Thứ Hai, 13 tháng 10, 2014

Tốt Khoe, Xấu Che



                                                                             Chu Thập
28/10/10

Ngày nay, ngoại trừ những tai nạn, đa số những cái chết đều xảy ra trong bệnh viện, nhà dưỡng lão. Nếu có ra đi trong nhà, thì người chết cũng được người thân vội vàng gọi nhà quàn đến mang đi lo liệu. Tôi không biết có phải vì ít “tiếp cận” với cái chết mà trẻ con Tây phương cứ mong cho đến ngày Halloween để hóa trang và mang những chiếc mặt nạ của Tử Thần không.
Tôi sinh ra và lớn lên trong một xóm đạo. Ngoài văn hóa Á đông, tôi còn thấm nhiễm cái tinh thần “đạo” của thời thập niên 1950, cho nên ngay từ nhỏ đã thấy “gần gũi” với sự chết. Mới 4, 5 giờ sáng, dầu chưa tới tuổi khôn, ngày nào tôi cũng bị bà mẹ “sùng đạo” dựng đầu dậy bắt phải đến nhà thờ “xem lễ”. Thời bấy giờ, con nít như tôi chỉ đến nhà thờ để “xem” lễ theo đúng nghĩa. Mà bởi ngoại trừ ngày Chúa nhựt, 6 ngày trong tuần, ông cha sở đều làm “lễ mồ” cho nên tôi phải “xem lễ” mệt nghỉ. Theo danh từ nhà đạo, “lễ mồ” tức là lễ cầu hồn cho người đã qua đời. Toàn bộ khung cảnh bên trong nhà thờ đều mang mầu tang chế: ở giữa nhà thờ, người ta dựng lên một cái mồ mầu đen, xung quanh có đốt nến và trang hoàng bằng những hình ảnh ma quái như xương, sọ người và những giọt nước mắt. Trên các cây cột trong nhà thờ đều có treo lủng lẳng cũng những hình tượng chết chóc ấy. Dĩ nhiên, trên bàn thờ thì khỏi nói, ngoài cái mầu đen tang tóc của bộ áo lễ mà linh mục mặc trên người, con mắt trẻ con của tôi nhìn lên chỉ thấy toàn những hình ảnh ma quái. Nhưng rùng rợn hơn phải nói đến âm thanh não nuột từ gác chuông giáo đường, cứ không đầy một phút lại vang lên một lần. Bộ lễ “Requiem”, dù bằng tiếng Latinh mà chẳng ai hiểu gì, trẻ con nghe vẫn thấy “buồn” chứ đừng nói người lớn. 
Lớn lên trong cái xóm đạo đầy “ám khí” ấy, cho nên lũ trẻ chúng tôi đâu thấy cần phải mang mặt nạ của Thần chết nữa. Có mang mặt nạ chăng thì chúng tôi chỉ mang mặt nạ của “Zorro”. Thời bấy giờ chưa có “Người Dơi”, “Người Nhện” cho nên “Zorro” là thần tượng của lũ trẻ chúng tôi. Đứa nào cũng có thể tự đẽo được một cái súng gỗ, đeo vào cái mặt nạ của “Zorro” và tha hồ ca bài “ò e con ma đánh đu, Tarzan nhảy dù, Zorro bắn súng…”
Trở lại với cái xóm đạo thân thương của tôi. Người lớn trong xóm đạo của tôi thường đề cao sự thông thái và đạo đức của ông cha sở. Thông thái thì tôi chưa kiểm nghiệm được, bởi vì trong nhà thờ có bao giờ tôi có đủ chú tâm để nghe hết một bài giảng tràng giang đại hải của ông đâu. Đó là chưa kể những lúc ông “xổ nho” hay đọc vài câu Latinh như đọc thần chú. Nhưng “đạo đức”, theo nhận thức của người giáo dân cách đây hơn 50 năm thì quả thực, ông cha sở của tôi là một người đạo đức. Tôi vẫn nhớ mãi hình ảnh của một ông linh mục mỗi buổi chiều xách gậy đi một vòng xứ đạo và xông vào bất cứ nhà nào có sòng bài tứ sắc để “phang” tứ tung. Và dĩ nhiên, làm sao tôi quên được không biết bao nhiêu hình phạt mà tôi phải gánh chịu vì cái tật lười biếng không chịu học giáo lý. Khó tẩy xóa khỏi ký ức nhứt là những lần bị đánh “rờ ve” (revers) ngay giữa nhà thờ, trước mặt “cả và thiên hạ” mỗi khi bị bà mẹ cưỡng bách  đi xưng tội. Hai cái má của tôi in đỏ bàn tay năm ngón của ông cha sở. Vậy mà tôi không bao giờ thấy mình bị bất cứ “thiệt hại tinh thần” nào trầm trọng đến độ bị trầm cảm và phải đâm đơn kiện ra tòa để đòi bồi thường như thường thấy xảy ra tại các nước Tây phương ngày nay. Với tôi, không thể dựa vào những chuẩn mực của thời đại này để phán xét những hành động xảy ra cách đây hơn nửa thế kỷ.
Dù bị “hành hạ” như thế, cũng như phần đông giáo dân vào thời đó, tôi vẫn nghĩ rằng ông cha sở của tôi là một người đạo đức. Đúng ra, phải nói ông là một nhà lãnh đạo tinh thần “nhiệm nhặt”. Ông sống khổ chế đã đành, mà ông cũng buộc giáo dân phải đi theo con đường của ông. Hình ảnh của một số phụ nữ trong giáo xứ của tôi bị ông cha sở đuổi ra khỏi nhà thờ vì trang điểm theo lối “Tây” vẫn còn sống mãi trong ký ức non dại của tôi. Tôi nhớ có một bà không được cho rước lễ chỉ vì trên môi có tô một chút son. Kể ra cặp mắt của ông cha sở tôi tinh tường thật. Cũng có một bà khác bị đuổi ra khỏi nhà thờ chỉ vì có cái đầu tóc “phi dê” (frisé) tức “uốn dợn”. Ngày nay, một hành động như thế của một linh mục nếu không bị xem là quái gở thì cũng phải bị kiện ra tòa vì kỳ thị và xúc phạm đến phẩm giá con người. Nhưng vào cái thời mà “cha” là “chúa” thì mọi hành động của cha đều là mô phạm. Chẳng thấy ai lên tiếng bênh vực những người đàn bà “tiến bộ” ấy. Trái lại, mọi người đều tán thành cách xử sự của vị linh mục và ngầm đề cao cái vẻ đẹp tự nhiên, không son phấn, không tô vẽ của người phụ nữ. Vào thời ấy, có đặt con trai ngồi ở đâu, thì cha mẹ nào cũng lựa những thiếu nữ đơn sơ, trong trắng, không son phấn mầu mè. Trong một ý nghĩa nào đó, người “có đạo” trong cái xóm giáo ngày xưa của tôi cho rằng “đạo đức” là phải sống đơn sơ, không che đậy, không tô son trét phấn, không “giả hình” hay nói một cách gợi hình hơn, không đeo mặt nạ. Suy cho rộng ra, người ta muốn nói rằng người đạo đức thực sự là người sống thật với lòng mình.
Từ cái mặt nạ tử thần của lũ trẻ trong ngày Halloween ngày nay, tôi “vòng vo tam quốc” trở về cái xóm đạo ngày xưa của tôi là để đi đến một kết luận có mầu sắc hơi triết học một chút: chân, thiện, mỹ luôn đi với nhau. Cái đẹp cũng đương nhiên là cái thật. Đẹp mà “giả tạo” thì không thực sự là đẹp nữa.
Ngày nay, tiến bộ khoa học đã giúp con người thắng vượt được không biết bao nhiêu bệnh tật và giới hạn. Hầu như cơ phận nào hư hỏng cũng đều có thể thay thế được. Ngay cả một khuôn mặt xấu xí và biến dị vì tai nạn cũng có thể được giải phẫu và thay thế bằng khuôn mặt của một người hiến tặng. Giải phẫu thẩm mỹ đã mang lại lòng tự tin và thành công cho nhiều người.  Chỉ cần một vài cú cắt xén, khoa thẩm mỹ đã có thể tân trang ngoại hình của con người từ A đến Z. Có khi con người được tân trang biến dạng đến độ chẳng ai còn nhận ra được con người “cũ” nữa.
Dĩ nhiên, ai cũng biết đó là một cái đẹp giả tạo. Và càng chạy theo cái đẹp giả tạo, con người càng có khuynh hướng “đeo mặt nạ” và không muốn sống thực với chính mình.
Trong “Liêu Trai Chí Dị”, tác giả Bồ Tùng Linh của Trung quốc qua đời vào đầu thế kỷ 18 có kể một câu chuyện với nội dung dường như mang hàm ý ấy. Mã Tuấn, nhân vật chính của câu chuyện, là một thanh niên khôi ngô tuấn tú. Theo nghiệp cha, anh dẹp bỏ việc đèn sách và học nghề buôn. Sau một thời gian bôn ba lưu lạc khắp nơi, cuối cùng anh đến một nước có tên là “Đại La Sát”. Trong cái đất nước này, cái gì xem ra cũng ngược đời. Một hôm, Mã Tuấn thấy một người đàn ông với gương mặt lạ thường: tai mọc ngược lên, mũi có ba lỗ, rèm mi rũ xuống che kín cả mặt như bức mành mành. Kế đến là mấy người cỡi ngựa nối gót theo sau. Người làng giải thích: người đàn ông kỳ dị đó là quan tướng quốc, còn mấy người đi theo sau là các quan đại phu. Mã Tuấn thấy rằng ông nào cũng có hình dạng quái dị. Người ta còn nói với anh rằng hễ quan chức càng nhỏ thì mặt mũi càng đỡ xấu.
Nhưng dưới con mắt người dân làng, Mã Tuấn lại là một con người kỳ quái và xấu xí nhứt. Ai trông thấy anh cũng phải bỏ chạy như gặp một quái vật. Người ta chỉ đứng trong cửa nhìn ra mà thôi.
Một hôm, có quan chấp kích là người đã từng đi nhiều nơi, trông thấy người lạ cũng nhiều, đến thăm làng. Nghe tin có người kỳ quái xuất hiện, ông liền cho mời Mã Tuấn đến để xem mặt.  Anh nhận thấy quan chấp kích là một cụ già cũng đã 90 tuổi, mắt lồi hẳn ra ngoài, râu ria tua tủa như lông nhím.
Ở nhà quan chấp kích được ít lâu, một hôm uống rượu với chủ nhân, say mèm, Mã Tuấn liền rút kiếm đứng lên múa, rồi lấy than bôi vào mặt giả làm Trương Phi. Quan chấp kích thích chí liền đề nghị với người thanh niên hãy cứ để nguyên bộ mặt Trương Phi như vậy; ngày mai ông sẽ tiến cử với quan tể tướng. Quan nài mãi, Mã Tuấn mới bằng lòng. Ông liền cho mở tiệc mời các quan đến uống rượu và dặn người thanh niên vẽ mặt hóa trang thành Trương Phi. Ai cũng nhìn nhận là con người xấu xí của Mã Tuấn đã biến mất để hiện nguyên hình là một người đẹp đẽ, phương phi. Dĩ nhiên, dưới cái nhìn của người dân xứ “Đại La Sát”.
Hôm sau Mã Tuấn được tiến cử vào cung điện. Nhà vua sai mở tiệc và truyền cho anh múa hát. Vua hài lòng lắm, liền phong cho anh làm Hạ đại phu, luôn cho ngồi hầu yến và ban cho nhiều ân sủng đặc biệt.
Mã Tuấn bị đặt trong tư thế phải luôn xuất hiện với khuôn mặt của Trương Phi. Nhưng dần dà các quan trong triều đều biết anh khoác bộ mặt giả. Đi đến đâu, anh cũng thấy người ta thì thào bàn tán, không còn vồn vã thân mật như trước nữa. Cảm thấy mình bị cô lập, anh liền dâng sớ xin về hưu. Nhưng nhà vua chỉ cho phép anh được đi nghỉ ba tháng. Mã Tuấn liền lấy ngựa chở vàng về sơn thôn. Người trong thôn quỳ xuống mà đón. Anh lấy vàng lụa phân phát cho mấy người thân quen từ trước. Tiếng reo mừng vang lên như sấm. Anh cũng cảm thấy vui vì không còn phải mang chiếc mặt nạ của Trương Phi nữa.
Phải can đảm như Mã Tuấn trong câu chuyện “Liêu Trai” trên đây mới dám cởi bỏ cái mặt nạ để trở về với chính mình. Cởi bỏ con người giả tạo là chấp nhận mất đi địa vị và bổng lộc.
Thói đời, như người Việt nam hay nói, chúng ta thường có khuynh hướng “tốt khoe, xấu che”.  Chính vì không muốn cho người khác biết cái xấu, cái sở đoản, cái khuyết điểm, cái bất toàn, cái giới hạn của mình mà con người đành phải đeo vào cái mặt nạ. Trung quốc có cố gắng tổ chức một Thế vận hội Bắc Kinh cho thật “hoành tráng” là chỉ để khoe cái mặt giàu có, hùng mạnh của mình và khỏa lấp những thành tích tồi tệ về nhân quyền và bao nhiêu những tệ nạn xã hội khác do chế độ đẻ ra. Chế độ cộng sản Việt nam có tốn kém đến cả 10 phần trăm tổng sản lượng quốc gia cho việc tổ chức kỷ niệm 1000 năm Thăng Long là cũng chỉ để che đậy cái bộ mặt tồi tệ về mọi mặt của chế độ, nhứt là về nhân quyền và công bình xã hội.
Thuở nhỏ, tôi thường theo cha mẹ đi xem cải lương, mỗi khi có một đoàn nổi tiếng từ Sài Gòn về các tỉnh biểu diễn. Dưới ánh đèn mầu, tôi thấy ai cũng đẹp. Nhưng sáng hôm sau, lảng vảng đến trước rạp hát để hy vọng được chiêm ngắm các tài tử giai nhân, tôi thất vọng hoàn toàn khi cái lớp son phấn được rửa khỏi gương mặt của họ.
Có khi tôi cũng thất vọng như thế về chính mình khi cái mặt nạ của mình vô tình bị cất khỏi gương mặt. Thật vậy, tôi không thể cảm thấy có được sự bình an trong tâm hồn khi tôi cứ phải cố gắng che đậy những giới hạn của mình bằng đủ mọi mặt nạ.
Không cần đâu xa, mỗi khi tôi có việc phải “đóng bộ” vào là tôi thấy như mình bị ngộp thở. Cái áo vest như “nhốt” thân hình tôi vào một cái khung. Chiếc cà vạt thì chẳng khác gì cái thòng lọng. Đôi giày da thì lại “bó rọ” hai bàn chân. Mỗi lần như vậy, tôi chỉ mong cho mau về nhà, “tuột” bộ đồ “vía” ra và trở về với cái quần “xà lỏn” và áo “thung”. Dù có thử bao nhiêu bận, tôi vẫn thấy mình chỉ thoải mái khi trở về làm một người Việt nam quê mùa, chất phác. Vì thực sự tôi là như vậy.
Bằng lòng với chính mình, sống thực với chính mình, tôi nghĩ đó là cách thế duy nhứt để tôi có được sự bình an thực sự trong tâm hồn.







Thứ Bảy, 11 tháng 10, 2014

Anh Hùng??


Chu Thập
3.10.14



Cho tới nay tôi vẫn chưa biết cái chết của một người cỡi mô tô mà tôi đã chứng kiến hôm thứ sáu tuần trước là một vụ tự tử hay là một tai nạn giao thông. Lạ quá, các cơ quan truyền thông kể cả báo địa phương không đá động gì đến vụ này. Nhưng chuyện xảy ra trước mắt cho nên tôi cứ bị ám ảnh.
Bãi câu quen thuộc của tôi là một nơi tương đối  yên tĩnh. Cuối tuần, thỉnh thoảng cũng có nhạc kích động hoặc tiếng cười đùa la hét của dân nhậu phát ra từ mấy cái “hộp đêm” bên cạnh. Ngoài ra, người ta ít nghe tiếng ồn của giao thông. Vậy mà tối thứ sáu tuần trước, không rõ một quái kiệt mô tô lạc đường từ đâu đã xuất hiện trên con đường cách con kênh nơi tôi đứng câu không đầy 100 thước. Trong ánh sáng mập mờ bên đường, tôi không nhìn rõ khuôn mặt của anh, nhưng tôi đoán không phải là một người đứng tuổi. Con đường dài không tới một cây số, thông thường rất yên ắng, bỗng biến thành một thứ phi đạo để chiếc xe mô tô lướt như bay theo đúng nghĩa. Tiếng động cơ làm đinh tai nhức óc có thể cho phép đoán được tốc độ không dưới 200 cây số giờ. Sự gian ác “chợt đến bất ngờ” khiến tôi nhủ thầm: “ngử” này chưa thấy quan tài chưa đổ lệ, may ra có gặp tai nạn thì họ mới mở mắt ra!
Nghĩ vậy nhưng tôi vẫn thầm mong rằng “điều ước” gian ác của tôi đừng xảy ra. Vậy mà, chỉ vài phút sau đó, nghĩa là sau khi quái kiệt đã lượn qua con đường ngắn trước mặt tôi đâu chừng 4,5 lần, tôi nghe như có một tiếng nổ chát chúa và mọi thứ đều trở về với thinh lặng. Trong đêm tối, tôi cố gắng “thiền niệm” và tập trung sự chú ý vào mấy cái đầu cần câu của tôi. Nhưng chỉ mươi mười phút sau đó, từ các ngã đường, xe cảnh sát, xe cứu thương với tiếng còi hụ đi kèm, kéo nhau đến. Có cả xe chữa lửa nữa. Chuyện lớn rồi! Nghĩ như thế cho nên tôi mới thu cần câu lại và chạy đến “hiện trường” để xem điều gì đã xảy ra. Trên khúc đường chỉ cách chỗ tôi đứng câu khoảng 200 thước, tôi thấy có một chiếc mô tô loại “tầm cỡ’ nằm chơ vơ, chiếc bánh trước bay đâu mất. Liếc vào một góc tường của một căn nhà bên cạnh, tôi thấy một tấm “ra” trắng phủ lên một xác người. Những người có mặt trước tôi cho biết nạn nhân đã chết vì chiếc xe mô tô của anh đã đâm mạnh vào một gốc cây bên vệ đường.
Hình ảnh rùng rợn mà lâu lắm tôi mới thấy tại Úc Đại Lợi này, đã đưa tôi trở về Việt Nam vào khoảng thập niên 1960. Đó là thời kỳ mà cùng với việc Hoa Kỳ đổ quân vào Việt Nam, các loại xe gắn máy của Nhựt Bản cũng được ào ạt nhập vào. Từ đó cũng phát sinh hiện tượng “quái kiệt” đua xe hai bánh. Xa lộ Biên Hòa mới được khánh thành đã trở thành trường đua lý tưởng cho dân chơi xe. Xe Mỹ từ các căn cứ Biên Hòa, Long Thành tràn ngập trên xa lộ trở thành những chướng ngại lý thú cho các cuộc đua. Báo chí lúc bấy giờ gọi những người lấy tốc độ để giỡn mặt với tử thần là “anh hùng xa lộ”. Trong chiến tranh, anh hùng ngoài trận mạc đã nhiều, mà “anh hùng xa lộ” được phong thần không phải là ít.
Tôi không rõ người cỡi xe mô tô  trên con đường gần bãi câu của tôi đã “ngộ nạn” vì tai nạn giao thông hay vì muốn trở thành “anh hùng” của tốc độ mà phải từ giã cõi đời một cách tức tưởi như thế. Nhưng ý niệm “anh hùng” cứ quay cuồng trong đầu tôi.
Thời buổi thông tin toàn cầu xem ra cũng là thời của “anh hùng”. Số người thích chơi nổi ngày càng nhiều. Đâu chỉ có ở cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra ngõ mới gặp “anh hùng”.  Bây giờ đi đâu cũng thấy “anh hùng” cả. Tôi đặc biệt dành danh xưng này cho mấy ông chuyên chặt đầu người của tổ chức khủng bố “Quốc gia Hồi giáo”. Hầu như không có ngày nào thế giới không nhắc đến tổ chức khủng bố này và những hình ảnh dã man mà óc tưởng tượng của con người thời đại không dám nghĩ tới được tổ chức này tung lên trên các trang mạng xã hội. Điều đáng suy nghĩ là các cuộc oanh tạc của Hoa Kỳ, dù có thể loại khỏi vòng chiến một số hung thần, xem ra cũng không chận đứng được làn sóng giới trẻ Hồi giáo tại các nước Tây Phương đua nhau gia nhập vào tổ chức “Quốc gia Hồi giáo”. Theo những số liệu mới nhứt, có trên 3000 đạo quân thánh chiến Tây Phương, hầu hết xuất phát từ những nước như Anh Quốc, Úc Đại Lợi, Pháp, Đức và Hoa Kỳ, đã chiến đấu tại Syria và Iraq.
Các nhà phân tách và các chính trị gia đã phải bù đầu bứt tóc để tìm hiểu lý do tại sao nhiều thanh niên Hồi giáo, dù được sinh ra, lớn lên và thụ hưởng nền giáo dục Tây Phương, lại gia nhập tổ chức khủng bố này và sẵn sàng chết vì một lý tưởng và ý thức hệ cực đoan như thế. Kỳ thị, thành kiến, thù ghét văn hóa Tây Phương và ảnh hưởng của các giáo sĩ cực đoan... đó là những lý do thường được đưa ra để giải thích tại sao nhiều thanh niên Hồi giáo Tây Phương gia nhập vào tổ chức “Quốc gia Hồi giáo”.
Nhưng trên báo mạng  “Psychologytoday”, giáo sư Mark van Vugt, chuyên giảng dạy về tâm lý xã hội tại trường đại học VU, Amsterdam, Hòa Lan, viết rằng bên cạnh những yếu tố nói trên, còn có một nguyên nhân sâu xa hơn. Theo ông,  nhiều thanh niên Hồi giáo Tây Phương xem cuộc chiến đấu cho tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” như một cuộc mạo hiểm lý thú. Đối với nhiều người, đây là con đường để họ khẳng định địa vị và chỗ đứng của họ trong xã hội!
Giáo sư Vugt trích dẫn kinh nghiệm của triết gia Mỹ Jesse Glenn Gray, người đã từng chiến đấu trong thời Đệ nhị Thế chiến. Trong cuốn sách có tựa đề “The Warriors” (các chiến binh), triết gia Gray cho biết nhiều cựu chiến binh đã tỏ ra thành thật khi nhìn nhận rằng kinh nghiệm được chiến đấu bên cạnh các bạn đồng ngũ là một “đỉnh cao” trong cuộc sống của họ.
Theo giáo sư Vugt, rất có thể đây cũng là điều mà các thanh niên Hồi giáo Tây phương muốn tìm kiếm khi tham gia chiến đấu trong tổ chức “Quốc gia Hồi giáo”. Giáo sư Vugt cho rằng những thanh niên này xem cuộc chiến đấu như một cơ hội để trở thành “anh hùng”. Con số 72 trinh nữ thường được nhắc đến thực ra chỉ là một hình ảnh hay ẩn dụ nói lên phần thưởng được tuyên dương như một “anh hùng” mà các thanh niên Hồi giáo bị đầu độc hằng mong chờ.
Càng bị xã hội đẩy ra bên lề hoặc càng tự giam mình trong tổ kén cô độc của mình, càng gặp thất bại trong cuộc sống và không có khả năng để hội nhập vào xã hội...con người càng muốn đi tìm một lối thoát để vươn lên. Định luật bù trù mà kể từ thời cha đẻ Phân Tâm Học Sigmund Freud (1856-1939) người ta luôn dựa vào để giải thích về những động lực hành động của con người, có lẽ nên được áp dụng vào trường hợp các thanh niên Hồi giáo bị tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” đầu độc và “cực đoan hóa”.
Có lẽ các chuyên gia tâm lý đã  từng nghiên cứu về tâm lý bệnh hoạn của những tay đồ tể thế giới. Riêng với ông “Bác Hồ” của Việt Nam, theo chân dung được giáo sư Trần Đức Thảo hay nhà báo Trần Đĩnh phác họa, áp dụng luật bù trừ tâm lý để giải thích con đường tiến thân và “cách mạng” của ông xem ra không phải là điều khiên cưỡng. Nếu đơn xin đề ngày 15 tháng 11 năm 1911 gởi lên tổng thống Pháp được chấp thuận và người thanh niên Nguyễn Tất Thành được nhận vào học nội trú tại Trường Thuộc Địa, thì làm gì có chuyện “Anh Ba” xuống tàu  “tìm đường  cứu nước” để rồi sau đó bị chủ nghĩa cộng sản đầu độc và biến thành một thứ công cụ cho tổ chức cộng sản quốc tế. Có lẽ vì khát vọng rất khiêm tốn được trở thành một quan chức phục vụ cho chế độ thuộc địa không thành mà người thanh niên Nguyễn Tất Thành, do bất mãn, đã quay ra đeo đuổi giấc mộng làm một “anh hùng” hay đúng hơn một “gian hùng” như triết gia Trần Đức Thảo ghi nhận, không từ bỏ bất cứ một thủ đoạn nào miễn là đạt được tham vọng quyền lực của mình.
Nói chung, thế giới cộng sản thiết yếu chỉ là một thế giới của quyền lực, tranh giành và đấu đá nhau, chớ chẳng phải vì lý tưởng, vì dân vì nước hay để xây dựng thiên đàng trần gian nào cả. Anh cộng sản nào, nếu không đi tìm kiếm “vinh thân phì gia” thì cũng đều để lộ chân tướng của tham vọng quyền lực và tham vọng thành “anh hùng” cả.
Mới đây, lá thư của bà Bảy Vân, vợ lẽ của ông Lê Duẫn, gởi lên Bộ Chính trị Trung ương để yêu cầu xét lại địa vị số 2 của “đại tướng anh hùng” Võ Nguyên Giáp, đã cho thấy rõ bản chất của con người cộng sản. Mục đích lộ liễu của người đàn bà này là hạ bệ người được xưng tụng là “người anh hùng Điện Biên Phủ” để đưa ông Lê Duẩn, chồng bà lên thay thế. Sinh thời, như nhà báo Trần Đĩnh đã ghi lại trong hồi ký “Đèn Cù”, Lê Duẩn cũng ganh tỵ cả với Hồ Chí Minh. Vào thập niên 1960, khi nổ ra vụ án “Chống Đảng Xét lại”, Lê Duẩn đã hoàn toàn ngả theo Mao Trạch Đông không ngoài mục đích hạ bệ Hồ Chí Minh. Tác giả Trần Đĩnh nhận định: “Duẩn có suy tôn Mao thay Lê-nin, thì Mao mới suy tôn Duẩn thay Hồ Chí Minh” (Đèn Cù trg 198). Máu của người Việt Nam đã chảy thành sông cũng vì khát vọng điên cuồng của những con người muốn làm “anh hùng” như thế!
Trong lời nhắn gởi với các cộng đồng Hồi giáo trên khắp thế giới, giáo sư Vugt đã khuyên họ “hãy đứng lên và tuyên bố rõ ràng rằng làm một “thánh chiến quân” tuyệt đối không phải là anh hùng mà là một kẻ chiến bại, bởi vì bạn bị cộng đồng địa phương, các đền thờ, các giáo sĩ và phụ nữ từ bỏ khi bạn đi chiến đấu như thế. Những người thanh niên Hồi giáo ở nhà nên được xem là những anh hùng đích thực”.
Ca tụng  những người “ở nhà” như những anh hùng đích thực, có lẽ giáo sư Vugt muốn đề cao quan niệm thường bị lãng quên về anh hùng. Nói đến “anh hùng”, người ta thường chỉ nghĩ đến những hành động phi thường, những thành tựu hiển hách, trong khi anh hùng đích thực thiết yếu phải là người luôn biết quên mình vì người khác, luôn âm thầm chiến đấu chống lại bản ngã ích kỷ và những cuồng vọng của mình.
Có lẽ tác giả Trần Đĩnh cũng đã có những suy nghĩ như thế khi ông viết về chủ nhân và cái bóng của hắn: “Cặp nhân vật này cứ đêm đến lại thì thầm lên sổ thu chi được mất với nhau. Chủ nhân mất nhiều, rất nhiều, tóm lại toàn bộ bản ngã hắn...Nhưng bù lại cái bóng của hắn lại thu về rất nhiều. Địa vị, quyền lợi, tên tuổi. Tóm lại vớ bẩm. Và rồi cái bóng cứ thế lớn ra, trùm lên chủ nhân, hóa thành hào quang lý tưởng dắt dẫn chủ nhân và chủ nhân không còn” (trg 226).
Những suy nghĩ trên đây của tác giả Trần Đĩnh giúp tôi xác tín rằng khi cái bóng của “địa vị, quyền lợi, tên tuổi” phủ lên bản ngã, thì con người nếu còn tồn tại, cũng chỉ tồn tại như một thứ “anh hùng rơm”.



Thứ Tư, 8 tháng 10, 2014

Để Cho Tình Người Được Tiếp Tục Hiện Hữu


                                                                                    
                                                                                   Chu Thập
19.10.2010



Kể từ ngày Chúa Nhựt 17/10/10 vừa qua, hơn một tỷ người Công giáo trên khắp thế giới đã nhìn nhận người phụ nữ tên là Mary MacKillop như một vị thánh để xin cầu thay nguyện giúp và như một mẫu gương để noi theo. Riêng người dân Úc đại lợi, Công giáo hay không Công giáo, Kitô hữu hay ngoài Kitô giáo, có lẽ ai cũng đều hãnh diện vì đây là lần đầu tiên một người con dân của đất nước được một vinh dự lớn lao như thế. Sự kiện một phái đoàn chính phủ do bộ trưởng ngoại giao Kevin Rudd cầm đầu đã đến Roma để tham dự lễ tôn phong hiển thánh cho Mẹ Mary MacKillop cũng như các phương tiện truyền thông Úc dành nhiều trang và thời lượng cho lễ nghi này, cũng đủ để nói lên rằng vị thánh nữ này đã có một chỗ đứng quan trọng trong lịch sử Úc đại lợi và cuộc sống của người dân nước này.
Là một tín hữu Công giáo, tôi vẫn thường cầu nguyện với các vị thánh. Cũng như nhiều người dân Úc, tuy chưa một lần đến “khấn” bên mộ của thánh nữ Mary MacKillop ở North Sydney, tôi cũng đã nhiều lần chiêm ngắm chân dung của thánh nữ được trưng bày trong các ngôi giáo đường và cầu xin cho một số ý nguyện riêng của tôi. Tuy nhiên, với tôi, chờ đợi một phép lạ do lời bầu cử của vị thánh nữ này chẳng khác nào trúng số độc đắc. Do đó, điều quan trọng đối với tôi không phải là “cầu xin” mà là tìm hiểu sứ điệp mà vị thánh này muốn nhắn gởi cho tôi.
Không đơn giản hóa cuộc đời của vị thánh này, tôi nghĩ rằng mẫu gương mà thánh nữ muốn để lại cho hậu thế chính là phục vụ người nghèo và cương quyết phục vụ người nghèo đến độ nổi loạn và có lúc bị “vạ tuyệt thông”, nghĩa là bị trục xuất ra khỏi Giáo hội. Muốn hay không, Úc đại lợi không thể chối cãi được sự đóng góp lớn lao của thánh nữ Mary MacKillop trong sự thay đổi cái nhìn đối với người nghèo và công cuộc cải tạo xã hội vào thế kỷ 19.
Tôn trọng phẩm giá con người, nhứt là người nghèo, những kẻ kém may mắn, những người khuyết tật: tôi nghĩ đây là sứ điệp nền tảng nhứt mà tôi có thể lắng nghe được từ vị thánh tiên khởi của Úc đại lợi.
Ở thế kỷ 19, khi thánh nữ Mary MacKillop bắt đầu dấn thân phục vụ người nghèo, thì tại Anh quốc có một người đàn ông rất nổi tiếng. Ông nổi tiếng chỉ vì có một thân hình và một khuôn mặt dị dạng, xấu xí đến độ được tặng cho danh hiệu là “Người Voi”. Tên của ông là John Merrick. Theo câu chuyện được nhà nhân chủng học Ashkey Montagu thuật lại, thì John Merrick có thể là con người xấu xí nhứt trong lịch sử nhân loại. Năm lên 4 tuổi, bị mẹ bỏ rơi cho nên Merrick đã phải tự kiếm sống lây lất trong một nhà máy. Khi được 14 tuổi, tình cờ người thiếu niên được một chủ gánh xiếc khám phá. Khuôn mặt dị tướng của em đã thu hút vô số khán giả. Người chủ gánh xiếc phủ lên mình Merrick một tấm vải choàng và đặt ngồi trong một cái thùng lớn chẳng khác nào một con thú bị giam trong một cái chuồng.  Như một con thú được huấn luyện nhuần nhuyễn, “Người Voi” làm theo tất cả mọi mệnh lệnh của ông chủ gánh xiếc.
Một bác sĩ nổi tiếng làm việc tại bệnh viện London vào thời đó là ông Frederick Treves đã tình cờ nhìn thấy “Người Voi”. Ông mô tả như sau: một cục bướu thật lớn mọc ra giữa trán trông chẳng khác nào chiếc vòi của một con voi. Miệng của Merrick méo sang một bên. Cái mũi là cả một khối thịt nhầy nhụa. Cánh tay phải của Merrick dài gấp hai lần cánh tay của một người bình thường. Những ngón tay thì thô và hoàn toàn vô dụng. Nhìn chung, trên khắp thân thể của “Người Voi”, ở đâu người ta cũng nhìn thấy những sớ thịt thừa nhão và sần sù.
Merrick vừa tròn 21 tuổi khi được bác sĩ Treves khám phá. Vì cái miệng méo xệt sang một bên cho nên người thanh niên hầu như không có khả năng nói. Thoạt tiên, vị bác sĩ này xem “Người Voi” như một người đần độn và không bình thường. Dù vậy, sau khi chụp hình và ghi chép, ông vẫn trao cho anh một tấm danh thiếp có ghi địa chỉ của ông.
Trong hai năm liền, Merrick bị người chủ gánh xiếc mang về Bỉ, nhốt trong một chiếc cũi để cho khán giả nhìn xem như một con thú. Sau khi chính quyền Bỉ ra lệnh giải tán gánh xiếc, “Người Voi” được trả về Anh quốc. Trên chuyến tàu đi London, anh đã bị hành khách hành hạ bằng đủ mọi trò chơi độc ác. Tại nhà ga London, cảnh sát đã giải cứu anh. Nhưng anh không thể diễn tả được điều mình muốn nói. Trong người anh chỉ còn lại một tia hy vọng cuối cùng: đó là tấm danh thiếp của bác sĩ Treves mà anh đã cất giữ trong túi áo trong hai năm liền. Nhờ vậy mà “Người Voi” được mang đến bệnh viện nơi bác sĩ Treves đang làm việc. Tại đây, người ta giam anh vào một khu cách ly. Trong mấy ngày liền, “Người Voi” không được ai cho ăn uống. Viên bác sĩ liền sai cô y tá mang thức ăn đến cho anh. Nhưng khi vừa trông thấy hình dáng và khuôn mặt “khủng khiếp” của anh, cô đã la hét lên, đánh rơi chiếc khay thức ăn, rồi bỏ chạy. Nhưng Merrick không để lộ một phản ứng nào. Anh đã quá quen thuộc với những cách đối xử như thế của người đồng loại.
Bác sĩ Treves từ từ học được cách liên lạc với “Người Voi”. Ông ngạc nhiên vô cùng khi khám phá ra rằng Merrick không phải là một con người đần độn chút nào. Trái lại, anh là một người biết đọc, biết viết và rất ham đọc sách. Ngoài quyển Kinh Thánh, anh còn đọc những tác phẩm cổ điển trong văn chương Anh. Bác sĩ Treves không thể ngờ rằng một con người đã bị cướp đi tuổi thơ, bị đối xử như một con thú dữ, bị khai thác và suốt một đời chưa hề cảm nếm được thế nào là “vui thú”, bị hành hạ và tước đoạt mọi niềm hy vọng, vậy mà không những có thể sống còn, mà còn có được thái độ luôn nhẫn nhục và hòa nhã.
Sau khi đã có thể “nói chuyện” được với bác sĩ Treves, Merrick bày tỏ mong ước được vào ở trong một trung tâm dành cho người mù: anh chỉ muốn sống giữa những người không thể thấy được gương mặt xấu xí ghê tởm của mình. Tuy nhiên, viên bác sĩ có lòng nhân ái đã thuyết phục được Merrick ở lại trong bệnh viện. Ông cũng thuyết phục được một người bạn của ông, một góa phụ trẻ đẹp, vào phòng Merrick, mỉm cười với anh, chào hỏi anh, bắt tay anh, nói tóm lại đối xử với anh như một con người. Merrick cũng ngả người cúi chào người đàn bà một cách lịch sự. Kể từ hôm đó, nơi Merrick đã diễn ra một sự thay đổi kỳ lạ: từ một con người bị săn đuổi và xử dụng như thú vật biến thành một con người bình thường như mọi người bình thường. Thật ra thay đổi không phải là “Người Voi”, mà chính là cái nhìn của người xung quanh. Kể từ đó, tài tử, giai nhân, nghệ sĩ và ngay cả công chúa xứ Wales cũng đều ghé vào bệnh viện để thăm anh. Sau bốn năm sống trong hạnh phúc, Merrick ra đi trong giấc ngủ bình an. Để ghi lại một trường hợp dị tật lạ thường trong lịch sử y khoa, bệnh viện London đã cho làm một bức tưọng bằng thạch cao. Hiện nay người ta vẫn còn thấy bức tượng này trong bảo tàng viện của bệnh viện. (Philip Yancey, Rumors of Another World, Zondervan, Michigan, USA, 2004, trg 191- 195)
Ở thế kỷ 19, nếu thánh nữ Mary MacKillop đã làm được một cuộc cách mạng thì cuộc cách mạng đó chính là thay đổi cái nhìn của người đương thời đối với người nghèo, nhứt là những người thổ dân. Bằng mọi giá, ngay cả đi “ăn xin” để lo cho công tác giáo dục trẻ em nghèo, thánh nữ không chỉ chứng tỏ phẩm giá, sự bình đẳng, khả năng vươn lên của người nghèo trong xã hội, mà còn khơi gợi được tình người vốn như vẫn còn ngủ vùi nơi nhiều người thời ấy. Là một tín hữu Kitô, được Tin Mừng của Chúa Giêsu thúc đẩy để dấn thân, chắc chắn thánh nữ Mary MacKillop đã ý thức hơn ai hết rằng mỗi người đều được tạo thành “theo hình ảnh” của Đấng Tạo Hóa và nơi thẩm cung mỗi người đều có những tâm tình cao quý cần được khơi dậy và nuôi dưỡng.
Trong chuyện “Nghìn Lẻ Một Đêm” của Ba Tư, tôi thích câu chuyện về một phiên tòa như sau: “Có hai người anh em nọ bắt trói được thủ phạm giết cha mình. Họ lôi kéo tên sát nhân đến trước quan tòa và yêu cầu xử theo luật mắt đền mắt răng thế răng. Kẻ sát nhân đã dùng đá để ném chết cha của họ thì hắn cũng phải bị ném đá theo như luật đã quy định…Trước mặt quan tòa, tên sát nhân đã thú nhận tất cả tội lỗi của mình. Nhưng trước khi bị đem ra xử, hắn chỉ xin một ân huệ là được trở về nhà trong vòng ba ngày để giải quyết mọi vấn đề có liên quan đến một người cháu được ký thác cho hắn trông coi từ nhỏ. Sau thời hạn đó, hắn sẽ trở lại để chịu tội. Quan tòa xem chừng như không tin ở lời cam kết của tên tử tội. Giữa lúc quan tòa đang do dự, thì từ đám đông tham dự phiên tòa, có một người giơ tay cam kết: “Tôi xin đứng ra bảo đảm cho lời hứa của tử tội. Nếu sau ba ngày, hẳn không trở lại, tôi sẽ chết thế cho hắn”.
Tên tử tội được tự do trong ba ngày để giải quyết chuyện gia đình. Đúng kỳ hẹn, giữa lúc mọi người đang chờ đợi chứng kiến cuộc hành quyết, hẳn hiên ngang tiến ra giữa pháp trường và dõng dạc tuyên bố: “Tôi đã giải quyết xong mọi việc trong gia đình. Giờ đây, theo đúng cam kết, tôi xin chịu tội. Tôi muốn trung thành với lời cam kết để người ta sẽ không nói: chữ tín không còn trên mặt đất này nữa.”
Sau lời phát biểu của tên tử tội, người đàn ông đã từng đứng ra bảo lãnh cho hắn cũng tiến ra giữa đám đông và tuyên bố: “Phần tôi, sở dĩ tôi đứng ra bảo lãnh cho người này là vì tôi không muốn để cho người ta nói: lòng quảng đại không còn trên mặt đất này nữa.”
Sau hai lời tuyên bố trên, đám đông gần như nín thở. Dường như ai cũng cảm thấy muốn thể hiện những gì là cao quý nhứt trong lòng người. Bỗng từ giữa đám đông, hai người thanh niên tiến ra và nói với quan tòa: “Thưa ngài, chúng tôi xin tha cho kẻ đã giết cha chúng tôi để người ta không còn nói: lòng tha thứ không còn hiện hữu trên mặt đất này nữa.” (Lẽ Sống, Đài Chân Lý Á Châu)
Giáo hội công giáo thường dựa trên một phép lạ, tức một vụ lành bệnh lạ lùng mà y khoa không giải thích được, như một bằng chứng ắt có và đủ để tiến hành việc tôn phong chân phước hay phong thánh. Bà Mary MacKillop cũng đã phải trải qua tiến trình ấy để trở thành chân phước và hiển thánh. Đã có phép lạ được gán cho sự bầu cử của bà. Là một người công giáo, tôi tin có những phép lạ như thế. Nhưng với tôi, “phép lạ” là chuyện xảy ra hằng ngày. Không chỉ ở bên kia cõi sống này, thánh nữ Mary MacKillop mới “bầu cử” cho  phép lạ được xảy ra. Sinh thời, nơi thánh nữ đã diễn biết bao nhiêu phép lạ. Cuộc sống “nổi loạn” vì người nghèo của bà tự nó cũng đã là một phép lạ. Là phép lạ không kém khi bà khơi dậy được tình người, sự cảm thông, tình liên đới, những cử chỉ san sẻ và trao ban. Cũng như các nhân vật trong câu chuyện nghìn lẻ một đêm trên đây, có lẽ thánh nữ Mary MacKillop đã suốt một đời hy sinh phục vụ người nghèo để tuyên bố: để cho tình người vẫn sống mãi trên mặt đất này.
Trong ý nghĩa ấy, với tôi, khi những người giàu có như Bill Gates, như Warren Buffet biết “cho đi” hầu hết hay trọn bộ tài sản của mình để cho không biết bao nhiêu người nghèo được “sống”, thì đó hẳn phải là những “phép lạ” vĩ đại mà ai cũng có thể thấy được.  Mỗi khi tình người được thể hiện bởi bất cứ ai, dù là một tín đồ tôn giáo hay người vô thần, tôi cũng nhận ra đó là một “phép lạ”. Vì vậy, trong cái nhìn của tôi, nghĩa cử của những người đã và đang ngày đêm cống hiến tim óc, sự tận tụy, hy sinh và có khi cả mạng sống của chính mình cho những con người cùng khổ, bị áp bức, bị tước đoạt các quyền làm người trên khắp thế giới, đều là những “phép lạ” liên tục mà con người luôn cần có để thăng tiến xã hội và nhân quyền.
Cũng với cái nhìn đó, theo tôi, “phép lạ” không nhất thiết phải đến từ một vị thánh, mà ai ai cũng có thể là phương tiện để Thiên Chúa làm nên những “phép lạ” lớn nhỏ trong cuộc sống hằng ngày. Làm cho một khuôn mặt đang đau khổ dàn dụa nước mắt chợt nở nụ cười nhờ một vòng tay ôm, một cử chỉ ân cần như thế không phải là một “phép lạ” nhãn tiền sao?
Noi gương thánh Mary Mackillop, điều tôi thấy mình cần phải làm là tiếp tục giúp cho những “phép lạ” mà bà đã làm khi còn sống xảy ra: đó là góp phần vào sứ mạng mà ông Mahammad Yunnus, Nobel Hòa bình 2006, người đã lập ra ngân hàng Grameen cho người nghèo vay không cần thế chấp,  đề ra là “sẽ đem đói nghèo vào viện bảo tàng.”
 19.10.2010




Thứ Hai, 6 tháng 10, 2014

Giấc Mơ Chưa Tròn



                                                                                  Chu Thập 13/10/10

Nếu cố mục sư Martin Luther King, người tranh đấu cho quyền bình đẳng của người da đen tại Hoa kỳ hồi thập niên 1960 còn sống, hẳn ông phải thấy mãn nguyện. Không những giấc mơ được thấy con cái của những người nô lệ da đen được ngồi trên cùng một bàn ăn với con cái các chủ nhân da trắng đã thành sự thật, mà ngay cả một người da đen ngày nay lại đang chiếm giữ địa vị quyền lực cao nhứt tại Hoa kỳ.
“Tôi có một giấc mơ”. Tôi đã không biết bao nhiêu lần hát lên bài ca ấy. Nhưng dường như giấc mơ nào của tôi cũng đều dang dở.
Thuở còn để chỏm, tôi đã mơ được trở thành một “thằng” trong đội bóng tròn quốc gia như “thằng Rạng”, “thằng Ngôn”, “thằng Đức”. Cái đội bóng còn xử dụng trái bưởi hay cuốn rạ làm quả banh như chúng tôi vẫn luôn tự phong cho mỗi đứa một cái tên của những “thằng” cầu thủ nổi tiếng ấy.
Trong cái lớp học của ngôi trường làng lúc nào cũng ồn như cái chợ, ngay cả trước khi được đọc truyện của nhà văn Duyên Anh, tôi cũng đã từng mơ được “làm người Quang Trung”. Trong các trận hỗn chiến giữa lũ trẻ con trong làng, tôi chỉ mơ được điều binh khiển tướng như vị anh hùng dân tộc này.
Thế rồi, bước vào Trung học, những giấc mơ của tôi gần gũi với hiện thực hơn. Ở đầu thập niên 60, người hùng của tôi không còn nằm trong những trang sử của dân tộc nữa, mà là cái ông tổng thống ở một nước vẫn thường được mệnh danh là “giấc mơ Hoa Kỳ”. Thật vậy, tuy không được hân hạnh bắt tay ông như người học sinh trung học Bill Clinton, nhưng cứ thấy ông xuất hiện trước công chúng với khuôn mặt đẹp trai, trẻ trung và nhứt là với giọng nói đầy thuyết phục và thu hút, tôi cũng thấy bị cuốn hút như thể đang mơ. Vào thời ấy, có người thanh niên nào mà không nhớ câu nói để đời của ông: “Đừng hỏi đất nước phải làm gì cho bạn, mà hãy tự hỏi bạn phải làm gì cho đất nước.”  Quả thật, tôi đã có một thời mơ được “làm người tổng thống John Kennedy”.
Lên bậc đại học, giấc mơ được chinh phục người khác bằng tài đức và nhứt là sức thuyết phục của mình, được tôi xây dựng và thêu dệt bằng rất nhiều bí quyết mà tôi thu thập được trong tủ sách “học làm người”. Tựu trung, làm thế nào để dùng ba tấc lưỡi mà thu phục nhân tâm: đó là nỗi “trăn trở” của thời thanh niên của tôi. Tôi đặc biệt nghiền ngẫm cuốn “Thuật Hùng biện” của tác giả Hoàng Xuân Việt, xuất bản tại Sài gòn năm 1963. Trong lời tựa của cuốn sách, tác giả cảnh cáo : “Không phải đọc xong quyển này rồi nghiễm nhiên bạn thành những Tô Tần, Bossuet hay Mirabeau. Nghệ thuật nào cũng hiểu ngầm mầm mống thiên tài. Để trở thành những ngọn lưỡi lỗi lạc như vậy, trước hết phải thuộc dòng máu của Demosthène, Trương Nghi, Nã Phá Luân. Song môn học nào mà chịu khó học theo phương pháp tốt thu thập kết quả khả quan”.
Trương Nghi thì tôi không rành lắm. Hoàng đế Nã Phá Luân của Pháp thì tôi có say mê thật. Nhưng cái ông Demosthène ở tận bên Hy lạp xa lắt xa lơ và sống trước công nguyên đến cả 3 thế kỷ thì tôi lại thuộc lòng tiểu sử. Đúng như tác giả Hoàng Xuân Việt nói, ông “vua hùng biện” này là một thiên tài. Chỉ mới 20 tuổi, ông đã thi thố khả năng ăn nói của mình. Mồ côi cha sớm, lại bị người giám hộ tranh giành phần gia tài, cho nên Demosthene đã đâm đơn kiện. Vào cái thời chưa có luật sư bào chữa, người thanh niên 20 tuổi đã tự biện hộ và thắng kiện. Thừa thắng xông lên, thấy mình có khả năng nói trước công chúng, Demosthene đã nhảy vào diễn đàn công cộng rất thịnh hành tại Athenes vào thời đó. Nhưng vì chưa biết rõ tài của ông, cho nên dân chúng xem ông như “một đứa con nít” ăn nói phách lối. Dù bị đả đảo và tẩy chay, người thanh niên vẫn không thất vọng. Tự xét thấy mình ăn nói chưa hoạt bát, tính khí còn hào thắng lại có tật nói ngọng, cho nên Demosthene quyết định rút lui khỏi đời sống công cộng và tìm nơi cô tịch để luyện khẩu tài. Truyền thuyết kể lại rằng mỗi ngày ông ra bờ biển lấy sỏi ngậm vào miệng và tập phát âm cho rõ ràng hơn. Thấy mình không có một giọng nói hùng mạnh, ông la hét trước sóng gió cho đến khi hai buồng phổi được căng ra. Biết hơi thở của mình không được dài, ông tập nói liên tục khi leo lên các ngọn đồi. Chỉ khi nào nắm được thuật hùng biện, Demosthene mới xuống núi và nhập cuộc. Không lạ gì khi Demosthene xuất hiện lại trên diễn đàn công cộng, ông đã được mọi người thời đó xem như hiện thân của “thần hùng biện”.
Tôi đã một thời mê mệt thần tượng này. Tôi đã cố gắng luyện tập để trở thành một nhà hùng biện. Nhưng cuộc đời đưa đẩy, giấc mơ của tôi vẫn không bao giờ thành sự thật. Một phần vì tôi biết mình không thuộc dòng máu của Demosthene. Nhưng lý do chính là vì tôi học được từ trường đời rằng nghệ thuật hùng biện đích thực là cả cuộc sống chứ không phải chỉ là những lời nói hoa mỹ, hùng hồn và nhứt là lừa mị, dối trá.
Tạm gác giấc mơ thời trẻ, tôi bước vào thực tế khi phải chọn lựa nghề nghiệp cho tương lai. Tôi luôn tin là nghề nghiệp nào cũng có những sướng khổ của nó. Bỏ qua niềm yêu thích và năng khiếu của mỗi người, có những nghề nghiệp thích hợp với cá tính của người này mà tuyệt nhiên không thể nào thích hợp với người khác. Tôi có thể thích nghi với mọi công việc, không phân biệt lao động trí thức hay lao động chân tay, cổ xanh hay cổ trắng, lương cao hay lương thấp...Nhưng tự biết khả năng của mình cho nên tôi không thể làm công việc mà tôi biết tôi không thể nào theo đuổi được:  đó là cái nghề phải dùng “nước miếng” để thuyết phục người khác.
Nói như thế không có nghĩa là tôi “khi dể” những nghề nghiệp đó, trái lại là khác. Chỉ vì tánh tôi không làm sao mở miệng “dụ dỗ” ai được nếu như tôi không xác tín cái gì mình đang nói. Nhưng đâu phải chuyện gì người ta cũng có đủ thì giờ để điều tra, suy nghĩ cho cặn kẽ để...xác tín. Nhứt là nếu đợi cho đến khi tôi có đủ xác tín rồi thì chắc là cũng chẳng còn ai có kiên nhẫn mà chờ nghe tôi “dụ dỗ” nữa.
Vì vậy, mỗi khi nhìn một ứng viên chính trị trổ tài chinh phục cử tri là tôi thấy phục lăn phục lóc. Lời lẽ hùng hồn chém đá chặt sắt, cử chỉ mạnh mẽ, mắt ngời sáng nhìn thẳng vào cử tọa đông đảo. Người ứng viên nào cũng cố gắng chuyên chở thật nhiều hứa hẹn cho một tương lai tưởng như cầm chắc trong tay. Bầu khí dù có mở máy lạnh tối đa cũng không sao giảm được khí thế bừng bừng của ứng viên lan sang cử tọa. Nếu người ta được phép bỏ phiếu ngay sau mỗi bài diễn văn vận động bầu cử thì chắc là ứng viên nào cũng đạt 99.99% số phiếu bầu như chuyện thường xảy ra mỗi khi người Việt trong nước phải đi bầu quốc hội. Tôi đã nhìn thấy cái “khí thế” ấy trong cuộc vận động bầu cử của tổng thống Barack Obama. Nói như kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, cứ nghe như ông rao “ai mua trăng tôi bán trăng cho”, vậy mà ai cũng há mồm để uống từng lời từng chữ của ông. Tôi thầm phục tài hùng biện của vị tổng thống da đen này. Tôi phục sát đất những người như ông là phải bởi vì, như hầu hết các ông chồng trên trần gian này, chỉ có một bà vợ trong nhà mà tôi còn phải trầy vi tróc vẩy may ra mới thuyết phục được một chuyện trong trăm ngàn chuyện thì so với họ, tôi không bao giờ có thể trở thành đệ tử được.
Tôi không thích “làm chính trị”. Dĩ nhiên, sống trong một quốc gia, có việc làm hay sinh hoạt nào của một người công dân mà không mang tính chính trị. Đừng nói đến chuyện đi bỏ phiếu để chọn mặt gởi vàng, nội chuyện đi mua sắm phải đóng thuế GST cũng đã là một hành động chính trị rồi. Không đi bỏ phiếu cũng là một hành động chính trị không kém.  Nói đến “làm chính trị” tôi chỉ muốn ám chỉ đến những hoạt động của các chính trị gia, các đảng phái, các nhà lãnh đạo quốc gia. Làm chính trị mà không dùng ba tấc lưỡi để khuyến dụ, thuyết phục, lôi kéo người khác thì hẳn không phải là người có “thiên hướng” chính trị rồi. Thông thường một chính trị gia được thẩm định dựa vào tài khéo nói của người ấy. Về điểm này có lẽ ít có ai qua mặt được cựu tổng thống Bill Clinton. Ông là một luật sư tài ba. Nhưng nói theo tiếng Việt bình dân, dễ hiểu, thì ông là một “thày cãi” ngoại hạng. Đã là “thày cãi” cho nên chuyện gì ông cũng cãi được. Khi được hỏi: ông có “chơi” ma túy không, ông tỉnh bơ trả lời rằng ông chỉ “thử” ở ngoài chứ không hít vào cơ thể. Mà nếu chỉ thử ở ngoài thì chưa phải là “hút hít”. Cũng vậy, khi nổ ra vụ tai tiếng về chuyện tằng tịu với cô tập sự viên Monica Lewinski, ông “thày cãi” này lại định nghĩa “lòng vòng” về chữ “sex” (làm tình) để chối phăng việc ông có quan hệ tình dục với cô.
Khi theo dõi vụ này, tôi thấy thương hại ông Clinton hơn là trách móc. Là một chính trị gia được cả thế giới tán dương về tài trí, ông quả là một nhà “hùng biện” có thể thay trắng đổi đen để đảo ngược thế cờ, biến bại thành thắng. Nhưng với tôi, sự hùng biện đích thực vẫn phải là khả năng và cam kết sống chết cho sự thật. Bởi vì, trong khi nửa cái hố vẫn là một cái hố, nhưng nửa sự thật không phải là sự thật.
Biết khó uốn lưỡi của mình một cách dễ dàng cho nên tôi luôn chọn cho mình công việc càng ít phải tiếp xúc với người khác càng tốt. Cũng may, tôi thường được làm những công việc không cần phải diễn tả sao cho khéo léo để làm vui lòng người khác. Và cũng chẳng cần phải “vẽ rắn thêm chân”, chỉ cần tôn trọng sự thật, có sao ra vậy. Chính vì vậy mà giấc mơ trở thành một nhà hùng biện của tôi đã không bao giờ thành sự thật. Thần tượng ngày nay của tôi không còn là những Tô Tần, Demosthene, Nã Phá Luân hay Bill Clinton, Barack Obama… nữa, mà là những con người là hiện thân của sự thật.
Bởi “hành động vang dội hơn lời nói” (Action speaks louder than word) cho nên tôi tâm phục khẩu phục những người “nói” bằng hành động và ngay cả bằng sự “thinh lặng” hơn những người chỉ nói suông. Trước tòa án, khi tổng trấn Philatô hỏi Chúa Giêsu “Sự thật là gì?” Ngài thinh lặng. Giải thích về “sự thật” như thế nào được cho một con người có chủ trương, như triết gia Pháp Blaise Pascal đã nói “sự thật bên này dãy núi Pyrénées, lại là sai lầm ở phía bên kia”?  Với những con người xem quyền lực, của cải, danh vọng là “sự thật”, Chúa Giêsu chỉ có thể “nói” bằng sự thinh lặng, nghĩa là bằng thái độ sẵn sàng chấp nhận bản án bất công để vạch trần tội ác mà dối trá là cơ bản.
Tôi cũng có ý tưởng trên đây khi nhìn tấm hình linh mục Nguyễn văn Lý bị “bịt miệng” trong phiên tòa kéo dài không đầy hai tiếng đồng hồ tại Huế hồi năm 2007. “Bị bịt miệng để nên lời”, vị linh mục này không “nói” được, nhưng hình ảnh “bị bịt miệng” của ông được truyền đi khắp thế giới đã là một lời tố cáo hùng hồn nhứt về những bất công của chế độ cộng sản tại Việt nam.
“Hùng hồn” hơn cả cái miệng bị bịt của linh mục Lý hẳn phải là hình ảnh của một người thanh niên vô danh đứng chận đầu đoàn xe tăng của quân đội nhân dân Trung Quốc trong cuộc biểu tình đòi dân chủ tại quảng trường Thiên An Môn dạo tháng 6 năm 1989. Được quảng bá rộng rãi trên khắp thế giới, hình ảnh này đã trở thành bản cáo trạng hùng hồn nhứt về tình trạng nhân quyền tồi tệ của chính quyền cộng sản Trung Quốc.
Tôi cũng nghĩ như thế về nhà văn Liu Xiaobo của Trung Quốc, người vừa được trao tặng giải Nobel hòa bình năm nay, 2010. Trong nơi tù đày, ông bị cùm chân, trói tay và bịt miệng, nhưng trước thế giới, chắc chắn ông có một tiếng nói “hùng mạnh” hơn cả cái chế độ chỉ biết nói bằng dùi cui, báng súng và hàng rào kẽm gai.
Nói đến tính thuyết phục và sức mạnh của cuộc sống, làm sao không nghĩ đến Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng. Người ta thích nghe vị Phật sống này “nói” không chỉ vì Ngài nói bằng lời nói cho bằng cuộc sống đơn sơ, cử chỉ hồn nhiên, gần gũi nhưng siêu thoát của Ngài.
Xin được chọn những người như thế làm bậc thày của hùng biện, bởi vì nói như văn hào Anh Shakespeare: “Hành động là hùng biện. Mắt của người ngu dốt thông minh hơn tai của họ.”








Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2014

Trăm nghìn lý do để hy vọng


Chu Thập
26/9/14

Ba lần dọn nhà bằng một lần cháy nhà. Hẳn một người bạn của tôi đang nhận ra “chân lý” ấy. Không gì tất bật bằng dọn nhà. Mấy lần đến thăm và tiện dịp “hôi của”, tôi thấy cả gia đình người bạn tôi đều bận bịu và có lúc ngẩn ngơ vì bị dằng co giữa những thứ phải mang theo và những thứ phải bỏ lại. Trong những thứ không thể mang theo, gia đình người bạn của tôi tiếc rẻ nhứt là cây trái và hoa quả. Trồng xuống đất bất cứ một cây cỏ nào là đặt vào đó những niềm hy vọng của mình. Do đó, không gì buồn cho bằng phải từ giã hay vứt bỏ một niềm hy vọng.
Đọc được ý nghĩ đó của người bạn cho nên tôi cũng cố gắng tha về nhà bất cứ cây trái hay hoa quả nào còn cứu vãn được. Trong những cây ăn trái, tôi đặc biệt chú ý đến một cây “xuân đào” (Nectarine) vừa mới ra hoa. Đứt rễ vì bị bứng đi, vậy mà chỉ vài ngày sau khi được rước về đất mới, cây “xuân đào” của người bạn tôi đã xanh lại, những nụ hoa mới bắt đầu nhú ra. Niềm hy vọng đã từng được người bạn tôi nâng niu nay chuyển sang tôi. Mỗi lần nhìn ngắm cây “xuân đào” rực rỡ vẫn còn lạc lõng như một cô công chúa cao sang bối rối đứng chung với những cây cối đủ mọi chủng loại khác trên cái mảnh vườn mà tôi thường gọi là “quê hương bỏ túi” của tôi, tôi nghe như vọng lại ca khúc nổi tiếng một thời: “Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm”.
“Màn đêm” thì thời nào cũng có. “Màn đêm” khủng khiếp nhứt đối với thế giới trong thời gian gần đây có lẽ là cuộc khủng bố bằng máy bay thiêu rụi tòa nhà Tháp Đôi ở New York, Hoa Kỳ ngày 11 tháng 9 năm 2001. Vậy mà giữa đống tro tàn ấy, sự sống và niềm hy vọng vẫn tiếp tục vươn lên: một cây lê (pear), sau một lần bị chôn vùi trong tro bụi, vẫn sống cho tới ngày nay để trở thành biểu tượng của một niềm hy vọng mà không một sức mạnh nào của Sự Dữ có thể dập tắt được.
Vào cái ngày khủng khiếp ấy, cây lê này đã hoàn toàn bị chôn vùi trong tro bụi của tòa nhà Tháp Đôi. Nhưng một tháng sau đó, điều kỳ diệu đã xảy ra: một nhân viên thu dọn đã tìm thấy nó dưới đống gạch và bê tông cốt sắt trong tình trạng đầu lìa khỏi thân và chỉ còn lại vài nhánh khô trơ trụi nhưng vẫn cố gắng bám vào thân.
Cây lê “nạn nhân” này đã được moi lên và gởi đến Vườn ương Parks tại Bronx. Ông Richie Cabo, người quản lý của Vườn ương này, cho biết khi nhìn thấy cây lê bị “chém đầu”, ông không nghĩ là có thể cứu vãn được nó. Dù vậy, ông cũng cố gắng làm một cuộc giải phẫu để cắt bỏ những cành chết trên thân cây, tỉa bớt rễ của nó và đặt nó vào một chậu đất lớn với đầy đủ thức ăn cần thiết. Được đặt cho một tên mới là “Kẻ sống sót” (Survivor), cây lê đã từ từ hồi sức và bén rễ lại.
Nhưng mùa xuân năm 2010,  một trận bão với sức gió 160 cây số giờ đã thổi vào vùng New York. “Kẻ sống sót” lại một phen điêu đứng nữa. Ông Richie đã cùng với ba người con chứng kiến cái cảnh cây lê bị bật rễ ra khỏi chậu đất. Nhân viên của Vườn ương đã cố gắng đưa “nạn nhân” vào vị trí bình thường. Đây là một công tác “cứu trợ” đầy cam go, bởi vì “nạn nhân” lúc này đã cao đến 6 thước. Vậy mà chỉ vài tuần lễ sau, cây lê đã một lần nữa hoàn toàn hồi phục.
Biết được lai lịch và sức sống mãnh liệt của cây lê sau bao phen sóng gió và thử thách, ông Ron Vega, giám đốc chương trình thiết kế Đài Tưởng niệm cuộc khủng bố 11 tháng 9, đã quyết định đưa “Kẻ sống sót” vào hàng ngũ những di tích cần được tưởng nhớ. Tháng 12 năm 2010, ông đã cho trồng cây lê dưới chân tòa Tháp Nam.
Khi đứng giám sát công trình, ông Ron Vega đã ra lệnh cho các nhân viên phải trồng cây lê  như thế nào để công chúng có thể nhận ra những “thương tích” mà nó đã gánh chịu trong cuộc khủng bố. Một số người không hài lòng về việc trồng lại cây lê dưới chân tòa Tháp Nam. Họ cho rằng sự hiện diện của nó sẽ làm mất đi sự hài hòa của cảnh trí, bởi vì nó là một loại cây hoàn toàn khác biệt với những cây cối xung quanh. Thật vậy, nó đúng là một cây chẳng giống chút nào với những cây đứng gần nó. Nhân dịp kỷ niệm 10 năm biến cố 11 tháng 9, khi công viên tưởng niệm được khai mạc, những người sống sót và gia đình của họ đã đến gắn những tua vải màu xanh lên cành của “Kẻ sống sót”.
Tháng Tư năm nay, lẽ ra hoa đã nở rộ trên “Kẻ sống sót”. Nhưng cũng như nhiều cây cối khác trong thời buổi thời tiết thay đổi này, cây lê đã trổ hoa sớm hơn hai tuần lễ. Quan sát kỹ lắm, khách du lịch mới có thể nhận ra một vài chiếc bông trắng nhỏ vẫn cố khoe sắc và báo hiệu một sức sống mãnh liệt vẫn còn đang châu lưu trong “Kẻ sống sót”.
Hình ảnh này có thể gợi lại một “kẻ sống sót” khác tại Nhựt Bản. Báo chí nước này tường thuật rằng liền sau khi xảy ra cơn đại sóng thần và tai họa tại lò nguyên tử Fukushima năm 2004, một toán phóng viên truyền hình đã đến nơi để thực hiện một cuộc phóng sự. Tại đây, họ đã phỏng vấn một người đàn ông vừa mới mất tất cả mọi sự:  không chỉ nhà cửa, tài sản, mà còn cả vợ con. Người phóng viên hỏi liệu ông có còn chút hy vọng nào không. Người đàn ông chỉ tay về hướng một cây anh đào vừa bắt đầu đơm bông và nói: “Các ông hãy nhìn kia. Nó đang mang lại niềm hy vọng cho tôi” (x. Reader’s Digest 9/2014).
Thế giới vừa mới tưởng niệm năm thứ 13 cuộc Khủng bố 11 tháng 9. Lãnh tụ của tổ chức khủng bố Taliban, Osama Bin Laden, không còn nữa, nhưng “linh hồn” của tổ chức này xem ra vẫn “bất diệt”. Cách đây 13 năm, khủng bố chỉ nhắm vào một số cao ốc, các chuyến bay, một số lãnh tụ thế giới hoặc một nơi có đông người tập trung. Nay với phong trào “Quốc gia Hồi giáo” (IS), mục tiêu của khủng bố là bất cứ một người Tây phương nào và cuộc hành quyết được chỉ thị phải được thực hiện một cách công khai giữa thanh thiên bạch nhựt và được thu hình. Thế giới xem ra không còn chỗ nào được gọi là an toàn nữa. Ngay cả  một nơi “miệt dưới” xa xôi như Úc Đại Lợi hiện cũng đang bị đặt vào tình trạng báo động cao. Rồi đây, vì an ninh và an toàn cho từng người dân, có lẽ chính phủ Úc sẽ phải ban hành những luật lệ hạn chế tự do cá nhân. Trong những ngày “đen tối” sắp đến, tôi chỉ còn biết lập lại lời của Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần lưu vong của Tây Tạng: “Tôi tìm thấy hy vọng trong những ngày đen tối nhứt và tôi tập trung sự chú ý vào những ngày sáng sủa nhứt”. Nếu tình thế hiện nay còn cho phép tôi hy vọng thì niềm hy vọng đó phát xuất từ sự kiện thế giới ngày càng nhận thức được bộ mặt của tội ác và sự Dữ. Tôi tin rằng nếu trên thế giới này ngày càng có nhiều người nhận ra được bộ mặt tàn bạo, dã man, độc ác của tổ chức khủng bố “Quốc gia Hồi giáo” thì chắc chắn nó sẽ không còn đất sống. Chỉ có Ánh sáng của lương tâm mới chiếu soi vào bóng tối để phơi bày tội ác và như vậy mới có thể mang lại niềm hy vọng cho con người. Tôi cũng nghĩ như thế về tội ác của chế độ cộng sản Việt Nam, cách riêng trong thời kỳ Cải cách Ruộng đất ở Miền Bắc.
Tôi đang đọc hồi ký “Đèn Cù” của Trần Đĩnh, tác phẩm hiện đang được người Việt hải ngoại bàn tán xôn xao. Người chống, kẻ khen. Riêng tôi đọc cuốn sách này với niềm cảm thông và hy vọng. Đọc tiểu sử của ông Trần Đĩnh, ai cũng biết rằng ông là người đã từng được chế độ ưu đãi trong suốt 70 năm qua. Thật là hợp lý để nêu lên câu hỏi: tại sao ông đã có thể cúc cung phục vụ một chế độ tàn bạo vô nhân đạo như thế và đã giữ im lặng lâu như thế? Có lẽ đây cũng là câu hỏi mà người ta cũng có thể đặt ra cho hầu hết các văn nghệ sĩ và các nhà trí thức Miền Bắc. Tôi thông cảm với ông cũng như với rất nhiều nhà trí thức đã và đang sống dưới chế độ cộng sản. Có lẽ chỉ có nhà văn Nguyễn Tuân, trong một cơn say lúy túy, mới có thể khóc sướt mướt để tự thú với bạn bè: “Nhờ biết sợ mà tao mới có thể sống đến ngày hôm nay”. Sự sợ hãi là kẻ thù đáng sợ nhứt trong một chế độ xây dựng trên khủng bố. Nhà văn Nguyễn Tuân đã nói lên được tâm sự thầm kín mà rất nhiều nhà trí thức khác vẫn chôn chặt trong tâm hồn.
Tôi thông cảm và tha thứ cho ông Trần Đĩnh. Tôi cũng biết ơn ông, bởi vì ít nhứt ở cuối đời, ông đã dám nói lên sự thật. Cám ơn ông đã thắp thêm một chút ánh sáng nữa để soi sáng vào bóng tối tội ác của điều thường được gọi là cuộc Cải cách Ruộng đất long trời lở đất do chính ông Hồ Chí Minh chủ xướng. Có lẽ phải nhờ một chút ánh sáng được ông Trần Đĩnh thắp lên chúng ta mới thấy thêm bộ mặt độc ác của chế độ cộng sản, nhứt là của ông Hồ Chí Minh qua vụ hành quyết bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hạnh Long) và vùi dập một cách dã man tử thi của bà.
Không biết có phải do ngẫu nhiên xui khiến không mà cùng lúc với hồi ký “Đèn Cù” của ông Trần Đĩnh được phổ biến rộng rãi ở hải ngoại thì trong nước chế độ cộng sản Việt Nam lại cho tổ chức cuộc triễn lãm về Cải cách Ruộng đất. Nhưng có lẽ do ánh sáng từ chiếc “Đèn Cù” của ông Trần Đĩnh quá mạnh chăng mà chỉ sau 2 ngày khai trương, cuộc triển lãm đã tạm đình hoãn với lý do như được “Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia” đưa ra trong thông cáo: “Hiện nay,  Phòng trưng bày chuyên đề “Cải cách ruộng đất 1946-1957” đang gặp sự cố điện, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia tạm thời đóng cửa để sửa chữa, khắc phục”. “Sự cố điện” hay là sự thức tĩnh bất ngờ của người dân kéo nhau đến bảo tàng viện không phải để cúi đầu lập lại hoạt cảnh của các tòa án nhân dân trong các cuộc đấu tố, mà chính là để phơi bày, nguyền rủa tội ác mà chế độ muốn tô son trét phấn thành “thành tích”?
Ánh sáng của sự thật ngày càng soi rọi vào bóng tối tội ác của chế độ cộng sản Việt Nam. Người dân không còn sợ đến nỗi để bị bịt mắt và sai khiến để bảo dối trá là sự thật, tội ác là ân sủng nữa. Đây là niềm hy vọng của tôi về một tương lai tươi sáng hơn cho Việt Nam khi người dân dám bước đi trong ánh sáng của sự thật để tố cáo tội ác.
Tôi tin tưởng như thế khi ngắm nhìn khu vườn nhỏ mà tôi vẫn gọi một cách thân thương là “quê hương bỏ túi” của tôi. Mùa Xuân đã về. Nhiều thứ đã ngủ vùi trong suốt mùa Đông nay thức dậy. Thiên nhiên quả là kiên nhẫn. Có cả một mùa Hè nóng bức, một mùa Thu ảm đạm và một mùa Đông giá lạnh để chuẩn bị cho sự thức dậy của mùa Xuân. Chiêm ngưỡng sự tuần hoàn ấy trong thiên nhiên, tôi thấy được thúc đẩy để nuôi dưỡng niềm hy vọng xuyên qua những cố gắng, những ý thức về nghĩa vụ bảo vệ quyền làm người, quyền sống của người khác, một cách âm thầm, nhỏ bé trong từng ngày mà tôi được sống, được làm người với đầy đủ giá trị của nó.

Cũng như cây lê “Kẻ Sống sót”, nhận thức về Sự Thật và Sự Dữ của mỗi người trong chúng ta cũng sẽ có một ngày Xuân với nhận thức mới hơn và cái nhìn mới hơn. Từ đó, tôi hy vọng và tin tưởng rằng ánh sáng của sự thật sẽ mang lại một cuộc giải phóng đích thực cho quê hương Việt Nam thân yêu.

Thứ Tư, 1 tháng 10, 2014

…Không Chỉ Là Cơm Bánh



                                                                               Chu Thập 5/10/10

Một hôm, thằng bé con người hàng xóm đến gõ cửa xin được rửa chiếc xe đang đậu ngoài trời của tôi. Từ lâu nay, chiếc xe cà tàng lại rỗ chằng rỗ chịt vì mưa đá ít được tôi chăm sóc. Phần vì chiếc xe đã quá “date”, phần vì tiết kiệm từng giọt nước, cho nên tôi cứ bỏ thí cho trời lo; thỉnh thoảng có được một trận mưa thì tốt, không thì cũng chẳng sao.
Tôi thấy hơi bị chạm tự ái khi một thằng bé 7, 8 tuổi muốn dạy cho tôi một bài học về việc phải “bảo trì” các vật dụng. Tôi định nói “sorry” và đóng cửa lại. Nhưng thấy tôi chần chừ, thằng bé liền giải thích rằng nó muốn rửa xe để “quyên tiền”. Nghe đến mấy chữ “quyên tiền” là tôi gật đầu đồng ý ngay.
Mấy đứa trẻ trong khu xóm của tôi thường làm chuyện này. Không có đủ “kỹ năng” để rửa xe như cậu bé con ông hàng xóm thì bọn con gái lại đi bán bánh kẹo. Tôi không phải là dân hảo ngọt, vì sợ bị tiểu đường. Nhưng cứ nghe nói đến “quyên tiền” là tôi liền tháo hầu bao ngay. Những hộp chocolate và bánh ngọt mua của lũ trẻ, tôi cứ giữ như những “kỷ vật” để thỉnh thoảng nhìn ngắm và tự nhắc nhở về những niềm vui nhỏ mình có thể mang lại cho trẻ con.
Lúc nhỏ, tôi không được dạy dỗ để biết “quyên tiền” cho nhà trường hay các tổ chức từ thiện như trẻ con trong xã hội văn minh ngày nay. Nhưng bù lại, tôi đã tự học biết giá trị của lao động. Nếu xét theo tiêu chuẩn của xã hội văn minh ngày nay thì có lẽ cha mẹ tôi đáng phải bị truy tố ra tòa vì tội “cưỡng bách trẻ con lao động”. Nhà tôi đông con. Đứa trẻ nào trong gia đình cũng đều có kinh nghiệm về việc cày cấy và gặt hái. Trước khi người cộng sản mang cái khẩu hiệu “lao động là vinh quang” đi treo ở khắp mọi hang cùng ngỏ hẽm, thì một thằng nhóc như tôi  cũng đã biết được thế nào là “đổ mồ hôi xót con mắt” khi phải “bán lưng cho trời bán mặt cho đất”.
Nhưng dĩ nhiên, tôi không chỉ tốt nghiệp từ mái trường lao động của gia đình, mà còn học được thế nào là lương thiện trong lao động. Thời thái bình cửa thường mở ngỏ, những người nông dân nghèo như cha mẹ tôi lao động vất vả, nhưng không phải rơi vào cái cảnh cướp giựt hay lường gạt nhau. Dối trá, lươn lẹo thì thời nào và ở đâu cũng có, nhưng không hề là luật sống của xã hội khi tôi còn nhỏ. Trẻ con nào mà chẳng biết nói dối, nhưng ít nhứt đây không phải là bài học do thày cô truyền đạt như dưới mái trường xã hội chủ nghĩa.
Tôi còn nhớ: sau 1975, tôi sống bên cạnh một tu viện. Trước 75, các nữ tu trong tu viện trông coi một cô nhi viện và một trường trung tiểu học. Sau khi chiếm cô nhi viện và trường học, những người cộng sản chỉ để lại cho các nữ tu một ngôi nhà nhỏ. Một buổi sáng nọ, vào cái thời mà bất cứ cái gì cũng có thể bị “ăn cắp”, các nữ tu sợ thất kinh hồn vía khi khám phá một lỗ hổng trong bức tường xung quanh nhà. Mỗi ngày cái lỗ hổng lại lớn dần, những viên gạch không có cánh mà bay dần đi đâu hết. Sau nhiều ngày cho người rình xem, các nữ tu mới khám phá ra rằng thủ phạm không ai khác hơn là cái đám học sinh của ngôi trường tiểu học mà các vị chăm sóc trước 1975. Thì ra, vào thời ấy, các trường thường thi đua làm đủ thứ “kế hoạch lớn”, “kế hoạch nhỏ”. “Nhỏ” chẳng hạn như thu lượm giấy rác trong nhà để mang đến trường cân ký bán. “Lớn” như mỗi em phải đóng góp một viên gạch để chỉnh trang cái công viên của trường. Sau 75, một cây đinh cũng tìm không ra chứ đừng nói đến một viên gạch. Vậy là tiện đường đi ngang qua tu viện, mỗi em cứ “vô tư” moi một viên gạch trong bức tường và mang đến trường để thực hiện “kế hoạch lớn”. Tôi tin chắc là ngoài bức tường của tu viện, còn có rất nhiều cơ sở tư nhân khác đã phải “đóng góp” những viên gạch cho cái kế hoạch lớn xã hội chủ nghĩa đó. Và dĩ nhiên, mặc cho ai có than trách về những thiệt hại ấy, thày cô trong trường vẫn “vô tư” báo cáo thành tích của mình trong việc thực hiện các kế hoạch lớn nhỏ. Tôi cứ nghĩ: mỗi một viên gạch mà các em học sinh tiểu học đã “đánh cắp” từ bức tường của tu viện cũng là mỗi một viên gạch xây dựng cho cái lâu đài “dối trá”, lươn lẹo, cướp bóc mà những người cộng sản đã thiết kế trên quê hương.
Cùng với tính lương thiện và sự chân thật, những người cộng sản cũng cướp đi mọi giá trị tinh thần và đạo đức của xã hội. Với khẩu hiệu “lao động là vinh quang”, cuộc sống con người bị giản lược vào một chiều kích duy nhứt là “sản xuất” và  dĩ nhiên sản xuất bằng tay chân. Lao động trí óc cũng như trí thức bị so sánh không hơn “cục phân” trong xã hội xã hội chủ nghĩa. Nói chi đến những hoạt động tinh thần và thiêng liêng của các tôn giáo: tiếng chuông và tiếng cầu kinh trong giáo đường, tiếng tụng kinh gõ mõ trong chùa phải im tiếng để nhường chỗ cho tiếng kẻng của nông hội. Lao động chỉ còn lại một chiều kích là lao động sản xuất. Cuộc sống của con người chỉ còn được cân đo, đong đếm bằng tiền bạc và của cải vật chất.
Thực ra, không riêng gì các nước cộng sản tuyên xưng duy vật chủ nghĩa như tôn giáo, các xã hội tiêu thụ cũng ngày càng giản lược giá trị con người và cuộc sống vào một chiều kích duy nhứt là tiền của. Người ta thường đánh giá con người qua đồng lương kiếm được mỗi năm. Người giàu có của cải vật chất vẫn là người được trọng vọng trong xã hội. Làm giàu vẫn là lý tưởng được nhiều người đeo đuổi.
Mới đây, tôi đọc được một bản tin đáng suy nghĩ trên tập san “Eglises d’ Asie” (Các Giáo hội Á Châu) của Hội Thừa Sai Paris. Hội Thừa Sai Paris là một hiệp hội qui tụ các nhà truyền giáo người Pháp đã từng đến Việt nam làm việc ngay từ khởi đầu của lịch sử công giáo tại Việt nam. Sau 1975, tất cả đều bị trục xuất ra khỏi Việt nam. Hiện các linh mục của Hiệp hội này vẫn còn làm việc tại hầu hết các nơi trên thế giới, nhứt là tại Á Châu.
Trong một bản tin đề ngày 28/ 9/10 vừa qua, tập san “Các Giáo hội Á Châu” cho biết: một đại học công giáo có phân khoa dành cho các tu sĩ và chủng sinh tại Nam Hàn đã bị chính phủ nước này xem như một nơi “sản xuất những người thất nghiệp”, do đó đã bị “giáng cấp” và gạch tên khỏi danh sách những đại học có thế giá nhứt tại Nam Hàn.
Bản tin viết rằng trong khuôn khổ của một chương trình thẩm định toàn quốc, Bộ Giáo dục, Khoa học và Kỹ thuật Nam Hàn đã gạch tên trường đại học công giáo Suwon ra khỏi danh sách 30 trường đại học nổi tiếng nhứt tại nước này. Lý do là vì đại học này không còn đáp ứng được hai tiêu chuẩn được Bộ Giáo dục, Khoa học và Kỹ thuật đề ra: con số sinh viên ghi danh mỗi năm và khả năng tìm được việc làm của các sinh viên tốt nghiệp. Sở dĩ Đại học công giáo này không đáp ứng được hai tiêu chuẩn trên đây là vì gần đây đại học này mở thêm phân khoa thần học dành riêng cho các tu sĩ và chủng sinh. Sau bốn năm theo học, phần đông các sinh viên “tốt nghiệp” tại phân khoa này trở về các giáo phận và dòng tu của họ. Là tu sĩ, dĩ nhiên, họ  được các thống kê của chính phủ xếp vào loại “thất nghiệp” bởi vì không có “lao động sản xuất”.
Một linh mục giảng huấn tại trường đại học công giáo Suwon nói một cách mỉa mai rằng “dưới mắt Bộ Giáo dục, Khoa học và Kỹ thuật Nam Hàn, trường đại học Suwon chỉ đào tạo những người thất nghiệp.” (Eglises d’ Asie, 28/9/2010)
Cách thẩm định của Bộ Giáo dục, Khoa học và Kỹ thuật Nam Hàn đối với đại học Suwon chẳng khác nào cái nhìn của những người cộng sản Việt nam  đối với các tu sĩ và các sinh hoạt tôn giáo. Phải chăng tu sĩ là một loại người “phi sản xuất” chuyên ăn bám xã hội? Trong cuốn sách có tựa đề “The Art of Happiness at Work” (Nghệ thuật Hạnh phúc trong Lao động), Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng, đã nêu lên  vấn đề này. Cuốn sách là một thu thập từ những trao đổi của nhà lãnh đạo phật giáo này với bác sĩ Howard Cutler, một chuyên gia tâm lý người Mỹ. Trong cuộc trao đổi, bác sĩ Cutler nhìn nhận rằng “nói chung tại Tây phương, nếu có một tu sĩ và tất cả công việc của người đó chỉ là ngồi trong một hang động và thiền niệm suốt ngày, thì người ta sẽ cho rằng đây là một công việc “phi sản xuất”. Theo ông, trong cách nhìn chung, lao động sản xuất là làm một công việc nào đó có ảnh hưởng đến môi trường sống, sản xuất hay thực hiện một cái gì đó trong thế giới. Nói cách khác, sản xuất là làm ra được những gì có thể đo lường hay cân đo được.
Nghe thế, Đức Đạt Lai La Ma liền cười và nói đùa: “Hiểu như thế thì những giờ ngồi thiền của tôi mỗi buổi sáng là phi sản xuất, phải không?”  Là một người đã từng sống dưới chế độ cộng sản, nhà lãnh đạo Tây Tạng lưu vong này nói rằng cách hiểu về lao động khác nhau tùy theo mỗi xã hội và văn hóa. Chẳng hạn, một xã hội cộng sản có thể xem hoạt động “tuyên truyền”, nhồi sọ v.v là một lao động sản xuất, trong khi đó một xã hội không cộng sản lại xem đó là những hoạt động phi sản xuất, nếu không muốn nói là “độc hại”.
Về vấn đề này, Đức Đạt Lai Lạt Ma muốn nhấn mạnh đến tính “độc hại” và “hữu ích” của sản xuất. Theo ngài, hoạt động sản xuất thực sự là hoạt động không gây nguy hại cho người khác. Đức quốc xã hay cộng sản là những người đã sản xuất ra vũ khí giết người và độc hại. So sánh với những hoạt động sản xuất độc hại này, ngồi thiền hay nói chung cuộc sống tu trì xem ra không mang lại những kết quả vật chất cụ thể nào, nhưng ít nhứt đây không phải là những hoạt động “độc hại”, mà trái lại còn hữu ích cho tha nhân là khác. (His Holiness the Dalai Lama and Howard C. Cutler, M.D The Art of Happiness at Work, Holder Headline Australia Pty Limited, 2003)
Từ suy nghĩ trên đây của một nhà tu “chuyên nghiệp” như Đức Đạt Lai Lạt Ma, tôi chợt nhớ đến một câu chuyện ngắn của nhà văn Nguyễn Khải trong nước. Một vài năm trước khi chết, nhà văn này đã để lại một chúc thư đáng suy nghĩ trong bài viết có tựa đề “Đi tìm cái tôi đã mất”. Ông có ý nói rằng trong bao nhiêu năm cúc cung phục vụ chế độ cộng sản, ông đã đánh mất chính mình trong sự dối trá và lừa gạt người khác. Trước đó không lâu, trong một truyện ngắn, ông kể lại tâm sự của một viên bí thư cộng sản nào đó đến “công tác” tại một làng quê. Viên bí thư này cho trùng tu lại ngôi chùa đổ nát, mời một vị sư về trụ trì, rồi đưa ra nhận xét: sáng một hồi chuông, tối một hồi chuông, tên cướp nào sừng sỏ mấy nghe mãi cũng phải có lúc phải hồi tâm.
Có lẽ ông Nguyễn Khải muốn nhắc khéo với người cộng sản rằng việc kéo chuông, tụng kinh gõ mõ của nhà sư nói riêng và các hoạt động tôn giáo nói chung, không “phi sản xuất” đâu. Những hoạt động ấy không trực tiếp làm ra cơm bánh, nhưng có sức động viên tín hữu hăng hái “lao động sản xuất” và nhứt là cảm hóa được lòng người để bớt đi ít nhứt là một tên cướp cho cái xã hội trống rỗng những giá trị đạo đức như xã hội cộng sản.
Tôi nghĩ đến hàng hàng lớp lớp các tăng lữ tại các nước Phật giáo như Thái Lan, Cam bốt, Sri Lanka, Myanmar. Hành động khất thực mỗi ngày của họ không hề là một hoạt động “phi sản xuất”, bởi lẽ cuộc sống siêu thoát của họ không ngừng là một tra vấn cho một xã hội giàu vật chất nhưng nghèo giá trị tinh thần.
Tôi cũng nghĩ đến những thành phần “ăn theo” trong xã hội như các bệnh nhân, người khuyết tật, các cụ già trong các viện dưỡng lão, những người vô gia cư, những người hành khất…Họ không phải là thành phần “phi sản xuất” đâu, bởi lẽ sự hiện diện của họ không ngừng là một nhắc nhở cho chúng ta về thực trạng đời sống, trách nhiệm liên đới, chia sẻ, cảm thông .v.v
Người ta có thể đánh giá người khác qua quan niệm về giá trị của mỗi người, nhưng không ai có thể phủ nhận rằng, dù cho họ bị liệt vào thành phần “phi sản xuất” thì sự hiện diện của họ trong thế giới này cũng vẫn là một đóng góp giá trị và có ý nghĩa.
Tựu trung, cần có những người như thế hiện diện để nói với chúng ta rằng giá trị đích thực của con người không chỉ được đo lường bằng tiền bạc, của cải, danh vọng hay những gì mình làm ra được, mà chính là con người của mình. Với những người có niềm tin Kitô, thì sự hiện diện của những người như thế hẳn phải gợi lại lời Kinh Thánh dạy: “Con người không chỉ sống bằng cơm bánh, mà còn bằng những Lời do miệng Thiên Chúa phán ra.”