Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2015

Quyền lực và cảm thông


Chu Thập
13.3.15

Tôi chưa từng cầm súng đánh giặc. Cả đời tôi chưa bắn một viên đạn nào vào bất cứ ai. Tất cả những cảnh bắn giết, đâm chém hay chiến tranh nói chung, đều đi vào tâm cảnh của tôi xuyên qua phim ảnh, tài liệu lịch sử cũng như hư cấu. Có những cảnh, mặc dù hoàn toàn được dàn dựng lại, cũng vẫn rùng rợn và hãi hùng đối với tôi. Sự sống con người, dù là người lương thiện hay tên độc ác, một khi bị cướp đi, dường như không để cho người khác được yên. Hình như ánh mắt vô hình của người đó vẫn mãi nhìn vào tận đáy thẳm lương tâm của ai đó.
Mậu Thân năm 1968, đúng ngày 1 tháng Hai, giữa thủ đô Sài Gòn, trong chiến dịch càn quét tàn binh cộng sản sau vụ tổng tấn công, tướng Nguyễn Ngọc Loan, người đang nắm trong tay 3 cơ quan an ninh quan trọng là Cục An ninh Quân đội, Tổng nha Cảnh sát Quốc gia, Phủ đặc ủy Trung ương Tình báo, đã dùng khẩu súng lục “38 Special Smith&Wesson” để xử tử tên đặc công Việt cộng Nguyễn Văn Lém có biệt danh Bảy Lốp. Cuộc xử tử đã được nhiếp ảnh gia Eddie Adams của hãng thông tấn AP thu hình. Chỉ trong tích tắc đồng hồ, bức ảnh đã được truyền đi khắp thế giới. Tướng Loan nhận được hỗn danh “tên sát nhân man rợ”. Năm 1969, nhiếp ảnh gia Adams nhận được giải thưởng Pulitzer. Kể từ đó, tên tuổi của Tướng Loan đã bị vùi dập trong đống tro của tủi nhục và ít hay nhiều, bức hình ấy đã góp phần làm sụp đổ Miền Nam Việt Nam. Về sau, nhiếp ảnh gia Adams đã viết trên báo Time: “Ông tướng đã giết tên Việt Cộng. Tôi đã giết ông tướng bằng chiếc máy ảnh của tôi. Các bức ảnh vẫn còn là vũ khí hùng mạnh nhứt trên thế giới. Người ta tin ở những bức ảnh, bởi vì cho dẫu không chút lèo lái, chúng vẫn nói dối. Những bức ảnh chỉ nói lên một nửa sự thật. Điều mà bức ảnh (tướng Loan xử tử người đặc công Việt Cộng) không nói lên là: “ Bạn sẽ làm gì nếu bạn ở vào không gian và thời gian của ông tướng vào lúc đó và bạn đã bắt được tên gian ác sau khi hắn đã hạ sát một, hai hoặc ba ngưới lính Mỹ?” Nhiếp ảnh gia Adams đã lên tiếng xin lỗi Tướng Loan và gia đình của ông vì những thiệt hại mà bức ảnh do ông chụp được đã gây nên cho uy tín của ông tướng này.
Có lẽ bất cứ người dân Miền Nam chống cộng nào cũng đều bày tỏ một sự cảm thông như thế đối với Tướng Loan. Tên Việt Cộng Bảy Lốp không chỉ hạ sát một, hai hoặc ba người lính Mỹ như nhiếp ảnh gia Adams đã giả định. Ông ta đã sát hại không biết bao nhiêu thường dân vô tội. Tướng Loan chắc chắn đã nghĩ đến máu của những người ấy khi cầm khẩu súng lục trên tay và nhìn vào bộ mặt gian ác của tên Bảy Lốp. Nhưng khổ nỗi, thế giới đã không tự đặt mình vào địa vị của Tướng Loan để hiểu được tâm trạng của ông trong lúc đó cũng như không biết bao nhiêu người dân Miền Nam Việt Nam đã phải hứng chịu hay chứng kiến không biết bao nhiêu hành động tàn sát dã man của những người cộng sản.
Thế giới bên ngoài đã không thể có cái nhìn của phần lớn người Việt Nam lúc đó. Đối với thế giới, cầm súng xử tử một người, dù là một tên ác ôn côn đồ mà không thông qua một phiên tòa hợp pháp nào, là một hành động dã man.
Một hành động xem ra rất chính đáng của Tướng Loan vào lúc đó mà còn bị thế giới lên án, huống chi là những cảnh hành quyết man rợ mà các tổ chức Hồi giáo cực đoan như “Quốc gia Hồi giáo” ở Trung Đông đang thực hiện. Nhưng thế giới không chỉ lên án những hành động man rợ, mà còn kêu gọi chấm dứt bất cứ hành động nào xúc phạm đến sự sống con người. Thế giới ngày càng nhận ra được tính thánh thiêng sự sống con người.
Sự tiến bộ của nhân loại không hẳn chỉ được đo lường bằng văn minh vật chất, mà thiết yếu bằng ý thức ngày càng gia tăng về dân chủ và nhân quyền, trong đó quan trọng nhứt là quyền được sống. Bất cứ hành động xúc phạm nào đến sự sống con người, dưới bất cứ hình thức nào, cũng đều bị xem là ghê tởm. Chính vì thế mà ngày nay trên thế giới đã có khoảng 160 quốc gia hoặc đã hoàn toàn bãi bỏ án tử hình hoặc nếu còn duy trì thì cũng không thi hành bản án. Một số nhỏ các quốc gia duy trì án này đối với các tội phạm chiến tranh và nhiều nước khác từ 10 năm qua đã không còn thi hành án này. Theo tổ chức “Harm Reduction International” (một tổ chức kêu gọi  bãi bỏ án tử hình) 2 phần 3 các nước chỉ còn duy trì án tử hình vì tội buôn bán ma túy. Nhưng không phải tất cả các nước này đều thi hành bản án. Tính cho đến năm 2012, chỉ có từ 12 đến 14 nước thi hành án tử hình đối với những người buôn bán ma túy. Trung Quốc, Iran, Việt Nam, Á Rập Saudi, Singapore và Mã Lai là 6 nước có tỷ lệ xử tử những người buôn bán ma túy cao nhứt.
Dù vậy, theo một số chuyên gia, không có bằng chứng nào cho thấy án tử hình làm giảm tội ác. Xuất hiện trong chương trình “Fact Check” (kiểm chứng sự kiện) của Đài ABC Úc Đại Lợi, Ông Jeffrey Fagan, một giáo sư luật tại Đại học Columbia, Hoa Kỳ, nói rằng không có bằng chứng nào cho thấy án tử hình hạ giảm tội ác. Theo ông, các cuộc hành quyết chỉ thỏa mãn đòi hỏi báo thù mà thôi.
Lập trường của Giáo sư Fagan cũng được hầu hết các nhà nghiên cứu về tội phạm chia sẻ. Theo một cuộc nghiên cứu do Hội “American Criminology Society” (chuyên nghiên cứu về tội phạm) thực hiện hồi năm 2009, có trên 88 phần trăm những nhà chuyên môn trong lãnh vực này không hề tin rằng án tử hình hạ giảm tội ác.
Một số chuyên gia trong lãnh vực này đã làm một cuộc so sánh giữa Singapore và HongKong. Theo cuộc nghiên cứu, vào giữa thập niên 1990, Singapore được xếp vào hạng những nước có tỷ lệ thi hành án tử hình cao nhứt thế giới. HongKong đã bãi bỏ án tử hình vào năm 1993. Những người thực hiện cuộc nghiên cứu kết luận rằng “trong 35 năm qua, nghĩa là kể từ năm 1973, con số các vụ sát nhân tại hai thành phố này giống nhau”. Điều này có nghĩa là án tử hình xem ra không ảnh hưởng đến sự sụt giảm của tội ác. Nếu người ta chỉ nhìn vào hiện trạng xã hội của riêng Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì điều này lại càng đúng hơn. Dù cho án tử hình vẫn còn được duy trì và thi hành, dù cho Việt Nam có được xếp vào 6 nước có tỷ lệ thi hành án tử hình cao nhứt thế giới, tội ác dường như lại gia tăng theo tỷ lệ thuận với việc thi hành án này. Ai cũng thấy những người cộng sản Việt Nam đang diễn một bi hài kịch tồi tệ nhứt: chính những tên tội đồ lại rêu rao ngăn ngừa tội ác! Chính những tên tham nhũng lại hùng hổ mở chiến dịch bài trừ tham nhũng! Xã hội ngày càng băng hoại, lỗ hổng đạo đức ngày càng bị khoét sâu, tội ác ngày càng gia tăng...Liệu có thể cải tạo xã hội bằng cách bắn bỏ vài “con cá nhỏ” hay những con tép riu do chế độ tàn ác sản sinh và chỉ sống nhờ vào một chút cặn bã do những tên đồ tể từ trên thải ra không?
Hình ảnh của hai tử tội người Úc Andrew Chan và Myuran Sukumaran hiện đang trong cơn hấp hối từng ngày trong hành lang tử thần ở Nam Dương đã gợi lên trong hầu hết người dân Úc trong đó có tôi sự thương cảm. Dĩ nhiên, trước hết tôi không thể không nghĩ đến không biết bao nhiêu nạn nhân của ma túy trong xã hội Úc hiện nay. Tôi rất thông cảm với bà mẹ Úc nào đó ở Melbourne có người con gái 17 tuổi chết tất tưởi vì sử dụng ma túy, cho nên mới ủng hộ việc hành quyết hai tử tội này. Nhiều gia đình Việt Nam mà cuốn phim tài liệu có tựa đề “Once upon a time in Cabramatta” đã khơi lại vết thương không bao giờ lành do tệ nạn ma túy gây ra, có lẽ cũng chỉ mong cho những kẻ phạm tội ác phải đền tội. Nhưng tôi không thể không nghĩ đến nỗi đau mất con của bà mẹ của người thanh niên Nguyễn Tường Vân, bị Singapore treo cổ ngày 2 tháng 12 năm 2005 chỉ vì mang trong mình đúng 396.2gr “heroin”.
Và dĩ nhiên, cứ mỗi lần nhìn nỗi đau mà không bút mực nào có thể diễn tả được của hai bà mẹ của hai tử tù Chan và Sukumaran, cũng như hầu hết mọi người dân Úc và Quốc hội Úc, tôi chỉ biết thầm mong sao cho Tổng thống Joko Widodo của Nam Dương mở lượng ân xá cho họ.
Tôi rất khâm phục Tổng thống “Jokowi”, tên gọi thân quen  mà  dân chúng Nam Dương vẫn thường dành cho ông. Xuất thân từ một gia đình nghèo, ông đã cố vươn lên và chứng minh cho người dân Nam Dương thấy rằng với ý chí con người có thể “vượt qua số phận của mình”. Cùng với thông điệp lạc quan này, tân tổng thống Nam Dương cũng nêu cao tinh thần phục vụ qua cung cách và cuộc sống bình dân của ông.
Nhưng sự kiện ông ra lệnh biểu dương tối đa lực lượng của Nam Dương trong việc áp tải hai tử tội Úc ra đảo Nusakambangan để chờ bị hành quyết khiến tôi thất vọng. Có cần phải sử dụng máy bay chỉ dành riêng cho tổng thống, có cần phải có cả một lực lượng cảnh sát hùng hậu, có cần phải cho chiến đấu cơ và tàu chiến...biểu dương lực lượng trong việc đưa hai tử tội đến chỗ hành quyết không?
Với dân số đứng hàng thứ tư trên thế giới, với tài nguyên thiên nhiên phong phú, với một nền kinh tế đang lên, Nam Dương hiện là thành viên của Câu lạc bộ gồm 20 nước có nền kinh tế mạnh nhứt thế giới. Là một nước Hồi giáo lớn nhứt thế giới, Nam Dương có lý do để tự hào là một nước mạnh.
Nhưng liệu đó có phải là sức mạnh đích thực mà một quốc gia hay một nguyên thủ quốc gia cần phô trương không?
Theo dõi những diễn biến trong tư cách của hai tử tù Chan và Sukumaran trong gần 10 năm qua và nhứt là lắng nghe chứng từ của các tù nhân cũng như những người đã từng tiếp xúc với họ, tôi thấy họ cũng đã cố gắng từng ngày để  “vượt qua số phận” và chứng tỏ sức mạnh của sự hoán cải. Đây là điều mà người tử tù Sukumaran đã muốn nhắn gởi cho tổng thống Jokowi. Anh đã vẽ chân dung của vị nguyên thủ quốc gia Nam Dương và ký tên kèm theo hàng chữ “con người có thể thay đổi”(people can change).
Tôi rất tự hào được làm công dân Úc. Không phải vì Úc Đại Lợi giàu mạnh, mà vì một sức mạnh mà sự thịnh vượng vật chất không đương nhiên mang lại. Sức mạnh đó đã được biểu lộ qua những cuộc thắp nến cầu nguyện cho hai tử tù Chan và Sukumaran. Tôi vẫn ghi nhớ mãi hình ảnh của tất cả các dân biểu và thượng nghị sĩ Liên bang tay cầm nến, giữ giây phút thinh lặng để không chỉ nhắn gởi đến chính phủ Nam Dương thỉnh cầu ân xá cho hai người tử tội, mà còn bày tỏ sự cảm thông và nhứt là sự tôn trọng đối với mạng sống con người.
Nếu phải ghi nhớ bước tiến lớn nhứt của nhân loại  thì tôi nghĩ bước tiến đó phải là ý thức về sự thánh thiêng của sự sống con người. Và nếu phải đi tìm sức mạnh đích thực cho thế giới ngày nay, tôi không thể không nghĩ đến sự cảm thông.



Thứ Hai, 16 tháng 3, 2015

Tiền Tài Như Phấn Thổ…




                

                 Chu Thập
05.07.11

Ngạn ngữ Latinh có nói “Bàn về sở thích, chớ nên tranh luận” (De gustibus non disputatur).  Tôi vẫn luôn cố gắng thực hành câu châm ngôn này để tập sống khoan nhượng và cảm thông. Bá nhân bá tánh, mỗi người một ý, một sở thích; mỗi cá nhân đều là một thế giới riêng. Mỗi dân tộc cũng có văn hóa và truyền thống riêng. Chỉ cần nhìn vào chuyện ăn uống thôi cũng đã thấy sự khác biệt giữa các dân tộc. Nước mắm nào của người Việt nam cũng đều “thơm ngon” cả, nhưng với cái mũi lõ của người Tây phương thì mỗi lần ngửi vào chẳng khác nào đang đi qua vùng Phan Thiết. Ngược lại, có những loại “phó mát” mà người Tây hít lấy hít để, thì người Việt mình đụng vào cứ tưởng như đang chạm phải “cóc chết” hay hột vịt ung.
Về nghệ thuật, văn chương và âm nhạc cũng thế thôi. Mình không thể bắt người khác phải “thích” những gì mình “thích”. Có người chỉ thích tiếng hát Chế Linh. Có người chỉ biết có nhạc Trịnh công Sơn. Và dĩ nhiên, có người chỉ mê cải lương. Đã là sở thích thì cần phải được tôn trọng. Tôi vẫn luôn cố gắng nghĩ như thế.
Vậy mà mới đây, sau khi đi ăn tân gia của một cặp vợ chồng trẻ ở Sydney, tôi cứ phải suy nghĩ miên man. Nếu xét theo tiêu chuẩn vừa được chính phủ Lao động qui định, thì cặp vợ chồng này thuộc giai cấp “trung lưu”. Cả hai đều có lương cao, lại chưa có con. “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”, cho nên sau một thời gian ở nhà thuê, họ cũng cố gắng mua cho bằng được một ngôi nhà đắt tiền tại một khu cũng được xem là giàu có của Sydney.  Với cách suy nghĩ của một người đang sống ở nơi miền quê thông thoáng, có vườn tược cây cối, có chim chóc líu lo quanh năm ngày tháng, tôi cứ nghĩ bụng tiếc rẻ. Ngôi nhà của cặp vợ chồng trẻ chỉ có 4 thước chiều ngang và không quá mươi lăm thước chiều dài, không khác gì cái chuồng chim. Dưới cái nhìn phong thủy ở trình độ sơ cấp như tôi, tôi vẫn cảm thấy ái ngại khi bước vào nhà: từ trước ra sau, cửa nẻo nằm thẳng một đường “trùng môn”.  Ngày xưa, các cụ bảo: cất nhà phải tránh đừng để “trùng môn”, gió máy ùa vào, không sinh bệnh tật thì tiền bạc cũng khó giữ. Nhưng với diện tích bé bỏng như vầy, không “trùng môn” thì nội cái chuyện dọn đồ đạc vô ra cũng đủ nghỉ thở.
Thực ra, tôi cũng chẳng tin dị đoan chút nào. Tôi chỉ tiếc là ở trung tâm thành phố, đất đai quý như vàng, khó tìm được “mặt bằng” rộng rãi để mà thiết kế theo ý mình muốn. Cũng may, đàng  sau nhà cũng còn lại một góc nhỏ vừa đủ để trồng vài ba cọng rau nhiệt đới. Nhưng bên trong chỉ có đúng một phòng khách nhỏ, một phòng ngủ nhỏ và dĩ nhiên một nhà bếp cũng nhỏ. Cái gì cũng nhỏ cả. Không phải là chuyên viên địa ốc, tôi cũng làm được bài tính: với giá tiền của ngôi nhà này, đôi vợ chồng trẻ này có thể mua một trang trại và một ngôi nhà rất khang trang ở vùng tôi ở. Mà thôi, họ có lý do để sống ở khu vực mà họ đã chọn lựa: vừa khỏi mất giờ đến sở, vừa tìm được trường ốc tốt cho con cái sau này.
Phải nhìn nhận rằng hai vợ chồng son này có óc nghệ thuật đầy mình: ở góc nào trong nhà cũng có những bức tranh cổ. Nhưng điều khiến tôi muốn “dội ngược” khi bước vào nhà chính là một “cái tủ” còn để trong phòng khách. Không biết nó còn xứng đáng để gọi là một cái tủ không. Nhận thấy cái tủ được làm bằng gỗ tạp và nước sơn đã loang lổ trông chẳng khác nào một thùng rác, tôi định hỏi sao họ không chịu quăng ra bên hông nhà cho khỏi choán chỗ. Đọc được ý nghĩ của tôi chăng, bằng cả một giọng điệu thật hãnh diện, cô vợ khoe  rằng đây là một món “đồ cổ” mà cô mới “chộp” được với giá không dưới 5 trăm Úc kim. Nghe  giải thích như thế, tôi thấy muốn rụng rời tay chân. Trời ơi, tôi nghĩ bụng, cổ hay không thì không biết chứ cũ thì phải nói là quá cũ. Cái thứ này mà quăng ra đường chắc chẳng ai muốn rước vào nhà cho thêm dơ và gây bệnh truyền nhiễm!
Với sự hiểu biết của một người sưu tầm đồ cổ, cô vợ trẻ phân bua rằng giá trị của “cái tủ” là tuổi của nó: nó đã được hơn một trăm tuổi rồi đó! Đây là cái tuổi mà chính phủ Úc cũng đã qui định để liệt kê nhà cửa vào hàng di sản văn hóa, được quyền “thi gan với tuế nguyệt”, nghĩa là không sợ bị đập phá.
Trên đường về, nhìn đâu tôi cũng liên tưởng đến đồ cổ và giá trị của thời gian. Giá ngôi nhà cổ do ông cố tôi để lại mà được cha tôi giữ cho đến ngày nay thì chắc nó phải có giá, bởi vì tính ra cũng đã  trên cả 2 trăm tuổi. Nhưng vốn xem trọng tính mạng con người hơn đồ cổ cho nên cha tôi đành phải gạt bỏ tình cảm và chữ hiếu qua một bên để đập phá ngôi nhà đã rệu rạo và xây lại một ngôi nhà mới.  Những người nông dân chất phác như cha mẹ tôi cũng biết trân quý những gì ông bà tổ tiên để lại, nhưng không nhứt thiết xem thời gian như đơn vị để đo lường giá trị của một món đồ cổ. Tôi nhớ trong nhà tôi có một bộ chén bát rất quý. Cha tôi nói rằng đây là di sản của người Chàm trước khi người Việt nam tiến. Nhiều di tích trong làng tôi cho thấy người Chàm đã từng sinh sống ở đây. Thuở nhỏ tôi vẫn còn nhìn thấy những “mả hời” (mộ của người Chàm) trong vườn hay ngay trên con đường cái “tư ích” (con đường đất trong làng). Sau 1975, những di tích ấy đã bị “đào tận gốc bứng tận rễ”. Riêng bộ chén bát quý trong nhà, cha tôi kể lại rằng thời ông cố tôi, khi đào móng xây nhà, gia đình đã tìm được một cái chum. Tôi không biết ông cố tôi có được vàng không, nhưng bộ chén bát đó chính là di sản quý giá mà trong lúc “chạy giặc”, người dân Chàm đã chôn vội xuống đất. Tôi chỉ tiếc một điều là với thời gian và vì nhu cầu phải sử dụng, bộ chén bát đó bị mòn và cuối cùng cũng theo thời gian mà biến đi đâu hết. Ngoài ra, lúc tôi còn nhỏ, thỉnh thoảng mẹ tôi cũng mở một cái hộp và cho tôi xem những xâu đồng “điếu” không biết từ thời vua nào của Việt nam. Không rõ nguyên nhân nào mà những thứ đồ cổ ấy đã  bay đi đâu hết!
Không riêng gì những người nông dân thất học như cha mẹ tôi mới ít quan tâm đến đồ cổ, mà ngay cả mấy “quan chức”  trước và nhứt là sau 1975 cũng chẳng màng đến những di tích lịch sử cần được bảo tồn. Tôi ở sát bên Thành Diên Khánh. Đây là ngôi cổ thành được kiến trúc giống y hệt như thành nội Huế, có đầy đủ bốn cửa đông, tây, tiền, hậu (chứ không phải nam bắc).  Thuở nhỏ, tôi rất hãnh diện khi  đi qua thành này, vì nghĩ rằng các vua cuối cùng của triều Nguyễn cũng đã có lần “ngự giá” đến đây. Bên cạnh nhà lao là một ngôi nhà mà người lớn gọi là “bordel” (nhà thổ dành cho lính Tây). Tôi chỉ biết mỗi lần đi ngang qua ngôi nhà này, các bà các cô thường phải bỏ chạy bán sống bán chết vì bị mấy anh lính “lê dương” rượt. Đối diện với ngôi nhà này là một cái dinh mà lối kiến trúc trông cũng giống đền vua. Nhưng những trận pháo kích của Việt cộng đã khiến cho mấy ngôi nhà này đổ nát và về sau biến thành bình địa. Ngày nay, ngoài bốn bức tường bằng đất cao xung quanh thành, chẳng còn di tích nào để nhắc nhớ về ngôi thành lịch sử và vùng đất mà cha tôi thường gọi là “hoàng triều cương thổ”. Tôi thấy mình không còn được hãnh diện vì đã từng sống gần với ngôi thành lịch sử này.
Mãi cho đến lúc ra khỏi nước, tôi mới bắt đầu ý thức về giá trị mà thời gian mang lại cho đồ cổ. Lúc mới đặt chân đến thủ đô Ánh sáng, tôi vừa bỡ ngỡ trước những cao ốc cổ xưa của mẫu quốc, lại vừa khó chịu khi nhìn vào những cánh cổng gỗ hay những tấm cửa sổ cũ kỹ, loang lổ. Thì ra, theo lời giải thích của các vị thầy của tôi, giá trị của những cánh cổng và cửa sổ này là ở cái tuổi của chúng: ngôi nhà nào càng có nhiều vật dụng bằng gỗ lâu đời thì càng có giá trị. Muốn sửa sang bên trong bao nhiêu cũng được, nhưng phải giữ nguyên cái bộ mặt cũ kỹ trông chẳng ra làm sao ở bên ngoài ấy! Bây giờ thì tôi mới hiểu được cái “giá trị” của cái tủ xấu xí mà cặp vợ chồng trẻ tôi quen mới tậu được. Tôi cũng hiểu được tại sao các thứ đồ cổ đều có giá. Thỉnh thoảng, vào ngày chúa nhựt, tôi thấy có những chiếc xe “cổ” không dưới 4,5 chục tuổi ì ạch chạy trên xa lộ. Tôi tin chắc rằng những người đang ngồi trên những chiếc xe đó không xem chúng như một phương tiện di chuyển cho bằng là một thứ “của cải” cần khoe ra. Hình dáng, mầu sắc, mẫu mã và tiếng động cơ của những chiếc xe ấy chỉ muốn lên nói một điều là chủ nhân của chúng là những người giàu có, sành điệu và dĩ nhiên quan trọng. Tôi cũng nghĩ đến người mới đây đã mua chiếc áo đầm nổi tiếng của nữ tài tử Marilyn Monroe với giá 46 triệu Mỹ kim. Cùng với thời gian, tiếng tăm lẫy lừng của cô tài tử này đã biến chiếc áo của cô thành một tài sản quý giá. Và dĩ nhiên, những người đang sở hữu chiếc áo này cũng “ăn có” để trở thành một người nổi tiếng.
Nhưng ở đời lắm khi có những thứ ngược đời. Không phải cái gì càng có tuổi thì càng có giá, mà ngược lại.
Có câu chuyện khôi hài nói về một tay săn đồ cổ sành điệu. Một hôm đi ngang qua một nhà đang bán “garage sale”, thoáng một cái, ông biết có nhiều món đồ cổ nằm lẫn lộn trong cái mớ “lạc-xoong”. Ông lập tức mân mê, săm soi hết món này đến món khác. Nhưng món nào, dù có đến sáu bảy chục tuổi, ông cũng chê là còn “trẻ” quá. Bị quấy rầy quá lâu mà vẫn không tìm được cái gì cho vừa ý ông khách khó tính, bà chủ nhà nói: “Ông à, tôi có hai món cổ hơn mấy cái này nhiều, ông có muốn mua không?” Ông khách sốt sắng trả lời: “Nếu mấy thứ đó có tuổi hơn mấy cái này là tôi mua ngay.” Bà chủ chỉ vô chính mình và nói: “Tôi đây, tám mươi chín tuổi. Còn ông nhà tôi đang nằm liệt trong giường thì chín mươi lăm. Cả hai chúng tôi đang chuẩn bị vô viện dưỡng lão. Như vậy có đủ tuổi để gọi là đồ cổ chưa?”
Đương nhiên, ông khách đâu bao giờ muốn mua món đồ cổ sống mà bà chủ nhà vừa chào mời cho nên lặng lẽ rút êm.
Câu chuyện khôi hài, nhưng cũng nói lên một sự thật phũ phàng: thời nay, dường như bậc thang giá trị đã bị đảo lộn. Những thứ lẽ ra phải trân quý lại bị khinh rẻ. Nhưng thứ chóng qua lại được đưa lên bàn thờ. Đồ vật và thú vật có khi lại được trân trọng hơn mạng sống con người. Tôi có ý nghĩ ấy khi so sánh mấy con bò Úc bị hành hạ trước khi giết chết tại Nam Dương với các thiếu niên tầm trú bị đẩy sang Mã Lai. Tôi không tán thành việc hành hạ súc vật. Nhưng nếu đem lên bàn cân để đong đếm trọng lượng đích thực của một em thiếu niên bị chở sang nhốt trong một trại tỵ nạn vô nhân đạo bên Mã Lai với chuyện đàn bò bị hành hạ tại Nam Dương thì tôi nghĩ rằng phẩm giá của em bé ấy đáng được người ta rầm rộ xuống đường để bảo vệ hơn đàn bò.
Tôi cũng có ý nghĩ ấy khi nghĩ đến vô số những thai nhi bị sát hại mỗi ngày trên khắp thế giới. Không là đảo lộn bậc thang giá trị ư khi việc sát hại những mạng sống không có tiếng nói vô phương tự vệ lại được hợp pháp hóa, trong khi đó không thiếu những người lại ngày đêm tranh đấu cho điều được gọi là “quyền” của súc vật? Con người bị tước đọat quyền sống để cho súc vật được có “quyền”: như thế mà bảo bậc thang giá trị không bị đảo lộn ư?
Mẹ tôi không biết chữ Nho, nhưng thỉnh thoảng bà cũng “xổ” Nho. Tôi vẫn nhớ mãi lời bà dạy: “tiền tài như phấn thổ, nghĩa trọng tợ thiên kim”. Tiền tài, hay “vật ngoại thân” và cái đuôi dài của nó là quyền lực, giàu sang, chức vị…rồi cũng qua đi. Duy chỉ có nhân nghĩa, tình người hay “vật nội thân” mới tồn tại muôn đời mà thôi.
Không ai có thể sống mà không cần tiền tài vật chất. Nhưng một cuộc sống có ý nghĩa không thể nào không có những giá trị tinh thần như tình yêu thương, sự tôn trọng và chia sẻ các giá trị đạo đức cho người khác. Cái mà tôi thấy khó khăn nhứt là những khi tôi phải đặt mình trước sự lựa chọn giữ “vật ngoại thân” và “vật nội thân”. Chọn cái trước thì thường mất cái sau. Chọn cái sau thì thường là thua thiệt, mất mát.

Thế nhưng, nghĩ cho cùng, chẳng có thứ “đồ cổ” nào trên trần gian này có tuổi thọ cao hơn những di sản thiêng liêng mà tổ tiên đã truyền lại trong tâm khảm mỗi người. Vừa không mất tiền mua, vừa không sợ mất cắp, một món đồ cổ như vậy cũng quá đủ đối với tôi.

Thứ Bảy, 14 tháng 3, 2015

Một sàng khôn để học


Chu Thập
6.3.15

Trong những ước mơ cuối đời trước khi “về cội”, tôi mong có cơ hội và điều kiện để làm một chuyến du lịch sang Trung Quốc. Không thể phủ nhận rằng đất nước này có nhiều kỳ quan, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử cũng như những thành tựu kinh tế đáng xem. Là một người Việt Nam ít hay nhiều đã tiếp nhận văn minh Trung Hoa, chịu ảnh hưởng của đạo đức Khổng Mạnh và Lão Giáo, tôi thấy không có lý do gì để tự cắt đứt với  một nền văn hóa đã ăn sâu vào nếp sống của nhiều dân tộc ở Đông Á. Còn nếu cho rằng Tộc Việt, tổ tông của người Việt Nam chúng ta, đã xuất phát từ Hồ Đồng Đình trước tộc Hoa gần 4000 năm và là cội nguồn phát xuất nền văn minh Đông Á ngày nay, thì tôi lại càng thấy nao nức hơn để làm một chuyến hành hương về nguồn.
Nhưng gần đây, tự ái dân tộc bỗng trào dâng mãnh liệt trong tôi sau khi Trung Quốc ngang nhiên xâm chiếm lãnh hải của đất nước tôi và nghe đâu muốn biến quê hương tôi thành một tỉnh lẻ của họ. Giấc mơ “Trung Du” của tôi đã dần dần phai nhạt.
Thật ra, khi đi du lịch, mỗi lần viếng thăm một xứ sở mới, tôi không chỉ ngắm cảnh, tìm hiểu các di tích lịch sử, học hỏi thêm về những điều kiện chính trị, kinh tế và xã hội của một quốc gia, mà còn để đón nhận cái hay cái đẹp trong lối sống và cách đối nhân xử thế của dân tộc ấy. Một ngày lang thang ở Singapore cũng đủ để tôi học được bài học về tinh thần tôn trọng kỷ luật, sự trật tự và cách đối xử lịch sử tử tế với người khác. Sang Thái Lan, qua cái vái chào thân thiện, chân thật, hiền hòa và từ ái của mọi người, tôi nhận ra được sức sống đích thực của một dân tộc. Đó là những đức tính mà tôi không còn nhìn thấy ở rất nhiều người Việt Nam của tôi kể từ khi những người cộng sản Miền Bắc cướp chính quyền và áp đặt ý thức hệ cộng sản lên toàn dân tộc. Và dĩ nhiên, tôi tin rằng ông Bá Dương (1920-2008), một tác giả Đài Loan, đã không quá lời khi nói về “Người Trung Quốc xấu xí”. Từ thời Đông Chu Liệt Quốc (thế kỷ IX-III trước Công nguyên), một ông quan nước Tề là Án Anh, khi bị vua Sở giễu cợt, đã giải thích về ảnh hưởng của một chế độ cai trị đối với tâm tính con người bằng câu nói: “Cây quít trồng ở phương Bắc thường cho quả ngọt, trái sai, nhưng khi đem trồng ở phương Nam thì quả đã chua, lại còn ít nữa”. Cũng là người Trung Hoa, nhưng người Trung Hoa ở Trung Quốc cộng sản hiện nay lại “xấu xí”, trong khi người Trung Hoa ở Đài Loan và nhứt là ở Singapore lại tử tế. Không thể phủ nhận thực tế về bộ mặt “xấu xí” của người Trung Quốc cộng sản hiện nay.
Thế giới ngày nay đã thấy rõ bộ mặt đích thực của điều được gọi là “con người mới xã hội chủ nghĩa” mà người cộng sản Trung Quốc luôn rêu rao. Những ai chưa một lần viếng thăm Trung Quốc như tôi hễ cứ thấy hàng hóa Trung Quốc, nhứt là thực phẩm, là muốn bỏ chạy. Còn những ai đã có dịp tiếp xúc với Trung Quốc qua các du khách Trung Quốc thì lại càng nhận ra cái bộ mặt “xấu xí” ấy của người cộng sản.
Nói có sách mách có chứng. Mới đây, trên đài ABC của Úc Đại Lợi, Ký giả Deborah Cornwall đã cho người dân Úc thấy được bộ mặt “xấu xí” ấy. Nhiều thước phim cho thấy cảnh du khách Trung Quốc khạc nhổ, “ỉa đái” ngay nơi công cộng,  chửi bới những người bán hàng và ngay cả sẵn sàng ấu đả với bất cứ người nào. Chuyện này không chỉ xảy ra tại Hong Kong, mà còn ở bất cứ nước nào giai cấp “nhà giàu mới” của Trung Quốc đặt chân đến.
Mới đây, một thanh niên Trung Quốc đã khiến cho không những người Ai Cập mà cả thế giới phải phẫn nộ khi dùng một vật nhọn khắc tên mình lên một bức tượng bên trong đền thờ cổ Luxor có trên 3500 năm tuổi của Ai Cập.
Người dân của thành phố hoa lệ Paris, Pháp Quốc, lại còn ngỡ ngàng hơn khi chứng kiến cảnh một nhóm du khách Trung Quốc tỉnh bơ rửa chân trong một hồ nước tại bảo tàng viện Louvre.
Kể từ khi cố Chủ tịch Đặng Tiểu Bình tung ra chính sách “mèo trắng mèo đen không quan trọng, miễn là bắt được chuột”, chế độ cộng sản Trung Quốc đã thành công trong việc không những giải thoát gần một tỷ người khỏi cảnh “đi ngủ với cái bụng đói”, mà mỗi năm còn đóng góp cho kỹ nghệ du lịch của nhiều nước trên thế giới với trên 85 triệu du khách.
Nhưng theo Giáo sư Wanning Sun, thuộc trường đại học UTS ở Sydney, cung cách “xấu xí” của du khách Trung Quốc đã làm cho cái chế độ cộng sản luôn tìm cách bảo vệ “sĩ diện” ngày càng mất mặt.
Nói chung, những người luôn sống dối trá và lừa gạt người khác như người cộng sản lúc nào cũng sống theo nguyên tắc “đẹp khoe xấu che”, nghĩa là tìm đủ mọi cách để che đậy bộ mặt xấu xí của mình. Nhưng dĩ nhiên, càng khoe cái “sĩ diện hão” thì càng lố bịch. Một người như tôi không cần phải đi Trung Quốc để thấy được cái bộ mặt thật “xấu xí” của người cộng sản, mà chỉ cần nhìn vào xã hội Việt Nam hiện nay.
Dịp Tết Nguyên Đán vừa rồi, Sách Guiness Book về những kỷ lục thế giới lại phải tốn thêm vài trang nữa để ghi lại những thành tích mới ở Việt Nam như chiếc bánh tét dài nhứt thế giới, tô hủ tiếu lớn nhứt thế giới ở Sa Đéc, chiếc bánh chưng nặng vài trăm ký được làm để dâng kính hương hồn mẹ của “Bác Hồ” v.v Cái gì Việt Nam ta cũng muốn hơn người cả! Việt Nam hiện đang có nhiều bằng tiến sĩ hơn bất cứ nước nào ở Đông Nam Á, mặc dù mỗi năm không có được một bằng sáng chế hay một nghiên cứu có giá trị  trong bất cứ lãnh vực nào. Với 7,7 triệu tấn gạo xuất cảng, Việt Nam đứng hàng đầu thế giới về xuất cảng gạo, trong khi đó vẫn còn nhiều người Việt Nam phải chạy cơm từng bữa và tại nhiều vùng nông thôn vẫn còn nhiều người phải gặm củ chuối cầm hơi qua ngày. Việt Nam tự hào về vị trí thứ hai trên thế giới trong việc xuất cảng cà phê, nhưng chẳng người Việt Nam nào màng đến phẩm chất thấp của loại cà phê này.
Những kỷ lục và thành tích hơn người mà chế độ cộng sản Việt Nam muốn đạt được để khoe mẽ đã không bao giờ đủ sức để che đậy những cái lố bịch vốn ló ra một cách tự nhiên. Cũng dịp đầu năm vừa qua, không riêng gì người Việt hải ngoại chống cộng, mà ngay cả người dân trong nước cũng đã nhìn thấy cái lố bịch cười ra nước mắt khi được dịp chiêm ngắm cuộc sống xa hoa kệch cỡm của người mà người dân chỉ biết rỉ tai nói nhỏ là “con rơi” của “Bác” và một số người đã mỉa mai là “tiều phu” lên “ngai vua”. Riêng tôi, nhìn cựu Tổng bí thư Nông Đức Mạnh ngồi trên “bệ vàng”, tôi lại liên tưởng đến hình ảnh của những cô gái Việt Nam ngồi trên những chiếc xe hai bánh đắt tiền, mặc những chiếc quần ngắn dưới rốn, để lộ ra những “nội y” hàng hiệu đắt tiền.
Trên thế giới này, ai cũng thích hàng hiệu, đồ sang. Nhưng người Việt Nam “xã hội chủ nghĩa” hiện nay vẫn đạt kỷ lục. Ai đó đã viết rằng “nhiều đại gia trên thế giới cũng phải ngạc nhiên trước những con siêu xe mà người Việt tậu về”. Một chuyên gia tâm lý người Đức, khi nguyên cứu về việc tiêu dùng, đã làm một ví dụ: một người Đức và một người Việt mỗi người đều có trong tay 30 ngàn Mỹ kim, cả hai đều có ý định mua xe. Theo chuyên gia tâm lý này, người Đức sẽ chọn chiếc xe trị giá 20 ngàn Mỹ kim, tiền còn lại anh ta dành dụm, làm ăn hay tích lũy. Còn người Việt Nam “xã hội chủ nghĩa” thì sao? Anh ta sẽ sẵn sàng vay mượn thêm hàng chục ngàn Mỹ kim nữa để mua một chiếc xe “xịn” hơn.
Vì đua nhau “tốt khoe xấu che” cho nên theo một cuộc nghiên cứu về tiêu dùng tại Việt Nam hiện nay, người Việt bỏ ra một tỷ Mỹ kim để tranh nhau mua điện thoại Smartphone loại mới nhứt. Hơn một nửa số điện thoại người Việt có trong tay thuộc loại xa xỉ, được sử dụng không như một phương tiện để liên lạc và học hỏi, mà chỉ như một thứ “trang sức” để “khoe hàng”.
Cũng Tết Nguyên Đán vừa qua, tôi đọc được một bản tin mà có lẽ người Việt Nam xem như “chuyện thường ngày ở huyện”: từ ngày 27 đến mùng 4 Tết, bộ Y Tế cho biết các bệnh viện tiếp nhận gần 195 ngàn trường hợp đến khám cấp cứu, trong đó hơn 5 ngàn người phải nhập viện do đánh nhau, ngày cao nhứt có 900 trường hợp và 11 người thiệt mạng. Đồng bào ruột thịt của tôi ngày nay “hung hãn” như thế sao?
“Hung hãn” nhưng lại “hèn nhát”, đó là nhận định của nhạc sĩ Tuấn Khanh từ trong nước. Ông viết: “Người Việt hôm nay dường như đủ hung hãn chém con heo ra từng mảnh, reo hò và tắm máu như thời các bộ lạc dã man, nhưng hèn nhát câm miệng không dám bàn về tài sản các quan chức tham nhũng đang đục ruỗng tổ quốc mình. Người ta im lặng hèn nhát khi nghe những kẻ như Trần Văn Truyền (cựu tổng thanh tra có nhiều biệt thự nguy nga) chỉ bị kỷ luật giơ cao đánh khẽ, còn những người tố cáo cái ác như ông Kim Quốc Hoa, báo Người Cao Tuổi, đang lao đao giữa trùng vây vô lại” (Đàn Chim Việt online 1/3/15).
Người Việt Nam thường tự hào về sự thông minh của dân tộc. Riêng người Việt nam “xã hội chủ nghĩa” thì thông minh hơn người Việt ở nước ngoài nhiều. Họ học hỏi và tiếp thu rất nhanh những phương tiện và tiện nghi của các nước văn minh. Họ cũng đạt được những thành quả tốt đẹp nếu được gởi đi du học ở nước ngoài. Nhưng các nước văn minh tiến bộ như Hoa Kỳ chẳng hạn đã lầm khi nghĩ rằng người cộng sản sẽ mở mắt ra để tiếp nhận những giá trị của các nền dân chủ và áp dụng cho đất nước họ. Kể từ năm 1972, khi cố Tổng thống Richard Nixon của Hoa Kỳ bắt tay với đồ tể Mao Trạch Đông, mỗi năm có biết bao nhiêu sinh viên Trung Quốc được nhận vào học tại các đại học Mỹ. Khoa học và kỹ thuật mà những sinh viên này tiếp nhận được từ Hoa Kỳ đã giúp đưa nền kinh tế Trung Quốc lên hàng thứ 2 trên thế giới. Nhưng cái chế độ độc tài đảng trị do những sinh viên ấy tiếp tay xây dựng vẫn hoàn độc tài và có khi còn tàn bạo hơn trước kia. Đương kim Chủ tịch Tập Cận Bình đã từng có thời gian đi du khảo tại Hoa Kỳ.  Điều này cũng xảy ra tại Việt Nam. Cả 3 người con của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đều theo học tại những trường đại học danh giá hàng đầu của Mỹ và Anh Quốc. Trở về nước, họ cũng vẫn trước sau như một là những đảng viên cộng sản gộc, kế tục đường lối cai trị độc tài của cha ông họ mà thôi.
“Đi một ngày đàng học một sàng khôn”. Ông bà ta đã dạy như thế. Những đảng viên cộng sản và những “con người mới xã hội chủ nghĩa” được họ nhào nặn không chỉ đi một ngày đàng, mà đi cả mấy vòng trái đất, để rồi rốt cục chỉ học được những cặn bã của xã hội văn minh hơn là những tinh túy của xã hội văn minh. Dù cho họ có vất đi đôi dép râu, có tròng vào người và cổ bộ âu phục, có tròng vào cổ chiếc ca vát hàng hiệu đắt tiền, có ngồi trên những chiếc ghế dát vàng trong những dinh thự cao sang, có đi những chiếc xe xa xỉ và ngay cả có đắc thủ được những học vị cao từ những đại học danh tiếng ở nước ngoài...bao lâu cái sàng khôn được chắt lọc từ các nền văn minh như tinh thần khoan nhượng và dân chủ, những giá trị đạo đức như tính lương thiện và tử tế...vẫn chưa chui vào được cái đầu và trái tim của họ, thì cái “sĩ diện hảo” mà lúc nào họ cũng tìm cách tô vẽ và khoe ra, chỉ đáng làm trò cười cho thiên hạ mà thôi.
Suy nghĩ về chuyện “tốt khoe xấu che” của mấy ông cộng sản, tôi nghiệm ra một điều: không ai có thể làm tôi “mất mặt” hay làm mất “thể diện” hoặc “sĩ diện” của tôi cả. Chỉ có tôi, khi tôi tự bôi trét lên mặt mình các thứ hào nhoáng và phù phiếm để che đậy sự dối trá của tôi, lúc đó tôi mới thật sự “mất mặt” mà thôi.



Thứ Hai, 9 tháng 3, 2015

Của Đồng Lần Thiên Hạ Tiêu Chung


Chu Thập
1.7.11



Năm nào cũng vậy, cứ vào tháng 6, mùa “đại hạ giá” giữa năm, thấy người ta nô nức đi sắm sửa, tôi cũng chen chân đi cho vui. Nhưng lần nào tôi cũng xách xe không về nhà. Hôm rồi, thấy nhà tôi và tôi đang đứng “ngẩn ngơ” trước những món hàng “xịn” trong một cửa hàng Myer, một bà Úc tốt bụng xáp lại gợi chuyện và khuyên chúng tôi nên đến cửa hàng Colorado bên cạnh, vì ở đó đang hạ giá tới 70 phần trăm. Tưởng bở, chúng tôi chạy vội đến đó. Trời mùa đông lạnh vậy mà vào đó cũng nghẹt thở vì đông người. Nhưng đến khi sờ được những món mình thích, tôi mới tá hỏa tam tinh: đã bớt đến 5, 7 chục phần trăm mà tôi vẫn thấy cái giá ấy chỉ dành cho những dân chơi hàng hiệu mà thôi.  Không thuộc giai cấp mà chính phủ Lao động  xếp vào hạng “giàu có”, chúng tôi cũng đành sờ qua ngắm lại cho ra vẻ dân sành điệu rồi lặng lẽ chuồn đi cho khỏi mất mặt. Rốt cục, đi hết cửa hàng này sang cửa hàng khác cho giãn gân giãn cốt, nhìn ngắm thiên hạ náo nhiệt, rồi về. Xét ra chẳng mất mát gì mà còn được một bữa đi dạo, nhìn đời, nhìn người cũng vui!
Thực ra, tôi không mua được món nào không phải vì tôi nghèo kiết đến độ chỉ biết mua “hàm thụ” bằng mắt , mà vì đi phố mà lòng tôi lúc nào cũng ngoái lại cái tủ quần áo ở nhà. Khai ra thì chắc thế nào cũng bị chê cười, nhưng quần áo tôi đang mặc hầu như chẳng có cái nào dưới 10 tuổi. Tôi có bà con với “kẹo kéo” một phần, còn phần lớn tại quần áo của bọn “đế quốc” nó không chịu rách. Có những chiếc áo sơ mi tôi mua nhân chuyến đi Mỹ cách đây hơn 20 năm vẫn còn lành lặn và xem ra cũng chẳng lỗi thời chút nào. Vài bộ đồ vía để mỗi năm “tròng” vô một lần thì làm sao “sứt chỉ đường tà” để mà sắm cái mới. Cũng may là “vòng giữa” của tôi không thay đổi mấy cho nên tứ thời bát tiết lúc nào tôi cũng “diện” vào được.
Thành ra mỗi lần đi phố về, không mua sắm được gì, tôi hơi có cái “mặc cảm” của một người không đóng góp tích cực cho kinh tế nước nhà. Vào lúc kinh tế suy trầm, phải có người mua kẻ sắm, thì đồng tiền mới lưu chuyển, cửa hàng mới có kẻ ra người vào và bộ mặt kinh tế mới sáng sủa ra. Chớ cứ khư khư ôm cái hầu bao và hà tiện hà tặn như tôi thì làm gì kinh tế lên được. Thời ông Kevin Rudd còn làm thủ tướng, chính phủ Úc đã chẳng tháo khoán ngân quĩ quốc gia lì xì cho các cụ cao niên để các cụ có “cơ hội” giúp cho kinh tế “lên” đó sao?
Nhưng thôi, tôi chẳng phải là một kinh tế gia để mà bàn tính hơn thiệt về chuyện mua sắm. Lý do khiến tôi phải đắn đo và chi li trong việc mua sắm quần áo là vì tôi cứ nghĩ đến những người thiếu ăn thiếu mặc tại các nước nghèo, trong đó có không biết bao nhiêu bà con ruột thịt của tôi. Hồi mới bỏ thuốc lá, tôi không những thấy sức khỏe của mình được phục hồi mà còn vui gấp bội vì mỗi tháng tôi để dành được không dưới ba trăm Úc kim để giúp cho một hai gia đình người thân ở quê nhà có thể sống được cả tháng.
Bớt một chút tiêu xài để cảm thấy được “tự do thanh thoát” hơn đã đành, mà cũng để cảm thông hơn với những người đang thiếu thốn: đó là lý do khiến tôi cứ “đi không rồi lại về không”!
Tuần vừa qua, nhân Tuần lễ Tỵ nạn do Liên hiệp quốc tổ chức, đài truyền hình SBS cho chiếu phóng sự có tựa đề “Go back to where you came from” (trở về nơi bạn đã ra đi). Hình ảnh sinh hoạt trong một số trại tỵ nạn và cuộc sống khốn khổ tại một số quốc gia được ghi lại trong phóng sự xem ra chẳng nhằm nhò so với kiếp đọa đày trong các chế độ cộng sản, cuộc vượt biên đi tìm tự do trong cái chết và những ngày vất vưởng trong một số trại cấm của nhiều người Việt nam chúng ta. Nhưng đối với 6 người tiêu biểu cho dân Úc được tuyển chọn để đi ngược lại cuộc hành trình tìm tự do của người tỵ nạn “thời nay”, thì quả thực đây hẳn phải là một kinh nghiệm để đời. Những phát biểu ở cuối bài phóng sự đã nói lên sự “đổi đời” của những người này. Ít ra, giờ đây, họ biết cảm thông hơn và hiểu được lý do tại sao có những người dám bỏ lại tất cả, hơn nữa, liều mạng sống của mình để mua lấy hai chữ tự do. Hình ảnh chiếc thuyền tỵ nạn bị đánh vào ghềnh đá của Christmas Island, vỡ tan tành và kéo theo bao nhiêu người xuống lòng biển dạo tháng 12 năm ngoái, không còn là một vấn đề “tầm trú” để mang ra tranh luận và đấu đá nhau nữa, mà là mũi dao chọc thẳng vào những lương tâm còn biết động lòng trắc ẩn và cảm thông. Hẳn phải nếm trải những cơ cực và thiếu thốn, con người mới có thể cảm nhận được phần nào những khổ đau của người đồng loại. Tôi tin chắc rằng 6 người Úc được may mắn đi ngược lại cuộc hành trình của những người tầm trú và tất cả những ai theo dõi cuộc hành trình của họ trong tuần qua trên màn ảnh, giờ đây hẳn thấy “cảm thông” hơn với những người kém may mắn hơn mình.
Cuộc sống dư dật về vật chất, an toàn về xã hội dễ khiến cho con người bị cuốn xoáy trong dòng nước của chủ nghĩa tiêu thụ. Ông Karl Rabeder, một triệu phú người Áo đã dùng tất cả tài sản của mình để giúp cho một số dự án phát triển tại Châu Mỹ Latinh và lui về sống ẩn dật tại một nơi hẻo lánh, đã nhận định về thế giới kinh doanh và xã hội tiêu thụ như sau: “Họ bảo chúng ta phải sắm sửa để được hạnh phúc. Nhưng vì những thứ ấy không làm cho chúng ta hạnh phúc cho nên chúng ta cứ mua sắm mãi…Chúng ta giống như những con cừu: ở bên trái, chúng ta nghe một con chó sủa khiến chúng ta lo lắng về cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu và về việc chúng ta có thể mất công ăn việc làm; ở bên phải lại có một con chó khác cũng sủa để cảnh cáo chúng ta về sự cần thiết phải mua bảo hiểm thật đắt để phòng ngừa trường hợp đau yếu. Do đó, chúng ta cật lực làm việc cho tương lai đến độ không thể sống cho ngày hôm nay…Tôi đã trải nghiệm điều đó, vì tôi đã bỏ cả cuộc đời để trở nên giàu thêm nhưng lại cảm thấy khốn khổ hơn.” (Reader’ Digest, ấn bản Úc châu, số ra tháng 7/2011)
Thực ra, không phải tất cả mọi người giàu có đều chỉ biết làm giàu và bất hạnh. Noi gương hai tỷ phú Bill Gates và Warren Buffet, ngày càng có nhiều cự phú và tài tử giai nhân giàu có trên thế giới biết đóng góp vào các công cuộc từ thiện và phát triển. Nếu có hưởng nếm được một chút niềm vui hay hạnh phúc đích thực, thì hẳn không phải vì họ đang ngồi ngất ngưỡng trên núi tiền của mình, mà chỉ vì họ đã biết “san bằng” núi tiền đó cho những người bất hạnh cùng khổ.
Xuất thân từ một gia đình nghèo, ngay từ thuở nhỏ, ông Rabeder đã biết giá trị của đồng tiền. Ở tuổi thiếu niên, ông đã biết làm việc để dành dụm tiền bạc và tự trang trải học phí của mình. Ra đời, nhờ tài trí và siêng năng, ông kiếm tiền một cách dễ dàng. Nhưng rồi đến một lúc, ông tự hỏi: “Phải chăng kiếm tiền, sản xuất ra những thứ mà không ai thực sự cần đến là mục đích của cuộc đời?”  Câu hỏi này dầy vò ông đến cực độ trong chuyến đi nghỉ hè với vợ tại Hawaii năm 1998. Suốt hơn ba tuần lễ sống trong một khách sạn sang trọng, ông ghi nhận một điều lý thú: “Ở đây không có những con người sống thực, mà chỉ có những diễn viên. Các nhân viên (khách sạn) diễn vai của những người thân thiện và hữu ích, trong khi đó những người khách trọ thì lại đóng vai của những người muốn nói: “Nhìn đây, tôi là người quan trọng”.
Theo ông Rabeder, bộ mặt thật của những người giàu có thường là bất hạnh, buồn bã, bất an. Trong những chuyến đi Châu Mỹ Latinh, ông thường quan sát thấy nhiều người ở những nước kém phát triển xem ra sống hạnh phúc hơn người dân của các nước phát triển. Ông nói: “Mỗi lần từ El Salvador bay về Frankfurt, tôi thường nhìn những gương mặt của những người xung quanh và tự hỏi: “Phải chăng vừa mới có một cuộc tấn công khủng bố?” Tôi chợt nhận ra rằng những bộ mặt đầy âu lo là tiêu biểu của thế giới phát triển. Nói về hạnh phúc thì Âu châu, Nhựt bản và Hoa kỳ là những nước kém phát triển. Ở thế giới thứ ba, tôi đã gặp nhiều người chẳng có mấy chọn lựa trong cuộc sống nhưng lại là những người có thể sống giây phút hiện tại. Tôi bắt đầu ý thức rằng tôi không cần có ngôi nhà tôi đang có tại Provence, những chiếc xe đẹp, những bữa ăn đắt tiền. Bước kế tiếp là phải đi vào quan hệ với người khác.” (sđd trang 99)
Được “giác ngộ” như thế cho nên ông Rabeder đã quyết định xử dụng toàn bộ tài sản của mình để tài trợ cho các dự án phát triển và giáo dục tại Châu Mỹ Latinh và lui về ở ẩn tại một vùng núi bên Áo với thu nhập vừa đủ cho mọi chi dụng cần thiết mỗi ngày. Ông thường trích dẫn câu ngạn ngữ của người Đức “muốn sống hạnh phúc hãy sống đơn giản”. Trước tuổi 40, ông luôn luôn tự hỏi: “Tôi có thể làm điều gì?” Nhưng sau đó, ông chỉ còn biết tự nhắc nhở chính mình: “Đâu là điều quan trọng đối với tôi?”
Có thể đó chưa phải là câu tâm niệm thường ngày của tôi. Nhưng cứ mỗi lần đi phố để   mua sắm, nhứt là quần áo, tôi cứ phải tự hỏi “Tôi có cần mua không?” Kinh nghiệm cho thấy, ham rẻ tôi mua thật nhiều về bỏ đó, mà không bao giờ đụng tới. Điều này đúng không những đối với quần áo mà còn cả đối với các thứ gia dụng khác. Con người đói con mắt hơn cái bụng. 
“Chủ nghĩa tiêu thụ tạo ra và nuôi dưỡng lòng khao khát của con người đối với những của nay còn mai mất. Chúng tạo ra và nuôi dưỡng cái cảm thức cho rằng hạnh phúc hệ tại ở sự chiếm hữu được món này món nọ. Chúng ta bị điều kiện hóa để không bao giờ thỏa mãn với mức mình đạt được, trái lại muốn có “nhiều hơn nhiều hơn mãi” qua việc không ngừng tăng cường hiệu xuất làm việc của mình.” (Timothy Vaverek, Houston Catholic Worker, Vol 21, No.1, January 2001, bản dịch trong Vietcatholic). Theo tác giả, nỗi thèm khát về một cuộc sống đầy đủ hơn làm xáo trộn đời sống cá nhân và kinh tế của con người. Vì không hài lòng với những gì mình có và vì không bao giờ cho phép mình an phận, con người cứ tìm kiếm và chiếm hữu nhiều hơn. Và dĩ nhiên để có nhiều hơn thì phải làm việc nhiều hơn. Rốt cục con người trở thành nô lệ cho lòng tham không đáy, nô lệ cho tiền bạc, nô lệ cho những áp lực của công việc vốn “ngốn” hết thời gian cần cho những sinh hoạt tinh thần và gia đình. “Các đôi vợ chồng và các gia đình không còn thời gian dành cho nhau vì ai cũng quá bận rộn theo đuổi trăm ngàn công việc của mình. Họ hối hả từ sáng sớm cho đến chiều tối. Kết quả là họ thường phải xén bớt một hay hai tiếng của giấc ngủ mỗi buổi tối. Họ thường xuyên mệt mỏi và thỉnh thoảng, nếu có được chút thời gian rỗi rảnh, thì họ lại sà tới trước màn ảnh Truyền Hình, VCR hay Computer.” (bài đã dẫn). Đã không có thời giờ dành cho gia đình, người thân thì nói gì đến những người xa lạ, những người khốn khổ ngoài đường, những người cần được giúp đỡ, những người kém may mắn hơn mình.  Và đây cũng chính là cái vòng lẩn quẩn của xã hội tiêu thụ. Người ta đi tìm kiếm hạnh phúc ở những thứ chỉ mang lại bất hạnh, bất an mà thôi. Trong khi đó, chính cuộc sống đơn giản và nhứt là sự cảm thông, chia sẻ, phục vụ mới mang lại ý nghĩa cho cuộc sống.  Đây là câu trả lời cho câu hỏi mà ông Rabeder thường nêu lên: “Đâu là điều quan trọng đối với tôi?”
Chắc phải trúng số thì may ra tôi mới được xếp vào giai cấp “giàu có” , tức có số thu nhập từ 150 ngàn Úc kim trở lên, như được chính phủ Lao động qui định. Nhưng tôi xác tín rằng với một ít đồng xu nhỏ mà tôi cắc củm dành dụm từng ngày nhờ những cắt xén chi tiêu không cần thiết để chia sẻ cho những người túng thiếu, tôi nghiễm nhiên thấy mình “giàu có” hơn. Tiêu xài, mua sắm, rượt theo hàng “sale” thấy cũng mệt, bỏ vào cái phong bì “Winter Appeal” để mua áo ấm cho trẻ em nghèo có vẻ dễ hơn. Ai xài thì cũng tốt cho nền kinh tế thôi. “Của đồng lần thiên hạ tiêu chung.”








Thứ Sáu, 6 tháng 3, 2015

Sống thọ


Chu Thập
26.2.15

Tôi sinh cuối năm Bính Tuất. Tính theo “tuổi Tây”, tôi chỉ mới 68 tuổi. Ở tuổi này, nhiều người vẫn thấy mình còn trẻ chán!  Nhưng mấy thày tử vi Đông Phương lại quá quảng đại cho nên đã tặng thêm cho tôi tới 2 tuổi và xếp tôi vào hạng “thất thập cổ lai hy”. Dù sao, cứ mỗi lần được hưởng thêm một cái Tết, tôi thầm cám ơn trời vì đã cho tôi tiến thêm một bước trong tuổi thọ. Thành ra cứ mỗi dịp đầu năm Âm lịch, tôi lại ngẫm nghĩ về tuổi thọ của tôi.

Tạp chí Time, số kép ra ngày 23 tháng 2 và mùng 2 tháng 3 này, trùng vào dịp Tết Âm lịch, đã dành hầu hết những trang chính cho chủ đề tuổi thọ của con người thời đại. Nhân dịp “ăn chay” theo tinh thần Kitô giáo, tôi đã được các “đạo sĩ” về tuổi thọ hướng dẫn để không chỉ sống thọ mà sống một cuộc sống có giá trị và ý nghĩa hơn.
Ăn uống như thế nào để kéo dài tuổi thọ? Con người của những xã hội thừa mứa đồ ăn thức uống thường chỉ nghĩ đến kỷ luật trong việc dinh dưỡng như một phương cách ngắn hạn để giảm cân. Trong khi đó ăn uống như thế nào để được sống lâu và lành mạnh lại nhấn mạnh đến việc phòng ngừa bệnh tật. Ngày nay, tại hầu hết các nước văn minh, bệnh tim mạch hiện đang là tên sát nhân âm thầm số một đối với nhiều người. Nhiều chuyên gia tin rằng cách dinh dưỡng tốt nhứt để đề phòng các thứ bệnh về tim mạch phải bao gồm nhiều rau quả, hạt và một ít chất béo. Đây là cách dinh dưỡng của phần lớn người Âu Châu, cách riêng tại vùng Địa Trung Hải. Dân cư tại vùng này ăn nhiều cá, trái cây, rau tươi và dầu Oliu (nhứt là loại có ghi thêm “Extra Virgin”, tức loại dầu có được chỉ bằng cà nát trái Oliu để lấy nước mà không cần thêm bất cứ hóa chất nào).
Theo tạp chí Time, năm 2009, các nhà nghiên cứu  tại Hoa Kỳ đã tập trung được khoảng trên 7 ngàn người có nguy cơ cao bị bệnh tim. Những người này được đề nghị ăn uống theo cách dinh dưỡng của người Địa Trung Hải. Sau một thời gian theo dõi, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng những người ăn uống theo cách dinh dưỡng này đã giảm bớt được nguy cơ bị đột quỵ hay tai biến mạch máu não đến 30 phần trăm.
Song song với cuộc nghiên cứu trên đây, vào năm 2014, kết quả của một cuộc nghiên cứu khác tại Hoa Kỳ cũng cho thấy rằng những người Mỹ ở tuổi trung niên nào ăn nhiều thịt thường dễ chết vì bệnh ung thư và nhiều chứng bệnh khác. Giáo sư Valter Longo, giám đốc Viện Sống Thọ thuộc trường đại học Nam California, Hoa Kỳ khuyên người ta nên giảm bớt chất đạm, nhứt là từ thịt, nếu muốn sống lâu.
Điều khiến tôi tâm đắc nhứt là bên cạnh việc giảm bớt chất đạm, các nhà khoa học khuyên chúng ta nên ăn ít hơn và thỉnh thoảng nên “ăn chay”, nghĩa là không ăn gì cả trong một thời gian ngắn. Điều này đúng quá đi thôi, bởi vì con người ta xem ra chết vì no nhiều hơn là vì đói.
Còn có một điều khác nữa mà các “đạo sĩ” về dinh dưỡng đều đồng ý với nhau là: nên bớt ăn đường, nhứt là đường trong các thức ăn chế biến sẵn. Đường và muối là hai thứ gia vị làm cho thức ăn ngon. Mà khổ nỗi, trong ăn uống, hễ cái gì ngon miệng thì thường lại hại nhiều hơn lợi.
Nhưng các nhà dinh dưỡng học xem ra cũng nói chuyện huề trớt khi bảo rằng có dinh dưỡng tốt cách mấy mà thiếu vận động cơ thể thì cũng như không. Thành ra, phải xem việc tập thể dục như một “thành phần” không thể thiếu trong dinh dưỡng.
Lần bước theo các “đạo sĩ” về bí quyết sống thọ, tôi mới biết thêm rằng những người có gia đình thường có tuổi thọ cao hơn người độc thân. Vào tuổi trung niên mà có một người bạn đời bên cạnh sẽ giúp chữa trị và phòng ngừa được nhiều bệnh tật. Một cuộc nghiên cứu do một nhóm giáo sư tại trường đại học Iowa, Hoa Kỳ thực hiện năm 2013 cho thấy những người không bao giờ lập gia đình có nguy cơ chết sớm cao gấp hai lần so với những người có cuộc sống hôn nhân ổn định. Các chuyên gia về tuổi thọ nhận thấy có mối liên hệ sâu xa giữa cuộc sống lành mạnh và sự nâng đỡ của người bạn đời. Khi ta luôn có một người bên cạnh, ta được nhắc nhở để đi khám bác sĩ, để uống thuốc hoặc để vận động cơ thể và ăn uống có kỷ luật. Nếu ta chẳng may lỡ té thì cũng có người bên cạnh để giúp đỡ kịp thời. Những người có gia đình cũng sẽ dễ dàng có cuộc sống lành mạnh hơn như tập thể dục và bỏ hút thuốc nếu người bạn đời của mình cũng làm như thế. Nhưng dĩ nhiên, không phải cuộc sống hôn nhân nào cũng đều giúp cho con người sống khỏe và sống thọ. Vợ chồng mà sống với nhau như kẻ thù, gấu ó, cãi cọ và ngay cả đánh nhau như cơm bữa hoặc sống chung dưới một mái nhà như người dưng nước lã...sẽ có nhiều kích thích tố gây căng thẳng trong máu, hệ thống miễn nhiễm yếu cũng như khả năng tiêu hóa chậm lại. Nói chung, cách con người đối xử với nhau hàng ngày không thể không ảnh hưởng đến sức khỏe thể lý. Thành ra muốn sống thọ hay khỏe mạnh, hãy xây dựng một cuộc sống hôn nhân hạnh phúc.
Khi bàn về tuổi thọ, tạp chi Time cũng nêu lên một trường hợp khá lý thú: hầu hết các tổng thống Mỹ đều sống thọ, mặc dù trên thế giới này có lẽ chẳng có công việc nào tạo căng thẳng cho bằng làm tổng thống của cường quốc số một này. Lý do thật đơn giản: các tổng thống Mỹ được chăm sóc sức khỏe rất kỹ lưỡng, ngay cả sau khi rời khỏi chức vụ. Ngoài ra, lúc tại vị cũng như khi về hưu, ông tổng thống Mỹ nào cũng tập cho mình thói quen tập thể dục. Ít nhứt kể từ giữa thập niên 1970, hầu như vị tổng thống Mỹ nào cũng đều có chương trình tập thể dục đều đặn. Tổng thống Ford có thói quen đi bơi và trượt tuyết. Tổng thống Carter chạy bộ hầu như mỗi ngày. Riêng Tổng thống Reagan thích chặt cây và cử tạ. Còn Tổng thống Bush con thì đi xe đạp. Cha ông là Tổng thống Bush Sr còn đi xa hơn trong việc vận động cơ thể: mỗi ngày ông chơi đến 3 hoặc 4 môn thể thao khác nhau. Ở vào tuổi 90, ông còn thử sức khi nhảy dù và nhào lộn trên không.
Nhưng có một việc làm có ý nghĩa mà hầu như tổng thống Mỹ nào khi về hưu cũng đều lăn xả vào là hoạt động từ thiện. Tổng thống Bill Clinton mở chiến dịch “Global Initiative” (Sáng kiến toàn cầu chuyên thúc đẩy các nhà lãnh đạo thế giới tìm kiếm những giải pháp thiết thực cho những thách đố khẩn cấp nhứt của thế giới). Còn Tổng thống George W. Bush thì lại dành trọn thì giờ để chăm sóc các cựu chiến binh. Bên cạnh những hoạt động từ thiện đầy ý nghĩa ấy, hầu hết các cựu tổng thống Mỹ đều nghĩ đến “di sản” mà họ muốn để lại cho hậu thế. Tổng thống Clinton muốn kéo dài sự nghiệp của mình qua việc tiếp sức cho bà vợ Hillary Clinton trong cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc vào năm tới. Tổng thống Bush thì dĩ nhiên cũng hy vọng gỡ gạc danh tiếng qua cuộc tranh cử của ông em Jeb Bush. Tựu trung, theo tạp chí Time, dấn thân vào một công việc có ý nghĩa có thể giúp kéo dài tuổi thọ của con người.
Nhưng thế nào là một việc làm có ý nghĩa? Nhiều người cộng sản Việt Nam đã nhắc đến gương của ông Võ Nguyên Giáp. Sống đến 103 tuổi như ông, đối với một người Việt Nam, quả là đại thọ. Người ta ca tụng đủ mọi “nhân đức” của ông. Nhưng có bao giờ ông nghĩ đến vai trò của ông trong cuộc chiến do cộng sản gây ra khiến cho bao nhiêu mạng người vô tội phải bị tế sát trên bàn thờ của một thứ chủ nghĩa vô luân không? Đó có phải là một cuộc sống thực sự có ý nghĩa không? Tôi tin chắc là giờ này, ông tướng “đại thọ” này hẳn đã nhận ra được đâu là cuộc sống có ý nghĩa và cuộc sống không có ý nghĩa.
Trên bia mộ của nhà văn Mai Thảo ở nghĩa trang Peek Family giữa thủ đô người Việt tỵ nạn tại California, Hoa Kỳ, người ta đã khắc bốn câu thơ của ông:
“Thế giới có triệu điều không thể hiểu
Càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao, khi đã nằm trong đất
Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi”.
Tôi tin chắc rằng một cây đại thụ cộng sản khác là Đặng Tiểu Bình (1904-1997), người đã ra lệnh sát hại không chút xót thương đoàn người biểu tình đòi dân chủ tại Quảng trường Thiên An Môn ngày 4 tháng 6 năm 1989, giờ này chắc chắn sẽ lắng nghe lời kêu gọi của nhà văn Mai Thảo để “đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi” và nhận ra được thế nào là một cuộc sống thật sự có ý nghĩa.
Tôi không biết giờ này, cây đại thụ cộng sản gộc khác là Fidel Castro (năm nay đã 89 tuổi) đã nhận ra được đâu là một cuộc sống có ý nghĩa chưa, nhứt là sau 50 năm độc quyền cai trị đất nước bằng bàn tay sắt để chỉ mang lại lạc hậu, khổ đau cho cả dân tộc.
Nghĩ về tuổi thọ của những người cộng sản, tôi không thể không liên tưởng đến câu kết trong truyện “Ông Bình Vôi” của nhà văn Phan Khôi (1887-1959) được đăng trong  “Giai Phẩm Mùa Thu”, tập I: “Những kiếp người sống lâu trăm tuổi. Y như một cái bình vôi. Càng sống càng tồi. Càng sống càng bé lại”.
Nhà văn Phan Khôi và các văn hữu của ông trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, nếu có bị trù dập cho đến chết, cũng vì đã có cái nhìn như thế về tuổi thọ.
Cũng như bao nhiêu người trong cõi nhân sinh này, tôi sợ chết và ham sống. Cũng như lão tiều phu của thi sĩ Pháp Jean de la Fontaine, dù có vất vả khổ đau cách mấy, tôi vẫn muốn sống và càng sống lâu được bao nhiêu càng tốt. Khoa học ngày càng có khả năng kéo dài tuổi thọ của con người. Tạp chí Time cho đăng ở trang bìa hình của một cậu bé một tuổi kèm với chú thích “đứa bé này có thể sống đến 145 tuổi”.  Tôi tin rằng khoa học có thể đẩy lùi biên giới của sự chết. Nhưng tôi lại không nắm chắc được rằng tôi sẽ sống được bao lâu nữa. Thật ra, không hẳn cuộc sống có ý nghĩa có thể kéo dài tuổi thọ của con người. Những “ông bình vôi” cộng sản “thọ” có thua gì mấy ông tổng thống Mỹ đâu. Nghĩ cho cùng, như nhiều nhà hiền triết và bậc thức giả không ngừng nhắn nhủ, điều quan trọng không phải là tuổi thọ mà là phẩm chất của cuộc sống. Hay đúng hơn, “tuổi thọ” đích thực của con người không được đo lường bằng chiều dài của năm tháng cho bằng một cuộc sống có ý nghĩa. Và một cuộc sống có ý nghĩa và có giá trị, như sự chấp nhận thông thường của loài người, là cuộc sống yêu thương và phục vụ.
Ở khởi đầu năm mới, tôi thường lập lại một số quyết tâm và một trong những quyết tâm đó là cố gắng sống khỏe, sống có kỷ luật để phòng ngừa bệnh tật. Dĩ nhiên để được sống lâu, nhưng quan trọng hơn để có một cuộc sống có ý nghĩa và giá trị hơn như cố mục sư Martin Luther King,Jr (1929-1968) đã khuyên: “Điều quan trọng không phải là tuổi thọ mà là phẩm chất của cuộc sống”.



Thứ Hai, 2 tháng 3, 2015

Những giấc Nam Kha


Chu Thập
30.06.11


Như mọi người, tôi thường nằm chiêm bao. Và cũng như mọi người, tôi thường quên béng sau khi thức dậy. Theo các nhà khoa học, người ta thường nằm mơ từ 4 đến 7 tiếng đồng hồ mỗi đêm. Như vậy, “sinh hoạt” trong những giấc chiêm bao cũng chiếm không dưới một phần sáu cuộc đời của tôi. Thế nhưng, điều ấy cũng chẳng làm cho tôi quan tâm đến chuyện “mơ mộng”. Đơn giản bởi vì tôi nghĩ rằng điều gì nằm ngoài sự điều khiển của ý thức thì quan tâm đến để làm gì, chỉ tổ ôm thêm một đống âu lo không đi tới đâu mà thôi. Tôi sợ nhứt là cứ phải đêm đến mơ thấy có kẻ thù định giết mình, sáng ra cứ ngồi trước ngõ mà chờ hắn, nhưng chờ hoài không thấy kẻ thù mà chính mình cứ phải chết dần chết mòn trong thù hận.
Khi còn là một nhóc con, tôi nổi tiếng trong nhà vì vừa chiêm bao lia chia vừa chạy chơi lung tung khắp chốn. Tôi nghĩ giấc mơ tuổi thơ của tôi thời thập niên 1950 chắc cũng không khác gì giấc mơ của hầu hết trẻ em Việt Nam hôm nay: mơ thấy đói lả, thấy được ăn những món ăn ngon, được mặc quần áo đẹp, và nhứt là thấy mình được chơi đùa thỏa thích mà không phải đi học. Đến thời thanh niên trai trẻ, đặt lưng xuống là đi ngay, tôi chẳng nhớ gì cả, ngoại trừ những cơn ác mộng thấy bị...công an xét giấy, đi vượt biên bị “bể” phải chạy thục mạng hay khi đã định cư tại Đệ Tam quốc gia mà vẫn mơ thấy mình còn đang kẹt tại quê nhà. Những lúc đó tỉnh dậy, toát mồ hôi trán, mừng hết lớn! Còn bây giờ, ở tuổi “ngang tầm thời đại” với các bác cao niên, tôi có thể nhớ những giấc chiêm bao một cách rõ ràng hơn. Đôi khi cũng có tình tiết “đàng hoàng” để tôi có thể làm cho nhà tôi cười mệt nghỉ trong buổi ăn sáng. Mà thực vậy, trong giấc mơ, câu chuyện hợp lý, nhiều tình tiết và hấp dẫn bao nhiêu thì khi kể lại, chúng buồn cười, vô lý và chẳng ra đầu đuôi tai nheo gì cả. Nhưng dù sao, tôi thấy mình cũng vẫn may mắn hơn các em bé ở Việt nam ngày nay. Tôi tin chắc như đinh đóng cột rằng mình chưa bao giờ bị “hôm qua em mơ gặp Bác Hồ”. Nếu một đêm nào mà tôi rủi mơ trúng chuyện này thì chắc tôi sẽ...trốn chui trốn nhủi ngay trong giấc chiêm bao của mình chứ dứt khoát không còn mặt mũi nào để thức dậy nhìn đời được nữa.
Có lúc tôi tự hỏi mình có mắc chứng dementia (lú lẫn) không. Bởi vì có những chuyện từ cái thuở hồi nẳm, có những người tôi còn không nhớ nổi tên tuổi, có những khung cảnh, nơi chốn, những sinh hoạt thời mới có trí khôn...bỗng dưng thỉnh thoảng “trồi” lên một cách sống động trong những giấc chiêm bao của tôi. Không lẽ bộ não của tôi đã mòn hết bên ngoài để lộ ra tới lớp trong cùng rồi hay sao? Nhưng thôi, cũng không hề chi. Bởi vì chuyện chiêm bao không hề làm cho cuộc sống của tôi sứt mẻ đi chút nào mà trái lại, tôi thấy mình hằng đêm được đi chu du khắp chốn, thăm người này một chút, ghé chỗ kia một chút. Sướng nhứt là vừa không tốn tiền, tốn thì giờ, cũng không phải ngồi máy bay ê lưng vừa có những cuộc hội ngộ hết sức bất ngờ, cảm động ở khắp mọi nơi trên thế giới. Buồn cười nhứt là có bữa tôi chiêm bao thấy mình đang tham dự như là một thành viên của Quốc hội Hoa kỳ!! Cũng may, trong giấc mơ, dù thấy mình tự dưng “cũng ngang hàng như người ta” tôi khoái chí lắm nhưng chỉ dám ngồi yên chứ không đủ can đảm để tính tới chuyện “phân hóa nội bộ” nước Mỹ như chủ tịch Nguyễn Minh Triết. Kể cũng thật lý thú.
Giấc chiêm bao tự nó không mang đến một hệ quả nào cả nếu như không có một lời giải thích mà dựa theo đó người ta tạo thành hiện thực. Một trong những câu chuyện chiêm bao nổi tiếng được ghi vào lịch sử xa xưa nhứt của nhân loại có lẽ là chuyện ông Giuse giải thích những giấc chiêm bao của  vua Pharaon bên Ai Cập. Kinh Thánh Do Thái Giáo ghi lại rằng, ông Giuse là một người có tài giải nghĩa chiêm bao. Cũng vì chuyện này mà ông bị các anh em ghét bỏ đến độ định giết bằng cách quăng vào một cái giếng sâu. Cuối cũng họ quyết định bán ông cho lái buôn cho khuất mắt. Lưu lạc đến Ai cập, ông phải phục vụ trong nhà một quan thái giám của vua Pharaon. Ông được tin cẩn và khen thưởng vì sự khôn ngoan và siêng năng. Ông cũng được biết đến vì những lời giải mộng. Một lần trong tù, ông được yêu cầu giải thích về giấc mơ của hai người bạn tù là hai ông quan trong triều đình của Pharaon. Lời giải thích của ông hoàn toàn chính xác để sau đó một ông được phục chức trong khi ông kia lại bị bay đầu.
Thế nhưng phải đợi đến khi cả nước Ai cập bị “bí” trước những giấc mơ của Pharaon, ông Giuse mới thực sự trở nên nổi tiếng và trở thành ân nhân cho không những toàn cõi Ai cập mà còn cho cả gia đình của ông bao gồm cả mấy ông anh “trời đánh” đã nhẫn tâm tìm cách làm hại ông. Pharaon nằm chiêm bao thấy bảy bông lúa lép và xấu nuốt chửng bảy bông lúa mẩy và chắc. Một giấc chiêm bao khác thì bảy con bò gầy guộc xấu xí nuốt chửng bảy con bò đẹp đẽ béo tốt. Không ai giải thích được kể cả các thày phù thủy Ai cập. Cuối cùng, anh chàng Hipri nô lệ Giuse được gọi đến. Lần này lời giải thích của ông không gây đổ máu, cũng không liên quan gì đến một nhóm “thất nhân bang” nào trong triều đình. Ông đã giải thích giấc chiêm bao của Pharaon như ngày nay khoa học giải thích về hiện tượng La Nina và El Nino: Ai cập sẽ có bảy năm mưa thuận gió hòa và nối tiếp bằng bảy năm khô hạn mất mùa. Ông cũng đưa ra những lời khuyên thiết thực để có thể đối phó với hoàn cảnh.
Nhờ lời giải mộng này, Giuse trở thành tể tướng Ai cập. Ông cũng giúp đỡ và đưa gia đình cha mẹ anh em sang Ai cập tránh nạn đói và định cư, sinh sôi nảy nở thành một cộng đồng Do thái lớn mạnh sau này.
Thời nay, tìm được một ông Giuse trong Kinh Thánh không phải là dễ, nhưng những ông tiên tri “nói thánh nói tướng” thì ở đâu và thời nào cũng vô số kể. Tôi không tin ở lời giải mộng của các tiên tri ấy. Cùng lắm tôi chỉ tìm đến các đệ tử của Sigmund Freud để nhờ giúp “đào sâu” trong tiềm thức của tôi để xem tại sao tôi thường mơ về chuyện này mà không về chuyện khác. Với tôi, những giấc chiêm bao cũng chỉ là những sinh hoạt thường ngày trong đời sống chứ không như một điều cần phải “giải mã”. Hơn nữa, là một kẻ vô danh tiểu tốt, tôi tin rằng dù cho tôi có mơ một giấc mơ vĩ đại đến đâu thì cũng không thể trở thành một một mục sư Martin Luther King để giúp người da đen với bài diễn văn nổi tiếng “I Have a Dream” (tôi mơ một giấc mơ) hay làm thay đổi được bất cứ điều gì kể cả làm cho một cọng cỏ biến mất. Bởi vì ngay cả khi tỉnh thức “đàng hoàng”, nếu như muốn cho cọng cỏ biến mất, tôi có vận dụng toàn bộ sức mạnh ý chí cũng không thể làm được ngoại trừ...cho nổ máy cắt cỏ.
Thế nhưng khi nghiệm lại những giấc chiêm bao, tôi thấy rằng ngay cả trong khi mơ, tôi cũng không thoát khỏi “bàn tay sắt” của ý chí. Cái gì tôi biết là xấu, bị cấm hay phạm pháp, tôi không thể làm được trong chiêm bao dù tôi thấy mình rất muốn thử. Chẳng hạn, trong thời gian tôi cữ ngọt theo lời khuyên của bác sĩ, thì trong lúc chiêm bao, tôi thấy mình được mời ăn những món khoái khẩu như bánh bò, bánh trôi, chè đậu ván, chè đậu đỏ...Thế nhưng dù mơ đi mơ lại, dù thấy đủ món ngon, của ngọt, cứ hễ sắp ăn thì y như rằng có những chuyện gì đó xảy ra để rồi không ăn được. Khi còn phì phèo, trong mơ tôi hút thuốc liên chi. Vậy mà sau khi bỏ thuốc, hễ được mời thì tôi cũng không sao tìm ra hột quẹt, cứ cầm điếu thuốc vân vê. Cũng vậy, thời “ra đi không có ngày về”, hễ nằm chiêm bao thấy hè đến chuẩn bị về thăm nhà là thế nào cũng có “sự cố” xảy ra. Tìm được chỗ trên xe đò thì rồi cũng phải xuống xe vì mấy “ổng” đắp mô. Dùng đường hàng không thì nếu không đến phi trường trễ thì cũng làm mất vé máy bay. Lên được máy bay thì lại bị đình hoãn...
Một đêm, tôi chiêm bao thấy mình được chứng kiến một mẩu đối thoại giữa Chúa Cha và Chúa Giêsu. Tôi thấy Chúa Giêsu vừa từ trần gian quay trở về Thiên đàng sau khi hoàn tất sứ mạng Cứu Chuộc loài người. Chúa Cha giang tay ra đón Chúa Con và hỏi:
“Này con, trong thời gian sống nơi trần thế, cái gì con thấy là khó làm nhứt?”
Tôi chờ đợi và đoán câu trả lời sẽ là “sứ mạng Cứu Chuộc”. Thế nhưng, bé cái lầm.
Chúa Con đắn đo một lúc rồi từ tốn trả lời:
“Thưa Cha, con thấy cái khó nhứt là làm NGƯỜI!!...”
Đến đó thì tôi tỉnh giấc. Thấy chưng hửng ngạc nhiên và tức cười. Nhưng cũng thấy có cái gì quen quen. Giấc chiêm bao đang “vạch” chính “áo” của tôi lên để tôi được “xem lưng” chính mình.
Thực vậy, có rất nhiều định nghĩa về Thiên Chúa như Chúa các Đạo binh, Đấng Toàn Năng, Thẩm Phán tối cao...Thiên Chúa trong tôi luôn chỉ là hình ảnh một người Cha bình dị nhưng có một tình thương, sự quan tâm, gần gũi, độ lượng vô bờ bến với tất cả chúng sinh.
Có điều tôi đã mang cả nỗi thao thức của chính mình vào giấc chiêm bao: Cho đến bây giờ, cho dẫu đã bước vào giai đoạn cuối của một “kiếp người”, tôi phải thú nhận rằng, trong cuộc đời này, chuyện khó nhứt mà tôi chưa làm được vẫn là chuyện LÀM NGƯỜI.
Mới đây, tôi đã say mê đọc hồi ký “Ngàn Giọt Lệ Rơi” của bà Yung Krall- Đặng Mỹ Dung, vừa mới được phát hành tại Úc đại lợi. Tác phẩm không chỉ ghi lại thảm kịch đau thương của một gia đình ly tán vì ý thức hệ hay một câu chuyện trinh thám hồi hộp. Đối với tôi, hồi ký của bà Đặng Mỹ Dung còn là một cuốn sách “học làm người”. Xuyên suốt cuốn sách của bà là những trang ghi lại những cuộc chiến đấu giữa thiện và ác, giữa chính nghĩa và gian tà, giữa lương tâm và vô đạo, giữa nhân tính và thú tính. Tác giả cho biết ngay từ tiểu học, “những gì trường dạy hay, tôi biên vô cuốn tập riêng để thực hành. Không có ba thì có trường, có cô giáo; tôi nghĩ như vậy.
Tôi gò từng chữ trong cuốn tập “học làm người”.
Không phá của công;
Không xả rác ngoài đường;
Phái nhường ghế cho người già, đàn bà có thai trên xe đò;
Dắt em bé hay cụ già qua đường;
Không gian lận.” (trang 119)
Đặc biệt tác giả thường nhớ lại lời “vàng ngọc” của ông ngoại mình: “Làm người khó làm chó dễ”. Mặc dù con và rể trong nhà theo kháng chiến chống Pháp và sau đó chạy theo lý tưởng cộng sản, ông vẫn thề không đội trời chung với cộng sản. Mỗi lần nhắc đến Hồ Chí Minh, ông đều gọi “thằng chó đẻ”. Có lẽ vì hay nghĩ đến “thằng chó đẻ” này mà ông cứ tâm niệm câu “làm người khó làm chó dễ”.
Ngay từ thuở bé, tác giả Đặng Mỹ Dung đã nhận thấy rằng thực hành được lời dạy của ông ngoại không phải là chuyện dễ. Tác giả kể lại: “Vậy mà cũng có lần, vì làm biếng, sợ khó khăn, tôi đã liều nói với ông tôi: “Thôi bữa nay ông cho cháu làm chó đi”. Ông nhìn tôi một lúc, tỏ vẻ thất vọng, rồi dịu dàng nói: “Hễ muốn làm chó, cháu phải đi bốn chưn, rồi được ăn, được ngủ, được vui chơi, khỏi học bài, khỏi làm việc trong nhà, được chị em và cả ông bà hầu hạ suốt ngày”. Tôi mắc cỡ không đòi làm chó nữa.” (sđd trang 219)
Quả thực, “làm người khó làm chó dễ”. Làm chó dễ bởi vì thú vật không có ý thức, không có suy nghĩ, không phải đắn đo, không phải chọn lựa giữa thiện và ác, không phải bị lương tâm dày vò cắn rứt khi làm điều ác.
Chợt nhớ lại lời của triết gia Pháp Blaise Pascal “con người không phải là thiên thần cũng không phải là thú vật. Ai muốn làm thiên thần đều làm thú vật”.Tôi chưa từng mơ ước được làm thiên thần, bởi lẽ lịch sử đã chứng minh, biết bao nhiêu kẻ muốn làm thiên thần đều cuối cùng trở thành “quái vật” chỉ biết cắn xé người đồng loại của mình. Tôi sẽ xấu hổ biết chừng nào khi bị người khác gọi là “thằng chó đẻ”.
“Làm người khó”, nhưng tôi vẫn cương quyết được “làm người” và cố học “làm người”. Nếu có một kiếp sau, thì khác với cụ Nguyễn công Trứ, tôi vẫn muốn làm người, chứ không chỉ “làm cây thông đứng giữa trời mà reo”.