Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2014

Điều đáng sợ nhứt!



Chu Thập
7/11/14

Tôi vốn không thích các phim kinh dị, nhứt là ma quái. Với tôi  hầu hết các phim này đều giả tạo. Có lẽ cuốn phim kinh dị duy nhứt  đã thực sự tạo ra nơi tôi một nỗi sợ hãi khủng khiếp là phim “The Exorcist” (kẻ trừ quỉ) do đạo diễn William Friedkin thực hiện năm 1973. Nghe nói khi cuốn phim được trình chiếu ở Sài Gòn trước năm 1975, nhiều khán giả Việt Nam  sợ đến ni đã la hét và nôn ma. Tiếc vì chưa được xem và nhứt là nghe nói cuốn phim dựa trên một câu chuyện có thật cho nên năm 1982 khi đến Pháp tôi đã quyết chí đi xem cho bằng được. Ngồi trong góc của một rạp chiếu bóng chỉ có vỏn vẹn năm ba khán giả, tôi thực sự cảm thấy rợn tóc gáy với những pha quỉ nhập. Có lẽ đó là lần duy nhứt tôi thực sự cảm thấy biết sợ khi xem phim ma quái.
Ngày nay, không hiểu sao tôi không còn hứng thú để xem phim ma quái nữa. Vậy mà loại phim này vẫn còn thu hút khán giả, bất luận thuộc phái tính hay tuổi tác nào. Thủ đô điện ảnh Hollywood vẫn tiếp tục hái ra tiền nhờ loại phim này.
Trong phòng vệ sinh, một thiếu phụ trẻ vặn vòi nước của bồn tắm và đánh răng. Bất thần khi soi mình trong gương, chị hoảng hốt khi thấy miệng mình bị bịt kín lại bằng một miếng vải tơ. Nước của bồn tắm từ từ dâng lên, thân thể chị bị một sức mạnh nào đó nhấc bổng lên và đầu chị bị đập vào bồn rửa mặt bằng sành. Người thiếu phụ này là nạn nhân cuối cùng của những sức mạnh ma quái trong cuốn phim có tựa đề “Ouija”, do đạo diễn Mỹ Stiles White thực hiện. Đây là cuốn phim ma quái mới nhứt được trình chiếu trong mùa lễ hội Halloween năm nay. Và đây cũng là một trong những cuốn phim ăn khách nhứt hiện nay: chỉ trong tuần lễ đầu tiên được ra mắt, cuốn phim đã thu về 20 triệu Mỹ kim.
Sự thành công của cuốn phim ma quái này cho thấy phần nào tâm lý của khán giả điện ảnh ngày nay. Thông thường, người ta đi xem phim là để cười, để khóc, để yêu, để nhìn thấy phần thưởng dành cho người ăn ngay ở lành và sự trừng phạt dành cho kẻ gian ác. Nhưng chúng ta cũng bước vào rạp xi nê là để cảm nhận được thế nào là sợ. Có lẽ đây là cảm xúc mà các thứ hóa trang của mùa lễ hội Halloween không đủ sức để tạo ra cho nên người ta phải chui vào rạp xi nê. Trong các thứ cảm xúc, sợ hãi vẫn còn là thứ mà con người thời đại đi tìm kiếm nhiều nhứt.
Phim kinh dị là một thứ “phép rửa” vẫn còn thu hút được nhiều tín đồ. Thể loại phim này không bao giờ lỗi thời. Cùng với phim “Ouija”, năm nay cuốn phim có tựa đề “Annabelle” của đạo diễn John R. Leonetti cũng thu hút nhiều khán giả không kém. Không có cảnh khỏa thân hay khiêu dâm nào, nhưng cuốn phim vẫn được Hội Điện Ảnh Hoa Kỳ (Motion Picture Association of America) xếp vào loại “R”, nghĩa là chỉ dành cho khán giả người lớn, vì có nhiều cảnh “bạo động và kinh hải khủng khiếp”. Cuốn phim đã thành công trong việc tạo ra sợ hãi là do đặt người xem vào tâm trạng chờ đợi. Không phải chờ đợi được giải thoát khỏi sự sợ hãi mà là chờ đợi điều khủng khiếp hơn nữa sẽ diễn ra. Qui luật nền tảng của các cuốn phim kinh dị chính là : chờ đợi điều khủng khiếp đáng sợ hơn là xem chính điều khủng khiếp!  Đây là nỗi sợ hãi đã từng được khai thác đến tận cùng trong cuốn phim có tựa đề “The Thing” (Cái đó) được thực hiện năm 1982 với vai chính do tài tử gạo cội Kurt Russell thủ diễn.
Tựu trung, sở dĩ phim kinh dị và ma quái vẫn còn hấp dẫn là bởi con người, dù ở bất cứ thời đại nào và trong xã hội nào cũng đều biết thế nào là sợ hãi. Ngồi một mình đã biết thế nào là sợ hãi. Người ta lại còn muốn cảm nghiệm nỗi sợ hãi chung cho nên mới tìm đến với nhau trong cùng một rạp xi nê (x. Tạp chí Time, November 3 2014).
Thật ra, đâu chỉ có chuyện kinh dị hay ma quái mới tạo ra sợ hãi nơi con người. Trong cuộc sống có biết bao nhiêu thứ đe dọa có thể tạo ra sợ hãi. Theo tạp chí Time số ra ngày 3/11/14 vừa qua, Trung tâm Nghiên cứu Dư luận “The Pew Research Center” có trụ sở tại Hoa Kỳ, đã thực hiện một cuộc thăm dò dư luận tại 44 quốc gia trên thế giới từ ngày 17 tháng 3 đến 5 tháng 6 vừa qua. Câu hỏi được Trung tâm này đặt ra cho những người được thăm dò ý kiến là: đâu là mối đe dọa lớn nhứt cho thế giới ngày nay?  Kết quả cuộc thăm dò cho thấy: 23 phần trăm khẳng định rằng mối đe dọa lớn nhứt cho thế giới ngày nay là vũ khí hạt nhân, 19 phần trăm cho rằng bất bình đẳng cũng là một mối đe dọa lớn cho thế giới, 18 phần trăm nói đến mối đe dọa của sự thù hận tôn giáo và chủng tộc, 14 phần trăm quan tâm đến mối đe dọa do nạn ô nhiễm và sự hủy hoại môi sinh tạo ra, 12 phần trăm lo sợ trước nguy cơ của bệnh tật.
Hiện nay, cả thế giới đang lo sợ trước nguy cơ bùng nổ của dịch bệnh Ebola. Trong hai cuốn phim “Outbreak” (bùng nổ)  được thực hiện năm 1995 và “Contagion” (lây nhiễm) năm 2011, Hollywood cũng đã khai thác một cách triệt để chủ đề “sợ hãi”. Chuyện được tưởng tượng trong hai cuốn phim đều có thể xảy ra bất cứ ở đâu và lúc nào. Dịch bệnh hay ôn dịch là một trong những mối đe dọa khủng khiếp nhứt đối với con người.  Mặc dù y khoa đã làm được những tiến bộ vượt bực và tưởng như đã kiểm soát được các loài vi khuẩn gây bệnh, con người vẫn còn phải bó tay trước một số bệnh tật. Tuy nhiên, nhìn lại kết quả do Trung tâm “The Pew Research Center” thực hiện, người ta vẫn thấy rằng mối đe dọa đáng sợ nhứt có lẽ không phải là bệnh tật hay ôn dịch mà chính là những nguy hại do con người tự tạo ra cho con người. Ở đỉnh điểm của các mối đe dọa là các vũ khí nguyên tử, kế đó là sự bất bình đẳng trong xã hội và sau đó là sự thù hận tôn giáo và chủng tộc cũng như nạn ô nhiễm và sự hủy hoại môi sinh. Tác nhân của những mối đe dọa này là chính con người.
Kể từ sau cuộc khủng bố diễn ra tại New York, Hoa Kỳ ngày 11 tháng 9 năm 2011, sự sợ hãi đã bắt đầu xâm nhập vào mọi hang cùng ngõ hẻm của cuộc sống con người. Ngày nay, ở đâu và lúc nào, khủng bố cũng đều có thể xảy ra. Nhưng kể từ vài tháng nay, sau khi tổ chức khủng bố có tên là “Quốc gia Hồi giáo” (IS) giương cao ngọn cờ đen của chết chóc và thống lĩnh một số nơi tại Syria và Iraq, cường độ của sự sợ hãi lại càng mãnh liệt hơn. Những băng hình về những cuộc xử trảm các con tin do các chiến binh của “Quốc gia Hồi giáo” thực hiện và đưa lên các trang mạng xã hội hẳn đã qua mặt các cuốn phim kinh dị trong việc tạo ra sợ hãi, bởi vì đây không phải là chuyện “hư cấu” hoặc xây dựng trên một chuyện có thật, mà là sự thật đang diễn ra trước mắt. Hơn nữa, sự sợ hãi và khủng bố không chỉ diễn ra ở đâu đó, mà là điều có thể xảy ra ngay trên đường phố của những mảnh đất yên lành như Úc Đại Lợi.
Nhìn những thước phim hãi hùng kèm với lời đe dọa của tổ chức “Quốc gia Hồi giáo”, tôi nghĩ điều đáng sợ nhứt chính là sự thù hận trong tâm hồn con người.
Trong các môn thể thao, tôi chúa ghét quyền anh và các môn võ tự do. Mới đây nhìn thấy cảnh võ sĩ Mỹ gốc Việt Cung Lê bị võ sĩ Anh Michael Bisping hạ đo ván tại Macau, mặt mũi máu me bầm dập, tôi thấy thật ái ngại. Dù có tinh thần thượng võ cao đến đâu, đã bước lên võ đài và muốn thắng đối phương làm sao không sôi máu và không chỉ là máu hiếu thắng mà còn là máu của hận thù nữa. Dù vậy, ít ra khi giáp mặt và so găng người ta đã biết rõ đối phương là địch thủ cần phải đánh gục. Trong khi đó, không cần giáp mặt với kẻ thù, không cần có chút ân oán gì với gì với những người vô tội, các chiến binh thánh chiến Hồi giáo của tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” vẫn có thể lạnh lùng đưa dao cứa cổ họ. Lòng hận thù đã biến họ thành một trái bom có thể cho nổ bất cứ lúc nào, ở đâu và nhắm vào bất cứ ai. Đây không phải là điều đáng sợ nhứt trong thế giới ngày nay sao?
Những băng hình thu các cuộc hành quyết do các chiến binh của tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” cho phát tán trên các trang mạng xã hội cho thấy những khuôn mặt mà bình thường người ta có thể bắt gặp trên đường phố New York, London, Sydney...Người thanh niên xuất hiện trong thước phim với giọng Úc đặc sệt và với những lời lẽ đe dọa nhắm vào một số nhà lãnh đạo Tây Phương trong đó có thủ tướng Tony Abbott trông có khác nào những thiếu niên miệng còn búng ra sữa đâu. Nhưng một khi đã bị tiêm vào trái tim nọc độc của thù hận, họ đã trở thành những trái bom giết người khủng khiếp nhứt.
Trong các cuốn phim kinh dị hay ma quái, các nhà làm phim muốn làm nổi bật điều được gọi là những sức mạnh ma quái. Thế giới ngày nay muốn được “tự do” khỏi các tôn giáo, nhưng vẫn tuyên xưng niềm tin vào sự hiện hữu của các sức mạnh ma quái. Một cách nào đó, người ta không chỉ khai thác sự sợ hãi nơi con người, mà còn gián tiếp bảo rằng các sức mạnh ma quái là điều có thật và chúng có thể xâm nhập vào bất cứ người nào.
Ai đó đã có lần bảo rằng các chế độ cộng sản là một cuộc quỉ ám tập thể. Có những cái đầu tài ba xuất chúng đã bán linh hồn cho ma quỉ để đổi lấy một chút quyền lực hầu được ngồi trên đầu trên cổ “nhân dân” đã đành, mà không biết bao nhiêu bộ óc thông minh cũng biến thành văn nô bồi bút để không những ca tụng và xây dựng chế độ độc tài mà còn hô hào chém giết và hãm hại bất cứ người nào không chấp nhận chế độ ấy. Tham quyền, sợ hãi, hèn nhát và cuối cùng là thù hận có lẽ cũng chỉ là tên gọi khác của sức mạnh ma quái. Một số chế độ độc tài, nhứt là độc tài đảng trị, vẫn tiếp tục hiện hữu là bởi được xây dựng trên lòng hận thù.
Với tôi, điều đáng sợ nhứt trong cuộc sống chính là lòng thù hận. Lòng thù hận là thứ ngục tù có thể giam hãm con người và biến họ thành bom đạn hay vi khuẩn độc hại. Con người chỉ thực sự có tự do khi họ được giải thoát khỏi thù hận.

Cố tổng thống Nelson Mandela (1918-1013) đã để lại một câu nói mà tôi không thể không mang ra suy niệm mỗi ngày: “Khi tôi bước ra khỏi cánh cửa dẫn về tự do, tôi biết rằng nếu tôi không bỏ lại đàng sau những đắng cay và thù hận, tôi vẫn còn ở trong tù”.

Thứ Tư, 12 tháng 11, 2014

Bận Làm Người



                                                                               Chu Thập
29/3/11

Tôi thuộc thành phần những người Công giáo đến nhà thờ mỗi tuần ít nhứt một lần. Làm gì thì làm, có bận đến đâu và có “bê tha” đến đâu, tôi cũng cố gắng lê bước đến nhà thờ vào ngày Chúa nhựt. Thuở nhỏ, tôi bị cha mẹ cưỡng bách đến nhà thờ. Có một thời, tôi “sợ tội” và làm bổn phận tôn giáo như một cái máy hay giữ đạo theo cái thói “tấp tểnh người đi tớ cũng đi”. Nhưng ngày nay, tôi không còn đến nhà thờ vì luật buộc phải giữ ngày Chúa nhựt nữa, mà như một nhu cầu không thể thiếu được. Tôi cần đến đó như sinh vật cần có dưỡng khí để thở. Tôi cần đến đó để múc lấy sinh lực cần thiết cho một tuần mới.
Tôi cần có đời sống tôn giáo và tôi nghĩ rằng xã hội cũng mãi cần có tôn giáo. Ngày nay, người ta thường nói đến hiện tượng tục hóa trong các xã hội Tây phương. Người ta nói đến thời hậu Kitô giáo hay hậu tôn giáo, như thể con người tiến bộ đến một lúc, không phải để có tự do tôn giáo, mà để tự do “khỏi tôn giáo”. Quả thật, con số các tín đồ đến nơi thờ phượng mỗi ngày Chúa nhựt, nhứt là trong Kitô giáo, ngày càng thưa thớt. Ở những nước có truyền thống Kitô giáo lâu đời, nhiều người, vì không muốn đóng thuế tôn giáo, cũng xin rút tên ra khỏi danh sách của Giáo hội.
Dù vậy, tôi thấy cái bóng tôn giáo vẫn còn bao phủ trên cuộc sống của con người thời đại. Ít hay nhiều, đậm nét hay mờ nhạt, người ta khó thoát khỏi cái bóng ấy.
Tôi suy nghĩ theo hướng ấy từ một số sự kiện.
Mới đây, Tòa án Nhân quyền Âu châu đã ra nghị quyết cho phép nước Ý, một trong những nước có truyền thống Công giáo kỳ cựu nhứt tại lục địa này, được phép treo Thánh giá trong các trường công lập và các nơi công cộng nói chung. Phán quyết chung cục này đã được đưa ra sau một vụ kiện tụng khá gây cấn. Số là một người phụ nữ Ý gốc Phần lan đã đâm đơn kiện một trường tiểu học công lập vì trường này cho treo Thánh giá trong các lớp học nơi con cái bà đang theo học. Người phụ nữ này lập luận rằng sự hiện diện của Thánh giá trong các lớp học vi phạm tự do tôn giáo của con cái bà cũng như tự do của các bậc cha mẹ được giáo dục con cái theo những xác tín tôn giáo của họ. Người phụ nữ này thua kiện, bởi vì tất cả các tòa án các cấp tại Ý đều bác đơn của bà. Không chịu thua cuộc, người đàn bà đã kiện lên tới tòa án Nhân quyền Âu châu. Năm vừa qua, 7 vị thẩm phán của tòa này đều đồng thanh phán quyết rằng nước Ý  đã vi phạm điều khoản về tự do giáo dục của Qui ước Nhân quyền Âu châu. Chính phủ Ý không chấp nhận phán quyết cho nên đã làm đơn kháng án lên phòng thượng thẩm của tòa này. Và kết quả là mới đây, tòa án Nhân quyền Âu châu đã đảo lộn phán quyết của mình để nhìn nhận rằng Ý và các nước trong  Liên Âu có quyền trưng bày Thánh giá và các biểu tượng tôn giáo tại các nơi công cộng.
Dù là một nhà nước thế tục, trong đó có sự tách biệt rõ ràng giữa nhà nước và tôn giáo, Ý và hầu hết các nước Tây phương khác cũng vẫn không thoát khỏi ảnh hưởng của Kitô giáo, nếu không về phương diện đạo đức, thì ít nhứt về mặt văn hóa. Tại Châu Mỹ Latinh, nguyên tắc tách biệt giữa nhà thờ và nhà nước cũng vẫn không ngăn cấm việc treo các biểu tượng của Kitô giáo trong các nơi công cộng và công sở. Mới đây, tối cao Pháp viện tại Peru đã ra phán quyết yêu cầu giữ nguyên Thánh giá trong các tòa án. Ngay cả như tại Thụy sĩ, một nước mà sự tách biệt giữa nhà nước và giáo hội rất rạch ròi, người ta cũng chứng kiến một điều lạ thường. Đó là cũng năm vừa qua, qua một cuộc trưng cầu dân ý, người dân nước này đã yêu cầu không cho người Hồi giáo được xây tháp chuông trên các đền thờ Hồi giáo: có tục hóa đến đâu, Thụy sĩ vẫn cứ muốn giữ cái bản sắc Kitô giáo của mình!
Nói gì đến Hiệp chủng quốc Hoa kỳ. Chuyện vị tân tổng thống tuyên thệ nhậm chức với một bàn tay được đặt trên quyển Kinh Thánh là một hình ảnh quá quen thuộc đối với dân chúng Mỹ cũng như mọi người trên khắp thế giới. Người ta lại càng thấy rõ dấu ấn của tôn giáo hơn ngay trên chính đồng Mỹ kim. Cục diện quốc gia này có thay đổi đến đâu, kinh tế có suy trầm đến đâu, mãi mãi bất cứ ai cầm đồng bạc của nước này cũng đều đọc được câu “In God we trust” (chúng tôi tin tưởng nơi Thiên Chúa). Mới đây, một ủy ban tư pháp của Hạ viện Mỹ lại còn đi xa hơn khi đưa ra đề nghị cho viết câu này tại những nơi công cộng. Xem ra, cái bóng của Thiên Chúa và của tôn giáo nói chung khó có thể bị cất khỏi cái xã hội văn minh nhứt thế giới này.
Đó là chuyện ở các nước Tây phương. Tại các nước Hồi giáo thì tôn giáo, tức Hồi giáo, đương nhiên có một chỗ đứng độc tôn trong xã hội và chính trị và tôn giáo là một.  Đến Á rập Saudi mà muốn được an toàn thì chớ có tìm cách mang Thánh giá hay công khai tuyên xưng niềm tin nào khác ngoài Hồi giáo. Tại những nước này, luật Hồi giáo Sharia được xem là nền tảng của hiến pháp và luật pháp quốc gia. Ngay cả một nước vừa được giải thoát khỏi ách thống trị độc tài như Ai cập chẳng hạn, kết quả của một cuộc trưng cầu dân ý mới đây cũng đòi hỏi phải lấy luật Sharia làm nền móng cho pháp luật.
Dĩ nhiên, một khi giáo luật của một tôn giáo được xem như nền tảng của pháp luật thì những người thuộc một tôn giáo thiểu số không tránh khỏi kỳ thị và ngay cả bách hại. Đó là trường hợp xảy ra như cơm bữa tại Pakistan. Gần đây thế giới chú ý đến quốc gia Hồi giáo ở Á châu này là vì chuyện xảy ra cho một tín hữu công giáo bị kết án tử hình vì tội gọi là báng bổ tiên tri Mahomet. Người phụ nữ tên là Asia Bibi đã bị một tòa án địa phương tại tỉnh Punjab kết án tử hình vì bị tố cáo “ăn nói xúc phạm” đến tiên tri Mahomet. Theo điều được gọi là “luật chống phạm thượng”, tất cả những ai báng bổ tiên tri Mahomet hay kinh Coran đều bị kết án tử hình. Trong hầu hết mọi trường hợp, luật này bị lợi dụng để giải quyết chuyện tư thù cá nhân hay công việc làm ăn. Người phạm luật chống phạm thượng bị kết án tử hình đã đành, mà bất cứ ai bênh vực họ hay yêu cầu tu chính luật này cũng đều cùng chung một số phận. Đó là trường hợp xảy ra cho ông Salman Taseer, tỉnh trưởng tỉnh Punjab, người yêu cầu duyệt xét lại luật chống phạm thượng. Ông đã bị một người cận vệ hạ sát và kẻ sát nhân được đám đông hoan nghênh như một vị anh hùng. Điều này cũng xảy ra cho ông Shahbaz Bhatti, bộ trưởng đặc trách các nhóm tôn giáo thiểu số. Ông là người tín hữu Kitô duy nhứt trong hội đồng nội các Pakistan. Vì cương quyết bảo vệ các tín hữu Kitô và yêu cầu tu chính luật chống phạm thượng, ông cũng bị hạ sát một cách dã man. Trong cả hai vụ giết người giữa ban ngày này, chính phủ Pakistan xem ra đã bị trói tay trước sức ép không những của những lực lượng Hồi giáo cực đoan mà còn của cả số đông người Hồi giáo tại nước này.
Nổi tiếng là một xã hội khoan nhượng như Ấn độ, vậy mà hiện nay tại hầu hết 28 tiểu bang trong nước, các cuộc bạo động chống các nhóm tôn giáo thiểu số do các tổ chức Ấn giáo cực đoan chủ trương với sự hậu thuẫn của Đảng Quốc gia Ấn giáo, cũng diễn ra như cơm bữa. Tôn giáo quả đang là giềng mối của những xung đột xã hội tại nước này.
Giữ được sự cân bằng giữa các tôn giáo như trường hợp Libăng không phải là chuyện dễ dàng. Tại nước này, quyền lực trong chính phủ được phân chia dựa theo thành phần tôn giáo. Hiến pháp nước này qui định rằng tổng thống phải là một tín hữu Công giáo Maronit, thủ tướng phải là một tín đồ Hồi giáo thuộc hệ phái Sunni và chủ tịch quốc hội phải là một người Hồi giáo thuộc hệ phái Shiite. Từ bao thập niên qua, thế quân bình này đã tạo được sự ổn định cho đất nước và cuộc sống chung hòa bình trong xã hội.
Có gắn bó với tôn giáo như các nước Hồi giáo và Ấn độ, có tục hóa như các nước Tây phương, ở đâu con người cũng khó chối bỏ được vai trò của tôn giáo trong xã hội. Tại những nước đã từng tuyên xưng chủ nghĩa vô thần như quốc giáo, sự hồi sinh tôn giáo lại càng chứng tỏ chỗ đứng không thể thiếu được của tôn giáo trong xã hội loài người.
Sở dĩ con người cần có tôn giáo là bởi vì, nói một cách nôm na như người Việt mình, tôn giáo nào cũng dạy con người ăn ngay ở lành. Bên kia những giải thích lệch lạc và những chủ trương cực đoan lợi dụng tôn giáo cho những ý đồ chính trị, tôi tin rằng tôn giáo nào cũng hướng con người đến mục đích “ăn ngay ở lành” ấy. Và ngược lại, tôi cũng tin rằng đã “ăn ngay ở lành” thì dù không tuyên xưng, không thực hành và cũng chẳng thuộc tôn giáo nào, con người cũng vẫn là “người có đạo”.
Tôi nghĩ đến cái “Đạo” của vô số người dân Nhựt Bản đang được cả thế giới nhắc đến với tất cả cảm phục nhân trận động đất và sóng thần vừa qua. Nhà báo Ngô nhân Dụng đã nói đến cái “Mỹ chất” của dân tộc này (x. Việt luận 22/3/2011). Người ta không thể kể xiết những hành động tử tế của người dân Nhựt giữa cơn hoạn nạn khủng khiếp vừa qua. Một nhân viên cảnh sát Nhựt gốc Việt nam đã kể lại chuyện một cậu bé 9 tuổi, sau khi nhận được một túi lương khô do ông trao tặng, đã mang gói lương thực đến trao cho những người đang phân phát lương thực. Được hỏi tại sao làm thế, cậu bé giải thích: “Bởi vì còn có nhiều người chắc đói hơn con. Bỏ vào đó để các cô chú phát chung cho công bằng chú ạ.” Viên cảnh sát gốc Việt này nhận xét: “Tôi nghĩ một dân tộc với những đứa trẻ 9 tuổi đã biết nhẫn nại, chịu gian khổ và chấp nhận hy sinh cho người khác chắc chắn là một dân tộc vĩ đại.” Theo lời viên cảnh sát này, một nhà báo Trung quốc, “khi đi qua một ngôi nhà bị sập mà tiền giấy có lẽ từ ngôi nhà đó trôi ướt nằm tứ tán cả bãi đất cũng vài chục triệu Yen, nhưng chẳng ai thèm nhặt, đã phải thốt lên: “50 năm nữa, Trung quốc chắc chắn sẽ đứng đầu thế giới, nhưng vĩnh viễn Trung quốc không thể được gọi là cường quốc, vì 50 năm nữa, người Trung quốc cũng chưa thể có trình độ dân trí và ý thức đạo đức công dân cao như người Nhựt hiện tại.” (x.báo đã dẫn).
Với nếp sống văn minh kỹ thuật nhứt nhì thế giới, xã hội Nhựt bản không tránh khỏi làn sóng tục hóa. Tuy nhiên, theo tôi, người dân nước này, nhìn chung, vẫn “có đạo” hơn ai hết, bởi vì họ đang sống cái cốt lõi của tôn giáo.
Nhà thần học người Brasil nổi tiếng là linh mục Leonardo Boff kể lại rằng, bên lề một cuộc hội thảo bàn tròn quốc tế về “Tôn giáo và tự do”, ông đã hỏi Đức Đạt Lai Lạt Ma : “Thưa ngài, tôn giáo nào tốt nhứt?” Và nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng đã trả lời như sau: “Tôn giáo tốt nhứt là tôn giáo đưa bạn đến gần với Đấng Tối Cao nhứt, là tôn giáo biến bạn thành con người tốt hơn.”
Được hỏi tiếp: “Cái gì làm tôi tốt hơn?” Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời: “Tất cả những gì làm bạn biết thương cảm hơn, biết theo lẽ phải hơn, biết từ bỏ hơn, dịu dàng hơn, nhân hậu hơn, có trách nhiệm hơn, có đạo đức hơn. Tôn giáo nào biến bạn thành như vậy là tôn giáo tốt nhứt.”
Ngài giải thích: “Ông bạn tôi ơi, tôi không quan tâm đến tôn giáo của bạn hoặc bạn có ngoan đạo hay không. Điều thật sự quan trọng đối với tôi là cách cư xử của bạn đối với người đồng loại, gia đình, công việc, cộng đồng và đối với thế giới.”
Tư tưởng của Đức Đạt Lai Lạt Ma gợi lại cho tôi câu nói đầy thách thức của đức cố tổng giám mục Nguyễn Kim Điền, người đã bị cộng sản Việt nam đày đọa và cuối cùng bị sát hại vì bênh vực cho nhân quyền và tự do tôn giáo. Ngài nói: “Có người đã chết cho niềm tin, nhưng liệu có ai dám chết cho nhân quyền không?”
Tử đạo vì niềm tin thì tôn giáo nào cũng có. Nhưng sống cho người khác và chết cho người khác mới thực sự là cốt lõi của tôn giáo. Xét cho cùng đó cũng là cốt lõi của đạo làm người.
Sống như thế thì nói như cố thi sĩ Nguyễn Hữu Loan, trong các thứ “bận bịu” của cuộc đời, “bận làm người” là cái bận cao cả nhứt và đáng để bận nhứt.





Thứ Hai, 10 tháng 11, 2014

Chạy Trời Không Khỏi Nắng

                        

                                                                                       Chu Thập 
15/3/11

Sáng Chúa nhựt vừa rồi, 13 tháng 3, tôi đến nhà thờ với cõi lòng nặng trĩu những hình ảnh khủng khiếp của trận động đất và sóng thần tại Nhựt bản. Những ý nghĩ ngổn ngang dằn xóc tâm hồn tôi. Lá thư của một linh mục Việt nam đang làm việc tại Nhựt bản gởi đến trang mạng Vietcatholic chợt lôi kéo sự chú ý của tôi. Trong lá thư, vị linh mục viết rằng không có một người Công giáo Việt nam nào tại Nhựt bản “bị thương tích hay thiệt hại gì do cơn địa chấn gây ra”. Ông khẳng định: “Chúa luôn thương yêu và gìn giữ chúng con một cách đặc biệt.” (x. Vietcatholic 13/3/2011)
Tôi liền nghĩ đến số phận của hằng chục ngàn người Nhựt và ngay cả một linh mục người Canada làm việc tại Sandai. Phải chăng họ bị thiệt mạng vì họ không được Thiên Chúa yêu thương và gìn giữ một cách đặc biệt? Phải chăng Thiên Chúa cũng phân biệt đối xử với con người?
Nghĩ đến chuyện Chúa “thương”, tôi cũng liên tưởng đến bài viết có tựa đề “Ngộ đạo đất trời” của nhà văn Tràm Cà Mau đăng trên báo “Calitoday”, ấn bản điện tử. Trong bài viết, nhà văn này thắc mắc về những mẩu cáo phó của người Công giáo Việt nam đại khái như: “Chúng tôi đau đớn báo tin cho thân bằng quyến thuộc: ông Nguyễn văn Mỗ đã được Chúa “thương” gọi về vào ngày, tháng, năm, hưởng thọ 82 tuổi…”  Nhà văn này tự hỏi: “Được Chúa gọi thì phải vui mừng, sung sướng, chứ sao lại đau đớn báo tin? Về với Chúa là khổ lắm sao? Có đi tù cải tạo đâu mà đau buồn?” (x. Calitoday 11/3/2011)
Mỗi ngày chúa nhựt, tôi đến nhà thờ để cầu nguyện và cố tìm ra một chút ánh sáng cho cõi lòng âm u tăm tối của tôi khi đứng trước thiên tai, nghịch cảnh xảy ra cho con người. Tôi không dám nói đến tình thương của Chúa khi bảo rằng tôi đã được Ngài “yêu thương và gìn giữ” một cách đặc biệt để tôi không thiệt mạng trong một tai ương. Nói như thế tôi sợ mình xúc phạm đến chính Chúa và với tha nhân: xúc phạm đến Chúa vì cho rằng Ngài cũng phân biệt đối xử như con người, xúc phạm đến người khác vì ngầm cho rằng tôi được Chúa yêu thương và gìn giữ đặc biệt vì tôi là người “lương thiện” hơn kẻ khác.
Cũng may cho tôi, vào giữa lúc tôi đang ngụp lặn trong mớ bong bong của những ý nghĩ ngổn ngang, thì vị linh mục chính xứ của nhà thờ St Ives, Bắc Sydney, đã hướng những suy nghĩ của tôi đến một hướng khác. Dẫn giải về câu chuyện sa ngã của ông bà nguyên tổ Adam và Eva, qua đó hai ông bà muốn gạt bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống của mình, vị linh mục dòng kín này kể câu chuyện ngụ ngôn như sau:
“Sau khi đã thành công mỹ mãn trong việc “cloning”, tức sản sinh con người theo phương pháp vô tính, các nhà khoa học trên thế giới bèn quyết định tụ tập nhau lại và đến gặp gỡ Thiên Chúa. Họ nói với Ngài:
“Thưa Ngài, chúng tôi đã có thể tự sản sinh mà không cần được tạo thành nữa, cho nên kể từ nay, Ngài nên chấm dứt những hoạt động của Ngài. Chúng tôi sẽ thay Ngài tiếp tục công việc đó cho muôn loài.”
Thiên Chúa trả lời:
“Tốt lắm, nhưng như vậy, ta đề nghị các người hãy “xóa bàn làm lại”. Chúng ta trở lại thời điểm ban đầu, nghĩa là trước khi ông bà Adam và Eva được tạo thành.”
Các nhà khoa học liền đồng ý và bắt tay vào công việc ngay vì giờ đây việc tạo ra con người từ bụi đất chẳng khó khăn gì. Họ bắt đầu công việc bằng cách lấy tay, bốc một nắm bụi đất. Nhưng Thiên Chúa bảo:
“Nè, không được lấy bụi đất của Ta chớ! Các người hãy tự mình làm ra bụi đất đi!”
Kể câu chuyện đó xong, vị linh mục kết luận rằng mãi mãi, dù có tiến bộ đến đâu, con người, vì được tạo thành từ tro bụi,  cũng vẫn có những giới hạn và bất toàn của mình. Tạp chí Time ở trang bìa số ra ngày 21 tháng 2 vừa qua, đã loan báo một cách chắc nịch rằng “2045 là năm con người trở thành bất tử”. Tôi không hy vọng có thể sống đến năm đó để trở thành bất tử nhờ có được một “trí khôn siêu nhân” như tạp chí Time khẳng định. Tôi chỉ biết chắc chắn một điều là dù cho khoa học có tiến bộ đến đâu, những bất trắc trong cuộc sống vẫn mãi là một hằng số. Chạy trời vẫn không khỏi nắng.
Nhìn lại trận động đất, sóng thần và hậu quả trực tiếp là sự rò rỉ phóng xạ từ các nhà máy năng lượng hạt nhân tại một nước tân tiến vào bậc nhứt thế giới là Nhựt Bản, tôi tin như “kinh tin kính” rằng con người có mưu sự đến đâu cũng vẫn không tránh khỏi những điều bất ngờ và rủi ro trong cuộc sống. Tất cả thiên tai, nhân họa không ngừng xảy ra trong lịch sử nhân loại là để nhắc nhở con người về thân phận bất toàn và giới hạn của nó.
Phải chăng không chính từ cái ý thức về sự mong manh bất toàn của kiếp người và của thế giới hữu hình này mà con người mới hướng đến thế giới vô hình và những giá trị vĩnh hằng để từ đó nỗ lực làm cho thế giới này trở thành một nơi đáng sống hơn?
Văn hào Pháp gốc Rumani Eugene Ionesco qua đời năm 1994 có viết rằng trong lịch sử nhân loại, không có một nền văn minh hay văn hóa nào mà cách này hay cách khác không nói đến cái nhu cầu phải có thiên đàng, một thế giới bên kia lịch sử. Không có tôn giáo nào mà không xem cuộc sống mỗi ngày như một nhà tù. Không có một triết lý hay ý thức hệ nào mà không nghĩ rằng chúng ta đang sống trong vong thân…Nhân loại luôn luyến nhớ về tự do, về sự sống đích thực, về sự viên mãn, về ánh sáng. (Philip Yancey, Rumors of Another World, Zondervan, Grand Rapids, Michigan, USA 2004, trg 159)
Chủ nghĩa cộng sản đã chối bỏ thế giới bên kia lịch sử ấy. Niềm tin tôn giáo đương nhiên bị loại trừ. Cái thiên đàng duy nhứt mà những người cộng sản đã muốn dùng vũ lực để thiết lập trên trần gian đã xuất hiện như thế nào thì nhân loại ngày nay đã rõ. Như văn hào Nga Fiodor Dostoyevski đã tiên đoán “không có Thiên Chúa, mọi sự đều được phép”, những người cộng sản Nga đã tự cho mình được phép phạm những tội ác mà hậu quả vẫn còn di hại cho tới ngày nay.
Chối bỏ thế giới bên kia, con người tự cho phép mình làm mọi điều ác. Trái lại, tin ở thế giới bên kia, con người không những có thể đứng vững trong mọi gian lao thử thách, mà còn góp phần làm cho thế giới này tốt đẹp hơn. Đây là điều đã được chứng minh trong cuốn sách có tựa đề “To End All Wars” (để chấm dứt mọi cuộc chiến tranh). Một phần trong cuốn sách này đã được dựng thành cuốn phim nổi tiếng có tựa đề “The Bridge on the River Kwai” (Cây cầu sông Kwai) mà nhiều người Việt nam đã từng được xem tại Sài gòn trước năm 1975.
Cuốn sách kể lại cuộc đời phi thường của ông Ernest Gordon, một sĩ quan Anh bị quân đội Nhựt bản bắt làm tù binh khi được 24 tuổi. Là một kỹ sư công binh, ông Gordon bị quân đội Nhựt gởi đến xây dựng đoạn đường sắt nằm ở biên giới Thái lan- Miến điện để từ đó xâm chiếm Ấn độ. Trong những điều kiện vô cùng khắc nghiệt và dã man, đã có khoảng 80 ngàn tù binh bị thiệt mạng khi tham gia xây dựng đoạn đường sắt; trung bình cứ mỗi dặm đường rầy có 383 người bỏ mạng.
Ernest Gordon không thoát khỏi số phận ấy. Suy dinh dưỡng, mắc đủ thứ bệnh, cuối cùng ông hoàn toàn bị tê liệt. Ông được cho vào “Nhà tử thần” để chờ chết. Trại tù do quân đội Nhựt bản dựng lên không có mục đích nào khác hơn là để thí nghiệm sức chịu đựng của con người. Thể chất bị tàn phá, mà tinh thần và đạo đức của tù nhân cũng suy sụp. Tù nhân có thể giết nhau vì một cục đường. Con người buông chiều theo bản năng như thú vật. Hận thù là động lực duy nhứt để con người sống còn.
Vậy mà phép lạ đã xảy ra. Số là một buổi sáng nọ, khi kiểm soát các dụng cụ lao động của tù nhân, cai tù thấy mất một cái xẻng. Vì không ai nhận là đã lấy hay dấu cái xẻng, cai tù liền thét lên: “Mọi người phải chết”. Bỗng từ trong đám tù nhân, một người đứng ra nhận tội: “Tôi có lấy cái xẻng”. Anh liền bị bắn ngay tại chỗ. Chiều hôm đó, các dụng cụ được kiểm soát lại một lần nữa. Người ta nhận thấy có sai sót trong lần kiểm tra trong buổi sáng, bởi vì không có cái xẻng nào bị mất cả. Kể từ giây phút đó, các tù nhân đã bắt đầu thay đổi cách đối xử với nhau. Người chết được tống táng một cách xứng đáng. Những người ốm đau được anh  em bạn tù chăm sóc nhiều hơn. Sau vài tuần lễ được anh em tận tình săn sóc, sức khỏe của Ernest Gordon được hồi phục; ông bắt đầu đi lại được. Biết ông là người có học, nhứt là đã từng học triết, các bạn tù xin ông giúp tổ chức một nhóm để học hỏi về đạo đức. Những cuộc thảo luận nhóm dần dần xoay quanh vấn đề chuẩn bị chết, bởi vì đây là vấn đề cấp bách nhứt trong trại. Ernest Gordon cố gắng moi óc nhớ lại những bài học căn bản về đạo đức để trả lời cho các câu hỏi của các tù nhân khác. Trong hằng bao nhiêu năm qua, ông sống gần như một người vô thần. Nhưng giờ đây, ông phải nhìn nhận: “Niềm tin phát sinh khi con người không còn một niềm hy vọng nào khác ngoài Thiên Chúa.” Ông được anh em bạn tù xem như một tuyên úy. Họ dựng lên một nhà thờ nhỏ và mỗi chiều tập trung lại để cầu nguyện. Các cuộc thảo luận nhóm cũng dần dần biến thành một thứ “đại học trong rừng”. Bất cứ ai có chuyên môn nào cũng đều được mời đến chia sẻ cho anh em khác. Từ đạo đức, lịch sử, triết học, kinh tế, toán học, khoa học, vạn vật học đến sinh ngữ…môn nào cũng đều có “giáo sư” và mỗi giáo sư đều soạn bài trên bất cứ mảnh giấy vụn nào họ tìm được. Một số họa sĩ cũng xuất hiện để dùng than và đá vụn nghiền ra để làm thuốc vẽ. Hai nhà thực vật học cũng góp phần trồng được một ngôi vườn với nhiều thứ cây thuốc. Một số khác nữa dùng tre để chế tạo những chiếc đàn phong cầm và tổ chức được cả một dàn nhạc. Ai đó nhờ trí nhớ phi thường đã có thể ghi xuống những bản hòa tấu của Beethoven và Schubert và không bao lâu, trại đã có thể tổ chức được những buổi hòa tấu, vũ ballet hay diễn kịch.
Tác phẩm “To End All Wars” của ông Ernest Gordon mô tả sự biến đổi của các cá nhân trong trại tù, một sự biến đổi lạ lùng đến nỗi khi được quân đội đồng minh giải phóng, các tù nhân đã đối xử một cách tử tế với những cai tù đã từng hành hạ mình. Về phần ông, Ernest Gordon đã trở thành một mục sư và làm tuyên úy tại Đại học Princeton, Hoa kỳ cho đến khi qua đời năm 2002 (sđd trg 173 – 176)
“Niềm tin phát sinh khi con người không còn một niềm hy vọng nào khác ngoài Thiên Chúa”. Giữa cái thế giới tù đầy cùng cực trong rừng già ở biên giới Thái-Miến vào đầu thập niên 1940, các tù nhân đã cảm nhận được thế giới vô hình bên kia lịch sử. Từ gian lao thử thách, ý thức được những bất toàn và giới hạn của mình, con người cố vươn lên một thế giới tốt đẹp hơn. Tin vào một thế giới như thế không có nghĩa là mong đợi rằng sau  cuộc sống khốn khổ ở dương thế này, con người sẽ được đền bù bằng vô số của cải trong thế giới mai hậu, mà chính là ý thức rằng cái thế giới tốt đẹp ấy là thực tại cao cả nhứt có thể cảm nếm và được thực hiện ngay tại thế giới này. Tôi nghĩ đến tình liên đới và vô số những nghĩa cử mà thế giới đang cố gắng bày tỏ với nhân dân Nhựt bản trong cơn hoạn nạn này. Máu chảy ruột mềm, giữa cơn hoạn nạn, con người luôn xích lại gần nhau. Cử chỉ ấy nằm sâu trong bản tính tự nhiên của con người. Nó vừa thể hiện tính mong manh, mỏng giòn của kiếp người, vừa mời gọi con người vươn lên khỏi những phù phiếm của cuộc đời để hướng đến những giá trị vĩnh hằng.
Buổi sáng Chúa nhựt vừa qua, ra khỏi nhà thờ, tôi chưa hẳn đã trở thành một con người mới hoàn toàn như các tù nhân trong trại tù ở biên giới Thái- Miến trên đây. Nhưng ít nhứt, cũng như nhà văn Tràm Cà Mau, tôi bỗng “ngộ đạo đất trời” để từ “tro bụi” của cuộc đời chóng qua này, tôi vẫn có thể nhận ra được đâu là những giá trị vĩnh hằng của thế giới bên kia như công bằng, hòa bình, liên đới, yêu thương, tha thứ, và phục vụ…













Thứ Sáu, 7 tháng 11, 2014

Nhớ cô hồn các đẳng


Chu Thập
31.10.14
Mỗi năm cứ đến ngày cuối tháng 10, tôi lại chuẩn bị một số bánh kẹo, nhứt là sô cô la, để đón tiếp một số khách “không được mời”. Chính vì không phải là khách mời cho nên những người khách trong trang phục “Dracula” và đủ các loại hóa trang ma quái được các trung tâm thương mại sáng chế, chỉ đến gõ cửa và đứng chờ không quá một phút rồi ra đi. Nhận được chút quà cáp, họ vui vẻ từ giã để đi đến nhà khác. Không được  niềm nở tiếp đón, họ cũng lẳng lặng ra đi mà không để lộ một dấu hiệu bất mãn hay khó chịu nào cả. Tôi có cảm tưởng như hằng năm, cứ đến buổi tối ngày lễ hội Halloween, các thiếu nhi chỉ muốn đến tận nhà để nhắc nhở với mọi người rằng thế giới này, dù có văn minh tiến bộ đến đâu, cũng vẫn còn cần có chuyện ma quái. Vô thần và hùng hổ tiêu diệt tôn giáo đến đâu, cuối cùng mấy ông cộng sản lại còn tỏ ra hăng hái hơn ai hết trong việc tìm về “cõi âm”. Nhờ vậy mà trong cái đất nước có nhiều tiến sĩ nhứt người ta mới thấy xuất hiện nhiều nhà “ngoại cảm” hơn bất cứ nơi nào trên thế giới này. Nghe cũng “văn hóa” như tước vị tiến sĩ, những người tự phong là “nhà ngoại cảm” này làm ăn khấm khá hơn ai hết nhờ biết liên lạc với  thế giới âm binh và biến các loại xương súc vật thành hài cốt liệt sĩ. Dù gì đi nữa, định luật cung cầu trong kinh tế lúc nào cũng có giá trị. Có những ông đồng bà cốt ăn nên làm ra là bởi trên thế giới văn minh ngày nay, con người vẫn còn cần có “cõi âm”.
Ngày nay, ở các nước Tây Phương, có lẽ mỗi năm một lần, người ta có tổ chức lễ hội Halloween là để nhắc nhở trẻ con về “cõi âm”. Ngày xưa, khi tôi còn nhỏ, hầu như không có ngày nào tôi không được cho “liên lạc” với thế giới ấy. Tôi vẫn còn nhớ mãi cái “mẹo” bà mẹ đạo đức của tôi thường sử dụng để kiểm chứng xem tôi có thực sự đi “xem lễ” mỗi buổi sáng không. Bà hỏi: “Hôm nay ông cha mặc áo lễ mầu gì?” Có lẽ mẹ tôi quên mất rằng trong xóm đạo của tôi, chỉ có những đứa trẻ bị  “thiểu năng” về óc quan sát mới  không biết rằng trong một tuần bảy ngày, có đến 6 ngày ông cha sở “làm lễ mồ” cho nên mặc áo lễ mầu đen. Được gọi là “lễ mồ”, bởi vì ở giữa nhà thờ, người ta đặt một quan tài giả, được phủ lên bằng một miếng vải mầu đen lớn trên đó có vẽ đủ mọi thứ biểu tượng của tang tóc như sọ, xương và nước mắt. Các cây cột lớn trong nhà thờ cũng được trang trí bằng mầu đen của tang chế như thế. Mới 5 giờ sáng, nhìn vào cái mồ giả ấy, nghe  chuông gọi hồn buồn bã cứ không đầy một phút lại vang lên một tiếng và nhứt là những câu ngân nga bằng tiếng La Tinh mà vị linh mục đọc liên hồi như “thần chú”, nếu không ngủ gà ngủ gật hoặc không trốn đi bắt dế cắm câu ngoài ruộng, có đứa trẻ nào mà không cảm thấy được liên lạc với thế giới bên kia. Sau lễ, nhằm những ngày mặt trời lên trễ, đi dọc theo con đường tư ích được những bụi tre đan chéo vào nhau làm thành một cái truông, óc tưởng tượng của trẻ con lại càng hoạt động mãnh liệt hơn để nghe và thấy đủ mọi thứ âm thanh và mầu sắc kỳ quái  từ cõi âm như được các bà mẹ mô tả. Mẹ tôi nói về thế giới ấy như thể bà đã từng trở về từ thế giới ấy. Thiên Đàng là nơi bà không có đủ ngôn ngữ để mô tả. Cùng lắm cũng chỉ là chuyện cùng với các thiên thần “ca hát ngợi khen Chúa suốt ngày”. Nhưng riêng về Hỏa Ngục thì chẳng còn ranh giới nào có thể cản đường óc tưởng tượng của bà. Thật ra, đó cũng là bức tranh mà tôi đã có dịp nghe một số linh mục vẽ ra. Thời đó, tôi chưa có cơ hội đứng ngắm bức tranh “cuộc phán xét cuối cùng” mà danh họa Michelangelo (1475-1564) đã phải nằm ngửa để vẽ trên vòm của nguyện đường Sistine trong điện Vatican. Nhưng bức tranh này xem ra không khủng khiếp bằng những gì được mẹ tôi và một số linh mục “vẽ” về Hỏa Ngục. Bức tranh càng khủng khiếp thì niềm tin non dại của tôi càng được củng cố.
Về điều mà giáo lý của Giáo Hội tôi dạy phải tin là “luyện ngục” thì xem ra óc tưởng tượng của mẹ tôi vừa ít nghiêm khắc lại vừa bị giới hạn hơn. Đúng như giáo lý truyền thống dạy, mẹ tôi cũng nói đến những linh hồn đang bị giam giữ nơi đó một “thời gian” và phải được thanh luyện trước khi được cho vào Thiên Đàng. Nếu được người sống “xin lễ” cầu nguyện cho thì thời gian thanh luyện sẽ được “rút ngắn”! Về chuyện “Luyện ngục” thì thỉnh thoảng mẹ tôi cũng kể chuyện một số linh hồn từ bên đó được Chúa “cho phép” về “báo mộng” hay làm một dấu hiệu nào đó để người thân biết mà xin lễ cầu nguyện. Mẹ tôi cũng nói đến trường hợp những linh hồn “cô độc” bị giam giữ trong Luyện ngục “lâu ngày” mà chẳng còn được ai nhớ đến cho nên thỉnh thoảng bà cũng xin lễ để cầu nguyện cho những người mà bà gọi là những linh hồn “mồ côi”.
Tôi không biết đây có phải  là nguồn gốc của nhân vật huyền thoại có tên là “Stingy Jack” được nhắc đến với chiếc lồng đèn quen thuộc làm bằng trái bí rợ (pumkin) được khắc theo hình của đầu người thường được trưng bày trong lễ hội Halloween không. Mỗi nước đều có một câu chuyện khác nhau về nhân vật này. Có chuyện kể rằng Jack là một tên thợ rèn đã sử dụng một cây thánh giá để lừa Diêm Vương. Anh đã leo lên một cây táo, gắn vào thân và nhành cây đủ mọi loại thánh giá và từ đó nhử cho Diêm Vương leo lên. Tên Quỷ Dữ leo lên nhưng bị thánh giá cản bước cho nên không thể đi xuống. Một câu chuyện khác về Jack còn cho biết anh bị một số dân làng săn đuổi vì đã ăn cắp của họ. Trên đường đi trốn, anh được Diêm Vương cho biết giờ chết của anh đã điểm. Nhưng trước khi được Diêm Vương “dũ sổ”, Jack xin Diêm Vương một ân huệ cuối cùng là hãy tự biến thành một đồng bạc để anh có thể đền trả cho dân làng về những gì anh đã đánh cắp của họ. Diêm Vương đồng ý. Nhưng lần này Diêm Vương bị một cú lừa đau đớn: sau khi Diêm Vương tự biến thành đồng bạc, Jack cho hắn vào trong ví trong đó hắn chạm phải thánh giá cho nên bị tước đoạt mọi thứ quyền lực và như vậy không còn đủ sức để thu tóm linh hồn của Jack được. Nói chung, cứ mỗi lần sắp bị dũ sổ để về chầu Diêm Vương thì Jack lại nghĩ ra một kế để lừa hắn. Nhưng không phải là người bất tử cho nên cũng có lúc Jack phải từ giã cõi đời để ra đi. Vấn đề đối với con người xem trời bằng vung này là chẳng biết mình phải đi đâu. Tội lỗi tày đình thì làm sao có thể được Thánh Phêrô mở cửa cho vào Thiên Đàng được. Riêng Diêm Vương thì cũng đã bó tay rồi. Thành ra, trong cõi âm, Jack cứ phải lang thang rày đây mai đó. Lúc sinh tiền anh rất thích ăn trái bí rợ cho nên anh đành chui vào đó và đi khắp mặt đất để tìm một nơi an nghỉ. Anh được người ta đặt cho  cái tên “Jack of the Lantern” hay “Jack-o’-lantern” (Jack lồng đèn). Vì anh cứ tiếp tục lang thang trên mặt đất cho nên cứ mỗi tối cuối cùng của tháng 10, trước tháng cầu nguyện cho người quá cố theo truyền thống Kitô giáo, người ta làm những chiếc lồng đèn bằng bí rợ để khử trừ những người “không chết” như Jack.
Câu chuyện về những linh hồn “mồ côi” không biết đi đâu như Jack gợi lại cho tôi chuyện thường được kể về một pháp trường nằm sát Cửa Tiền (Cửa phía Bắc) của Thành Diên Khánh, gần sinh quán của tôi. Mỗi lần nói đến pháp trường này, cha mẹ tôi thường nhắc đến tên một số người đã từng làm đao phủ, nghĩa là đã từng cầm dao chặt đầu các tử tội và hiện vẫn còn sống. Điều đó có nghĩa là cho đến khi tôi sinh ra, chuyện xử trảm vẫn còn thịnh hành ở cái pháp trường này. Đây là một bãi đất lớn nằm sát Sông Cái, nhìn về hướng Bắc. Khi tôi có trí khôn thì pháp trường này đã biến thành một mảnh đất canh tác. Dĩ nhiên, nơi nào có nhiều oan hồn thì nơi đó phải có nhiều ma thôi. Chính vì vậy mà vào những mùa soi ếch tháng 3 hoặc tháng 10 âm lịch, những tay “hảo hán” trong làng tôi thường tụ tập tại cái pháp trường cũ ấy để kiếm ăn. Trời mưa lâm râm, tiếng ếch nhái và ễnh ương hòa quyện với nhau thành một bản hợp tấu mà tai của những tay soi ếch thường nghe ra thành một câu như: “Đầu đây, mình đâu?”. Đầu bị chém hiện đang nằm ở đây, nhưng mình thì bị chôn hay vất vưởng nơi nào không biết. Đây có phải là oan hồn hoặc linh hồn “mồ côi” như mẹ tôi thường nói đến hoặc đơn thuần là ma không?
Chuyện ma, ai cũng thích nghe. Hollywood vẫn tiếp tục kinh doanh bằng nỗi sợ ma của con người. Văn minh như ở  xứ Úc này, người ta vẫn cứ tiếp tục nói đến 8 ngôi nhà ma ám và 7 nơi có ma đáng sợ nhứt. Ngay như con đường Wyong dẫn đến The Entrance, điểm hẹn nổi tiếng của dân câu cá, thỉnh thoảng báo chí địa phương cũng nhắc đến chuyện một cô gái xõa tóc đón đường xin quá giang.

Lúc nhỏ tôi có vài lần chứng kiến những hiện tượng khó hiểu. Nhưng trái với mẹ tôi là người “thấy” ma hầu như mỗi ngày, tôi không bao giờ dám quả quyết rằng mình đã được ma quái chiếu cố đến. Dù vậy, tôi vẫn tin rằng cái cõi âm huyền bí kia vẫn hiện hữu, người chết vẫn còn hiện diện và vẫn còn liên lạc với người sống một cách nào đó. Có những linh hồn “mồ côi” đang lang thang ở đâu đó không, tôi không biết. Người chết có cần tôi xin lễ để “hối lộ” với Thiên Chúa hầu chóng được giải thoát không, tôi cũng chẳng cảm thấy được thuyết phục cho lắm. Quan hệ với người thân đã ra đi thường nhắc tôi nhớ đến lời trách móc quen thuộc của người Việt Nam: “Sống chẳng cho ăn, chết làm văn tế ruồi”. Người chết đâu cần tôi đối xử tốt nữa. Với tôi, nếu người quá cố còn liên lạc với tôi cách nào đó là chỉ để nhắc nhở tôi cố gắng sống cho ra người tử tế hơn mà thôi. Lái xe dọc theo những con đường có nhiều thập giá hai bên đường, tôi có cảm nhận như thể những người ra đi vì tai nạn giao thông vẫn còn đâu đó và họ nhắc nhở tôi phải lái xe cẩn thận để tránh gây thiệt hại cho bản thân và nhứt là cho người khác. 
Mỗi lần đi qua một nghĩa trang, nhìn vào nơi yên nghỉ của người quá cố, tôi không thể không cảm thấy được mời gọi để xây dựng quan hệ tốt đẹp với người khác và nhờ đó mới có được cái tâm an bình. Tôi không biết có linh hồn “mồ côi” hay “cô hồn các đẳng”. Nhưng tôi tin chắc rằng xung quanh tôi còn có biết bao nhiêu “linh hồn” trong những con người đang thực sự sống, thực sự cô đơn đang cần tôi tôn trọng, an ủi, đỡ nâng và cảm thông cũng như biết bao nhiêu người đói khát cần được tôi nhường cơm xẻ áo. Có lẽ đó là thông điệp mà từ bên kia thế giới lúc nào người quá cố cũng muốn nhắn gởi cho tôi.

Thứ Tư, 5 tháng 11, 2014

Cuộc Chiến Cuối Cùng



                                                                                Chu Thập
1/3/11

Là dân ghiền “xi nê” cho nên mỗi năm cứ đến mùa trao giải Oscars, tôi lại đoán già đoán non về các thứ giải. Tôi mong cho cuốn phim ưng ý nhứt của tôi được trao giải. Tôi chờ đợi tài tử “ruột” của tôi được ẵm một tượng Oscar với danh hiệu diễn viên xuất sắc. Nhưng năm nay, tôi không chú ý đến các tài tử giai nhân cho bằng cốt chuyện phim.
Trong số các cuốn phim được đề cử Oscar năm nay, tôi nhận thấy có nhiều cuốn phim có nội dung đề cao cuộc chiến đấu nội tâm của con người. Nói đến “chiến đấu” thì dĩ nhiên trước tiên phải nói đến cuộc chiến cam go của nhân vật chính trong cuốn phim “The Fighter”. Dicky Eklund do Mark Wahlberg thủ diễn, là một võ sĩ quyền Anh đã chiến thắng trong cuộc chiến chống lại ma túy, để đứa con gái được gặp cha, để bà mẹ thôi đau lòng.
Cam go không kém là cuộc chiến của tên buôn lậu trong cuốn phim “Biutiful”. Biết mình đang bị ung thư vào thời kỳ cuối cùng, một người chuyên buôn hàng lậu đã sám hối để tìm sự bình an và để “đức” lại cho hai đứa con nhỏ và người vợ điên.
Trong cuốn phim có tựa đề “127 hours”, một chàng leo núi đã phải chiến đấu từng giờ với một quyết định sinh tử: hoặc là cưa bàn tay để sống hay cứ chờ đợi để chết trong mòn mỏi.
Nhưng cảm động nhứt có lẽ là câu chuyện của quốc vương George VI của Anh quốc trong cuốn phim “The King’s Speech” vừa đoạt được một lúc 4 Oscars năm nay. Cuốn phim kể lại cuộc đời của vua George VI. Anh ông là George V bị buộc phải thoái vị vì đi theo tiếng gọi của tình yêu. George VI xem ra vô tài và bị bệnh cà lăm lại được chọn thay thế anh mình. Bằng một ý chí sắt đá, ông vua này đã chế ngự được khuyết tật: là một người cà lăm, ông đã đọc được “xuôi chảy” và hùng hồn một bài diễn văn mạch lạc để trấn an và liên kết quốc dân Anh trước khi Đệ Nhị Thế chiến bùng nổ (x. Bình HM trong “Oscar 2011: Đàn thiên nga lại về”, Việt báo 25/2/2011)
Con người có thể chế ngự ý chí để đạt được điều mình muốn. Nhưng chiến thắng của ý chí không đương nhiên là chiến thắng vẻ vang nhứt. Đây là trường hợp của một vũ công ballet trong cuốn phim “Black Swan”. Nina là một vũ công xinh đẹp, tài ba, đầy ý chí và nhứt là tham vọng. Cô chỉ có một nỗi ám ảnh: phải là người thủ vai chính trong màn vũ “Black Swan”. Do đó, ngoài một kỷ luật thép để luyện tập, cô còn sẵn sàng trả mọi thứ giá đắt nhứt, kể cả phản bội một người bạn thân để được ông đạo diễn chọn vào vai chính. Nina đã đạt được đỉnh cao danh vọng trên sân khấu, nhưng cô đã ngã gục trong cuộc chiến nội tâm giữa cái tôi ích kỷ và lòng vị tha, giữa  thiện và ác, giữa tăm tối và ánh sáng.
Lúc nhỏ, tôi chỉ thích xem phim “hoạt động”, nghĩa là có những màn đánh võ, đấu kiếm hay bắn súng diễn tiến theo cái triết lý luôn có hậu của “Đông phương”: người lương thiện luôn chiến thắng và kẻ gian tà phải bị đánh bại. Càng thêm tuổi đời, tôi càng thấy cái “tâm cảnh” của con người phức tạp hơn nhiều cho nên sở thích của tôi hướng về những màn kịch tâm lý, với nhiều cuộc chiến nội tâm hơn. Tôi nghĩ đây cũng là vấn đề muôn thuở của con người.
Đầu thập niên 1970, ký giả Anh Malcolm Muggeridge rất ngạc nhiên khi nghe nói rằng giới trí thức Nga, mặc dù đang sống dưới chế độ cộng sản vô thần, vẫn trải nghiệm được một cuộc hồi sinh tinh thần. Một nhà bất đồng chính kiến Nga đang sống tại Anh quốc nói với ký giả Muggridge rằng bất cứ một nhà văn, nghệ sĩ hay nhạc sĩ nổi bật nào tại Liên Xô cũng đều khai thác những vấn đề tinh thần. Ký giả Muggeridge hỏi nhà bất đồng chính kiến này tại sao điều đó lại có thể xảy ra trong một chế độ vô thần với chủ trương tẩy não rất tàn ác và loại trừ mọi thứ văn chương có liên quan đến Kitô giáo. Người này trả lời rằng chế độ cộng sản Liên xô đã quên mất một điều: họ đã không tiêu hủy các tác phẩm của hai đại văn hào Leo Tolstoy và Fiodor Dostoevski. Họ không biết rằng chủ đề sáng tác của hai nhà văn này đều xoay quanh cuộc chiến đấu giữa thiện và ác, giữa ánh sáng và bóng tối. Sống trong cùng một giai đoạn lịch sử, đọc các tác phẩm của nhau, ngưỡng mộ nhau, nhưng hai đại văn hào Nga này chưa một lần gặp nhau. Dù vậy, xuyên qua cuộc sống và văn nghiệp của mình, cả hai cùng chia sẻ một định mệnh: họ là những con người liên lỉ chiến đấu trong cuộc chiến giữa thiện và ác ngay trong bản thân mình.
Sinh ra trong một gia đình quý tộc, lớn lên trong nhung lụa, Tolstoy đã nếm đủ mọi mùi tục lụy. Lúc còn là một sĩ quan trẻ tuổi trong quân đội, ông đã ăn chơi trác táng. Thế rồi, được Tin Mừng của Chúa Giêsu thúc đẩy, ông đã quyết tâm làm một cuộc đổi đời.
Vào thời Tolstoy bắt đầu cầm bút sáng tác, nước Nga có đến 50 triệu tá điền; gần một nửa dân số nước này sống như những người nô lệ hoàn toàn lệ thuộc vào các ông chủ. Cùng với tài sản cha ông để lại, Tolstoy cũng “thừa hưởng” hàng trăm tá điền như thế. Nhưng khác với các địa chủ khác, Tolstoy đã hòa mình vào cuộc sống của những người tá điền, chia sẻ cuộc sống cơ cực nghèo nàn của họ. Ông từ bỏ săn bắn, thuốc lá, rượu thịt. Ông quyết tâm sống một cuộc sống mộc mạc, đơn giản, thoát khỏi mọi thứ phù phiếm và đối xử với mọi người như nhau. Ông tự vạch ra cho mình một kỷ luật rất khắt khe để dẹp bỏ những khuynh hướng và đam mê thấp hèn và phát huy những đức tính tốt.
Tuy nhiên, bị kịch của Tolstoy là không thể sống cho đến cùng những đòi hỏi và lý tưởng mà ông đã tìm thấy trong Tin Mừng. Trong quyển nhựt ký của ông, Tolstoy ghi lại rằng chính bà vợ Sonya của ông đã ngăn cản không cho ông sống theo lý tưởng của mình. Cuộc sống hôn nhân, mặc dù đã cho hai người đến 16 đứa con, vẫn không mang lại hạnh phúc cho ông. Suốt một đời của ông là một cuộc chiến đấu không ngừng  để tìm sự bình an và thanh thản trong tâm hồn. Nhưng cho tới những giây phút cuối đời, nhựt ký và thư từ của ông chỉ toàn ghi lại khoảng cách giữa lý tưởng và những mâu thuẫn của cuộc sống. Lương tâm của tác giả “Chiến Tranh và Hòa bình” vẫn mãi dày vò cắn rứt ông. Cho đến giây phút cuối cùng, ông đã trốn chạy khỏi danh vọng, gia đình, tài sản và ngay cả tên tuổi của mình. Ông qua đời như một kẻ vô danh lang thang đầu đường xó chợ.
Tolstoy xem ra đã thất bại trong cuộc chiến đấu trường kỳ của mình, nhưng ông đã chứng minh cho thế giới thấy rằng chỉ có một cuộc chiến đáng để sống chết là cuộc chiến nội tâm giữa thiện và ác, giữa tăm tối và ánh sáng, giữa tình yêu và hận thù, giữa ích kỷ và vị tha.
Một cuộc chiến đấu như thế cũng được phản ảnh một cách sống động qua cuộc sống và các tác phẩm của nhà văn sống cùng thời với ông: Fyodor Dostoevsky.
Thời tuổi trẻ, vốn cũng thuộc giới quý tộc, Dostoevsky cũng đã có một cuộc sống thác loạn. Ông bị bắt giữ vì gia nhập một tổ chức chống lại Nga hoàng Nicolas I. Để gọi là giáo dục giới trẻ cực đoan, Nga hoàng đã cho tổ chức một cuộc hành quyết giả. Sau 8 tháng bị giam tù, một buổi sáng mùa đông ba ngày trước Lễ Giáng Sinh, Dostoevski và các bạn tù khác bị mang ra một quảng trường để bị hành quyết. Nhưng các viên đạn của đội lính tử thần chỉ bắn chỉ thiên. Các tù nhân được tháo băng vải bịt mắt và cho di chuyển vào trại khổ sai ở Siberia. Trước khi vào cổng trại, Dostoevski được một phụ nữ đạo đức tặng cho một quyển sách Tin Mừng. Đây là cuốn sách duy nhứt mà ông được phép đọc trong tù. Dostoevski xem đây như cơ hội thứ hai mà Thượng Đế đã dành cho ông để đổi đời. Sau 6 năm lao động khổ sai, cộng với 6 năm bị lưu đày, mang không biết bao nhiêu bệnh tật, Dostoevski đã trở về cuộc sống tự do như một con người hoàn toàn mới.
Chỉ vài giờ sau cuộc hành quyết giả, ông viết như sau “cuộc sống là hạnh phúc, mỗi một phút giây có thể là một niềm hạnh phúc vĩnh cửu. Sự sống ở khắp nơi, sự sống ở trong chúng ta, chứ không bên ngoài”. Vừa được trả tự do và trở về từ Siberia, ông ghi lại: “Hãy yêu mỗi chiếc lá, mỗi tia sáng. Hãy yêu thú vật, hãy yêu cây cối, hãy yêu từng sự vật. Yêu thương tất cả, bạn sẽ cảm nhận được mầu nhiệm của Thượng đế trong mọi sự.”
Nhưng dĩ nhiên, cuộc hồi sinh của Dostoevski đã không diễn ra theo một đường thẳng. Bên cạnh những quyết tâm vươn lên là vô số những lần vấp ngã. Dù vậy, tác giả của “Tội ác và Hình phạt” vẫn luôn tin ở sự thiện nội tại trong mỗi một con người. Những năm tháng sống chung với đủ mọi hạng người cùng khổ trong chốn lao tù đã cho ông một cái nhìn lạc quan, tin tưởng, cảm thông trước những yếu đuối của người khác cũng như của chính bản thân. Bên cạnh ý chí vươn lên là vô số những vấp ngã và buông xuôi bỏ cuộc. Nhưng là một người luôn tin ở sức mạnh tinh thần, Dostoevski xác tín rằng sống là một cuộc chiến đấu liên lỉ trong đó con người luôn cần có sự trợ giúp của Thượng Đế. Trong tác phẩm “Anh Em nhà Karamazov”, ông đã để lại một câu nói đang suy nghĩ: “Không có Thượng Đế, mọi sự đều được phép.”
Câu nói này đã được chứng nghiệm một cách không sai chạy trong thế kỷ 20 vừa qua. Dostoevski cũng đã từng kêu gọi: “Con người cần phải biết khuất phục trước một cái gì đó”. Trong trường hợp của Nước Nga ở thế kỷ 20, con người đã chọn lựa việc người sau khuất phục người trước: họ đã đặt Lenin vào một lăng tẩm và xem Karl Marx và Stalin như những vị thần. Là những người vô thần, họ thờ lạy con người hơn là Thượng Đế và kết quả, như chúng ta đã chứng kiến, thế giới bi thảm hơn bao giờ hết.
Năm 1983, 102 năm sau khi Dostoevsky qua đời, khi nhận giải thưởng Templeton vì những đóng góp cho việc thăng tiến tôn giáo trên thế giới, văn hào Alexander Solzhenitsyn khẳng định rằng chính nhờ đọc các tác phẩm của đại văn hào này mà ông mới nhận ra tính tối thượng của tinh thần đối với vật chất. Trong bài diễn văn đọc khi nhận giải, nhận định về thảm kịch cộng sản tại Nga, văn hào Solzhenitsyn đã tuyên bố: “Chính vì con người quên lãng Thượng Đế mà điều đó đã xảy ra.” (x. Philip Yancey, Soul Survivor, Hodder & Stoughton 2001)
Cái thảm kịch của Nga hiện cũng đang diễn ra tại Việt nam. Ngoài cũng như trong nước, những người còn có chút thao thức với quê hương đất nước đều nói đến lỗ hỗng đạo đức, sự xuống cấp tinh thần, cuộc tổng khủng hoảng nhân cách, “đứt dây thần kinh xấu hổ”…Tựu trung, nguyên nhân của sự phá sản tinh thần này, nếu ở Nga là những đền thờ của những ông tổ Karl Marx, Lenin và Stalin, thì ở Việt nam chính là việc sùng bái cái con người hiện đang được ướp xác, đặt trong lăng tẩm và được tôn lên hàng thần thánh. Cộng sản Việt nam dùng cái xác ướp “thần thánh” đó làm bình phong che đậy bao nhiêu tồi bại trong xã hội.
“Sống, chiến đấu, lao động, học tập và noi gương” con người này cũng đồng nghĩa với bóp nghẹt tiếng nói của lương tâm, chà đạp phẩm giá của người khác, lọc lừa dối trá  để bằng mọi giá vươn lên đỉnh cao của quyền lực, chức quyền, danh vọng, tiền bạc v.v
Nhìn những cuộc cách mạng liên tục xảy ra gần đây, người ta có thể nhìn thấy sự trưởng thành, ý thức, hiểu biết, can đảm và quyết tâm chọn lựa của từng con người trong cái đám đông lên tới hàng trăm ngàn người khi dấn thân tham gia vào cách mạng. Những cuộc cách mạng hôm nay không còn hình ảnh của một đám đông bát nháo, đầy kích động vì bị tuyên truyền bóp méo sự thật của một chủ nghĩa. Cuộc cách mạng hôm nay có thể nói là cuộc cách mạng từ lương tâm. Khi muôn người như một xuống đường một cách ôn hòa để kiên quyết đòi hỏi công lý, người ta có thể lạc quan để nói rằng trong cuộc chiến nội tâm của mỗi người, cán cân có chiều hướng nghiêng về chân, thiện, mỹ.
Nhìn lại thế kỷ 20 vừa qua, người ta có thể nói rằng đó là một thế kỷ bị ảnh hưởng bởi những học thuyết, những chủ nghĩa và ngay cả tôn giáo. Thế nhưng với những năm khởi đầu của thế kỷ 21, người ta có thể nhìn thấy hơn bao giờ hết, con người, tiếng nói của lương tri và những nhu cầu trong quyền sống của con người và thiên nhiên được đưa lên hàng đầu: càng có nhiều nạn đói, thiên tai thì lại càng có nhiều người đủ mọi giới sang hèn xắn tay giúp đỡ mà chẳng cần phải “hô hào” ầm ĩ. Người ta quay trở về với chính trái tim tốt đẹp của mình là lắng nghe nó.
Chiến thắng nội tâm có lẽ là một khởi đầu tốt đẹp cho một cuộc cách mạng cho chính mình và cho đất nước Việt nam.











Thứ Hai, 3 tháng 11, 2014

Tham Thì Thâm



                                                                          Chu Thập
15/2/11

Tháng 2 năm 1986, tôi tận mắt chứng kiến cuộc cách mạng “sức mạnh quần chúng” lật đổ nhà độc tài Ferdinand Marcos tại Phi luật tân.  Hai mươi lăm năm sau, tháng 2 năm nay 2011, tôi theo dõi hồi hộp từng phút cuộc nổi dậy của dân chúng Ai cập cho đến ngày tổng thống Bosni Mubarak tuyên bố từ chức và ra đi. Lần nào tôi cũng thấy vui, vui như thể chiến thắng của cuộc cách mạng tại hai nước này cũng là của chính mình. Bởi lẽ cứ bớt đi được một chế độ độc tài thì thế giới này trở nên một chỗ tốt đẹp hơn, thông thoáng hơn và đáng sống hơn.
Vui trước sự thành công của các cuộc cách mạng, tôi cũng cảm thấy “tội nghiệp” và ái ngại cho những nhà độc tài phải cuốn gói ra đi trong nhục nhã. Khi gia đình nhà độc tài Marcos ra đi, dân chúng Phi luật tân, đa số là dân nghèo, đã tuốn đến dinh tổng thống chỉ để xem cái tủ đựng trên hai ngàn đôi giày của bà Imelda Marcos và cuộc sống giàu sang của gia đình nhà độc tài. Không biết dân chúng Ai cập có đến tận bờ Biển Đỏ để chiêm ngắm trung tâm nghỉ mát xa hoa của gia đình ông Mubarak không. Nhưng chắc chắc, người Ai cập nào cũng biết rằng trong 29 năm cai trị bằng bàn tay sắt, ông đã vơ vét cho mình một tài sản kết xù. Có người ước tính tài sản của gia đình ông lên gần 70 tỷ Mỹ kim. Trong một quốc gia mà đa số dân chúng vẫn còn phải sống mỗi ngày với lợi tức ít hơn 2 Mỹ kim chia theo đầu người thì số tiền ấy chỉ có thể là tiền “ăn cướp” mà thôi. Thành ra, cũng như tại Tunisia,  cuộc nổi dậy của người dân Ai cập trong 18 ngày liền được thúc đẩy không ngoài một động lực nào khác hơn là được thoát cảnh nghèo đói. Độc tài đẻ ra và được nuôi dưỡng bằng tham nhũng. Tham nhũng tạo ra nghèo đói. Nghèo đói sinh ra bất mãn. Bất mãn làm bùng nổ cách mạng.Và dĩ nhiên, cách mạng thành công thì số phận của nhà độc tài nào cũng giống nhau: không bị bắt mang ra xét xử thì cũng ra đi trong nhục nhã và thường không hưởng được số tài sản mình vơ vét được. Và hầu như, chẳng có nhà độc tài nào sau khi ra đi còn có cơ hội để hưởng những ngày an nhàn mãn đời mà lẽ ra họ phải được.
Tạp chí Time trong số ra ngày 14 tháng 2 vừa qua có điểm qua một số gương mặt của một số nhà độc tài tại Trung đông và trong thế giới Á rập nói chung. Đáng chú ý nhứt là đại tá Muammar Gadhafi, người đã cai trị Lybia từ 41 năm nay. Kế đó là tổng thống Ali Abdullah, người đã cầm quyền tại Yemen từ  32 năm qua  và Omar Hassan al  Bashir, người đã cai trị bằng bàn tay sắt tại Sudan từ 21 năm nay. Liệu cuộc cách mạng “hoa lài” tại Tunisia và cuộc nổi dậy tại Ai cập có là một tiếng chuông cảnh tỉnh cho các nhà độc tài này và bao nhiêu nhà độc tài khác trên khắp thế giới không? Hầu hết nhà độc tài nào cũng đã từng là những con người “đa mưu túc trí”, nếu không từng là anh hùng dân tộc, thì ít ra cũng đã có một thời mang lại an ninh, ổn định và thịnh vượng cho xứ sở. Ở bên Á châu, không ai phủ nhận những đóng góp của ông Marcos cho sự phát triển của Phi luật tân. Ở Ai cập, làm sao không nhìn nhận vai trò của ông Mubarak trong việc ổn định xứ sở và nâng cao trình độ dân trí . Nhưng cũng như những người cộng sản Việt nam say men chiến thắng đến độ xem nhẹ nhu cầu phát triển trong thời bình, thì có lẽ một số nhà độc tài cũng tự hào về những chiến công mở đầu đến độ cho mình có quyền được độc quyền cai trị đất nước và vơ vét tài sản vào cái túi không đáy của mình. Họ không chịu nhìn vào gương trước mắt để thấy cái số phận hầu như “tất yếu” của mọi nhà độc tài là phải ra đi trong nhục nhã và có khi mất hết những gì mình đã thu tích.
Tôi đã từng thấy thương hại ông Marcos. Nay tôi cũng thấy ái ngại cho ông Mubarak. Thông minh, tài trí để cai trị đất nước và cầm cân nẩy mực trong 30 năm trời và nay đã đến cái tuổi gần đất xa trời mà vẫn chưa ngộ ra được cái lẽ thường tình của cuộc đời có vay có trả. Ngẫm nghĩ về những diễn biến tại Tunisia, Ai cập và hiệu ứng “domino” có lẽ rồi cũng sẽ xảy ra trong thế giới Á rập và trong nhiều chế độ độc tài khác trên khắp thế giới, tôi lại nhớ đến câu nói quen thuộc của ông bà chúng ta: “Tham thì thâm”.
Có người kia chỉ mơ tưởng đến vàng. Đêm ngày, không giây phút nào mà ông không bị vàng ám ảnh. Ngày nọ, như một người mộng du, ông lao thẳng vào một tiệm kim hoàn, dùng búa đập nát cái tủ đựng nữ trang, vơ vét và nhét đầy cái bao của mình rồi chạy đi như chỗ không người. Dĩ nhiên, chuyện chôm chĩa diễn ra giữa thanh thiên bạch nhựt và nhứt là trước mặt một viên cảnh sát đứng canh gác gần đó, cho nên kẻ trộm đã bị khóa tay và bắt giữ một cách dễ dàng. Ông bị mang về một trạm cảnh sát gần đó. Trước khi nhốt kẻ trộm vào phòng giam, viên cảnh sát thắc mắc: “Tôi không hiểu tại sao anh lại đi ăn trộm ngay trước mặt mọi người như thế. Có cả hàng trăm người đang đứng trước cửa tiệm. Có tôi là cảnh sát đang canh gác ở đó. Vậy mà ông vẫn xem như không có ai.” Con người bị ám ảnh bởi vàng bạc tỉnh bơ giải thích: “Quả tình thì tôi chẳng thấy ai cả. Tôi chỉ thấy có vàng mà thôi.”
Lòng tham quả thật khiến cho con người mù quáng. Lòng tham làm cho chúng ta không thấy đúng sai, nghĩa là không những không thấy điều mình đang làm mà cả những gì có thể xảy ra cho bản thân. Những người chuyển vận ma túy có lẽ không bao giờ nghĩ rằng mình sẽ bị bắt, bị giam tù hay ngay cả bị án tử hình. Những nhà độc tài có lẽ cũng nghĩ rằng mình sẽ chẳng bao giờ có một ngày tàn.
Trong sách Tin Mừng, Chúa Giêsu đã mô tả đúng cái tâm trạng mù quáng của người có lòng tham không đáy. Ngài nói đến một người giàu có nọ tự nhủ: “Ta hãy thu tích lúa thóc, xây những kho lẫm lớn hơn và thụ hưởng.” Nhưng ngay chính đêm hôm đó, con người giàu có ấy phải ra đi với hai bàn tay trắng.
Người tham lam chỉ biết có “tôi” và “những gì thuộc về tôi”. “Những gì thuộc về tôi” đôi khi còn lấn lướt luôn cả cái “tôi” khiến họ không thấy được sự nghèo nàn của chính mình. Họ mù lòa trước những nhu cầu của người khác. Họ cắt đứt quan hệ thân tình với mọi người. Có nói chuyện thì họ cũng chỉ biết nói về mình hoặc với chính mình. Tựu trung, lòng tham giam hãm con người trong ngôi nhà tù kín mít là chính bản thân để họ không còn nghĩ đến ai khác ngoài của cải của mình.
Chúng ta thường nói đến “lòng tham không đáy” của con người. Nó chẳng khác nào một cái bẫy mà một khi đã rơi vào con người khó thoát ra được. Giá mà lòng tham có được một cái “đáy” thì có lẽ con người đã biết dừng lại đúng lúc.
Tôi thích câu chuyện về lòng tham không đáy mà ai đó đã tưởng tượng ra như sau: “Một vị linh sư Ấn giáo nọ rất hài lòng về sự tiến bộ của người đệ tử. Nhận thấy rằng người đệ tử không cần sự dìu dắt của mình nữa cho nên ông mới bỏ mặc anh trong một túp lều tranh rách nát bên cạnh một dòng sông. Mỗi buổi sáng, khi thức dậy, người đệ tử bước xuống dòng sông để thanh tẩy theo đúng nghi thức, rồi giặt chiếu áo rách rưới của mình. Đây là tài sản duy nhứt của anh.
Ngày nọ, anh đau đớn vô cùng khi nhận ra chiếc áo phơi bên cạnh bờ sông đã bị chuột cắn tả tơi. Không còn cách nào nữa, người đệ tử đành phải vào làng gõ cửa một gia đình nọ để xin một chiếc áo khác. Nhưng lần này, chiếc áo lại cũng bị chuột gặm nát. Để trừ chuột, anh chỉ còn có mỗi một cách là nuôi một con mèo. Có mèo, anh không còn phải canh chừng mấy con chuột và cũng chẳng còn phải đi xin áo mặc nữa. Nhưng đã có mèo thì đương nhiên cũng phải lo cho mèo có của ăn để nó không bỏ đi.
Ngày ngày, phải vác bị đi khất thực, người đệ tử cảm thấy mình như một thứ gánh nặng đối với dân làng. Nghĩ thế, anh mới tìm cách tậu cho bằng được một con bò để lấy vốn làm ăn. Nhưng có bò thì cũng phải có cỏ cho bò ăn. Những ngày đầu, anh còn tự mình cắt cỏ cho bò ăn. Về lâu về dài, nhận thấy không còn thì giờ cho việc tu niệm, anh đành phải thuê người cắt cỏ cho bò. Bò càng ngày càng sinh sản ra nhiều, số người cắt cỏ cũng phải gia tăng. Không mấy chốc, mảnh đất xung quanh túp lều của anh đã biến thành một nông trại có tấp nập người vào kẻ ra.
Con người đã một thời muốn bỏ tất cả mọi sự để trở thành một tu sĩ nay nghiễm nhiên trở thành một chủ nông trại giàu có. Có tiền, có mọi sự cho nên anh cũng muốn có người chia sẻ công việc và cuộc sống của mình. Anh đành phải có vợ. Và không mấy chốc, anh đã trở thành một trong những chủ nông trại giàu có nhứt trong làng.
Vài năm sau, khi có dịp trở lại thăm ngôi làng cũ, vị linh sư đã một thời dẫn dắt anh, ngạc nhiên vô cùng, vì thay cho túp lều nghèo nàn bên cạnh bờ sông, nay là cả một cơ nghiệp đồ sộ. Dò hỏi tung tích của người chủ nông trại, vị linh sư mới lên tiếng hỏi người đệ tử của mình: “Thế này nghĩa là gì hả con?” Người đệ tử trả lời: “Có lẽ thày không tin. Nhưng tất cả cơ nghiệp này hiện hữu cũng chỉ vì con đã không làm cách nào giữ được chiếc áo rách của mình.”
Một triết gia hiện sinh nào đó đã nói rằng con đường dẫn xuống hỏa ngục được lát toàn bằng thiện ý. Ở khởi đầu, có lẽ nhà độc tài nào cũng dấn thân vì dân, vì nước, vì sơn hà xã tắc. Nhưng dần dà, khi đã cắn vào cái bã của quyền lực, danh vọng và tiền của, con người chẳng khác nào một kẻ say rượu không còn biết đâu là phương hướng của cuộc sống và cũng chẳng còn nhận ra chính mình.
Diễn viên hài gốc Canada nổi tiếng Mort Sahl hồi thập niên 1960 đã có lần nói rằng nếu bạn hỏi một người dân California, họ là ai thì họ sẽ chỉ vào chiếc xe của họ. Sở dĩ con người tự đồng hóa với của cải, tiếng tăm, quyền lực và địa vị xã hội của mình là bởi không còn nhận ra chính mình. Nhà độc tài nào có lẽ cũng rơi vào tâm trạng ấy. Họ bị đặt vào một tư thế “chơi vơi” để không còn dám quyết định và chỉ chờ đợi bị dân chúng nổi lên để đạp xuống mới chịu buông tay ra đi.
Tôi vẫn thích câu nói học được ngay từ lúc còn để chỏm: “Trèo cao té nặng”. Cũng như mọi đứa trẻ nhà quê, tôi thích leo trèo để hái trái cây hay để bắt tổ chim. Bất cứ cây nào tôi cũng leo. Khi leo tôi chỉ biết nhìn lên. Đến khi từ trên cao nhìn xuống, tôi mới thấy run và không muốn leo xuống. Cứ mỗi lần khuyên nhủ hay ngăm đe, mẹ tôi thường lập lại: “Trèo cao té nặng nhe con”
Ngày nay, hiểu câu nói ấy theo nghĩa bóng, tôi thấy nó hoàn toàn ứng dụng cho những nhà độc tài. Ở một độ cao nào đó của quyền lực, danh vọng, tiền của, nhứt là tiền của phi nghĩa, con người thường dễ đánh mất chính mình.
Thời gian gần đây, thiên tai đã xảy ra khắp nơi và dưới mọi hình thức: núi lửa, động đất, cuồng phong, bão táp, lụt lội, đất chuồi, hỏa hoạn, tai nạn giao thông…Những thước phim thời sự cho thấy những gương mặt vẫn còn hãi hùng sau khi trải qua những mất mát. Khi được hỏi làm thế nào để chịu đựng những mất mát và đâu là bài học đã học được từ những biến cố đau thương ấy, hầu như ai cũng trả lời: “Phải, chúng tôi đã mất tất cả. Nhưng điều quan trọng là chúng tôi vẫn còn sống.”
Câu trả lời trên đây không khỏi khiến tôi nhớ lại lời cảnh cáo của Chúa Giêsu: “Được cả thế giới mà đánh mất chính mình thì được ích gì?” (Mc 8, 36)

Trong tất cả mọi lãnh vực của đời sống, tinh thần hay vật chất, đều có những giới hạn mà con người luôn muốn tìm mọi cách để vượt qua. Lòng tham giữ số một và tàn phá tất cả thứ khác, kể cả chính tôi. Dù tôi luôn ngăn ngừa, tỉnh thức, lòng tham vẫn là một “con ngựa bất kham” trong chính tôi. Không “dụ dỗ” tôi tham được chuyện lớn thì cũng tìm cách “rỉ rả” tôi tham chuyện nhỏ. “Cầm cương” con ngựa này quả là vất vả. Dù biết phải nói “Không” với nó nhưng những gì nó rỉ tai cũng thường làm tôi “mất lập trường”. Kể cũng may, nếu tôi có “dịp” làm nhà “độc tài”, liệu tôi có khá hơn họ không?