn nhậu như thủ tục đầu tiên, người dân lao động, những kẻ ăn không ngồi rồi cũng ăn nhậu và ăn nhậu suốt ngày, suốt đêm.
Sau một tháng về thăm Việt nam, đứng lên bàn cân, tôi sụt ký thấy rõ vì không muốn và không dám ăn một cách “thỏa thích” như mọi người. Tôi thực sự cảm thấy ái ngại mỗi khi bước vào một nhà hàng sang trọng. Giá cả không quá cao nếu so với Úc và các nước văn minh. Nhưng trong một đất nước mà thu nhập bình quân của một người lao động phổ thông vẫn còn ở mức dưới 5 Mỹ kim một ngày thì một bữa ăn trong một nhà hàng giá đến vài chục Mỹ kim, chưa kể tiền bia rượu, thì đây hẳn là một cách tiêu xài xa xỉ chỉ dành riêng cho giới nhà giàu mới trong xã hội.
Tôi không thấy thoải mái để bước vào các nhà hàng sang trọng. Cơm đường cháo chợ thì ê hề. Nhưng ngặt một nỗi, vì đã lỡ học cái thói vệ sinh của các nước văn minh cho nên có thèm nhỏ rãi tôi cũng đành ăn hàm thụ. Trong những ngày đầu, bị tào tháo rượt một lần, tôi tởn tới già. Cùng lắm, muốn ăn món tủ, nhà tôi đành phải mua rau cỏ về nhà rửa sạch với thuốc rửa rau mà chúng tôi mang theo từ Úc, rồi đem ra nhà hàng ăn thay vì ăn rau của họ trước con mắt khó chịu của người xung quanh. Ngoài ra, xuất xứ của các thứ thịt cá được dọn ra trong các hàng quán cũng khiến tôi nghi ngại. Những con thú chết vì bệnh thay vì đem chôn được xẻ thịt ra bán trong chợ là chuyện có thật được chính báo chí Việt nam phanh phui. Thịt quay treo lủng lẳng trên đường phố đầy bụi bậm và ngày này sang ngày khác là chuyện mà tôi thấy trước mắt mỗi khi xuống đường. Ngay chợ Đồng xuân, nhà tôi đã vô tình chứng kiến cảnh người ta xẻ thịt bò ngay trên nền chợ lầy lội nước.
Tựu trung, các hàng ăn ở Việt nam kinh doanh bằng mọi giá, bất kể các tiêu chuẩn vệ sinh và chuẩn mực đạo đức. Xét cho cùng, nếu ăn uống là thể hiện của văn hóa một đất nước, thì điều được gọi là “văn hóa ẩm thực” của Việt nam  hiện nay cũng nói lên sự dối trá và lừa gạt vốn tràn lan trong xã hội. Muốn có chỗ ăn ngon, sạch, đúng giá thì chỉ có nước nhờ người quen mách bảo.
Tôi thấy mình chưa thuần thục trong bài “học ăn” ở Việt nam. Sang đến chuyện “học nói” thì tôi lại càng thấy mình  “ngọng” hơn. Cả nước Việt nam không chỉ là một “hàng ăn” mà còn là một khu triển lãm các khẩu hiệu. Từ thành thị đến thôn quê, từ các đường phố sang trọng đến các con hẻm tồi tệ bẩn thỉu, ở bất cứ ngõ ngách nào, du khách cũng có thể đọc được những khẩu hiệu. Từ việc ca tụng đảng cộng sản Việt nam quang vinh đến nếp sống văn minh, xem ra người Việt nam xã hội chủ nghĩa sống bằng khẩu hiệu hơn với thực tế. Quả thực, đi đâu tôi cũng thấy “mưa sa trên mầu cờ đỏ” và bơ vơ trong rừng khẩu hiệu. Lạc lõng hơn nữa khi mở các kênh truyền hình chính của Việt nam. Cái giọng Bắc hoàn toàn khác với giọng Bắc “năm mươi tư” không thể không làm cho tôi nghe đau lỗ tai. Phải nói thật sự có một “Nước Bắc” xâm chiếm Miền Nam Việt Nam và áp đặt không chỉ ý thức hệ mà còn cả văn hóa, ngôn ngữ và giọng nói. Trước 75, trong miền Nam làm gì có chiếc xe “ô tô”, “điện ô tô” hay “xe con” hay làm gì có chuyện “đảm bảo”. Tôi thấy rõ chuyện “thực dân mới” ấy trên chuyến bay từ Hà nội về Sài Gòn. Thông thường các cô tiếp viên của các hãng không dân dụng Á châu đều có một sắc đẹp đủ để đại diện cho đất nước của mình. Nhưng trong chuyến bay của hãng Jetstar từ Hà nội vào Sài Gòn hôm đó, tôi hoàn toàn thất vọng về cô tiếp viên trưởng. Với “nhan sắc của một người đàn ông không đẹp trai”, nếu cô được chọn làm tiếp viên trưởng của chuyến bay thì chắc chắn cô chỉ có thể là “con ông cháu cha” mà thôi. Tôi lại càng nghĩ rằng tôi không đoán sai điều đó, bởi vì khi cô mở miệng nói với hành khách bằng tiếng “Nước Bắc” thì tôi chẳng hiểu gì “sốt”. Đến khi cô “dịch” sang Anh ngữ thì tôi lại càng “điếc” và không biết cô nói tiếng nước nào.
Nói như thế không có nghĩa là tôi giỏi và nói tiếng Anh rành đến độ quên tiếng mẹ đẻ. Thật ra, vấn đề tiếng Việt của tôi ở Việt nam không phải là “nói” cho bằng là “hiểu” cái lối nói “xa lạ” hiện nay của nhiều người Việt nam. Không kể đến chuyện người ta cho vào bảo tàng viện hai tiếng “xin lỗi” và “cám ơn”, cái cách ăn nói cộc lốc, thiếu lịch sự, thiếu lễ độ, thiếu cả văn minh... của người Việt nam XHCN vừa làm cho tôi đau lỗ tai vừa làm cho tôi đau lòng. Đau lòng thực sự bởi vì cái lễ giáo và nét đẹp của cách nói năng được nhào nặn từ bao thế hệ đã hầu như hoàn toàn bị xóa bỏ. Tôi rất sợ vào chợ để mua hàng. Tôi sợ khi phải sờ đến một món hàng và hỏi một câu, mặc dù đã cố gắng  để tỏ ra lịch sự hết sức có thể. Tôi sợ là bởi vì lúc nào mình cũng có thể được đáp trả bằng một tràng câu nói như chửi vào mặt.
Quả thật, một tháng có lẽ chưa đủ để tôi “học nói” lại trong Việt nam XHCN hiện nay. Sau chuyện “học ăn, học nói”, tôi lướt qua chuyện “học gói học mở” để đi thẳng vào một chuyện tối quan trọng trong những ngày sống ở Việt nam: đó là chuyện “học đi”.
Tôi còn nhớ: cách đây vài năm, nhân một cuộc họp APEC được tổ chức tại Hà nội, một nữ phóng viên Phi luật tân tháp tùng phái đoàn chính phủ Phi, đã ghi lại hai nhận xét mà cô cho là tâm đắc nhứt trong chuyến thăm Việt nam: một là con trai Việt nam không đẹp, hai là: ai muốn tự tử cứ “đi bộ” băng qua các đường phố ở Việt nam.
Cả hai điều, tôi đều thấy đúng cả. Tuần cuối cùng ở Sài Gòn, không biết làm gì, tôi bắt xe buýt đi Thủ Đức, Biên Hòa. Tại đây tôi được dịp nhìn thấy làng đại học của Miền Nam Việt nam. Có cả một trường đại học quốc tế (International University) mà tôi không biết của nước nào.  Nhưng phải nói là nhận xét của cô phóng viên người Phi thực là chính xác: trong đám nam sinh viên, rường cột và tương lai của đất nước, chen chúc trên xe buýt hay đi bộ đến trường, tôi chỉ nhìn thấy những tấm thân ốm o, còm cõi, nhỏ bé và những gương mặt thiếu sức sống và sự tỏa sáng. Tôi thấy tội nghiệp cho "tương lai của đất nước".
Nhưng trở lại với bài “học đi” mà tôi đã cố gắng học trong những ngày lê bước ở Việt nam. Phải nói ngay rằng người Việt nam XHCN hiện nay rất ít đi bộ. Không cần phải nhìn cách tôi ăn mặc hay nghe tôi nói chuyện mà chỉ cần thấy tôi đi bộ hay băng qua đường là biết rõ tôi không phải là người Việt nam XHCN. Ở Việt nam, cứ bước ra khỏi nhà thì hầu như ai cũng cỡi xe gắn máy hay ít nhứt trèo lên xe ôm. Tôi không biết mình có quá chủ quan không khi nói rằng có lẽ không nơi nào trên thế giới có nhiều xe gắn máy cho bằng Việt nam, không có nơi nào trên thế giới bị ô nhiễm cho bằng các đường phố ở Việt nam và dĩ nhiên cũng không có nơi nào trên thế giới “nguy hiểm” cho khách bộ hành cho bằng Việt nam. Quả thật, nếu muốn tự tử một cách dễ dàng, chẳng cần phải nhảy cầu, trầm mình xuống sông, rơi từ cao ốc, uống thuốc ngủ hay thắt cổ: chỉ cần hiên ngang băng qua đường ở Việt nam cũng đủ để đi thẳng vào thế giới khác ngay.
Ở Việt nam luật đi đường nào cũng có, nhưng chẳng ai tuân giữ và khách bộ hành là hạng người rẻ nhứt trong xã hội. Ở Việt nam, công an giao thông đứng đầy đường, nhưng không phải để hướng dẫn về giao thông mà chỉ để được người lái xe “hối lộ” hay “mãi lộ” theo đúng nghĩa. Hôm giỗ cụ Nguyễn Trung Trực, bị kẹt trong một rừng người hỗn loạn thiếu điều đạp lên nhau tại Rạch giá, tôi không sao tìm thấy bóng một cái “áo vàng”.
Tôi vẫn nhớ mãi chuyến đi từ Vũng Tầu ra Nha Trang. Tài xế của chuyến xe, như anh tự giới thiệu, một người Thanh Hóa đã từng là công an. Nói chung, những tài xế người “Nước Bắc” có lối lái xe phải nói là “mất dạy” và lối nói năng cũng “mất dạy” hơn tài xế Miền Nam. Suốt chuyến đi, vì ngồi sau lưng anh, tai tôi bị tra tấn vì những câu văng tục liên hồi của anh. Nhưng được bộ nhớ của tôi ghi nhận kỹ nhứt là lúc anh trả lời cho một hành khách muốn xuống trước đồn công an gần một cổng trường tiểu học. Anh nói: “Làm gì có đồn công an gần một trường học. Chẳng có thằng ngu nào lại đi xây một trường học bên cạnh một đồn công an, bởi vì làm như thế thì trẻ con sẽ phải học làm chó trước khi kịp“học làm người”.
Tôi đã học được rất nhiều bài học trong một tháng đi “thực tế” ở Việt nam. Nhưng bài “học đi bộ” thì tôi đành bỏ cuộc. Mỗi lần băng qua đường mà còn lành lặn, tôi xem như một phép lạ. Theo tôi, lối giao thông ở Việt nam thể hiện đúng cách sống của người Việt nam XHCN hiện nay: ở đâu người ta cũng có thể luồn lách và tránh né miễn là được việc và dĩ nhiên được việc cho bản thân mình trước đã. Người khác có sống chết ra sao cũng mặc kệ.
Về thăm lại quê hương tôi thấy buồn nhiều hơn vui. Phải nhìn nhận, sau 30 năm “xây dựng” xã hội chủ nghĩa, có một số dấu hiệu của phát triển: nhiều cao ốc hơn, nhiều đường sá hơn, cuộc sống vật chất và tiện nghi có khá hơn. Nhưng thật đáng buồn cho một đất nước khi sự phát triển hỗn loạn đã bóp nghẹt và chà đạp những giá trị tinh thần và luân lý. Nói như ai đó, phần “con” trong con-người Việt nam XHCN đã phát triển hơn, nhưng phần “người” thì lại ngày càng nhỏ lại.
Nghĩ như thế mà buồn cho quê hương!










Đạo Tử Tế



Chu Thập
26.6.15
Trong bài nhận định  có tựa đề “Khi các lãnh đạo tôn giáo tôn thờ tội ác” được phổ biến trên các cơ quan truyền thông của người Việt hải ngoại cũng như một số báo mạng “lề trái” trong nước, Tác giả Trần Trung Đạo đã ghi lại một số hình ảnh về các sinh hoạt của Giáo hội Phật giáo “quốc doanh” trong nước như: các lãnh đạo Phật giáo “đọc những lời nịnh bợ đảng Cộng Sản một cách trơ trẽn”, các tăng sĩ xếp hàng dài trước lăng Ba Đình để vào “kính viếng” cái xác ướp của ông Hồ Chính Minh và nhứt là tượng của ông Hồ Chí Minh “ngồi chễm chệ giữa chánh điện” trong  một số chùa chiền.  
Nếu một số lãnh đạo Phật giáo ở Việt Nam rước ông Hồ Chí Minh vào ngự trị ở chánh điện, thì tại Hoa Kỳ, hồi năm trước, Tổng thống Barack Obama lại kính cẩn cung nghinh một bức tượng của Đức Thích Ca vào trong Tòa Bạch Ốc để, những lúc căng thẳng hoặc khi cần làm những quyết định quan trọng liên quan đến tình hình thế giới, ông thường đến chiêm ngắm Đức Phật và tìm nguồn cảm hứng.
Tôi là một tín hữu Kitô. Tôi thường hãnh diện tuyên xưng điều đó. Nhưng tôi cũng không ngần ngại để xác nhận rằng mình là một Phật tử. Thuần thành để xuống tóc quy y, tụng kinh gõ mõ, đi chùa, cúng dường, ăn chay...thì không. Tôi cũng chẳng thỉnh bất cứ một tượng Phật nào vào nhà. Tôi cũng chẳng rành rẽ về “giáo lý” Phật Giáo. Phật Giáo lại có quá nhiều hệ phái. Có Đại Thừa, Tiểu Thừa. Có Phật Giáo Thiền. Có Phật Giáo Tây Tạng. Rồi ngay cả trong Phật Giáo Tây Tạng lại cũng có năm bảy tiểu phái. Tôi là Phật tử nhưng chẳng thuộc hệ phái nào cả. Xét cho cùng, tôi chẳng là “tín đồ” của Phật Giáo xét như là một tôn giáo có tổ chức, có chức
sắc, có phẩm trật, có giáo lý. Tôi tự nhận là Phật tử bởi vì lúc nào tôi cũng ngưỡng mộ Đức Phật và cố gắng sống theo lời dạy của Ngài. Tôi biết rằng nếu chỉ cần bỏ gươm xuống là đã có thể thành Phật thì tôi thấy đâu cần phải có một pháp danh hoặc trải qua một nghi thức nào đó, như phép rửa tội trong Kitô Giáo chẳng hạn, để trở thành Phật tử. Tôi công khai nói lên điều đó mà chẳng sợ bất cứ Giáo hội Phật giáo nào xếp tôi vào hạng “lạc giáo” hoặc “ra vạ tuyệt thông” cho tôi cả.
Tôi không nhớ mình đã trở thành đệ tử của Đấng đã dùng ngón tay để chỉ cho tôi thấy vầng trăng từ lúc nào. Chỉ biết rằng kể từ lúc tôi có được “hạnh ngộ” với Đức Đạt Lai Lạt Ma thông qua một số tài liệu ghi lại các bài nói chuyện và nhứt là hình ảnh của nụ cười nhân ái, an hòa của Ngài, thì lòng ngưỡng mộ và say mê của tôi đối với Đức Thích Ca lại càng gia tăng. Tôi lại càng xác tín về tư cách Phật tử của mình hơn nữa khi nghe Đức Đạt Lai Lạt Ma tuyên bố: “Tôn giáo của tôi thật đơn giản. Chẳng cần có chùa chiền. Chẳng cần có một triết lý phức tạp. Tâm trí của chúng ta, trái tim của chúng ta chính là đền thờ của chúng ta. Triết lý (của tôn giáo) chính là lòng tử tế”. Tôi cảm thấy được “giác ngộ” bởi Đức Đạt Lai Lạt Ma. Ngài đã đưa tôi vào cái lõi của bất cứ một tôn giáo nào. Thực vậy, bất cứ con đường “đạo hạnh”, tôn giáo hay nhân bản nào cũng đều dẫn về sự tử tế. Sống tử tế, nghĩa là biết nghĩ đến người khác với sự cảm thông và thái độ sẵn sàng tha thứ,  là “có đạo”, “đi đạo” và “sống đạo”.
Chúa Giêsu của tôi cũng chỉ dạy có thế. Ngài dạy các môn đệ hay bất cứ ai muốn làm môn đệ Ngài hãy “kính mến Chúa và yêu người như mình ta vậy”. Chúa thì tôi cũng chẳng thấy và dĩ nhiên cũng chẳng cảm nhận được. Nhưng tôi tin lời của một vị môn đệ thân tín của Chúa Giêsu là thánh Gioan khi vị này viết trong một lá thư: “Bất cứ ai yêu thương thì người đó được sinh ra bởi Thiên Chúa và biết Thiên Chúa” (I Ga 3,12). Thật vậy, mỗi lần tôi cố gắng sống tử tế, nghĩa là yêu thương tha nhân, thì tôi “cảm nhận” được thực tại mầu nhiệm là Thiên Chúa.
Nhưng tha nhân là ai để tôi yêu thương như yêu thương chính mình? Trong một bài thơ có tựa đề “Peter: on the Neighbour” (Thánh Phêrô nói về tha nhân), thi sĩ Mỹ gốc Liban Kahlil Gibran (1883-1931) đã đặt vào miệng Thánh Phêrô những lời như sau: “Một hôm, tại thành Capernaum, Chúa và Thày tôi đã dạy như sau: “Người lân cận (tha nhân) của ngươi chính là người đang ẩn nấp sau một bức tường. Với sự cảm thông thì mọi bức tường đều đổ xuống. Nhưng làm sao biết được tha nhân là con người tốt nhứt của ngươi đang mang một thân xác khác? Hãy yêu thương người đó như chính ngươi. Người đó cũng là một biểu hiện của Đấng Tối Cao, mà ngươi không hề biết. Tha nhân là một cánh đồng nơi những mùa Xuân hy vọng của ngươi trổ sinh tươi tốt và là nơi những mùa Đông của những khát vọng của ngươi mơ tưởng đến những đỉnh núi tuyết. Tha nhân là một tấm gương soi trong đó ngươi tìm được một niềm vui mà ngươi không hề biết và cảm nhận được một nỗi buồn ngươi không muốn chia sẻ. Ta muốn ngươi yêu thương tha nhân như Ta đã yêu thương ngươi.”
Tôi liền hỏi Chúa: “Làm sao con yêu thương được một kẻ không yêu thương con và đang thèm khát và muốn chiếm đoạt tài sản của con?”
Và Chúa đã trả lời: “Khi người đang cầm cày và gia nhân của ngươi đang gieo hạt giống phía sau ngươi, lẽ nào ngươi dừng lại, quay đầu ra sau để xua đuổi một con chim sẻ đang nhặt vài hạt giống của ngươi? Nếu ngươi làm như thế, ngươi chẳng xứng đáng với những gì ngươi gặt hái được”
Khi Chúa Giêsu nói điều đó, tôi cảm thấy xấu hổ, không dám mở miệng nữa. Nhưng tôi không thấy sợ, bởi vì Ngài vẫn mỉm cười với tôi.” (Kahlil Gibran, Masterpieces, Axiom Australia, 2007, p.187).
Chúa Giêsu, trong trí tưởng tượng phong phú của Thi sĩ Kahlil Gibran, đã mỉm cười với thánh Phêrô. Hẳn đó phải là một nụ cười của nhân ái và cảm thông. Kinh Thánh đã chẳng ghi lại bất cứ nụ cười nào của Chúa Giêsu. Phải chăng vì cuộc đời của Ngài gồm toàn một chuỗi của chống đối, khổ đau và cuối cùng là cái chết trên thập tự, phải chăng vì Ngài đã có những lời lẽ cứng rắn đối với giai cấp lãnh đạo tôn giáo thời Ngài...mà Ngài không hề biết cười? Sự gần gũi, thái độ cảm thông của Ngài đối với những người bị đẩy ra bên lề xã hội cũng như sự ưu ái của Ngài đối với trẻ em không cho phép tôi tưởng tượng ra khuôn mặt nghiêm khắc chẳng bao giờ biết cười của Ngài. Tôi tin rằng Chúa Giêsu đã cười và cười một cách thoải mái là khác, bởi vì Ngài không chỉ yêu mến tha nhân cho đến cùng, mà còn trải dài tình yêu thương ấy đến muôn tạo vật, kể cả cỏ cây.
Tôi nhận ra nụ cười của cảm thông và tha thứ của Đức Phật  qua nụ cười của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Tôi cũng nhìn thấy nụ cười của hồn nhiên, tử tế của Chúa Giêsu xuyên qua nụ cười của Đức Phanxicô, nhà lãnh đạo tinh thần của hơn một tỷ người công giáo.
Mới đây, vị giáo hoàng này đã gây một tiếng vang đặc biệt, không những đối với người công giáo, mà còn với toàn thể cộng đồng thế giới khi ngài cho công bố một bức “thông điệp” dành riêng cho chủ đề bảo vệ môi sinh. Không thiếu những người chống đối, nhứt là những người chối bỏ những bằng chứng khoa học về hiện tượng trái đất đang hâm nóng và hành động hủy hoại của con người đối với môi trường sống.
Tôi rất ít khi đọc hết một bức thông điệp của bất cứ một vị giáo hoàng nào. Thường đó là cả một cuốn sách khô khan, trình bày vấn đề một cách hàn lâm, khó hiểu đối với đa số những người bình dân như tôi. Tôi chỉ biết dựa vào những phân tách của các học giả để nắm bắt nội dung của các bức thông điệp của các vị giáo hoàng. Với Đức Phanxicô, mặc dù chưa đọc hoặc sẽ không đọc hết bức thông điệp về môi sinh, tôi vẫn đón nhận lời giảng dạy của ngài về vấn đề môi sinh. Sở dĩ tôi sẵn sàng đón nhận những lời giảng dạy của ngài về môi sinh là vì lúc nào tôi cũng mường tượng ra nụ cười nhân ái và cảm thông của ngài.
Mỗi vị giáo hoàng của Giáo hội Công giáo đều để lại một dấu ấn đặc biệt. Nếu tên tuổi của Đức Gioan Phaolô II, người Ba Lan, thường được thế giới nhắc nhớ cùng với sự sụp đổ của bức tường Bá Linh và sự cáo chung của các chế độ cộng sản tại Đông Âu và Nga, thì người tiền nhiệm của Đức Phanxicô là Đức Bênêđictô có lẽ sẽ được tưởng nhớ nhiều nhứt vì đã làm một quyết định được xem là bất ngờ và táo bạo nhứt trong lịch sử của Giáo hội Công giáo khi tuyên bố từ chức. Còn riêng đối với Đức Phanxicô, thì tôi cho rằng về sau này người ta sẽ nhắc đến ngài như vị giáo hoàng về môi sinh.
Tôi không ngạc nhiên khi ngài dành nguyên một thông điệp để kêu gọi tôn trọng và bảo vệ môi sinh. Tên Phanxicô Assisi, vị thánh người Ý thời Trung Cổ, được thế giới ngày nay xem như sứ giả của hòa bình, đã được vị giáo hoàng này chọn làm tên riêng của mình. Với thế giới, ngài không còn là “Bergolio”, mà chỉ là “Phanxicô”, tên của vị thánh mà tình yêu thương đối với người đồng loại cũng được trải dài đến muôn vật, cỏ cây. Chính vì vậy mà mở đầu bức thông điệp, Đức Phanxicô đã nhắc đến một “bài ca” của thánh Phanxicô, trong đó thánh nhân đã gọi trái đất là “Chị” . “Chị Đất” ấy, như Đức Phanxicô đã viết trong những lời mở đầu bức thông điệp, đang kêu khóc với chúng ta vì sự hãm hại mà chúng ta giáng xuống  trên “Chị” do việc sử dụng thiếu trách nhiệm và do sự lạm dụng những của cải mà Thiên Chúa đã ủy thác cho “Chị”.
Tựu trung,  khi kêu gọi tôn trọng và bảo vệ môi sinh, tức trái đất, Đức Phanxicô cũng lên án thái độ tham lam và ích kỷ của con người thời đại trong việc sử dụng của cải vật chất. Chính vì không nghĩ đến người khác và các thế hệ tương lai mà con người đã khai thác và sử dụng bừa bãi người “Chị Đất”. Và dĩ nhiên, khi con người sống ích kỷ, chỉ nghĩ đến mình và những quyền lợi trước mắt của mình, thì không chỉ người “Chị Đất” bị hủy hoại, mà chính sự sống của mọi người cũng bị đe dọa. Lũ lụt, hạn hán, cháy rừng...chính là tiếng kêu thảm thiết của “Chị Đất”. “Chị Đất” lên tiếng kêu khóc để cảnh cáo con người về nguy cơ bị hủy diệt mà nguyên nhân không gì khác hơn là sự khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách bừa bãi, lòng tham lam, thái độ ích kỷ của con người.
Đối lại với lòng tham lam ích kỷ, tôn giáo nào, đạo nào, cũng đều nhắc nhở con người rằng họ chỉ có thể được “cứu rỗi” bằng sự tử tế mà thôi. Khi con người biết sống tử tế với người đồng loại, thì đương nhiên họ cũng sẽ tôn trọng và bảo vệ người “Chị Đất”. Trong ý nghĩa ấy, tôn trọng và bảo vệ môi sinh trong thế giới ngày nay, đã trở thành một “giới răn” mới và “đạo” hay “tôn giáo”, nói như Đức Đạt Lai Lạt Ma, cũng thật đơn giản: chỉ có một đạo duy nhứt có giá trị “cứu rỗi” cho mọi người là Đạo Tử Tế.