Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2015

“Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa”


Chu Thập
30.1.15

Lại một con tin nữa bị tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” hành quyết. Nạn nhân lần này là một người Nhựt Bổn xem ra chẳng ăn nhập gì với thế giới Kitô giáo Tây Phương. Đàng sau mũi dao sắc bén, vô nhân đạo và dã man lúc nào cũng có là lá cờ đen của ISIS và dĩ nhiên khẩu hiệu bằng tiếng Á Rập “Allahu Akbar” (Thượng Đế Vĩ Đại). Thượng Đế Vĩ Đại lại được tung hô mỗi lần có một tên “ngoại đạo” bị sát hại!
Cứ mỗi lần có một con tin bị “Quốc gia Hồi giáo” hành quyết, cứ mỗi lần nghe tin về một cuộc khủng bố do những người Hồi giáo cực đoan và cuồng tín thực hiện nhân danh Thượng Đế Vĩ Đại, trong tôi lại dấy lên những câu hỏi nghìn đời của nhân loại: “Thượng Đế có cảm thấy được tôn vinh và vui thỏa khi con người nhân danh Ngài để sát hại người đồng loại không? Thượng Đế “có con mắt” có nhìn thấy những hành động dã man vô nhân đạo như thế không? Tại sao Thượng Đế cứ mãi giữ sự im lặng “đồng lõa” trước tội ác của con người? Ngài có phải là Đấng Toàn Năng và Trọn Hảo không? Ngài đang ở đâu? Ngài có thực sự hiện hữu không?”
Tôi nghĩ rằng bất luận chủng tộc, văn hóa, tôn giáo, phái tính, tuổi tác hay địa vị xã hội, vào một lúc nào đó trong cuộc sống, dường như ai cũng đều có thể nêu lên những câu hỏi như thế khi đứng trước tội ác của con người cũng như khổ đau của bản thân hay của người đồng loại.
Với tôi, những câu hỏi này đã trở thành trọng tâm và cao điểm của chuyến viếng thăm vừa qua của Đức giáo hoàng Phanxicô tại quốc gia hải đảo Phi Luật Tân, đất nước có số tín hữu công giáo đông nhứt tại Á Châu.
Tôi vẫn luôn nhớ về đất nước và dân tộc này với rất nhiều thương mến và biết ơn. Người tỵ nạn nào đã từng đặt chân đến đất nước này chắc chắn cũng chỉ có thể có cùng một tâm tình như tôi mà thôi. Về đất nước và con người đã từng mở rộng vòng tay để đón tiếp và hết tình chăm sóc người Việt tỵ nạn trước và sau khi các trại tỵ nạn tại Đông Nam Á đóng cửa, tôi chỉ có thể nói rằng đây là một dân tộc rất “sùng đạo”. Có sùng đạo cho nên mới tỏ ra cảm thông và nhân ái để đối xử nhân đạo với người tỵ nạn. Có sùng đạo cho nên trong nhà ngoài ở, lên xe xuống cộ, trong nhà thờ, ở trường học, tại các công sở, nơi phố chợ...nơi nào cũng có những biểu hiện và biểu tượng của niềm tin tôn giáo. Bước lên một phương tiện di chuyển công cộng mà không làm dấu thánh giá không phải là người Phi. Và có lẽ chỉ có ở Phi Luật Tân, mỗi năm cứ đến ngày Thứ Sáu Tuần Thánh tưởng niệm cái chết của Chúa Giêsu, mới có cảnh nhiều người túa ra các ngã đường dùng chiếc roi thiếc tua tủa gai để quất vào chiếc lưng trần cho đến khi chảy máu đầm đìa hay tự nằm xuống cho người khác đóng đinh vào thập giá. Có lẽ cũng chỉ có ở Phi Luật Tân mới có hiện tượng 6 triệu người tập trung lại để đón tiếp một vị giáo hoàng như đã xảy ra trong chuyến viếng thăm vừa qua của Đức Phanxicô. Đây quả là một con số mà sách kỷ lục thế giới “Guinness Book” cần ghi lại khi nói đến lòng sùng đạo của một dân tộc.
Tôi ngưỡng lòng sùng đạo của dân tộc Phi Luật Tân, nhưng tôi cũng không thể không cảm thấy vừa thương hại vừa phẫn nộ khi nhìn vào tình trạng xã hội của đất nước này. Đây là một trong những chủ đề nổi bật của Đức Phanxicô trong các bài diễn văn đọc tại đây, nhứt là khi ngỏ lời với giới lãnh đạo chính trị của quốc gia. Tham nhũng tạo ra nghèo đói và bất công là một thứ văn hóa đã thấm nhiễm vào máu của các chính trị gia của một đất nước mà hơn một phần tư dân số 100 triệu người phải sống trong nghèo đói.
Tôi luôn tin rằng niềm tin tôn giáo ảnh hưởng đến cuộc sống con người. Ở Thái Lan chẳng hạn, như tôi đã nhìn thấy tận mắt, giáo lý Phật Giáo đã thực sự chi phối cuộc sống con người. Lòng sùng đạo của người dân Thái cũng được biểu lộ ra bên ngoài chẳng khác gì người Phi Luật Tân. Có khác chăng là ở Thái Lan niềm tin tôn giáo có lẽ đã ăn sâu vào mọi khía cạnh của cuộc sống con người. Tôi không sợ quá thiên vị để bảo rằng so sánh với Phi Luật Tân, Thái Lan ít có tham nhũng hơn, ít có bất công hơn, ít có khu ổ chuột hơn, ít có người ăn xin hơn và tuyệt nhiên, vì là một xứ Phật Giáo, không hề có một Casino nào!
Trong nhiều năm sống ở Phi Luật Tân, tôi đã không ngừng thắc mắc: tại sao một đất nước với một lòng sùng đạo thật cao, nếu chỉ đo lường sự sùng đạo bằng những biểu dương và nghi lễ, tham nhũng lại được xem như một thứ văn hóa, bất công xã hội trở thành một căn bệnh bất trị, tệ nạn xã hội được nhìn thấy nhan nhản trước mắt và hàng ngày? Hiện đang có 1.2 triệu trẻ em Phi sống trên đường phố. Theo thống kê năm 2009, có đến 35.1 phần trăm trẻ em sống trong nghèo đói và theo Sáng Hội Bảo Vệ Trẻ Em (Child Protection Network Foundation) hồi năm ngoái, tỷ lệ này đã gia tăng một cách đáng kể.
Glyzelle Palomar, tên của một bé gái được truyền thông thế giới nhắc đến rất nhiều nhân chuyến viếng thăm của Đức Phanxicô, là một trong số những trẻ em đường phố tại Phi Luật Tân. Bé gái 12 tuổi này hiện đang được tổ chức từ thiện của các nữ tu chăm sóc. Trong một buổi nói chuyện của Đức Phanxicô với các giáo sư và sinh viên tại một đại học ở thủ đô Manila, em đã được sắp xếp để gặp gỡ với ngài. Được ngài giang rộng vòng tay để ôm ấp, cô bé đã từng trải qua cuộc sống khốn khổ, đã òa khóc và đặt ra câu hỏi: “Nhiều trẻ em vướng vào ma túy và mãi dâm. Tại sao Thượng Đế cho phép những điều đó xảy ra cho chúng ta? Trẻ con có tội tình gì đâu!”
Đây là câu hỏi mà có lẽ rất nhiều người Phi cũng đã từng đặt ra, nhứt là khi đứng trước nỗi khổ đau của người đồng loại hay phải đối đầu với những khó khăn chồng chất của cuộc sống. Người Phi thường đi tìm đến nhà thờ để tìm giải đáp cho những vấn đề của cuộc sống. Mỗi năm, vào ngày lễ tôn vinh bức tượng thánh giá gỗ nổi tiếng tại Manila, không dưới 2 triệu người dẫm đạp lên nhau để được sờ vào bức tượng và cầu mong phúc lành cho mình. Vào những mùa thi cử của học sinh và sinh viên, bức tượng lại càng bóng nhẵn hơn vì được sờ và hôn liên tục. Tại một nhà thờ có tên là Đức Bà “Bon Voyage” (Our Lady of Bon Voyage) ở ngoại ô Manila, người dân Phi từ khắp nơi túa đến để không chỉ xin đi đường được thượng lộ bình an, mà là để được gia nhập vào lực lượng “lao động xuất khẩu” ở nước ngoài. Đây là một trong những nguồn thu nhập chính của Phi Luật Tân.
Tựu trung, người dân Phi vẫn xem niềm tin tôn giáo như chỗ dựa để giải quyết các khó khăn trong cuộc sống. Câu hỏi mà bé Glyzelle đặt ra cho Đức Phanxicô một phần nào diễn tả đúng tâm trạng của rất nhiều người dân Phi: Tại sao Thượng Đế để cho con người phải đau khổ?
Đứng trước câu hỏi này, nhà lãnh đạo tinh thần của hơn một tỷ người trên khắp thế giới, người mà có lẽ người công giáo và cách riêng người dân Phi tin tưởng có sẵn giải đáp cho mọi vấn đề, khẳng định rằng đây là một vấn nạn không có câu trả lời. Theo nhà lãnh đạo tinh thần này, đứng trước khổ đau trong cuộc sống,  thay vì chạy đến với Thượng Đế để tra hỏi và nêu lên trách nhiệm của Ngài, hãy tự mình tìm ra giải đáp cho vấn đề. Chính vì vậy mà ngài nói: “Tôi mời gọi mỗi người trong anh chị em hãy tự hỏi lòng mình: “Tôi có bao giờ học khóc mỗi khi tôi thấy một đứa trẻ đói ăn, một đứa trẻ trên đường phố đang sử dụng ma túy, một đứa trẻ vô gia cư, một đứa trẻ bị bỏ rơi, một đứa trẻ bị lạm dụng, một đứa trẻ bị xã hội sử dụng như một nô lệ không?” Tôi hiểu được ý của vị giáo hoàng này: vấn đề không phải là mất giờ để tìm hiểu hay tranh cãi về nguồn gốc của đau khổ, mà chính là biết cảm thông trước nỗi khổ đau và tìm cách xoa dịu nỗi khổ đau ấy. Đã lạc giữa biển khơi, vấn đề không phải là ngồi đó mà thắc mắc tại sao mình có mặt giữa biển khơi để mà than thân trách phận hay chờ đợi phép lạ, mà là tìm cách chèo chống để vào bờ.
Câu trả lời trên đây của nhà lãnh đạo công giáo khiến tôi nhớ lại câu châm ngôn: “Hãy tự giúp mình, trời sẽ giúp bạn” (Aide-toi, le Ciel t’aidera). Tôi nghĩ có lẽ sau khi đã lòng vòng ở thuyết định mệnh để giải thích về cuộc đời truân chuyên của nàng Kiều, cụ Nguyễn Du đã đành phải đi đến kết luận: “Đã mang lấy nghiệp vào thân, cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa”. Chẳng có ông trời nào bắt con người phải khổ. Chẳng có số phận nào là bất biến. “Vượt qua số phận” là thành ngữ quen thuộc mà con người thời đại thường sử dụng để nói đến sự thành công của những con người sinh ra không có nhiều may mắn như người khác hoặc phải trả qua nhiều bất hạnh trong cuộc sống mà vẫn có thể vươn lên. Những con người như thế, dù chỉ được trời cho một trái chanh, đã biết vắt lấy để có được một ly nước thơm ngon!
Tôi nghĩ đến bà Rosie Batty, người vừa được vinh danh như người Úc của năm 2015 (Australian of the Year). Một buổi chiều nóng bức dạo tháng 2 năm 2014, tại một khu ngoại ô đông nam Melbourne, Luke Batty, cậu con trai 11 tuổi của bà đang chơi Cricket với cha cậu, ông Greg Anderson. Không một lời cảnh cáo, người cha đã vung gậy đập vào đầu con, rồi dùng dao tấn công đứa con đến chết. Ông cũng ngăn cản nhân viên cứu thương đến làm phận sự. Cảnh sát đã phải can thiệp và cuối cùng phải bắn gục người cha. Ông qua đời vào sáng hôm sau. Đứng trước cửa nhà, bà Rosie Batty, năm nay 52 tuổi, đã nói với giới truyền thông: “Tôi muốn nói với mọi người rằng bạo hành gia đình là chuyện xảy ra cho mọi người, bất luận nhà của bạn có đẹp đến đâu, bạn có thông minh cỡ nào. Nó có thể xảy ra cho mọi người và mỗi người. Đây là một cuộc chiến đấu đã kéo dài trong 11 năm qua (đối với bà). Dù bạn có cố gắng đến đâu, bạn vẫn là một nạn nhân và bạn không thể làm gì được.” Kể từ sau biến cố đau thương này, bà Batty không chịu ngồi đó để than thân trách phận, mà không ngừng lên tiếng cảnh cáo về tệ nạn bạo hành gia đình và vận động để chính phủ phải tỏ ra tích cực trong việc bài trừ bạo hành gia đình bằng cách đưa ra các biện pháp cứng rắn cũng như cung cấp các dịch vụ cho những người phụ nữ đang tìm cách thoát khỏi bạo hành gia đình.
Người phụ nữ thứ hai được bầu chọn làm người trẻ Úc của năm (Young Australian of the Year) là cô Drisana Levitzke-Gray. Cô gái 21 tuổi này là một người bẩm sinh bị câm điếc. Thay vì ngồi đó than thân trách phận hay đổ lỗi cho ông trời hoặc người khác, cô đã “vượt qua số phận” bằng cách đứng ra tranh đấu cho quyền của trẻ em câm điếc trên thế giới được học tiếng “Auslan”, tức ngôn ngữ bằng cử chỉ hiện đang được cộng đồng người câm điếc tại Úc sử dụng. Năm ngoái, cô đã trở thành người câm điếc đầu tiên tại Úc Đại Lợi được mời làm bồi thẩm viên trong tòa án.
Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể tự vượt qua số phận dễ dàng. Trong khốn cùng, ai cũng cần một bàn tay, một cơ hội từ sự giúp đỡ của người khác. Đó cũng chính là cốt lõi mà tôi tìm thấy trong lời nhắn nhủ của Đức Phanxicô. Bà Rosie Batty và cô Drisana Levitzke-Gray nhắc nhở chúng ta rằng không những mỗi người phải tự “vượt qua số phận” mà còn phải giúp những người khác nữa.
Nếu có một phép lạ mà Thượng Đế vẫn còn làm và tiếp tục can dự vào cuộc sống con người thì phép lạ đó chính là luôn khơi dậy niềm hy vọng, khả năng bắt đầu làm lại không ngừng và nhứt là lòng cảm thông với người khác trong mỗi con người.


Thứ Năm, 5 tháng 2, 2015

Thời đại của phép lạ



27/1/15

Vợ chồng một người Mỹ đi thăm người con gái và đứa cháu ngoại của họ tại thành phố Dakar, Senegal, miền Tây Phi Châu. Trên Facebook chia sẻ cho bạn bè, trong đó có ông  Michael Elliott, chủ tịch của tổ chức có tên là “The One Campaign” (tổ chứcchuyên mở chiến dịch chống lại nghèo đói cùng cực và những căn bệnh có thể phòng ngừa được), vợ chồng người Mỹ này cho biết từ Dakar, họ đã có thể liên lạc và nói chuyện với một người con gái khác của họ ở New York, Hoa Kỳ xuyên qua hệ thống “Skype”. Tại các nước văn minh, một phương tiện thông tin như thế không còn là điều mới mẻ nữa, nhưng từ một thủ đô của một nước nghèo như Senegal, vợ chồng người Mỹ này cho biết họ cảm thấy như “đang sống trong một thời đại của phép lạ”.
Thế giới ngày nay đang sống trong lo sợ vì khủng bố, chiến tranh và bệnh tật. Tuy nhiên, chưa bao giờ thế giới tốt đẹp như ngày nay.
Vào năm 1990, có đến một phần ba dân số thế giới sống trong nghèo nàn cùng cực. Vào năm 2011, tỷ lệ này chỉ còn 14.5 phần trăm, nhờ sự tăng trưởng kinh tế tại Á Châu. Điều này có nghĩa là sự thịnh vượng và tình trạng y tế của thế giới đã gia tăng. Ngày nay, hằng trăm triệu người đang hưởng những tiện nghi mà ông bà hay cha mẹ họ có mơ cũng chưa bao giờ thấy. Tiềm năng rộng lớn của cả một vùng đã được mở ra. Một người phụ nữ Trung Hoa, bạn của ông Elliott, đã có lần nói với ông: “Ông cần phải hiểu: đây là thời điểm tốt nhất để làm một người phụ nữ Trung Hoa”. Nếu có đến 10 phần trăm phụ nữ trên thế giới là người Trung Hoa, thì đây là một bước tiến đáng kể trong sự cải thiện cuộc sống của người phụ nữ.
Nhưng những phép lạ của thế giới hiện đại không chỉ diễn ra tại Á Châu. Chỉ cần dừng chân vài giờ tại thủ đô Addis Abeba của Ethiopia, Bắc Phi Châu, người ta cũng sẽ thấy phép lạ đang diễn ra. Cũng như rất nhiều quốc gia Phi Châu khác, Ethiopia hiện đã đạt được một mức tăng trưởng kinh tế mà người ta tưởng chỉ có ở Á Châu. Kể từ năm 2000, tử xuất vì bệnh sốt rét trên toàn thế giới đã giảm đến 47 phần trăm. Năm 2003, tại vùng  Hạ Sahara, chỉ có khoảng 50 ngàn người mới có đủ điều kiện để sử dụng thuốc chống lại HIV và bệnh AIDS. Nay đã có hơn 9 triệu người được chữa trị với thuốc này. Năm 2012, con số  trẻ em tại vùng Hạ Sahara cắp sách đến trường tăng thêm 57 triệu so với năm 2000.
Nhưng đáng kể là phép lạ hơn cả là tử xuất của trẻ em đã giảm đi hơn bao giờ hết. Vào thập niên 1970, không có tới 5 phần trăm trẻ con trên toàn thế giới được chích ngừa để phòng ngừa những căn bệnh hiểm nghèo. Nay có đến 80 phần trăm trẻ con trên toàn thế giới được chủng ngừa. Kết quả là tỷ lệ của trẻ con chết dưới 5 tuổi đã giảm đi một nửa kể từ thập niên 1990. Trước thời điểm này, mỗi năm có đến 12.7 triệu trẻ con dưới 5 tuổi chết vì bệnh tật. Năm 2013, con số này giảm xuống còn 6.3 triệu.
Phép lạ không chỉ diễn ra trong lãnh vực kinh tế và y tế. Tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” đang làm mưa làm gió ở Trung Đông, đó đây vẫn còn xảy ra những vụ khủng bố chết người và nội chiến vẫn còn sôi sục tại vài nơi.Tuy nhiên, nhìn trong tổng thể, chưa bao giờ thế giới sống trong hòa bình như ngày nay. Trong cuốn sách có tựa đề “The Better Angels of our Nature” (Những vị thiên thần tốt hơn trong bản chất chúng ta), Giáo sư Steven Pinker, hiện đang giảng dạy tại đại học Harvard, đã dẫn chứng nhiều tài liệu cho thấy có sự sút giảm về bạo động và chiến tranh trong thời hiện đại. Vào thế kỷ 14, tại thành phố Oxford, Anh Quốc, mỗi năm cứ trung bình trong 100 ngàn dân, có đến 110 vụ giết người. Vào thế kỷ 20 tại London, trong 100 ngàn dân không có tới một vụ sát nhân. Năm 1950, con số trung bình của những người bị giết chết trong một cuộc xung đột vũ trang là 33 ngàn người. Vào năm 2007, con số người bị sát hại không quá 1000 người. Giáo sư Pinker lập luận rằng sự hạ giảm của bạo động trên toàn thế giới hiển nhiên đến độ có thể nói rằng “chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên hòa bình nhất trong lịch sử nhân loại”.
Phép lạ tỏ tường hơn cả trong ngôi làng toàn cầu ngày nay chính là sự thâm nhập của các phương tiện truyền thông xã hội hiện đại vào mọi ngõ ngách và làng mạc xa xôi. Vào năm 2002, chỉ có 3 phần trăm người dân Phi Châu có điện thoại di động. Nay tỷ lệ này đã lên đến 70 phần trăm. Điều kỳ diệu hơn nữa đang xảy ra tại Miền Đông Phi Châu là sự bùng nổ của việc thực hiện các dịch vụ ngân hàng xuyên qua điện thoại di động. Ngày nay, ngay cả các phụ nữ nông dân nghèo cũng có thể giao dịch buôn bán, nghĩa là trả và nhận tiền xuyên qua điện thoại di động một cách an toàn.
Tất cả những phép lạ trên đây sẽ được đem ra thảo luận tại hàng trăm phiên họp chính thức và hàng ngàn cuộc trao đổi bên lề tại Hội nghị Thượng đỉnh Davos, Thụy Sĩ. Theo ông Elliott, có một điều mà ai cũng biết và không thể phủ nhận: tiến bộ là điều không thể tránh được!
Tuy nhiên, thời đại của các phép lạ cũng vẫn là một thời đại của những thách đố. Kể từ khi Đệ nhị Thế chiến kết thúc vào năm 1945 cho đến nay, mặc dù có chiến tranh lạnh và một vài cuộc chiến tranh đó đây, thế giới đã trải qua gần 7 thập niên hòa bình. Nhưng không có gì bảo đảm rằng tình trạng không có chiến tranh này sẽ kéo dài. Một số quốc gia vẫn thích chiến tranh. Sau cuộc khủng hoảng tại Ukraine dẫn đến việc Nga ngang nhiên chiếm Crimea, Tổng thống Nga Vladimir Putin đe dọa các nước Tây Phương rằng ông đang có trong tay cả kho vũ khí hạt nhân. Đầu óc bá quyền của những người cộng sản Trung Quốc, cụ thể là việc họ muốn chiếm trọn Biển Đông, cũng là một mối đe dọa cho hòa bình thế giới không kém. Chiến tranh xảy ra không chỉ gây ra những cái chết vô ích mà cũng làm sống lại tình trạng nghèo đói trên thế giới. Những vùng chiến tranh lúc nào cũng là những vùng nghèo đói.
Sự tăng trưởng kinh tế, vốn là đầu máy tạo ra các phép lạ của thời đại, có thể cạn nhiên liệu và như vậy không còn khả năng vực dậy các nước khỏi cảnh nghèo đói hoặc phân chia lợi nhuận không đồng đều và như vậy tạo ra bất ổn chính trị. Sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đang khựng lại và kinh tế Liên Âu đang dậm chân tại chỗ sẽ khiến cho nhu cầu về thương phẩm giảm sút. Mà thương phẩm lại là nền móng của kinh tế của nhiều nước đang phát triển. Đó là một trong những thách đố mà có thể thể giới sẽ phải đương đầu trong những năm sắp tới.
Ngoài ra,  sự phát triển nhanh chóng của các phương tiện di chuyển, vốn đã làm cho cuộc sống của không biết bao nhiêu người trên thế giới được cải thiện, cũng đặt ra một thách đố: tốc độ di chuyển của con người thời đại càng nhanh thì sự lây lan của bệnh tật cũng lan truyền nhanh không kém. Sự bùng nổ và mối đe dọa của dịch bệnh Ebola hồi năm trước là một điển hình. Cuối cùng, hiện tượng thời tiết thay đổi hiện cũng đang đặt ra một thách đố lớn cho thế giới ngày nay. Những người đầu tiên cảm nhận và chịu thiệt thòi nhiều nhất về những hậu quả của hiện tượng này vẫn là người nghèo. Điều vẫn thường xảy ra khi đất đai bị tàn phá vì thiên tai như lụt lội, hạn hán...là cảnh đồng không, nhà trống và hàng triệu triệu nông dân rời bỏ thôn quê để tìm về thành phố và tạo ra những khu ổ chuột thối tha, thiếu vệ sinh, làm mồi cho bệnh tật cũng như vô số những tệ nạn xã hội.
Năm nay, đại diện các quốc gia sẽ tập trung về Davos để thảo luận về sự mong manh và vô định mà thế giới ngày nay đang đối đầu. Làm thế nào để cho các phép lạ của thời đại được tiếp tục diễn ra? Chúng ta hy vọng sẽ có được cầu trả lời trong năm nay. Vào tháng 9 tới đây, tại trụ sở của Liên Hiệp Quốc ở New York, Hoa Kỳ, cộng đồng thế giới sẽ cố gắng đạt được một loạt những mục tiêu mới thay thế cho các mục tiêu của thiên niên kỷ mới được đề ra hồi năm 2000. Những mục tiêu nổi bật nhất được đề ra ở đầu thiên niên kỷ là giảm nghèo đói và bệnh tật. Ngoài việc giảm thiểu tỷ lệ tử vong khi sinh con, các mục tiêu nói trên vẫn chưa đạt được. Dù vậy, thế giới vẫn cương quyết tiến tới trong việc giảm thiểu một nửa tình trạng nghèo đói cùng cực.
Trong vòng 8 tháng tới, các nhà ngoại giao sẽ thương lượng để đạt được những mục tiêu mới về sự phát triển bền vững. Một cách cụ thể, trong vòng 15 năm tới, thế giới phải xóa bỏ sự nghèo nàn cùng cực, chấm dứt cảnh hàng triệu triệu người vẫn còn đi ngủ vào buổi tối với cái bụng đói và không được hưởng thuốc men và những phương tiện y khoa hiện đại.
Trên đây là những mục tiêu có ý nghĩa nhất kể từ sau Đệ nhị Thế chiến khi thế giới chứng kiến sự ra đời của tổ chức Liên Hiệp Quốc và sự thông qua của Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền.
Năm 2000, khi cộng đồng thế giới đề ra những mục tiêu phát triển của thiên niên kỷ mới, ông Bill Gates tuyên bố rằng đây là “ý tưởng tốt đẹp nhất để tập trung thế giới vào cuộc chiến chống lại nghèo đói mà tôi chưa từng thấy”. Theo ông, sáng kiến này cho phép dân chúng “thấy  được đâu là những bước tiến tốt đẹp và đâu là những thất bại của chúng ta”. Cũng thế, điểm tích cực của những mục tiêu phát triển mới sẽ được đề ra vào tháng 9 tới đây chính là mở ra một lộ đồ mới cho một tương lai sáng sủa hơn của thế giới.
Phép lạ vẫn tiếp tục xảy ra. Thế giới vẫn tiếp tục tin tưởng như thế. Nhưng, như nhận định của ông Elliott, nhiều phép lạ đã cứu sống nhiều mạng người trong hơn hai thập niên vừa qua không phải là những phép lạ từ trời cao, mà là điều nằm trong tầm tay của con người. Theo ông chủ tịch của tổ chức “The One Campaign”, phép lạ thực sự đã diễn ra khi “hàng triệu người trên thế giới đã tạo áp lực lên chính phủ của họ, từ Bắc chí Nam, trong thế giới giàu có cũng như nghèo nàn, để buộc phải tài trợ và thực hiện những chính sách đã cứu sống và cải thiện cuộc sống của hàng triệu triệu người”.
Phép lạ vẫn tiếp tục xảy ra. Nó không đến từ trời cao. Nó cũng chẳng đến từ các nhà lãnh đạo quốc gia, các bậc thiên tài về kỹ thuật hay các nhà cự phú trong doanh nghiệp. Vận mệnh của thế giới nằm trong tay của vô số cá nhân là những người cương quyết làm cho cuộc sống của họ, của gia đình họ được tốt đẹp hơn hoặc do lòng cảm thông thúc đẩy, muốn dấn thân để xoa dịu nỗi khổ đau của người khác.
(theo Michael Elliott, the Age of Miracles, Time 26/1/2015)




Thứ Ba, 3 tháng 2, 2015

Thảo Đường


Chu Thập
23.06.11



Tôi chọn nước Úc làm quê hương, nhưng sau một chuyến đi Tân tây lan, tôi lại “mê” cái đất nước này. Thực ra, chuyến đi không nằm trong dự tính của tôi. Số là đầu năm, thấy Jetstar hạ giá vé quốc nội, tôi định làm một vòng cho hết nước Úc nên đặt vé đi Darwin. Nhưng gần đến ngày đi, thấy tim mạch của tôi có vẻ không ổn, bác sĩ khuyên tôi không nên đi xa, nhứt là đi máy bay. “Tra” tử vi thấy không có lời đe dọa nào về chuyện có nên “xuất hành” hay không, tôi định phớt lờ lời cảnh cáo của ông bác sĩ. Nhưng nghĩ lại, ở trong đất nước này mà giỡn mặt với những gì có liên quan đến chuyện sức khỏe y tế là liều lĩnh, cho nên tôi đành phải hoãn chuyến đi và gởi giấy chứng nhận của bác sĩ đến hãng máy bay để xin hoàn lại tiền vé. Nhưng đã tiền trao cháo múc rồi cho nên hãng Jetstar đâu có chịu. Họ buộc tôi phải “book” một chỗ khác với giá tương đương, bằng không thì xem như “xung vào công quỹ quốc gia”. Lục lạo tìm kiếm mãi mới thấy giá vé đi Tân tây lan cũng bằng đi Darwin, tôi đành phải bất đắc dĩ thay đổi lộ trình và chờ đến gần 6 tháng sau mới được bác sĩ chứng nhận “đầy đủ sức khỏe” để làm một chuyến đi xa.
Dân gian thường nói: trong cái rủi có cái may. Kitô giáo gọi đó là Quan Phòng. Tôi luôn tin rằng trong cõi vô thường sinh diệt diệt sinh này, không có gì là tuyệt đối mất mát. Có lúc tưởng như tuyệt vọng thì lại gặp được chiếc phao cứu hộ. Những khi tưởng là cùng đường thì lại thấy lóe lên ánh sáng. Chuyện mình chẳng mong ước và tính toán thì lại xảy đến. Chuyến đi Tân tây lan của tôi nằm trong chuỗi những “quan phòng” mà tôi thường bắt gặp trong cuộc sống.
Trước khi viếng thăm một vùng đất mới, tôi thường tìm hiểu sơ qua về địa lý, lịch sử cũng như phong tục của người dân ở đó. Thực ra, từ lâu, tôi vẫn nghĩ rằng về đất đai, phong cảnh, xã hội, chính trị…Tân tây lan cũng chỉ là một “cánh tay nối dài” của Úc đại lợi. Bằng chứng là trước đây, người dân hai nước qua lại như đi chợ, muốn ở đâu thì ở mà vẫn hưởng đủ mọi quyền lợi. Nếu có khác biệt, cùng lắm ở Úc thì có nhiều người thổ dân, còn bên Tây tây lan thì có nhiều người Maori với cách chào hỏi xã giao độc đáo là áp hai đầu mũi vào với nhau. Mới đây tôi thấy Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây tạng, nhân một chuyến viếng thăm Melbourne, đã lập lại cử chỉ đó một cách thật dễ thương với một cầu thủ AFL. Vừa rồi, tôi cũng bị cám dỗ muốn thử xem cái cảm giác đó thế nào, nhưng gặp trời mưa gió bão bùng, nước mắt nước mũi chảy liên tục, cho nên tôi sợ không dám truyền cúm Úc cho người dân “Kiwi” hoặc ngược lại rước một thứ bệnh mà cái thân còm cõi của mình không chịu đựng nổi.
Khác với Úc, bên Tây tây lan đi đâu cũng thấy dân Maori. Vậy mà từ khách sạn đưa tôi lên thành phố Auckland, anh tài xế taxi Ấn độ tiên đoán một cách mỉa mai rằng dân Maori sắp bị trở thành giống dân “quý hiếm”, vì theo ông, người dân kỳ cựu của đất nước này chỉ biết nhậu nhẹt, ăn quá nhiều cho nên phì nộn và mang đủ thứ bệnh. Đọc báo địa phương, tôi cũng thấy nói rằng 50 phần trăm trẻ em đang được bộ xã hội chăm sóc vì gia đình đổ vỡ đều là người Maori.
Nghĩ thật tội nghiệp cho người bản xứ “Kiwi” này. Có lẽ trước khi người da trắng đặt chân đến đây, người Maori chỉ biết vui hưởng cuộc sống bằng săn cá, ăn thịt thú rừng và khoai môn “taro”. Họ làm gì biết thuốc lá và nhứt là rượu bia. Ngoài ra, trong một lần viếng thăm bảo tàng viện ở thủ đô Wellington, tôi cũng biết rằng trước khi người da trắng xâm chiếm vùng đất này, toàn bộ đất đai ở đây đều được bao phủ bởi những rừng cây xanh. Vậy mà chỉ mới 200 năm sau khi bị dấu chân của người da trắng cày xéo, hơn hai phần ba màu xanh ấy đã biến mất.
Dù vậy, trên chuyến xe buýt từ Auckland đến thủ đô Wellington, tôi vẫn nhận ra sự khác biệt rõ ràng giữa Úc đại lợi và Tân tây lan. Ở Úc, đi đâu người ta cũng chỉ thấy những cánh đồng cỏ cháy, nứt nẻ và nhứt là những rừng tràm (gum trees). Trái lại, bên Tây tây lan, dầu gặp những ngày mưa xám xịt, màu xanh ngát của những cánh đồng cỏ và đồi thông bất tận vẫn làm cho phong cảnh đẹp như tranh vẽ. Tôi mê ngay cái đất nước này. Suốt lộ trình hơn mười tiếng, tôi không dám chợp mắt. Lâu lắm rồi tôi mới được “rửa mắt” đã đời như vậy.
Đi du lịch, tôi thích khám phá những cái mới, nhưng cũng muốn sống lại những cái cũ. Chẳng hạn, lần đầu tiên khi đến Pháp vào giữa mùa Thu, tôi đã ngây ngất đứng nhìn nước sông Seine chảy lững lờ giữa thủ đô Paris hay ngắm nhìn rừng phong thay mầu rụng lá. Đây là những bức tranh mà tôi đã từng chiêm ngưỡng trong sách vở ở thời trung học và ao ước được một lần chìm đắm trong đó. Thành ra, mặc dù đến một nơi mình chưa từng đặt chân tới, tôi vẫn có cảm giác quen thuộc. Tôi sung sướng như thể được trở về chốn cũ.
Những cánh đồng cỏ và những đồi thông xanh ngát của núi rừng Tây tây lan cũng mang lại cho tôi cái cảm giác ấy. Tôi không chỉ nhớ lại cái quang cảnh này ở một số nước Âu Châu. Nó còn đưa tôi trở về một chốn cũ xa xăm hơn. Tôi muốn nói tới Đà Lạt thân yêu ngày xưa của tôi. Tôi có nghe nói tới núi rừng Sapa ngoài Bắc. Nhưng tôi chưa mường tượng được cảnh núi rừng ấy như thế nào. Còn về Đà lạt thì tôi thuộc như in từng góc phố, từng con đường và nhứt là những đồi thông. Cảnh trí của Tây tây lan đã làm sống lại trong tôi không biết bao nhiêu kỷ niệm về thành phố mộng mơ ấy.
Thời đó, ở tuổi đôi mươi và nhứt là sinh ra nơi chốn đồng chua nước mặn, với tôi được lên Đà Lạt chẳng khác nào sang Paris. Người ta bảo Đà Lạt là thành phố của Tây mà. Tôi vẫn nhớ mãi, lần đầu tiên khi chiếc xe đò “Minh Trung” từ Nha Trang, qua khỏi Sông Pha, ì ạch trườn lên đèo “Ngoạn mục” cho tới Đơn Dương và bắt đầu leo lên tới “Eo gió”, tôi thấy như mình  đang đi lạc vào một thế giới khác. Gió mát rượi thổi vào chiếc xe chật ních làm cho hành khách cảm thấy thoải mái và quên đi cái cảnh bó rọ mà mình phải trải qua đến cả 4,5 tiếng đồng hồ liền. Đến khi chiếc xe đò lên đến Trại Mát, Trại Hầm và chạy dọc theo con đường Gia Long thì khỏi nói: tôi cứ ngẩn ngơ như Từ Thức lạc vào động tiên. Ẩn khuất trong những rừng thông là những ngôi biệt thự mà tôi chỉ nghe tả trong sách vở và cả đời chẳng bao giờ dám mơ được đặt chân vào.
Tôi không biết còn có một ngày nào để trở về “chốn cũ” và được làm một Thanh Tuyền “đứng trên triền núi nhìn xuống đồi thông” không hay như Hàn Mặc Tử đứng nhìn “trăng mờ thật huyền mơ” và để “nghe dưới đáy nước hồ reo” hay không.
Một tuần lễ lang thang ở Tân tây lan đã cho tôi sống lại những kỷ niệm đẹp ở Đà Lạt và nhứt là “nhớ nhà”. Trong phong cảnh của núi rừng Tân tây lan, tôi không chỉ được hồi tưởng lại hình ảnh Đà lạt qua vườn cây đồi cỏ, những con suối chảy róc rách, những ngọn thác bên cạnh rừng thông, mà còn được chiêm ngưỡng những mái nhà bé nhỏ chênh vênh bên sườn đồi hay thảnh thơi giữa nông trại mênh mông với bầy trừu bò đông vô số kể. Thực vậy, cảnh đẹp thường được tăng thêm nhờ có sự hiện diện của con người. Chẳng phải bức tranh đèo ngang của bà Huyện Thanh Quan trở nên nổi tiếng là bởi “lác đác bên sông chợ mấy nhà” sao?
Mà nhà ở thì thiên hình vạn trạng. Ban ngày, tôi thường ngắm căn nhà như ngắm một món đồ. Thế nhưng trong bóng đêm, căn nhà không còn thu hút tôi vì kích thước hay giá trị của nó, mà chính là chút ánh đèn lách qua khung cửa hay một vạt khói lửng lơ trên ống khói. Hình như cái ánh đèn, sự ấm cúng mời gọi của một cái bếp tỏa khói luôn làm cho người ta cố nhanh bước về nhà. Tôi cũng vậy, mỗi khi được về thăm nhà, chuyến xe đò đến bến bao giờ cũng chập tối, tôi chỉ muốn chạy như bay về nhà.
Ngôi nhà từ đường của tôi đúng là “cái nhà là nhà của ta, ông cố ông cha làm ra”. Tôi nghĩ cái tuổi của ngôi nhà ấy tính cho đến nay không dưới 200 năm. Nhà được lợp bằng thứ ngói mà cha tôi gọi là “ngói mốc”. Khi tôi có trí khôn thì toàn bộ mái nhà đã rệu rạo, tường nhà vốn được làm bằng gạch gắn liền với nhau bằng một loại vữa có trộn đường đen cũng đã bắt đầu xuống cấp; cột kèo rui mè, mặc dù được làm bằng gỗ quý cũng đã bị mối mọt gậm nhấm gần hết. Giữa thập niên 1960 khi tôi vừa xong bậc trung học, cha tôi đành phải mang tội “bất hiếu” với ông bà để cho phá sập ngôi nhà từ đường và xây nhà mới. Vì lý do kinh tế và tình cảm, cha tôi cũng giữ lại nhiều vật liệu từ ngôi nhà cũ và dùng lại. Nhà mới có phần khang trang rộng rãi hơn, nhưng với tôi dường như nó không còn giữ được cái hơi ấm của ngôi nhà từ đường, nơi anh chị em và ngay cả nhiều đứa cháu của tôi đã từng chen chúc nhau trong cùng một “buồng”, ngủ chung trên cùng một chiếc giường.
Quả thực, con người quyến luyến ngôi nhà của mình không hẳn vì nó đẹp đẽ, sang trọng hay tiện nghi, mà vì nó có cái “hồn” của nó. Căn nhà cũng thường tiết lộ cho người ta biết khá nhiều về đời sống, tính tình, ý thích…của những người đang cư ngụ. Có người chọn nhà gần chỗ làm để tiết kiệm thời gian. Người khác lại muốn căn nhà như một nơi chốn yên tĩnh sau một ngày làm việc dù phải đi xa khỏi thành phố. Cũng có khi ngôi nhà được chọn vì cái tên của con đường hay vì sự “môn đăng hộ đối” của những căn nhà bên cạnh. Mỗi người một chọn lựa theo cách riêng. Riêng tôi, hình ảnh ngôi nhà thường phải kèm theo một phong cảnh thích hợp và thơ mộng. Bởi vì khi về nhà, đối với tôi cũng giống như tạm ngưng tiếp xúc với thế giới bên ngoài để được hưởng cái cảnh “một gian nhà nhỏ đi về có nhau”. Chính vì vậy mà mái tranh nghèo của sư bà Giác Duyên trong Truyện Kiều luôn là giấc mộng cuối đời của tôi: “Đánh tranh lợp mái thảo đường, một gian nước biếc, mây vàng chia đôi”. Cảm tạ Ơn Trên, tuy không được như sư bà Giác Duyên, tôi cũng được hưởng cảnh núi rừng lúc hừng đông và chiều vàng trên sóng nước.
Gần nơi tôi ở có khá nhiều nhà thuộc diện “holiday house”. Chủ nhân của nó mua để một năm vài lần ghé qua mấy đêm. Mỗi lần đi ngang qua, tôi thấy thương hại cho chúng. Đó thường là những căn biệt thự mênh mông, tọa lạc ở những vị trí tuyệt đẹp gần bờ nước. Tôi không biết có bao giờ chủ nhân của chúng bỏ giờ đứng “rình” một đêm bên ngoài căn nhà to lớn tối om, lạnh lùng không một chút sinh khí nào không? Nếu chúng cũng có cảm giác như con người, chắc là chúng sẽ thấy đau khổ và ghen tức với những căn nhà lẹp xẹp nhưng ấm áp bên cạnh. Đó mới thật là “mái ấm”, mới thật là “home, sweet home”. Không cần làm thầy “phong thủy” tôi luôn tin rằng một căn nhà có quá nhiều phòng trống thì khó có thể gọi là mái ấm được.
Mặc dù thích đi chơi nhưng cứ sau vài ngày xa nhà là tôi bắt đầu thấy nhớ nhà. Mà hình như tôi “viện cớ” nhớ nhà để nhớ những thứ “lỉnh kỉnh” khác. Trước hết tôi nhớ cái giường quen thuộc, nhớ những bữa ăn đơn giản không theo kiểu sơn hào hải vị hay “cơm đường cháo chợ”. Tôi lại thấy nhớ những tiếng gà vịt quen thuộc đánh thức tôi dậy, tiếng chim hót chào một ngày mới. Tôi nhớ những sinh hoạt thường nhựt, những cặm cụi mà có lúc tôi nghĩ là “chịu hết nổi”. Tôi nhớ những buổi chiều đi dạo, những chào hỏi người này người kia dù chưa bao giờ bắt chuyện…Hết nhớ bắt đầu tôi lại thấy…lo! Nhìn mưa gió Tân tây lan mà lo không biết vịt con có bị lạnh, rau cải có bị dập hay không? Cửa nẻo đã khóa kỹ chưa hay còn để quên cái bếp? Tôi biết mình “lo bò trắng răng” nhưng vẫn vẩn vơ lo.
Cái bệnh “home sick” bất trị của tôi chắc chắn chỉ có một nguyên nhân: cái nhà, nơi “trú ẩn” tốt nhứt của tôi, cũng chính là một phần tinh thần rất quan trọng nuôi dưỡng tâm hồn tôi. Căn nhà cũng là “nhân chứng” sống động nhất nhìn thấy được đời sống nội tâm của tôi. Niềm quyến luyến ngôi nhà cũng chính là biểu hiện của sự yêu mến chính tâm hồn, đời sống và gia đình riêng của mình trong mỗi người vậy.
Quả là vui khi được đi chơi và lại vui hơn mỗi khi trở về.









Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2015

Khi tự do của bạn chạm đến mũi tôi


Chu Thập
23.1.15
  
Trong đời sống tâm linh và tôn giáo, tôi thích những hình ảnh và biểu tượng mang lại cho tôi sự lạc quan, niềm vui sống và tinh thần khoan nhượng. Tôi thường chiêm ngắm Đức Phật Thích Ca từ bi, nhân ái, nhưng bước vào một số ngôi chùa,  tôi lại thích nhìn tượng Phật Di Lặc với cái bụng phệ và nụ cười nắc nẻ mà bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, tác giả của tập truyện “Cành Mai Sân Trước” gọi là  nụ “cười ha hả, cười hết ga, cười toe toét”. Nhìn đời với nụ cười như thế mà không thấy vui sao?
Về Chúa Giêsu, như được các sách Tin Mừng ghi lại, các họa sĩ có lẽ sẽ không bao giờ cạn hứng để vẽ lại những giọt nước mắt khóc thương đầy nhân tính của Ngài. Nhưng dường như hiếm lắm mới thấy có một bức chân dung của một Chúa Giêsu cười nắc nẻ như Phật Di Lặc. Tôi thích chiêm ngưỡng một Chúa Giêsu như thế hơn. Nhìn Ngài cười như thế, tôi sẽ cảm thấy bớt “sợ” hơn và “đi đạo” vì yêu đời hơn là vì sợ bị trừng phạt!
Gần đây Tiên tri Mahomet, người được xem là nhân vật có ảnh hưởng lớn nhứt trong lịch sử thế giới, được nhắc nhớ đến rất nhiều. Tôi không rành về tiểu sử của vị tiên tri này. Nhưng mới đây, sau vụ thảm sát 10 nhân viên của tuần báo trào phúng “Charlie Hebdo” ở Paris, Pháp quốc, tôi lại thích nhìn bức biếm họa trong đó Tiên tri Mahomet sa nước mắt và thốt lên: “Tout est pardonné. Je suis Charlie” (tất cả đều được tha thứ. Tôi là Charlie).
Cũng vậy, mỗi lần nhìn vào một nghĩa trang, nơi cư ngụ của người quá cố, tôi đều có ý nghĩ: bên kia thế giới, con người chẳng còn thù hằn nhau nữa! Không những không còn thù hận, mà một khi đã đi vào thế giới bên kia, con người cũng chẳng còn phải chấp nê về bất cứ một hành động xúc phạm nào của người còn sống. Tôi cứ tưởng tượng: hãy thử vào một nghĩa trang rồi rống gân cổ lên mà rủa sả hay làm bất cứ một hành động thóa mạ nào đối với những người đang yên nghỉ ở đó, có “ma” nào chỗi dậy để trả đũa không?
Là một vị tiên tri rao giảng về một Thượng Đế Nhân Từ, tôi nghĩ rằng Đức Mahomet, cũng như Đức Phật hay Chúa Giêsu, hơi đâu mà buồn bã hay tức giận vì một cử chỉ xúc phạm của phàm nhân dương thế là những người mà từ trên thập giá Chúa Giêsu đã tha thứ “vì chúng lầm không biết việc chúng làm”. Tôi tưởng rằng từ trên cao, Tiên tri Mahomet chỉ có thể khóc và tha thứ mỗi khi bị người phàm xúc phạm đến mà thôi.
Dĩ nhiên, đó chỉ là suy nghĩ chủ quan của tôi. Và đó cũng là suy nghĩ chủ quan của tác giả bức hí họa, ông Renald ‘Luz” Luzier, người đã thoát chết trong cuộc thảm sát vì đã ngủ nướng và đến tòa soạn trễ hơn nửa tiếng đồng hồ. Trong một cuộc họp báo, ông đã khóc và nói rằng những kẻ khủng bố là những người “đã đánh mất óc khôi hài. Một cách nào đó, họ đã đánh mất linh hồn trẻ thơ vốn đã cho phép họ nhìn vào thế giới từ một khoảng cách”. Theo ông, Tiên tri Mahomet mà báo “Charlie Hebdo” đã từng vẽ chân dung, “cũng chỉ là một con người biết khóc”. Nhưng có lẽ họa sĩ Luz quên mất rằng phần lớn người Hồi giáo không có cái nhìn như thế.
Trước khi diễn ra cuộc thảm sát ở Paris, tuần báo “Charlie Hebdo” đã không biết bao nhiêu lần bị cảnh cáo về chuyện mang tiên tri Mahomet ra chế diễu. Theo giải thích của Giáo sư Amin Saikal, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về Á rập và Hồi giáo thuộc trường Đại học Quốc gia Canberra, người Hồi giáo xem bất cứ tranh ảnh nào về tiên tri Mahomet đều là một cử chỉ phạm thượng và phạm thánh. Lên tiếng trong chương trình 666 của đài truyền hình ABC  hôm 15 tháng Giêng vừa qua, Giáo sư Saikal khẳng định rằng Hồi giáo chống lại bất cứ hình thức tôn thờ ảnh tượng nào. Đã chống lại bất cứ việc khắc họa nào về chân dung của Tiên tri Mahomet, các tín đồ Hồi giáo hẳn không thể tha thứ cho việc mang giáo chủ của mình ra chế diễu như tuần báo “Charlie Hebdo” vẫn thường làm. Trong 44 năm lịch sử vừa qua, tuần báo trào phúng này rất thường xuyên vẽ hình về Tiên tri Mahomet. Theo Giáo sư Saikal, cần phải phân biệt giữa hai điều: một là vẽ những bức tranh hí họa để chọc cười, hai là vẽ những bức tranh hí họa để chọc cười mà không hề tỏ ra nhạy cảm đối với những chuẩn mực và giá trị văn hóa của người khác. Giáo sư này cho rằng nếu còn sống và xem tất cả những bức hí họa mà tuần báo “Charlie Hebdo” vẽ về mình, có lẽ vị tiên tri cũng chỉ biết nhún vai bỏ qua mà thôi. Nhưng tình cảm của các tín đồ Hồi giáo thì khác. Vẽ lại chân dung của Tiên tri Mahomet và nhứt là vẽ lại với chủ ý thóa mạ, xúc phạm thì đương nhiên chỉ có thể là một hành động xúc phạm đến tình cảm tôn giáo của người Hồi giáo mà thôi. Với sự mách bảo của lẽ thường, ai cũng biết rằng xúc phạm đến tình cảm tôn giáo của người khác là đụng chạm đến phần thánh thiêng sâu thẳm nhứt và bất khả xâm phạm của con người.
Tôi hiểu được phản ứng của Đức Phanxicô, nhà lãnh đạo của hơn một tỷ tín đồ công giáo trên khắp thế giới. Mới đây, trong chuyến bay từ Sri Lanka đến  Phi Luật Tân, quốc gia có đông tín hữu công giáo nhứt tại Á Châu, khi nhận định về cuộc thảm sát tại Paris, ngài đương nhiên lên án hành động khủng bố, nhưng đồng thời cũng nhắc khéo về điều được gọi là tự do báo chí, vốn là thứ tự do mà nhiều người thường nhân danh để chế diễu, mạ lỵ và xúc phạm đến người khác. Ngài so sánh những người mà tình cảm tôn giáo bị xúc phạm với một đứa trẻ con mà người khác lôi cha mẹ ra để chế diễu. Đức Phanxicô nói: “Hãy nguyền rủa mẹ tôi đi, tôi sẽ đấm cho!”  Tôi không biết vị giáo hoàng này có giơ tay đấm người nào xúc phạm đến mẹ mình chưa. Nhưng tôi hiểu được phản ứng tự nhiên ấy. Lúc nhỏ, mỗi lần có ai gọi tên cha mẹ tôi ra thôi, chớ đừng nói đến chuyện thóa mạ, tôi đã liều mạng để ăn thua đủ với người đó. Mà đâu cần gọi tên cha mẹ của tôi, đụng đến anh chị em của tôi thôi cũng đủ để tôi nộ khí xung thiên rồi. Thế giới không thể quên cú húc đầu ngàn cân mà danh thủ túc cầu Pháp gốc Algerie Zinedine Zidane đã tống vào ngực của cầu thủ Ý Marco Materazzi trong trận chung kết giải Túc cầu Thế giới tại Berlin năm 2006. Anh bị trọng tài phạt thẻ đỏ và đuổi ra khỏi sân. Pháp thua Ý với tỷ lệ 5-3 trong trận thi đấu phạt đền. Báo Le Figaro gọi cú húc đầu của Zidane là một hành động “bỉ ổi”. Một tờ báo khác của Pháp nêu lên câu hỏi: “Chúng ta phải ăn nói như thế nào với con cái chúng ta, những kẻ mà bạn (Zidane) đã mãi mãi trở thành một mẫu mực?...Tại sao một hành động như thế lại có thể xảy ra với một người như bạn?” Mãi về sau người ta mới biết rằng cầu thủ Materazzi đã chạm vào phần thánh thiêng nhứt trong con người Zidane khi nói một điều xúc phạm đến em gái của anh.  Xúc phạm đến niềm tin tôn giáo của người khác chẳng khác nào xúc phạm đến cha mẹ hay người thân của người đó.
Nhiều người, trong đó có Thủ tướng Anh, ông David Cameron, đã không đồng ý với phản ứng của Đức Phanxicô. Thủ tướng Anh đã phê bình nhà lãnh đạo công giáo và nhấn mạnh rằng ngài đã sai lầm khi bảo rằng những ai chế diễu Hồi giáo và các tôn giáo khác nên bị “đấm” vào mặt. Theo ông, người bị xúc phạm không có quyền “trả thù”. Dĩ nhiên, một nhà lãnh đạo tinh thần lúc nào cũng rao giảng sự tha thứ và khoan nhượng như Đức Phanxicô không hề biện minh cho hành động trả đũa của những người Hồi giáo cực đoan trước việc tuần báo “Charlie Hebdo” xúc phạm đến tiên tri Mahomet của họ. Với hình ảnh cú đấm được tung ra, ngài chỉ muốn nhấn mạnh rằng tự do ngôn luận, tự do báo chí phải có giới hạn của nó. Theo ngài, nhân danh Thượng Đế và tôn giáo để sát hại người khác là một hành động tội ác không bao giờ có thể biện minh được. Nhưng nhân danh quyền tự do báo chí để chế diễu, thóa mạ, khiêu khích, tức để cố tình xúc phạm đến tình cảm tôn giáo của người khác, cũng là điều không thể chấp nhận được.
Tình cảm tôn giáo là thẩm cung thánh thiêng nhứt trong con người. Không thiếu người sẵn sàng “tử đạo” khi tình cảm ấy bị xúc phạm. Có lẽ đây là lý do tại sao tôn giáo vẫn là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến không biết bao nhiêu bạo động và chiến tranh trong lịch sử nhân loại. Tôn giáo là nguyên nhân gây ra hơn một nửa các cuộc nội chiến trên thế giới từ năm 1945 đến năm 1960. Từ năm 1960 đến năm 1990, ba phần tư các cuộc nội chiến đều do tôn giáo châm ngòi và kể từ sau khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991, tỷ lệ của các cuộc nội chiến vì lý do tôn giáo lại càng cao hơn. Nhiều cuộc chiến xảy ra hơn, nhiều người bị giết hại hơn và nhiều tội ác được thực hiện nhân danh tôn giáo hơn bất cứ sức mạnh nào khác trong lịch sử nhân loại. Đây quả là sự thật đau buồn nhứt trong lịch sử nhân loại vào thời đại này (x. Peter C. Phan, Being Religious Interreligiously, Orbis Books, New York, 2004 p.189). Nói đến chiến tranh nhân danh tôn giáo, có lẽ người ta chỉ nghĩ đến Osama Bin Laden và những người Hồi giáo cực đoan, nhứt là các chiến binh “Thánh chiến” của họ. Kỳ thực, có tôn giáo nào mà ít hay nhiều không can dự vào các cuộc chiến tranh tôn giáo. Tình cảm tôn giáo là một sức mạnh khủng khiếp. Bị xúc phạm và khai thác, sức mạnh ấy có thể dẫn đến bao đại họa cho con người.
Đứng trước thảm kịch chiến tranh bắt nguồn từ tôn giáo, không thiếu người đề nghị một giải pháp đơn giản: dẹp bỏ tôn giáo là xong! Đầu thập niên 1970, trong ca khúc có tựa đề “Imagine” (Hãy thử tưởng tượng), ca nhạc sĩ John Lennon (1940-1980) của ban The Beatle, đã chẳng mơ ước một thế giới “không có tôn giáo, trong đó mọi dân tộc sẽ sống chung hòa bình với nhau” đó sao. Trước ông, các ông tổ của chủ nghĩa Marxit và chủ nghĩa cộng sản không chỉ mơ mà còn muốn thực hiện một thứ thiên đàng trần gian không có tôn giáo. Điều gì đã xảy ra khi con người cố gắng xóa bỏ tôn giáo  thì ngày nay nhân loại vẫn mãi nhớ đến như một cơn ác mộng khủng khiếp mà thôi.
Không thiếu những người “lợi dụng” tôn giáo để đeo đuổi quyền lực hay những ý đồ đen tối của mình. Và dĩ nhiên, cũng không thiếu những  người, vì tình cảm tôn giáo của mình bị xúc phạm, đã để cho người khác lèo lái, xách động để rồi lao mình vào những hành vi bạo động mù quáng. Nhưng bên cạnh thái độ cực đoan và những hành động cuồng tín của một số người, tự do báo chí hay nói chung, các thứ quyền tự do, một khi được thực thi không giới hạn, cũng có thể là ngòi nổ làm phát sinh các cuộc xung đột.
Cuộc thảm sát tại Paris và sau đó là phản ứng của người Hồi giáo tại nhiều nơi trên thế giới trước việc tuần báo “Charlie Hebdo” tiếp tục cho đăng tải một bức hí họa về tiên tri Mahomet khiến tôi phải suy nghĩ về các thứ quyền tự do của tôi. Tôi không nhớ tác giả nào đó đã dùng một hình ảnh rất chính xác là cái mũi để nói đến giới hạn của các quyền tự do của con người: “Quyền của bạn chấm dứt khi nó chạm đến chiếc mũi của tôi”. Bạn có quyền được tự do hút thuốc, nhưng một khi khói thuốc từ miệng bạn phà ra chạm đến mũi của tôi, thì quyền tự do hút thuốc của bạn đã chấm dứt với sự hiện diện của tôi. Sống có tự do đích thực không có nghĩa là muốn làm gì thì làm, mà chính là biết quan tâm đến người khác để việc thực thi tự do của mình không chạm đến tự do của người khác và nhứt là xúc phạm đến những gì mà người khác cho là thánh thiêng và đáng trân quý nhứt.







Thứ Ba, 27 tháng 1, 2015

Thu Phong


Chu Thập
17.06.11


Khu tôi ở không đến nỗi nghèo nàn xập xệ. Tuy sạch sẽ và có những khu vườn xinh xắn, nhưng đây cũng chỉ là một xóm “bình dân” với lối kiến trúc đơn giản, nhanh gọn du nhập từ Mỹ, chẳng có gì đáng để thu hút sự chú ý: đa số là nhà trệt trần thấp, một mái, ba “gian” phòng rõ rệt. Tiện nghi tối thiểu thì không thiếu, nhưng dĩ nhiên nhà ở xóm tôi được cất lên không phải để được nhìn ngắm, trầm trồ hay se sua mà chỉ đơn thuần là để ở. Cảnh vật cũng không có gì đáng nói. Từ ngoài nhìn vào mọi nhà đều có vẻ sàn sàn “bình đẳng” như nhau.
Chính vì vậy mà mỗi sáng Chúa nhựt, trước khi đến nhà thờ, tôi thích đi bách bộ trên những con đường ở vùng North Shore, Bắc Sydney. Ở đây nhà cửa, biệt thự đẹp và sang trọng. Nhưng điều tôi thích nhứt là có nhiều cây phong (maple) với lá đổi mầu. Ánh bình minh ló dạng thường mang đến không biết bao nhiêu bức tranh để chiêm ngắm. Với niềm xác tín “Bình an trong mỗi bước đi”, những buổi đi dạo trên những con đường trong khu nhà giàu ấy luôn mang lại cho tôi bình an và thanh thản. Quả thực, những ngôi nhà sang trọng là những bức tranh để thưởng lãm.
Càng ngắm nghía những tòa nhà đẹp đẽ này, tôi càng tin chắc rằng người ta không chỉ cất nhà để trú ngụ, mà còn để “khoe” cái nhãn hiệu nhà giàu của mình.  Đành rằng nhà cửa cũng là biểu hiện của sự giàu sang, nhưng điều đó chẳng mảy may có tác động nào đối với tôi. Trong cái nhìn của tôi, những ngôi biệt thự kiểu cọ, sang trọng với những khu vườn hài hòa ấy chỉ là những tác phẩm kiến trúc để mà chiêm ngắm. Nói như thế không có nghĩa là tôi không màng đến những người đang sống trong những ngôi nhà ấy. Những chiếc xe với những nhãn hiệu như Lexus, BMW, Mercedes, Audi…đậu trước những ngôi nhà sang trọng ấy ngầm nói với tôi rằng chủ nhân của những ngôi nhà này thuộc giai cấp giàu sang và trưởng giả. Họ có thể là những người sinh ra dưới một ngôi sao tốt, được thừa hưởng sản nghiệp của ông bà, cha mẹ để lại. Họ có thể là những người từ bàn tay trắng dựng nên sự nghiệp. Họ có thể là những người đã thành công trong việc sách đèn và vươn lên trong các bậc thang xã hội. “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”, một khi đã thoát cảnh nghèo, thay da đổi thịt, ai cấm người ta dọn đến những khu “nhà giàu” an toàn hơn, bảo đảm hơn cho việc giáo dục con cái cũng như để gia nhập vào giai cấp trung lưu, thượng lưu của xã hội. Thời nào và ở đâu cũng thế thôi. Xã hội nào mà chẳng có giàu nghèo. Xã hội nào mà chẳng có bất bình đẳng. Ông trời ở đâu và thời nào cũng sinh ra những con người có đẹp có xấu, có thông minh có đần độn, có khỏe mạnh có ốm đau, có giàu sang có nghèo hèn.
Tôi thường có ý nghĩ ấy mỗi khi đi bách bộ trong những khu nhà giàu, mà chẳng bao giờ cảm thấy thèm muốn, bất mãn, ganh tỵ và nhứt là thù hận. Vả lại, tôi cũng xác tín rằng những người giàu có đang sống trong những ngôi nhà sang trọng ấy chưa chắc gì đã có được niềm hạnh phúc, sự bình an và thanh thản của một người nghèo như tôi là kẻ đang tản bộ trước nhà họ. Giả như cách đây gần 200 năm, ông tổ của chủ nghĩa Marxit cũng thường đi lại trước những ngôi nhà giàu và cũng có cùng một suy nghĩ và cảm nhận như tôi thì chắc chắn trong thế kỷ 20 vừa qua nhân loại đã không phải chịu bao nhiêu đau thương tang tóc và sang thế kỷ 21 này, một số quốc gia, trong đó có Việt nam của tôi, không đến nỗi phải tiếp tục quằn quại trong các chế độ độc tài khát máu.
Đọc lại tiểu sử của Karl Marx, tôi biết rằng vào khoảng đầu thập niên 50 của thế kỷ 19, vì các họat động chính trị ông đã phải trốn chạy khỏi Đức, Pháp và Bỉ và được Anh quốc cho tá túc. Đây là quảng thời gian u ám nhứt trong cuộc đời của ông tổ Marxit. Ông tiến sĩ và người vợ, vốn là con gái của một nhà quí tộc Đức, phải sống trong một căn hộ tồi tàn ở London. Một buổi sáng mùa Đông nọ, sau một phiên tuần tra chiếu lệ, một viên cảnh sát Anh đã ghi lại như sau: “Marx sống trong một trong những khu tồi tệ, rẻ tiền nhứt ở London. Căn hộ của ông có hai phòng, phòng nhìn ra ngoài đường là phòng khách và phòng ngủ ở phía sau. Không có bất cứ một thứ bàn ghế lành lặn nào trong bất cứ phòng nào: tất cả đều trong tình trạng xiêu quẹo, gẫy đổ, mục nát, dính đầy bụi và cáu bẩn. Giữa phòng khách có một chiếc bàn được phủ vải dầu. Trên đó có những bản thảo, sách vở và báo chí cũng như đồ chơi trẻ con nằm la liệt bên cạnh cái rổ may của người vợ, cộng với ly tách, muỗng nĩa dơ bẩn, những cái điếu cày, tàn thuốc nằm ngổn ngang trên bàn…Nhưng tất cả những thứ này không hề tạo ra chút bối rối nào cho Marx hay vợ ông.”
Trong cảnh nghèo nàn cùng cực ấy, ông tiến sĩ triết học dĩ nhiên cũng tỏ ra lo ngại cho cuộc sống của vợ con. Trong một lá thư gởi cho người bạn và mạnh thường quân Engels, ông thú nhận rằng “những đêm đầy nước mắt và những chuỗi than vắn thở dài” của vợ ông đã gần như vượt quá sức chịu đựng của ông. Nhưng mặt khác, ông lại huênh hoang cho biết mình đang nghiên cứu lịch sử, chính trị, kinh tế và các vấn đề xã hội để tìm ra giải đáp cho những mọi vấn đề của thế giới.
Và đây là kết quả trước mắt của cuộc sống đầy ảo tưởng, nếu không nói là vô trách nhiệm của một người cha: năm 1852, đứa con gái nhỏ tên là Francisca của ông qua đời. Hai năm sau đến lượt đứa con trai nhỏ Edgar và hai năm sau nữa một đứa bé mới sinh cũng qua đời.
Một lá thư còn giữ lại của bà Marx ghi lại rằng trong khi những đứa con đói meo của ông đang chết dần chết mòn thì người cha lại suốt ngày đêm “dùi mài kinh sử” trong thư viện. Câu nói để đời của ông “chỉ có súc vật mới quay lưng lại với nỗi khổ đau của đồng loại để chỉ chăm sóc cho bộ da riêng của mình” lẽ ra phải được áp dụng ngay vào hoàn cảnh của chính ông.
Trong quyển tiểu sử viết về Karl Marx, Otto Ruhle đã nhận xét về ông như sau: “Không có một đồng xu dính túi và ngay cả chiếc áo sơ mi mặc trên người cũng bị mang đi cầm, vậy mà ông vẫn nhìn vào thế giới với thái độ ngạo nghễ…Suốt đời, ông luôn sống trong tình trạng cháy túi. Thật là buồn cười, ông không có khả năng để giải quyết những nhu cầu kinh tế của gia đình và sự bất lực trong lãnh vực tiền bạc đẩy ông vào hàng loạt “liên tu bất tận” những tai họa và phấn đấu. Ông luôn sống trong tình trạng nợ nần và không ngừng bị các chủ nợ hối thúc…Hầu như mọi thứ trong nhà đều nằm ở tiệm cầm đồ”.
Thật chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi một người có cuộc sống như thế đã trút hết mọi sự thù hận của mình lên những người giàu có hơn mình và đề ra chủ trương thù hận và đấu tranh giai cấp.
Giả như Karl Marx, thay vì ngày đêm trốn tránh và vùi đầu trong sách vở và các thứ ảo tưởng, chịu khó dành những giây phút rảnh rỗi để đi bách bộ với vợ con và suy nghĩ về trách nhiệm “tề gia” của mình hơn là những vấn đề “bình thiên hạ”, thì có lẽ nhân loại đã chẳng bao giờ biết thế nào là đấu tranh giai cấp, cách mạng bạo động, cải cách ruộng đất, đấu tố, cải tạo, đảo lộn mọi bậc thang giá trị, xóa bỏ mọi giá trị đạo đức…
Thực ra, trong cảnh nghèo cùng, ai cũng có thể trải nghiệm cái tâm trạng của Karl Marx. Mới đây, sau khi đã bị cấm không cho tham dự đại hội điện ảnh Cannes, Pháp quốc, vì tự nhận mình là một người theo Đức quốc xã, đạo diễn người Đan mạch, ông Lars Von Trier, tuyên bố: “Trong mỗi người chúng ta, ai cũng đều có một chút (máu) Đức quốc xã cũng như vẫn có một chút “Hitler” trong bản thân. Và tôi nghĩ rằng phủ nhận sự thực này là điều nguy hiểm”. Nhại giọng của nhà đạo điễn Đan mạch này, tôi cũng không thấy mình đi quá đà khi nói rằng trong mỗi người chúng ta, ai cũng có chút máu của Karl Marx, và có khá nhiều cái nhìn về người khác như Karl Marx, nghĩa là cũng có ganh ghét và thù hận, nhứt là khi thấy người khác hơn mình về một phương diện nào đó. Và đây chính là nỗi khổ đích thực của chúng ta.
Mỗi buổi sáng Chúa nhựt của mùa Thu đẹp như tranh, trong khi đi bách bộ trong khu nhà giàu ở North Shore, tôi thường tập hít thở và thiền niệm để thắng vượt cái tâm vẫn còn đầy sân hận ấy. Ít ra tôi phải cám ơn “khu nhà giàu” này vì nhờ họ tôi được bắt đầu một tuần mới bằng những hình ảnh tuyệt đẹp. Nhưng họ phải cám ơn những cây phong vì nhờ chúng mà biệt thự của họ đẹp hẳn lên. Tôi vẫn thắc mắc không hiểu có phải vì muốn “phân chia giai cấp” không mà cây phong chỉ thấy nhiều ở thủ đô Canberra và những khu nhà giàu, còn tràm (gum trees) và các loại cây “native” thì họ lại trồng khắp các khu nhà nghèo và bình dân như xóm tôi. Thời tiết trong những khu nhà giàu ở North Shore có khác gì thời tiết của khu nhà nghèo của tôi đâu. Cũng bốn mùa nắng mưa có cả mà. Vả lại, phong thì xem ra ở trên cái đất Úc này, chỗ nào mà chẳng sống được. Bằng chứng là sau vườn của tôi có hai cây phong cũng biết thay màu đổi lá như phong ở khu nhà giàu. Ông Karl Marx mà có đội mồ sống lại thì hẳn ổng sẽ đòi san bằng mấy hàng cây phong ở khu nhà giàu mất thôi.
Thực ra, nói cho công bằng, trong cái khu nhà giàu mà tôi thường đi bách bộ mỗi buổi sáng Chúa nhựt mùa Thu, không chỉ có phong, mà còn có nhiều thứ cây có lá rụng và đổi màu khác. Nhìn từ xa, cứ tưởng những cây đổi màu đều là phong. Đến gần mới thấy bên cạnh phong cũng có những loại cây khác cũng “biết” đổi màu, khoe sắc và rơi rụng lả chả xuống đất. Hơn nữa, nhìn kỹ một chút, tôi mới thấy phong không chỉ có một loại, mà có đủ mọi loại, với thân và lá đủ mọi kích cỡ và màu sắc. Lạ nữa, hai cây phong cùng một loại như nhau, nhưng nếu được trồng ở một khoảng cách nào đó để có thể đón nhận ánh sáng mặt trời ở một góc độ khác nhau, thì lại đổi màu lá không cùng một lúc.
Phong cùng một loại không thôi cũng đủ tạo ra một bức tranh mùa Thu đẹp. Phong đủ loại đứng bên nhau lại càng làm cho bức tranh rực rỡ hơn. Phong chen chúc bên cạnh những loại cây lá rụng thay mầu khác thì lại làm cho cảnh vật nên thơ bội phần. Nhưng nếu đàng sau phong và những cây lá rụng mà có những cây tràm hay cây có lá xanh quanh năm ngày tháng đứng làm “phông” thì dĩ nhiên, bức tranh được xem như hoàn hảo.
Chiêm ngắm bức tranh ấy, tôi thường nghĩ đến tinh thần khoan nhượng. Cỏ cây dạy cho tôi không biết bao nhiêu bài học về làm người. Thú vật thường có phản ứng trước cách cư xử của con người. Một con chó có thể vẫy đuôi để tỏ tình thân thiện hay biết ơn. Một con mèo có thể biểu lộ nhu cầu muốn được mơn trớn. Nhưng cây cỏ thì tuyệt nhiên vẫn luôn tỏ “thái độ” bình thản đối với cách cư xử của tôi. Tôi có nguyền rủa, nó vẫn đứng trơ trơ. Nhưng dù cho tôi có đối xử bạc bẽo đến đâu, nó vẫn tiếp tục làm buồng phổi để lọc khí cho tôi thở. Và dĩ nhiên, giữa thế giới cỏ cây, lúc nào cũng có sự sống chung hòa bình. Nhỏ bé và ốm yếu đến đâu, cũng vẫn có thể đứng bên cạnh, len lỏi hay quấn quít vào cây lớn. Càng to lớn dềnh dàng lại càng là nơi nương tựa cho những loài cây bé nhỏ. Tựu trung, trong “xã hội” thực vật, mỗi loại, chỉ cần cắm rễ vào đất, đều có chỗ đứng và cơ hội góp mặt với đời.
Sở dĩ trong xã hội loài người luôn có xung đột chiến tranh là bởi trong mỗi người đều có một chút máu của hận thù và đấu tranh giai cấp của Karl Marx và một chút máu bất khoan nhượng của Hitler.
Dưới tàn cây phong, tôi thấy mình như đứng dưới một người thày lớn: học bình thản trước mọi hoàn cảnh; tỏa bóng mát cho đời, cho người bằng sự khoan dung; giúp những người kém may mắn hơn mình có cơ hội như cây phong cho dây leo nương tựa và nhứt là biết trao ban những gì tốt đẹp nhứt như hình ảnh chiếc lá đang rơi.








Thứ Sáu, 23 tháng 1, 2015

Tôi cũng là Charlie


Chu Thập
16/1/15

Đầu năm, xem cuốn phim “The Interview” (cuộc phỏng vấn), tôi đã có được một trận cười...chảy nước mắt. Thương cho cuộc sống bị hạ thấp còn hơn cả nô lệ và súc vật của không biết bao nhiêu người dân Bắc Hàn.
Nhiều người cho đây là một cuốn phim hài rẻ tiền. Quả thật, có một số chi tiết thừa thãi và lố bịch khiến cho khán giả khó chịu hơn là cười cợt. Tuy nhiên, trong cảm nhận riêng của mình, tôi nghĩ có lẽ hai đạo diễn Seth Rogen và Evan Goldberg, khi nêu đích danh lãnh tụ Kim Jung-un ra mà châm chọc, chỉ muốn  nói lên một sự thật: cả chế độ cộng sản bưng bít và cha truyền con nối Bắc Hàn chỉ là một màn kịch và là một màn kịch tồi. Từ ông nội đến cha rồi con, tất cả các lãnh tụ “vĩ đại” và “vô vàn kính yêu” của chế độ cộng sản này đều là những diễn viên hề tồi tệ nhứt. Nhưng họ đã thành công khi biến tất cả mọi người dân trong nước trở thành không chỉ là diễn viên mà ngay cả những con rối chỉ còn múa may theo sự giựt giây của họ. Bảo hoan hô, người dân hoan hô. Ra lệnh đả đảo, người dân đả đảo. Thậm chí, khi đe dọa phải khóc, người dân cũng phải  khóc rống lên. Và cũng giống như trong bất cứ một chế độc độc tài toàn trị nào, sự dối trá được lập đi lập lại cũng biến thành sự thật. Người dân Bắc Hàn tin như đinh đóng cột rằng ông nội, cha và con của dòng họ Kim này đều là thần thánh: họ là thần thánh cho nên không có bộ máy “bài tiết” như mọi sinh vật khác trên trái đất này. Chi tiết này được hai đạo diễn của cuốn phim khai thác triệt để và xem ra có vẻ lố bịch. Kỳ thực, đây vẫn là “sự thật” hiện đang được người dân Bắc Hàn “tuyên xưng”.
Xuất hiện trong chương trình “Insight” của đài SBS dạo tháng Tư năm vừa qua, một nữ sinh viên tên là Yeonmi Park cho biết cô sinh ra và sống dưới chế độ cộng sản Bắc Hàn cho đến năm 15 tuổi. Cô khẳng định: “Trong 15 năm đầu cuộc đời của tôi, tôi đã tin rằng Kim Jong-il là một vị thần. Tôi đã không bao giờ nghi ngờ điều đó, bởi vì tôi đã không hề biết một điều gì khác. Ngay cả tôi cũng không thể tưởng tượng được cuộc sống bên ngoài chế độ như thế nào”. Vì tin rằng chủ tịch vĩ đại và vô vàn kính yêu có thể đọc được tư tưởng của mình, cho nên cô gái Bắc Hàn này luôn phải cẩn trọng trong lời ăn tiếng nói và suy nghĩ của mình.
Cô Park kể lại rằng cha cô đã từng là một viên chức chính phủ. Cho nên so sánh với một số người khác, cuộc sống của gia đình cô tương đối dễ thở hơn. Nhưng bị tình nghi có phạm một điều sai trái gì đó, cha cô đã bị giam tù 3 năm. Trong chế độ cha truyền con nối này, cha phạm tội thì con cũng hết đất sống. Đây là lý do khiến gia đình cô đã quyết định rời bỏ thủ đô Bình Nhưỡng để tìm về một vùng quê gần biên giới Trung Quốc và tìm cách vượt thoát. Sau một thời gian sống chui nhủi ở Trung Quốc, gia đình cô đã “vượt biên” sang Nam Hàn. Nhưng ngay cả sau khi được đặt chân lên vùng đất tự do, cô gái đã từng sống 15 năm đầu đời trong chế độ cộng sản Bắc Hàn vẫn nghĩ rằng lãnh tụ Kim Jong-il tiếp tục đọc được tư tưởng của mình, cho nên cô không bao giờ dám có một ý nghĩ tiêu cực về chế độ này. Mãi một thời gian sau khi được “trục độc”, cô mới biết được rằng Kim Jong-il là một nhà độc tài và nhờ hiểu được thế nào là xã hội chủ nghĩa, thế nào là cộng sản chủ nghĩa và thế nào là tư bản chủ nghĩa, cô mới học được nhiều điều mới lạ và cuối cùng nhận ra sự thật.
Cô Park chia sẻ: “Tôi đã nhận ra rằng tất cả những điều suy nghĩ trước kia của tôi đều là dối trá. Tôi đã không phải là một con người thật. Tôi đã được “chế tạo” cho chế độ để phục vụ họ. Nếu họ ra lệnh cho tôi phải chết, tôi cũng phải chết cho họ. Tôi không phải là một con người. Tôi là một cái gì khác. Chắc chắn, tôi đã không được đối xử như một con người. Tôi đã không biết được thế nào là tự do. Phải mất ba năm tôi mới hoàn toàn được gột rửa khỏi sự tẩy não” (x.Sydney Morning Herald, Daily Life 12/4/2014).
Nhận ra mình là một “con người” có đầy đủ các nhân quyền và được sống tự do: có lẽ chỉ có những ai đã từng sống trong địa ngục trần gian của một chế độ cộng sản độc tài như cô Park trên đây, mới nhận ra được bộ mặt dối trá và lố bịch của các diễn viên hề trong các chế độ độc tài, đồng thời ý thức được phẩm giá đích thực của mình.
Đầu năm, song song với cuốn phim “The interview” về chế độ cộng sản  Bắc Hàn, tôi cũng cảm thấy được “bồi dưỡng” rất nhiều khi đọc hồi ký “Đèn Cù II” của cụ Trần Đĩnh. Cũng như “Đèn Cù I” và với nhiều chi tiết hơn, “Đèn Cù II” có lẽ cũng có nội dung chẳng khác nào cuốn phim “The Interview”. Nhưng là người trong cuộc, cụ Trần Đĩnh đã dựng lại vở hài kịch của chế độ cộng sản Việt Nam một cách trung thực và sống động hơn. Có thể nói rằng cuộc hành trình mà cụ Trần Đĩnh đã giải bày trong “Đèn Cù II”, như nhận định của kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, là một cuộc hành trình “trục độc”. Nói cách khác, tác giả đã từng viết tiểu sử của ông Hồ Chí Minh và hồi ký của nhiều nhân vật chóp bu trong chế độ cộng sản Việt Nam, đã cố gắng qua từng trang sách, khi ghi lại các sự kiện trong thâm cung bí sử của Đảng cộng sản Việt Nam, làm điều mà cụ gọi là “càng lột bỏ bộ mặt nạ trên tôi, thì tôi mới càng là tôi” (trg 24).
Có lẽ đây là điệp khúc thường được tác giả lập lại trong hồi ký tập II này. Theo cụ Trần Đĩnh, tất cả những người đã từng đi theo chủ nghĩa cộng sản hoặc góp phần xây dựng và củng cố chế độ này từ lúc còn trong trứng nước cho đến nay, đều là những táo quân trần truồng quay cuồng trong chiếc đèn cù là chế độ cộng sản (trg 65).
Tấn tuồng “đèn cù” mà chế độ cộng sản Việt Nam đã dựng lên đã được cụ Trần Đĩnh mượn lời của danh hài Charlie Chaplin trong cuốn phim “Tên Độc Tài” để tóm tắt như sau: “Các bạn, các chiến binh, các bạn đừng dâng mình cho những con thú, những kẻ bắt các bạn làm nô lệ, đặt đời các bạn vào trong hệ thống, điều khiển hành động, ý nghĩ và cảm xúc của các bạn! Chúng rèn giũa các bạn, kiểm soát khẩu phần của các bạn, coi các bạn như bầy gia súc. Chúng là những kẻ dị dạng, những người máy với bộ óc máy, những con tim máy và chúng đã hứa hẹn và rồi lừa các bạn. Chúng giành tự do cho chúng còn các bạn thì thành nô lệ. Các bạn không phải là những cỗ máy, không phải là gia súc mà là những con người! Là con người, các bạn bây giờ hãy chiến đấu cho tự do, hãy không chịu làm nô lệ...” (trg 318).
Trong cái chế độ đã biến thành sân khấu này, “làm người”, như tác giả “Đèn Cù II” đã ghi lại câu nói sâu sắc của một cán bộ sơ cấp tên là Đảm, là điều “khó nhất”. Theo anh cán bộ này “sợ nhất là nói. Khó nhất là làm người”. Chính vì sống như một con người có ý thức về các quyền và tự do của mình là điều khó nhất, cho nên người dân và nhất là những người cộng sản, đành phải đóng kịch. Đóng kịch trước mặt các “chủ nô” đã đành, mà cũng phải đóng kịch với nhau.
Trong hồi ký “Viết về bè bạn”, nhà văn Bùi Ngọc Tấn, người vừa mới qua đời hôm 18/12/14 vừa qua, có kể lại một giai thoại cười ra nước mắt về nhà văn Mặc Lân, con trai của nhà văn Lê Văn Trương (1906-1964). Theo tác giả của “Chuyện kể năm 2000”, năm 1971, nhà văn Mặc Lân bị đặt vào tình thế phải nghỉ hưu non. Ông “không được viết, hoặc được viết nhưng không được in hay được in nhưng không được ký tên cũng không được nhận tiền nhuận bút”. Nhưng nhờ vậy mà ông lại có nhiều việc đề làm. Nhiều “văn nô” đã tìm đến ông để nhờ ông viết dưới danh nghĩa của họ. Hợp đồng thường là 50/50, nghĩa là nhuận bút chia đôi. Nhưng cũng không thiếu trường hợp kẻ nhận tiền nhận bút “quịt” luôn. Mà bởi hợp đồng được ký bằng miệng cho nên chẳng biết khiếu nại với ai.
Tác giả Bùi Ngọc Tấn kể lại một “hài kịch” về chuyện viết thuê này. Một anh cán bộ thích nổi danh đã đến gặp Mặc Lân để đặt hàng. Anh giải thích với vợ rằng vì thấy Mặc Lân túng thiếu cho nên mới cầm bản thảo đến nhờ ông chép lại cho rõ ràng và giúp đỡ để sống qua ngày. Sau khi tác phẩm được hoàn tất và người cán bộ nhận được một số tiền nhuận bút hậu hĩ, Mặc Lân đến nhà anh ta để nhận thù lao như hai người đã đồng ý với nhau theo hợp đồng miệng. Chẳng may hôm đó người vợ lại ngồi kè kè bên cạnh chồng. Sau mấy tiếng đồng hồ trò chuyện, Mặc Lân đành ra về tay không. Mấy ngày sau, người vợ của anh cán bộ tìm đến nhà Mặc Lân, trên tay có cầm một bì thư có tiền. Chị nói: “Anh đánh rơi tiền ở nhà tôi đây này. Khi anh về, nhà tôi thấy ở gầm ghế anh ngồi có số  tiền này, hỏi tôi tiền nào đây. Chồng không mất, vợ không mất. Anh ấy bảo thế thì chỉ có tiền anh Lân đánh rơi mà thôi”. Phải mất một hồi lâu, nhà văn Mặc Lân mới hiểu và reo lên: “Chết rồi. Đúng rồi. Tiền vợ tôi nó vừa lĩnh họ đưa cho tôi lúc chiều. May quá. Cám ơn anh chị”.
Lần khác, theo tác giả “Chuyện kể năm 2000”, truyện do Mặc Lân viết thuê lại được giải thưởng. Nhưng vì hợp đồng được ký qua trung gian của một người khác, cho nên “tác giả” nhận giải thưởng không hề biết Mặc Lân. Gặp ông, “tác giả” lên mặt kể đến một số đoạn do mình “sáng tác”. Mặc Lân chỉ biết cười thầm trong bụng (Bùi Ngọc Tấn, Viết Về Bè Bạn, Tiếng Quê hương, Hoa Kỳ 2005, trg 68-74).
Trong chế độ mà người sáng lập đã có thể tự viết tiểu sử dưới một danh hiệu khác để tự đề cao mình lên chín tầng mây thì cuộc sống có trở thành một sân khấu và mọi người đều trở thành diễn viên hài, chẳng có gì đáng gây ngạc nhiên cả. Chỉ có điều con số những người biết dừng lại và tìm cách ra  khỏi cái vòng quay của chiếc đèn cù để chấm dứt vai diễn của mình và sống thực với con người của mình, không phải là nhiều. Cụ Trần Đĩnh thuộc con số ít ỏi ấy. Cụ đã trích dẫn một câu nói thời danh của triết gia Đan Mạch Soren Kierkegaard (1813-1855) để không ngừng tự cảnh tỉnh: “Mày là thế nào thì hãy sống hết lòng như thế đó” (Sois de tout coeur ce que tu es) ( trg 37).
Xem cuốn phim “The Interview”, đọc “Đèn Cù II” rồi nghĩ đến không biết bao nhiêu chế độ độc tài vẫn còn thống trị trong thế giới ngày nay, tôi lại liên tưởng đến khẩu hiệu “Je suis Charlie” (tôi là Charlie) mà người dân Pháp đã giăng tràn ngập ở thủ đô ánh sáng Paris sau vụ sát hại 10 ký giả và họa sĩ của tuần báo trào phúng “Charlie Hebdo”. Với người dân Pháp, tuần báo này là biểu tượng của mọi quyền tự do trong đó quan trọng hơn cả là tự do ngôn luận và phát biểu. Kể từ cuộc cách mạng năm 1789, “tự do muôn năm” (vive la liberté) đã trở thành cốt lõi cuộc sống văn minh của người Pháp. Sống như một con người và nhứt là như một người tự do, đó là thông điệp mà chắc chắn người dân Pháp muốn nhắn gởi cho thế giới trong những ngày vừa qua.
Trong tình liên đới với các nạn nhân của vụ thảm sát ở Paris hôm thứ Tư 7 tháng Giêng vừa qua và nhứt là muốn nhắn gởi với các chế độ độc tài, dù là chính trị hay tôn giáo, tôi cũng muốn thốt lên “tôi cũng là Charlie”. Và dĩ nhiên, cùng với khẩu hiệu này, tôi cũng tự nhắc nhở mình rằng để sống như một con người tự do đích thực, tôi không thể không sống theo nguyên tắc đạo lý nền tảng: “Những gì ngươi không muốn người khác làm cho ngươi, ngươi cũng đừng làm cho họ”.