Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2018

Hòa Lan: chuyện Người Bạn của Ông Già Noel



7/12/18
Theo truyền thống, trẻ con khắp Âu Châu chờ đón Ông Già Noel vào ngày 6 tháng Mười Hai. Nhưng tại Hòa Lan, truyền thống này lại mang nhiều màu sắc kỳ thị chủng tộc mà dường như phần đông dân chúng lại không muốn từ bỏ.
Đối với người Hòa Lan, Sinterklaassavond, tức ngày áp lễ thánh Nicolas, tiền thân của Ông Già Noel, được cử hành vào ngày 5 tháng Mười Hai là ngày lễ quan trọng nhất trong năm, quan trọng hơn cả Lễ Giáng Sinh. Buổi chiều ngày này, các gia đình tụ họp lại và trao đổi quà cho nhau; trẻ con đặt những chiếc bít tất của chúng vào chân giường ngủ với hy vọng sáng hôm sau sẽ nhận được bánh kẹo của ông già Noel mà người Hòa Lan gọi là Sinterklaas. Nhưng trong khi tại hầu hết các nước khác trên thế giới, ông già Noel thường chỉ đơn thân độc mã đến tặng quà cho trẻ con, thì tại Hòa Lan, Sinterklaas lại có một người bạn đồng hành.


Tại Hòa Lan, 3 tuần lễ hội trước Giáng Sinh không chỉ xoay quanh nhân vật huyền thoại Sinterklaas, mà còn kéo sự chú ý của dân chúng đến một nhân vật khác cũng rất quan trọng trong những ngày lễ hội. Nhân vật này được đặt tên là Zwarte Piet hay Black Pete, tức Piet Đen. Đen bởi vì ông là một người đến từ lục địa Phi Châu. Zwarte Piet được xem như một người bạn đồng hành của ông già Noel. Ông giúp ông già Noel phân phát quà cáp cho trẻ con và người túng khổ.
Thật ra, nhân vật Zwarte Piet không chỉ được tưởng nhớ tại đất nước của loài hoa Tulip. Nhân vật này cũng được nhắc nhớ trong các lễ hội được cử hành tại các cựu thuộc địa của Hòa Lan như Nam Dương, Curacao, Aruba, Surinam  và ngay cả tại Bỉ.
Hình tượng và dung mạo của nhân vật Zwarte Piet, cũng như của chính ông già Noel Sinterklaas, đã được hình thành và biến chuyển qua dòng lịch sử. Ở khởi đầu, Sinterklaas và những người giúp việc của ông là tiên ông  Odin và nhóm thợ săn của ông. Được những người giúp việc hộ tống, tiên ông  Odin cỡi con ngựa trắng bay trên không trung. Trong đoàn tùy tùng của Odin lúc nào cũng có 2 người bạn da đen. Hai người này sẽ trèo lên nóc nhà của dân chúng để nhìn xuyên qua ống khói lò sưởi và cho Odin biết người dân cư xử như thế nào.
Đây là huyền thoại có trước khi câu chuyện có thật của thánh Nicolas được các thập tự quân từ Thổ Nhĩ Kỳ trở về Âu Châu truyền tụng. Vào thời Trung Cổ, có lẽ từ huyền thoại tiên ông Odin, thánh Nicolas được tô vẽ như một vị anh hùng đã có công xiềng xích được một tên quỷ dữ. Vào đầu Thế kỷ 19, tại Hòa Lan, người ta mới giải phóng cho tên quỷ dữ và biến nó thành một người giúp việc đắc lực cho thánh Nicolas. Và dĩ nhiên, bởi vì đã từng là một thằng quỷ, cho nên người giúp việc này phải là một tên mọi đen mà thôi. Nhân vật Zwarte Piet chính là người giúp việc ấy.
Sự khai sinh của nhân vật Zwarte Piet trùng hợp với sự biến đổi tâm lý của chính nhân vật Sinterklaas. Trước đó, Sinterklaas thường được mô tả như một ông kẹ cô đơn rất nghiêm khắc và hung tợn với những đứa trẻ mất nết. Từ một ông kẹ, Sinterklaas biến thành ông già Noel hiền lành phúc hậu và quảng đại. Từ một tên quỷ dữ, Zwarte Piet cũng biến thành một người giúp việc đắc lực chuyên phục vụ ông già Noel trong việc phân phát quà cáp cho trẻ con và người túng khổ.
Riêng về nhân vật Zwarte Piet, một truyền thuyết khá phổ biến tại Hòa Lan vào khoảng cuối Thế kỷ 19 cho rằng một trong những phép lạ mà thánh Nicolas đã thực hiện sau khi chết là đến can thiếp tại một tòa án của “Hoàng đế Babylone” để giải phóng cho một thiếu niên khỏi ách nô lệ và đem trả cậu về cho cha mẹ cậu. Câu chuyện về phép lạ này không nói đến màu da của người thiếu niên. Tuy nhiên, sang Thế kỷ 20, câu chuyện về phép lạ này được thêm mắm muối và người thiếu niên thay vì trở về nhà với cha mẹ đã tự nguyện làm người bạn đồng hành đi theo thánh Nicolas suốt đời.
Trong những thập niên kế tiếp của Thế kỷ 20, dân gian lại làm cho dung mạo của người bạn đồng hành của thánh Nicolas được rõ nét thêm: cậu là một người Tây Ban Nha hay là một người Ý! Vì cứ phải chui vào ống khói lò sưởi cho nên không những khuôn mặt mà toàn thân cậu đều trở nên đen đủi.
Khi lễ hội Zwarte Piet thịnh hành, những người đóng vai người bạn đồng hành của Sinterklaas, tức thánh Nicolas, đều bôi đen khuôn mặt của họ, đeo những bộ tóc giả màu đen lên đầu cũng như đeo những chiếc bông tai lớn. Cách hóa trang này đã bắt đầu gây tranh cãi vào cuối Thế kỷ 20. Nhiều người cho rằng cách hóa trang này có chủ ý kỳ thị chủng tộc.
Tuy nhiên, theo một cuộc thăm dò được thực hiện hồi năm 2013, có đến 90 phần trăm người dân Hòa Lan không xem cách hóa trang nhân vật Zwarte Piet là một hành động kỳ thị chủng tộc. Một cuộc thăm dò nơi trẻ em Hòa Lan tuổi từ 3 đến 7  hồi năm 2015 cũng cho thấy rằng trẻ con Hòa Lan xem Zwarte Piet như một tay hề gánh xiếc độc đáo hơn là một người da đen. Theo một cuộc thăm dò mới nhất được thực hiện trong năm nay, có đến 88 phần trăm dân Hòa Lan không hề xem Zwarte Piet như một biểu tượng của kỳ thị chủng tộc.
Nhận thức chung trên đây của người dân Hòa Lan về nhân vật Zwarte Piet, dù vậy, cũng không tránh khỏi những cuộc biểu tình phản đối của những người cho rằng cách hóa trang cho nhân vật này có tính kỳ thị chủng tộc. Năm nay, những cuộc biểu tình phản đối đã diễn ra tại 18 thành phố của Hòa Lan. Đã có khoảng 40 người bị bắt giữ, phần lớn là những người ủng hộ nhân vật Zwarte Piet. Những người này đã ném trứng và chuối vào những người biểu tình. Tại một vài nơi, có người còn đưa tay chào theo kiểu Đức Quốc Xã.
Tại Eindhoven và Rotterdam, những người ủng hộ Zwarte Piet và chống lại những người biểu tình đã hóa trang thành Zwarte Piet, nghĩa là bôi cho khuôn mặt thành đen, tô vẽ cho đôi môi dày ra, đeo bông tai lớn, đội trên đầu những bộ tóc quắn giả và len lỏi khắp nơi để trao cho trẻ con kẹo có kèm theo những truyền đơn ủng hộ đảng cực hữu.
Năm 2011, ông Jerry Afriyie đã cùng với một người bạn tung ra một chiến dịch lấy tên là “Zwarte Piet là chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc”. Ông cho biết : trong các cuộc biểu tình, nhiều người đã ném chuối và trứng vào người họ. Họ cũng bị gọi bằng nhiều tên gọi đầy kỳ thị và miệt thị. Người ta cũng dùng cách chào của Đức Quốc Xã để khiêu khích họ.
Afriyie là một người gốc Ghana, Phi Châu. Ông đã đến Hòa Lan lúc lên 10 tuổi. Ông kể lại rằng có người còn gọi ông là Zwarte Piet (thằng mọi đen!) hoặc dơ bẩn như Zwarte Piet hoặc chỉ đáng làm Zwarte Piet mà thôi!
Trước đây, người đàn ông gốc Phi Châu này nghĩ rằng lễ hội Sinterklaas tại Hòa Lan chỉ đơn thuần là một cuộc vui trong đó trẻ con nhận được nhiều bánh kẹo. Cũng như bao đứa trẻ khác, ông Afriyie hoàn toàn không có bất cứ ý thức nào về chính trị. Nhưng năm lên 12 tuổi, ông mới nhận thấy rằng hóa trang thành Zwarte Piet là tự khoác lên người bộ mặt của một người ngờ nghệch, ngu ngốc, nhơ bẩn xấu xa và đần độn đến độ cần phải có người khác dẫn đường chỉ lối. Ông kể lại rằng có lần trên xe buýt, nhân mùa Giáng Sinh, người ta ném kẹo bánh cho ông kèm với những tiếng kêu khọt khet của loài khỉ.
Ông Afriyie đã cố gắng tạo cơ hội cho sinh viên học sinh và thày giáo được đối thoại với nhau, nhưng mọi người đều nhắm măt làm ngơ. Nói chung, người dân Hòa Lan vẫn tiếp tục ủng hộ nhân vật Zwarte Piet. Họ không muốn thay đổi truyền thống. Trong một tuyên ngôn đầy tranh cãi  được đưa ra hồi năm 2014, Thủ tướng Hòa Lan Mark Rutte đã khẳng định: “Zwarte Piet là một người da đen và tôi không thể thay đổi điều đó, bởi vì tên của ông ta là Zwarte Piet”. Theo thủ tướng Hòa Lan, không có một Piet màu xanh, màu nâu, mà chỉ có một Piet Đen thôi.
Truyền thuyết về Zwarte Piet đã được định hình một cách dứt khoát tại Hòa Lan vào năm 1850, sau khi một nhà giáo tại Amsterdam tên là Jan Schenkman đưa nhân vật này vào trong một truyện tranh vẽ. Cho đến năm đó, Hòa Lan vẫn còn là một đế quốc thực dân đeo đuổi chủ trương buôn bán nô lệ. Phải đợi đến năm 1863, Hòa Lan mới chính thức bãi bỏ việc mua bán vô nhân đạo này.
Sử gia Lise Koning tin rằng đã có liên hệ mật thiết giữa Zwarte Piet và các màn ca vũ hóa trang thành người da đen tại Hoa Kỳ trong thập niên 1800 và sau đó được du nhập vào Âu Châu.
Một số khác thì cho rằng Zwarte Piet đã xuất hiện trong những câu chuyện về Thánh Nicolas được truyền tụng tại Âu Châu trong thời Trung Cổ. Những câu chuyện này thường nhắc đến một người bạn đồng hành da đen của thánh Nicolas. Nhưng dù cho nguồn gốc của Zwarte Piet có thế nào đi nữa, một sự kiện không thể chối cãi được là nhiều người, nhất là vào giữa lúc trào lưu kỳ thị chủng tộc và chống di dân đang dâng cao tại Âu Châu, đã lợi dụng nhân vật này để quảng bá cho chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc. Nếu chỉ vì chui qua ông khói lò sưởi cho nên mặt mũi và người ngợm trở thành đen đủi là chuyện có thể hiểu và chấp nhận được. Đàng này, hình tượng Zwarte Piet mà người ta thường thấy trong suốt 3 tuần lễ hội tại Hòa Lan lại là một người Phi Châu, tóc đã quắn mà môi cũng dày ra.
Vì hình tượng Zwarte Piet, như được tô vẽ trong suốt 3 tuần lễ hội tại Hòa Lan gây ra nhiều tranh cãi cho nên nhiều người đề nghị loại bỏ hình tượng này. Artwell Cain, giám đốc của Viện nghiên cứu về chế độ nô lệ và di sản của chế độ này tại Hòa Lan, cho rằng hình tượng Zwarte Piet là một nhục mạ đối với cộng đồng người Phi Châu tạu Hòa Lan. Đây là một điều không còn thích hợp trong thời đại này.
Vấn đề lại càng nghiêm trọng hơn bởi vì hiện nay Đảng cực hữu có tên là “Đảng Tự Do” do một chính trị gia đầy tranh cãi là ông Geert Wilders lãnh đạo ngày càng lớn mạnh. Đảng này hiện đang là đảng lớn thứ ba trong Quốc hội Hòa Lan.
Theo ông Cain, vào giữa lúc Chính phủ Hòa Lan đang tạo áp lực lên các sắc dân thiểu số để hội nhập vào xã hội, một hình tượng như Zwarte Piet hoàn toàn không còn thích hợp nữa.
Với cố gắng dung hòa và tránh đây tranh cãi, nhiều người đã đề nghị tô vẽ Zwarte Piet với một dung mạo khác. Chẳng hạn năm 2006, Sáng hội “The Dutch Programme Foundation” đã kêu gọi dân chúng Hòa Lan thay vì hóa trang Zwarte Piet thành một người Phi Châu, chỉ nên vẽ lên mặt mình những chiếc cầu vồng đủ màu. Nhưng đề nghị này đã không được hưởng ứng nhiều. Chỉ một năm sau, đâu lại vào đó, người dân Hòa Lan vẫn thích hóa trang thành một người Phi Châu chính hiệu. Họ bảo: không thể thay đổi truyền thống!


(nguồn:
-https://en.wikipedia.org/wiki/Zwarte_Piet
-https://www.aljazeera.com/indepth/features/zwarte-piet-black-pete-dutch-racism-full-display.
-https://www.dw.com/en/racism-controversy-dampens-hollands-sinterklaas-tradition)










Thứ Năm, 6 tháng 12, 2018

Một thế giới ít nguy hiểm hơn



Chu Thập
30/11/18
Báo “Người Việt”, một trong những tờ báo Việt ngữ có nhiều độc giả và uy tín nhứt ở Mỹ sẽ kỷ niệm đúng 40 năm thành lập vào ngày 15 tháng Mười Hai tới đây. Tôi chú ý đến biến cố này bởi vì đây là một trong những tờ báo tiếng Việt tôi đọc nhiều nhứt. Đọc không chỉ để theo dõi thế sự mà còn để trau dồi tiếng Việt, để nuôi dưỡng tình tự quê hương và lòng yêu nước. Cụ Phạm Quỳnh đã chẳng nói: “Truyện Kiều còn tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn” đó sao? Tôi hiểu chữ “còn” ấy theo một ý nghĩa thiêng liêng cao quý nhứt. “Còn” là còn trước tiên trong máu thịt, trong trái tim của tôi.
Hình như người nước nào cũng tự hào về sự “cao quý” của đất nước  mình. Không thiếu những tác giả Việt Nam đã viết về “người Việt cao quý”. Một trong những nét “cao quý” ấy có lẽ được thể hiện qua “Tiếng Việt mến yêu” như báo Người Việt lúc nào cũng có một trang riêng để đề cao. Trong lỗ tai của tôi, tiếng Việt lúc nào cũng dễ “mến yêu” và cũng “dễ thương”. Ở những nơi ít có người Việt, không gì bồi hồi xúc động cho bằng tình cờ nghe được tiếng Việt. Nhưng cảm động nhứt vẫn là nghe một câu tiếng Việt ngọng nghệu từ môi miệng của một người ngoại quốc.
Cách đây mấy hôm gia đình tôi có tổ chức một cuộc dã ngoại ngắn ở The Entrance, một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng của vùng Central Coast, cách Sydney khoảng 100 cây số về hướng Bắc. Trong lúc đi bách bộ trong thành phố, tôi tình cờ nghe được một câu tiếng Việt rất chỉnh “người Việt Nam hả?” phát ra từ phía sau. Quay lại, tôi vừa ngỡ ngàng vừa sung sướng khi nhận ra người hỏi câu ấy là một ông Tây rặc. Hỏi ra mới biết ông Tây này không phải là dân Miệt Dưới, mà là một ông Tây Ban Nha. Ông cho biết: vợ ông là một người Việt Nam. Hai người đã gặp nhau khi học đại học chung với nhau. Họ đã lấy nhau được 13 năm và hiện đang làm chủ 2 tiệm Nail, một ở The Entrance và một ở miền Tây Sydney. Qua cuộc trao đổi ngắn, tôi tin chắc đây là một người đàn ông có cuộc sống gia đình rất hạnh phúc. Nhưng riêng qua một vài câu tiếng Việt của ông, tự nhiên tôi thấy ông là một người “dễ thương”.
Tôi cũng nghĩ như thế về đứa con gái 12 tuổi con của người cháu gái của tôi bên Mỹ. Cháu gái tôi kể lại rằng không biết có phải do tình tự dân tộc chợt đến bất ngờ không mà một hôm, chờ mẹ vừa đi làm về, cô bé đã chạy đến ôm chầm lấy mẹ rồi nói: “Mẹ, tôi yêu bạn”. Cháu gái tôi bảo là đã không nhịn cười được trước câu “tỏ tình” bằng tiếng Việt do ông Google mách bảo này.
Tiếng Việt mến yêu và dễ thương thật, nhưng cũng rắc rối vô cùng. Người Tây phương vốn lịch sự, ít khi cười cợt khi nghe người ngoại quốc phát âm sai hoặc nói không đúng cú pháp. Còn “An nam ta” như cụ Nuyễn Văn Vĩnh đã ghi nhận, “có một thói lạ là thế nào cũng cười. Người ta khen cũng cười, người ta chê cũng cười. Hay cũng hì, mà dở cũng hì, quấy cũng hì. Nhăn răng hì một tiếng, mọi việc hết nghiêm trang”. Kể từ khi cố gắng hội nhập vào văn hóa Tây phương, tôi  bớt “hì”, bớt “cười” một cách vô duyên trước những câu tiếng Việt ngọng nghệu của người ngoại quốc. Trái lại, cứ hễ nghe người ngoại quốc nói tiếng Việt là tôi thấy có sự đồng cảm giữa tôi và người đó. Sự đồng cảm thường ít được diễn tả bằng lời nói cho bằng cử chỉ và hành động. Có thể đây là một trong những  nét “cao quý” của người Việt Nam chăng ? Để bày tỏ tình yêu, dường như người Việt Nam nói bằng hành động hơn là lời nói.
Giáo sư Nguyễn Thanh Việt, tác giả của quyển tiểu thuyết “The Sympathizer” (cảm tình viên) được trao giải thưởng Pulitzer hồi năm 2016, đã cố gắng giải thích về tình yêu ấy trong một bài viết được đăng trên tạp chí Time số ra ngày 26 tháng Mười Một và 2 tháng Mười Hai này.
Với tựa đề “American Like Me. What it means to love my country, no matter it feels about me” (Là người Mỹ như tôi. Tôi muốn nói lên tình yêu của tôi đối với đất nước, dù cho đất nước ấy có nghĩ như thế nào về tôi đi nữa), bài viết của Giáo sư Việt xoáy vào một chủ đề gây nhiều tranh cãi hiện nay là lòng ái quốc. Phân tách cụm từ quen thuộc của những người Mỹ chống di dân “Love it or leave” (hãy yêu nước Mỹ hay là hãy rời khỏi nước Mỹ), Giáo sư Việt chia sẻ rằng suốt thời niên thiếu ông chưa bao giờ nói “yêu thương” ai (I love you) bởi vì cha mẹ ông chưa bao giờ nói hai chữ “yêu thương” với ông. Nhưng điều đó không hề có nghĩa là cha mẹ ông không thương ông. Hai ông bà đã thương con đến độ làm việc cật lực khi đến Mỹ. Hai ông bà làm việc nhiều đến nỗi không còn giờ dành cho con. Còn nếu có gặp nhau thì hai ông bà mệt mỏi đến độ không còn tỏ ra vui nổi nữa. Nhưng dù có tất bật đến đâu vì công ăn việc làm, lúc nào ông bà cũng lo cho cái đầy đủ cái ăn, cái mặc. Theo ông, tình yêu mà cha mẹ ông dành cho ông được diễn tả bằng hy sinh hơn là bằng 2 tiếng “tình yêu” ngoài môi mép.
Tác giả của quyển tiểu thuyết “The Sympathizer” chia sẻ: “Một tiếng nói hay một giọng nói cũng đủ để tôi cảm nhận được tình yêu sâu xa ấy, như tôi đã tình cờ nghe được tại một tiệm thuốc tây trong khu phố tôi ở tại Thành phố Los Angeles. Người đàn ông đứng bên cạnh tôi là một người Á Đông, không đẹp trai, lại ăn mặc xuềnh xoàng. Trên điện thoại di động, ông nói giọng miền Nam: “Con ơi, Ba đây. Con ăn cơm chưa?” Trông ông mộc mạc, có lẽ là dân cu li. Nhưng khi ông nói chuyện với con bằng tiếng Việt, giọng của ông nghe rất trìu mến. Điều ông nói, không thể dịch ra (tiếng Anh), mà chỉ có thể “cảm được” mà thôi”.
Theo nhận xét của Giáo sư Việt, lời người đàn ông trên đây nói với con cũng là cách người Việt Nam đón chào khách đến nhà mình. Họ thường hỏi khách “ăn cơm chưa?”  Giáo sư Việt giải thích cho người Mỹ: “Đây là cách mà cha mẹ (Việt Nam), tuy là những người không bao giờ nói “cha mẹ yêu con” (I love you) với con cái, nói với con cái họ rằng họ yêu thương chúng”. Được nuôi dạy và lớn lên theo những lề thói, cảm xúc và mối giây thân tình ấy cho nên giáo sư Việt nói rằng ông gần như muốn khóc khi nghe người đàn ông trên đây nói chuyện với con.
Từ việc bày tỏ tình thương của người Việt Nam, giáo sư Việt nói đến “tình yêu” của ông đối với đất nước Mỹ, quê hương thứ hai của ông. Với nhiều người Mỹ, yêu tổ quốc là yêu lá cờ, là yêu bài quốc ca. Rất nhiều người, từ địa vị cao nhứt trong chính quyền cho đến người “dân đen”, xem những biểu tượng ấy như cốt lõi của lòng ái quốc để buộc mọi người Mỹ phải “yêu” nước Mỹ hay là hãy “rời bỏ” nước Mỹ.
Giáo sư Việt cho rằng sự kiện ông không mặn mà với lá cờ hay bài quốc ca không làm cho ông “bớt” là Mỹ hơn những người “yêu” những biểu tượng ấy. Với ông, điều quan trọng không phải là những biểu tượng ấy mà là những nguyên tắc và giá trị đằng sau những biểu tượng ấy. Những nguyên tắc và  giá trị ấy “là dân chủ, bình đẳng, công lý, hy vọng, hòa bình và nhứt là tự do”.
Tình yêu đối với nước Mỹ như được Giáo sư Việt bày tỏ trên đây đương nhiên làm tôi nhớ lại bài diễn văn mà Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã đọc trước mặt rất nhiều nguyên thủ quốc gia, trong đó có Tổng thống Mỹ Donald Trump và Tổng thống Nga Vladimir Putin vào ngày Mười Một tháng Mười Một 2018 vừa qua, nhân dịp tưởng niệm đúng 100 năm ngày chấm dứt Đệ nhứt Thế Chiến.Trong bài diễn văn, Tổng thống Pháp khẳng định rằng “dân tộc chủ nghĩa là một sự phản bội đối với lòng yêu nước”. Những người theo dân tộc chủ nghĩa chỉ biết đến quyền lợi của đất nước mình bất kể điều gì có thể xảy ra cho người khác. Yêu nước như thế, theo Tổng thống Pháp, là “xóa bỏ điều quý giá nhứt mà một quốc gia  có thể có. Đó là điều làm cho quốc gia sống còn, làm cho nó vĩ đại. Đó là điều quan trọng nhứt. Điều đó chính là những giá trị đạo đức”.
Tôi tin rằng một đất nước chỉ thực sự vĩ đại khi nó được xây dựng trên những giá trị đạo đức và nhân bản. Tôi buồn cho nước Mỹ khi nguyên thủ quốc gia của đất nước vĩ đại này đã đặt quyền lợi của nước Mỹ, mà cụ thể là “dầu lửa”, “công ăn việc làm” và “tiền bán vũ khí” lên trên những giá trị đạo đức và nhân bản khi không những nhắm mắt làm ngơ mà còn biện minh cho hành động tội ác của một nhà độc tài.
Buồn cho nước Mỹ tôi lại càng lo thêm cho thế giới. Mở đầu lời tuyên bố về mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Vương quốc Á rập Saudi và vụ sát hại ký giả Jamal Khashoggi mà Cơ quan Tình báo Mỹ xác nhận đã được thực hiện dưới sự chỉ đạo của Thái tử kế vị của Á rập Saudi, Mohammad bin Salman, Tổng thống Donald Trump viết: “Thế giới đang là một nơi rất nguy hiểm” (The world is a very dangerous place). Và ông chỉ tay về Công hòa Hồi giáo Iran, là quốc gia mà ông cho là đang gây ra mọi xáo trộn tại Trung Đông và là “nước bảo trợ hàng đầu cho khủng bố trên thế giới” (the world’s leading sponsor of terror). Dĩ nhiên, có chế độ độc tài nào mà không làm cho thế giới trở thành một nơi nguy hiểm. Nhưng nhìn sâu vào bản chất của bất cứ một chế độ độc tài nào, ai mà chẳng thấy rằng “vô đạo” là nền móng của chế độ ấy. “Thế giới  đang là một nơi rất nguy hiểm” là bởi vì vẫn tồn tại nhiều chế độ độc tài, vẫn có những nhà lãnh đạo lăm le đi theo con đường chuyên chế và nhứt là có những nước “vĩ đại”, chỉ vì quyền lợi của mình, không những nhắm mắt làm ngơ, mà còn biện minh cho những hành động độc ác của các chế độ độc tài. Bao lâu những giá trị đạo đức và nhân bản bị đặt dưới những quyền lợi vật chất và những bản năng thấp hèn nhứt của con người thì đó là lúc thế giới trở thành “một nơi rất nguy hiểm”. Lịch sử của 2 cuộc thế chiến đã chứng minh điều đó.
Mới đây cơ quan truyền thông Mỹ “Public Broadcasting Service” (PBS) đã tổ chức một cuộc thăm dò để biết tác phẩm văn chương bằng Anh ngữ nào được người Mỹ ưa chuộng nhứt. Kết quả của cuộc thăm dò với 7.200 độc giả cho thấy đứng đầu danh sách 10 tác phẩm được người Mỹ ưa thích nhứt là quyển tiểu thuyết có tựa đề “To Kill a Mockingbird” (Giết Một Con Chim Nhại Tiếng) của Nữ sĩ Nelle Harper Lee (1926-2016). Nhân vật chính của quyền tiểu thuyết xuất bản hồi năm 1960 này là ông Atticus Finch. Là một luật sư, ông Finch đã đánh đổi sự nghiệp và danh tiếng của mình để biện hộ cho một người da đen bị tòa kết án một cách oan ức về một tội mà anh không hề phạm. Luật sư Finch đã trở thành một hình ảnh tiêu biểu về đạo đức, bởi vì ông đã sẵn sàng hy sinh tất cả để bảo vệ công lý và lẽ phải. Một nhân vật khác, tuy phụ, nhưng cũng trở thành biểu tượng của đạo đức là ông “Boo” Radley, người láng giềng của gia đình ông Finch, một người luôn làm những điều tốt đẹp cho người khác.
Quyển tiểu thuyết này hiện đang  được người Mỹ ưa chuộng nhứt là phải, bởi vì hơn bao giờ hết, họ ý thức được rằng những giá trị đạo đức mới thực sự là điều làm cho quốc gia của họ “vĩ đại”.
Tôi chưa một lần hãnh diện về sự “vĩ đại” của đất nước tôi.  Trong tiếng Việt, từ “vĩ đại” cũng không thường được nhắc nhở. Nhưng ít ra với tôi lúc nào tiếng Việt cũng là “Tiếng Việt mến yêu” bởi vì với những câu đầu đời học trò như “Tiên học lễ hậu học văn” và “thương người như thể thương thân”, Tiếng Việt dạy tôi điều quan trọng nhứt trong cuộc đời là học sống cho ra người “có đạo” và tử tế.








Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2018

Những bộ lạc bán khai: cần khai hóa hay bảo vệ?



30/11/18
Mới đây, một nhà truyền giáo người Mỹ tên là John Allen Chau, đã bị một bộ lạc bán khai trong vùng Vịnh Bengal giết chết khi ông tìm cách xâm nhập vào lãnh thổ của họ để cải đạo họ. Cái chết đáng thương của nhà truyền giáo này nêu lên vấn đề: liệu có nên khai hóa các bộ lạc còn bán khai hay tìm cách bảo vệ họ?
Bước vào Thế kỷ 21, tiến trình toàn cầu hóa đã làm cho các dân tộc và văn hóa khác nhau xích lại gần nhau hơn. Tuy nhiên vẫn còn có nhiều nơi và nhiều bộ lạc chưa được thế giới bên ngoài biết đến.
Sentinelese là một trong những bộ lạc đó. Sống cô lập trên một hòn đảo mất hút trong Ấn Độ Dương, bộ lạc này không muốn tiếp xúc với ánh sáng văn minh của thế giới bên ngoài. Có lẽ đây là lý do khiến họ đã giết nhà truyền giáo John Allen Chau. Theo chính quyền địa phương tại Ấn Độ, vì mọi tiếp xúc với bộ lạc này đều bị nhà cầm quyền Ấn Độ ngăn cấm, cho nên những người đã giết nhà truyền giáo Mỹ sẽ không bị truy tố trước pháp luật. Tuy nhiên, 7 người đánh cá đã bị bắt giữ vì đưa nhà truyền giáo vào vùng đất cấm này.
Bộ lạc Sintinelese sống trong một tình trạng cô lập gần như tuyệt đối khiến thế giới bên ngoài biết rất ít về họ. Hòn đảo nhỏ mà bộ lạc này chiếm cứ chỉ rộng khoảng 60 cây số vuông và cách lục địa Ấn Độ chừng 1200 cây số. Hòn đảo này thuộc về Ấn Độ kể từ năm 1947, sau khi quốc gia này giành được độc lập khỏi sự đô hộ của Anh Quốc. Theo ước tính, dân số hiện nay của bộ lạc Sentinelese chỉ có khoảng từ 50 đến 150 người. Họ vẫn tiếp tục sống bằng săn bắn và hái nhặt. Họ cũng có một ngôn ngữ riêng, hoàn toàn không thể hiểu được đối với thế giới bên ngoài.
Các chuyên gia cho rằng người Sentinelese đã từ Phi Châu di cư đến hòn đảo này cách đây khoảng 50.000 năm, nhưng cho tới nay cuộc sống của họ hoàn toàn bí ẩn đối với bên ngoài. Những không ảnh chụp được từ máy bay và vệ tinh không cho thấy có bất cứ dấu hiệu nào về nông nghiệp. Người Sentinelese cũng biết sử dụng kim khí, nhưng đó là thứ kim khí họ nhặt được từ những chiếc tàu bị đắm và trôi dạt vào bờ biển của họ.
Như cái chết đáng thương của nhà truyền giáo Mỹ chứng minh, người Sentinelese không thích người của thế giới bên ngoài xâm nhập vào lãnh thổ của họ. Năm 1996, Chính phủ Ấn Độ đã tìm cách tiếp xúc với họ, nhưng mọi cố gắng đều thất bại. Kể từ đó, mỗi khi thấy có ghe thuyền lạ tấp vào bờ, họ đều dùng cung tên bắn ra.
Năm 2006, có 2 ngư phủ đã đánh cá một cách bất hợp pháp xung quanh đảo của bộ lạc Sentinelese. Hai người này đã bị họ giết chết. Vì tôn trọng ý muốn của người Sentinelese là không muốn tiếp xúc với thế giới bên ngoài cho nên Chính phủ Ấn Độ đã ban hành luật theo đó bất cứ thuyền bè nào đến gần hòn đảo của họ khoảng 5 cây số đều bị xem là một hành động bất hợp pháp.
Sentinelese không phải là bộ lạc duy nhất trên trái đất không muốn tiếp xúc với ánh sáng văn minh của thế giới ngày nay. Hiện vẫn còn có cả trăm bộ lạc như thế rải rác trên khắp năm châu.
Vào năm 2016, đang khi bay lượn trên khu rừng già Amazon của Ba Tây, Châu Mỹ La Tinh, một chiếc máy bay thám thính đã chụp được một số tấm ảnh về bộ lạc Moxinhatetema. Bộ lạc này vẫn cương quyết chiến đấu để chống lại bất cứ một sự xâm nhập nào từ thế giới bên ngoài. Bên cạnh họ, cũng còn có nhiều bộ lạc khác muốn tiếp tục một cuộc sống cô lập như thế. Theo ước tính, trong khắp khu rừng già Amazon có khoảng từ 200 đến 250 ngôi làng với dân số tổng cộng lên đến 35.000 người.
Mặc dù bị bao vây bởi những nhóm khai thác mỏ bất hợp pháp, những bộ lạc này vẫn tiếp tục duy trì nếp sống truyền thống của họ. Họ tẩy chay mọi thứ tiện nghi mà thế giới kỹ nghệ hóa có thể mang lại cho họ.
Theo bà Fiona Watson, cựu giám đốc của Tổ chức Quốc tế  có tên là “Survival International” chuyên mở chiến dịch tranh đấu để bảo vệ quyền của các bộ lạc bán khai, hiện trên toàn thế giới vẫn còn khoảng 100 bộ lạc chưa hề tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Phần lớn đều sống trong khu rừng già Amazon. Ngoài ra, tại một số nơi khác tại Nam Mỹ cũng như ở Á Châu, cũng có một số bộ lạc như thế. Bà Watson nói rằng bao lâu vùng đất của họ được bảo vệ thì các bộ lạc này vẫn có thể tiếp tục sống còn. Nhưng hiện nay các hoạt động khai thác mỏ và đốn gỗ lậu là một trong những mối đe dọa lớn đối với các bộ lạc này.
Dạo tháng Tám vừa qua, Cơ quan FUNAI ( Fundacão National do Indio : Sáng hội bảo vệ người thổ dân) của Chính phủ Ba Tây chuyên bảo vệ quyền lợi và văn hóa của người thổ dân, đã chia sẻ một số không ảnh chụp được từ những chiếc máy bay không người lái. Những không ảnh này vén mở được phần nào cuộc sống cô lập của một bộ lạc đang sống trong thung lũng Javari, nằm sát biên giới Ba Tây và Peru. Những bức ảnh cho thấy một túp lều, những chiếc thuyền nhỏ và một số dụng cụ của các bộ lạc thổ dân. Nằm dọc theo sông Javari, thung lũng Javari là nơi cụ ngụ của 8 bộ lạc được biết đã có tiếp xúc với thế giới bên ngoài và 11 bộ lạc khác hiện vẫn còn trong tình trạng hoàn toàn bị hay tự cô lập.
FUNAI  là một cơ quan được Chính phủ Ba Tây cho thành lập vào năm 1910. Từ đó đến nay, mỗi khi có dịp tiếp xúc với các bộ lạc thổ dân, những người làm việc cho cơ quan này luôn hành động theo tôn chỉ: “Nếu cần thì chết chứ đừng bao giờ sát hại”.
Lý do khiến một số bộ lạc tỏ ra bài ngoại và bạo động là vì họ đã từng bị bóc lột và hành hung.
Cũng có một số bộ lạc tự ý tìm đến với thế giới bên ngoài. Đó là trường hợp của bộ lạc Xinane, hiện đang sống trong thung lũng Javari, trong phần đất thuộc về Peru. Những thước phim do cơ quan FUNAI thu được cho thấy những người đàn ông thuộc bộ lạc này đã tìm đến những làng lân cận để xin chuối. Trong những thước phim này, người ta nghe được một người thanh niên ngỏ ý đi tìm phụ nữ và một thanh niên khác cầm một khẩu súng trên tay. Có thể đây là khí giới mà họ đã tịch thu được từ một nhóm người đã xâm nhập vào lãnh thổ của họ.
Nhìn chung, hầu như bộ lạc nào cũng muốn bảo vệ lối sống và truyền thống riêng của họ. Năm 1987, có một giám mục công giáo và một nữ tu muốn đi truyền đạo cho bộ lạc Waorani tại Ecuador. Theo tường thuật của báo The Washington Post, cả hai nhà truyền giáo này đã bị người Waorani bắt giữ và mang đi sát tế theo một nghi thức rất dã man.
Sau vụ này, nhiều người trong bộ lạc đã bị cưỡng bách phải rời khỏi nơi cư ngụ của họ để nhượng đất cho việc khai thác dầu.
Theo Tổ chức “Survival International”, tại Paraguay, Ayoreo là một bộ lạc tương đối có đông dân số. Bộ lạc này đã được tiếp xúc và đồng hóa với xã hội bên ngoài. Tuy nhiên, vẫn còn một số trong họ cương quyết không chịu rời bỏ lãnh thổ của họ. Vào thập niên 1970, một tổ chức truyền giáo cực đoan của Mỹ đã xâm nhập vào cứ địa này. Cuộc gặp gỡ giữa những nhà truyền giáo cực đoan và người Ayoreo đã khiến cho nhiều người chết và sau đó một số người Ayoreo chết vì dịch bệnh do người Tây Phương mang đến.
Cho đến nay, người ta biết rất ít về những bộ lạc cô lập trong vùng Javari và người ta cũng bỏ cuộc trong những cố gắng tiếp xúc và tìm hiểu họ. Những chiếc máy bay thám thính cho thấy các bộ lạc này sống bằng săn bắn và trồng trọt. Họ cũng biết dùng những dụng cụ được làm bằng kim khí.
Số phận của bộ lạc Matis, một trong những bộ lạc sống trong thung lũng Javari, đã khiến chính phủ Ba Tây thay đổi chính sách về việc cưỡng bách họ phải tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Chỉ trong vài tuần lễ sau khi các viên chức chính phủ viếng thăm họ lần đầu tiên, dịch bệnh đã sát hại toàn bộ 3 ngôi làng. Đứng trước một tai họa như thế, Chính phủ Ba Tây đã ra lệnh chấm dứt mọi cố gắng tiếp tục với họ.
Ngoài  dịch bệnh từ thế giới bên ngoài, người thổ dân còn bị đe dọa nhiều hơn bởi những hoạt động khai thác hầm mỏ và đốn gỗ.
Ngoài Ấn Độ và Châu Mỹ La Tinh, một nơi khác vẫn còn nhiều bộ lạc bán khai là New Guinea. West Guinea là một vùng được biết hiện có khoảng 312 bộ lạc. Một số bộ lạc đã có tiếp xúc với thế giới bên ngoài cho biết vẫn còn nhiều bộ lạc khác đang sống hoàn toàn cô lập trên các vùng cao nguyên.
Tiếp xúc với những bộ này không phải là dễ dàng. Michael Rockefeller, người con trai của Phó tổng thống Mỹ Nelson Rockefeller, đã mất tích khi quay phim về bộ lạc Asmat tại New Guinea.
Với 25.000 người,  Dani được xem là bộ lạc lớn nhất trong vùng cao nguyên của Papua. Trong khi cố gắng gia tăng tiếp xúc với thế giới bên ngoài, bộ lạc này vẫn muốn duy trì văn hóa và truyền thống của họ. Bộ lạc này sống bằng trồng trọt và chăn nuôi. Bên cạnh đó, họ vẫn tiếp tục giữ một số tập tục như che đầu dương vật, ướp xác người già bằng khói và chặt ngón tay để tưởng nhớ những người đã bị giết trong chiến tranh.
Rất tự hào về truyền thống của mình, họ xem các dụng cụ bằng kim khí của thế giới bên ngoài thua kém dụng cụ bằng đá của họ, được sử dụng để biểu diễn cũng như mưu cầu cuộc sống.
Về việc liệu có nên khai hóa hay bảo vệ các bộ lạc, hiện đang có 2 ý kiến khác nhau. Có người cho rằng về lâu về dài các bộ lạc không thể tồn tại trong tình trạng cô lập. Những người có chủ trương này cho rằng giúp các bộ lạc hội nhập vào xã hội văn minh của thế giới ngày nay là một hành động nhân đạo và đạo đức: chỉ nhờ tiếp xúc với thế giới bên ngoài, các bộ lạc này mới có thể tồn tại và sinh sôi nẩy nở cũng như chống chọi với nạn khai thác mỏ và đốn gỗ bất hợp pháp.
Tuy nhiên, đối lại với chủ trương này, một số người khác cho rằng không nên lập lại những sai lầm trong quá khứ khi các nhà truyền giáo và các nhân viên chính phủ được khuyến khích gặp gỡ các bộ lạc một cách ôn hòa. Họ đã mang đến cho người thổ dân kim khí, thuốc than, gương soi mặt và Kinh Thánh, nhưng đồng thời cũng mang theo vô số vi khuẩn là nguyên nhân giết hại chính những người mà họ muốn “cứu thoát”.
Đây chính là lý do tại sao cùng với Ấn Độ và Nam Dương, Chính phủ Ba Tây đã đề ra chính sách bảo vệ đất đai của những bộ lạc bán khai và cho phép họ được tiếp tục sống trong tình trạng cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài.

(nguồn:
https://www.news.com.au/technology/environment/conservation/the-mysterious-tribes-clinging-to-their-ancient-ways/news-story.
https://edition.cnn.com/2018/11/22/asia/most-isolated-tribes-missionary-scli-intl/index.html)


Thứ Tư, 28 tháng 11, 2018

Cô đơn và sự Vĩ đại




Chu Thập
23/11/18
Ở Úc, bước vào tháng Mười Một, khí trời ấm áp trở lại. Với riêng tôi, mùa câu đã trở về. Làm gì thì làm, bận cỡ nào, thời tiết thay đổi cỡ nào, tiện hay không tiện, tuần nào tôi cũng phải xách cần đi thử thời vận 2, 3 lần.
Câu là một thứ ghiền mà tôi dứt khoát không chịu bỏ. Nếu tính từ lúc có trí khôn đến nay thì “ sự nghiệp” câu cá của tôi đã kéo dài không dưới 65 năm. Nhiều bạn bè của tôi, vì nhiều lý do, đã gác cần. Riêng tôi vẫn kiên trì...có lẽ cho đến chết thôi!
Tôi thích câu cá vì một lý do rất đơn giản: tôi thích ăn cá hơn ăn thịt! Có người bảo: ăn nhiều cá thông minh ra! Điều này chẳng có giá trị cho tôi và cho biết bao nhiêu dân “danh ca” suốt đời lam lũ, sống bằng cá, mà vẫn cứ ngu và nghèo!
Mê câu cá vì thích ăn cá đã đành, nhưng càng thêm tuổi, càng tập triết lý vụn vặt, tôi càng nghiệm ra rằng trong các thú tiêu khiển, câu cá là “bộ môn thể thao” giúp tôi thư giãn nhiều nhứt. Dân câu cá là những người dễ bắt chuyện và làm quen nhứt. Ở bãi câu dường như ai cũng dễ thấy mình có tài hùng biện. Hễ gặp nhau, hỏi chuyện là tuôn ra đủ mọi kinh nghiệm và ngay cả cách nhìn đời. Ngoài ra, những lúc hồi hộp kéo cá là những giây phút tôi cảm thấy vui nhứt khi ra bãi câu. Nhưng dĩ nhiên vui nhứt là kéo được cá. Gặp một con cá lớn, như ngư ông giữa biển cả, cuộc chiến đấu càng kéo dài, niềm vui càng lớn. Hôm nào cầm một giỏ cá đầy đem về khoe với người thân và chia sớt cho bạn bè, còn gì vui hơn. Nhưng không phải lúc nào tôi cũng được thời vận đãi ngộ. Như trong cả tháng vừa rồi chẳng hạn, không rõ cá còn đang kéo dài giấc ngủ mùa đông hay kéo nhau đi nghỉ hè ở đâu hết mà hầu như ngày nào tôi cũng vác cần về nhà với cái giỏ trống không và bộ mặt méo xẹo. Những lúc eo xèo như thế, tôi chỉ còn biết tự an ủi: thôi thì ngắm trời ngắm đất cho đỡ buồn vậy!  Và đây cũng chính là lúc cái khả năng triết lý vụn bừng dậy để mách bảo tôi một điều đáng sợ nhứt trong thân phận con người: đó là nỗi cơ đơn! Thành ra đi câu là để thư giãn, để tìm niềm vui mà cũng để thấy mình cô đơn.
Thật ra tôi đâu phải là người duy nhứt cảm thấy cô đơn trên mặt đất hay trên đất Úc này. Mới đây tôi đọc được trên trang mạng của Đài ABC rằng một cuộc phân tách về những dữ kiện liên quan đến Nhà ở, Thu nhập và Việc làm tại Úc Đại Lợi từ năm 2001 đến năm 2017 cho thấy cứ 6 người Úc thì có trên một người cảm thấy cô đơn trong một năm hay trong một giai đoạn nào đó. Cũng có trên 1.5 triệu người Úc cảm thấy tình trạng cô đơn kéo dài trong cả một thập niên hoặc hơn.
Theo cuộc phân tách, phụ nữ dễ cảm thấy cô đơn hơn đàn ông. Riêng đàn ông ở độ tuổi từ 45 đến 64 là những người cảm thấy cô đơn hơn cả. Phần lớn là những người thất nghiệp, phải sống bằng trợ cấp xã hội và những người cha đơn chiếc. Cuộc phân tách cũng cho biết: tuổi tác là một yếu tố quan trọng. Càng lớn tuổi con người càng cảm thấy cô đơn.
Điều đáng sợ cho Úc Đại Lợi là các cuộc nghiên cứu cảnh cáo rằng cô đơn có thể là sẽ là một vấn đề sức khỏe trầm trọng đối với xã hội. Theo cuộc phân tách, cô đơn cũng có thể là một tên sát nhân thầm lặng không kém gì những yếu tố gây nguy hiểm khác như thiếu vận động thể lý, béo phì, ma túy, bia rượu, bệnh tâm thần, thương tích và bạo động.
Trong bản phúc trình có tựa đề “Dịch bệnh cô đơn từ năm 2001 đến năm 2017” (An Epidemic of Loneliness 2001-2017), bà Alison Brooks, Giám đốc điều hành Cơ quan “Relationships Australia” chuyên nghiên cứu về những ích lợi của việc xây dựng các mối quan hệ xã hội, nói rằng phần lớn người dân Úc chưa ý thức được những mối nguy hại của sự cô đơn.
Úc Đại Lợi đã lên tiếng báo động về dịch bệnh cô đơn. Còn ở những nơi khác thì sao? Ở đâu mà con người chẳng cảm thấy cô đơn. Ở địa vị xã hội nào mà con người không cảm thấy cô đơn. Ngay cả những người đã sống hạnh phúc cho đến đầu bạc răng long trong bậc vợ chồng cũng đâu có tránh khỏi cô đơn.
Từ Úc Đại Lợi, hãy thử nhìn sang Hoa Kỳ. Theo báo mạng Psychologytoday, cách đây một năm, tại Thành phố Oakland, Tiểu bang California, một nhóm khoảng 20 người đàn ông, tất cả đều là những người cha trong gia đình tuổi từ 30 đến 40, đã gặp nhau tại một nhà riêng của một người trong nhóm để thảo luận về sứ mệnh làm cha. Điều đáng báo động là khi được hỏi có bao nhiêu người trong nhóm có những “người bạn thật sự” nghĩa là những người họ có thể  tâm sự và chân thành chia sẻ cuộc sống trong lúc hạnh phúc cũng như khi gặp hoạn nạn, chỉ có đúng 2 người trong số 20 người giơ tay nói có!
Thật ra, nỗi cô đơn không miễn trừ một giới tính nào cả. Đàn ông cũng như đàn bà, ở đâu cũng thế, đều có thể mắc dịch bệnh cô đơn. Theo một cuộc nghiên cứu, có một tỷ lệ rất lớn người Mỹ cho biết mặc dù có rất nhiều “nối kết” trên các trang mạng xã hội, nhưng lại có rất ít những quan hệ thực sự thân thiết và cô đơn vẫn là lý do chính khiến người Mỹ đi gặp các chuyên gia tâm lý để được cố vấn. Tôi nghĩ đến người đàn ông Mỹ giàu có và cũng có nhiều quyền lực nhứt nước và nhứt thế giới hiện nay là Tổng thống Donald Trump. Tôi  không biết người  đàn ông Mỹ luôn tự nhận là cái gì mình cũng “nhứt” cả này có cảm thấy cô đơn không. Nhưng cứ nhìn lại chuyến đi Pháp vừa qua của ông để tưởng niệm đúng 100 năm ngày chấm dứt Đệ nhứt Thế chiến, rồi đọc lại những “tuýt” hằn học và, nói như một viên chức bộ ngoại giao Pháp, thiếu cả lịch sự tối thiểu được ông bắn ra sau đó, cộng với việc thay đổi nhân sự diễn ra như chong chóng trong Tòa Bạch Ốc...tôi không cho rằng sự giàu có và quyền lực biến ông thành một người được miễn dịch khỏi nỗi cô đơn. Chính người con trai trưởng của ông là Donald Trump Jr. cũng đã phải nhìn nhận rằng cha ông không còn tin tưởng bất cứ ai trong Tòa Bạch Ốc (x. https://www.google.com.au/search?q=donald+jr+Trumo+%3A+my+father+don%27t+have+any+to+trust). Qua những “tuýt” được Tổng thống Trump gởi đi từ mỗi sáng sớm, vào giữa lúc cả nước Mỹ chưa thức dậy, tính đến hôm nay, ông đã quy tụ  được trên 55 triệu rưỡi  “tín đồ” (followers). Nhưng liệu  con số người “đi theo” đông đảo đó có thể bảo đảm cho ông khỏi rơi vào cô đơn không?
Nghịch lý lớn nhứt của thời đại kỹ thuật số ngày nay là càng “nối kết” trên mạng, con người lại càng cô đơn. Nhưng các trang mạng xã hội và các phương tiện truyền thông ngày càng tối tân có phải là nguyên nhân tạo ra sự cô đơn của con người thời đại không? Thật ra phải nhìn nhận rằng các phương tiện truyền thông hiện đại và các trang mạng xã hội như Facebook chẳng hạn,  giúp cho con người cảm thấy được nối kết với người khác và với cộng đồng của mình nhiều hơn. Vậy thì điều gì đã khiến cho người Mỹ ngày càng tách biệt và xa cách với người khác?
Theo báo mạng Psychologytoday, vấn đề lớn nhứt nằm trong ý thức hệ cá nhân chủ nghĩa của người Mỹ. Theo một cuộc nghiên cứu do Giáo sư tâm lý Hazel Markus thuộc trường Đại học Stanford thực hiện, người Mỹ thích nghĩ về mình như những con người độc lập, độc nhứt vô nhị và tự trị. Cũng như các nền văn hóa đề cao cá nhân chủ nghĩa, như hầu hết các nền văn hóa Tây Âu và ngay cả trong một số văn hóa của người di dân, người Mỹ lúc nào cũng muốn có một chỗ “nổi bật”. Họ thích “chơi nổi”. Họ thích “làm nổi”.
Nhiều người cho rằng não trạng cá nhân chủ nghĩa của người Mỹ phát xuất từ Đạo Tin Lành. Khác với Công giáo, Đạo Tin Lành khuyến khích con người làm việc để chứng tỏ giá trị của mình. Chịu ảnh hưởng của Tin Lành, một số nhà tư tưởng khẳng định rằng mỗi cá nhân cần phải tự mình nói lên tiếng nói của mình, tìm ra con đường riêng cho mình. Triết gia Mỹ Ralph Waldo Emerson (1803-1882) kêu gọi: “Hãy là chính mình. Không có ai tốt đẹp hơn để mô phỏng cho bằng chính bạn”. “Giấc mơ Mỹ” đã được thai nghén từ niềm xác tín ấy!
Nói chung, với một nền kinh tế phồn thịnh nhứt thế giới, với những phát minh đứng đầu thế giới, người Mỹ luôn tự hào về đất nước, về con người, về sự độc lập và nhứt là về khả năng luôn thành công vượt bực của họ. “Nước Mỹ lúc nào cũng vĩ đại”. Cố Tổng thống Ronald Reagan đã kêu gọi “làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại”. Nay Tổng thống Trump cũng muốn tiếp tục niềm tự hào dân tộc ấy khi ra rả lập lại khẩu hiệu ấy!
Viết trên báo mạng Psychologytoday, một chuyên gia tâm lý Mỹ là Tiến sĩ Emma Seppala cho rằng có thể niềm tự hào về sự vĩ đại ấy là yếu tố góp phần vào việc làm phát sinh cuộc khủng hoảng về cô đơn trong xã hội Mỹ hiện nay. Người ta quên mất rằng nhu cầu lớn nhứt của con người, sau cái ăn, cái mặc, cái nhà...là sự nối kết với người khác. Dẹp qua một bên các mối quan hệ xã hội để chỉ chú tâm vào việc làm và sự thành công, con người dễ dàng bị cô lập hay tự cô lập. Có người xem cuộc sống như một cuộc cạnh tranh không ngừng qua đó ai cũng muốn được hơn người khác. Có người làm việc 12 tiếng đồng hồ mỗi ngày để bằng mọi giá phải thành công. Và để gọi là “xả xú báp”, nhiều người tìm đến với men rượu hay ngay cả ma túy hoặc phim ảnh. Người ta có tất cả, đạt được tất cả để rồi tự chôn vùi trong nỗi cô đơn.
(x.https://www.psychologytoday.com/us/blog/feeling-it/201706/the-loneliness-epidemic-and-what-we-can-do-about-it).
Mỗi lần ngồi câu cá một mình bên bờ hồ, có khi lội dưới nước giữa đêm tối, suy nghĩ miên man về nỗi cô đơn của mình, tôi không thể không liên tưởng đến hình ảnh của lão ông trong quyển tiểu thuyết ngắn có tựa đề “Ngư ông và Biển cả” (The Old Man and the Sea) của Văn hào Mỹ Ernest Hemingway (1899-1961). Nhà văn này đã tự kết liễu cuộc sống bằng một viên đạn bắn vào đầu. Nhân vật chính của câu chuyện là một lão ông người Cuba. Giữa biển khơi, trong 3 ngày đêm ròng rã, ông đã chiến đấu để vật lộn với một con cá kiềm khổng lồ sau khi con cá mắc câu. Sang đến ngày thứ ba, ông dùng lao đâm chết được con cá, buộc nó vào mạn thuyền và lôi vào bờ. Nhưng dọc đường, đánh hơi được, một đàn cá mập đã xông tới tấn công. Với một cố gắng phi thường, ngư ông đã giết được nhiều con cá mập để bảo vệ chiến lợi phẩm của mình. Nhưng cuối cùng, khi về tới bến, ông mới nhận thấy rằng con cá kiềm ông câu được đã bị đàn cá mập rỉa hết thịt, chỉ còn trơ lại một bộ xương.
Chiến đấu đến cùng mà chẳng được gì, hình ảnh đơn độc của ngư ông trên biển cả giúp tôi hiểu được phần nào nỗi cô đơn của Văn hào Hemingway. Người ta chỉ tự tìm đến cái chết khi không còn đủ sức để chịu đựng nỗi cô đơn của mình.
Nhưng cuộc chiến đấu cho tới cùng của ngư ông cũng cho tôi thấy sự vĩ đại đích thực của con người, khi họ dám lội ngược dòng giữa một đám đông bị lôi cuốn theo dòng thác lũ của những bản năng thấp hèn nhứt trong con người. Thật ra, một trong những nghịch lý trong cuộc sống là có khi dám ra khỏi cái vỏ kén “cái tôi” thấp hèn, nhỏ mọn, ích kỷ của mình để sống theo lương tri, lẽ phải, sự thật và sống với tha nhân và cho tha nhân, con người mới có thể chống chọi lại nỗi cô đơn của mình.




Chủ Nhật, 25 tháng 11, 2018

Honduras: tại sao người dân bỏ nước ra đi?



23/11/18
Trong đoàn “lữ hành” (caravan) từ các nước Trung Mỹ tiến về biên giới Hoa Kỳ, có rất nhiều người từ Honduras. Tất cả đều cho biết họ trốn chạy bạo động và đàn áp trong nước.
Obedi Miranda là một trong số những người Honduras này. Vào chính ngày tổng tuyển cử tại Honduras hồi năm 2017, nhiều người đàn ông lạ mặt đã xông vào nhà của Miranda và chồng chị, anh Allan Escobar. Hai vợ chồng đều là những người hoạt động tích cực trong Đảng Đối lập Tự do (Libre).
Miranda vừa đặt chân đến Tijuana, Mễ Tây Cơ hồi tuần trước. Ngồi trên một tấm nệm trong một trung tâm tạm trú dành cho người di dân và tỵ nạn, chị cho biết: “Họ (những người đàn ông lạ mặt) bảo chúng tôi phải đi, nếu không...” Đây là một đe dọa đến tính mạng rõ ràng.
Cùng với đứa con trai mới 2 tuổi, hai vợ chồng Miranda và Escobar, đã nhập đoàn “lữ hành”, bỏ nước ra đi. Hiện họ đang ở cách xa Trinidad, thành phố quê nhà của họ trong Tỉnh Copan, đến cả 4000 cây số.
Chính ngày họ bị đe dọa giết chết, gia đình trẻ này đã trốn khỏi Trinidad để đến một thành phố khác rồi từ đó đi vào phía Nam Mễ Tây Cơ. Cuối cùng họ đã đặt chân đến Tijuana với hỵ vọng sẽ cùng với đoàn người “lữ hành” được các giới chức di trú của Hoa Kỳ cứu xét để cho tỵ nạn.
Miranda, Escobar và đứa con trai của họ là 3 trong sống 2000 người di dân và tỵ nạn đã đến được Tijuana. Sau họ, sẽ còn hàng ngàn người trực chỉ hướng Bắc để tìm cách đến biên giới Mễ-Mỹ.
Dĩ nhiên, trong cuộc xuất hành tập thể này, mỗi người di dân và tỵ nạn đều có một câu chuyện riêng để kể lại. Nhưng nhìn chung, những lý do thúc đẩy họ bỏ nước ra đi đều giống nhau. Nhiều người trốn chạy cảnh nghèo khốn, thất nghiệp, bạo động của các băng đảng hay sự đàn áp của chính phủ. Dù là Honduras, Guatemala, San Salvador hay Nicaragua...bức tranh chính trị và xã hội của ba quốc gia Trung Mỹ này đều giống nhau.
Miranda và Escobar đi trốn để tìm kiếm sự an toàn, bởi vì trong một quốc gia mà những người hoạt động trong đảng đối lập bị giết chết là chuyện thường xảy ra, họ cảm thấy thực sự bị đe dọa cho tính mạng của mình.
Miranda đã bắt đầu tham gia hoạt động chính trị sau cuộc đảo chính tại Honduras hồi năm 2009. Trong cuộc đảo chính này, quân đội đã lật đổ tổng thống dân cử là ông Manuel Zelaya. Họ đã cưỡng bách ông phải rời khỏi xứ sở.
Cuộc đảo chính đã tạo ra những cuộc biểu tình phản đối kéo dài hàng tháng trên toàn quốc. Hàng chục ngàn người Honduras, vốn chưa bao giờ tham gia vào các phong trào xã hội, đã xuống đường gia nhập  vào các cuộc biểu tình. Hai vợ chồng Miranda và Escobar là 2 trong số đó.
Mặc dù quân đội đảo chính, nhưng Đảng Quốc Gia lại lên cầm quyền. Đảng này đã đưa người lên làm tổng thống mà không thông qua một cuộc bầu cử tự do nào. Không bao lâu sau khi Honduras thay ngôi đổi chủ, Hoa Kỳ và Gia Nã Đại đều chính thức nhìn nhận chính phủ mới, mặc dù dân chúng vẫn tổ chức những cuộc biểu tình và những cuộc đàn áp do chính phủ mới thực hiện vẫn tiếp tục.
Không đày một năm sau đó, chính phủ cho tổ chức bầu cử. Đây là một cuộc bầu cử mà nhiều người dân cho là bất hợp pháp. Dĩ nhiên, Đảng Quốc Gia lại tiếp tục cầm quyền, mở rộng các cuộc đàn áp và tạo ra bạo động khắp nơi.
Đảng Tự Do mà hai vợ chồng Miranda và Escobar là thành viên hoạt động tích cực là tiếng nói đối lập duy nhất tại Honduras. Trong những năm sau đó, hai vợ chồng cho biết họ đã tham gia vào các cuộc bầu cử ở cấp thị xã và tỉnh. Trong cuộc tổng tuyển cử dạo tháng Mười Một năm 2017, Escobar đã ra tranh cử vào Nghị viện trong Tỉnh Copan. Nhưng trước những  cuộc đàn áp và đe dọa của chính phủ, hai vợ chồng đành phải bỏ nhà đi trốn trước khi biết kết quả của cuộc bầu cử.
Sau cuộc tổng tuyển cử, tình hình tại Honduras lại thêm tồi tệ hơn.
Tranh chức tổng thống Honduras trong cuộc bầu cử tháng Mười Một năm 2017 là Tổng thống Juan Orlando Hernandez thuộc Đảng Quốc Gia đang cầm quyền và ông Salvador Nasralla, thuộc Liên minh Đối lập. Đây là một cuộc bầu cử gây nhiều tranh cãi. Mặc dù Hiến Pháp Honduras giới hạn chức vụ tổng thống vào một nhiệm kỳ duy nhất, nhưng Tối Cao Pháp Viện nước này lại cho phép Tổng thống Hernandez được tái tranh cử.
Trong cuộc bầu cử, kết quả sơ khởi cho thấy ứng cử viên Nasralla của Liên minh Đối lập dẫn đầu 5 điểm. Nhưng chính phủ cho biết hệ thống đếm phiếu bị trục trặc. Vài tiếng đồng hồ sau đó, hệ thống này hoạt động trở lại và lần nầy kết quả cho thấy ông Hernandez dẫn đầu. Người dân cho đây là một hành động gian lận đầy tráo trở. Họ đã túa xuống đường để phản đối. Các cuộc biểu tình đã kéo dài hàng tháng sau đó. Chính phủ ra lệnh đóng tất cả các tuyến đường chính trong nước. Những người biểu tình bị đàn áp bằng hơi cay và ngay cả đạn thật. Hàng ngàn người bị bắt giữ. Các nhóm tranh đấu cho nhân quyền thu thập được nhiều tài liệu theo đó có ít nhất 30 người bị giết chết, hầu hết do chính bàn tay của quân cảnh.
Cuối tháng Mười Hai, vào giữa lúc người dân yêu cầu cho đếm phiếu lại và ngay cả tổ chức bầu cử lại thì chính phủ Hoa Kỳ lại tuyên bố nhìn nhận ông Hernandez là người đã chiến thắng trong cuộc bầu cử. Dân chúng lại gia tăng các cuộc xuống đường để phản đối và dĩ nhiên chính phủ cũng gia tăng các cuộc đàn áp.
Đây chính là lý do khiến hai vợ chồng trẻ Miranda và Escobar đã cùng với đứa con nhỏ của họ bỏ nước ra đi và tìm đường đến Mễ Tây Cơ.
Đài Al Jazeera đã phỏng vấn một số người Honduras đã vượt qua được Guatemala để đến Mễ Tây Cơ. Một nửa trong số những người được phỏng vân, ngay cả những người ra đi vì tình trạng nghèo đói hơn là bạo động, cũng đều nói rằng việc ông Hernandez tái đắc cử tổng thống và cuộc khủng hoảng tiếp theo sau đó là một yếu tố chính khiến họ quyết định bỏ nước ra đi.
Đối với những người vừa mới đặt chân đến Thành phố Tijuana, Mễ Tây Cơ như hai vợ chồng Miranda và Escobar, giai đoạn 2 của cuộc hành trình đi tìm đất sống chỉ mới bắt đầu. Trong trung tâm mà hai vợ chồng và đứa con nhỏ của họ đang tạm trú, ai cũng cảm thấy hoang mang và lo sợ. Hiện trung tâm không còn chỗ trống. Những người tầm trú đang xì xào với nhau rằng họ có thể bị Chính phủ Mễ giam giữ. Họ chẳng còn biết ai để mà tin tưởng hoặc cũng chẳng biết tối đến họ sẽ ngủ ở đâu.
Hồi tuần qua, những người tầm trú đã phải đối diện với một nhóm những người chống di dân. Nhóm người này sử dụng chính ngôn ngữ của Tổng thống Mỹ Donald Trump để gọi những người tầm trú là những kẻ “xâm lăng” (invasion). Những cuộc đụng độ giữa người tầm trú và dân địa phương tại Tijuana đã khiến cho nhiều người bị thương, trong số này có 3 ký giả.
Chính quyền địa phương tại Thành phố Tijuana loan báo rằng sẽ có khoảng 10.000 người khác đang trên đường đến thành phố. Cho tới nay, Chính phủ Liên bang Mễ Tây Cơ vẫn chưa cung cấp bất cứ một sự giúp đỡ tài chính nào cho những người tầm trú.
Tijuana là một thành phố nằm ở phía Tây  Mễ Tây Cơ, sát biên giới Mỹ-Mễ. Với dân số trên một triệu rưỡi người và có chung một đường biên giới dài khoảng 24 cây số với Thành phố San Diego, Tiểu bang California, Hoa Kỳ. Chính vì vậy mà Tijuana trở thành cửa ngõ lớn nhất cho những cuộc di dân lậu từ Châu Mỹ La Tinh vào Hoa Kỳ.
Mặc dù trung tâm tạm trú dành cho những người tầm trú vừa mới đến từ Trung Mỹ chỉ cách biên giới Mỹ bằng vài phút đi bộ, người di dân và tỵ nạn sẽ phải chờ đợi rất lâu trước khi hồ sơ xin tỵ nạn của họ được cứu xét. Trong khi chờ đợi, họ được yêu cầu ở lại Mễ Tây Cơ và xin việc làm.
Ông Francisco Vega de la Madrid, Phó thống đốc Tiểu bang Baja California, Mễ Tây Cơ, cho biết: tiểu bang thừa việc làm cho những ai muốn làm việc. Một viên chức khác ước tính có đến 7000 việc làm dành cho người di dân và tỵ nạn, nếu họ muốn làm việc làm, tuy nhiên yêu cầu họ phải tuân thủ luật pháp của Mễ Tây Cơ.
Một viên chức của chính quyền Tiểu bang Baja California đã nói rõ ràng với người di dân và tỵ nạn rằng Mễ Tây Cơ cung cấp cho họ sự trợ giúp nhân đạo, y tế và thực phẩm, tuy nhiên họ cần phải tuân thủ luật lệ trong trại tạm trú để sống hài hòa với người dân địa phương.
Trong những tuần lễ vừa qua, làn sóng người di dân từ Trung Mỹ kéo đến biên giới Mỹ đã bị Tổng thống Trump và nhiều viên chức Mỹ gọi là một cuộc “xâm lăng”. Tháng trước, Tổng thống Mỹ đã ra lệnh cho quân đội đến trấn giữ biên giới. Ông nói rằng con số binh sĩ Mỹ được gởi đến biên giới có thể lên đến 15.000 người. Ông khẳng định: “Chúng tôi sẽ chuẩn bị. Sẽ không có người nào lọt vào” nước Mỹ.
Ngoài ra, dạo đầu tháng Mười Một vừa qua, Tổng thống Trump cũng đã ký một sắc lệnh không cho bất cứ người nào vượt qua biên giới được cứu xét để xin tầm trú tại Mỹ. Hồi đầu năm nay, cựu Bộ trưởng Tư pháp Jeff Sessions, người vừa mới bị tổng thống Trump yêu cầu phải từ chức, cũng đã ra lệnh áp dụng chính sách “tuyệt đối không khoan nhượng” ngay cả đối với những người phải trốn chạy khỏi các băng đảng bạo động hay các nạn nhân của bạo hành gia đình. Dù cho họ có vượt qua được biên giới, hồ sơ xin tỵ nạn của họ cũng sẽ không được cứu xét.
Các nhóm tranh đấu cho nhân quyền nói rằng những giới hạn mới này vi hiến và vi phạm công pháp quốc tế. RAICES, một tổ chức trợ giúp pháp lý cho người di dân có trụ sở tại Tiểu bang Texas, nói rằng những “giới hạn này bất hợp pháp, bởi vì xin tỵ nạn là một quyền hợp pháp bất kể người xin tỵ nạn có đặt chân đến  một đất nước khác bằng cách nào đi nữa”. Tổ chức này còn nói: “Những giới hạn này làm tổn thương hàng ngàn phụ nữ và trẻ em mà tương lai cũng đã bị khước từ vì chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ. Đây là một chính sách vô luân và vô nhân đạo”.
Trong một tuyên ngôn được đưa lên trên trang mạng xã hội Twitter, Trung Tâm Luật Di Trú Quốc Gia của Hoa kỳ đã tuyên bố: “một lần nữa, ông Trump tìm cách chia rẽ chúng ta bằng cách săn đuổi những người cần được giúp đỡ hơn cả”.
Trong khi đó thì tại biên giới Mỹ, những người tầm trú đang bắt đầu thủ tục vô cùng phức tạp và nhiêu khê để xin tỵ nạn. Vợ chồng Miranda và Escobar và đứa con nhỏ của họ sẽ không biết được họ sẽ phải chờ đợi bao lâu để hồ sơ của họ được cứu xét.

(nguồn:
-https://www.aljazeera.com/news/2018/11/leave-honduran-family-fleeing-
-https://www.aljazeera.com/news/2018/11/trump-restricts-asylum-mexico-border-)