Thứ Tư, 10 tháng 6, 2015

Hổ Phụ Sinh Hổ Tử...


Chu Thập
30.8.11


Ngày của Cha năm nay, tự nhiên tôi có ý nghĩ muốn vinh danh một số “người cha gương mẫu” trong cái xóm nhỏ của tôi. Không kể các cụ lớn tuổi đang sống một mình hay với cụ bà, tôi cũng đếm được ít nhứt 3 người cha đáng được tặng cho tước hiệu “người cha của năm” (Father of the Year).
Trước hết, tôi nghĩ đến cái ông hàng xóm mà lúc mới về, vì không biết tên, tôi thường gọi là “ông cà thọt”. Hầu như không có ngày nào, hoặc lái xe hay đi bộ ngang qua trước nhà, mà tôi không được ông chào hỏi một cách rất nồng nhiệt, niềm nở và thân tình. Với ông thì không có chuyện xã giao “How are you, mate?” mà là những câu nói tỏ rõ sự quan tâm đến người khác. Thỉnh thoảng tôi cũng thấy ông sang nhà bà hàng xóm người Tàu neo đơn bên cạnh để cắt cỏ hay làm một vài công việc lặt vặt khác. Là một người láng giềng tốt, ông cà thọt mà tôi chỉ biết được tên là “James” cách đây một năm, chỉ có thể là một người cha tốt mà thôi. Bởi lẽ, không rõ vì một lý do nào đó, ở vào độ 50, ông giao chuyện kiếm cơm gạo cho bà vợ, chấp nhận ở nhà làm việc nội trợ và chăm sóc 3 đứa con đang học tiểu học. Nhà của ông ngăn nắp, vườn của ông lúc nào cũng đâu ra đó. Mấy đứa con nhỏ của ông cũng tham gia các cuộc chơi trên con đường cụt với những đứa trẻ khác trong xóm và luôn biết chào hỏi người qua lại. Thỉnh thoảng, hai đứa con trai chạy chơi trong xóm gây ồn ào hoặc cản trở lưu thông, tôi nghe ông “lớn tiếng” gọi về dạy bảo ngay.
Với tôi, trong cái xã hội văn minh và tự do này, những người cha như ông James không phải là nhiều.
Một người hàng xóm khác cũng chiếm được nhiều cảm tình của tôi là ông Stevens. Cũng như ông James “cà thọt”, người đàn ông Úc chính hiệu này là dân cổ xanh. Ngoài chuyện ông lúc nào cũng nở nụ cười thân thiện với mọi người, nơi ông có một cử chỉ khiến tôi tin rằng ông là một người cha tốt: ông thường chơi “bi da”, thẩy bóng rổ với mấy cậu con trai choai choai và nhứt là dạy chúng rửa và lau chùi mấy chiếc xe của gia đình. Những sinh họat bên trong gia đình diễn ra như thế nào, tôi không nhìn thấy được. Nhưng sự kiện mổi buổi chiều khi đi làm về ông thường xuyên có mặt bên cạnh mấy cậu con trai và mấy cô con gái nhỏ ở phía trước nhà là một hình ảnh  đẹp và hiếm trong xã hội này.
Người cha thứ ba mà tôi muốn vinh danh là người hàng xóm của tôi. Người đàn ông ngoài 30 này quả là một người cha đặc biệt. Cũng như trong gia đình ông James cà thọt, người kiếm cơm trong gia đình này là chị vợ mà, theo tôi quan sát, tuân thủ một thời khóa biểu không bao giờ thay đổi: 6 giờ 30 sáng ra khỏi nhà, 6 giờ 30 chiều có mặt ngay trước cửa garage. Không rõ người hàng xóm của tôi làm gì cho hết một ngày dài. Tôi chỉ biết: cứ sáng sớm, ông bưng nguyên một thau quần áo, khăn, vải trải giường ra phơi. Mỗi ngày, ông đưa đón đứa con trai lớn theo học trong một trường tiểu học tư. Thời giờ còn lại, tôi nghĩ ông phải chăm đứa con trai thứ hai dường như mắc chứng tự kỷ hay một thứ khuyết tật nào đó. Và dĩ nhiên, tôi tin chắc rằng bếp núc cũng là chuyện của ông. Tối đến sau khi mọi việc xong xuôi, ông mới có một chút giờ cho riêng mình: leo lên chiếc xe đạp hoặc chạy bộ tập thể dục. Hơn hai năm qua, kể từ khi dọn về cái xóm nhỏ của tôi, người đàn ông này vẫn trung thành với cái thời khóa hiểu ấy. Mùa hè, thỉnh thoảng, ông cũng kéo tàu đưa vợ con đi chơi biển.
Vợ đi làm, chồng ở nhà làm việc nội trợ và chăm sóc con cái: còn ai đáng được tán dương như một mẫu mực cho bằng ông hàng xóm của tôi.
Tôi tin rằng cái xóm nhỏ của tôi luôn an bình là bởi có những người cha tốt như thế. Ngoại trừ tiếng ồn do lũ con nít chơi đùa tạo ra, tôi chưa bao giờ nghe tiếng hò hét từ mấy ông bố này. Con không cha như nhà không nóc. Đông Tây gì cũng thế thôi. Người cha là thày giáo đầu tiên của con cái. Đó là chuyện khỏi phải bàn cãi. Cha “hư” thì con cũng dễ “hư”. “Hổ phụ sinh hổ tử” là điều được chứng nghiệm hầu như trong mọi trường hợp.
Trong thời gian gần đây, thử áp dụng câu nói trên đây cho gia đình đại tá Gaddafi, tôi thấy chẳng sai chút nào. Có lẽ chẳng có danh xưng nào mô tả đúng nhà độc tài đã cai trị Libya từ 41 năm nay cho bằng từ “con chó điên” của vùng Trung đông mà cố tổng thống Hoa kỳ Ronald Reagan đã buột miệng nói ra.
Điên loạn, ngông cuồng và hoang tưởng: có thể nói Gaddafi là một tổng hợp đầy đủ nhứt của những đặc tính mà người ta có thể tìm thấy nơi bất cứ nhà độc tài nào trong lịch sử nhân loại. Ông đã có thể nói những câu chỉ có thể thoát ra từ miệng của một người điên loạn. Chẳng hạn, ông tuyên bố rằng: “HIV là một virút hòa bình, chứ không phải là một virút độc hại”. Còn virus H1N1 gây ra bệnh cúm gà, thì ông bảo đó là “một thứ vũ khí sinh học do một quân đội nước ngoài chế tạo”. Ông còn nói với dân chúng Phi châu rằng ruồi Tsetse (gây bệnh ngủ đến chết) và muỗi gây sốt rét là “đạo binh của Đấng Allah để bảo vệ họ khỏi bọn thực dân”.
Ông được mô tả như một người “đàn ông của gia đình”, nghĩa là biết lo cho con cái được ăn học thành tài và dĩ nhiên để chia sẻ quyền lãnh đạo tối cao của ông. 7 người con của hai đời vợ của ông, nếu không trực tiếp chỉ huy các cuộc đàn áp dân chúng, thì cũng nhúng tay vào tội ác của ông. Ngay cả cô con gái Ayesha Gaddafi, 35 tuổi, một luật sư, cũng tích cực đứng ra biện hộ cho những hành động tội ác của cha mình.
Nhưng so với hai người con trai của nhà độc tài Saddam Hussein của Iraq là Uday và Qusay Hussein thì có lẽ những người con của ông Gaddafi chỉ mới là những tay “tập sự” trong sự tàn ác. Ngoài chuyện cướp bóc Kuwait trong cuộc chiến Vùng Vịnh, Uday được thế giới biết đến vì những thành tích tra tấn bất kỳ người nào chống đối ông, ngay cả những người bạn tình hay bạn bè và những lực sĩ Iraq nào không đạt được chỉ tiêu do ông đề ra.
Qusay, người con trai thứ, được nhà độc tài tin tưởng nên đặt làm chỉ huy trưởng Đạo binh cộng hòa và Cơ quan mật vụ. Qusay là người đã ra lệnh quân đội tàn sát bất cứ phe nổi dậy nào. Ngay cả mấy cô con gái của Saddam Hussein cũng đã từng nhúng tay vào tội ác của ông. Raghad Hussein, hiện đang tỵ nạn tại vương quốc Jordan. Chính phủ Iraq đã yêu cầu Jordan cho dẫn độ về nước  người đàn bà này vì hiện bà đang tài trợ và ủng hộ cuộc nổi dậy của Đảng Ba’ath, tức đảng đã từng cai trị đất nước dưới thời cha bà.
Hai người con gái khác của ông Saddam hiện đang sống lưu vong và vẫn tìm cách khôi phục quyền hành của cha họ. Đây là một hành động khó hiểu nơi những người con gái của ông Saddam. Thực vậy, năm 1995, vợ chồng bà Raghad và vợ chồng bà Rana, vì bất đồng chính kiến, đã đào tỵ sang Jordan. Nhà độc tài hứa sẽ tha thứ cho họ nếu họ trở về nước. Nhưng năm 1996, chỉ ba ngày sau khi hồi hương, hai người chồng, vốn là anh em ruột, đã bị ông Saddam ra lệnh tấn công và sát hại vì tội phản bội.
Tháng 8 năm 2003, bà Raghad và bà Rana đều được Jordan cho tỵ nạn. Tại đây, khi được phỏng vấn trên đài truyền hình CNN, bà Raghad khẳng định rằng ông Saddam là “một người cha rất tốt luôn hết lòng yêu thương con cái”.
Con hổ nào mà chẳng thương con mình. Những người con của nhà độc tài Bắc Hàn, Kim Jong Il cũng chỉ có thể nói như thế về ông.
Trong ba người con trai của nhà độc tài đang cai trị thiên đàng cộng sản này, đáng chú ý nhứt là Kim Jong Un, 25 tuổi, người con út đã được “lãnh tụ kính yêu” chính thức xức dầu tấn phong làm người kế vị. Cũng như hai người anh khác, Kim Jong Un cũng được gởi học tại Trường Quốc Tế ở Berne, Thụy sĩ.
Sở dĩ được người cha lãnh tụ kính yêu chọn để kế vị mình là vì Kim Jong Un cũng có tính “ngông cuồng và độc ác” chẳng khác gì  cha. Năm lên 6 tuổi, Kim Jong Un đã đựoc cha trao chìa khóa của một chiếc Mercedes Benz với ghế ngồi và toàn bộ hệ thống bàn đạp thích nghi với trẻ con. Cũng ở tuổi này, Kim Jong Un cũng đã từng chìa tay xin thuốc lá hiệu Fujimoto của Nhựt bản.
Được cha trao quyền tổng tư lệnh tối cao của quân đội Bắc Hàn với quân hàm của một tướng 4 sao, “đồng chí vinh quang” tuổi trẻ tài cao này đã lập được những thành tích như cho thử nghiệm các hỏa tiễn có gắn đầu đạn nguyên tử và nhứt là cho nã trọng pháo vào đảo Yeonpyeong, của Nam Hàn khiến cho hai binh sĩ bị thiệt mạng và 17 người bị thương.
Chuyện như thế mà bảo hổ phụ không sinh hổ tử sao?
Nói đâu cho xa, cứ nhìn vào cái “vương quốc” cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam do các vua quan cộng sản đang cai trị, người ta cũng chỉ thấy một hiện tượng tương tự mà thôi. Cái chủ nghĩa tự xưng là “xã hội chủ nghĩa” ấy trong thực chất chỉ là một chủ nghĩa “gia đình trị”. Nếu ở Libya hay Iraq, sát cánh bên cạnh các bạo chúa là các cậu ấm cô chiêu, thì tại Việt nam hiện nay, nằm ở chóp bu quyền lực là những ông hoàng tử đỏ như Nguyễn thanh Nghị, trong trai Nguyễn tấn Dũng, Nông đức Tuấn, con trai Nông đức Mạnh...Từ cái hạt giống “đỏ”, người ta chỉ thấy những thứ trái “đỏ” mà thôi.
Con hổ nào cũng thương con. Người cha nào cũng “thương” con. Nhưng thương thực sự là muốn cho con cái mình thành nhân, chứ không phải trở thành một bản sao hay cái bóng của mình.
Con hơn cha mới là nhà có phúc. Có biết bao nhiêu người con, nhờ nhận thức, tự do và sức phấn đấu đã thoát ra khỏi cái bóng tội ác của người cha. Trong số ra tháng 9 này, nhân Ngày của Cha, tạp chí Reader’ s Digest, đã đặc biệt vinh danh Calum Best, con trai của danh thủ túc cầu nổi tiếng George Best của câu lạc bộ Manchester United bên Anh. Huyền thoại túc cầu này đã mang tật nghiện rượu trước khi con trai mình chào đời năm 1981. Khi Calum lên 5 thì cha mẹ anh chia tay nhau và mẹ anh đã mang anh sang Los Angeles, Hoa kỳ. Năm anh lên 11 tuổi, người cha đưa anh đi xem một trận đấu của đội Manchester United, sau đó ông dẫn cậu vào một quán rượu để chứng kiến cảnh ông say lúy túy và cuối cùng bỏ anh một mình trong khách sạn. Gần hai ngày sau, ông mới trở về khách sạn. Nhưng cậu con trai không dám mở miệng hỏi ông đã đi đâu, bởi vì hỏi như thế chỉ có thể làm cho ông thêm mặc cảm và lại bỏ đi.
Calum luôn trở lại Anh thăm cha mình với hy vọng sẽ thấy ông thay đổi. Nhưng danh thủ túc cầu này vẫn chứng nào tật ấy. Năm 21 tuổi, Calum trở về Anh quốc. Lúc này, cha anh hoàn toàn suy nhược và đang chờ được thay gan. Nhưng ông vẫn không thể bỏ rượu. Trong một lần đưa Calum đến một quán rượu, trong cơn say lúy túy, ông đã thốt lên: “Mày không phải là con tao. Tao ghét mày”. Ông qua đời năm 2005. Calum mất một người cha, nhưng anh không đánh mất hy vọng được thoát khỏi cái bóng tăm tối của một người cha nghiện ngập.
Năm vừa qua, anh đã đi Việt nam để làm thiện nguyện cho Quỹ Tín Dụng Trẻ em (The Children’s Trust) và quyết định làm một cái gì đó để giúp đỡ cho con cái của những người cha nghiện ngập. Ở tuổi 30, hiện Calum đang hoạt động tích cực cho “Hội những người con của những người nghiện ngập” tại Anh quốc. Đây là một tổ chức từ thiện chuyên giúp đỡ cho khoảng 1 triệu 3 trăm ngàn trẻ em Anh quốc đã từng có cha mẹ nghiện ngập. Anh đã đi khắp nơi để chia sẻ kinh nghiệm cá nhân và gây quỹ để giúp cho những đứa bé bất hạnh như anh.
Đã từng đau khổ vì có một người cha nghiện ngập, Calum vẫn có thể nói rằng anh “muốn cho thế giới biết rằng anh vô cùng hãnh diện được làm con của cha mình”.
Ngày của Cha năm nay, tôi cũng mong được tiếp tục thốt lên: “tôi hãnh diện được làm con của cha tôi”. Cha tôi chỉ là một nông dân thất học. Cha tôi cũng không phải là một người cha gương mẫu. Nhưng dù thế nào đi nữa cha tôi vẫn là người đã trao ban cho tôi sự sống và nhứt là lúc nào cũng mong cho tôi được “nên người”. Bấy nhiêu thôi cũng đủ cho tôi hãnh diện về cha tôi.







Thứ Hai, 8 tháng 6, 2015

Venezuela: bộ mặt thật của xã hội chủ nghĩa!



5.6.15

Vịnh Caribê của Châu Mỹ La Tinh là một trong những vùng biển đẹp nhất thế giới. Và quốc gia hãnh diện có bờ biển dài nhất trong vùng vịnh này là Venezuela. Không những có bờ biển đẹp, Venezuela còn nằm trên một kho tàng vô tận là “vàng đen” (dầu hỏa). Với một trữ lượng dầu hỏa lớn nhất nhì thế giới, lẽ ra Venezuela phải là một trong những nước giàu nhất thế giới. Vậy mà hiện nay đất nước này chỉ được thế giới biết đến như một nơi rất nguy hiểm để đến viếng thăm và ngập tràn tham nhũng. Thủ đô của nước này là một thành phố đầy những khu ổ chuột và hệ thống y tế tồi tệ đến nỗi người dân phải xếp hàng trên đường phố để chờ mua thuốc giảm đau.
Trong loạt bài phóng sự có tựa đề “Simon Reeve’s Caribbean” (phóng sự về vùng Caribê do Simon Reeve thực hiện) hiện đang được chiếu trên Đài SBS vào mỗi tối thứ Hai, phóng viên Simon Reeve của Đài BBC đã đi sâu vào thực tế bẩn thỉu của một trong những vùng đất đẹp nhất thế giới.
Venezuela được xem là quốc gia có trữ lượng dầu hỏa lớn nhất thế giới và trong 20 năm qua đã thu vào được hơn 3000 tỷ Mỹ kim từ tiền bán dầu. Cố tổng thống Hugo Chavez, người đã lãnh đạo đất nước cho đến khi qua đời năm 2013, luôn tự xưng là một người theo xã hội chủ nghĩa và lúc nào cũng thề thốt chỉ sử dụng tiền bán dầu hỏa để lo cho dân nghèo. Nhưng trong bao thập niên qua, thời gian mà phóng viên Reeve gọi là thời kỳ “quản lý kinh tế tồi tệ đến độ gây sửng sốt” (gobsmacking economic mismanagement), tình trạng của Venezuela tồi tệ đến ni cứ 3 người dân thì có một người phải sống trong nghèo đói.
Tòa nhà chọc trời có tên là “Centro Financiero Confinanzas” (Trung tâm tài chính) hay còn gọi là “Tower David” (Tháp David) ngay ở trung tâm thủ đô Caracas là một biểu hiện của sự quản lý kinh tế tồi tệ của Venezuela. Tòa nhà này đang được xây nửa chừng thì bỏ dở. Hiện nay nó được mệnh danh là tòa nhà bị chiếm dụng bất hợp pháp lớn nhất thế giới, bởi vì hiện đang có 3000 cư dân nghèo chen chúc trong đó. Tường vách bỏ trống, giây điện giăng mắc chằng chịt, điện nước lại thiếu thốn, nhưng với nhiều người dân nghèo, không nơi nào bằng tòa nhà này, mặc dù đây là hang động của các băng đảng buôn bán ma túy và bắt cóc. Người dân nghèo không có đất sống vẫn xem đây là nơi trú ẩn cuối cùng: chỗ cư ngụ cũng biến thành nơi buôn bán làm ăn!
Hồi năm ngoái, nại đến những điều kiện sinh sống tồi tệ, Chính phủ Venezuela đã ra lệnh giải tỏa và di dời dân cư của tòa nhà này đến nơi khác. Nhưng tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa. Đẩy dân chúng ở đây đến nơi khác, đương kim Tổng thống Nicolas Maduro lại phải đối diện với những vấn đề gai gốc hơn.
Chẳng có nơi nào tại Venezuela được xem là an toàn. Các bệnh viện tại Thủ đô Caracas được trang bị bằng hệ thống an ninh rất tối tân để đề phòng tội ác, nhưng cũng không tránh khỏi các cuộc bạo động. Một bác sĩ đã nói với phóng viên Reeve rằng đã từng xảy ra vụ một bệnh nhân bị bắn gục ngay tại phòng cấp cứu. Vì không đủ nhân viên y tế và thuốc men, các thứ dịch bệnh như sốt xuất huyết cấp tính (Dengue Fever) bùng nổ một cách dễ dàng.
Với con số 20.000 người bị sát hại mỗi năm, Venezuela là một trong những nước có tỷ lệ sát nhân cao nhất thế giới. Phóng viên Reeve giải thích: “Đây là một triệu chứng của nghèo đói, của việc hoạch định chính sách kém hữu hiệu và của một chính phủ thất bại”.
Chính phủ Venezuela luôn chủ trương hạn chế sử dụng ngoại tệ. Điều này có nghĩa là hàng nhập cảng rất hiếm hoi. Ngoài ra, việc chính phủ kiểm soát gắt gao giá cả cũng khiến cho các cửa hàng buôn bán ế ẩm.
Cách đây một năm, Tổng thống Maduro đã phải đối mặt với nhiều cuộc biểu tình bạo động chống lại các chính sách kinh tế của chính phủ cũng như tình trạng khan hiếm nhu yếu phẩm. Các cuộc biểu tình đã khiến cho trên 40 người thiệt mạng. Nhưng chẳng còn biết phải đối phó với tình trạng khan hiếm nhu yếu phẩm này như thế nào, Tổng thống Maduro vẫn cương quyết không chịu ban hành chính sách thắt lưng buộc bụng.
Trong khi người dân của “cộng hòa xã hội chủ nghĩa” Venezuela phải “xếp hàng cả ngày” để mua giấy vệ sinh, bột mì và vật liệu xây cất, thì giá xăng, được Nhà Nước rộng tay cung cấp, lại r mạt. Dù Tổng thống Maduro có đe dọa sẽ tăng giá, xăng tại Venezuela vẫn được xem là r nhất thế giới.
Theo phóng viên Reeve, chính sách “bao cấp” về xăng dầu của Chính phủ Venezuela hiện đang làm cho đất nước này phá sản. Ngân sách dành cho việc bao cấp xăng dầu nhiều hơn ngân sách giáo dục và y tế cộng lại. Nhưng chính phủ không dám thay đổi chính sách này. Năm 1989, cựu Tổng thống Carlos Andres Perez đã tìm cách bãi bỏ chính sách bao cấp về xăng dầu. Dân chúng đã nổi loạn, dẫn đến những cuộc cướp bóc, hôi của và sự đàn áp dã man của quân đội.
Theo đuổi đường lối mỵ dân, trong suốt 14 năm cầm quyền, cố Tổng thống Hugo Chavez đã không chịu tăng giá xăng. Giá xăng r đến độ chỉ với một Mỹ kim, người dân Venezuela có thể mua được một bình xăng 60 lít. Dĩ nhiên, tình trạng này dẫn đến nạn đầu cơ tích trữ và buôn bán chợ đen: người dân Venezuela thường mang dầu đến bán tại biên giới Colombia với giá cao hơn và để được  buôn bán dễ dàng, họ không thể không móc ngoặc với cảnh sát và ngay cả các viên chức chính phủ cũng như các băng đảng. Trung bình mỗi tuần, lượng xăng dầu buôn lậu từ Venezuela sang biên giới các nước khác trị giá khoảng 60 triệu Mỹ kim.
Đầu tháng 5 vừa qua, người ta đã tìm thấy 2 ngôi mộ tập thể gần biên giới Colombia. Theo báo “PanAm Post” chuyên về các vấn đề của Châu Mỹ La Tinh, hai ngôi mộ tập thể này được cho là mồ chôn các nạn nhân có dính líu đến các băng đảng buôn bán ma túy và xăng dầu tại Colombia.
Dù cho giá xăng dầu có tăng đi nữa thì cũng đã quá muộn. Nếu Venezuela không thay đổi chính sách kinh tế thì tài nguyên thiên nhiên của nước này, dù có dồi dào đến đâu, cũng không thể giúp tránh cho đất nước này khỏi sụp đổ.
Venezuela hay với tên gọi chính thức là Cộng hòa “Bolivar” Venezuela, là một quốc gia nằm ở miền Bắc Châu Mỹ La Tinh, với diện tích trên 900 ngàn cây số vuông và với dân số trên 33 triệu người.
Bị Tây Ban Nha chiếm đóng vào năm 1522, Venezuela đã trở thành một trong cựu thuộc địa Tây Ban Nha dành được độc lập vào năm 1811. Trong suốt Thế kỷ 19, quốc gia này đã trải qua nhiều xáo trộn chính trị do chế độ quân phiệt tạo ra. Kể từ năm 1958, Venezuela mới thực sự có được những chính phủ dân chủ, nhưng các cuộc khủng hoảng kinh tế kể từ thập niên 1980 đã khiến cho đất nước này rơi vào xáo trộn triền miên. Mãi cho đến năm 1998, vì bất mãn với các đảng phái chính trị hiện hữu, người dân đã dồn phiếu cho một sĩ quan đã từng can dự vào các cuộc đảo chính là Hugo Chavez. Ông này tung ra điều được gọi là cuộc “cách mạng Bolivar” (theo tên của vị tướng Simon Bolivar, người đã có công trong việc thành lập Venezuela), cho thành lập Quốc hội Lập hiến để rồi viết lại Hiến pháp và chọn con đường xã hội chủ nghĩa.
Là một trong những nước được đô thị hóa nhất tại Châu Mỹ La Tinh, Venezuela có đa số dân sống tại các đô thị ở phía Bắc, nhất là tại Thủ đô Caracas. Kể từ khi các giếng dầu được khám phá vào đầu Thế kỷ 20, Venezuela được xem là có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới và là cũng một trong những quốc gia xuất cảng dầu lớn nhất thế giới. Trước kia, quốc gia này chỉ dựa vào việc xuất cảng nông sản như cà phê và cacao. Với nguồn thu nhập từ dầu hỏa vô như nước, chính phủ Chavez theo đuổi các chính sách dân túy và rộng tay tiêu xài cho các chương trình xã hội. Kinh tế lúc đầu được đẩy mạnh và khoảng cách giàu nghèo có phần giảm bớt. Nhưng chính sách bao cấp đã dẫn đến tình trạng khan hiếm nhu yếu phẩm. Lạm phát và nghèo đói song hành với nhau. Ngoài các vấn đề kinh tế, nạn tham nhũng và tình trạng tội phạm đã đẩy một phần ba người dân “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa” Venezuela vào nghèo đói.
Đây là di sản mà tháng 5 năm 2013, khi qua đời vì bệnh ung thư, cố Tổng thống Hugo Chavez đã để lại cho người kế vị của ông là Tổng thống Nicolas Maduro. Xuất thân là một tài xế xe buýt, ông Maduro đã được bầu làm chủ tịch của một nghiệp đoàn lao động, trước khi đắc cử dân biểu Quốc hội năm 2000 và được ông Chavez bổ nhiệm vào nhiều chức vụ quan trọng trong chính phủ. Trong một cuộc bầu cử đặc biệt  ngày 14 tháng 4 năm 2013, sau cái chết bất ngờ của ông Chavez, với tư cách là ứng viên của Đảng Xã Hội Thống Nhất, ông Maduro đã đắc cử tống thống. Với tỷ lệ sát nhân cao nhất nhì thế giới, một nền kinh tế èo uột, một tỷ lệ lạm phát 56 phần trăm và nhất là với nạn khan hiếm thực phẩm, thuốc men và nhu yếu phẩm khác, ông Maduro đã phải liên tục đương đầu với những cuộc chống đối của gần một nửa số cử tri đã không ủng hộ ông. Dĩ nhiên, cũng như bất cứ chế độ độc tài cộng sản nào, nhà lãnh đạo xã hội chủ nghĩa này cho rằng các cơ quan truyền thông thế giới đã thổi phng bộ mặt xấu xa của đất nước ông cũng như quy trách cho các thế lực thù địch mà đứng đầu là đế quốc Mỹ. Ông ra lệnh cho các Đài truyền hình do nhà nước kiểm soát ngưng tiếp vận Đài CNN.
Những cuộc biểu tình do sinh viên tổ chức dạo tháng 2 năm vừa qua đã bị đàn áp dã man, mặc dù đây chỉ là những cuộc biểu tình ôn hòa. Bên cạnh công an, người ta còn thấy xuất hiện nhiều đám du đãng “tự phát” theo kiểu Việt Nam. Do chính phủ “bảo kê”, các băng đảng này sử dụng xe gắn máy để đi tuần tra trên các đường phố. Họ tấn công những người biểu tình và gieo rắc khủng bố khiến nhiều người không dám tham gia các cuộc biểu tình.
Thật ra mục tiêu mà Chính phủ Maduro nhắm tới chính là ông Leopoldo Lopez, lãnh tụ của Đảng Ý Dân, người đã đứng ra kêu gọi sự “ra đi” (la salida) của ông Maduro. Ông này đã bị bắt và giam giữ hơn một tháng. Một số lãnh tụ khác của Đảng này phải bỏ trốn. Chính phủ cũng khủng bố bất cứ ai có liên hệ hoặc bày tỏ cảm tình với Đảng Đối Lập.
Cai trị như một nhà độc tài, Tổng thống Maduro thu tóm trong tay cả cơ quan tư pháp. Tại Venezuela, kể từ khi ông Chavez cho viết lại Hiến Pháp, không hề có ngành tư pháp độc lập. Các thẩm phán các cấp đều được lệnh phải tránh đưa ra những bản án không có lợi cho chính phủ. Nếu không thi hành lệnh này, họ có nguy cơ bị Tối Cao Pháp Viện sa thải hoặc ngay cả bị giam giữ.
Nghèo nàn, lạc hậu, bất ổn, thiếu an ninh và thiếu tự do: đó là thực trạng của một đất nước lẽ ra phải là một trong những nước giàu có nhất trên thế giới, chỉ vì con đường “xã hội chủ nghĩa” mà các nhà lãnh đạo nước này đã chọn lựa đi theo. Không hình ảnh nào nói lên thực trạng “xã hội chủ nghĩa” ấy cho bằng cảnh người dân phải “xếp hàng cả ngày” để chỉ mua giấy vệ sinh.


Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2015

Đơn giản như một nụ cười




Chu Thập
29.5.15


Tối Thứ Năm tuần trước 21/5/15 vừa qua, tại Sydney, nhân Liên Hoan các Nhà Văn (Writers’ Festival), đã diễn ra một cuộc thảo luận với một chủ đề nghe hơi lạ tai “How to live?” (Phải sống làm sao?) Cuộc hội thảo đã qui tụ nhiều văn sĩ và giáo sư đại học.
Tôi cứ thắc mắc: các chuyên gia và các nhà tư tưởng cứ làm cho cuộc sống trở nên phức tạp. Sống thì ai mà chả sống và biết sống. Cần gì phải suy nghĩ cho rắc rối và nhức đầu!
Đại khái, theo chương trình “The Drum” của Đài truyền hình ABC, trong nhiều cách, thái độ của chúng ta đối với điều được gọi là “một cuộc sống tốt đẹp” được định hình bởi “khoái lạc chủ nghĩa” (hedonism) được kỹ nghệ quảng cáo cũng như các khái niệm về một cuộc sống có ý nghĩa “hà hơi tiếp sức”. Tựu trung, thành tựu dưới nhiều khía cạnh khác nhau trong cuộc sống được xem là yếu tố mang lại hạnh phúc cho con người. Đây chính là trọng tâm của những trao đổi giữa các văn sĩ và giáo sư đại học trong cuộc hội thảo nói trên.
Nhưng Giáo sư Hugh Mackay, một nhà nghiên cứu xã hội và tác giả của cuốn sách “The Art of Belonging” (Nghệ thuật sống hài hòa) khẳng định rằng chính ý thức cộng đồng, cuộc sống phục vụ và yêu thương mới mang lại ý nghĩa cho cuộc sống. Ý thức hay không, có lẽ Giáo sư Mackay đã phản ảnh phần nào cách suy nghĩ của một triết gia người Đức nổi tiếng ở Thế kỷ 18 là Immanuel Kant. Thực vậy, triết gia này cho rằng con người có sống một “cuộc sống tốt đẹp” hay không là tùy theo người đó có sống theo luật luân lý không, nghĩa là có thi hành bổn phận của mình không. Nói cách khác, theo Triết gia Kant, chiều theo các đam mê và dục vọng là tự thỏa mãn và như vậy không nên được đề cao về mặt luân lý.
Nhưng trong khi tác giả Mackay chỉ nhấn mạnh đến cộng đồng và tinh thần phục vụ thì Triết gia Kant lại nêu cao nghĩa vụ đối với người khác cũng như đối với bản thân. Ở đây, có lẽ người Việt Nam nào cũng đồng ý với triết gia Kant khi trích dẫn lời khuyên dạy của ông bà tổ tiên “Thương người như thể thương thân”. Không thể thật sự yêu thương người khác nếu không yêu thương chính bản thân. Cả hai bổn phận đều tương hợp với nhau. Yêu người cũng là yêu mình và ngược lại.
Góp mặt trong cuộc hội thảo “Phải sống làm sao?” Kinh Tế Gia Paul Dolan, tác giả của cuốn sách “Happiness by Design” (Hạnh phúc do được Thiết định) và hiện đang làm cố vấn cho  Chính phủ Anh về vấn đề phúc lợi, cho rằng con người không chỉ tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống khi nằm chờ chết trên giường bệnh. Ý nghĩa của cuộc sống được quyết định bởi từng phút giây trong đó con người cảm thấy thỏa mãn và hưng phấn. Theo Kinh Tế Gia Dolan, hạnh phúc được quyết định bởi những gì chúng ta quan tâm tới và tìm thấy mục đích và thỏa mãn trong đó.
Dưới cái nhìn của một chuyên gia về kinh tế, dĩ nhiên ông đề nghị cần phải không ngừng cải thiện các cơ cấu kinh tế và xã hội để tạo những điều kiện khách quan giúp cho ngày càng có nhiều người được sống hạnh phúc hơn. Tuy nhiên, theo ông, hạnh phúc cũng hoàn toàn là chuyện riêng tư của từng cá nhân: chỉ có mỗi cá nhân mới quyết định sống hạnh phúc hay không mà thôi.
Các giáo sư và chuyên gia thường thích dùng những “chữ bự” để nói về những chuyện vốn rất đơn giản trong cuộc sống. Hạnh phúc là một trong những chuyện đơn giản ấy. Đơn giản đến độ chẳng có bậc thông thái nào có thể mang lại cho tôi một định nghĩa thỏa đáng và dứt khoát về hạnh phúc. Nhưng nó cũng đơn giản đến độ, sang giàu hay nghèo cùng, thông thái hay thất học, nổi tiếng hay chẳng được ai biết tới...ai cũng có thể cảm thấy thế nào là hạnh phúc và mức độ hạnh phúc lại chẳng tùy thuộc vào bất cứ yếu tố khách quan nào cả. Nhiều người suy nghĩ một cách đơn giản rằng ngoại cảnh như người thân, bạn bè, của cải, các tiện nghi vật chất mới mang lại hạnh phúc cho nên họ cố gắng tạo ra, cải thiện hoặc duy trì những điều kiện khách quan ấy. Dĩ nhiên, một cuộc sống với những điều kiện vật chất tối thiểu, những quan hệ xã hội tốt đẹp và hài hòa có thể giúp con người cảm nhận được hạnh phúc hơn là bất hạnh và khổ đau. Tuy nhiên, hạnh phúc đích thực lại tùy thuộc ở cái tâm của mỗi người hơn là hoàn cảnh khách quan. Các bậc chân tu luôn chứng minh cho chúng ta điều đó. Họ có thể hạnh phúc mà không lệ thuộc vào những điều kiện vật chất.
Tôi thường nghĩ đến hai bậc chân tu đích thực và nổi bật của thời đại là Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng và Đức Phanxicô, nhà lãnh đạo của Giáo hội Công giáo La Mã. Hai vị không cần phải dài dòng để “giảng” về cuộc sống hạnh phúc. Hai vị cũng chẳng cần phải mất giờ để lòng vòng trong những giáo lý cao siêu của tôn giáo của mình. Nhưng tôi tin chắc rằng chỉ cần nhìn vào nụ cười của hai vị, ai cũng cảm nhận được rằng đây là những con người hạnh phúc, thế nào là hạnh phúc và phải sống như thế nào mới hạnh phúc. Cứ nhìn nụ cười đơn sơ, chân thực của Đức Đại Lai Lạt Ma, tôi tin rằng con người đã từng trải qua không biết bao nhiêu đau khổ này, thực sự là một con người hạnh phúc và mới có thể nói cho tôi hiểu được thế nào là hạnh phúc đích thực.
Riêng  Đức Phanxicô mới đây đã tóm tắt  chìa khóa của hạnh phúc trong những công thức lịch sự rất đơn giản của cuộc sống. Trong cuộc gặp gỡ với khách hành hương tại Roma hôm Thứ Tư tuần trước 20 tháng 5 vừa qua,  nhà lãnh đạo của Giáo hội Công giáo đã khẳng định rằng “xin vui lòng, cám ơn và xin lỗi” là ba tiếng mà người ta nên viết ở cửa nhà của mỗi gia đình, vì đó là chìa khóa để sống đẹp và sống an hòa cả bên trong lẫn bên ngoài gia đình. Đức Phanxicô nhắn nhủ khách hành hương rằng những tiếng trên đây “chứa đựng một sức mạnh lớn lao có thể bảo vệ gia đình trước hàng ngàn khó khăn và thử thách. Trái lại, khi thiếu chúng, những vết rạn nứt sẽ mở ra và có thể dẫn đến sự sụp đổ”.
Nhà lãnh đạo của Giáo hội Công giáo giải thích về công thức lịch sự “xin vui lòng”: “Để đi vào cuộc sống của người khác, ngay cả người đó là thành phần của cuộc sống của chúng ta, chúng ta cũng cần phải có thái độ tế nhị để không làm phiền hà, mà tái tạo lòng tin và sự tôn trọng”. Theo Đức Phanxicô, tình yêu càng thân mật và thâm sau càng đòi hỏi phải tôn trọng tự do của người khác và phải chờ đợi người khác mở cửa tâm hồn của mình”. Điều này có thể gom trong câu tục ngữ: “Vợ chồng tương kính như tân”.
Đề cập đến hai tiếng “cám ơn”, ngài ghi nhận rằng thế giới ngày càng tiến đến một nền văn minh của những tư cách nghèo nàn và những lời nói khó nghe...Lịch sự và khả năng “cám ơn” bị xem như một dấu hiệu của sự yếu kém. Nhưng ngài cho rằng phẩm giá của con người và công bằng xã hội đều xuất phát từ hai tiếng ấy.
Cuối cùng, về hai tiếng “xin lỗi”, ngài nói rằng nếu không có hai tiếng này thì những “vết rạn nứt nhỏ sẽ lớn thêm để cuối cùng trở thành những rãnh sâu”. Theo Đức Phanxicô, nhìn nhận những sai lỗi của mình và cố gắng tái lập những gì đã bị đánh mất như sự tôn trọng, lòng thành thật, tình yêu thương sẽ giúp cho con người đáng được tha thứ. Ngài nói: “Nếu chúng ta không biết “xin lỗi” thì điều đó có nghĩa là chúng ta cũng chẳng biết tha thứ. Mà đã không biết tha thứ thì làm sao có được cái tâm an bình và cảm nhận được niềm vui và hạnh phúc đích thực.
Nghe những lời trên đây và nhìn nụ cười nhân hậu của ngài, tôi cảm nhận được thế nào là hạnh phúc đích thực. Nói chung, các bậc chân tu trước hết là những con người hạnh phúc và họ hạnh phúc vì luôn biết cười, một dấu chỉ của hạnh phúc và cảm thông. Cười với cuộc sống và nhứt là cười với khác. Nhìn những con người như thế cười, mọi thứ khí giới trong con người tôi, dù có hiểm độc đến đâu, cũng đều được buông xuống ngay.
Dĩ nhiên, cười cũng có 36 kiểu cười. Có những nụ cười mà tôi chỉ có thể gọi là cười đểu mà thôi. Có những nụ cười bí hiểm và ngay cả nham hiểm nữa, khi chúng không thực sự là biểu hiện của an hòa, nhân ái, từ tâm. Trong điển tích xưa, người ta hay nhắc đến nụ cười của nàng Bao Tự, thời nhà Chu (vào khoảng thế kỷ thứ 8 trước Công Nguyên). Trong lịch sử của Đế quốc La Mã, người ta cũng nói đến nụ cười độc ác của bạo chúa Nero khi cho đốt kinh thành La Mã.
Tôi không biết hậu thế có nhắc đến nụ cười “Mona Lisa” của Chủ tịch Tập Cận Bình không. Tôi vẫn luôn nghi ngờ về nụ cười này. Liệu nụ cười ấy có phải là biểu hiện của thiện chí và an hòa không, khi nhà lãnh đạo của đế quốc cộng sản này trong nước thì chà đạp nhân quyền, coi dân như con kiến hay cỏ cây, bên ngoài thì hung hăng xâm lấn lãnh thổ, lãnh hải của những nước khác bất chấp luật lệ quốc tế và nguy cơ chiến tranh mà hậu quả không lường trước được.
Tôi luôn tin ở sức mạnh của những nụ cười chân thực. Tôi tin rằng nếu tôi cố gắng cười một cách chân thực thì không những người khác vui mà tôi cũng cảm thấy hạnh phúc.  Phần lớn đều nghĩ rằng chúng ta cười vì chúng ta cảm thấy hạnh phúc. Điều ấy đúng. Nhưng điều ngược lại cũng đúng: chúng ta sẽ cảm thấy hạnh phúc khi chúng ta cười.
Theo báo Psychologytoday, mới đây các chuyên gia tâm lý đã làm một cuộc thí nghiệm về hiệu quả của nụ cười. Những người  tham gia cuộc thí nghiệm được cho nhìn một loạt những gương mặt có những cảm xúc khác nhau. Không cần biết những gương mặt đó vui hay buồn, hiền hòa hay hung tợn, những người tham gia cuộc thí nghiệm có thể hoặc cười hoặc nhăn mặt nhíu mày. Kết quả cuộc thí nghiệm cho thấy: khi các tham dự viên cười thì những gương mặt được cho nhìn thấy sẽ “dễ coi” hơn là khi họ nhíu mày, nghĩa là không cười. Ngoài ra, ảnh hưởng của nụ cười trong giây lát này sẽ kéo dài đến cả 4 phút sau đó.
Các chuyên gia giải thích rằng khi chúng ta cười, não bộ của chúng ta sẽ truyền đi thông điệp “Tôi phải hạnh phúc vì một điều gì đó”. Trái lại, khi chúng ta không cười thì não bộ của chúng ta lại truyền lệnh: “Tôi không cần phải hạnh phúc”. Với cuộc thí nghiệm trên đây, các chuyên gia tâm lý cũng cho rằng nụ cười luôn có sức lây lan. Cho dẫu khi không cảm thấy hạnh phúc mà chúng ta vẫn cố gắng cười thì những người xung quanh chúng ta cũng sẽ cười và điều đó nếu không làm cho chúng ta vui thì ít ra cũng giảm bớt một chút căng thẳng và buồn phiền trong chúng ta.
Khi nhìn một thơ nhi cười, chúng ta lắm khi không hiểu được thực sự cảm giác của đứa bé khi nhoẻn miệng cười. Nhưng dù cho có đang nát ruột nát gan, ai trong chúng ta cũng không thể nào không cảm thấy hạnh phúc và cười lại. Hạnh phúc lắm khi cũng “vô nghĩa” nhưng rất có giá trị như nụ cười trẻ thơ.
Hạnh phúc, quả thật đơn giản như một nụ cười.







Thứ Tư, 3 tháng 6, 2015

Phật giáo Thái Lan: một quốc gia trong quốc gia


29.5.15

Cách đây một năm, sau nhiều cuộc biểu tình chống chính phủ của nữ Thủ tướng Yingluck Shinawatra, quân đội đã thực hiện một cuộc đảo chính và lên cầm quyền. Những xáo trộn trong chính trường Thái Lan đã nêu lên nhiều nghi vấn không những về tương lai của chế độ quân chủ, mà còn cả về chỗ đứng của Phật Giáo trong đời sống chính trị tại nước này.
Trong một cuộc phỏng vấn dành cho báo “Gavroche”, một nguyệt san chuyên về các vấn đề của Thái Lan, Lào và Cao Miên, một chuyên gia về Phật Giáo, ông Vichak Panich, đã đưa ra một số nhận định về Phật Giáo tại Thái Lan. Là một phật tử thuộc tông phái Vajirayana, tức tông phái được thực hành nhiều nhất tại Tây Tạng và Nepal và từng du học tại Hoa Kỳ, ông Panich chủ trương phải có sự tách biệt giữa Phật Giáo và Nhà Nước.
Hiện có trên 90 phần trăm dân chúng Thái theo Phật Giáo. Thái Lan quả là một nước Phật giáo. Theo Hiến Pháp nước này, quốc vương phải là một phật tử và đồng thời là người bảo vệ Phật Pháp. Người ngoại quốc thường gọi Thái Lan là “Đất nước của những chiếc áo cà sa vàng”. Có hai điều đập vào mắt họ khi đặt chân đến Thái Lan. Một là các chùa chiền với lối kiến trúc đặc trưng của Thái Lan. Hai là sự hiện diện hầu như khắp nơi của các tu sĩ Phật Giáo, nhất là vào lúc bình minh là thời điểm họ ra đi khất thực. Hai hình ảnh trên đây nhắc nhở cho du khách ngoại quốc rằng Thái Lan là một xứ sở nơi Phật Giáo ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống của người dân. Văn hóa, nghệ thuật, văn chương, triết lý sống, luân lý đạo đức và ngay cả chính trị cũng đều xuất phát từ Phật Giáo.
Vậy thì “Đâu là chỗ đứng của Phật Giáo trong xã hội Thái Lan và đâu là qui chế của tôn giáo này đối với Nhà Nước?” Trả lời cho câu hỏi này, ông Panich đã đưa ra một hình ảnh khá lý thú như sau: đối với quốc gia, quốc vương là đầu, Phật Giáo là trái tim và xứ sở là thân mình. Ông giải thích: “Ngay từ lúc nhỏ, là người Thái, chúng tôi đã được tiêm nhiễm về vấn đề này, nhất là trong trường học. Người ta dạy chúng tôi đừng bao giờ đặt lại vấn đề về 3 cột trụ của Nhà Nước là “Quốc gia, Tôn giáo và Quân chủ”. Dĩ nhiên, theo ông Panich, tôn giáo ở đây phải được hiểu là Phật Giáo. Tự do tôn giáo chỉ được công bố và tôn trọng trên lý thuyết mà thôi. Trong thực tế, Phật Giáo vẫn là tôn giáo duy nhất được hiểu như là tôn giáo và được xem như là một trong 3 cột trụ của xứ sở. Theo Hiến Pháp, quốc vương phải là “đệ nhất” Phật tử giữa các Phật tử. Ông là người bảo hộ, là quan thày của Phật Giáo. Về phần mình, các sư sãi được xem như những người phục vụ chế độ quân chủ. Có thể gọi họ là những công chức triều đình. Được dân chúng trả lương xuyên qua các cúng dường, họ phải thuần phục ý thức hệ vương giả.
Ông Panich khẳng định: Thái Lan không phải là một Nhà nước thế tục. Phật Giáo được bảo vệ và tài trợ bởi các Bộ Văn Hóa và Giáo Dục. Nhưng điều đó không hề có nghĩa là Nhà Nước kiểm soát Phật Giáo. “Sangha”, tức cộng đồng các tu sĩ Phật Giáo và hệ thống thăng chức trong Phật Giáo đều nằm bên ngoài sự kiểm soát của Nhà Nước. Nếu, trên nguyên tắc, vị tăng thống tối cao của Phật Giáo Thái Lan được nhà vua bổ nhiệm theo đề nghị của thủ tướng, thì trong thực tế, chính Cộng đồng các tu sĩ là cơ quan quyết định về việc tuyển chọn ứng viên. Như vậy, Phật Giáo quả là “một Quốc gia trong Quốc gia”, nghĩa là hoàn toàn tự trị. Năm 1932, Thủ tướng Pridi Panomyong đã tìm cách dân chủ hóa Phật Giáo, nhưng không thành công. Kể từ khi các quốc vương Rama IV (1851-1868) và Rama V (1869-1910), ban hành các biện pháp để tổ chức và kiểm soát Phật Giáo, tôn giáo này đã không hề trải qua bất cứ một  cuộc cải tổ nào.
Phật Giáo vẫn mãi mãi là tôn giáo của tuyệt đại đa số người dân Thái. Dù thuộc bất cứ giai tầng xã hội nào, hầu như người Thái nào cũng đều là một phật tử thuần thành. Vào cuối thập niên 1990, nhiều nhóm Phật Tử, được phần lớn người dân Thái ủng hộ, đã đòi hỏi quyền phải lấy Phật Giáo làm Quốc giáo của Thái Lan. Ông Panich đã giải thích về hiện tượng này như sau:
“Trước hết, Phật Giáo hiện đang được thực hành tại Thái Lan là Phật Giáo Tiểu Thừa (Theravada). Đây là tông phái có chủ trương cá nhân chủ nghĩa hơn các tông phái Phật Giáo khác. Trái với Phật Giáo Đại Thừa (Mahayana) hiện đang được thực hành tại Đông Á và Việt nam và Phật Giáo Vajrayana của Tây Tạng, Phật Giáo Tiểu Thừa chú trọng đến sự giải thoát cá nhân. Do đó, tông phái này không có những giáo thuyết xã hội. Cũng vậy, tông phái này không dành nhiều chỗ đứng cho những cảm xúc về sự sống chung như tình yêu và sự cảm thông. Đối với Phật giáo Tiểu thừa tại Thái Lan, cá nhân chính là điểm qui chiếu.
Như thế, Phật Giáo Tiểu Thừa có thể được dễ dàng “sử dụng” trong xã hội tiêu thụ, nhất là khi nói đến “phúc lợi cá nhân”, “sự triển nở của cá nhân” v.v vốn là những ý niệm thời thượng hiện nay.
Đây chính là lý do tại sao ngày nay có hiện tượng đám đông Thái đang đổ xô về các trung tâm thiền niệm và các chùa chiền để thanh tẩy hoặc để được giải thoát khỏi đau khổ như mất một người bạn hoặc mất việc làm. Những người Thái tìm đến các trung tâm này đều là những người muốn có một giải pháp tức khắc cho những vấn đề của họ và Phật Giáo Tiểu Thừa như được thực hành - một cách sai lạc - tại Thái Lan đang mang lại cho họ một giải pháp như thế.”
Ngay cả các chính trị gia và các giai nhân tài tử cũng tìm đến các tu viện Phật Giáo để tịnh niệm. Theo ông Panich, các tài tử điện ảnh và ca sĩ thường vào chùa để thanh tẩy về một số những hành động tai tiếng của họ như phá thai, ngoại tình. Riêng các chính trị gia thì luôn có tính toán khi vào tu trong chùa. Như trường hợp ông Suthep Taugsuban. Ông Suthep là một dân biểu Quốc hội đại diện cho tỉnh Sura Thani, miền Nam Thái Lan. Cho đến năm 2011, ông là tổng bí thư của Đảng Dân Chủ và phó thủ tướng dưới thời thủ tướng Abhisit Vejjajiva. Nhưng tháng 11 năm 2013, ông rời khỏi Quốc Hội, ra khỏi Đảng Dân Chủ và đứng ra thành lập Ủy ban Cải tổ Dân chủ để tổ chức những cuộc biểu tình chống lại nữ Thủ tướng Yingluck Shinawatra. Sau cuộc đảo chính ngày 22 tháng 5 năm 2014, ông bị chính quyền quân sự bắt giữ và quản thúc. Bốn ngày sau ông được trả tự do và hai tháng sau vào chùa tu. Khoác vào chiếc áo cà sa,  ông  Suthep nhắm đến 2 mối lợi. Trước hết,  trở thành một “khon di”, tức một phật tử tốt, ông sẽ được mọi người đề cao và kính trọng. Mối lợi thứ hai mà cuộc sống tu trì mang lại cho ông là ông được bảo vệ khỏi những cuộc tấn công của dân chúng, nhất là những người đã từng ủng hộ nữ Thủ tướng Yingluck Shinawatra, vì họ biết rằng chính ông là người đã tổ chức những cuộc biểu tình để lật đổ bà. Theo ông Panich, ông Suthep đã tính toán rất khéo léo: con đường tu trì chỉ là một bước chuẩn bị để trở lại chính trường.
Được người dân Thái xem như một “khon di”, tức một phật tử tốt, là điều mà rất nhiều chính trị gia Thái mong ước, mặc dù giáo lý của Phật Giáo không hề nhắc đến hình tượng này. Trong lịch sử Thái Lan, những tư tưởng của Phật Giáo thường được sử dụng để thực hiện các cuộc đảo chính. Chỉ cần nói rằng một nhà lãnh đạo không phải là một “khon di” cũng đủ  có lý do để lật đổ người đó. Cựu Thủ tướng Thaksin là một thí dụ điển hình. Ông bị lật đổ một phần vì không được xem như một “khon di”.
Ngoài ra, theo ông Panich, các cuộc đảo chính tại Thái Lan cũng được biện minh bởi điều mà Phật Giáo thường gọi là “nghiệp chướng” (Karma). Nếu cuộc đảo chính thành công và nếu người đang cầm quyền có bị lật đổ thì cũng do nghiệp chướng mà thôi. Ông Panich cho rằng Phật Giáo Tiểu Thừa ở Thái Lan có một cái nhìn cứng nhắc và hạn hẹp về nghiệp chướng. Giáo lý Phật Giáo về nghiệp chướng thật rõ ràng: bất cứ ai chấp nhận nghiệp chướng, nghĩa là địa vị của mình trong xã hội, cũng đều phải tự giải thoát khỏi nó. Ngoài ra, bên cạnh nghiệp chướng cá nhân,  nghiệp chướng cũng có tính cách xã hội. Thái Lan có một nghiệp chướng xã hội xấu chồng chất trong nhiều năm do các cuộc bạo động. Chính vì thế mà ông Panich cho rằng Thái Lan đang ở trong một vòng lẩn quẩn của bất ổn chính trị và đảo chính. Người Thái cần phải ý thức về sự hiện hữu của nghiệp chướng xã hội này mới mong tự giải thoát khỏi nó.
Về các cuộc bạo động, dường như “Sangha”, tức cộng đồng tu sĩ Phật giáo, không bao giờ bày tỏ lập trường và lên án. Tại Thái Lan, các tu sĩ Phật giáo không xuất hiện như những tác nhân trong việc thay đổi xã hội, cũng như không phải là đại sứ của chủ trương bất bạo động. Khác với các tu sĩ Phật giáo Sri Lanka, Lào và Miến Điện, các tu sĩ Phật giáo Thái Lan từ chối đảm nhận vai trò chính trị và xã hội. Theo ông Panich, có nhiều lý do giải thích thái độ không dấn thân này của các tu sĩ Phật giáo Thái Lan.
Trước hết, một trong những giáo lý nền tảng của Phật giáo là sự từ bỏ của cải vật chất, xa lánh trần thế. Như vậy, do đòi hỏi ấy, tất nhiên người tu sĩ Phật giáo không can dự vào chính trị. Kế đó, Phật giáo Tiểu thừa là tông phái theo cá nhân chủ nghĩa hơn các tông phái khác. Tông phái này không quan tâm đến các bất công xã hội, sự bình đẳng giữa các phái tính hay khoảng cách giàu nghèo. Dù vậy, tại Sri Lanka hay Miến Điện, là những quốc gia có đông dân số theo Phật giáo Tiểu thừa, các tu sĩ Phật giáo lại rất tích cực và hăng say hoạt động cho dân chủ, nhân quyền và công lý. Sở dĩ các tu sĩ Phật giáo Thái đã không bao giờ can dự vào chính trị là vì những mối giây liên hệ mật thiết gắn liền cộng đồng tu sĩ với chế độ quân chủ. Các tu sĩ Phật giáo là những người rất bảo hoàng: Hoàng gia và Phật giáo là hai thực thể bất khả phân ly tại Thái Lan. Cũng như các thành viên của hoàng gia, các tu sĩ Phật giáo được xem như những người đứng bên ngoài hệ thống chính trị của quốc gia. Như vậy, các tu sĩ Phật giáo và hoàng gia không thể bỏ phiếu hoặc ra ứng cử vào bất cứ chức vụ công quyền nào. Và cũng như các thành viên của hoàng gia, các tu sĩ là những người rất được kính trọng: có cả một thứ ngôn ngữ riêng mà người dân cần phải sử dụng mỗi khi nói đến họ hoặc ngỏ lời với họ. Do đó, họ không cảm thấy mình là “đại diện” của dân chúng, mà “đứng ở trên dân chúng”. Họ chỉ là những người truyền dạy “Dharma” hay “Tham” tức Phật Pháp mà thôi.
Nhưng một lần nữa, theo ông Panich, tại Thái Lan, Phật Pháp lại bị hiểu sai và lạm dụng. Cũng như ý niệm về nghiệp chướng, Phật Pháp đã bị lèo lái vào những mục đích chính trị để biện minh cho các ý đồ của các “khon di” trong việc lật đổ những người đã được dân chúng bầu lên.
Chính vì thế mà ông Panich chủ trương phải có sự tách biệt rõ ràng giữa Nhà Nước và Tôn Giáo tại Thái Lan.

Chậm mà Chắc


Chu Thập
3.9.11


Trồng cây mà thấy nó sinh hoa kết trái đã là vui rồi, mà thưởng thức được hoa quả đầu mùa thì càng thích thú hơn. Năm vừa rồi, tôi đã có được niềm vui thích ấy khi nếm được cái hương vị thơm ngon của một số hoa trái trong vườn như cam navel, quýt emperor, nectarine, ổi, thanh long và khế. Năm nay, tôi lại có thêm vài trái bí đỏ mà người miền Trung tôi gọi là bí rợ. Cái giống bí này cứ tưởng dễ trồng, không ngờ hễ đậu trái thì lại èo uột. Nhưng năm nay, không rõ do thời tiết và điều kiện đất đai như thế nào mà tôi lại “trúng mùa”. Lạ quá, loại bí tôi trồng khác với các thứ bí tôi thường mua trong các siêu thị: nó vừa nhỏ trái vừa dẻo, vừa thơm lại vừa có hương vị của khoai lang bùi. Thực ra, theo hình vẽ trên bìa của bị hạt giống tôi mua, tôi thấy chẳng có khác biệt nào cả. Suy nghĩ mãi, tôi mới nghiệm ra rằng sở dĩ cái loại bí của tôi cũng như các thứ trái cây khác trong vườn có được hương vị thơm ngon và “mặn mà” là bởi vì chúng nó lớn chậm, nghĩa là có đủ thời giờ để lớn theo đúng tiếng gọi của thiên nhiên.
Bây giờ thì tôi mới hiểu được câu nói của ông bà chúng ta: thuận thiên giả tồn. Cứ để cho thiên nhiên làm việc thì mọi sự đều tốt đẹp. Trái lại, đi ngược lại với thiên nhiên hay bắt thiên nhiên phải chiều theo ý muốn của con người thì thế nào cũng gặp trục trặc. Tựu trung, thiên nhiên vận hành theo qui luật “tứ thời bát tiết”, trong khi đó cái gì con người cũng muốn đốt giai đoạn.
Con gà bình thường cần có ít nhứt 5, 6 tháng mới thực sự trưởng thành và thịt của nó mới thơm ngon và lành mạnh. Người Việt nam chúng ta chuộng gà thả rong” hay “đi bộ” là thế. Đàng này, trong kỹ nghệ chăn nuôi ngày nay, người ta rút ngắn tiến trình trường thành của gà lại chỉ còn hơn một tháng. Thành ra, trông thì to xác, nhưng thực tế con gà được bày bán trong siêu thị hay được chiên xào trong các tiệm ăn, thực chất chỉ là một con gà con. Ăn thịt một con gà con to xác cũng có nghĩa là tiếp thu những hóa chất mà chính nó không có đủ thời gian để tiêu hóa. Mà chúng cũng không thể sống lâu hơn vì xương thì quá yếu mà phải “na” cái thân không dưới 4 kýlô. Thực là tội nghiệp!
Bao nhiêu hoa quả, trái cây được bày bán trong các siêu thị cũng đồng một số phận với gà công nghiệp. Chúng nó cũng được thúc ép để lớn nhanh cho nên không có đủ thời giờ để tiêu hóa các thứ hóa chất và tiến trình quang hợp từ ánh mặt trời.
Thời buổi này, cái gì cũng nhanh. Bởi vì trồng trọt và chăn nuôi nhanh cho nên ăn cũng phải nhanh. Vừa đứng vừa ăn, vừa chạy vừa ăn, vừa lái xe vừa ăn: đó là hình ảnh của con người thời đại mà các tiệm ăn nhanh (fast food) có thể gợi lên cho chúng ta.
Không có giờ để nhai và tiêu hóa thức ăn, con người thời đại cũng chẳng có giờ để tiêu hóa thông tin được “oanh tạc” vào mắt và tai từng giây từng phút mỗi ngày. Chưa bao giờ kỹ thuật truyền thông tiến nhanh cho bằng ngày nay và dĩ nhiên, chưa bao giờ con người bị “bội thực” về thông tin cho bằng ngày nay. Đầu óc thì “đầy phè” kiến thức chưa kịp tiêu hóa đưa đến việc trái tim trống rỗng sự hiểu biết và minh triết.
Trong một thế giới mà cái gì cũng buộc phải tiến nhanh, sự trưởng thành của con người dường như cũng bị đốt giai đoạn. Trẻ con ngày nay chẳng khác nào một con gà công nghiệp: người ta nhồi nhét vào đầu óc chúng những điều lẽ ra chỉ dành cho người lớn. Chúng được học đủ thứ hầm bà lằng kiến thức trước khi tập đứng tập đi. Có khi chúng được ngợi khen, được lên báo như là một thần đồng vì học ngoại ngữ như “ăn cơm sườn” trước khi biết nói những chữ căn bản “xin vui lòng, xin lỗi, cám ơn” bằng tiếng mẹ đẻ. Người ta tập cho chúng làm người lớn trước trở thành một thiếu nữ, thiếu niên. Tôi nghĩ đến các cuộc thi hoa hậu trẻ con.Thật tội nghiệp cho những thiên thần thơ dại phải khoác vào người loại y phục “người nghèo” của người lớn và làm những điệu bộ gợi lên những nụ cười thương hại hơn là tán thưởng. Tôi cũng nghĩ đến những cô bé mới 10 tuổi đã phải sánh vai của những người mẫu trong những y phục chỉ nên mặc trong phòng the hơn là nơi công cộng.
Người ta nghĩ đến lợi nhuận trước mắt hơn là sức khỏe tinh thần, sự trưởng thành bình thường và  tương lai của trẻ em. “Giới kỹ nghệ đang tạo ra một thế hệ tiêu thụ mới gọi là “tween age”, lứa tuổi từ 6 đến 12 mà ở đây chúng ta tạm dịch là “chuẩn thiếu niên”. Nếu đi dạo một vòng quanh các tiệm thời trang, quanh các sạp sách báo và chịu khó để ý thì chúng ta sẽ tìm thấy vô khối sản phẩm dành cho lứa tuổi này, những thứ mà truớc đây chừng 15 năm chúng ta không thể tìm thấy như áo ngực (bra) độn mút dành cho các em bé 6,7 hay 8, 9 tuổi.” (Phạm Hiếu, Việt luận 16/8/11)
Kinh doanh như thế quả là một  thứ “bạo hành” xúc phạm đến sự trong trắng và hồn nhiên của trẻ em. Bên cạnh lối khai thác rẻ tiền ấy là vô số những hình ảnh bạo động mà truyền thông toàn cầu ngày nay nhồi nhét vào tâm hồn non dại của trẻ thơ. Theo một cuộc nghiên cứu của UNESCO  (Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hiệp quốc), sự tiếp cận của trẻ con với truyền thông ngày càng sớm và gia tăng. Trước kia, sách vở, báo chí, tạp chí, phim ảnh, phát thanh, băng hình và truyền hình dành cho trẻ con đã là nhiều. Nay còn có thêm những kênh truyền hình, hàng ngàn băng hình và trò chơi điện tử và hàng triệu triệu trang mạng Internet. Trẻ con ngày nay ngụp lặn trong thế giới ảo. Hiện tượng này không chỉ có trong các nước phát triển mà còn gia tăng trong mọi xã hội trên khắp thế giới. Kết quả là trẻ con ngày nay ngày càng bạo động hơn. Trong hai năm 1996 và 1997, tổ chức Unesco đã thực hiện một cuộc khảo sát về ảnh hưởng của truyền thông đối với bạo động nơi trẻ em. Tham dự cuộc khảo sát có trên 5000 trẻ em 12 tuổi tại 93 quốc gia, đại diện cho mọi vùng, mọi tầng lớp xã hội trên thế giới. Mục đích của cuộc khảo sát là tìm hiểu vai trò của truyền thông trong cuộc sống của trẻ em và mối quan hệ giữa bạo động trong truyền thông và cách cư xử hung hãn của trẻ em.
Cuộc khảo sát đã cho thấy: bất luận sống ở thành thị hay thôn quê, hễ nơi nào được điện hóa, thì có đến 93% trẻ em thường xuyên xem truyền hình và trung bình mỗi ngày 3 tiếng đồng hồ. Tính ra, số giờ các em ngồi trước màn ảnh nhiều hơn số giờ dành cho bất cứ sinh hoạt nào ngoài trường học.
Cuộc khảo sát cũng cho thấy truyền hình, các băng hình, trò chơi điện tử buộc các em phải tiếp xúc với những hình ảnh bạo động hầu như mỗi ngày. Tại rất nhiều nước, trung bình cứ mỗi giờ, trên màn ảnh truyền hình, trẻ em phải xem từ 5 đến 10 cảnh bạo động. Điều đáng lo ngại là những “anh hùng” trong các phim ảnh bạo động luôn được trẻ em xem như một mẫu mực.
Theo cuộc khảo sát, các nhân vật bạo động trong phim ảnh luôn thu hút các thiếu nhi nam. Có đến 88% trẻ em trên thế giới đều biết nhân vật “Terminator” do tài tử vai u thịt bắp Arnold Schwarznegger thủ diễn. Các thiếu niên nam chọn các nhân vật đánh đấm trong phim ảnh làm thần tượng hơn bất cứ nhân vật nào khác, nhứt là trong những khu phố có tỷ lệ bạo động cao và những vùng có chiến tranh.
Ngoài ra, cuộc khảo sát cũng nhìn nhận rằng các hình ảnh bạo động trên màn ảnh truyền hình được trẻ em lập lại trong cuộc sống hằng ngày. Đối với nhiều trẻ em, bạo động trên truyền hình và phim ảnh và bạo động trong cuộc sống cũng là một. Các em xem đó như cách thế hữu hiệu nhứt để giải quyết các vấn đề của cuộc sống.
Trẻ con ngày nay chẳng khác nào một thứ trái cây bị giú ép: vỏ chín vàng, nhưng ruột bên trong thì chua hay thối. Tình trạng bị giú ép ấy có thể kéo dài cả một đời người. Tuổi đời có thể chồng chất, nhưng con người vẫn cứ mãi là một đứa trẻ khờ dại và do đó, cư xử một cách thiếu trách nhiệm đối với bản thân, người thân và xã hội.
Tác giả Phạm Hiếu đã viết một cách chí lý: “Ở các nước “bán khai” như Phi Châu, Trung Đông, các lãnh tụ khủng bố hay phiến quân giết tuổi thơ ở đó bằng cách dí vào tay chúng một khẩu AK-47 và nhồi vào đầu chúng những lý tưởng cực đoan. Trong khi đó thì ở phương Tây “văn minh”, người ta khôn hơn, chỉ “giết” chúng bằng cách tập cho chúng làm người lớn, chỉ để trở thành một thứ máy tiêu thụ hàng hóa do mình sản xuất ra.” (báo đã dẫn)
Người xưa ít có kiến thức, nhưng lại giàu khôn ngoan và biết sống “thuận thiên”. Lúc còn nhỏ, tôi thấy ở nhà quê tôi, cha tôi chỉ trồng các giống lúc địa phương mỗi năm tối đa hai mùa. Vậy mà lúa lúc nào cũng đầy bồ. Thời Đệ nhị Cộng hòa, người ta du nhập giống lúa “thần nông” do viện IRRI (Viện quốc tế nghiên cứu lúa tại Phi luật tân) phát minh. Giống lúa này có năng xuất cao, có thể trồng đến 3, 4 vụ mỗi năm. Ai cũng mừng vì có lúa “thần” cứu đói. Nhưng muốn giàu nhanh thì phải trả một giá đắt. Người ta phải sử dụng tối đa phân hóa học đã đành, mà giống lúa này lại cũng dễ bị sâu rầy tấn công, cho nên không thể không dùng thuốc trừ sâu bọ. Kết quả là: đất đai ngày càng cạn kiệt, phân hóa học làm cho đất đai khô cằn và thuốc trừ sâu bọ cũng làm ô nhiễm nguồn nước, môi sinh bị đe dọa.
Sau 75, người Việt nam thích chạy theo “phong trào”. Thấy một vài người trúng nho, bao nhiêu người liền chặt phá vườn tược để trồng nho. Thấy một vài người trúng tôm, bao nhiêu người cũng dẫn nước mặn vào ruộng lúa và nuôi tôm. Nhưng “phong trào” là thứ lên nhanh mà cũng xuống nhanh. Trồng nho mà không biết kỹ thuật và thiếu phương tiện thì mất mùa là chuyện đương nhiên. Cũng thế, thấy người ta nuôi tôm, mình cũng nuôi, tưởng ăn dễ và nhanh, mà không biết rằng đây là một ngành chăn nuôi đòi hỏi nhiều kỹ thuật và phương tiện. Rốt cục, nghề trồng nho thất bại, nhiều người tiếc cái vườn cây ăn trái. Tôm chết hàng loạt, nhiều người mất cả vốn lẫn lời, chỉ còn biết đứng nhìn những mảnh ruộng phì nhiêu ngày nào nay biến thành biển mặn và hôi thối.
Mới đây, các bạn “meo đàn” cũng gởi cho tôi xem một hình ảnh phải nói là “khủng khiếp” về việc thúc ép rau muống lớn nhanh: biết rau muống là một loại rau có thể hút vào thân bất cứ hóa chất độc hại nào, người ta liền pha một loại dầu nhớt đặt biệt để phun vào cây rau đang lớn. Chỉ sau 3 ngày là ruộng rau muống trở nên xanh tươi và lớn đủ để cắt đem đi bán. Người tiêu thụ sẽ rước vào thân một lượng chất độc hại chỉ vì cái phương pháp làm ăn “nhanh” ấy.
Người ta thích ghi nhận những thành tích nhanh nhất vào sách kỷ lục thế giới dù đó là những thành tích “khủng khiếp”. Chẳng hạn như kỷ lục ăn nhiều trong thời hạn ngắn nhất. Tôi xem mà nhớ thời còn nhỏ, là một đứa nhỏ chưa có đủ “nhân vị” để được ngồi đồng bàn với người lớn, tôi và mấy anh em chỉ được cho chén cơm chan với canh hay may mắn lắm được một chén cơm chiên mỡ, bưng ra ngoài hè mà “và” cho nhanh. Đứa nào cũng mắc cái tật “ăn nhanh”. Ăn nhanh để còn được chạy chơi. Nhìn thấy mấy đứa bạn hàng xóm tụm năm tụm ba là tôi chỉ muốn tống hết chén cơm vào miệng. Nhưng “nhận” cơm vào nhiều quá, tôi bị mắc nghẹn. Cuối cùng tôi vừa trợn mắt vừa lâm cảnh “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Cha tôi thấy vậy, liền lấy tay vỗ mạnh vào lưng tôi để “giải” nghẹn. Thế là con chó hưởng phần. “Thoát chết” nhưng tôi không còn lòng dạ nào ăn lại. Cũng không còn sức để chay chơi. Đành chịu bụng đói. Cha tôi cười cười nói: “Muốn ăn nhiều phải ăn ít nha con.”
Bao nhiêu năm, tôi không còn dám ăn nhanh như hôm đó và tôi cũng không để ý gì đến câu cha tôi nói. Với trí óc trẻ nhỏ, tôi chỉ nghĩ đến cảnh “mắc nghẹn” của tôi và nghĩ là ý nghĩa của câu cha nói chỉ đơn giản như vậy. Nhưng giờ đây, nghĩ lại, tôi mới thấy cái nghịch lý trong câu nói thật thâm thúy: Nếu tôi chịu khó ăn ít mỗi ngày, tôi mới có cơ hội sống lâu. Từ chỗ sống lâu thì có nghĩa là suốt đời cộng lại tôi sẽ được ăn nhiều.
Từ chuyện “ăn” nhảy qua những chuyện khác của đời sống: kiếm tiền, tiêu xài, học hành, giải trí...tôi thấy câu nói của cha tôi đều có lý. Nếu biết áp dụng chiến thuật chậm mà chắc tôi có thể có tất cả những thứ trên mà không cần phải hy sinh những gì quý giá nhứt của đời sống là hạnh phúc gia đình, sức khỏe và thời giờ.