Thứ Tư, 24 tháng 6, 2015

...NẾU...


Chu Thập
16.9.11


Tôi thích chương trình “Man vs Wild” (chống chọi với thiên nhiên) được chiếu trên đài truyền hình SBS trong thời gian gần đây.Tập phim tài liệu này do Kênh truyền hình Discovery của Anh thực hiện. Kịch bản của các đoạn phim đều giống nhau: nhân vật chính và duy nhứt trong tập phim là Bear Grylls được trực thăng vận đến một vùng đất xa lạ nào đó, thường là một khu rừng rậm, một dòng thác cuồng cuộng, một vùng sa mạc khô cằn hay một triền núi hiểm trở. Tại đây, anh phải tận dụng mọi kỹ năng để tồn tại và tìm đường trở về với đời sống văn minh. Dụng cụ duy nhứt anh được phép mang theo là một hộp quẹt và một con dao. Nhưng cũng có khi, anh chỉ đi hai tay không. Từ leo núi, băng rừng, vượt thác đến bắt rắn, đánh bẫy heo rừng...Grylls chỉ được phép xử dụng những gì anh tìm thấy tại chỗ. Trong nhiều cảnh, anh tự làm lửa và nướng thịt của những con thú bắt được. Cũng có khi anh phải ăn sống các thứ côn trùng. Trong một tập phim được thực hiện tại Việt nam, anh đã phải nhai nguyên một con ếch sống.
Dĩ nhiên, dù là một phim tài liệu, kịch bản của tập phim vẫn là chuyện được dàn dựng, nghĩa là bên cạnh diễn viên vẫn có đoàn quay phim. Mỗi một tập phim thường được quay từ một tuần lễ đến 10 ngày. Trước khi quay, có một đoàn thám thính đi thăm dò trận địa. Kế đó diễn viên chính cũng đến nơi quan sát địa hình địa vật. Sau đó Grylls lại phải trải qua hai ngày liền để tập dượt.
Khi xem phim, khán giả có thể nhận ra ngay là, mặc dù tưởng Grylls bị lạc mất và đơn thương độc mã trong một nơi thâm sơn cùng cốc nào đó, trong thực tế bên cạnh anh vẫn có đoàn làm phim. Dù vậy, những pha nguy hiểm nhứt vẫn do Grylls thực hiện chứ không phải do người khác đóng thế. Xuyên qua những màn gay cấn nhứt, anh chỉ muốn chứng minh rằng trong những điều kiện sinh tồn nguy ngập nhứt, con người vẫn có đủ sức để chống chọi với thiên nhiên.
Sở dĩ Grylls đã được chọn để thực hiện tập phim là vì anh đã từng là binh sĩ thuộc Lực lượng nhảy toán đặc nhiệm của Quân đội Hoàng gia Anh gọi tắt là SAS.
Trên tạp chí Reader’s Digest, số ra tháng 8 vừa qua, Grylls  cho biết anh đã luyện được các kỹ năng và sức chịu đựng ngay từ nhỏ. Grylls kể lại rằng mỗi tuần một lần, mẹ anh đưa anh đến một sân tập thể dục mà huấn luyện viên tên là Sturgess điều khiển. Ông Sturgess là người đòi hỏi các học viên tí hon chỉ mới  6 tuổi  phải khép mình vào kỷ luật sắt của quân đội. Các cậu bé phải tập đu vào một giây bằng kim loại cao khoảng 3 thước và lên xuống như thế cho đến khi nào huấn luyện viên cho phép mới được dừng lại. Nhiều em bỏ cuộc. Nhưng Grylls vẫn kiên trì cho đến cùng.
Trong thời gian huấn luyện trong Lực lượng nhảy toán đặc biệt, Grylls đã hầu như trải qua tất cả mọi thử thách nguy hiểm nhứt như: leo núi (anh đã từng leo đến đỉnh núi Everest trong dãy Himalaya), nhảy ra khỏi máy bay và rơi tự do, lặn xuống dưới các tảng băng và nhứt là chiến đấu để sống còn trong những điều kiện nguy hiểm nhứt trong rừng rậm.
Tập phim “Man vs Wild” của anh thật ra cũng chỉ là một phiên bản từ chính những kinh nghiệm sống mà Grylls đã trải qua.
Xem tập phim, không những tôi có dịp làm một chuyến du lịch đến nhiều nơi trên thế giới, chiếm ngắm cảnh núi rừng bao la hùng vĩ, biết thêm những giống vật kỳ lạ, mà còn học được nhiều bài học thực tế để có thể sống còn trong những điều kiện khó khăn hiểm nghèo. Dĩ nhiên, so với cuộc chiến cam go giữa sự sống và cái chết mà nhiều người Việt nam đã phải trải qua trong cuộc vượt biển hay vượt biên đi tìm tự do, thì các cuộc mạo hiểm của nhân vật Grylls trong “Man vs Wild” chẳng thấm vào đâu. Nhưng tập phim vẫn là nguồn cảm hứng cho óc mạo hiểm và tinh thần chiến đấu của con người.
Ngày nay, tôi thực sự nể phục sự gan dạ của người Tây Phương. Càng lúc càng có nhiều môn thể thao “chết người”. Ngày xưa, thời Hoa kỳ tham chiến tại Việt nam, thỉnh thoảng được xem một buổi biểu diễn nhảy dù, tôi đã phục lăn những người nhào ra khỏi máy bay, không cho bung dù tức khắc, mà nhào lộn vài giây. Ngày nay, tung người ta khỏi máy bay, để rơi tự do cho đến gần mặt đất, bay lượn như trên sóng nước một hồi, có khi xếp thành một đội hình, hoặc ngay cả chơi Skateboard trên không trung...là chuyện thường. Nhìn các cuộc thi đấu trong Thế vận hội Mùa đông, những cuộc đua xe hơi, những cuộc nhào lộn bằng xe đạp hay Skateboard...tôi không thể không thấy lạnh người.
Con người thời đại dường như lúc nào cũng muốn vượt qua những giới hạn thể lý, sự dẻo dai và sức chịu đựng của mình. Nhưng dĩ nhiên, đàng sau những màn biểu diễn vẫn là tham vọng của thành tích và chiến thắng. “Citius, Altius, Fortius” (nhanh hơn, cao hơn, mạnh hơn), khẩu hiệu của Thế vận hội mà ta thường thấy trong các vận động trường nói lên sự khao khát thành tích và chiến thắng ấy. Tựu trung, giới trẻ Tây phương ngày nay  xem ra thích làm người hùng và sẵn sàng tham gia những trò chơi “chết người” để được làm người hùng. Chuyện cô Jessica Watson, 16 tuổi, muốn lập thành tích là người trẻ tuổi nhứt thực hiện thành công chuyến đi vòng quanh trái đất bằng thuyền buồm là một điển hình.
Việt nam là quốc gia ít có thành tích về thể thao nhứt, nhưng lại là nước thích lập thành tích và tự hào về những thành tích ảo nhứt.
Trong bài viết có tựa đề “Bệnh Anh hùng”, được đăng trên trang mạng Talawas dạo tháng 10 năm 2005, tác giả Đinh từ Thức đã so sánh hai ngày lễ cùng được cử hành trong tháng 8 tại Việt nam và Singapore: Việt nam mừng 60 năm ngày cướp chính quyền 19 tháng 8, Singapore kỷ niệm 40 năm ngày độc lập 9 tháng 8.
Tác giả viết rằng theo dõi Việt nam kỷ niệm 60 năm Cách mạng tháng 8, người ta thấy hai chữ “anh hùng” được nhắc tới nhiều hơn cả. Trước hết là diễn văn của chủ tịch nước Trần đức Lương tại quảng trường Ba Đình sáng 2 tháng 9. Ông nói: “Nhìn lại những thành tựu vẻ vang của cách mạng Việt nam 60 năm qua, chúng ta vô cùng tự hào về dân tộc ta, một dân tộc anh hùng...Truyền thống yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân Việt nam chính là những nhân tố cơ bản, cốt lõi làm nên sức mạnh vô địch của nhân dân Việt nam trong thời đại mới”. Rồi ông kết luận: “Dân tộc Việt nam anh hùng, nêu cao truyền thống tự tôn dân tộc, nhất định sẽ lập nên những kỳ tích mới”.
Báo Nhân dân trong số ra ngày 2 tháng 9 nhân dịp kỷ niệm 60 năm Cách mạng tháng 8 cũng viết: “Trải qua 60 năm chiến đấu bảo vệ tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hà nội đã vươn lên mạnh mẽ, xứng đáng là thủ đô Anh hùng của nước Việt nam Anh Hùng”.
Sài gòn, mặc dù mất tên, cũng được trao tặng danh hiệu “anh hùng”. Tự ca tụng mình chưa đủ, mạng lưới chính thức của Đảng cộng sản Việt nam cũng mượn lời báo Mỹ để ca bài anh hùng: “Ngay ở Mỹ, Báo Bưu điện Washington, một trong những tờ báo có đông độc giả, cũng vừa có bài khẳng định: chủ nghĩa anh hùng của nhân dân Việt nam trong cuộc chiến tranh giải phóng này đã khích lệ và tạo nguồn cho hàng triệu người trên khắp địa cầu, kể cả tại Mỹ, đấu tranh chống lại chiến tranh và cường quyền”.
Tự hào về những thành tích anh hùng, Việt nam cũng thích tạo kỳ tích. Những “kỳ tích” mà chủ tịch Trần đức Lương đã báo trước Việt nam sẽ lập nên là gì nếu không phải những chiếc bánh chưng dài nhứt thế giới nhưng lại độn bằng nhân giả, những hàng hóa dỏm và đểu đầy đường, những ông tiến sĩ giả đứng đầu mọi cơ quan. Việt nam ngày nay quả thực cái gì cũng nhứt, kể cả vô văn hóa và vô liêm sỉ cũng nhứt.
Khác với Việt nam, một quốc gia ở Á châu có nhiều thành tích nhứt để tự hào là Singapore lại không bao giờ tự hào.
Theo ghi nhận của tác giả Đinh từ Thức, nhân dịp kỷ niệm 40 năm lập quốc, Singapore đã không nhắc đến bất cứ một thành tích “anh hùng” nào. Thay vì hy sinh con người vì “lý tưởng cách mạng” để làm “anh hùng” như Việt nam, Singapore đã cố gắng chăm sóc và xây dựng người dân của mình để xây dựng một quốc gia tiến bộ. Có biết bao nhiêu cái nhứt để Singapore tự hào như sạch sẽ nhứt, an ninh nhứt. Nhưng trong bài diễn văn đọc nhân dịp kỷ niệm 40 năm độc lập, thủ tướng Lý Hiển Long đã không hề nhắc đến bất cứ thành tích nào.
Có lẽ trên thế giới chẳng có nơi nào tinh thần phục vụ của người dân cao cho bằng ở Singapore. Chẳng hạn thu ngân viên ở các cửa hàng lúc nào cũng niềm nở, kính cẩn đối với khách hàng. Vậy mà thủ tướng Lý Hiển Long còn than rằng Singapore thiếu văn hóa phục vụ tự nhiên. Ông nói: “Singapore chúng ta không có một văn hóa phục vụ tự nhiên...Chúng ta còn phải cố gắng nhiều để đạt trình độ thế giới”. Ông kêu gọi dân chúng hãy xem phục vụ như một danh dự và quyết định nâng cao phẩm chất phục vụ lên hàng quốc sách.
Nếu có đề cao những bậc anh hùng thì thủ tướng Singapore lại nêu gương của một bà cựu thư ký nọ. Vì hoàn cảnh, người phụ nữ 63 tuổi này phải đổi nghề nhiều lần. Và cuối cùng, bà nhận việc lau chùi nhà vệ sinh công cộng để kiếm thêm tiền cho con ăn học. Nhận thấy đứa con không hài lòng về nghề mới của mẹ, bà nói: “chùi nhà vệ sinh không làm mất nhân phẩm”. Kể xong câu chuyện này, thủ tướng Lý Hiển Long kêu gọi mọi người hãy “biết và tin rằng phục vụ là việc làm danh dự, chứ không phải là việc thấp hèn.” (x. Đinh từ Thức, Bệnh Anh hùng, Talawas 25/10/2005)
Theo cái nhìn của thủ tướng Lý Hiển Long, người ta có thể là anh hùng mà không cần phải lập bất cứ một kỳ tích nào. Âm thầm làm những công việc nhỏ bé nhứt, nhưng với tất cả ý thức trách nhiệm và danh dự, một việc làm như thế không phải là dễ dàng. Những chiến công hiển hách nơi chiến trường, những thành công trong chính trị hay kinh doanh, những kỷ lục trong thể dục thể thao, những vượt khó giữa thiên nhiên...không là gì so với những chiến thắng âm thầm trong cuộc sống mỗi ngày trong gia đình, bởi lẽ cuộc chiến chống lại những kẻ thù trong chính bản thân mới là cuộc chiến cam go nhứt. Thành tựu lớn nhỏ hoặc ngay cả kỳ tích thì ai cũng muốn đạt và có thể đạt được ít nhứt một lần trong đời. Nhưng những “kỳ tích” nhàm chán như đi cày, nội trợ bếp núc...mà đời sống hằng ngày luôn có thì ai cũng ngao ngán. Người ta không chết trên lưng ngựa mà lại gục ngã trong xó bếp.
Trong bài thơ có tựa đề “If” (nếu), văn hào Anh viết:
“Nếu con có thể ngẩng cao đầu khi mọi người xung quanh chán nản và trách móc con;
Nếu con có thể tin tưởng nơi chính mình khi mọi người đều nghi ngờ con...
Nếu con có thể chờ đợi và không cảm thấy mỏi mệt vì chờ đợi, hay nếu bị lừa dối mà không lừa dối hay bị thù ghét mà vẫn không thù ghét...thì lúc đó, con ơi, con mới thực sự nên Người”.
Cái mà tôi học được nơi Bear Grylls qua loạt phim của anh là: nếu luôn có sự chuẩn bị chu đáo về tinh thần lẫn thể chất, nếu luôn chấp nhận đối đầu mọi nghịch cảnh với ước muốn sống còn, nếu luôn tìm hiểu thu thập kiến thức về môi trường bên ngoài và cả môi trường bên trong tâm hồn thì chuyện chiến thắng những “kẻ thù” trong nội tâm là điều có thể thực hiện được.
Không có cái can đảm vượt thắng thiên nhiên như Bear Grylls, tôi đóng cửa ở nhà tập thắng cái “thằng tôi”. Nếu có kiếp sau tôi sẽ bước qua giai đoạn “tề gia”. Như vậy “chỉ” cần thêm ba kiếp nữa tôi sẽ vượt qua được chuyện “trị quốc” để bước vào “bình thiên hạ”!!








Thứ Hai, 22 tháng 6, 2015

Trung Quốc và Vạn Lý Tường Lửa


19.6.15

Trung Quốc là một quốc gia rất thích xây tường đắp lũy. Họ đã từng có Vạn Lý Trường Thành. Họ đang bày tỏ tham vọng muốn xây một vạn lý trường thành như thế trong Biển Đông. Còn trong nước thì hiện nay người dân đang được bao bọc bởi Vạn Lý Tường Lửa, do nhà nước thiết lập và kiểm soát nhằm ngăn chận mọi nguồn thông tin từ bên ngoài.
Trong quốc gia có nền kinh tế đứng thứ nhì thế giới này, một người dân bình thường cũng hưởng được mọi tiện nghi nhờ việc sử dụng hệ thống Internet như bất cứ một người dân bình thường nào tại các nước văn minh. Mỗi buổi sáng khi vừa thức dậy, họ cũng dùng điện thoại di động tinh khôn “Xiaomi” để nối mạng và gởi điện thư. Ngồi vào bàn ăn sáng, một tay họ cầm muỗng ăn cháo, một tay sử dụng điện thoại để mua hàng. Ở sở làm, họ vào “Baidu” để đọc thư hay tìm kiếm thông tin hoặc mua vé máy bay. Giờ cơm trưa, để gọi là giải trí, họ vào mạng “Weibo” để theo dõi những tin tức mới nhất về tài tử Yao Chen, người hiện có trên 78 triệu người hâm mộ (fan). Muốn tìm một tiệm ăn ngon để mời một người bạn, họ chỉ cần lướt qua “Dianping” để được hướng dẫn. Gọi Taxi để về nhà, họ chỉ cần liên lạc với “Didi Dache”. Còn muốn hẹn hò với một người đẹp, họ tìm đến địa chỉ “Momo” v.v. Nhìn chung, với một cuộc sống đầy tiện nghi như thế, người dân Trung Quốc hiện nay xem ra chẳng còn mơ ước một thiên đàng nào khác.
Trong quốc gia có trên một tỷ dân này, hiện có 649 triệu người đang “nối mạng”. Con số này cao gấp hai lần công dân mạng tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên, họ đang sống trong một thế giới mạng hoàn toàn khác với thế giới bên ngoài. Tất cả những trang mạng quen thuộc đối với thế giới bên ngoài như Google, Twitter, Facebook, Instagram, YouTube, Wikipedia, đều bị cấm ngặt tại Trung Quốc, bởi vì chế độ cộng sản “toàn trị” tại nước này không chấp nhận bất cứ hình thức tự do ngôn luận và phát biểu nào. Một hệ thống mạng vĩ đại thường được thế giới bên ngoài đặt cho cái tên “Vạn Lý Tường Lửa” (Great Firewall) hiện đang chận đứng bất cứ tài liệu nào bị xem là nguy hiểm cho Nhà Nước. Kể từ sau cuộc Cách Mạng Mùa Xuân, Nhà Nước Cộng sản Trung Quốc đã gia tăng kiểm soát hệ thống thông tin mạng, dẹp tan mọi mối đe dọa có thật hay chỉ tưởng tượng đối với Đảng và Nhà Nước.
Mặc dù tự cô lập với hệ thống mạng của thế giới bên ngoài, các công ty kỹ thuật nội địa của Trung Quốc vẫn phát triển mạnh. Người dân Trung Quốc nối mạng xuyên qua các công ty nội địa. Một số có thị trường mạnh hơn cả những công ty nước ngoài mà họ đã sao chép.
Vấn đề được đặt ra cho kỹ nghê thông tin mạng của Trung Quốc là: tình trạng tự cô lập này sẽ kéo dài bao lâu? Đây là một điều bình thường hay trước sau gì Trung Quốc cũng phải hội nhập vào thế giới?
Kể từ khi lên cầm quyền tại Trung Quốc, Chủ tịch Tập Cận Bình đã không ngần ngại công khai bày tỏ tham vọng của ông là tái lập một Trung Quốc vĩ đại. Và một trong những lãnh vực để đưa Trung Quốc đi lên và đồng thời bảo vệ đất nước này khỏi ảnh hưởng của Tây Phương chính là hệ thống thông tin mạng. Hồi năm ngoái, sau khi đã cam kết biến Trung Quốc thành một “cường quốc mạng”, Chủ tịch Tập Cận Bình đã đích thân đứng ra lãnh đạo một Ủy ban mới đặc trách về việc quản lý mạng lưới thông tin. Kể từ đó, các chiến sĩ mạng của Trung Quốc đã xông xáo đi khắp nơi, nhất là Hoa Kỳ, để “quậy phá”. Hoa Kỳ đã có đủ bằng chứng để lên tiếng tố cáo những cuộc tấn công “mạng” do Trung Quốc chủ xướng. Công dân mạng Trung Quốc đã có lần lên tiếng tố cáo hai tệ nạn “nhạy cảm” tại Trung Quốc là tham nhũng và ô nhiễm. Nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, tiếng nói của những công dân mạng này đã bị bóp nghẹt. Một số còn bị bắt giam tù. Chính phủ Trung Quốc đã ban hành một số luật mới theo đó các công dân mạng phải đăng ký và khai lý lịch rõ ràng với tên tuổi đầy đủ chứ không được phép sử dụng tên giả hay biệt hiệu.
Hiện Chính phủ Trung Quốc đang sử dụng ít nhất 2 triệu “công an” mạng chuyên làm công việc là kiểm soát và theo dõi các hoạt động trên mạng của người dân cũng như tấn công bất kỳ mạng lưới ngoại quốc nào xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc. Hồi năm ngoái, lần đầu tiên Gmail đã bị ngăn chận. Kế đó “Outlook” của Microsoft bị tin tặc Trung Quốc tấn công. Do đó, thông tin từ Trung Quốc hay đến Trung Quốc đều không đáng tin cậy. Ông Lu Wei, người đã từng điều khiển bộ máy tuyên truyền của Nhà nước và hiện đang quản lý hệ thống mạng của Trung Quốc, đã biện minh cho việc kiểm soát của Nhà nước như sau: “Internet cũng giống như một chiếc xe. Nếu nó không có thắng, chẳng ai biết được nó sẽ chạy làm sao. Một khi ra xa lộ, bạn sẽ thấy kết quả như thế nào”. Chính vì muốn “hãm”lại tốc độ của chiếc xe Internet của từng cá nhân, mà chính phủ đã quyết định: bất cứ công dân mạng nào có Blog riêng mà được hơn 500 người chia sẻ, thì trên nguyên tắc đều có thể bị phạt tù 3 năm vì tội gọi là “phao tin đồn trên mạng”.
Dù vậy, đối với nhiều người Trung Hoa hiện nay, “lên mạng” đàng sau “Vạn Lý Tường Lửa” vẫn là điều tốt, bởi vì họ có thể mua hàng hóa, dịch vụ bằng điện thoại tinh khôn. Nếu cứ bám vào hệ thống mạng của Nhà nước thì tốc độ truy cập nhanh đã đành mà giá cả mua bán cũng rẻ hơn nhiều so với tại Hoa Kỳ. Thu nhập hàng năm của kỹ thuật thông tin và thị trường viễn thông của Trung Quốc lên tới 465 tỷ Mỹ kim, nghĩa là chiếm đến 40 phần trăm thị trường thế giới. Theo ước tính, vào khoảng năm 2018, những mua bán và giao dịch trên mạng sẽ diễn ra tại Trung Quốc nhiều hơn cả thế giới. Ông QinYujia, một người bán xe hơi tại Thượng Hải giải thích: “Bạn chỉ cần nhấp con chuột là có thể mua được bất cứ thứ gì bạn muốn mua”. Trong 4 năm vừa qua, ông Yujia đã bán được trên mạng hơn 30 ngàn chiếc xe. Không ai ngạc nhiên tại sao trong đất nước có trên cả tỷ con người này, những công ty bán lẻ trên mạng như Alibaba và Tencent đều có doanh số hơn cả IBM của Hoa Kỳ.
Có lẽ không có nơi nào, các công ty kỹ thuật lại có nhiều triển vọng tăng trưởng cho bằng tại Trung Quốc. Hiện vẫn còn một nửa dân số Trung Quốc, tức trên dưới 600 triệu người, chưa biết đến Internet. Điều đó có nghĩa là cánh cửa thị trường Trung Quốc vẫn còn mở rộng, mặc dù chen chân vào Trung Quốc và vượt qua được “Vạn Lý Tường Lửa” của nước này không phải là chuyện dễ dàng đối với các công ty ngoại quốc. Facebook, vốn đã bị ngăn chận tại Trung Quốc từ năm 2009, tức sau các cuộc bạo loạn tại Tân Cương, vẫn không chịu bỏ cuộc. Mark Zuckerberg, người sáng lập ra công ty này, đã tìm đủ mọi cách để ve vãn chính phủ Trung Quốc hầu tìm đường trở lại. Hiện Facebook đã có trên 1.35 tỷ người trên khắp thế giới sử dụng. Nhưng với “Giấc Mơ Trung Quốc” mà chủ tịch Tập Cận Bình đã đề ra, việc Facebook trở lại nước này xem ra còn rất xa vời.
Thời Internet mới chào đời, những người lạc quan hy vọng rằng cơn thác lũ của nguồn thông tin tự do sẽ tràn qua mọi biên giới các quốc gia và việc dân chủ hóa các xã hội đang sống dưới các chế độ độc tài sẽ đương nhiên xảy đến. Nhưng những gì đang xảy ra tại Trung Quốc đã chứng tỏ rằng cả hai điều kỳ vọng trên đây đều sai. Cũng như thời Internet mới khai sinh, Đảng Cộng Sản Trung Quốc hiện vẫn đang kiểm soát chặt chẻ tất cả mọi trang mạng. Và cho dẫu mọi ảnh hưởng từ bên ngoài và các công ty ngoại quốc đều bị ngăn chận, hệ thống Internet của Trung Quốc vẫn tiến mạnh. Có người cho rằng người Trung Hoa có thể không muốn bị cắt đứt khỏi Facebook, nhưng họ cũng chẳng muốn được giải thoát khỏi sự kìm kẹp của Nhà nước. Nhưng theo một số khác, thì cũng như mọi công dân mạng trên thế giới, người Trung Hoa cũng thèm khát thông tin và họ cũng chẳng muốn bị xem như những công dân mạng “hạng hai”, nghĩa là phải sống trong sự kìm kẹp của Nhà nước.
Một sinh viên của trường đại học IT ở Zheijiang đã nói với phòng viên Hannah Beech của tạp chí Time rằng “cô lập Internet của Trung Quốc khỏi thế giới là điều không thích hợp”. Việc ngăn chận các công ty ngoại quốc như Google, Twitter, Facebook, Gmail...khiến cho các sinh viên cũng như các nhà khoa học gặp nhiều khó khăn và bị giới hạn trong việc truy cập các cuộc nghiên cứu của nước ngoài. Ngay cả các hãng xưởng muốn mua hàng hóa của nước ngoài cũng gặp nhiều trở ngài. Về phía các công ty ngoại quốc, một cuộc thăm dò do Phòng Thương Mại của Liên Hiệp Âu Châu tại Trung Quốc đã cho thấy rằng có đến 86 phần trăm trong 106 công ty bị chính sách kiểm soát Internet của Trung Quốc làm tổn hại. Chủ tịch của cơ quan này nói rằng làm ăn tại Trung Quốc rất tốn kém.
Trước tham vọng của Chủ tịch Tập Cận Bình muốn biến Trung Quốc thành một “cường quốc mạng”, vấn nạn được đặt ra vẫn là: liệu việc Nhà nước Trung Quốc kiểm soát chặt chẽ hệ thống Internet có là một lợi điểm để giúp nước này vươn lên trên các bậc thang kinh tế không? Nhật Bản và Đại Hàn đã chứng minh rằng chính xã hội tự do mới là động lực thúc đẩy sự sáng tạo và đẩy mạnh kinh tế. Dĩ nhiên, kinh tế Trung Quốc vẫn tiếp tục gia tăng. Nhờ mướn được những bộ óc sáng tạo của nước ngoài vào làm việc, các phòng thí nghiệm của nước này cũng sẽ đạt được nhiều sáng chế ngoạn mục. Các chế độ độc tài vẫn đạt được những thành tích vĩ đại về nhiều mặt: Hệ thống hỏa tiễn của Liên Xô vẫn được xếp vào hạng nhất nhì thế giới; kỹ thuật “laser” của Trung Quốc cũng không thua ai.
Nhưng cần phải phân biệt những thành tựu cá nhân với môi trường thuận lợi cho suy nghĩ và phát minh. Trong một cuộc tiếp đón dành cho các phái đoàn Trung Quốc muốn học hỏi thêm để tiến từ nhãn hiệu “Made in China” (làm tại Trung Quốc) sang “Created in China” (sáng chế tại Trung Quốc), ông Robert Atkinson, chủ tịch của Sáng Hội “Information Technology&Innovation Foundation” (Sáng hội về kỹ thuật thông tin và sáng tạo) có trụ sở tại Washington, Hoa Kỳ, đã nói: “Quý vị cần phải cho phép phê bình và lối suy nghĩ với óc phê phán”. Điều đó nghĩa là, theo ông Atkinson, phải từ bỏ lối cai trị độc đảng. Bao lâu còn độc tài độc đảng thì không thể có suy tư cá nhân và óc phê phán. Và bao lâu không có suy tư với óc phê phán thì không có cạnh tranh và không có cạnh tranh thì đương nhiên cũng chẳng có sáng tạo. Như vậy, bao lâu vẫn còn độc đảng thì đương nhiên sẽ chẳng bao giờ có sáng tạo.
Nhưng có lẽ điều đó sẽ không bao giờ xảy ra tại Trung Quốc.  Bởi lẽ Đảng Cộng Sản Trung Quốc, cũng như Đảng Cộng Sản Việt Nam và bất cứ chế độc độc tài toàn trị nào, tỏ ra thích thú và “tự sướng” trong việc kiểm soát và kìm kẹp người dân hơn là canh tân và sáng tạo.


(x. Hannah Beech, The other side of the Great Firewall, Time, June 22, 2015)



Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2015

Đạo hạnh



Chu Thập
12.6.15


Hồi tuần trước, trên một con đường chính ở Luân Đôn, Anh Quốc, một người đi xe đạp 55 tuổi bị kẹt dưới bánh xe của một chiếc xe buýt hai tầng.  Một đám đông khoảng 100 người đã tụ tập lại và trong một hành động vị tha phi thường, đã nhấc bổng chiếc xe buýt lên để cứu thoát người đàn ông. Theo một nhân viên cứu thương được gọi đến cấp cứu nạn nhân, hành động của đám đông là một “phép lạ” đã cứu sống người đàn ông (Steve Taylor Ph.D, The Kindness of Strangers. Psychology Today online 6/6/2015)
Theo Tiến sĩ Steve Taylor, giảng sư tại Đại học Leeds Metropolitan, Anh Quốc, vị tha và hy sinh dường như là một sự đáp trả bình thường của con người khi đứng trước những hoàn cảnh hay biến cố đau thương. Giáo sư Taylor cũng kể lại một trường hợp khác xảy ra tại Tô Cách Lan dạo tháng 11 năm 2013: một chiếc máy bay trực thăng đã đâm vào một quán rượu khiến cho 10 người thiệt mạng. Liền sau tai nạn, cư dân và người qua lại đã tuốn đến hiện trường. Cùng với khách hàng của quán rượu, họ đã nối vòng tay để tạo thành một “giây chuyền” và đưa những người bị thương và bất tỉnh ra khỏi nơi xảy ra tai nạn.
Theo giải thích của các chuyên gia tâm lý, nhìn theo quan điểm tiến hóa, con người thường hành động vị tha vì lợi ích riêng của bản thân. Vốn mang trong mình hàng ngàn “gen” di truyền mà mục đích duy nhất là sống còn và truyền giống, con người không thực sự hy sinh cho người khác hay ngay cả giúp đỡ người khác. Xét dưới khía cạnh di truyền học, một số chuyên gia tâm lý cũng cho rằng nếu có hy sinh hay giúp đỡ người khác, thì chúng ta cũng chỉ làm điều đó cho người thân hay họ hàng mà thôi, bởi vì những người này  mang cùng một thứ “gen” giống như chúng ta, cho nên giúp đỡ họ cũng co nghĩa là  giúp cho “gen” của chúng ta được tồn tại.
Nhưng phải giải thích như thế nào về việc chúng ta giúp đỡ những người chẳng có giây mơ rễ má nào với chúng ta hoặc ngay cả súc vật? Các  nhà tâm lý học cho rằng chẳng hề có điều được gọi là vị tha “thuần túy”. Khi chúng ta giúp đỡ người lạ hay súc vật là vì chúng ta nhắm tới một lợi ích nào đó cho chúng ta, ngay cả khi chúng ta không hề ý thức về điều đó. Bất cứ một nghĩa cử nào cũng mang lại cho chúng ta một cảm xúc tích cực. Chúng ta được người khác tôn trọng hơn hoặc ngay cả niềm hy vọng được lên “Thiên Đàng” nơi chúng ta cũng lớn lên. Cũng theo cái nhìn “duy lợi”, nghĩa là làm việc tốt để được nhìn nhận hay thưởng công, chúng ta thực thi những nghĩa cử cho người khác với hy vọng một ngày nào đó họ sẽ đền ơn báo đáp cho chúng ta, nhứt là khi chúng ta phải lâm vào hoàn cảnh khó khăn. Cũng có người thực thi nghĩa cử để chứng tỏ cho người khác thấy hoặc mình là người giàu có hoặc mình không phải là người vô dụng. Cũng không thiếu những người làm những cử chỉ “đẹp” để trở nên hấp dẫn hơn đối với người khác phái.
Nhìn lại cuộc sống, tôi nhận thấy dường như rất nhiều nghĩa cử tôi làm cho người khác đều xuất phát từ những động lực “duy lợi” được các chuyên gia tâm lý ghi nhận trên đây. Nhưng tôi phải nhìn nhận rằng cũng có rất nhiều hành động tốt được tôi thực thi cho người khác hầu như một cách tự động, nghĩa là chẳng có tính toán hơn thiệt. Tôi cũng có thể hành động như Lục Vân Tiên của ông Đồ Chiểu: “giữa đường thấy sự bất bình chẳng tha”. Đó thực sự là những hành động mang lại cho tôi một niềm vui sâu xa. Những lúc như thế, tôi cảm thấy cái phần “người” trong tôi lớn thêm. Tôi tin rằng cũng như tôi, rất nhiều người thực thi những nghĩa cử vì một động lực duy nhứt là muốn giúp cho người khác bớt đau khổ hơn mà thôi. Con người được thúc đẩy để xoa dịu nỗi khổ đau của người khác vì họ cảm thấy nỗi khổ đau của người khác như một phần của chính họ. Nói theo triết gia Đức Arthur Schopenhauer (1788-1860), “nội tâm sâu thm của tôi hiện hữu trong mọi sinh vật...Đây chính là nền tảng của sự cảm thông từ đó phát xuất lòng vị tha được biểu hiện trong mỗi nghĩa cử”.
Nói cách khác, theo Giáo sư Taylor, vị tha là một trong những khía cạnh cao thượng nhứt trong bản tính con người.
Nếu cái “nội tâm sâu thm của tôi” hiện hữu trong mọi sinh vật”, nhứt là trong  mỗi một sinh linh, thì dĩ nhiên tôi không thể không đau khổ trước bất cứ nỗi khổ đau nào của người khác đã đành, mà có lẽ tôi cũng không được phép vui trước nỗi bất hạnh của ngay cả một kẻ gian ác.
Trong một bài viết mới đây, ông Bùi Bảo Trúc, tác giả của những bài tạp ghi “Thư gởi bạn ta” có nhắc đến một trong niềm vui của ông Kim Thánh Thán, một nhà phê bình văn học Trung Hoa sống hồi Thế kỷ 17: một buổi sáng nọ, nghe gia nhân xôn xao bàn tán, ông hỏi chuyện mới biết thì ra trong đêm qua, một kẻ quỉ quyệt, độc ác nhứt, bị nhiều người trong thành ghét nhứt vừa lăn cổ ra chết. À thì ra thế. Mọi người vui vẻ là vì thế. Nghe xong, ông cũng thốt lên: “Chẳng khoái ư?”
Tác giả của “Thư Gởi Bạn Ta” cũng ghi lại chuyện đắm tàu mới xảy ra trên sông Dương Tử, bên Tàu cách đây hơn một tuần. Có trên 434 người chết và hiện còn 8 người bị xem là mất tích. Tác giả viết rằng  “kỳ lạ là tôi chẳng thấy xúc động gì về tai nạn chìm tàu này cả”. Bởi lẽ theo ông, “biết đâu trong số những người chết ấy lại chẳng có vài ba người đi chơi lần cuối trước khi lên đường ra Trường Sa, Hoàng Sa, lên tàu hải giám để xịt nước, húc vào những tàu đánh cá của các ngư dân Việt Nam từ Quảng Nam ra bắt cá. Cũng có thể trong những hành khách ấy lại có cả những người từng đánh sang Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn...hồi năm 1979, thẳng tay bắn giết, cướp phá, hãm hiếp...và nay lên tàu đi du lịch trên sông Dương Tử”.
Nghe tin những kẻ gian ác lâm nạn và ngay cả chết tất tưởi, nhiều người, trong đó có tôi, dễ có phản ứng tự nhiên là thốt lên “cho đáng đời, đáng kiếp!” hoặc triết lý hơn thì bảo “trời trả báo!” Nói cách khác, đã không mảy may xúc động trước nỗi bất hạnh của họ, có khi tôi lại còn thấy vui là khác.
Nhưng nghĩ đến cái “nội tâm sâu thm” của mình cũng hiện hữu nơi người khác, bất luận người hiền đức hay kẻ gian ác, tôi lại thấy cái phản ứng của mình quả là “độc ác”. Hóa ra mình cũng chẳng hơn gì những kẻ làm điều gian ác!
Hôm Chúa nhựt 7 tháng 6 vừa qua, nhiều người Việt ở Úc đã đổ xô đến Blue Mountains, tiểu bang New South Wales, để lắng nghe Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng, thuyết pháp hoặc chỉ để chiêm ngắm nụ cười nhân hậu, từ bi, cảm thông của ngài. Mặc dù không tham dự các buổi thuyết pháp của nhà lãnh đạo tôn giáo này, nhưng từ lâu, khi theo dõi các sinh hoạt và nghiền ngẫm những điều ngài giảng dạy từ mấy chục năm qua, tôi nhận thấy cốt lõi giáo lý được ngài quảng bá đều được tóm gọn trong hai chữ “cảm thông”. Và dĩ nhiên, đã cảm thông thì đương nhiên lúc nào cũng tha thứ. Tôi chưa từng nghe nhà lãnh đạo tinh thần này có bất cứ cử chỉ hoc lời nói thóa mạ hoặc căm thù nào đối với những kẻ thù của mình, đặc biệt là những người cộng sản Trung Hoa, kể từ thời ông Mao Trạch Đông cho tới nay. Với Đức Đạt Lai Lạt Ma, bất cứ một con người nào, ngay cả những kẻ gian ác, cũng đều có nỗi khổ riêng của họ. Và dĩ nhiên, khi người ta đau khổ thì mình phải tỏ ra cảm thông.
Trong cuốn sách “An open heart” (một trái tim rộng mở) ghi lại những bài nói chuyện và thuyết phát của ngài, Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng “sự cảm thông của chúng ta đối với người khác càng lớn mạnh khi chúng ta biết nhận ra nỗi đau khổ của họ”. Theo giáo lý Phật Giáo mà ngài quảng bá, đã là con người thì có ai mà thoát khỏi đau khổ. Có khi càng giàu có và càng quyền thế con người lại càng nhiều đau khổ hơn. Nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng giải thích: “Khi chúng ta thấy có người đang hưởng sự thành công và giàu sang phú quí, thay vì cảm thông với họ vì biết rằng tất cả những thứ đó rồi cũng sẽ qua đi khiến cho họ phải cảm thấy thất vọng vì sự mất mát đó, phản ứng của chúng ta thường lại là ngưỡng mộ và đôi khi còn ganh tỵ nữa. Nếu chúng ta hiểu được sự đau khổ và bản chất của nó, chúng ta sẽ nhận ra rằng danh vọng và của cải chỉ là những thứ tạm bợ và khoái lạc mà những thứ đó mang lại đều sẽ qua đi khiến cho con người phải đau khổ” (An Open Heart, Practicing Compassion in Everyday Life, by The Dalai Lama, edited by Nicholas Vreeland).
Bên kia mọi “tôn giáo”, “Đạo” mà Đức Đạt Lai Lạt Ma rao giảng chỉ đơn giản có thế: nhận ra nỗi khổ đau của từng người và cảm thông với họ. “Đi Đạo” hay sống “đạo hạnh” có lẽ cũng chỉ đơn giản có thế.
Tôi không có được vinh dự của tài tử gạo cội Richard Gere để làm đệ tử và tháp tùng Đức Đạt Lai Lạt Ma. Nhưng với cuộc sống “chân tu” và nụ cười nhân ái và cảm thông của ngài, nhà lãnh đạo tôn giáo này quả là thày tôi.
Trong một bài thơ trào lộng, thi sĩ Trần Tế Xương(1870-1907) có mỉa mai cái “thói đời” của một số nhà tu thời ông qua câu: “công đức tu hành sư có lọng”. Nhiều người đã nhắc lại câu thơ này để ám chỉ đến hiện tượng một thiền sư Việt Nam nổi tiếng ở nước ngoài, trong một lần về thăm quê hương, đã khoác vào người áo mão lộng lẫy, lại để cho một số để tử mang lọng đến công kênh. Từ lâu, tôi đã cố gắng vượt qua những khác biệt về chính kiến để chỉ tiếp nhận những lời giảng dạy thâm hậu của vị thiền sư này. Tôi chưa một lần tôn ông lên hàng thần tượng. Nhưng hình ảnh của một nhà sư “có lọng” đã làm sứt mẻ không ít sự kính trọng tôi đã dành cho ông.
Tôi vốn dị ứng với bất cứ áo mão, gậy gộc nào trên người của các nhà lãnh đạo tôn giáo. Với tôi, đó là những di tích thừa thãi, rơi rớt từ một thời huy hoàng giả tạo của một tôn giáo, không phản ảnh được tinh thần đích thực của bất cứ tôn giáo nào. Đây chính là lý do tại sao lúc nào tôi cũng bái phục Đức Đại Lai Lạt Ma. Ngài luôn luôn xuất hiện trước công chúng như một tỳ kheo đơn sơ, hiền lành, khiêm tốn, không tự mang hay để cho người khác khoác lên người bất cứ hào quang giả tạo nào. Ít nhứt tôi nhận ra đó như biểu hiện đích thực của lòng vị tha vô vị lợi: quên mình để chỉ nghĩ đến người khác!
Với tôi, Đức Đạt Lai Lạt Ma quả là mẫu mực của một người “đạo hạnh”. Nơi ngài, “Đạo” và “Hạnh” luôn đi đôi với nhau. “Hạnh” nơi ngài chính là buông bỏ, gột rửa tất cả những thứ râu ria phù phiếm không cần thiết của “thói đời”.
Tôi là người “có đạo” và “đi đạo” ngay từ lúc mới lọt lòng mẹ. Nhưng không phải vì thế mà tôi đương nhiên là người “đạo hạnh”. “Đạo hạnh” thực sự, như tôi được nhìn thấy qua con người của nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng, chính là không ngừng từ bỏ chính mình để biết cảm thông và sống vị tha một cách vô vị lợi.



Thứ Tư, 17 tháng 6, 2015

Em có Ba, Em có Má...


Chu Thập
8.9.11




Mỗi ngày, mở “meo đàn” tôi thích đọc một chuyện cười. Cầm trong tay tạp chí Reader’s Digest, tôi mở ngay trang “cười là liều thuốc tốt nhứt”. Xem văn nghệ, tôi thích hài kịch hơn ca nhạc. Âm vang của một nụ cười lành mạnh giúp tôi có được một ngày vui, vượt qua được những giây phút căng thẳng trong cuộc sống.
Vì thích hài kịch cho nên cứ có một cuốn băng Vân Sơn, Asia hay Thúy Nga Paris, tôi đều lướt nhanh qua các mục khác và dừng lại ở mục hài kịch để có được một trận cười trước đã.
Nhưng không phải hài kịch và danh hài nào tôi cũng thích cả đâu. Tôi mê Hoài Linh giả gái. Và dĩ nhiên, tôi không bỏ qua màn kịch nào của cặp danh hài Quang Minh-Hồng Đào. Họ không chỉ mang lại những nụ cười, mà còn khiến tôi phải suy nghĩ về một số giá trị nền tảng trong cuộc sống như gia đình, sự chung thủy, tình nghĩa xóm giềng...
Tôi thích cặp danh hài này. Nhưng tôi luôn thấy ái ngại mỗi khi danh hài Quang Minh phải đóng vai một người đồng tính. Mà dường như các bản kịch do chính họ biên soạn hay ai đó là tác giả, lại quá bị ám ảnh về chuyện đồng tính. Quả tình Quang Minh, vì sánh vai người đồng tính quá xuất sắc, đã tạo ra những nụ cười nắc nẻ nơi khán giả. Nhưng cứ mỗi lần anh xuất hiện trong vai này, tôi lại thấy nụ cười của mình méo hẳn đi. Khi ống kính quét một vòng xuống khán giả, tôi tin chắc rằng cũng có nhiều người đồng tính có mặt trong đám đông ấy. Nếu có cười thì hẳn những người đó chỉ có thể cười gượng mà thôi, bởi vì còn gì bị xúc phạm bằng khi người ta đưa mình ra làm trò cười.
Tôi thích cười. Không biết đười ươi có thật sự biết cười không. Nhưng tôi tin chắc rằng cười là đặc điểm của con người và làm nên con người.  Chỉ có con người mới thực sự biết cười mà thôi. Ngạn ngữ nước nào cũng có những câu về ý nghĩa và giá trị của nụ cười. Ngạn ngữ Latinh nói: “Castigat ridendo mores” (sửa trị tật xấu bằng tiếng cười). Triết gia Pháp Henry Bergson chuyên nghiên cứu về “cái cười” cho rằng “liều thuốc duy nhứt để chữa trị tính khoe mẻ kiêu căng là nụ cười và cái lỗi duy nhứt đáng cười là tính kiêu căng”. Riêng trong nhân loại, thì người Việt nam nổi tiếng là một dân tộc “cái gì cũng cười. Hay cũng cười mà dở cũng cười”. Lạc quan như thế thì còn gì bằng. Chỉ có điều, bởi cái gì cũng cười cho nên người Việt nam xem chuyện cười trên đau khổ của người khác như một điều tự nhiên và còn đáng khuyến khích là khác.
Tôi thực sự biết ơn nền văn hóa Tây phương. Nhờ tiếp xúc với nền văn hóa này mà tôi mới nhận thức được rằng cười trên đau khổ của người khác là hành vi xúc phạm nặng nề nhứt. Chính vì thế mà kể từ khi ra khỏi Việt nam, ngoài những người khuyết tật, còn có một hạng người khác mà tôi thấy phải tỏ ra tôn trọng và cư xử tế nhị hơn cả là những người đồng tính. Chẳng ai chọn cha mẹ để sinh ra. Cũng chẳng ai chọn phái tính để sinh ra. Ông Trời cho người này làm đàn ông, người khác làm đàn bà. Có người lại sinh ra với một khuynh hướng tính dục chẳng phải nam mà cũng chẳng phải nữ. Và có người lại có một khuynh hướng tính dục hoàn toàn ngược lại với hình thức bên ngoài.
Thật ra, cũng phải ra khỏi nước, tôi mới mở mắt ra để hiểu biết thêm về cái cộng đồng này. Mãi cho đến năm 1981, lúc còn trong nước, thỉnh thoảng tôi chỉ thấy một vài người mà chúng tôi gọi là “lại cái”. Còn đàn bà giống đàn ông hay muốn làm đàn ông thì tôi chưa từng thấy. Những người “lại cái” này, mặc dù bị mọi người chế diễu, vẫn sống hiên ngang, vui vẻ và nhứt là cũng có vợ có con như mọi người.
Mãi cho đến khi đến Pháp, tôi mới nhận thấy thế giới đồng tính phức tạp hơn nhiều. Có những người “chuyển giống”, tức không muốn chấp nhận phái tính của mình. Có những người, bề ngoài trông giống mọi người, nhưng lại chỉ có thể bị hấp dẫn hay chỉ thích người cùng phái. Có những người có gia đình hẳn hoi, nhưng vẫn thích nhảy rào để quan hệ tính dục với người cùng phái.
Đến đây thì thú thật, dù vẫn biết phải tôn trọng và cư xử tế nhị với cộng đồng đồng tính, tôi vẫn không thể hiểu được tại sao ông Trời lại tạo nên một giống người nam không ra nam, nữ không ra nữ để họ chỉ có thể cảm thấy hấp dẫn bởi những người cùng phái mà thôi. Một “tai nạn” thiên nhiên không chỉ xảy ra cho con người mà cả các loài vật. Lần đầu tiên, tôi bị một cú sốc nặng là khoảng cuối thập niên 80. Tôi vẫn nhớ mãi cái hình ảnh mà tôi cho là “kỳ quái” không thể hiểu được. Số là trên một chuyến bay từ Cincinnati, Ohio về San Francisco, California, tôi ngồi bên cạnh một thanh niên da trắng mà tôi nghĩ chưa quá 30 tuổi. Phải nói đây là một thanh niên đẹp trai. Ngồi bên cạnh nhau đến cả 5 tiếng đồng hồ, chúng tôi không thể không trao đổi với nhau cho qua giờ. Anh tỏ ra là một người lịch lãm, có thể góp ý về đủ mọi vấn đề. Nhưng đến khi tôi hỏi chuyện gia đình, vợ con thì anh ta nói thẳng rằng anh là “gay” (đồng tính); anh không thích đàn bà con gái. Kể từ lúc đó, tôi thấy mình phải dè dặt hơn. Đến lúc về đến phi trường San Francisco, trong lúc chờ người thân đến rước về nhà, tôi chứng kiến một cảnh tượng mà vào thời điểm đó tôi cho là “khủng khiếp”: vừa ra khỏi phi trường, người bạn đồng hành của tôi đã chạy ùa tới một bậc “mày râu” khác theo đúng nghĩa, nghĩa là râu ria, vạm vỡ và họ đã trao cho nhau một cái hôn dài và sâu theo kiểu Tây (French kiss). Tôi cảm thấy choáng váng, muốn bật ngửa ra sau. Bấy giờ tôi mới biết San Francisco là thủ đô của những người đồng tính. Chuyện họ sống chung với nhau như hai người phối ngẩu, công khai hôn hít nhau hay quan hệ tính dục với nhau chẳng còn làm cho ai phải ngạc nhiên cả.
Nhưng  phải thú thật là sau 30 năm cố gắng hội nhập vào xã hội Tây phương, tập nhìn đời với con mắt khoan nhượng,  tôi vẫn chưa hiểu được chuyện hai người đồng phái lại có thể quan hệ tính dục với nhau. Có lần xem cuốn phim có tựa đề “Priest” (linh mục), khi chứng kiến cảnh hai người đàn ông trong y phục Adam, quấn quít lấy nhau, làm những động tác của vợ chồng, tôi đã nhắm mắt lại vì muốn “nôn mửa”. Tôi biết rằng mình vẫn không thể nào “xỏ chân vào giày của họ” được.
Quả thật, có những điều tôi không hiểu nổi. Những chuẩn mực đạo đức truyền thống lại càng không cho phép tôi chấp nhận những điều mà hiện nay người ta đang tranh đấu để biến thành một thứ “quyền của con người”. Chẳng hạn như quyền được “kết hôn” giữa những người đồng tính.
Mới đây, báo chí Úc đã đăng tải hình của bà Penny Wong, tổng trưởng tài chính, chụp chung với người phụ nữ bạn tình của bà. Kèm theo bức hình là bản tin cho biết họ đang chờ đợi một đứa con mà người phụ nữ sống chung với bà Wong đang cưu mang. Có tin còn cho biết các chính trị gia Úc đã lần lượt gởi lời chúc mừng đến cặp đồng tính này.
Năm 2001, Hòa lan đã trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới nhìn nhận hôn phối của những người đồng tính. Kể từ đó, nhiều nước khác như Argentina, Bỉ, Canada, Băng Đảo, Na uy, Bồ đào nha, Tây ban nha, Nam Phi và Thụy điển đều chính thức cho phép những người đồng tính được kết hôn với nhau. Tại Hoa kỳ đã có tới 6 tiểu bang cũng đã định nghĩa lại hôn nhân và nhìn nhận hôn phối của những người đồng tính. Một số quốc gia, tuy chưa chính thức ban hành luật nhìn nhận hôn phối đồng tính, vẫn công nhận giá trị của hôn phối đồng tính được cử hành tại một số nơi khác.
Những người ủng hộ hôn phối đồng tính lập luận rằng chối bỏ quyền của những người đồng tính được kết hôn và hưởng mọi quyền lợi xuất phát từ hôn phối là một hành động kỳ thị dựa trên khuynh hướng tính dục. Một số khác cho rằng hôn phối mang lại những phúc lợi về tài chính, tâm lý và thể lý cũng như bảo đảm cho con cái được những cặp đồng tính nuôi dạy được hưởng những dịch vụ của các tổ chức xã hội.
Cho tới nay, tại Úc đại lợi, hôn phối đồng tính vẫn chưa được luật pháp liên bang nhìn nhận. Luật hôn nhân năm 1961 đã được tu chính và chính thức tuyên bố rằng hôn phối đồng tính được cử hành tại các nước khác vẫn không được nhìn nhận như hôn phối tại Úc đại lợi.
Dù vậy, tại tất cả mọi tiểu bang và lãnh thổ Úc, việc sống chung của những cặp đồng tính vẫn được thừa nhận như mọi cặp phối ngẫu (de facto couples) và họ cũng được hưởng mọi quyền lợi như những cặp bạn tình khác phái đang sống chung với nhau.
Năm 2004, Luật giám sát về hưu bổng trong kỹ nghệ đã được tu chính để cho phép các cặp đồng tính cũng được hưởng những quyền lợi như những người khác phái chung sống với nhau.
Tháng 11 năm 2008, chính phủ Lao động đã thông qua luật nhìn nhận các cặp đồng tính và cho họ được hưởng những quyền lợi như các cặp bạn tình khác phái chung sống với nhau về thuế, bảo hiểm xã hội và y tế, tuổi già và công ăn việc làm. Điều này có nghĩa là những cặp đồng tính nào có thể chứng minh được rằng họ đang chung sống với nhau như vợ chồng đều hưởng được hầu hết các quyền lợi của các cặp vợ chồng.
Tháng 8 năm 2009, một thành viên của Đảng Xanh đã đệ trình một dự luật kêu gọi nhìn nhận hôn phối đồng tính. Luật đã bị thượng viện bác bỏ. Đảng Xanh mà lãnh tụ là Bob Brown hiện đang công khai sống với một người bạn tình đồng phái, vẫn cương quyết tranh đấu cho hôn phối đồng tính được luật pháp liên bang Úc đại lợi nhìn nhận. Nhưng cho tới nay, thủ tướng Gillard đã nhiều lần tuyên bố rằng bà chống lại hôn phối này. Tuy nhiên, trong một xã hội mà “hợp pháp” hay “hợp thức về phương diện chính trị” (politically correct) được xem là chuẩn mực bắt người dân phải tuân thủ, thì chuyện gì cũng có thể xảy ra. Nếu phá thai, tức sát hại một con người vô phương tự vệ còn trong lòng mẹ, được xem là “hợp pháp”, thì có chuyện gì mà các nhà làm luật và các chính trị gia không làm được. Trong trường hợp nào, lý của kẻ mạnh vẫn luôn thắng.
Tôi không phải là một nhà thông luật, lại càng không phải là một chính trị gia để tranh luận về luật pháp. Trong mọi sự, lương tâm lúc nào cũng mách bảo tôi về khía cạnh đạo đức. Đúng hơn, là con người, tôi vẫn luôn bị lương tâm chất vấn về trách nhiệm, nhứt là trách nhiệm đối với người khác. Tự do chọn cách sống là chuyện của mỗi người nhưng một khi điều đó ảnh hưởng đến “người khác” thì vấn đề cần được đặt lại. “Người khác” mà tôi muốn nói ở đây là những “đứa con”.
Khi tôi nhìn tấm ảnh chụp chung của bà Penny Wong với người phụ nữ bạn tình, kèm với “tin vui” có con được họ công bố, tôi không thể không nghĩ đến tương lai của đứa bé. Chưa ra đời, nó đã bị kết án phải làm một đứa trẻ mồ côi, bởi lẽ, dù phải có một người đàn ông hiến tặng tinh trùng để nó được hình thành, nó vẫn không được người cha “đẻ” nhìn nhận. Không nhìn nhận đứa con của mình là một hành động chỉ có thể gọi là “vô trách nhiệm” mà thôi. Lại càng vô trách nhiệm hơn nữa khi người ta cố tình tước đọat quyền được có cha của đứa bé.  Nó sẽ sinh ra và lớn lên trong một gia đình có đến hai bà mẹ, nhưng lại không có lấy một người cha hoặc ngược lại. Con không cha như nhà không nóc. Đối với một đứa con trai, điều ấy lại càng hiển nhiên hơn: thiếu một đàn ông “mẫu mực” trong gia đình, trưởng thành nhân cách là điều không phải dễ dàng đối với một đứa trẻ. Con không mẹ thì lại càng thê thảm hơn.
Thời đại này, người ta nói đến đủ mọi thứ quyền, kể cả quyền của thú vật. Nhưng một trong những quyền cơ bản nhứt là quyền được sinh ra và lớn lên trong một gia đình có cha và có mẹ lại bị chối bỏ. Tranh đấu cho đủ mọi thứ quyền nhưng lại chối bỏ quyền này là một thái độ vô trách nhiệm và giả nhân giả nghĩa.
Tôi nhớ: trước năm 1975, trong các buổi sinh hoạt đoàn thể, các em thiếu nhi thường vỗ tay hát: “Em có ba, em có má...” Hãy thử tưởng tượng: còn niềm vui nào lớn hơn đối với một đứa trẻ khi được sinh ra, lớn lên trong một gia đình có một người cha và một người mẹ.
Tôi tin rằng chỉ trong một gia đình như thế, đứa trẻ mới cảm nhận được tình yêu thương thực sự, học được những bài học vỡ lòng về làm người và lớn lên trong tinh thần trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và xã hội.







Thứ Hai, 15 tháng 6, 2015

Kim Jung Un: nỗi bất an của một nhà độc tài



12.6.15

Cũng như đất nước hoàn toàn bưng bít mà ông đang cai trị, nhà độc tài Kim Jong-un của Bắc Hàn là một trong những lãnh tụ bí hiểm nhất trên thế giới hiện nay.
Đối với thế giới bên ngoài, Kim Jong-un là một quái vật hay một tên hề sẵn sàng gởi những tên khủng bố đến đe dọa một người thợ cắt tóc ở Luân Đôn chỉ vì người này dám cười nhạo mái tóc không giống ai của mình. Cũng có người chỉ xem ông như một “dân chơi” thích phó mát Thụy Sĩ, xe đua và gái đẹp.
Thế nhưng bên trong “thiên đàng” cộng sản Bắc Hàn của ông, thì nhà lãnh đạo với khuôn mặt còn búng ra sữa này là một quân vương, một lãnh tụ tối cao, với hào quang chiếu sáng gần như thần thánh. Thần dân của ông vỗ tay hoan hô ông cho đến khi nào tay họ chai ra mới thôi.
Theo các phương tiện truyền thông quốc doanh, ông “trời con” này đi lại khắp nơi để “dạy dỗ” dân chúng về mọi vấn đề, bởi vì chuyện gì ông cũng thông thạo. Chẳng hạn mới đây, ông đã đến tận các trang trại nuôi ba ba để hướng dẫn về cách chăn nuôi. Bất cứ một lời nào thoát ra từ miệng ông cũng đều là “chân lý” được các chuyên viên ghi lại để nuốt lấy. Sở dĩ lãnh tụ tối cao phải đến tận nơi để ban huấn từ là bởi vì công ty nuôi ba ba này gần đây đã không đạt được năng xuất cũng như giảm sút trong việc nâng cao ý thức hệ cộng sản. Một tờ báo quốc doanh đã trích lời ông Kim Jong-un như sau: “Không thể hiểu được tại sao trang trại này đã không tổ chức được một phòng dành riêng cho việc giáo dục về lịch sử cách mạng”.
Thế giới bên ngoài xem ông như một quái vật đã đành, mà bên trong Bắc Hàn, người ta sợ ông như sợ cọp, bởi vì không ai có thể lường trước được những gì ông muốn làm và sẽ làm. Tin tức về những vụ thanh trừng và hành quyết dã man là một bằng chứng cho thấy tính khí bất thường của bạo chúa này. Bất thường hơn cả thân phụ ông là lãnh tụ kính yêu Kim Jong-il. Dưới thời ông này, những người thân cận của ông vẫn có thể sống còn, các tướng lãnh vẫn được tin dùng và ngẩng cao đầu. Điều này có nghĩa là ông Kim Jong-il vẫn được “kính yêu”.
Nhưng với ông Kim Jong-un thì khác. Cuộc hành quyết bất ngờ của ông Chang Song-thaek, vừa là dượng vừa là người đỡ đầu của ông và có lẽ của cả bộ trưởng quốc phòng là ông Hyon Yong-chol, đã khiến cho mọi người xung quanh lãnh tụ vĩ đại đều run sợ vì không biết ai sẽ là người kế tiếp bị mang ra tế thần. Nhưng trong một chế độ mà mọi người đều có thể là kẻ thù của mình thì âm mưu chống lại lãnh tụ hoặc đào thoát cũng đều là chuyện hầu như bất khả thi. Hầu như con đường nào cũng đều có thể dẫn đến cái chết. Đó có lẽ là bài học mà những người đang sống dưới trướng của lãnh tụ Kim Jong-il đã học được từ lịch sử. Các âm mưu chống lại Hitler đều thất bại và những kẻ bị bắt đều bị xử tử. Stalin cũng loại trừ được bất cứ một sự chống đối nào. Tại Nam Hàn, ngay cả sau khi ám sát được Tổng thống Park Chung-hee, giám đốc tình báo của ông cũng đã bị mang ra xét xử và treo cổ.
Dưới thời lãnh tụ Kim Jong-il, chẳng có bất cứ người nào dám hó hé để lật đổ ông. Đã có 20 năm được cha ông là ông Kim Il-sung đào luyện để lên kế vị, ông Kim Jong-il đã chứng tỏ là một người có khả năng để lãnh đạo cũng như kìm kẹp được mọi người dân. Về phần mình, Kim Jong-un đã du học ở Thụy Sĩ, lớn lên ở nước ngoài cho nên lúc đầu, người dân Bình Nhưỡng có lẽ chỉ xem ông như một người ngoại cuộc và do đó cũng sẽ không rành về đường lối cai trị của cha và ông của ông.
Nhưng có lẽ cái vốn liếng “du học” của ông chẳng được bao nhiêu, cho nên theo ông Foster-Carter, giáo sư tại đại học Leeds, Anh Quốc, có lẽ ông chẳng có chính sách ngoại giao nào hoặc chẳng ai hiểu được chính sách đó như thế nào. Có lúc ông định đi Nga, nhưng liền sau đó đình hoãn lại chuyến đi. Ông cho đóng cửa khu kỹ nghệ nằm ở biên giới với Nam Hàn mà không đưa ra lý do nào cả. Trong 3 năm đầu của ông, ngay cả những nhà chuyên môn kỳ cựu nhất về Bắc Hàn cũng chẳng lượng giá được bất cứ thành tựu nào của ông. Ông Brian Myers, giáo sư tại Đại học Dongseo, Nam Hàn, chuyên về chính sách tuyên truyền của Bắc Hàn, đã nói với Đài BBC rằng ông Kim Jong-un không có trình độ thông minh như cha ông. Ông chỉ muốn tô vẽ cho hình ảnh riêng của mình mà thôi. Theo giáo sư Myers, người dân Bắc Hàn không phải là những người ngu. Họ cũng đã nhận ra rằng Kim Jong-un còn quá trẻ và quá non dại; ông không được hướng dẫn để cai trị như cha ông. Ông không được “trọng nể” như cha và ông nội của ông. Theo giáo sư Myers, chuyện ông mời danh thủ bóng rổ Mỹ Dennis Rodman viếng thăm Bắc Hàn là một tính toán sai lầm của ông. Trước kia, trong các thước phim ghi lại sự đón tiếp mà ông nội ông là Kim Il-sung và cha ông là Kim Jong-il dành cho các quan khách nước ngoài, người ta thấy lúc nào người ngoại quốc cũng cúi đầu còn hai ông thì vẫn đứng thẳng như thể quan khách nước ngoài không phải là những người quan trọng. Nhưng trong những hình ảnh được ghi lại về chuyến viếng thăm của danh thủ Dennis Rodman, người ta lại thấy ông này vẫn tỉnh bơ ngồi bắt chéo chân, tay cầm một lon Cola Cola, đầu đội mũ bóng r và mang kính đen. Những người ngồi phía sau ông Kim Jong-un và danh thủ Dennis Rodman có lẽ chẳng hiểu gì về cách đón tiếp dành cho người khách nước ngoài này. Mặt khác, những hình ảnh như thế cũng có thể nói lên rằng Kim Jong-un, vì lớn lên ở nước ngoài, cho nên chẳng hiểu biết gì về thứ “văn hóa” chính thức đã từng được nhào nặn dưới chế độ bưng bít này. Ngoài ra, vì không có được “uy tín” và sự kính nể như cha và ông nội của mình, cho nên lãnh tụ vĩ đại này dễ rơi vào tâm trạng bất an và do đó phải tiến hành các cuộc thanh trừng và hành quyết để thể hiện uy quyền của mình.
Trước tin tức về vụ hành quyết Bộ trưởng Quốc phòng Hyon Yong-chol bằng súng phòng không, các nhà phân tích cho rằng Bắc Hàn muốn gởi đi một thông điệp rõ ràng: tại Bắc Hàn không có một người nào quan trọng hơn quốc gia và dĩ nhiên lãnh tụ Kim Jong-un.
Paul French, một tác giả chuyên viết về chế độ kiểm soát tại Bắc Hàn, đã nói với Đài BBC rằng với cuộc hành quyết ông Hyon Yong-chol, Bắc Hàn muốn cho người dân trong nước cũng như nước ngoài thấy rằng sự kiểm soát của chế độ là toàn diện; không một người nào, không một sự chống đối nào có thể qua mặt được nhà nước. Theo ông French, với việc bắn tan xác ông Hyon Yong-chul, lãnh tụ Kim Jong-il cũng muốn chứng tỏ rằng bất cứ một thành phần chống đối nào cũng đều sẽ mất xác như thế.
Bắc Hàn không phải là quốc gia duy nhất trên thế giới có lối hành quyết tàn bạo như thế. Dưới thời quân phiệt tại Á Căn Đình từ năm 1976 đến năm 1983, chính phủ đã hành quyết bằng cách ném các tử tội từ máy bay xuống đại dương.  
Một số quốc gia khác thì lại nhục mạ thi thể của các tử tội sau khi hành quyết. Chẳng hạn như tại Sudan và Á Rập Saudi,  xác các tử tội bị đóng đinh và treo lên sau khi họ đã bị treo cổ hoặc chặt đầu. Còn tại Uganda, bạo chúa Idi Amin dùng tử thi của các tử tội để nuôi cá sấu.
Nhục mạ các tử tội cũng là điều thường xảy ra tại Trung Cộng. Quốc gia cộng sản lớn nhất thế giới này đã từng đưa những người bị kết án về tội khủng bố tại Tứ Xuyên lên các chiếc xe tải để cho diễu hành qua các sân vận động và bắt họ phải cúi đầu trước đám đông.
Chính quyền cộng sản Trung Quốc đối xử như thế với các tử tội để cho thấy rằng tập thể quan trọng hơn cá nhân và kiểm soát tư tưởng quan trọng hơn là hành động.
So sánh với các phương pháp hành quyết và nhục mạ các tử tội trên đây, có lẽ sáng kiến của lãnh tụ Kim Jong-un độc đáo và dã man hơn nhiều. Nhưng càng tỏ ra tàn bạo bao nhiêu, ông càng để lộ bộ mặt bất an của mình bấy nhiêu.
Cuộc hành quyết Bộ trưởng Quốc phòng Hyon Yong-chol bằng súng cao xạ đã thể hiện đúng bộ mặt tàn bạo và bất an ấy của ông. Và thế giới bên ngoài có lẽ cũng không ngạc nhiên về vụ hành quyết này. Với một con người lúc nào cũng lo sợ và bất an như Kim Jong-il, một cuộc hành quyết dã man như thế, nhất là đối với một bộ trưởng quốc phòng, là điều có thể đoán trước được.
Chỉ trong 4 năm sau khi lên kế vị “vua cha”, vua con Kim Jong-un đã thay đổi bộ trưởng quốc phòng đến 4 lần. Nếu người nắm giữ bộ này được xem là cánh tay mặt của ông thì việc ông thay đổi người liên tục như thế cho thấy ông chẳng tin ai và có bất cứ một người nào được xem là tín cẩn. Từ tháng 4 đến tháng 11 năm 2012, người giữ chức bộ trưởng quốc phòng là ông Kim Jong-gak. Chỉ sau 7 tháng ông này được thuyên chuyển về một trường võ bị. Người kế vị ông này trong chức vụ bộ trưởng quốc phòng là tướng Kim Kyok-sik nghe đâu mới qua đời. Từ tháng 5 năm 2013 đến tháng 6 năm 2014, tướng Jang Jong-nam lên thay thế, nhưng chỉ được một năm rồi biến mất. Từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 5 năm 2015, nghĩa là gần đúng một năm, tướng Hyon Yong-chol được cất nhắc vào chức vụ để rồi bị mang ra hành quyết một cách dã man.
Ngay cả trong hàng ngũ quân đội, kể từ khi ông Kim Jong-un lên cầm quyền, cũng đã có tới 6 lần thay thế người giữ chức vụ tổng tham mưu, tức người điều hành các cuộc hành quân và nắm trong tay các lực lượng đặc biệt.
Theo các phân tích gia, sở dĩ “Tào Tháo” Kim Jong-un phải loại trừ Bộ trưởng Quốc phòng Hyon Yong-chol, là vì ông này là người “biết quá nhiều”, nhất là về tình hình quân sự của Bắc Hàn. Ông đã từng là tham mưu trưởng của các trường võ bị, đồng thời là chỉ huy trưởng của Sư đoàn 8 đóng ở sát biên giới Tây Bắc Trung Quốc. Đây là nơi có trung tâm nghiên cứu hạt nhân và cũng chính từ đây mà Bắc Hàn đã cho phóng đi hai hỏa tin. Nhà quân sự Hyon Yong-chol đáng bị lãnh tụ Kim Jong-un cho hành quyết một cách dã man chỉ vì ông là người biết quá nhiều về quân đội và các chương trình vũ trang của Bắc Hàn.
Với cuộc hành quyết ông Hyon Yong-chol, ông Kim Jong-un muốn chứng tỏ rằng ông là người duy nhất nắm giữ quyền lực ở Bắc Hàn và dĩ nhiên nắm quyền sinh sát trong tay. Nhưng mặt trái của quyền lực lúc nào cũng là sợ hãi và bất an. Càng lên đến đỉnh cao của quyền lực độc tài, con người càng sợ hãi và bất an cho nên nhìn đâu cũng thấy kẻ thù.

Đó là qui luật muôn đời về độc tài. Ở Trung Cộng cũng thế. Ở Nga cũng thế. Và dĩ nhiên ở Việt Nam cũng thế.

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2015

Triết lý “Thằng Bờm”



Chu Thập
5.6.15

Không biết cuộc khủng hoảng tại Biển Đông sẽ kết thúc như thế nào. Chỉ có điều không thể chối cãi là đối với thế giới hiện nay, Trung Cộng quả là thứ rắn độc đáng sợ và đáng ghét nhứt trong đời. Trong cuốn sách có tựa đề “Death by China” (chết vì Trung Quốc), xuất bản năm 2011, Giáo sư Kinh tế Mỹ Peter Navarro đã gióng lên hồi chuông báo động về không biết bao nhiêu thứ nọc độc mà quốc gia cộng sản này đang gieo rắc trên khắp thế giới.
Mới đây, có lẽ cũng muốn cảnh giác người dân Úc về sự đe dọa của Trung Cộng, một người dân thường Úc ở Sydney tên là Nick Folkes đã đi từng nhà để bỏ vào các thùng thơ một tờ “truyền đơn” có tựa đề “Sự xâm lăng của Trung Quốc tại Úc Đại Lợi” (Chinese invasion in Australia). Trong tờ truyền đơn, ông Folkes cho rằng “những người Úc đã phải vất vả cực nhọc nay đang bị đẩy ra bên lề các đô thị, trong khi đó những tên ngoại quốc lạ mặt lại đang gặt hái những thành quả của những thế hệ đã phải làm việc cực nhọc”. Một cách cụ thể, ông Folkes nhấn mạnh đến hiện tượng người Trung Quốc đang đầu tư vào thị trường địa ốc Úc để đẩy giá nhà lên, khiến cho người dân Úc, nhứt là các gia đình trẻ phải khốn đốn và hoang mang trong việc mua nhà. Các số liệu cho thấy trong thời gian gần đây người Trung Quốc đầu tư vào thị trường địa ốc của Úc Đại Lợi nhiều hơn tại Luân Đôn và Nữu Ước. Nhiều người đang lo sợ về một thứ bong bóng địa ốc do Trung Quốc bơm lên và muốn cho xì lúc nào tùy ý.
Các chính trị gia, có lẽ do cái nhìn xa và nghĩ đến đại cuộc nhiều hơn chăng, cho rằng những lời cảnh cáo của ông Folkes là “ngu xuẩn”. Cá nhân tôi không biết thực sự hiện đang có một “sự xâm lăng của Trung Quốc tại Úc Đại Lợi ” không và mức độ đe dọa ấy có đáng kể không. Chỉ biết rằng rất nhiều người trẻ mà tôi có dịp nói chuyện với đều tỏ ra lo ngại về tương lai của họ. Cụ thể, mua được một căn nhà dường như không còn nằm trong tầm tay của họ nữa. Bên cạnh mối lo đó, cuộc sống ở các đô thị ngày càng trở nên khó khăn hơn khiến cho nhiều người dễ rơi vào căng thẳng và trầm cảm.
Cứ mỗi lần về Sydney, tôi lại nhận ra sự căng thẳng của người dân đô thị xuyên qua cách lái xe của họ. Không bóp còi để “chửi xéo” người khác thì cũng lấn đường một cách hung hãn. Như mới hôm Chúa nhựt vừa qua chẳng hạn, trên con đường từ chợ Flemington về Hornsby, tôi lái xe trong tình trạng căng thẳng tột cùng: nhìn phía trước để giữ một khoảng cách hợp lý, lại còn phải nhìn ra sau để đề phòng những kẻ lấn đường muốn qua mặt hay bám sát vào mình. Một tài xế mà tôi đoán không quá 30 tuổi ở phía sau tôi không ngừng làm động tác ấy. Lúc thì anh cố tình sấn vào xe tôi, lúc thì anh lượn qua lượn lại để tìm đường qua mặt. Nhìn trong kính chiếu hậu, tôi thấy thật tội nghiệp cho anh. Tôi cũng tội nghiệp cho cây thánh giá treo lng lẳng trong xe của anh. Tôi nghĩ bụng: Chúa Giêsu lại bị một tín hữu Ki tô bắt vác thập giá một lần nữa!
Tôi không muốn quơ đũa cả nắm để bảo rằng người dân đô thị nào cũng hung hãn khi lái xe. Nhưng tôi tin chắc rằng cuộc sống ở đô thị, so với thôn quê của tôi, dễ khiến cho thần kinh của con người bị căng thẳng. Mới đây, nhứt là khi đồng tiền Úc còn ngang nga với đồng Mỹ kim, người ta bảo rằng dân Úc giàu nhứt thế giới: nhà cửa đắt, cái gì cũng mắc mỏ. Ngoài ra, theo thống kê, Úc Đại Lợi cũng được xếp vào hạng nhứt thế giới về cuộc sống đô thị hóa: có đến 70 phần trăm dân Úc sống ở đô thị!
Chỗ tôi ở cũng đã được đô thị hóa. Với những tiện nghi đang có, tôi thấy cuộc sống của mình cũng chẳng khác bao nhiêu so với cuộc sống tại những thành phố lớn của Úc. Nhưng nếu nói về khung cảnh thiên nhiên, thì tôi lại cảm thấy mình được ưu đãi hơn. Và dĩ nhiên, những người “đồng hương” mới của tôi cũng ít bị căng thẳng hơn. Mới đây, một cặp vợ chồng trẻ người thân của tôi từ Sydney về nghỉ cuối tuần với chúng tôi. Sau một ngày và một đêm được hít thở không khí trong lành, tránh được sự ô nhiễm về âm thanh, quên đi những căng thẳng của cuộc sống xô bồ, thưởng thức những món ăn thanh đạm từ hoa trái, rau quả do tôi trồng trọt và trứng gà do mấy chị gà mái sau nhà sản xuất, hai anh chị nói rằng họ như được “tĩnh tâm” (retreat) và nạp lại năng lực để trở về chiến đấu với cuộc sống xô bồ ở thành thị.
Con người ta ai cũng thích cuộc sống văn minh vật chất và những tiện nghi do kỹ thuật mang lại. Nhưng dường như “đi loanh quanh cho mỏi mệt” rồi cuối cùng ai cũng muốn quay về với cuộc sống đơn giản ở chốn thôn dã. Trước kia, thế giới hăm hở với những kỹ thuật chăn nuôi và canh tác với năng xuất cao: cái gì cũng “công nghệ” và sản xuất hàng loạt. Hoa quả được đổi “gen” di truyền ê hề. Nay người ta lại đua nhau trở về với những sản phẩm được canh tác và chăn nuôi theo phương pháp cổ điển: hễ có nhãn hiệu “organic” (hữu cơ) hay “heirloom” (cây giống nguyên thủy) là được ưa chuộng. Đúng là “đi loanh quanh” cho đã để rồi cuối cùng cũng quay về “chốn cũ”, tức trở về với cuộc sống dân dã và đơn giản! Người nông dân và dân dã với cuộc sống yên hàn, bình lặng, ít căng thẳng vẫn giữ được sự minh triết mà thị dân luôn thèm khát.
Tối thứ Hai 1/6/15 vừa qua, xem chương trình vòng quanh thế giới do Phóng viên Simon Reeve của Đài BBC thực hiện, tôi nhận ra được sự minh triết ấy. Trong chặng dừng chân tại vùng đảo Caribê bên Châu Mỹ La Tinh, Phóng viên Reeves cho xem cuộc sống “thiên đàng” tại đảo Barbados. Trước đây, hòn đảo này chỉ là một nơi thuộc loại chó ăn đá gà ăn muối dành cho đám dân chài nghèo. Vậy mà nay, hầu hết cư dân và khách du lịch đều thuộc giới quý tộc giàu có trên khắp thế giới. Người nghèo bán đất lấy tiền để đi tìm một cuộc sống tốt hơn tại một nơi khác. Duy chỉ có một người dứt khoát không chịu rời bỏ thiên đàng này. Ông cho biết trước đây bà nội của ông đã mua mảnh đất nơi ông đang ở với giá 24 Mỹ kim. Căn nhà “từ đường” của ông quả là một nỗi “ô nhục” cho những ngôi biệt thự và khách sạn hoành tráng trên đảo. Đã có người sẵn sàng mua miếng đất với giá 8 triệu Mỹ kim. Nhưng người thừa kế của miếng đất và ngôi nhà lụp xụp này không cần tiền. Ông giải thích rằng bên kia thế giới 8 triệu Mỹ kim đó chẳng có ý nghĩa gì cả. Người nghèo này hẳn có một sự khôn ngoan mà người giàu có không thể có được.
Tư cách của người đàn ông da đen nghèo tại đảo Barbados trên đây không thể không gợi lại cho tôi hình tượng của “Thằng Bờm” trong bài ca dao quen thuộc của người Việt Nam. “Thằng Bờm có cái quạt mo...”. Có đứa trẻ Việt Nam nào, trong những bài học vỡ lòng, mà không thuộc lòng bài ca dao này. Lúc nhỏ, đọc làu làu, tôi không mấy để ý đến cái “triết lý Thằng Bờm”. Có người cho rằng “Thằng Bờm có cái quạt mo...” là một bài ca dao nhắm đến hạng người tham cái lợi nhỏ trước mắt mà bỏ cái lợi lớn lâu dài. “Phú ông” đưa ra những tài sản kếch xù như “ba bò chín trâu” hoặc như “bè gỗ lim” để chỉ đổi lấy cái quạt mo. Vậy mà “Thằng Bờm” đã từ chối bởi vì nó không biết được giá trị của những tài sản ấy. Đi từ những tài sản kếch xù để dần dần tiến tới những thứ đơn giảm kém giá trị hơn như “xâu cá mè” hay “đôi chim mồi”, vậy mà “phú ông” cũng không thể thuyết phục được “Thằng Bờm”, bởi vì đối với nó, những thứ ấy chưa phải là thức ăn có thể ăn liền. Chỉ có “nắm xôi” mới mua được nụ cười mãn nguyện của “Thằng Bờm”. Một số học giả cho rằng đó là triết lý sống của những người chọn lấy cái có thể ăn ngay, mà bỏ qua tất cả những gì phải có thời gian chờ đợi mới có thể phát sinh lợi ích. Tóm lại, theo lối giải thích này, “Thằng Bờm” là một kẻ ngu ngốc, kém trí khôn chỉ nhìn thấy cái lợi trước mắt, mà không quan tâm đến những chương trình dài hạn.
Tôi chẳng có chút vốn liếng nào về phê bình văn học.Tôi cũng chẳng rành về thơ phú. Nhưng cũng như Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc khi ông nhận ra giá trị của bài thơ “Con Cóc” (x. Nguyễn Hưng Quốc, Thơ Con Cóc và những vấn đề khác, NXB Văn Mới, California, Hoa Kỳ, 2006) và cho rằng bài thơ này “nói hộ giùm tôi bao nhiêu điều u uẩn, cứ day dứt trong lòng”, tôi cảm nhận được một bài học sâu sắc từ “Thằng Bờm”.  Bước vào tuổi già, tôi không còn nhận ra bộ mặt ngu ngốc và kém trí khôn của “Thằng Bờm” nữa. “Thằng Bờm” đối với tôi ngày nay là một nhà “hiền triết” đầy sự khôn ngoan mà con người thời đại của tôi dường như đã đánh mất. “Thằng Bờm” là người biết cười và vui hưởng những điều đơn giản nhứt trong cuộc sống. Nó đi thẳng vào điều thiết yếu trong cuộc sống, chớ không phải mất công “đi loanh quanh cho đời mỏi mệt”.
Tôi không biết ông Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) có phải là đệ tử của “Thằng Bờm” không, nhưng cứ mỗi lần đọc mấy câu thơ của ông “một mai, một cuốc một cần câu. Thơ thẩn dầu ai vui thú nào. Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ. Người khôn người đến chốn lao xao”, tôi lại thấy đó như một thứ “thần chú” rất hiệu nghiệm. Chỉ cần vác cuốc ra vườn, vừa vận động cho gân cốt được giãn nở, vừa ngắm nhìn trời đất mênh mông thì  dù  đầu óc và người ngợm có nặng nề đến đâu, cũng cảm thấy nhẹ nhõm. Chỉ cần vác cần ra bờ hồ gần nhà, ném năm ba cái, ngồi nhìn cảnh mặt trời lặn, nghe chim hót là cũng đủ thấy đời “đẹp” như thế nào rồi. Đó là chưa nói tới chuyện kéo được một con cá đủ lớn cho một bữa ăn hay để dành biếu cho người thân.
Nói đến hình tượng “Thằng Bờm” và cuộc sống đơn giản, tôi cũng  “cảm” được cái triết lý sống mà ông bạn của tôi muốn gói ghém trong tên gọi “Thằng Bờm” mà ông đặt cho con trai. Là người có cái nhìn thật sâu sắc về cuộc đời, về con người, nhưng ông lại chọn một nếp sống đơn giản tối đa giữa chốn  phồn hoa, đô hội: không bon chen, không đua đòi, không tranh giành hơn thiệt và dĩ nhiên lúc nào cũng nở nụ cười thân thiện, thân ái và hài lòng về cuộc sống hiện tại. Tôi tin chắc rằng ông bạn tôi đã nắm bắt được đâu là điều thiết yếu trong cuộc sống: chỉ có cuộc sống đơn giản mới mang lại thanh thản, an vui và hạnh phúc đích thực cho con người. Văn thi sĩ Mỹ Henry David Thoreau (1817-1862) đã diễn tả đúng tâm trạng của người có cuộc sống đơn giản khi ông nói: “Sống đơn giản về mọi phương diện và sẵn sàng đối phó với trường hợp kẻ thù chiếm lấy thành phố là điều đáng mong ước...bởi vì ta có thể ra đi với hai bàn tay trắng và chẳng phải mang theo nỗi âu lo nào”.