Thứ Hai, 24 tháng 2, 2020

Phú quý và lễ nghĩa



Chu Thập
24/2/20
Cuối tuần qua, cái xóm nhỏ của tôi ồn không chịu nổi: 4 người hàng xóm, trong đó có một bà góa, đua nhau cắt cỏ. Sau trận mưa vừa rồi, cỏ lên như thổi. Mấy cái máy nổ bốn thì mở hết công suất, nghe đinh tai nhức óc. Thỉnh thoảng mấy cái máy cắt cỏ rìa lại tru lên những tiếng não nuột. Cụ ông Bruce, một người hàng xóm khác của tôi, đứng nhìn một cách thèm thuồng. Đám cỏ trước nhà cụ trồng toàn loại cỏ mịn thường thấy trong các sân cù (Golf). Loại cỏ “nhà giàu” này đòi hỏi một sự chăm bón rất kỹ. Trong những ngày nắng hạn vừa qua, cụ Bruce đã lỡ tay rắc quá nhiều phân nhưng lại không tưới đủ thành ra một phỉnh lớn của đám cỏ cháy nám. Cụ thấy người ta thi nhau cắt cỏ mà thèm là phải! Suýt soát gần cửu thập, cụ ông cụ bà xem đám cỏ trước nhà như một thứ “nhà thờ”: ngày nào cũng tẩn mẩn tỉ mỉ khòm lưng nhổ từng cây cỏ dại.  Khổ nỗi, cái giống cỏ dại mà nhiều người Việt đặt cho cái tên là “cỏ cộng sản” không phải là thứ dễ diệt trừ: nhổ ngày hôm trước, ngày hôm sau lại thấy xuất hiện! Cứ nhìn cảnh vợ chồng cụ Bruce chăm sóc đám cỏ trước nhà mà thấy thương!
Trong cái xóm không đầy  20 nóc nhà này, nhà tôi được bạn bè bà con Việt Nam đến thăm cho là chẳng giống ai. Ngoài cái “quê hương bỏ túi” được nhét đầy những cây cối nhiệt đới, vườn nhà tôi chẳng có nơi nào đáng gọi là bãi cỏ cả. Là dân nhà quê thứ thiệt, tôi quý đất hơn vàng. Không có tham vọng “trồng cỏ” để làm giàu một cách bất chính đã đành, nơi nào còn trống là tôi trồng cây ăn trái và rau xanh. Có hoa quả để ăn mà cũng chẳng phải quá mất giờ để chăm sóc và cắt cỏ. Cũng may, ở Úc này không có quy định nào về chuyện phải có sân cỏ và chăm sóc cỏ cả!
Nghe nói hồi năm 2016, tại thành phố có tên là Cahokia ở Tiểu bang Illinois bên Mỹ, một người phụ nữ bị cho vào nhà pha bóc lịch. Tội của bà ư? Vì không chịu cắt cỏ. Năm 2019, một người đàn ông ở tiểu bang Florida bị thành phố Dunedin phạt 30 ngàn Mỹ kim vì tội để cho cỏ lên cao quá 10 inches, tức 20.45cm.
Nước Mỹ “vĩ đại” và xem ra cái gì cũng khác người. Một cuộc nghiên cứu được thực hiện hồi năm 2005 ước tính trên toàn nước Mỹ có trên 40 triệu mẫu Anh (mỗi mẫu Anh rộng khoảng 4000 thước vuông) được dùng làm sân cỏ, công viên, vận động trường v.v. Nhưng đáng nói hơn, người Mỹ bỏ ra mỗi năm 60 tỷ Mỹ kim để chăm sóc vườn cỏ.
Theo Bộ Nông Nghiệp Mỹ, các bãi cỏ của các gia đình người Mỹ ngốn hết một nửa lượng nước tiêu dùng và phần lớn lại bị phí phạm. Ngoài ra, mỗi năm người Mỹ còn sử dụng đến 80 triệu cân Anh phân hóa học và thuốc trừ sâu cho các bãi cỏ. Điều đáng quan ngại là phân hóa học và thuốc trừ sâu là nguồn chính của đủ các loại độc tố và chất gây ung thư được thải ra trong nước và bầu khí quyển.
Không hiểu sao mỗi lần nhìn ngắm một bãi cỏ trong các gia đình ở các nước Tây Phương, tôi lại nghĩ đến câu nói quen thuộc của người Việt Nam: “phú quý sinh lễ nghĩa”. Trong tác phẩm Homo Deus (Người-Thượng Đế), sử gia Israel, ông Yuval Noah Harari giải thích rằng “cái ý tưởng trồng một bãi cỏ trước cửa nhà bắt nguồn từ các lâu đài của giới quý tộc ở Pháp và Anh vào thời Trung Cổ”. Điều đó có nghĩa là phải giàu có và quý phái người ta mới trồng một bãi cỏ trước nhà. Như vậy bãi cỏ được xem như biểu tượng của giai cấp và địa vị cao trong xã hội. Chỉ có người giàu mới có đủ điều kiện để trồng và chăm sóc cái biểu tượng của sự giàu sang ấy!
Ngày nay, bãi cỏ trước hay sau nhà đã nghiễm nhiên trở thành biểu tượng và thước đo của sự thành công, giàu có và ổn định. Càng giàu sang phú quý thì bãi cỏ càng lớn! Nếu như “phú quý sinh lễ nghĩa” thì trong một ý nghĩa nào đó, bãi cỏ cũng là một thứ “lễ nghĩa” xem ra không thể thiếu được trong xã hội văn minh và giàu có.
Ở Việt Nam, do điều kiện đất hẹp người đông, bãi cỏ chưa được xem là một thứ “lễ nghĩa” cần phải có. Nhưng kể từ khi mở cửa đi theo “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, có biết bao nhiêu thứ “lễ nghĩa”mới được du nhập từ nước ngoài  hay hồi sinh. Tôi còn nhớ cách đây không lâu, lần đầu tiên về Việt Nam để làm một chuyến gọi là “xâm nhập thực tế” từ Nam ra Bắc, trên con đường từ Hà Nội ra Vịnh Hạ Long, ở một ngôi làng nào đó tôi thấy nhà cửa khang trang mọc lên như nấm và điều đập vào mắt tôi nhiều nhứt là hầu như trên nóc nhà nào cũng có một cái tháp y chang như trong các lâu đài cổ bên Pháp hay Âu Châu. Kể từ đó, đi khắp nước, tôi mới thấy quả thật “phú quý sinh lễ nghĩa”. Người ta bày ra hay làm sống lại mọi thứ “lễ nghĩa”. Không riêng đám cưới, mà ma chay cũng được tổ chức một cách rình rang với đủ mọi thứ “lễ nghĩa”. Mà đâu có riêng trong nước, cứ thử quan sát một đám cưới hay đám ma của người Việt Nam ở hải ngoại chẳng hạn, người ta cũng sẽ thấy đủ mọi thứ “lễ nghĩa”.
Những cái tháp trên các nóc nhà ở một số địa phương miền Bắc Việt Nam dĩ nhiên gợi lên tính biểu tượng của kiến trúc “mà các nhà cai trị độc đoán cũng sử dụng để tạo nên ánh hào quang của sự vĩ đại”. Theo giáo sư Nina L.Khrushcheva, giáo sư về ngành Quan hệ Quốc tế tại Đại học The New School, New York, “kiến trúc là một trong những công cụ như vậy. Từ các pharaoh Ai Cập đến các hoàng đế La Mã hay các nhà độc tài đương thời như Kim Jong Un của Triều Tiên, tất cả các nhà lãnh đạo độc đoán thường sử dụng (hoặc lạm dụng) kiến trúc để thao túng nhận thức của công chúng, bằng cách tạo ra những không gian công cộng hùng vĩ phản ảnh hình ảnh lộng lẫy của họ”. Giáo sư Khrushcheva cũng nhắc đến sự kiện “chính quyền của Tổng thống Trump đang cho lưu hành một dự thảo sắc lệnh hành pháp có tên là “Làm cho các tòa nhà liên bang đẹp trở lại”. Dự thảo sắc lệnh này yêu cầu các kiến trúc sư tuân thủ các thiết kế kiến trúc “cổ điển”, lấy cảm hứng từ truyền thống Hy Lạp và La Mã”. Theo giáo sư Khrushcheva, “có lẽ điều này không gây ngạc nhiên. Rất lâu trước khi trở thành tổng thống, Trump đã sử dụng kiến trúc để khẳng định quyền lực và đặc quyền của mình. Chẳng hạn, các công trình mạ vàng lòe loẹt đặc trưng cho nhiều tòa nhà của ông có nhiều điểm tương đồng với cách bài trí xa hoa được lựa chọn bởi những nhà lãnh dạo chuyên quyền hiện tại như Tập Cận Bình của Trung Quốc, Vladimir Putin của Nga hay Recep Tayyip Erdogan của Thổ Nhĩ Kỹ”
Tôi không rành chữ Hán. Nhưng trong ngũ thường “nhân nghĩa lễ trí tín”, tôi thường được ông bà cha mẹ dạy rằng lễ và nghĩa được xem là hai “nhân đức” quan trọng làm nên nhân cách. Lễ là phải cư xử hòa nhã với mọi người. Còn nghĩa đòi hỏi phải biết tôn trọng công bình theo lẽ phải. Tôi cũng được dạy rằng không cần phải chờ cho đến lúc “phú quý” mới thực thi hai “nhân đức” nghĩa và lễ. Đã là nhân đức thì giàu sang hay nghèo hèn, thông minh hay ngu dốt,  lãnh tụ hay dân đen...ở bất cứ địa vị nào trong xã hội, ai cũng phải “tu nhân” và sửa tánh để biết đối nhân xử thế và sống cho ra người tử tế.








Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2020

Tiếng kêu cứu của Mẹ Đất!


Chu Thập
15/2/20
Ông bạn hàng xóm của tôi là người “nhiều chuyện”. Dân Úc rặc trong xóm tôi thường kiệm lời. Gặp nhau “hello” hay hỏi một cách xã giao “How are you?” là cùng. Nhưng ông bạn hàng xóm của tôi thì lúc nào cũng có chuyện để kể. Gần đây ỗng đã trở thành một nhà khí tượng đáng tin cậy của tôi. Hễ cứ gặp nhau là ổng tuôn ra đủ thứ dự báo về thời tiết. Mà cũng lạ, dự báo nào của ổng cũng đều trúng phóc. Ổng báo mưa thì có mưa. Ổng nói sẽ có giông là có giông. Ổng thích đưa ra những nhận xét về sự thay đổi của thời tiết. Một buổi sáng cách đây không lâu, ông gọi tôi đến gần chiếc xe đậu trước nhà, chỉ vào tấm kính rồi bày tỏ sự ngạc nhiên: “Mùa hè năm nay thật khác lạ: đêm nóng chảy mỡ, vậy mà sáng ra lại thấy có một lớp đá đóng trên kính xe!”  Tôi mới dò hỏi: “Vậy ông có tin có khí hậu thay đổi không?” Không biết câu hỏi có đánh đúng tim đen của ông không, ngập ngừng một lúc ông mới trả lời: “Về khí hậu thay đổi, tôi chỉ bán tín bán nghi”.
Gần đây, tôi sợ đụng đến quan điểm chính trị và bởi khí hậu thay đổi cũng là một vấn đề chính trị “nhạy cảm” cho nên tôi luôn cố gắng tránh né để khỏi tranh cãi và đụng độ một cách vô ích. Về hiện tượng khí hậu thay đổi và thay đổi vì hoạt động của con người, tôi tin các nhà khoa học hơn các chính trị gia. Bao nhiêu hội nghị thượng đỉnh và hiệp định về khí hậu thay đổi cho tới nay cũng chẳng đi tới đâu. Trái đất vẫn tiếp tục bị hâm nóng, bầu khí quyển và nguồn nước vẫn tiếp tục bị ô nhiễm.
Không tin các chính trị gia đã đành, tôi cũng nghi ngờ thiện chí của những người giàu có khi họ hô hào cuộc chiến chống lại khí hậu thay đổi. Đứng đầu danh sách các tỷ phú hào sảng nhứt trong cuộc chiến chống lại khí hậu thay đổi, tôi nghĩ đến trước tiên ông chủ của hãng máy bay dân dụng Virgin Blue là Sir Richard Branson. Vào năm 2006, ông này cam kết bỏ ra 3 tỷ Mỹ kim để nghiên cứu và tìm cho bằng được một thứ nhiên liệu khả dĩ thay thế được dầu và khí đốt là hai thủ phạm chính hâm nóng trái đất và làm cho khí hậu thay đổi. Một năm sau, ông còn bỏ ra 25 triệu Mỹ kim để treo giải thưởng cho người đầu tiên tìm ra được phương pháp khả dĩ mỗi năm có thể loại trừ được một tỷ tấn khí thải ra khỏi bầu khí quyển. Nhưng đào đâu ra tiền để nhà tỷ phú này tỏ ra hào sảng như thế? Thưa từ việc hãng máy bay của ông tiếp tục nhả khí thải vào bầu khí quyển! Có người bảo tỷ phú Branson chống lại ô nhiễm bằng cách gây ô nhiễm!
Trong hàng ngũ những người giàu có luôn hăng say hô hào chống lại khí hậu thay đổi có lẽ cũng phải kể đến tên của ông Warren Buffett. Không ai chối cãi được tấm lòng quảng đại của tỷ phú giàu nhứt nhì thế giới này trong các công tác từ thiện. Ông Buffett không ngừng lên tiếng cảnh cáo về những hậu họa của khí hậu thay đổi. Nhưng ai cũng biết rằng ông tỷ phú này đã và đang đầu tư rất nhiều trong các công ty chuyên gây ô nhiễm trong đó có công ty dầu khí ExxonMobil.
Nhắc đến những người giàu có hô hào chống lại khí hậu thay đổi có lẽ cũng phải kể đến tên của tỷ phú Michael Bloomberg, người hiện cũng đang lăm le nhảy vào cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc dưới lá cờ của Đảng Dân Chủ. Tỷ phú này đã đóng góp rất nhiều cho các tổ chức bảo  vệ môi sinh như Sierra Club và EDF. Lúc còn làm thị trưởng New York, ông cũng đã được ca ngợi vì các chính sách bảo vệ môi sinh. Nhưng nhiều người vẫn đặt vấn đề về nguồn gốc của khối tài sản kết xù của ông, bởi vì ông đã làm giàu phần lớn nhờ vào công ty luật Willett Advisers chuyên cố vấn về dầu khí.
Tên tuổi của nhà từ thiện Buffett cũng thường gắn liền với một tỷ phú nổi tiếng khác là Bill Gates. Mặc dù rất được biết đến vì những nỗ lực chống lại khí hậu thay đổi, tính đến năm 2012, Sáng hội Gates Foundation của vợ chồng ông lại đầu tư ít nhứt là 1.2 tỷ Mỹ kim vào hai công ty dầu khí khổng lồ là BP và ExxonMobil (x.Naomi Klein, This Changes Everything, Capitalism vs.The Climate, Alfred A.Knoff,Canada, 2014, trg 230-238).
Mới đây, tôi cũng chú ý đến tên tuổi của một người nổi tiếng khác là danh thủ quần vợt Roger Federer. Trên sân thể thao, tư cách của danh thủ này lúc nào cũng sáng chói. Tuy nhiên, gần đây, triệu phú thể thao này lại trở thành điểm nhắm của  Greta Thunberg, cô thiếu niên người Thụy Điển hiện đang nổi tiếng vì cuộc tranh đấu chống lại khí hậu thay đổi. Sở dĩ đã có lời qua tiếng lại giữa hai người nổi tiếng này là vì Federer hiện đang đầu tư rất nhiều vào Ngân hàng Credit Suisse của Thụy Sĩ, mà kể từ năm 2016,  Ngân hàng này lại cho các công ty khai thác dầu khí vay đến 57 tỷ Mỹ kim.
Sở dĩ Federer đã bị Thunberg và những nhà tranh đấu cho môi sinh chiếu cố đến là bởi vì danh thủ này đến Úc Đại Lợi để tham dự Giải Australian Open vào giữa lúc nạn cháy rừng đang nhận chìm quốc gia miệt dưới này trong khói lửa. Trong một tuyên ngôn được đưa ra khi đến Úc, Federer nói rằng ông biết ơn những nhà tranh đấu trẻ vì họ nhắc nhở ông về trách nhiệm của một nhà thể thao và kinh doanh đối với hiện tượng khí hậu thay đổi.
Khi tôi đang ngồi viết những dòng này thì Úc Đại Lợi đang trải qua những ngày mưa tầm tã. Nhiều nơi bị ngập lụt, cúp điện. Suốt ngày bó chân bó cẳng lẩn quẩn trong nhà, không ra vườn được, không đi câu được và cũng chẳng có bạn bè để “nhậu nhẹt” bù  khú cho hết cái khối thời giờ của một “tỷ phú thời gian”, có lúc tôi thấy buồn. Nhưng nghĩ lại mới thấy đó là một nỗi buồn ích kỷ. Tại sao không vui khi mưa giúp dập tắt và ngăn ngừa lửa rừng, khi nhà nông có nước để gieo trồng, khi mực nước trong các đập nước dâng cao bảo đảm việc cung ứng nước cho mọi người và nhứt là khi cây cối và rau xanh trong vườn của tôi được tưới tẩm.
Tự vấn lương tâm trong mấy ngày mưa, tôi thấy rõ ràng mình là người đầu tiên đáng bị đem ra chỉ trích. Người ta thường có khuynh hướng nhìn vào người khác kể cả những người giàu có , nổi tiếng để chỉ trích mà quên mất là chính bản thân cũng cần bải bị “tự kiểm”. Đâu cần phải làm điều ác, đâu cần chỉ nghĩ đến lợi ích, quyền lợi, niềm vui và hạnh phúc riêng của mình mà không màng đến niềm đau nỗi khổ của người khác, nhứt là những người đang phải hứng chịu những hậu quả khốc liệt của khí hậu thay đổi cũng đã là một cái tội rồi. Lại phải để cho ông tổ của chủ nghĩa Marxit nhắc nhở: “Chỉ có súc vật mới quay lưng trước nỗi khổ của đồng loại để chăm sóc cho bộ da riêng của mình”!
Tôi còn nhớ, cách đây 13 năm, trong một bài diễn văn đọc trong Hội nghị Thượng đỉnh Toàn quốc được tổ chức tại Quốc hội Liên bang ở Canberra, thủ tướng Úc lúc bấy giờ là ông Kevin Rudd đã tuyên bố rằng khí hậu thay đổi là “thách đố luân lý lớn nhứt của thế hệ chúng ta”. Là một nhà lãnh đạo quốc gia, có lẽ thủ tướng Rudd nghĩ đến trước tiên trách nhiệm của các chính phủ đối với khí hậu thay đổi. Nhưng nếu trái đất là ngôi nhà chung của mọi người thì bảo vệ môi sinh, chống lại khí hậu thay đổi phải là nghĩa vụ luân lý của mỗi người, chớ không chỉ là trách nhiệm của các chính phủ, của những người giàu có hay của một đảng xanh nào đó.
Dựa trên các bản tường trình của các chính phủ, một cuộc nghiên cứu được đăng trên báo Environmental Research Letters (Thư tín về Nghiên cứu Môi sinh), chứng minh rằng trong cuộc chiến chống lại khí hậu thay đổi, người dân không nên mong đợi quá nhiều nơi chính sách và hành động của các chính phủ. Cuộc nghiên cứu khẳng định: “Đảo ngược khí hậu thay đổi bắt đầu từ chính bạn”   
Cách sống của tôi, ít hay nhiều, đều ảnh hưởng đến sự thay đổi của khí hậu và sự gia tăng hay giảm bớt sự ô nhiễm của môi sinh. Khói thuốc lá tôi nhả ra mỗi ngày và một tàn thuốc lá tôi vứt bừa bãi xuống đất chắc chắn đã góp phần vào việc làm cho môi sinh bị ô nhiễm. Nói gì đến khói từ xe hơi của tôi! Nghĩ cho cùng, có biết bao nhiêu hành động phung phí thiếu trách nhiệm của tôi làm cho trái đất thêm hâm nóng và ô nhiễm. Trái lại, một cố gắng nhỏ của tôi như giảm thiểu tối đa việc sử dụng bao bị ni lông chẳng hạn cũng có thể giúp giảm được không biết bao nhiêu khí thải! Thật là thiếu đạo đức khi biết giữ cho nhà mình sạch sẽ mà lại không màng gì tới rác rến trong ngôi làng toàn cầu.
Tôi đã và đang làm gì trước tiếng kêu thảm thiết của Mẹ Đất? Có lẽ  đó phải là câu hỏi buộc tôi phải tự vấn lương tâm, buộc tôi phải cân nhắc trong việc sử dụng mọi thứ chung quanh mình mỗi ngày hơn bao giờ hết.







Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2020

Ngày Không Nên Quên...



Chu Thập
03/02/20
Tháng Giêng năm 2020 được đánh dấu bằng nhiều biến cố khó quên như Vương quốc Anh thống nhứt chính thức rút ra khỏi khối Liên Âu, dịch bệnh do vi khuẩn Corona đang đặt toàn thế giới vào tình trạng khẩn trương và dĩ nhiên chuyện tổng thống Mỹ Donald Trump bị luận tội. Riêng về trường hợp tổng thống Mỹ thứ 45 này, dù có trắng án đi nữa, ông cũng sẽ mãi mãi được nhắc đến như vị tổng thống thứ 3 trong lịch sử Mỹ bị mang ra đàn hặc. Có những biến cố lịch sử không bao giờ có thể bị xóa khỏi ký ức tập thể của nhân loại. Với tôi, một trong những biến cố khó quên ấy chính là cuộc sát tế người Do Thái do Đức Quốc Xã chủ trương trong thời Đệ nhị Thế chiến.
Ngày 27 tháng Giêng vừa qua kỷ niệm đúng 75 năm ngày Hồng quân Liên Xô giải phóng trại tập trung Đức Quốc Xã tại Auschwitz. Ba Lan. Mặc dù sinh sau biến cố này gần 2 năm, với ký ức tập thể của nhân loại, tôi cũng vẫn cảm thấy như thể chính mình đã trải qua biến cố đau thương ấy. Rải rác khắp Âu Châu, đã có tới 6 triệu người Do Thái bị sát hại bằng nhiều cách khác nhau bởi bàn tay của chế độ Đức Quốc Xã và những người hợp tác với chế độ đồi bại này. Để cho mọi thế hệ ở khắp mọi nơi trên thế giới này đừng quên biến cố đau thương chung của toàn thể nhân loại ấy, ngày Mùng Một tháng Mười Một năm 2005, trong phiên khoáng đại lần thứ 42, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua một nghị quyết lấy ngày 27 tháng Giêng hàng năm làm Ngày Thế Giới Tưởng Niệm Cuộc Sát Tế.
Một người sinh sau đẻ muộn như tôi và chẳng có giây mơ rễ má nào với người Do Thái ở Âu Châu trong thời Đệ nhị Thế chiến mà vẫn cảm được nỗi đau chung của nhân loại thì huống chi những người còn sống sót trở về từ các trại tập trung và hậu duệ của họ. Nhưng hận thù có khi không phải là thuốc chữa cho vết thương tưởng chừng như không bao giờ khép lại ấy. Chính vì vậy mà ngày 27 tháng Giêng hàng năm, con cháu của những người còn sống sót và chính họ muốn nhắn gởi cho thế giới một thông điệp có giá trị hơn bao giờ hết cho thế giới ngày nay.
Chia sẻ trên trang mạng Psycholigy Today, Tiến sĩ Mona S Weissmark cho biết: cha mẹ của bà là những người sống sót trở về từ các trại tập trung Auschwitz, Dachau và Buchenwald.  Trong trại tập trung, mẹ của bà được đóng dấu lên cánh tay với con số 47021 và cha của bà mang số 184879. Những con số được xâm lên người này không bao giờ có thể được tẩy xóa. Chúng đã trở thành hình ảnh sống động của tính vô nhân đạo của con người trong cuộc sát tế người Do Thái.
Theo Tiến sĩ Weissmark, chỉ trừ một số ít anh chị em bà con, hầu như mọi người trong đại  gia đình của cha mẹ bà đều đã bị Đức Quốc Xã tàn sát. Trong bức hình của đại gia đình mà cha bà vẫn luôn giữ trong người, số người sống sót không đếm đủ trên đầu ngón tay!
Dù đã trải qua tận cùng của đớn đau và hãi hùng, cha mẹ của Tiến sĩ Weissmark vẫn quyết định không để cho con gái mình phải sợ hãi vì những ký ức của họ. Ông bà chỉ kể lại cho cô con gái nghe kinh nghiệm của họ khi được hỏi mà thôi. Họ đã cương quyết  chôn chặt quá khứ để cho con gái của họ có được một tuổi thơ hồn nhiên và hạnh phúc.
Tiến sĩ Weissmark chào đời tại một nông trại ở Vineland, Tiểu bang New Jersey, Hoa Kỳ. Cha mẹ của bà đã gặp nhau  và lấy nhau tại Đức sau Đệ nhị Thế chiến và di dân sang New York, rồi định cư tại Vineland. Vineland là quê hương thứ hai của nhiều người Do Thái sống sót từ các trại tập trung Đức Quốc Xã. Mặc dù cố gắng  chôn chặt quá khứ, cha mẹ của Tiến sĩ Weissmark cũng không thể tránh khỏi những câu hỏi nhức nhối của cô con gái như: tại sao cánh tay của họ bị xâm với những con số không thể tẩy xóa được? Cô dì, chú bác và ông bà nội ngoại của cô đã chết như thế nào? Các cai tù Đức Quốc Xã đã đối xử với họ ra sao? Làm thế nào để người Đức biết được họ là người Do Thái?
Tiến sĩ Weissmark thú nhận rằng bà hận người Đức và chỉ mong thấy họ đau khổ và bị trừng phạt vì những  tội ác họ đã gây ra cho người Do Thái. Có lúc người con gái đặt thẳng câu hỏi với mẹ mình: “Mẹ có thù ghét người Đức không?” Tiến sĩ Weissmark kể lại: lúc đó, mẹ bà mới nhìn thẳng vào mắt con gái  và chậm rãi nói từng tiếng một như thể muốn nhắn gởi cho mọi người một sứ điệp: “Mẹ không thù ghét người Đức. Hận thù cũng giống như bệnh ung thư. Nó đầu độc và lan ra toàn thể con người của con. Và chính con sẽ trở thành điều con thù ghét. Những người Đức Quốc Xã đã không chiến thắng bởi vì mẹ đã giữ được tình nhân đạo trong mẹ. Họ đã không thể và sẽ không thể cướp đi nó (tình nhân đạo) khỏi mẹ”.
Tiến sĩ Weissmark thú nhận rằng lúc đó bà không hiểu được hoàn toàn cái nhìn của mẹ mình. Làm sao mẹ bà không thể không thù ghét người Đức?
Thế rồi vài tháng trước khi qua đời, mẹ bà được một người thuộc Sáng Hội Shoah (Sáng hội Tưởng niệm cuộc sát tế) hỏi: “Bà có muôn nhắn gởi điều gì với thế giới về nỗi đau khổ mà bà đã trải qua tại Auschwitz không?” Mẹ bà im lặng một lúc rồi nói: “Tôi muốn thế giới biết rằng đừng có ai phải đau khổ như tôi đã từng đau khổ”.
Câu trả lời của người mẹ khiến cô con gái phải ngạc nhiên. Thì ra bà đã sống mỗi ngày nỗi đau mà bà đã từng nếm trải trong trại tập trung Auschwitz. Dù vậy, bà vẫn cương quyết không để cho hận thù gậm nhấm tâm hồn mình và chỉ mong sao không có ai phải đau khổ như mình. Tiến sĩ Weissmark kết luận: “Đây là một hành động cảm thông”
Trong một bài diễn văn đọc tại Tòa Bạch Ốc, Elie Wiesel (1928-2016) một người cũng sống sót trở về từ một trại tập trung Đức Quốc Xã và được trao tặng Giải Nobel Văn Chương năm 1986, đã nhấn mạnh rằng sự vô cảm của con người trước nỗi khổ đau của người đồng loại là mối nguy hiểm lớn nhứt đối với nhân loại.
Hitler đã không có ba đầu sáu tay để một mình có thể sát tế 6 triệu người Do Thái. Đa số người Đức đã bỏ phiếu để chuẩn nhận tư cách đồ tể của ông. Sát cánh bên ông còn có rất nhiều người rải rác khắp Âu Châu. Cái chết của 6 triệu người Do Thái là thước đo của chính sự vô cảm của con người. Quả thật điều nguy hiểm nhứt cho nhân loại không phải là bệnh tật hay chiến tranh mà chính là sự vô cảm. Đó là bài học có tính thời sự hơn bao giờ hết mà ngày 27 tháng Giêng hàng năm vẫn tiếp tục nhắc nhở cho thế giới.



Thứ Hai, 20 tháng 1, 2020

Tôi không biết người này!


Chu Thập
21.01.20
“Thấy sang bắt quàng làm họ” là chuyện thường tình trên thế gian này. Cũng như rất nhiều người, tôi cũng thích lân la đến gần những nhân vật nổi tiếng. Với hy vọng hão huyền kiếm được vài mảnh vụn từ bàn ăn danh vọng và tiếng tăm của họ. Còn gì sung sướng bằng có được chữ ký của họ hay có được tấm hình chụp chung với họ. Tôi vẫn còn giữ mãi bức hình chụp với Đức Gioan Phaolô II hồi cuối thập niên 1990. Tôi vẫn sống mãi với cái cảm giác lâng lâng khi được bắt tay nhà lãnh đạo của hơn 1.2 tỷ người  công giáo này. Dĩ nhiên, trong ký ức của nhà lãnh đạo tinh thần này hẳn không có bất cứ một dấu vết nào của một tên vô danh tiểu tốt như tôi. Mỗi ngày gặp gỡ không biết bao nhiêu người, chụp hình chung với không biết bao nhiêu người và ký tên không biết bao nhiêu lần, các nhân vật nổi tiếng làm sao nhớ hết mặt mũi chớ đừng nói đến tên họ của những người đã một lần gặp gỡ họ cách này hay cách khác.
Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump  là người có nhiều quyền lực và dĩ nhiên cũng là nhân vật nổi tiếng nhứt trên thế giới hiện nay. Mỗi ngày ông gặp gỡ và chụp hình chung với biết bao nhiêu người. Cũng như các nhân vật nổi tiếng khác trên thế giới, tôi tin chắc là ông cũng không thể nào nhớ hết những cái bắt tay hay những tấm hình ông chụp chung với người khác. Tuy nhiên, một “thiên tài ổn định” như ông, với một khối óc thông minh và trí nhớ sắc sảo không ai sánh bì như ông vẫn thường tự nhận, chắc chắn không thể quên được một số người mà cách này hay cách khác ông đã có quan hệ với. Thành ra, tôi cứ thắc mắc không hiểu tại sao một nhân vật hiện đang được nhắc tới rất nhiều trong vụ điều tra luận tội ông là ông Lev Parnas lại hoàn toàn bị xóa khỏi bộ nhớ của ông. Lev Parnas là một tỷ phú sinh trưởng tại Ukraine dưới thời nước này còn thuộc Liên Xô. Năm 23 tuổi, ông đến định cư tại Tiểu bang Florida. Trong một cuộc phỏng vấn mới đây trên Đài MSNBC, ông này nói rằng “Tổng thống Trump biết một cách chính xác điều đang diễn ra. Ông biết rõ đường đi nước bước của tôi...Tôi đã không làm bất cứ điều gì nếu không có sự đồng ý của ông Rudy Giuliani hay của tổng thống”.
Ông Parnas chỉ bắt đầu quan tâm đến chính trị khi ông Trump ra tranh cử tổng thống. Ông đã tham gia vào các cuộc vận động bầu cử của ông Trump và trở thành một trong những người đóng góp rất hào sảng cho ứng cử viên Trump. Theo ký giả Adam Entous của báo The New Yorker, ông Parnas cho biết đã gặp gỡ với ông Trump rất nhiều lần, nhưng hai người chỉ thật sự “biết nhau” kể từ khi ông Trump ra tranh cử tổng thống hồi năm 2016. Sau khi ông Trump đắc cử, ông Parnas trở thành phụ tá đắc lực của ông Giuliani, luật sư riêng của ông Trump và đại diện cho ông này để thu thập những tài liệu bẩn về cha con ông Joe Biden, người được xem là một trong những ứng cử viên sáng giá nhứt của Đảng Dân Chủ và là đối thủ nặng ký của ông Trump trong cuộc bầu cử vào cuối năm nay.
Cùng với lời khai trên đây, ông Parnas cũng trưng dẫn một số bức hình chụp riêng với Tổng thống Trump. Nhưng Tổng thống Trump vẫn một mực quả quyết: “Tôi không biết người này!”.
Thật ra không riêng gì ông Parnas, mà hình như bất cứ ai có dính líu đến bất cứ hồ sơ bất lợi nào cho tổng thống Trump cũng đều bị xóa khỏi bộ nhớ của ông. “Tôi không biết người này!” đó là câu thần chú rất linh nghiệm thường được ông Trump tụng niệm mỗi khi gặp rắc rối với người nào đó.
Trong một cuộc họp báo dạo tháng Mười Một năm 2018, khi được hỏi về ca sĩ nhạc Rap Lil Jon, người đã cho biết ông đã từng gọi anh là “Chú Tom” (Uncle Tom), Tổng thống Trump trả lời: “Tôi không biết Lil Jon là ai. Tôi thực sự không biết”. Thật ra, Lil Jon đã hai lần tham gia tranh tài trong chương trình truyền hình thực tế “The Celebrity Apprentice” của ông Trump. Trong một “tuýt” bắn đi hồi năm 2012, ông đã từng gọi anh là một “người tuyệt vời” và là một “người bạn lớn”. Tên của ca sĩ nhạc Rap nổi tiếng này bị xóa khỏi bộ nhớ của Tổng thống Trump chỉ vì anh dám phê bình cách hành xử tồi tệ của ông.
Cũng vậy, khi một cựu nữ tiếp viên tại Trump Tower tiết lộ rằng tuy không có sự đồng ý của cô ông đã hôn lên môi cô, Tổng thống Trump thẳng thừng bác bỏ điều đó cũng bằng câu: “Tôi không biết cô ta và tôi chưa từng gặp cô ta”.
Đáng ngạc nhiên nhứt có lẽ là số phận của luật sư George Conway, chồng của bà Kellyanne Conway, cố vấn cao cấp của ông Trump. Bị luật sư Conway chỉ trích, ông lên Twitter bắn lại cái “tuýt” của giám đốc vận động tranh cử của ông: “Tổng thống Hoa Kỳ không biết ngay cả ông ta là ai”. Nhưng sau đó, báo The Washington Post cho phổ biến một lá thư ông viết hồi năm 2006. Trong lá thư người sẽ là tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ đã cám ơn ông Conway vì đã giúp ông giải quyết một vấn đề liên quan đến các cao ốc của ông. Trong phần ghi chú của lá thư, ông còn viết cho ông Conway: “Ông có một tiếng nói thật mạnh. Chắc chắn đây là vốn liếng không tồi cho một luật sư kiện tụng hàng đầu”.
Bỉ mặt nhứt có lẽ là ông George Papadopolos, một thành viên của toán cố vấn ngoại giao của ông. Trong một cuộc phỏng vấn với báo The Washington Post, ông nói rằng ông Papadopolos là một  cố vấn về năng lượng và dầu hỏa, một người tuyệt vời” . Ông còn tuýt cả một tấm hình ghi lại một phiên họp trong đó ông Papadopolos ngồi cách ông chỉ có 3 người. Vậy mà khi ông này gặp chuyện rắc rối, Tổng thống Trump vẫn có thể tỉnh bơ tuyên bố: “Tôi không biết ông ta. Tôi thấy ông ta ngồi đồng bàn với tôi. Đó là điều duy nhứt tôi biết về ông”.
Ông cũng có cùng một giọng điệu đối với Wikileaks, trang mạng đã từng làm việc với tình báo Nga để phổ biến các điện thư của bà Hilary Clinton. Trong cuộc vận động bầu cử hồi năm 2016, chính ông là người đã thường xuyên nhắc đến Wikileaks. Ngay cả trước một đám đông ủng hộ ông, ông đã nói: “Tôi yêu Wikileaks”. Nhưng khi người sáng lập Wikileaks là Julian Assange bị bắt tại London, Tổng thống Trump tuyên bố: “Tôi chẳng biết gì về Wikileaks”.
Cay đắng hơn cả có lẽ là trường hợp ông Gordon Sondland, đại sứ Hoa Kỳ bên cạnh Liên Âu. Ông này đã tặng một triệu Mỹ kim cho ủy ban tổ chức lễ nhậm chức của ông Trump. Nhờ vậy ông được bổ nhiệm làm đại sứ Mỹ bên cạnh Liên Âu. Trong cuộc điều tra luận tội ông Trump, ông Sonland cho biết đã từng nói chuyện qua điện thoại với ông và khai những điều bất lợi cho ông. Phản ứng trước sự kiện này, Tổng thống tuyên bố: “Tôi không biết nhiều về ông. Tôi  không có nói chuyện nhiều với ông”.
Riêng về quan hệ với đương kim Tổng thống Nga Vladimir Putin, Tổng thống Trump cũng ca một bài tương tự. Từ năm 2015 đến năm 2016, ông nói rằng ông có “mối quan hệ ” với ông Putin, rằng ông Putin đã tặng cho ông một món quà, rằng ông đã nói chuyện với ông ta và “biết rất nhiều về ông ta”. Nhưng kể từ khi có cuộc điều tra về việc Nga can thiệp vào bầu cử nhằm đưa ông lên làm tổng thống, ông Trump liền khẳng định: “Tôi không biết ông Putin là ai” “tôi không có quan hệ nào với ông Putin” và “tôi không biết Putin”.
“Tôi không biết người này!”. Dù cho Tổng thống Trump có lập đi lại câu thần chú này, ông không phải là người đầu tiên sử dụng nó. Ai cũng biết rằng thánh Phêrô, người môn đệ thân tín nhứt của Chúa Giêsu và về sau được Ngài đặt làm thủ lãnh Giáo hội, đã từng nói câu đó về Thày mình. Khi Chúa Giêsu bị bắt, thánh Phêrô cố lẻn vào bên trong sân của dinh vị thượng tế, người đứng ra xét xử Ngài. Nghe giọng nói của thánh nhân, một phụ nữ mới hỏi ngài có phải là người đã từng sống với Chúa Giêsu không. Thánh Phêrô liên chối bai bải: “Tôi thề là chẳng biết người các ông nói đó”. Như Chúa Giêsu đã báo trước, gà chưa kịp gáy 2 lần thì ông đã chối Ngài đến ba lần. Nghe tiếng gà gáy và nhớ lại lời của Thày mình, thánh Phêrô liền chạy ra ngoài và Kinh Thánh đã ghi lại: Ngài đã “khóc lóc thảm thiết”. Hẳn đó phải là những giọt nước mắt đẹp nhứt trong lịch sử của Kitô Giáo! Tổng thống Trump, người được 80 phần trăm tín hữu Tin Lành tại Mỹ ủng hộ và người luôn khoe thành tích về việc bảo vệ Kitô Giáo, hẳn rành về câu chuyện này hơn ai hết!
Đọc lại chuyện của thánh Phêrô và tự vấn lương tâm, tôi có ý nghĩ: còn để cho lương tâm cắn rứt thì có lẽ ai cũng cảm thấy hối hận và sám hối vì đã chối bỏ, khước từ hay loại trừ một người nào đó.
Và cả tôi nữa, viết đến đây, tôi chợt nhớ là tôi không những đã từng “làm ngơ” ai đó mà còn chối bỏ chính căn cước của tôi: một người tỵ nạn, một người vô tổ quốc, một người từng nghèo đói, một người từng nhờ sự bao dung của người khác để tồn tại.
Thật buồn thay, tôi cũng đang chối bỏ chính mình!











Thứ Bảy, 11 tháng 1, 2020

Nhân tâm...tùy mạng mỡ!



Chu Thập
14.1.20
Sau mùa nghỉ lễ Giáng Sinh và Năm Mới vừa qua, tôi đứng lên bàn cân để xem mình có đủ sức thực hiện quyết tâm đầu năm là giữ cho vòng bụng không phình ra thêm một ly nào không. Kể từ khi biết mình bị tiểu đường và nhớ lời cảnh cáo của bác sĩ: “lượng đường trong máu tăng theo tỷ lệ thuận với vòng bụng”, lúc nào tôi cũng theo dõi sự phát triểu của cái bụng.
Những suy nghĩ và triết lý vụn vặt của tôi thường xoay quanh cái bụng. Thời thanh niên, nhìn mấy ông ba Tàu vừa sói đầu vừa to bụng trong thị trấn nhỏ của tôi là Thành, tôi cứ nghĩ rằng cái bụng phệ là biểu hiện của sự giàu sang và khỏe mạnh. Không hiểu học được ở đâu, thằng bạn nối khố sát bên cạnh nhà tôi lúc nào cũng tìm cách thuyết phục tôi rằng chỉ cần mỗi buổi tối ăn một ổ bánh mì nóng có trét bơ là “to con” và khỏe mạnh. Cùng với những buổi sáng tập tạ dựa theo những chỉ dẫn trong “bắp thịt trước đã” của tác giả Phạm Tấn Tươi, hai đứa cũng đua nhau mỗi tối “thộn” bánh mì nóng cho đầy bụng!
Sau năm 1975, dưới thời “chó chết” của mấy ông cộng sản, có tối đến nằm mơ may ra mới thấy mình to bụng và to con. Cho nên, đầu thập niên 1980,  thoát khỏi thiên đường cộng sản, chạy sang các nước thừa mứa thịt thà, bơ sữa và rượu bia, tôi mới ăn trả thù. Chỉ trong một tháng “tối sâm banh, sáng sữa bò”, vòng bụng của tôi phình ra, thể trọng của tôi tăng thêm gần 20 ký! Nhưng đó cũng là lúc tôi bắt đầu nghe người dân Tây Phương bàn tán xôn xao về mỡ (cholesterol) trong máu và vô số những chứng bệnh do mỡ trong máu tạo ra. Tôi chợt nhớ lại lời dặn của cha tôi.
Cha tôi chỉ là một nông dân thất học và cũng có vô số tính hư tật xấu. Nhà tôi lại nghèo cho nên tuy là con trai út, tôi chẳng hưởng được bất cứ phần gia tài nào do cha tôi để lại. Tuy nhiên,  có một thứ kho báu mà lúc nào tôi cũng thấy cần phải tiếp nhận từ cha tôi: đó là cách sống của ông! Cha tôi không bao giờ đụng tới rượu bia. Không biết có phải do ghét Tây và chống Mỹ cứu nước không, không bao giờ ông dùng thuốc Tây. Cứ  sau mỗi bữa ăn, ông uống hai viên cao lô hội (aloe vera) như thuốc nhuận trường. Và đây là lời “vàng ngọc” mà cha tôi đã để lại: “hễ cái bụng tốt thì mọi thứ đều tốt”. Cả đời không hề biết đến thuốc Tây, vậy mà ông đã tỉnh bơ sống khỏe mạnh cho đến lúc 95 tuổi!
“Hễ cái bụng tốt thì mọi thứ đều tốt”. Tôi đã nghiệm thấy lời của cha tôi đúng trong rất nhiều trường hợp. Táo bón là điển hình của một cái bụng không tốt. Táo bón làm cho nhức đầu và nhức đầu thì đương nhiên dễ cau có. Thành ra táo bón tạo ra cái “mặt táo bón” dễ ghét!
“Hễ cái bụng tốt thì mọi thứ đều tốt”. Tốt cả thể lý lẫn tinh thần. Người có cái bụng tốt thường cũng là người “tốt bụng”. Điều ấy cũng dễ hiểu: khỏe mạnh thì đương nhiên cũng vui vẻ và vui vẻ thì cũng dễ cảm thông, rộng lượng, quảng đại. Người Tây Phương xem trái tim là biểu tượng của tình yêu và là “trụ sở” của mọi cảm xúc. Người Á đông như Việt Nam chẳng hạn thì lại chú tâm đến cái bụng. Thật ra, con người ta thường suy nghĩ bằng cái bụng và từ cái bụng. Bụng đói không có tai cho nên dễ làm liều đã đành, mà bụng đầy phè cũng dễ khiến cho con người suy nghĩ lệch lạc.
Năm nay, lên bàn cân thấy vòng bụng của mình không thay đổi bao nhiêu, tôi mừng. Mừng vì thấy mình không nằm trong số tăng ký trung bình của người Úc sau mỗi kỳ nghỉ lễ Giáng Sinh và Năm Mới. Theo Cơ quan Dinh Dưỡng Úc Đại Lợi (Nutrition Australia), trung bình người Úc tăng từ 0.8 đến 1.5 ký sau mỗi Mùa Giáng Sinh. Một cuộc nghiên cứu mới vừa được phổ biến trên tạp chí The BMJ Christmas cũng cho thấy  người dân của những nước giàu có thể tăng trung bình từ 0.4 đến 1 ký lô mỗi năm, thường là vào dịp nghỉ lễ Giáng Sinh.
Lâu nay đã có nhiều báo động về tình trạng quá ký và béo phì của người Úc. Một cuộc thăm dò được thực hiện cách đây gần 15 năm đã cho thấy có đến 53.6 phần trăm người Úc bị xem là quá ký và 18 phần trăm được xếp vào hạng béo phì. Vào năm 2016, tỷ lệ này tăng đến mức chóng mặt: 65 phần trăm bị xem là quá ký và 29 phần trăm trong số này được liệt kê vào hạng béo phì. So với năm 1995, tý lệ này đã tăng gấp đôi. Vào lúc đó, chỉ có 30 phần trăm người lớn bị xem là quá ký và tỷ lệ người béo phì chỉ có 11 phần trăm. Điều này cho thấy cứ đà này, người Úc ngày càng quá ký và béo phì.
Nhìn sang các nước giàu có khác, người ta cũng thấy một hiện tượng tương tự. Trung tâm Toàn quốc Thống kê về Y tế (The National Center for Health Statictics) ước tính rằng tại Mỹ trong 2 năm 2015-2016, có khoảng gần 40 phần trăm người lớn từ 20 tuổi trở lên bị xem là quá ký và trên 30 phần trăm là béo phì. Tỷ lệ này ngày càng gia tăng chớ không giảm. Hiện tượng này hiện cũng đang xảy ra tại quốc gia có nền kinh tế đứng hàng thứ nhì trên thế giới là Trung Cộng. Hiện có khoảng một phần năm trong số hơn một tỷ dân của quốc gia khổng lồ này bị xem là quá ký hay béo phì. Trước kia, Trung Cộng được xem là một trong những nước có số người gầy nhiều nhứt thế giới. Nay với sự phát triển kinh tế tăng tốc đến mức chóng mặt và trên đà chạy theo văn minh tiến bộ của các nước Tây Phương, Trung Cộng đã trở nên ngày càng quá ký và béo phì.
Thời trẻ, tôi nhìn vào cái bụng phệ như dấu hiệu của sự giàu sang và khỏe mạnh. Ngày nay, một ít hiểu biết phổ thông về y tế đã mở mắt cho tôi để nhận ra rằng cái bụng phệ là giềng mối của không biết bao nhiêu bệnh tật từ tiểu đường đến tim mạch và trí não. Các nước giàu có có thể “mạnh” về nhiều lãnh vực, đặc biệt là kinh tế và quân sự. Nhưng với cái bụng phệ luôn đi trước, người dân của những nước giàu có ấy không đương nhiên “giàu” và “mạnh khỏe” ngay cả về mặt tinh thần.
Có thực mới vực được đạo. Đồng tiền liền khúc ruột. Cái bụng phệ thường thúc đẩy con người suy nghĩ theo chiều hướng “chỉ có kinh tế”, “kinh tế trước hết”. Năm 1992, trong cuộc vận động bầu cử tổng thống Mỹ, chiến lược gia của ứng cử viên Bill Clinton là ông James Carville đã tung ra khẩu hiệu “The economy, stupid” (Vấn đề chính là kinh tế, biết chưa, đồ ngu!). Nhờ chiến lược này, ứng cử viên Bill Clinton đã đánh bại Tổng thống George Bush Cha và 4 năm sau, ngay cả khi bị đàn hặc te tua vì vụ bê bối tình dục, ông vẫn được người Mỹ ủng hộ. Nay, cũng có nhiều suy đoán rằng Tổng thống Donald Trump cầm chắc trong tay sẽ giành thêm một nhiệm kỳ nữa bởi vì kinh tế Mỹ đang lên như diều gặp gió.
Nếu chỉ dựa vào kinh tế để đánh giá một nhà lãnh đạo hay một đảng cai trị thì không nơi nào đảng cầm quyền và lãnh tụ của đảng này đáng được đề cao cho bằng Trung Cộng. Sau hơn ba thập niên, Trung Cộng đang từ một nước nghèo đã biến thành một cường quốc chỉ sau Hoa Kỳ. Nhưng cũng sau hơn 3 thập niên thực hiện “phép lạ kinh tế”, có lẽ Trung Cộng mới chợt nhận ra rằng cái giá mà họ phải trả cho cái “phép lạ kinh tế” ấy là vô số những thiệt hại và mất mát không gì có thể bù lại: môi trường sống bị khai thác đến cạn kiệt và hủy hoại, các giá trị đạo đức và nhân bản làm nên sức mạnh đích thực của con người hoàn toàn bị chà đạp và xóa bỏ. Cái bụng ngày càng phình ra của người dân Trung Cộng chỉ có thể là dấu hiệu của sự nghèo nàn về nhiều mặt và bệnh hoạn. “Phép lạ kinh tế” nào cũng có cái giá của nó.
Úc Đại Lợi dù chưa từng hưởng một “phép lạ kinh tế” nào nhưng cái tội “đào đất lên bán” cũng đủ làm cho đất nước này đang phải trải qua một thảm nạn cháy rừng chưa từng có trong lịch sử Úc Đại Lợi. Xem kinh tế là tất cả và ưu tiên cho nên cứ “đào đất lên bán”, bất kể môi trường sống có bị hủy hoại, thiên nhiên có bị tàn phá...Nay quốc gia miệt dưới này mới chợt nhận ra rằng kinh tế không phải là trên hết và tất cả mà cần phải đo lường giá trị của một quốc gia dựa trên những tiêu chí khác như phẩm chất cuộc sống người dân, phẩm chất của môi trường, những giá trị đạo đức và nhân bản giữa người với người và giữa người với thiên nhiên...
Có người nói “nhân tâm...tùy mạng mỡ”. “Mạng mỡ” có thể hiểu theo cả hai nghĩa. Để có thân hình đẹp người ta thường đi hút mỡ. Có lẽ cũng phải “hút” cả mạng mỡ nhân tâm để có thể có những ước muốn lành mạnh cho bản thân, có những cái nhìn hiểu biết và thông cảm với những người khác trong xã hội và nhứt là biết sống có trách nhiệm với thiên nhiên và môi trường sống.





Chủ Nhật, 5 tháng 1, 2020

Xung đột với Iran có thể là điều không thể tránh khỏi...




                                                 Maximilian Popp, Spiegel online
                                                  Chu Thập  chuyển ngữ.

Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump không ngừng nhấn mạnh rằng ông không hề muốn có chiến tranh với Iran. Nay, sau vụ giết chết tướng Qassem Soleimani,  xung đột có thể là điều không thể tránh khỏi. Đây là cái  giá phải trả vì một chính sách ngoại giao dựa trên ngẫu hứng hơn là các chuyên gia.
Tổng thống Trump muốn làm mọi sự khác người; ông sử dụng mặc cả hơn là sự liên minh, gây áp lực hơn là chiến thuật. Ngay cả trong hàng ngũ những người chỉ trích ông Trump cũng có nhiều người cho rằng ngoại giao có thể là một điều không tốt. Xét cho cùng, ngay cả các vị tiền nhiệm của Tổng thống Trump cũng đều đã phải vất vả trong nhiều năm để tìm ra những giải pháp cho một loạt những vấn đề xem ra không có giải pháp như A Phú Hãn, Ba Tư, Bắc Hàn.
Tổng thống Trump đã hoàn toàn đoạn tuyệt với chính sách ngoại giao truyền thống của Hoa Kỳ. Ông loại bỏ các chuyên gia trong Bộ Ngoại giao và không màng đến những phương thế ngoại giao như thương lượng, trao đổi và cân nhắc các quyền lợi (của quốc gia). Nguyên tắc chỉ đạo của ông là “đạp đổ”. Ông cho rằng ông có thể giải quyết các cuộc xung đột chỉ bằng trực giác và trí tưởng tượng của ông. Xét cho cùng, phải chăng các công ty kỹ thuật ở Thung lũng Silicon đã chẳng làm thay đổi bộ mặt thế giới bằng những phát mình của họ đó sao?
Tuy nhiên, nay mọi người đều thấy rõ cung cách làm việc của ông Trump hoàn toàn thất bại. “Đạp đổ” có thể là một phương thức thích hợp đối với Google và Facebok, nhưng không có giá trị đối với sinh hoạt chính trị trên toàn cầu.
Hôm thứ Ba (31/12/2019) vừa qua, có lẽ với sự chỉ đạo của Ba Tư,  các dân quân Shiite đã tấn công Tòa đại sứ Mỹ tại Baghdad và Đại sứ Mỹ đã phải cùng với nhân viên tòa đại sứ di tản. Đêm thứ Năm (2/01/2020), với một hỏa tiễn bắn vào Baghdad, Hoa Kỳ đã đáp trả bằng việc giết chết tướng Qassem Soleimani, chỉ huy trưởng của Lực Lượng Quds của Ba Tư. Tưóng Soleimani vốn được coi là nhân vật quyền lực thứ nhì tại Ba Tư và cuộc ám sát ông không gì khác hơn là một hành động tuyên chiến. Cũng gần đúng vào lúc đó, nhà độc tài Bắc Hàn Kim Jong Un đe dọa sẽ cho thử nghiệm những vũ khí nguyên tử mới. Cả hai cuộc khủng hoảng đều đã được Tổng thống Trump hứa sẽ kiềm chế nay đã trở thành nguy ngập và đe dọa hơn trước đó.

Hành động điển hình của tính bốc đồng của Tổng thống Trump

Việc giết tướng Soleimani là một hành động điển hình của tính bốc đồng của Tổng thống Trump. Thủ đoạn nhằm bất ngờ thay đổi hướng đi, đưa ra những lời đe dọa và tấn công bất ngờ đã không giúp Hoa Kỳ thoát ra khỏi mớ bòng bong Iraq-Ba Tư-Syria. Hoa Kỳ lại tiếp tục bị lôi cuốn vào những cuộc xung đột ở Trung Đông. Kể từ khi Hoa Kỳ, dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Trump, rút ra khỏi hiệp ước hạt nhân với Ba Tư, nước này đã thay đổi hướng đi. Ba Tư đã đáp trả lại chiến thuật tạo “áp lực tối đa” của Tổng thống Trump bằng những những hành động khiêu khích như tấn công các cơ sở của Hoa Kỳ tại Trung Đông. Chế độ Ba Tư hy vọng rằng sự đánh trả của họ có thể buộc Chính phủ Trump phải trở lại bàn hội nghị.
Nay dường như các cuộc tấn công ăn miếng trả miếng giữa 2 bên có thể dẫn đến đại họa. Việc Hoa Kỳ giết chết viên tướng quan trọng nhất của Ba Tư, một người được chế độ đề cao như một anh hùng dân tộc và nhà cách mạng chiến đấu cho tự do, đã đánh dấu sự liên tục của cuộc đối đầu này. Đây là một hành động bi thảm bất ngờ mà Ba Tư khó có thể nhắm mắt làm ngơ để không đáp trả. Tổng thống Trump đã nói rằng ông không hề muốn có chiến tranh, nhưng một loạt  hành động của ông lại dứt khoát dẫn đến chiến tranh.
Đây là mối nguy hiểm lớn nhất mà thế giới đang phải đối diện với, nhưng đây không phải là hậu quả nguy hiểm duy nhất của chính sách đối ngoại  bốc đồng của Tổng thống Trump. Nhà độc tài Kim Jung Un của Bắc Hàn cũng là một người khó đoán trước. Trong nhất thời, xem ra nhà lãnh đạo Bắc Hàn đã đáp ứng một cách tích cực với cách hành xử riêng của ông Trump và ngưng chương trình hạt nhân để đổi lấy những nhượng bộ về kinh tế. Tuy nhiên, trong “thông điệp” đầu năm vừa qua trong đó ông đã trực tiếp đe dọa Hoa Kỳ, người ta đã thấy rõ hơn bao giờ hết rằng với Kim Jung Un, nắm trong tay Bom (nguyên tử) quan trọng hơn là quan hệ kinh tế tới Hoa Kỳ.

Ngẫu nhiên phát động một cuộc chiến

Sự thất bại của ông Trump là một bài học cho chính phủ Mỹ và Âu Châu. Ba hoa hiếu chiến có thể thích hợp cho các cuộc vận động chính trị, nhưng không thể có chỗ đứng trong ngoại giao. Chính sách đối ngoại thường vừa khó khăn vừa nguy hiểm. Nó đòi hỏi sự kiên trì, khiêm tốn và thiện chí muốn thỏa hiệp.
Hiệp ước Nguyên tử với Ba Tư do cựu Tổng thống Barack Obama chủ xướng đã không ngăn cản được chính phủ nước này gây xáo trộn trong vùng và tướng Qassem Soleimani là công cụ quan trọng nhất để thực hiện điều đó. Tuy nhiên, nỗ lực của Tổng thống Obama nhằm mổ xẻ vấn đề Ba Tư thành từng mảnh là một hành động đúng đắn. Những cuộc xung đột rộng lớn cần phải được giải quyết từng bước một hơn là bằng một sự “ngã giá” duy nhất: bạn ngưng phát triển vũ khí hạt nhân và chúng tôi sẽ nới lỏng các cuộc cấm vận. Đây là cách thức hoạt động của ngoại giao. Âu Châu cần phải tiếp tục đi theo hướng này.
Bắc Hàn là một thí dụ điển hình cho thấy việc tham gia của các chuyên gia chính trị quan trọng biết chừng nào. Tuy nhiên, Tổng thống Trump không hề có bất cứ sự tôn trọng nào dành cho các chuyên gia. Loại trừ hàng loạt các viên chức chính phủ, ông đã cho Bộ ngoại giao “ra rìa” và trong các cuộc thương nghị (của ông) với Bình Nhưỡng, người ta đã cảm nhận được sự ngu dốt ấy. Ông Trump hoàn toàn dựa vào tình bạn mà ông nghĩ là ông đã có với nhà độc tài Kim Jong Un; ông không chịu hiểu – và dường như quanh ông cũng chẳng có ai nói với ông - rằng đối với Kim, có trong tay vũ khí hạt nhân là điều rất quan trọng để nắm giữ quyền lực. Đây là lý do duy nhất để giải thích tại sao ông Trump không thể bảo đảm được ít nhất tạm thời Bắc Hàn ngưng chương trình hạt nhân để đổi lấy cuộc họp thượng đỉnh với Kim tại Hà Nội.
Không có gì sai trái để đưa ra những sáng kiến ngoại giao một cách can đảm và bất ngờ. Việc cựu Thủ tướng Đức Willy Brand xích lại gần với khối Cộng sản Liên xô đã làm cho thế giới trở thành một nơi an toàn hơn. Nhưng các sáng kiến ngoại giao cần phải được chuẩn bị một cách chu đáo và áp dụng một cách chu đáo. Ngoại giao là một hoạt động nghiêm chỉnh. Ai không tiếp cận ngoại giao bằng tất cả sự nghiêm trọng cần thiết sẽ có nguy cơ tạo ra chiến tranh một cách ngẫu nhiên.




Chủ Nhật, 15 tháng 12, 2019

Bao giờ tôi mới được thương?


Chu Thập
15/12/19
Mới đây, tôi có nghe nhắc đến một ca khúc cũ có tựa đề “ When will I be loved?”( Khi nào tôi mới được yêu?). Tuy Anh ngữ của tôi  vẫn còn trong tình trạng “ăn đong”, tôi vẫn nghe và hiểu được chút đỉnh ca từ của bài hát. Nhờ ông Google mách bảo, tôi mới biết tác giả của ca khúc này là ca nhạc sĩ Phil Everly thuộc ban nhạc The Everly Brothers. Nhưng với ca khúc này người được nhắc nhớ nhiều hơn cả lại là nữ ca sĩ Linda Ronstadt. Được đưa vào danh sách 10 ca khúc hay nhứt trong năm 1960, nhưng bài hát này đã lên tới hạng nhì vào năm 1975 qua tiếng hát của Linda Ronstadt. Danh tiếng của người nữ ca sĩ 73 tuổi này vẫn còn tiếp tục vang dội cho đến ngày nay, thành ra mới có chuyện để nói.
Số là tối thứ Bảy ngày 7 tháng Mười Hai vừa qua, Bộ Ngoại giao Mỹ đã tổ chức tại Trung tâm Kennedy một bữa tiệc để vinh danh một số nhân vật nổi tiếng. Và một trong những người nổi tiếng ấy là bà Linda Ronstadt. Không rõ vì cớ sự nào mà đương kim Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo lại chú ý đến bà Ronstadt một cách đặc biệt. Thật vậy, trong bài diễn văn khai mạc, ngoại trưởng Pompeo nhắc đến ca khúc “When will I be loved” và nói riêng với người ca sĩ già: “Thưa bà Ronstadt, xin cám ơn và chúc mừng bà. Và tôi muốn nói: công việc của tôi là đi khắp thế giới. Tôi muốn biết “bao giờ tôi mới được thương?”
Trong bữa tiệc, khi được trao “micrô”, bà Ronstadt mới trả lời cho Ngoại trưởng Pompeo. Trước hơn 200 khách dự tiệc, vốn là một người ăn nói bộc trực và đã từng chỉ trích chính phủ của Tổng thống Donald Trump, người nữ ca sĩ cao niên này đã đứng lên và nhìn thẳng vào ông Pompeo rồi nói: “Tôi muốn được nói với ngài Pompeo, người đã thắc mắc không biết bao giờ mình mới được thương rằng: khi nào ông thôi ủng hộ ông Donald Trump”.
Trong những năm gần đây, nhứt là trong các liên hoan nghệ thuật, việc các tài tử giai nhân bày tỏ lập trường chính trị của mình đã trở thành “chuyện thường ngày ở huyện”. Trong số những nữ ca sĩ tỏ rõ lập trường chính trị của mình, rất nhiều người trẻ hơn bà Ronstadt nhiều. Như trường hợp các cô Adele, Rihanna hay Taylor Swift. Nhưng hầu hết đều lên tiếng chống lại ông Trump trong những sinh hoạt nghệ thuật hơn là trong các cuộc tập hợp chính trị.
Việc bà Ronstadt “lên lớp” Ngoại trưởng Pompeo ngay trong một bữa tiệc do chính Bộ Ngoại giao đứng ra tổ chức quả là chuyện không bình thường. Trong giới nghệ thuật, bà Ronstadt nổi tiếng là một người khó tánh. Bà nói và làm điều bà muốn chớ không chịu làm theo điều người khác muốn hay ra lệnh cho bà phải làm. Nói cho cùng, như câu điệp khúc trong bài “When will I be loved?” dường như muốn nhấn mạnh, bà Ronstadt luôn muốn bày tỏ tinh thần độc lập của bà: bà không màng đến chuyện được người khác thích hay không thích, thương hay không thương !
Tạm gác chuyện chính trị sang một bên, câu hỏi “Bao giờ tôi mới được thương?” được Ngoại trưởng Pompeo đã tự đặt ra cho chính mình hơn là cho bà Ronstadt không thể không gợi lên cho tôi một câu hỏi khác quan trọng là: yêu và được yêu, điều nào quan trọng hơn?
Tất cả mọi người, từ lớn chí bé, ai cũng đều cảm thấy khao khát mãnh liệt được yêu thương. Đó là nhu cầu cơ bản nhứt của con người. Tất cả mọi cuộc nghiên cứu đều cho thấy rằng sau khi sinh ra, nhứt là trong 6 tháng đầu tiên, những đứa trẻ sơ sinh nào thiếu sự ôm ấp vỗ về đều sẽ bị chấn thương về tâm lý.
Vì được yêu thương là nhu cầu cơ bản nhứt cho nên hầu hết đều tin rằng được yêu thương và được quan tâm tới là yếu tố quyết định cho hạnh phúc của con người. Hầu như ai cũng đều xem quan hệ tốt đẹp với người khác là điều tối cần để có được một cuộc sống hạnh phúc.
Tuy nhiên, bên cạnh nhu cầu được yêu, còn có một nhu cầu căn bản khác song song với nhu cầu này mà có lẽ nhiều người không muốn nhìn nhận: đó là nhu cầu yêu thương và quan tâm đến người khác. Nhu cầu này cũng mãnh liệt như cầu được yêu. Tỏ tình yêu thương, cư xử tử tế hay cảm thông với người khác không những làm cho họ được hạnh phúc mà cũng mang lại hạnh phúc cho chính mình.
Nếu phải trả lời cho câu hỏi của Ngoại trưởng Pompeo “Bao giờ tôi mới được thương?”, có lẽ tôi sẽ khuyên ông nên nghĩ đến việc phục vụ và yêu thương hơn là nghĩ đến chuyện người khác có yêu thích mình hay không. Trên đời này chẳng có ai được mọi người yêu thích cả. Con người ta vốn khó tính. Ca dao Việt Nam đã đưa ra nhận xét thật chí lý: ở sao cho vừa lòng người, ở rộng người cười ở hẹp người chê. Chẳng có ai làm vừa lòng mọi người và được mọi người yêu thương cả. Hiền lành và yêu thương ngay cả kẻ thù như Chúa Giêsu mà còn bị thù ghét huống chi là người trần. Nhưng được yêu thương cũng chưa hẳn là thước đo của hạnh phúc đích thực. Tướng cướp nào cũng có kẻ đi theo. Bạo chúa nào cũng có người sống chết cho. Có ai được dân chúng Đức yêu thương cho bằng bạo chúa Hitler hay có ai được tôn thờ tại Trung Cộng cho bằng bạo chúa Mao Trạch Đông. Chính trị gia tráo trở nào cũng có khối người phục lụy. “Hội chứng Stockholm” vốn là điều rất thường xảy ra trong quan hệ giữa người với người: người ta vẫn có thể thương kẻ đang bắt giữ mình làm con tin!  Tôi nghĩ đến hội chứng ấy khi nhìn cả nước Bắc Hàn khóc lóc thảm thiết trước cái chết của nhà độc tài Kim Jong Il hồi năm 2011. Có lẽ chẳng có nguyên thủ quốc gia nào được dân chúng yêu thương cho bằng ông. Ngày nay có lẽ dân chúng Bắc Hàn cũng tiếp tục bày tỏ một sự “yêu thương” như thế đối với con của ông là đương kim Chủ tịch Kim Jong Un. Nhà độc tài hay bất cứ một chính trị gia giảo hoạt lưu manh nào mà chẳng rung đùi thích chí khi được người dân tung hê và sẵn sàng hy sinh mọi sự vì mình.
Được yêu quả là một nhu cầu cơ bản của con người. Nhưng con người có thực sự hạnh phúc hay không là khi nhu cầu yêu thương và quan tâm đến người khác được thỏa mãn.
Về nhu cầu này, tôi nghĩ Ngoại trưởng Pompeo nên tìm đọc lời dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Nhà lãnh đạo tinh thần Tây Tạng này nói: “Lời khuyên của tôi là nếu bạn cần phải ích kỷ thì hãy ích kỷ một cách khôn ngoan. Người khôn ngoan phục vụ người khác một cách chân thành, đặt nhu cầu của người khác lên trên nhu cầu của mình. Có như thế cuối cùng bạn sẽ hạnh phúc hơn. Thứ ích kỷ khiến phải đấu đá, giết người, trộm cướp, nói những lời độc địa, quên phúc lợi của người khác sẽ chỉ dẫn đến mất mát cho chính bạn mà thôi”.








Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2019

Sự thật dưới thời Liên Xô và ở Mỹ dưới thời Donald Trump



Garry Kasparov
                                                                               Chu Thập chuyển ngữ 

Tôi sinh trưởng trong chế độ toàn trị Liên Xô. Chế độ này đã tìm cách khống chế, bóp méo và kiểm soát sự thật. Thực tại là bất cứ điều gì Đảng đặt ra trên các bản tin hàng đêm hay trên những tờ báo của Đảng như Pravda, tức “Sự Thật” và Izvestia, tức “Tin Tức”.
Vào thời đó, ngay cả đối với những người thực sự tin tưởng chủ nghĩa cộng sản, ngày càng hiển nhiên là những điều mà người ta nói với chúng tôi không hề phù hợp với thế giới mà chúng tôi nhìn thấy xung quanh mình. Như người ta vẫn nói đùa: “Không có tin tức trong sự thật và không có sự thật trong tin tức”. Khoảng cách giữa sự thật và dối trá quá lớn; cuộc sống không được cải thiện và thông tin ngày càng rỏ rỉ xuyên qua Bức Màn Sắt. Chối bỏ thực tế đã trở thành một sự xúc phạm quá nặng nề đối với phẩm giá của chúng tôi. Mà phẩm giá vốn là một yếu tố bị đánh giá thấp trong tinh thần cách mạng.
Tôi đã từng sống qua nhiều cuộc cách mạng làm thay đổi thế giới. Tôi là một  công dân của thời hậu Liên Xô. Quốc gia nơi tôi sinh ra đã ngưng hiện hữu kể từ năm 1991. Tại Nga, chúng tôi đã hưởng được chút tự do trong không đầy một thập niên trước khi Vladimir Putin mở ra giai đoạn hậu dân chủ. Vì chống lại thảm trạng này cho nên tôi đã lưu vong sang Hoa Kỳ. Nay quê hương mới của tôi lại lâm vào một cuộc chiến đấu nguy hiểm, một cuộc chiến đấu để không trở thành quốc gia cuối cùng của thế giới hậu sự thật.
Tổng thống Donald Trump và các đảng viên Cộng Hòa bênh vực ông trong Quốc Hội đã chạy theo ông để tuyên chiến với thực tế hiển nhiên. Các bài tường thuật có tính phê phán (bị gọi) là “tin giả”, các ký giả tường thuật các sự kiện là “ kẻ thù của nhân dân” (một câu nói của chính Vladimir Lenin), những thuyết âm mưu giả tạo không ngừng được lập đi lập lại và các công chức làm chứng hữu thệ về những biến cố có đầy đủ chứng cớ bị dán cho nhãn hiệu “Những người không bao giờ ủng hộ Trump” (Never Trumpers).
Vì không thể thay đổi được các sự kiện, Tổng thống Trump và những người ủng hộ ông tìm cách lái cuộc tranh luận vào một thế giới khác trong đó sự thật là bất cứ điều gì họ nói trong ngày hôm nay. Ông Trump lập đi lập lại không biết bao nhiêu lần cùng những lời dối trá và điều đáng lo ngại hơn là những người ủng hộ ông không hề nhận ra rằng đó là những lời dối trá hoặc họ chẳng màng tới. Toàn cầu hóa và mạng lưới thông tin toàn cầu có thể đã làm cho thế giới này được thu hẹp lại, nhưng hiện chúng ta đang trải nghiệm một sự phản tác dụng: sự thật đang bị “địa phương hóa”.
Mạng lưới thông tin toàn cầu lẽ ra phải chiếu rọi ánh sáng sự thật vào trong mọi hang cùng ngõ hẻm của thế giới, chấm dứt độc quyền thông tin của các nhà độc tài. Nhưng nó cũng đã trở thành một hệ thống chuyên chở với tốc độc ánh sáng những lời dối trá và tuyên truyền. Như một tấm gương vỡ, mỗi mảnh phản chiếu một hình ảnh bị bóp méo thay vì một thực tại duy nhất.
Không dễ theo dõi những cuộc biểu tình tại Iran bởi vì chính phủ nước này có thể ngăn chận việc tiếp cận với mạng lưới thông tin toàn cầu trên toàn quốc. Tại bất cứ nước nào, theo dõi những cuộc biểu tình đòi dân chủ tại Hong Kong dễ hơn là tại Trung Cộng bởi vì nước này kiểm soát rất chặt chẽ. Nga giam tù các nhà báo mạng và đóng cửa các tổ chức không chính phủ trong khi tung ra trên toàn quốc và khắp thế giới những thông tin giả.
Đã đến lúc cần phải báo động về con đường đen tối mà ông Trump đang dẫn dắt Hoa Kỳ bước vào. Tại Liên Xô, chúng tôi đã không thể chọn lựa nguồn tin tức nào để theo dõi. Người Mỹ có vô số chọn lựa, nhưng nhiều người lại tự nguyện giới hạn vào một số nguồn tin tức họ ưa thích. Đặc biệt đối với những người ủng hộ ông Trump, chối bỏ thực tế là một phù hiệu danh dự, một biểu tượng của tín đồ thuộc về một giáo phái!
Nếu bạn chỉ  theo dõi các cuộc điều trần về luận tội trên Đài Fox News, bạn sẽ nghĩ rằng mọi sự đều tốt đẹp cho Tổng thống Trump. Bất cứ câu nói nào xem ra bãi tội ông, mặc dù không có nhiều câu nói như thế, được lập đi lập lại không ngừng chẳng khác nào một câu thần chú. Đã có rất nhiều bằng chứng bất lợi cho ông  được trưng ra, nhưng như thể  không hề hiện hữu.
Sự chia rẽ đảng phái về thực tế nằm trong một cuộc chiến rộng lớn hơn của ông Trump. Đó là cuộc chiến chống lại sự lương thiện, pháp trị và những giá trị truyền thống cũng như đồng minh của Hoa Kỳ. Đây chính là mô thức của quyền lực địa phương, sự kiện địa phương và giá trị địa phương mà lâu nay Putin và Tập Cận Bình đang đeo đuổi. Chẳng có thiện hay ác. Đừng đưa chuyện luân lý ra để bàn cãi về những trại tập trung ở Trung Cộng hay những vụ dội bom của Nga xuống các bệnh viện tại Syria.
Các công ty của Hoa Kỳ cũng hùa theo: mới đây Apple thay đổi các bản đồ bên trong Nga vốn đã cho thấy việc Nga sáp nhập một cách bất hợp pháp lãnh thổ Crimea của Ukraine (Google đã làm điều đó từ nhiều năm trước !)
Các công ty kỹ thuật khổng lồ của Hoa Kỳ tỏ ra hài lòng trong việc giúp Putin tạo ra một thực tế giả tạo bên trong ranh giới Nga. Apple và Google xem ra muốn đứng lên chống lại Cơ quan Điều tra Liên bang FBI, chứ không phải FSB, tức KGB của Nga. Nhu liệu là quyền lực mềm và các công ty Mỹ đang phản bội các giá trị của quốc gia đã từng giúp họ thành công bằng cách ve vãn các nhà độc tài. Các công ty kỹ thuật biện bạch bằng cách nói rằng đây chỉ là chuyện kinh doanh chứ không phải chính trị. Nghe chẳng khác nào các hãng phim Hollywood khi họ cắt xén các cuốn phim và sa thải các nhân viên người Do Thái vì áp lực của Đức Quốc Xã hồi thập niên 1930.
Sự thật là gì? Trong kỷ nguyên của các sự kiện vùng, nó tùy thuộc vào chỗ bạn đang đứng, kênh truyền hình bạn đang theo dõi và đảng nào bạn ủng hộ. Nhưng không thể có một thực tại đỏ và một thực tại xanh cũng như không thể có một  tấm bản đồ bên trong Nga khác với một tấm bản đồ bên ngoài Nga. Cuối cùng ông Trump đang đối diện với những hậu quả của những hành động  của ông, mỗi người cũng nên bắt đầu nhìn thẳng vào các sự kiện.

Garry Kasparov: I lived in the post-truth Soviet world and I hear its echoes in Trump’s America
Garry Kasparov hiện là chủ tịch của Tổ chức “Renew Democracy Initiative” (Canh Tân Sáng Kiến Dân Chủ). Ông đã từng là vô địch thế giới về môn cờ vua (chess).