Thứ Tư, 18 tháng 4, 2018

Tháng Tư Đen, nghĩ về lòng biết ơn



Chu Thập
02/04/14
Tối thứ Hai 31 tháng 3, 2014 vừa qua, Đài Truyền Hình SBS có chiếu một phóng sự ngắn về việc một số người tỵ nạn Việt Nam từ Melbourne đã bày tỏ lòng biết ơn với một vị thuyền trưởng Hòa Lan mà họ gọi là vị cứu tinh của mình.
Với tựa đề “Món quà của Lòng Biết ơn” (Gift of gratitude), bài phóng sự kể lại rằng dạo tháng 2 năm 1982, một chiếc tàu chở hàng của Hòa Lan đã vớt được một nhóm thuyền nhân Việt Nam. Những thuyền nhân này đã lênh đênh trên biển trong nhiều ngày do tàu chết máy và lương thực cũng như nước dự trữ đã cạn. Alisha Fernando là thuyền nhân trẻ nhứt trên chiếc tàu vượt biên. Cô bé chỉ mới được hai tuổi.
Cô nói với phóng viên của Đài SBS rằng nếu không được tàu Hòa Lan vớt, có lẽ tất cả các thuyền nhân đều sẽ chết chìm dưới biển.
Đêm đó, thuyền trưởng Willem Christ của chiếc tàu Hòa Lan và thủy thủ đoàn của ông đã vớt được 168 người, trong đó có Alisha, cha mẹ và chú của cô. Họ được đưa vào trại tỵ nạn Pulau Bidong, Mã Lai và sau đó được định cư tại Úc Đại Lợi.
Vừa đặt chân đến quê hương mới, mẹ cô Alisha đã tìm cách liên lạc với thuyền trưởng Christ. Và ngày nay, 30 năm sau, bà và người con gái của bà đã lên đường đến Amsterdam để gặp gỡ với người mà lúc nào họ cũng gọi là vị cứu tinh của mình. Cô Alisha nói: “Thật là một món quà kỳ diệu khi cuối cùng tôi đã có được cơ hội gặp lại người đã cứu sống tôi. Ông là người đã giúp tôi và cha mẹ tôi có được cuộc sống như ngày hôm nay. (Nếu không) biết đâu tôi lại chẳng là một người ăn xin trên đường phố ở Việt Nam hoặc là một con số trong những thống kê về chiến tranh”.
Sự may mắn mà cô Alisha, gia đình cô và những thuyền nhân  được viên thuyền trưởng Hòa Lan cứu sống, cũng chính là sự may mắn mà tôi và hàng triệu người Việt Nam khác đã có được trong cuộc vượt thoát khỏi thiên đường cộng sản sau năm 1975. Chúng tôi quả là những người Việt Nam may mắn. Bởi lẽ, như cô Alisha đã nói, nếu không thoát khỏi Việt Nam thì ngày nay chúng tôi sẽ như thế nào. Ăn xin trên đường phố quả là một điều tủi nhục. Nhưng chúng ta sẽ nghĩ gì về nỗi tủi nhục của những cô gái Việt Nam bị bán đi làm vợ cho tứ phương thiên hạ, từ Trung Quốc, Đại Hàn, Đài Loan...đến cả Phi Châu. Bên cạnh nỗi tủi nhục riêng tư ấy, còn có nỗi tủi nhục “quốc thể” khi những bộ mặt biểu tượng của đất nước là các cô chiêu đãi viên hàng không xinh đẹp lại bị bắt quả tang “ăn cắp” tại Nhựt Bổn. Nhục hơn nữa khi tại Thái Lan, Đài Loan, Đại Hàn, Nhựt Bổn, người ta phải viết những câu bằng ngôn ngữ của đất nước tôi để giải thích về tính phạm pháp của hành vi ăn cắp trong các siêu thị. Dường như ở Á Châu, chỉ có một thành phần trộm cắp cần được cảnh cáo và đề cao cảnh giác là người Việt Nam. Và có lẽ cũng chỉ có một thành phần tham ăn cần được hướng dẫn để không ăn uống một cách phí phạm. Tôi nghĩ rằng người ta có quyền quơ đũa cả nắm khi nói về người Việt Nam, bất luận là người Việt Nam mang quốc tịch của cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hay người Việt Nam đang là công dân của những quốc gia tự do, dân chủ và văn minh. Không cần phải mang thông hành xã hội chủ nghĩa Việt Nam để đi đâu cũng bị “soi xét” như Đức Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt đã từng phàn nàn. Nhiều lần ở các phi trường, tôi đã bị các nhân viên hải quan gọi riêng ra để “làm việc”, vì là người Việt Nam, tôi biết mình bị tình nghi có mang theo ma túy hay đồ quốc cấm nào đó. Tôi không  trách người ta có thái độ kỳ thị chủng tộc đối với mình, bởi vì cứ nghe nói đến chuyện “trồng cỏ” ở đâu đó tại Úc Đại Lợi, tại Anh Quốc hay Gia Nã Đại...thì những cái tên “Đinh Lê Lý Trần” Nguyễn...quen thuộc của dân tộc tôi lại hiện ra trước tiên.
Nghĩ đến những thiếu nữ Việt Nam bị bán làm vợ cho tứ phương thiên hạ, tôi vừa cảm thấy nhục nhã vừa thương cảm. Họ chỉ là nạn nhân của một chế độ bất nhân và vô cảm. Nghĩ đến những cô chiêu đãi viên hàng không “ăn cắp” hàng từ nước ngoài mang về nước bán, tôi cũng chỉ biết thương cảm. Họ cũng chỉ là nạn nhân của một chế độ không chỉ cướp lấy quyền sống của con người, mà cũng cướp luôn những giá trị nhân bản tốt đẹp nhứt của dân tộc tôi. Nghĩ đến tất cả những người Việt Nam không có được một sự lựa chọn nào khác hơn là phải làm thân phận của “cột đèn” bị chôn chặt trong thiên đường cộng sản, tôi chỉ thấy uất hận và buồn chán: cả một dân tộc phải bị đọa đày trong ngục tù cộng sản!
Giả như không thoát khỏi xã hội cộng sản, biết đâu tôi chẳng có được vinh dự được làm một nhà bất đồng chính kiến đang ngồi tù rục xương, mà chỉ là một tên đầu trộm đuôi cướp hoặc một gã chán đời suốt ngày la cà trong các quán rượu hoặc cà phê vỉa hè để mà than thân trách phận.
Mỗi dạo Tháng Tư Đen trở về, bên cạnh vô số những phiền muộn của một người ly hương, tôi lại thấy mình là một người may mắn. May mắn được hít thở không khí tự do. May mắn có được một cuộc sống xứng với phẩm giá con người. Nhưng may mắn nhứt là được quyền sống như một người lương thiện. Và theo tôi, một trong những nét nổi bật nhứt trong cung cách của một người lương thiện, chính là được nhắc nhở để luôn biết bày tỏ lòng biết ơn. Xã hội tôi đang sống chưa phải là một xã hội hoàn hảo. Tệ nạn xã hội vẫn còn đầy dẫy. Nhưng ít ra, hàng ngày tôi vẫn còn nghe được hai tiếng “cám ơn” trên đầu môi của hầu hết mọi người tôi gặp gỡ. Họ không ngừng nhắc nhở tôi rằng sống là đi vào quan hệ tương thuộc với người khác và sống cho thực sự ra người là phải biết mình mang ơn mọi người cách này hay cách khác.
Tôi không cho là phóng đại hoặc tổng quát hóa một cách quá chủ quan khi bảo rằng hai tiếng “cám ơn” đã trở thành quý hiếm trong xã hội Việt Nam hiện nay. Bất cứ ai một lần về thăm quê hương cũng đều nhận ra điều đó. Hai tiếng ấy đã hầu như trở thành một phản xạ tự nhiên của người Việt (chớ không phải Việt Kiều như thường bị gọi) đang là công dân tại các nước nơi họ đã định cư. Nói theo kiểu nói của tác giả Nguyễn Khắp Nơi, “Người Việt tôi là thế đấy”. Từ ngàn xưa, người Việt tôi đã biết trọng lễ nghĩa, xem lòng biết ơn như cốt lõi của nhân cách con người. Nhưng  đối với người Việt trong nước hiện nay, nếu hai tiếng cám ơn có trở thành quý hiếm là bởi nó đã bị xóa bỏ khỏi tự điển của người cộng sản và lòng biết ơn dường như cũng đã trở thành một thứ xa xí của chủ nghĩa tư bản cần phải tẩy trừ.
Những người cộng sản lúc nào cũng vỗ ngực tự xưng là vô thần. Thật ra, trước khi là vô thần, họ đã là đồ “vô ơn”. Tôi không cần phải nhắc lại chuyện những người cộng sản đã mang không biết bao nhiêu “ân nhân”, những người đã từng bao che họ ra đấu tố trong thời Cải cách ruộng đất hoặc ép buộc cha mẹ, vợ chồng con cái bôi mặt nhau để mà sỉ vả nhau. Tôi cũng không cần phải nhắc lại chuyện những người cộng sản đã quay lưng lại với chính những người mà họ gọi là “mẹ chiến sĩ”, những người đã từng nhịn ăn nhịn mặc, bảo vệ họ ngay trong “đất địch” để họ có chiến thắng hôm nay. Chỉ cần đọc  khẩu hiệu: “Yêu tổ quốc là yêu xã hội chủ nghĩa” là tôi đã thấy ngay bộ mặt vô ơn của họ. Phải yêu xã hội chủ nghĩa mới yêu tổ quốc, nói như thế là chối bỏ công ơn dựng nước giữ nước của các bậc tiền nhân của dân tộc. Họ có biết mặt mũi của xã hội chủ nghĩa như thế nào đâu mà yêu với thương. Thế chẳng lẽ những tiền nhân, vì không biết và không yêu xã hội chủ nghĩa, nên họ là người “phản quốc”?  Thật là đồ “vô ơn” khi bảo rằng các bậc tiền nhân của dân tộc không yêu tổ quốc.
Một khẩu hiệu khác cũng nói lên bộ mặt vô ơn của người cộng sản. Tưởng nhớ các bậc anh hùng liệt sĩ, những người đã hy sinh cho tổ quốc, người cộng sản không “ghi ơn” hay “nhớ ơn” như dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, mà chỉ có “ghi công”. “Công” thì được ghi, nhưng “ơn” thì không cần phải nhớ. Tôi không phải mất giờ để mà vạch lá tìm sâu về thái độ vô ơn của người cộng sản. Một dân tộc vốn trọng lễ nghĩa, lấy lòng biết ơn làm nền móng của tòa nhà nhân cách, nay lại trở nên “xa lạ” với lòng biết ơn. Ai đã làm cho dân tộc tôi nên nỗi này?
Chuyện cô Alisha cùng mẹ lên đường đi Hòa Lan để bày tỏ lòng biết ơn với vị ân nhân của mình, như Đài Truyền Hình SBS trình chiếu, không phải là một “biến cố” trong cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản. Các cơ quan truyền thông Việt ngữ ở hải ngoại đã ghi lại không biết bao nhiêu cuộc “hành trình” của lòng biết ơn ấy nơi người Việt tỵ nạn. Họ không chỉ hít thở không khí tự do. Họ không chỉ có đủ mọi quyền làm người. Để sống xứng với phẩm giá con người và sống cho ra người, lúc nào họ cũng được nhắc nhở để tỏ lòng biết ơn.
Mỗi dạo Tháng Tư Đen trở về, tôi không chỉ thấy dấy lên trong tâm tư nỗi buồn và lòng thương cảm khi nghĩ đến cả dân tộc đang bị đọa đày trong ngục tù cộng sản và không có điều kiện để phát huy những giá trị nhân bản cao quý của dân tộc, tôi cũng được mời gọi để không ngừng tri ơn tất cả những ai đã góp phần cho tôi có được cuộc sống như ngày hôm nay. Trước hết là những người đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi vượt thoát khỏi thiên đường cộng sản. Kế đó là viên thuyền trưởng, các thủy thủ và nhân viên trên chiếc tàu khoan dầu trong vùng biển Nam Dương đã cứu vớt chúng tôi và đưa về trại tỵ nạn. Rồi sau đó, làm sao quên được đất nước tạm dung, nơi tôi thực sự nếm trải được thế nào là tự do và tình người. Nhưng dĩ nhiên, tôi không biết bao giờ mình mới trả ơn cho hết đối với đất nước đã được tôi chọn làm quê hương thứ hai. Thật ra đất nước này sẽ chẳng là gì nếu không có những con người tôi đang sống với hay gặp gỡ mỗi ngày. Cách này hay cách khác, tất cả đều là ân nhân của tôi. Và mỗi một ngày qua đi đều thêm một ân tình tôi phải trả với người khác. Người Việt chúng ta thường nói: “Hữu sự vái tứ phương, vô sự đồng hương không mất”. Con người dễ vô ơn. Tôi nhận thấy theo thói thường, người ta chỉ muốn nhận chớ không muốn cho đi. Nếu nhận được một ân huệ nào của người khác thì dễ quên đối với vị ân nhân, còn khi mình làm ơn thì lại nhớ rất dai và muốn người ta phải thể hiện lòng biết ơn đó. Tôi vẫn nhớ giai thoại về kịch tác gia nổi tiếng người Anh, ông George Bernard Shaw (1856-1950). Ngày nọ, ông đi dạo qua những tiệm bán sách cũ. Tình cờ ông thấy có một tuyển tập những vở kịch của ông. Tuyển tập này đã từng được đề tặng cho một người bạn. Ở trang đầu của tuyển tập, ông có đề tặng: “Mến tặng bạn hiền. Thân mến. George Bernard Shaw”. Ông liền mua lại tuyền tập đó và ghi lại lời đề tặng mới: “Lại mến tặng bạn hiền. Thân mến. George Bernard Shaw”.
Cứ tưởng tượng một ngày nào đó, có ai cũng nhắc nhở tôi như thế về lòng vô ơn của tôi, chắc chắn đó phải là ngày buồn nhứt trong đời tôi.
Tháng tư là tháng để tôi nhớ mãi bản sắc tỵ nạn cộng sản của mình. Tôi có mặt trên quê hương mới này bởi vì tôi là một người “chống cộng”. Nhưng với tôi, tháng tư cũng nhắc nhở tôi phải không ngừng cố gắng để sống cho ra người hơn và một trong những đức tính mà bao lâu còn sống tôi còn phải trau dồi là lòng biết ơn. Tôi sẽ thôi là người “chống cộng” nếu tôi trở thành người vô ơn.





Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2018

Hung Gia Lợi: đường dẫn về Nga!



13/04/18
Tháng Giêng năm 2015, bốn ngày sau khi xảy ra cuộc tấn công khủng bố nhắm vào Charlie Hebdo, tuần báo biếm họa nổi tiếng của Pháp, một đám đông khoảng 1.5 triệu người đã tuần hành xuyên qua các đường phố ở Thủ đô Paris.
Viktor Orban, thủ tướng Hung Gia Lợi  (Hungary) là một trong 40 nguyên thủ quốc gia có mặt trong đám đông. Ông tham dự cuộc tuần hành là để chống lại khủng bố và kêu gọi bảo vệ một trong những cột trụ của dân chủ là tự do phát biểu.
Cuộc tấn công bạo động nhắm vào tuần báo Charlie Hebdo dĩ nhiên là một cuộc tấn công khủng bố. Nhưng nhận định về cuộc khủng bố không phải là đơn giản. Mỗi nước có một cái nhìn khác nhau về cuộc khủng bố. Riêng  Thủ tướng Orban ngay từ đầu đã tỏ ra rất rõ ràng và dứt khoát: thủ phạm của cuộc khủng bố chính là người di dân!Sống trong một gia đình đầy xáo trộn, lớn lên trong cảnh mồ côi, thất nghiệp, bị đẩy ra bên lề xã hội, bị cực đoan hóa...đó có thể là những yếu tố cần được xem xét để thẩm định về những động lực đưa đẩy con người đến hành vi khủng bố. Nhưng đương kim Thủ tướng Hung Gia Lợi không màng đến những yếu tố đó. Với ông, chỉ có một yếu tố duy nhất khiến con người đi vào con đường khủng bố: họ là di dân!
Lên tiếng trên đài truyền hình Hung Gia Lợi, ông Orban tuyên bố: “Chúng tôi sẽ không bao giờ để cho Hung Gia Lợi trở thành một mục tiêu của người di dân. Chúng tôi không muốn thấy những cộng đồng thiểu số đông người với những khác biệt về văn hóa ở giữa chúng tôi. Chúng tôi muốn giữ cho Hung Gia Lợi thuần Hung Gia Lợi”.
Đây là giọng điệu quen thuộc của Thủ tướng Orban và nó đã giúp ông thú hút được nhiều lá phiếu của cử tri Hung Gia Lợi.
Trong hai năm 2015 và 2016, cùng với một loạt những cuộc tấn công khủng bố, Âu Châu còn phải đương đầu với một thách đố khác: đó là làn sóng người di dân và tỵ nạn đổ xô vào lục địa.
Với việc đồng hóa người di dân với người tỵ nạn, Thủ tướng Orban đã đưa ra một giải pháp đơn giản và giải pháp này lại được người dân Hung Gia Lợi ủng hộ. Ông giải thích: hầu hết những người tìm đến Âu Châu không phải là người tỵ nạn chạy trốn chiến tranh và bách hại ở quê nhà, mà là những di dân kinh tế đi tìm một cuộc sống tốt đẹp hơn tại Tây Âu. Một lối giải thích như thế dĩ nhiên đã gãi đúng chỗ ngứa của nhiều người Hung Gia Lợi.
Dạo tháng Mười năm 2016, Thủ tướng Orban đã tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý để hỏi liệu có nên để cho Liên Âu buộc Hung Gia Lợi phải nhận người di dân không. Gần 60 phần trăm cử tri đã chống lại việc đón nhận người di dân. Thủ tướng Orban đã dựa vào kết quả của cuộc trưng cầu dân ý để đẩy mạnh chính sách bài di dân của ông. Thủ tướng Hung Gia Lợi không màng đến sự sút giảm dân số hiện đang là một vấn nạn lớn cho đất nước.
Tính đến tháng Tư này, dân số Hung Gia Lợi hiện có khoảng trên dưới 9 triệu rưỡi người. Trung bình mỗi năm dân số Hung Gia Lợi sút giảm khoảng 30.000 người, tương đương với dân số của một thành phố nhỏ. Thủ tướng Orban cho rằng giải pháp cho sự sút giảm dân số không phải là đón nhận thêm người di dân mà là khuyến khích dân chúng gia tăng sinh sản.
Để xem chính sách bài di dân của Chính phủ Hung có thành công hay không, thiết tưởng nên nhìn lại lịch sử của đất nước này.
So sánh với nhiều nước khác, người ta thấy không có tới 2 phần trăm dân số hiện nay của Hung Gia Lợi sinh ra ở nước ngoại. Và người Hung có lẽ không thể nào quên được những cuộc xâm lăng của ngoại bang trong suốt dòng lịch sử của họ. Năm 1920, sau Đệ nhất Thế chiến, Đế quốc Áo-Hung sụp đổ, Hiệp ước Trianon đã vẽ lại ranh giới mới của Hung Gia Lợi. Quốc gia này đã mất 72 phần trăm lãnh thổ của mình và 31 phần trăm sắc dân Hung thấy mình trở thành thiểu số tại một số nước khác như Lỗ Ma Ni, Tiệp Khắc và Nam Tư. Và dĩ nhiên, Hung Gia Lợi cũng đã mất đi tính đa văn hóa của mình. Trước kia, nhiều sắc dân như Lỗ Ma Ni, Slovak, Serb, Croat và Ruthenia đã từng sống bên cạnh người Hung Gia Lợi.
Trong thời Đệ nhị Thế chiến, phần lớn cộng đồng Do Thái tại Hung Gia Lợi đã bị tàn sát trong các trại tập trung của Đức Quốc Xã. Sau Đệ nhị Thế chiến, những người Đức đã từng sinh sống tại Hung Gia Lợi từ thế kỷ 18 cũng bị trục xuất. Nhìn chung, trên toàn cõi Hung Gia Lợi chỉ còn lại người Hung.
“Nguyệt thực” là một tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Hung Geza Gardonyl (1863-1922). Cũng như mọi đứa trẻ Hung, Thủ tướng Orban rất thích tác phẩm này. Theo câu chuyện, vào năm 1552, lâu đài Eger ở miền Bắc Hung Gia Lợi bị quân đội của Đế quốc Thổ vây hãm. Viên sĩ quan chỉ huy trong lâu đài là đại úy Istvan Dobo đã sai một chuyên viên chất nổ chế ra một trái bom và ngụy trang thành một món quà để gởi đến quân đội Thổ. Nhờ phát minh này, quân đội Hung đã chiến thắng. Lâu đài được giải vây. Nhiều lâu đài khác của Hung Gia Lợi cũng đã từng rơi vào tay quân Thổ trong nhiều thập niên, nhưng cuối cùng đều được giải vây. Chính nhờ sự chiến đấu anh dũng của quân đội Hung mà đế quốc Thổ không thể tiến sâu vào Âu Châu.
Dạo tháng Chín năm 2015, tại Tu viện Banz thuộc Tỉnh bang Bavaria, khi nói chuyện với những người thuộc phong trào hữu khuynh tại Đức, Thủ tướng Orban đã đề cao gương chiến đấu của quân đội Hung và tự ví mình với viên chỉ huy của quân đội Hung tại lâu đài Eger, người đã chiến thắng quân thù Hồi giáo và đẩy lui họ khỏi một Âu Châu Kitô Giáo.
Năm 2017, tại Lỗ Ma Ni, ông cũng lập lại cùng một sứ điệp: Hung Gia Lợi phải là Hung Gia Lợi và Âu Châu phải là Âu Châu, nghĩa là một Hung Gia Lợi thuần Kitô Giáo và một Âu Châu thuần Kitô Giáo. Theo ông, mối đe dọa lớn nhất đối với Âu Châu chính là để cho lục địa trở thành tạp chủng và đánh mất căn tính Kitô Giáo.
Tư tưởng của đương kim Thủ tướng Hung Gia Lợi đã biến chuyển theo từng giai đoạn. Chào đời năm 1963 tại một thành phố nhỏ cách Thủ đô Budapest 60 cây số, mặc dù cha ông là một đảng viên Cộng sản, nhưng Orban rất thù ghét chủ nghĩa này. Năm 1982, ông lên thủ đô để học luật và chính trị học. Cùng với một số bạn thân, ông đã thành lập một nhóm lấy tên là Fidesz có chủ trương sống tự do và chống lại tổ chức đoàn đội của Đảng.
Tháng Sáu năm 1989, những người chống cộng và những người cộng sản có khuynh hướng cải tổ đã đồng ý với nhau về việc cải táng cố Thủ tướng Imre Nagy và các cộng sự viên của ông, vốn đã bị Đảng Cộng sản Hung thủ tiêu hồi năm 1958. Hàng ngàn người tham dự cuộc cải táng. Trước đám đông, Orban đã dõng dạc yêu cầu quân đội Nga rút ra khỏi Hung Gia Lợi. Nhưng mãi cho đến tháng Sáu năm 1991, khi Chủ nghĩa Cộng sản chính thức cáo chung tại Nga, người lính Liên Xô cuối cùng mới rút ra khỏi Hung Gia Lợi. Phong trào Fidesz do Orban sáng lập đã biến thành một đảng chính trị.
Vào giữa thập niên 1990, khi những người thuộc Đảng Xã hội liên minh với cánh Tự do lên cầm quyền tại Hung Gia Lợi, Orban lèo lái Đảng Fidesz của ông đi vào con đường bảo thủ. Năm 1991, khi Giáo hoàng Gioan Phaolô II viếng thăm Hung Gia Lợi, ông đã kêu gọi dân chúng Hung tẩy chay chuyến viếng thăm. Ông cũng lên tiếng chế nhạo sự hiện diện của Đảng Dân chủ Kitô Giáo trong Quốc Hội. Nhưng dần dà, bắt mạch được lòng dân, ông thấy không còn một chọn lựa nào hơn là phải trở thành một tín hữu Kitô. Lớn lên trong chế độ cộng sản, Orban luôn tự nhận mình là một người vô thần. Nhưng năm 1996, ông đã đưa vợ đến một nhà thờ Kitô Giáo để xin hợp thức hóa cuộc hôn nhân và cho 5 đứa con được rửa tội.
Thập niên 1990, Hung Gia Lợi thay da đổi thịt. Đầu tư ngoại quốc ào ạt rót vào đất nước. Các xí nghiệp cổ lỗ dưới thời cộng sản bị dẹp bỏ. Nhiều nhân công bị sa thải. Có cả triệu người bị thất nghiệp.
Năm 1998, Đảng Fidesz chiến thắng, Orban lên làm thủ tướng. Ông vận động cho Hung Gia Lợi được gia nhập vào khối Liên Âu. Nhưng năm 2002, Orban thất cử. Mãi cho đến năm 2010, được hai phần ba cử tri Hung ủng hộ, Đảng Fidesz trở lại cầm quyền và Orban liên tục đắc cử thêm hai nhiệm kỳ nữa.
Cuộc sống của người dân Hung ngày càng tốt đẹp hơn. Mức lương đã tăng thêm 10 phần trăm. Kinh tế gia tăng hơn 4 phần trăm và thất nghiệp nằm dưới  mức 4 phần trăm. Tuy nhiên, một trong những vấn đề lớn của Hung Gia Lợi vẫn là sự thiếu hụt tay nghề. Hơn 600.000 người Hung di dân sang các nước khác trong khối Liên Âu để tìm kiếm một đồng lương cao hơn. Các hãng điện tử không thể đáp ứng các đơn đặt hàng vì thiếu kỹ sư. Các bệnh viện thì thiếu bác sĩ và y tá. Các loa phóng thanh đặt ở các nhà ga xe lửa kêu gọi thêm nhiều tài xế. Ngay cả các tiệm ăn cũng rao báo tìm thêm nhân viên phục vụ.
Trong khi Thủ tướng Orban ra rả chống lại di dân thì chính người dân Hung lại lo ngại vì làn sóng bỏ nước ra đi tìm việc làm ở nước ngoài ngày càng gia tăng.
Bên cạnh vấn đề di dân, Thủ tướng Orban còn phải đối phó với nhiều cáo buộc về tham nhũng. Người con rể của ông cũng như nhiều bộ tưởng và doanh gia thân cận với Đảng Fidesz của ông đều bị tố cáo bòn rút công quỹ.
Trong khi đó thì Thủ tướng Orban ngày càng tỏ ra thân thiện với Nga, mặc dù Hung Gia Lợi hiện đang là thành viên của NATO và khối Liên Âu. Ông luôn ngưỡng mộ hệ thống chính trị của Nga. Ông mô tả Hung Gia Lợi như một chế độ “dân chủ không tự do”. Kiểu nói này cũng tương tự với chế độ “dân chủ tối thượng” của Nga. Cả hai đều được hiểu như một lối cai trị độc tài. Cũng như Tổng thống Nga Vladimir Putin, Thủ tướng Orban sử dụng toàn những doanh gia giàu có và quyền lực trong chính phủ của ông. Trong hai thập niên trước, ông nổi tiếng là người chống Nga. Nhưng nay, ông hành động theo cùng một “sách” của ông Putin. Năm ngoái, Hung Gia Lợi đã thông qua luật để áp đặt nhiều hạn chế lên các tổ chức không chính phủ nào nhận tiền tài trợ từ nước ngoài. Cũng giống như luật về Nhân viên Nước ngoài của Nga, luật này được sử dụng để đàn áp những tiếng nói đối lập và các phương tiện truyền thông độc lập.
Cuộc khủng hoảng tài chính hồi năm 2008 đã khiến cho nhiều cơ quan truyền thông độc lập phá sản và được chính phủ mua lại. Hiện nay có tới 90 phần trăm các phương tiện truyền thông trực tiếp hay gián tiếp bị Đảng Fidesz kiểm soát.
Nga có lẽ không cần phải sử dụng các tin tặc để tung ra các tin giả và xen vào cuộc bầu cử tại Hung Gia Lợi, bởi vì Thủ tướng Orban và chính phủ của ông đã ngả vào vòng tay của ông Putin và hiện đang dẫn đầu trong các thăm dò dư luận cũng như các cuộc bầu cử. Hung Gia Lợi đang đi vào quỹ đạo của Nga, nhất là sau khi ông Orban đã chiến thắng trong cuộc bầu cử hôm Chủ nhật 8 tháng Tư vừa qua để làm thủ tướng thêm một nhiệm kỳ nữa.



(nguồn:
-http://www.bbc.co.uk/news/resources/idt-sh/Viktor_Orban
-https://edition.cnn.com/2018/04/06/europe/hungary-elections-russia-orban)

Thứ Tư, 11 tháng 4, 2018

Chùm khế ngọt



Chu Thập
30.04.13



Trong “quê hương bỏ túi” đằng sau nhà, tôi có trồng một cây khế ngọt. Đúng như nhà thơ Đỗ Trung Quân trong nước đã viết trong bài thơ Quê hương nổi tiếng của ông, trong các thứ cây nhiệt đới, có lẽ cây khế là hình ảnh gợi nhớ quê hương nhiều nhứt, nhứt là những cái bông lấm chấm. Khế ở Việt Nam ra trái quanh năm. Khế ở Úc này có lẽ cảm thông được với tâm trạng buồn nhớ quê hương của người Việt tỵ nạn chăng, cho nên chỉ ra trái vào mùa Thu, mùa có “tháng tư đen”. Trái chín không đậm đà như ở quê nhà, nhưng cũng đủ ngọt để người thưởng thức vẫn nhớ mãi quê hương và biết rằng dù ở đâu hay có mất tất cả, họ vẫn ôm ấp mãi quê hương trong lòng.
Thật ra, với tôi, quê hương không thu gọn trong “chùm khế ngọt trong vườn, con diều thả trên cánh đồng, con đò nhỏ khua nước trên sông, chiếc cầu tre nhỏ bắc qua con mương, giàn hoa bí, giậu mồng tơi, hàng rào dâm bụt …” Dĩ nhiên, nói đến quê hương người ta dễ nhớ đến những kỷ niệm của thời thơ ấu. Nhiều lắm, kể không xiết. Nhưng  quê hương cũng chưa hẳn là những kỷ niệm, những nơi mình đã sống. Có lẽ mỗi người đều giữ cho mình một hình ảnh quê hương của riêng mình. Theo ý nghĩa ấy, người nước nào cũng có một quê hương để ôm ấp. Tôi nghĩ đến trước tiên những người Úc mà tôi đang sống với.
Lối vào nhà tôi hiện nay được chia thành hai con đường cụt nối liền với nhau theo hình chữ T. Có một hiện tượng cứ khiến tôi phải suy nghĩ mãi là: chỉ nội trong 5 năm vừa qua, trong khoảng trên dưới 30 ngôi nhà, đã có hơn một nửa được bán đi. Ngoại trừ vài cặp vợ chồng già, đa số cư dân mới trong xóm của tôi đều là những người mới đến. Người Úc quả không quyến luyến với ngôi nhà họ đang ở. Thích thì ở, không thích thì dọn đi nơi khác. Nhưng có phải vì vậy mà họ không có quê hương sao?
Ở quê tôi, ít có ai bỏ xóm làng để đi phương xa lập nghiệp. Có đói khổ cách mấy, người ta cũng cố bám vào quê cha đất tổ mà sống. Như trường hợp mấy đứa cháu con của bà chị cả của tôi chẳng hạn: mảnh đất của chị để lại rộng không hơn một ngàn thước vuông, vậy mà có đến 5 đứa con của chị chia nhau mỗi người một mảng để cất nhà túm rụm bên nhau.
Kể từ khi ra khỏi Việt Nam, tôi mới nhận thấy rằng quê hương không còn giới hạn trong một mảnh đất hay những kỷ niệm của thời thơ ấu nữa. Vì nhu cầu của cuộc sống, vì đòi hỏi của những tiện nghi vật chất, vì sự cần thiết phải thích ứng với những tiến bộ của kỹ thuật và nhất là vì công ăn việc làm, con người thời đại xem mọi thứ trong cuộc đời này là tạm bợ. Chẳng có nơi nào là nơi chôn nhau cắt rún, chẳng có ngôi nhà nào là nhà của tổ tiên. Nếu cần, nhứt là để thay đổi cuộc sống, người ta có thể bỏ lại tất cả để ra đi.
Trước kia, nhứt là ở thôn quê, giữa con người và sự vật luôn có một quan hệ mật thiết. Thi sĩ Alphonse de Lamartine của Pháp (1790-1869) đã diễn tả đúng sợi giây liên kết giữa con người và sự vật qua câu thơ nổi tiếng: “Hỡi những vật vô tri giác, các ngươi có linh hồn không mà lại quyến luyến với linh hồn của chúng ta và buộc chúng ta phải yêu thương?” (Objets inanimés, avez –vous donc une âme qui s’ attache à nôtre âme et la force d’aimer?). Tôi hiểu được cái thói quen khác thường của cô con gái con của người bạn chí cốt của tôi bên Mỹ. Năm nay đã sắp ra trường đại học, nhưng cô không thể nào ngủ mà không có tấm chăn đã hầu như rách nát mà cha cô đã mua tặng cho mẹ cô khi hai người mới yêu nhau và được dùng để đắp cho cô khi cô còn đỏ hỏn. Giữa con người và sự vật quả có một mối liên kết mật thiết khó giải thích được.
Nhưng trong xã hội tiêu thụ ngày nay, xem chừng mối quan hệ ấy ngày càng lỏng lẻo. Hầu như chẳng có thứ gì mật thiết đến độ khiến con người thời đại phải bám víu vào suốt đời nữa. Từ miếng giấy lau tay, lau mặt thế cho chiếc khăn “mù soa” cho đến chiếc xe hơi, thứ gì cũng có thể dùng rồi vứt đi (disposable) hay bán lại. Văn hóa tiêu thụ cũng đồng nghĩa với văn hóa “vứt bỏ”. Chỉ trong một xóm nhỏ như nơi tôi ở, tháng nào tôi cũng thấy có gia đình mang đồ cũ ra bỏ trước nhà để được hội đồng thành phố cho người đến hốt đi. Thỉnh thoảng, bắt chước người Úc, tôi cũng “ngang nhiên” đi bới rác. Đôi khi, trong cái đống rác nhà giàu này, tôi cũng lượm được khối đồ vật còn tốt chán. Tôi cứ nghĩ: cũ người mà mới ta. Có sao đâu! Nếu có mang chút mặc cảm thì có lẽ không phải vì lượm đồ cũ cho bằng cảm thấy như mình không đóng góp hết mình cho sự chuyển vận của bánh xe kinh tế. Kinh tế nước nào mà cũng gặp toàn dân “trùm sò” như tôi, nghĩa là không thích mua sắm mà chỉ thích xài đồ cũ thì chắc phải sập tiệm thôi!
Kinh tế và kỹ thuật tân tiến ngày nay cứ bắt con người phải chạy theo hàng mới đến bở hơi tai. Có những thứ máy móc như điện thoại hay máy vi tính cầm tay tôi chưa dám đụng tới, vậy mà chỉ trong một thời gian ngắn đã trở thành lỗi thời. Thứ gì cũng trở thành tạm bợ và nhứt thời đối với người tiêu dùng ngày nay. Hãy nói đến số phận của chiếc xe tại Hoa Kỳ chẳng hạn. Ai cũng thích xe. Ai cũng thích nói về xe. Nhưng “tình cảm” của con người đối với chiếc xe không đủ mãnh liệt để khiến họ phải giữ mãi một chiếc xe. Trung bình, người dân Mỹ chỉ xử dụng một chiếc xe 3 năm rưỡi. Chính vì thời gian xử dụng một chiếc xe không quá lâu mà kỹ nghệ bán xe cũ mới thịnh đạt. Chính kỹ nghệ xe hơi tại Hoa Kỳ đã thành công trong việc đánh đổ cái quan niệm truyền thống cho rằng đã mua sắm cái gì thì phải xử dụng nó cho đến cùng. Ngày nay, “ăn chắc mặc bền” có thể là một quan niệm đi ngược lại với sự phát triển của kinh tế. Nói đến kinh tế là phải nói đến sản xuất và tiêu thụ. Có tiêu thụ nhiều, nghĩa là có xài rồi vứt bỏ thì mới có sản xuất và như vậy kinh tế mới phát triển.
Song song với việc thay đổi xe nhanh chóng như thế, có một hiện tượng khác phát sinh từ Hoa Kỳ và lan rộng đến hầu hết mọi nơi trên thế giới: đó là việc thuê xe! Ngày nay, nhứt là trong những thành phố lớn, nơi mà chỗ đậu xe cũng đắt gần như mua một chiếc xe mới, ngày càng có nhiều người thay vì mua xe đã chọn giải pháp thuê xe. Đi đâu cũng thuê xe được. Ở đâu cũng có chỗ cho thuê xe. Vừa tiện lợi, vừa ít tốn tiền, vừa không phải đóng bảo hiểm và thuế đường hàng năm.
Mà đâu chỉ có xe hơi. Hiện nay, bất cứ vật dụng gì cũng đều có thể thuê mướn được. Nhiều người ngày nay có lẽ cũng thích mướn nhà hơn mua nhà. Trong thời kỳ Đại khủng hoảng kinh tế hồi thập niên 1930 của thế kỷ trước, khi có đến hàng triệu người thất nghiệp và lâm cảnh “vô gia cư” thì có được một ngôi nhà riêng của mình là một mơ ước cả đời người và đồng thời cũng là động lực thúc đẩy kinh tế trong các xã hội tư bản. Ngay nay, ở đâu cũng thế, ước muốn có được một ngôi nhà riêng của mình vẫn luôn mạnh. Tuy nhiên, tại Hoa Kỳ chẳng hạn, kể từ sau Đệ nhị thế chiến, tỷ lệ của những căn phòng được cất lên để cho thuê ngày càng gia tăng. Cuối năm 1955, tỷ lệ này chỉ có khoảng 8 phần trăm số nhà ở. Đầu thập niên 1960, tỷ lệ này lên đến 24 phần trăm. Hiện nay, nhứt là trong những thành phố lớn, số người ở nhà thuê ngày càng gia tăng. Vì tình trạng tài chính của gia đình cũng có, vì công ăn việc làm cũng có mà vì sở thích cũng có. Người ở nhà thuê luôn có cái cảm giác được tự do. Họ có thể thay đổi chỗ ở bất cứ lúc nào. Giữa đô thị, con người thời đại vẫn có thể sống kiếp “du mục” nay đây mai đó.
Hãy thử tưởng tượng nhịp sống của một viên giám đốc công ty tại Wall Street chẳng hạn.  4.30 chiều mỗi thứ sáu, ông xếp lại giấy tờ và cho vào một chiếc cặp xách tay. Từ tầng lầu thứ 29 của một cao ốc, ông đi thang máy xuống tầng trệt và mất 10 phút để chen chúc trong đám đông mới có thể đến một bãi đậu dành cho trực thăng. 6 phút sau, ông ra đến phi trường J.F Kennedy. Một giờ sau, ông đến phi trường Colombus, tiểu bang Ohio. Từ đây, ông mất khoảng 30 phút để lái xe về nhà.
Mỗi tuần, ông ngủ bốn đêm trong một khách sạn ở Manhattan. 3 đêm còn lại, ông dành cho vợ con tại Columbus. Trung bình, mỗi năm, ông đi đi về về như thế gần một trăm ngàn cây số.
Chuyện đi lại của viên giám đốc trên đây không phải là một trường hợp cá biệt. Tại tiểu bang California, mỗi sáng những chủ nông trại giàu có đều lái máy bay khoảng hai trăm cây số từ nhà của họ ở vùng duyên hải Thái bình dương đến thung lũng San Bernadino Valley để thăm các nông trại và ở lại đó cho đến chiều tối.
Ngày nay, với những phương tiện di chuyển ngày càng tối tân, con người ngày càng đi lại nhiều hơn. Thời đệ Nhứt thế chiến, trung bình một người Mỹ mỗi năm chỉ di chuyển tối đa gần 3 ngàn cây số. Ngày nay, tại Hoa Kỳ cũng như tại Úc Đại Lợi này, những người có xe riêng mỗi năm có thể di chuyển đến 20 ngàn cây số (x. Alvin Toffler, Future Shock, Pan Books, London 1971).
Không quyến luyến với sự vật mình đang xử dụng, không gắn bó với ngôi nhà mình đang ở, phải chăng con người thời đại ở các nước văn minh không có một “quê hương” để nhớ? “Trông người lại nghĩ đến ta”, phải chăng bỏ nước ra đi như tôi là mất quê hương? Tôi còn nhớ, trong những ngày đầu tiên khi từ trại tỵ nạn mới đến Pháp, giấy chứng nhận là người tỵ nạn tôi nhận được có ghi rõ tình trạng của tôi: “vô tổ quốc”, nghĩa là không phải là công dân của một quốc gia nào. “Vô tổ quốc” nhưng không phải là “vô quê hương”. Điều đó có nghĩa là dù có ăn nhờ ở đậu ở đâu, ai cũng còn có một quê hương. Và ngay cả không thể trở về quê hương, họ cũng vẫn mang theo một quê hương trong lòng.
Nghĩ như thế cho nên kể từ lúc bỏ nước ra đi, dù sống ở chân trời góc bể nào, tôi cũng vẫn luôn thấy mình vẫn còn có một quê hương. Người ta có lý để gọi đất nước mình chọn lựa để dung thân là quê hương thứ hai. Quê hương thứ hai không chỉ là lãnh thổ của một đất nước, ngôi nhà mới mình đang cư ngụ, cảnh vườn mới xung quanh nhà, mà còn là hình ảnh của quê hương cũ được mình cố gắng tái hiện bằng nhiều cách. Chính trong ý nghĩ đó mà tôi cố gắng tạo dựng một “quê hương bỏ túi” trong ngôi vườn đàng sau nhà.
Tôi đã có dịp trở lại thăm “quê nhà”. Nhớ quê hương, yêu mến quê hương thì lúc nào tôi cũng có. Nhưng trở về sống ở quê hương bây giờ thì dứt khoát không. Bởi cái quê hương của “riêng” tôi không còn nữa. Không phải vì khung cảnh cũ không còn mà chính là vì cái chất “keo” thiêng liêng của an bình, của đầm ấm giữa xóm làng, giữa người với thiên nhiên trong cái nhìn của tôi không còn nữa. Cũng mảnh đất quê hương ấy, cũng những con người ấy, nhưng cái chất “keo” kia ra vẻ không còn nữa. Nhìn nhau thật sâu nhưng sao không tìm thấy mình trong đáy mắt của người kia. Ngồi cách nhau một mặt bàn mà xa nhau hơn nửa vòng trái đất. Tôi sợ mình sẽ trở thành người xa lạ ngay chính trên quê hương của mình. Nhưng mãi mãi không gì có thể làm cho nguôi ngoai nỗi nhớ quê hương trong tôi.
“Quê hương là chùm khế ngọt”. Đúng vậy, tôi không thể thưởng thức trái khế ngọt trong “quê hương bỏ túi” đàng sau nhà mà không cảm thấy như mình đang sống ở quê hương. Thật ra đâu chỉ có chùm khế ngọt. Một khung cảnh thanh bình, một môi trường lành mạnh, những mối quan hệ tốt đẹp với người lối xóm…ở đâu tôi cảm thấy an bình thì ở đó chính là quê hương của tôi vậy.






Thứ Hai, 9 tháng 4, 2018

Tây Tạng: 60 năm tỵ nạn tại Ấn Độ



06/04/18
Kể từ ngày thứ Bảy 31 tháng Ba vừa qua, người Tây Tạng tại Ấn Độ đã khởi sự một năm gọi là “Cám Ơn Ấn Độ” để đánh dấu 60 năm tỵ nạn tại Ấn Độ và bày tỏ lòng tri ân đối với chính phủ và nhân dân nước này.
Năm 1949, Đảng Cộng Sản cướp chính quyền tại Trung Hoa Lục Địa. Sau khi thu tóm quyền lực trong tay , Mao Trạch Đông tuyên bố rằng Tây Tạng là một phần của lãnh thổ Trung Hoa và nhân dân Tây Tạng đang kêu gào để được “giải phóng” khỏi các đế quốc và khỏi “chế độ phong kiến phản động” tại Lhasa. Ngày 7 tháng Mười năm 1950, khoảng 40.000 bộ đội thuộc Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Cộng đã vượt qua thượng lưu sông Dương Tử, tràn vào miền đông Tây Tạng và chiếm Thành phố Chamdo. Hơn phân nửa của một quân đội chỉ có khoảng 10.000 binh sĩ  của Tây Tạng đã bị Trung Cộng bắt làm tù binh. Khi tiến vào Thủ đô Lhasa, bộ đội Trung Cộng đã giương hình lãnh tụ Mao Trạch Đông lên cao và gọi đây là một cuộc “giải phóng ôn hòa”.
Vào thời đó, Tây Tạng còn là một nước nghèo và cô lập. Tuổi thọ của người dân chỉ có khoảng 36 năm. Chỉ có 5 phần trăm dân số biết đọc biết viết. 95 phần trăm còn lại đều phải sống kiếp nô lệ cha truyền con nối. Tham nhũng và tội ác là hai thứ tệ nạn hầu như không có thuốc chữa. Không có hệ thống trường học, ngân hàng và tiền tệ. Người dân vẫn còn giao dịch bằng sự trao đổi nông sản và thực phẩm. Giai cấp quý tộc trong các tu viện sống nhờ vào lao động và thuế của các nông dân nghèo. Giai cấp thống trị luôn sử dụng bạo động để khước từ mọi cuộc cải cách.
Tuy nhiên, dù Tây Tạng là một nước nghèo và bị cô lập, người dân vẫn luôn ý thức rằng đất nước họ là một quốc gia độc lập. Đứng trước cuộc xâm lăng tàn bạo của Trung Cộng, Chính phủ Tây Tạng liền đưa một thiếu niên mới 16 tuổi vào vị trí lãnh đạo của quốc gia. Người thiếu niên này chính là Đức Đạt Lai Lạt Ma, Bang thiền Lạt Ma thứ 14. Dân chúng Tây Tạng tuôn ra các ngã đường để ăn mừng. Nhưng mặc cho dân chúng Tây Tạng có vui mừng nhảy múa và mặc cho Liên Hiệp Quốc có lên tiếng phản đối, Trung Cộng vẫn tiến hành cuộc xâm lăng của họ.
Nhớ lại biến cố này, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã viết trên tạp chí Time: “Tôi còn rất trẻ khi lần đầu tiên nghe nói đến hai chữ “cộng sản”...Một số vị sư đang dạy kèm cho tôi...đã nói đến sự hủy diệt sau khi người Cộng Sản xâm chiếm Mông Cổ. Chúng tôi không biết gì về ý thức hệ Mar xít. Nhưng tất cả chúng tôi đều lo sợ trước sự hủy diệt và đều khiếp hãi khi nghĩ đến Cộng Sản”.
Sau khi được đưa lên cầm quyền tại Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã được mời sang Trung Cộng để học hỏi về chủ nghĩa Mác xít. Nhà lãnh đạo trẻ rất cảm kích trước những cải tổ tại Trung Hoa. Ngài còn làm thơ để ca ngợi Chủ tịch Mao Trạch Đông. Vị Phật sống chia sẻ: “Chỉ khi được đến Trung Hoa trong hai năm 1954 và 1955 tôi mới thực sự nghiên cứu về ý thức hệ Mác xít và tìm hiểu về cuộc cách mạng ở Trung Hoa. Một khi đã hiểu được chủ nghĩa Mác xít, tôi đã hoàn toàn thay đổi thái độ. Tôi bị lôi cuốn bởi chủ nghĩa Mác xít đến độ đã bày tỏ mong ước được trở thành một đảng viên Cộng Sản”.
Trong suốt thập niên 1950, mặc dù bị đặt dưới sự cai trị của Trung Cộng, phần lớn người Tây Tạng vẫn còn có chút tự do để kinh doanh và Đức Đạt Lai Lạt Ma vẫn tiếp tục sống tại Thủ đô Lhasa. Trung Cộng đã thực hiện một số cải tổ tích cực như xây dựng đường sá, trường học, bệnh viện cũng như để cho người Tây Tạng được tự do thực hành đạo và sống theo tập tục của họ. Tuy nhiên, dần dà Trung Cộng đã thò cánh tay đế quốc của họ ra. Họ sáp nhập hai vùng Kham và Amdo của Tây Tạng vào hai tỉnh của họ là Tứ Xuyên và Thanh Hải. Các tu viện bắt đầu bị cướp bóc và đất đai của giới quý tộc Tây Tạng bị tịch thu.
Sau chuyến đi Bắc Kinh của Đức Đạt Lai Lạt Ma, tình hình trở nên tồi tệ hơn. Mao Trạch Đông đã không ngần ngại nói thẳng với nhà lãnh đạo Tây Tạng rằng “tôn giáo là thuốc độc”. Đây là tiếng súng lệnh để người Cộng Sản tàn phá các tu viện. Hàng ngàn nhà sư và ni cô bị bứng ra khỏi các tu viện. Người Cộng Sản ngày càng để lộ móng vuốt thô bạo của họ.
Năm 1956, trước sự áp bức của Trung Cộng, người dân tại vùng Kham, miền Đông Tây Tạng, đã nổi dậy. Trong hai năm sau đó, cuộc nổi dậy có vũ trang đã lan rộng  đến miền Trung Tây Tạng và nhiều cuộc biểu tình đã diển ra tại Thủ đô Lhasa.
Nhưng biến cố chính trong cuộc nổi dậy của Tây Tạng chỉ thực sự xảy ra vào dịp Năm Mới 1959 của Tây Tạng. Có tin cho biết Đức Đạt Lai Lạt Ma được chính quyền Trung Cộng mời tham dự một buổi trình diễn của một đoàn ca múa của họ. Ngài sẽ tham dự buổi trình diễn văn nghệ mà không có các vệ binh hộ tống. Dân chúng cho rằng Trung Cộng dàn dựng chuyện này để bắt cóc Ngài, cho nên đã kéo nhau đến trước dinh thự mùa hè Norbulinka của Ngài và cương quyết bảo vệ Ngài cho đến cùng. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tuyên bố sẽ không đến tham dự buổi trình diễn. Chính quyền Trung Cộng liền hủy bỏ thỏa hiệp đã được ký kết với Tây Tạng theo đó nước này được tiếp tục hưởng quyền tự trị. Không muốn thấy bạo động và đổ máu, Đức Đạt Lat Lạt Ma đã tình nguyện đến nạp mình. Nhưng Trung Cộng lại cho nã trọng pháo vào dinh thự mùa hè của Ngài.
Ngày 10 tháng Ba năm 1959, Đức Đạt Lai Lạt Ma lại được chính quyền Trung Cộng mời viếng thăm một căn cứ quân sự của họ. Sợ đây có thể là một âm mưu để bắt cóc Ngài, một đám đông lên tới 30.000 người đã tập trung trước dinh thự mùa hè, làm thành một biển người để bảo vệ Ngài. Hai ngày sau, một đám đông gồm khoảng 5.000 người phụ nữ Tây Tạng đã tuần hành qua các đường phố thủ đô. Họ mang theo những biểu ngữ có nội dụng đòi hỏi “Tây Tạng là của người Tây Tạng” và hô lớn khẩu hiệu “Kể từ hôm nay, Tây Tạng là một nước độc lập”. Trung Cộng đưa lính tới bao vây dinh thự, đồng thời cho nã trọng pháo vào dinh thự. Chính thái độ khiêu khích hung hãn này của Trung Cộng đã khiến Đức Đạt Lai Lạt Ma quyết định bỏ nước ra đi. Trong đêm 17 tháng Ba, Ngài đã cải trang thành một binh sĩ và cùng với 52 tu sĩ khác cũng cải trang thành binh sĩ trốn ra khỏi dinh thự mùa hè. Bằng nhiều phương tiện khác nhau và sau nhiều ngày gian khổ, Ngài đã đặt chân đến Ấn Độ ngày 31 tháng Ba năm 1959. Ba ngày sau, Thủ tướng Nehru của Ấn Độ tuyên bố trước Quốc Hội rằng Chính phủ Ấn đã dành cho Đức Đạt Lai Lạt Ma quyền tỵ nạn.
Cùng một lúc với Ngài và sau đó, có khoảng trên dưới 100.000 người Tây Tạng cũng đã trốn khỏi đất nước để xin tỵ nạn tại Ấn Độ. Một trại tỵ nạn lớn đã được thành lập tại Darjeling, gần Dharamsala, nơi Đức Đạt Lai Lạt Ma đặt trụ sở cho chính phủ lưu vong của Ngài. Phần lớn người Tây Tạng đã xin tỵ nạn tại Ấn Độ. Một số khác xin đến Nepal hay một số nước Tây Phương.
Hai ngày sau khi Đức Đạt Lai Lạt Ma trốn thoát, Trung Cộng cho đóng cửa Chính phủ Tây Tạng, xâm chiếm đất đai và bắn phá dinh Potala cũng như đóng cửa tất cả mọi tu viện. Hàng ngàn tu sĩ bị bắt giam tù và đày vào các trại lao động khổ sai. Sau khi Tây Tạng hoàn toàn rơi vào tay mình, Mao Trạch Đông tuyên bố: “Chỉ nội trong 3 tháng nữa, họ sẽ tin vào chủ nghĩa Cộng sản”.
Trong 60 năm qua, Ấn Độ không ngừng xem Đức Đạt Lai Lạt Ma là “người khách được tôn quý nhất của Ấn Độ”. Nhưng với Trung Cộng, vị Phật sống này chỉ là “một con sói đội lốt nhà tu”. Quốc gia cộng sản khổng lồ này không ngừng tố cáo ngài  lãnh đạo “các hoạt động ly khai và chống phá Trung Quốc dưới chiếc áo của tôn giáo với mục đích tách lìa Tây Tạng khỏi Trung Quốc”.
Do áp lực của Trung Cộng chăng, gần đây Ấn Độ xem ra đã không còn tỏ ra mặn mà với Tây Tạng và Đức Đạt Lai Lạt Ma nữa. Đầu tháng Ba vừa qua, Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ đã lên tiếng khuyến cáo Chính phủ Ấn không nên tham dự các cuộc lễ do những người Tây Tạng lưu vong tổ chức để đánh dấu 60 năm tỵ nạn tại Ấn Độ. Bộ Ngoại giao Ấn Độ cho rằng các cuộc lễ do cộng đồng Tây Tạng tỵ nạn tổ chức diễn ra “trong một bối cảnh rất “nhạy cảm” của mối bang giao giữa Ấn Độ và Tây Tạng”.
Lúc đầu, Chính phủ Lưu vong Tây Tạng định tổ chức một buổi lễ tưởng niệm tại Thủ đô New Delhi trong đó Đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ đến đọc diễn văn. Nhưng trước khuyến cáo của Bộ Ngoại giao Ấn Độ, các buổi lễ của người Tây Tạng chỉ diễn ra tại Dharamsala là nơi có trụ sở của Chính phủ Lưu vong Tây Tạng. Dù vậy, Quốc hội Lưu vong Tây Tạng và ban tổ chức các cuộc lễ đánh dấu 60 năm tỵ nạn không đưa ra lý do nào để giải thích tại sao các buổi lễ không được cử hành tại thủ đô Ấn Độ.
Theo các số thống kê mới nhất của Chính phủ Lưu vong Tây Tạng, hiện có trên 128.000 người Tây Tạng đang sống ở nước ngoài. Trong số này có 94.000 người đang tỵ nạn tại Ấn Độ. Khoảng 10.6 phần trăm sống tại Nepal. Phần còn lại sống rải rác tại hơn 30 quốc gia trên thế giới.
Kể từ năm 1974, Đức Đạt Lai Lạt Ma tuyên bố rằng ngài không hề đòi hỏi độc lập cho xứ sở, mà chỉ xin cho Tây Tạng được hưởng một nền “tự trị có ý nghĩa” qua đó Tây Tạng được bảo tồn văn hóa và di sản của mình.
Ấn Độ vẫn luôn giữ lập trường theo đó người Tây Tạng tại Ấn Độ không được “hoạt động chính trị trên đất Ấn Độ”.
Các bản tuyên cáo mới đây của Trung Cộng và Ấn Độ cho thấy chính phủ hai nước có đông dân số nhất thế giới này đang muốn hàn gắn các mối quan hệ sau một năm đầy sóng gió.
Hồi năm ngoái, quân đội của hai nước đã đối mặt nhau trong nhiều tháng trời tại Doklam là một địa điểm nằm dọc theo biên giới của 2 nước, dưới chân dãy Hi Mã Lạp Sơn và gần Bhutan.
Tháng Năm năm ngoái, Ấn Độ đã tẩy chay một cuộc họp thượng đỉnh do Trung Cộng tổ chức tại Bắc Kinh để giới thiệu sáng kiến “Nhất Đới Nhất Lộ” của họ. Ngoài ra, hồi tháng Hai vừa qua,  chuyến viếng thăm của Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Tỉnh bang Arunachal Pradesh, đông bắc Ấn Độ, mà Trung Cộng luôn xem là lãnh thổ của họ, cũng đã tạo ra nhiều căng thẳng ngoại giao giữa Bắc Kinh và New Delhi.
Nay thì xem ra hai quốc gia khổng lồ này muốn cải thiện mối bang giao giữa hai bên. Trong một cuộc họp báo hồi tháng trước, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Cộng, ông Vương Nghị cho biết lãnh đạo của hai nước “đã mở ra một cái nhìn chiến lược về tương lai của mối quan hệ của chúng ta: “Con rồng” Trung Quốc và “Con voi” Ấn Độ không nên đánh nhau, mà phải cùng nhảy múa với nhau”.
Với thiện chí muốn cải thiện mối quan hệ giữa hai bên, tháng Hai vừa qua, Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ, ông Vijay Gokkhale đã sang Bắc Kinh. Ông nói rằng hai bên đã ghi nhận nhu cầu “phải giải quyết những khác biệt dựa trên sự tương kính và nhạy cảm đối với các mối quan tâm, quyền lợi và khát vọng của hai nước”.
Theo dự trù, tháng Sáu tới đây, Thủ tướng Ấn Narendra Modi và Chủ tịch Tập Cận Bình của Trung Cộng sẽ gặp nhau bên lề Hội nghị Thượng đỉnh về Hợp tác tại Thượng Hải.
Dù cho quan hệ giữa Ấn Độ và Trung Cộng có xoay chiều đổi hướng như thế nào đi nữa, Ấn Độ vẫn là một nước dân chủ. Và dù cho tình thế có biến đổi đến đâu, một thực tế mà lịch sử thế giới không thể chối cãi được là: Trung Cộng đã ngang nhiên xâm chiếm một quốc gia độc lập là Tây Tạng và người dân Tây Tạng cùng với nhà lãnh đạo tinh thần của mình là Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tỵ nạn tại Ấn Độ từ 60 năm nay.

(nguồn:
-https://www.historytoday.com/richard-cavendish/chinese-invade-tibet.
-https://edition.cnn.com/2018/03/30/asia/india-tibet-china-dalai-lama )

Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2018

Hòa giải trong sự thật


Chu Thập
Phục sinh 2014
Hôm thứ Hai 7 tháng 4 năm 2014 vùa qua, Cộng hòa Rwanda, một quốc gia nằm ở miền Trung Đông Phi Châu, đã tổ chức tưởng niệm 20 năm cuộc  diệt chủng được xem là khủng khiếp nhứt trong lịch sử nhân loại. Khủng khiếp đến độ, tôi nhớ có đọc một bài tường thuật của một nhà truyền giáo, vốn đã chứng kiến cái cảnh trung bình cứ 10 giây có một người bị tàn sát một cách dã man, đã phải thốt lên: “Có lẽ quỷ dữ đã thoát ra khỏi hỏa ngục!” Chỉ trong 100 ngày, từ ngày 7 tháng Tư đến giữa tháng 7 năm 1994, đã có từ 500 ngàn đến một triệu người, mà phần lớn là người thuộc sắc tộc Tutsi, bị người Hutu sát hại. 20 năm sau, những nỗ lực tái thiết của quốc gia này được thực hiện song song với quyết tâm hòa giải và tha thứ. Một vài hình ảnh về hòa giải và tha thứ được trình chiếu trên Đài SBS trong chương trình tối thứ Ba 8 tháng 4 vừa qua, đã tạo ra trong tôi những cảm xúc thật mãnh liệt. Một phụ nữ Tutsi đã ôm chầm người thanh niên đã từng tấn công cô và tha thứ cho anh, sau khi người thanh niên này bị giam tù 8 năm. Câu chuyện của một người đàn ông khác còn cảm động hơn: anh đã thương và cưới con gái của một người đàn ông Hutu, người đã từng cộng tác vào việc sát hại gần 30 người thân trong gia đình của anh. Cả người phụ nữ lẫn người đàn ông thuộc sắc tộc Tutsi trên đây đều nói rằng họ không thể làm gì khác hơn là hòa giải với và tha thứ cho kẻ thù của mình. Nhưng dĩ nhiên, trên qui mô quốc gia, hòa giải và tha thứ chỉ có thể thực hiện được khi sự thật được nhìn nhận và phơi bày. Tưởng niệm cuộc diệt chủng đối với người dân Rwanda hiện nay chính là nhìn nhận rằng trong lịch sử đất nước đã từng có một cuộc diệt chủng dã man và những người đã từng chủ mưu hay nhúng tay vào tội ác đều phải nhận lãnh trách nhiệm và trả lại công lý cho các nạn nhân. Cũng như sự thật lịch sử về cuộc diệt chủng người Do Thái do Đức quốc xã chủ xướng, sự thật về bất cứ cuộc diệt chủng nào cũng đều phải được nhìn nhận như nền tảng để thực thi hòa giải.
Tại Nam Phi, tuy không có một cuộc diệt chủng trong suốt thời gian cai trị với chính sách phân biệt chủng tộc của thiểu số người da trắng, nhưng liền sau khi người tù của thế kỷ 20 là Nelson Mandela được trả tự do và trở thành người da đen đầu tiên được bầu làm tổng thống của quốc gia này, một Ủy ban có tên là “Sự Thật và Hòa Giải” đã được thiết lập. Mục đích của Ủy ban là kêu gọi tất cả những ai đã từng là nạn nhân của chế độ phân biệt chủng tộc ra làm chứng về tội ác của chế độ. Bên cạnh họ, những người đã từng tham gia vào tội ác trong chế độ này cũng được mời ra cung khai và nhìn nhận trách nhiệm của mình. Nam Phi hiện chưa phải là một nền dân chủ hoàn hảo, nhưng ít ra nền dân chủ này đã đặt nền móng trên sự thật. Không thể nói đến hòa giải và tha thứ khi sự thật không được tôn trọng và cũng không thể có dân chủ thật sự nếu nó không được xây dựng trên sự thật.
Nghe chuyện hòa giải dân tộc diễn ra đó đây trên thế giới, tôi cũng mong sao một ngày nào đó điều này cũng sẽ trở thành sự thật trên quê hương tôi. Tôi mừng thầm khi mới thoáng đọc được lời kêu gọi “lấy chân thành xóa hố sâu thù hận” của thứ trưởng ngoại giao Việt Nam, ông Nguyễn Thanh Sơn. Ông này đã tổ chức được hai chuyến viếng thăm quần đảo Trường Sa dành riêng cho “kiều bào” Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài. Trong lần thứ ba sắp tới, ông loan báo sẽ có lễ cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã tử trận để bảo vệ Hoàng Sa và các thuyền nhân tử nạn. Nghe cảm động muốn rơi nước mắt! Nhưng đọc kỹ bài phỏng vấn ông dành cho báo Tuổi Trẻ hôm 4 tháng Tư vừa qua (x. Đàn Chim Việt.Info 7/4/14), tôi hoàn toàn thất vọng, nếu không muốn nói “nổi giận” là khác.
Trong bài phỏng vấn, ông Nguyễn Thanh Sơn cho biết có mời “một số nhà báo, một số người xưa nay vẫn chống đối rất cực đoan”. Ngoài ra, còn có đại diện của 6 tôn giáo lớn tham dự. Thứ trưởng ngoại giao Việt Nam còn cho biết lễ cầu siêu không chỉ dành riêng cho các anh hùng liệt sĩ của Quân đội nhân dân Việt Nam đã hy sinh trong quá trình bảo vệ biển đảo cũng như “ghi nhận sự hi sinh của những người lính Việt Nam Cộng Hòa trong lực lượng hải quân đã bảo vệ Hoàng Sa năm 1974”. Không gì cảm động bằng khi nghe ông cũng nhắc đến việc “tưởng nhớ và thương tiếc những người dân Việt Nam vô tội đã ra đi và bị chết trong cuối thập kỷ 1970, đầu thập kỷ 1980”. Nhưng cái bộ mặt đểu giả của một tên Việt Cộng chính cống đã hiện nguyên hình khi ông giải thích: “Chúng tôi coi những thuyền nhân tử nạn là nạn nhân chiến tranh, ra đi vì bị tuyên truyền, kích động bởi thông tin một chiều, bởi khó khăn về  đời sống kinh tế và nhiều nguyên nhân khác”.
Một người tỵ nạn cộng sản như tôi không thể không cảm thấy bị xúc phạm khi bị xem như một thành phần bỏ nước ra đi vì “bị tuyên truyền, kích động bởi thông tin một chiều hoặc bởi khó khăn vì kinh tế” chớ không phải vì trốn chạy chế độ cộng sản độc tài khát máu. Tôi lại càng cảm thấy bị xúc phạm hơn nữa khi ông Nguyễn Thanh Sơn bảo rằng trong “rất nhiều năm qua, một số bà con cô bác chúng ta ở bên ngoài nghe thông tin một chiều, hiểu không đúng về tình hình đất nước, đặc biệt là chủ quyền biển đảo”.
Thì ra, ở đâu đó trên thế giới, hòa giải dân tộc là chuyện có thực. Còn tại Việt Nam ngày nay, dưới những khẩu hiệu hoa mỹ như “lấy chân thành xóa hố sâu hận thù”, hòa giải dân tộc chỉ là trò giả nhân giả nghĩa mà thôi. Tôi không tin có một người cộng sản nào dám nói và sống cho sự thật. Đã nói và sống cho sự thật thì còn gì là “cộng sản” nữa. Xét về lý thuyết, tôi chẳng hiểu hoặc chỉ hiểu lơ tơ mơ về ý thức hệ cộng sản. Nhưng nếu có ai định nghĩa “cộng sản” thiết yếu, nghĩa là tự bản chất, là “dối trá” thì tôi tin như kinh tin kính.
Theo tôi, để thực sự có hòa giải dân tộc thì trước tiên những người cộng sản phải nhìn nhận và tôn trọng sự thật đã. Trước hết là sự thật về con người của ông Hồ Chí Minh. Cho tới nay, đàng sau cái lớp phấn sáp bao phủ cái xác ướp thối tha đang được đặt trong lăng Ba Đình, là cả một trời “dối trá”: dối trá do chính ông Hồ tự dựng lên về mình để tự đưa mình lên chín tầng trời của tài năng và đức độ, dối trá do cả một chế độ độc tài đã “phịa” ra từ gần 70 năm nay.
Sau sự thật về con người của ông Hồ Chí Minh, những người cộng sản cũng phải nhìn nhận sự thật về không biết bao nhiêu tội ác mà ông Hồ đã gây ra cho các thành viên của các Đảng phái bên ngoài cộng sản, những người đã góp phần cho ông đưa cộng sản lên nắm chính quyền. Lịch sử vẫn còn đó. Người Việt Nam trong nước, vì chỉ biết thông tin một chiều, có thể không biết hoặc không màng đến sự thật ấy. Nhưng ở nước ngoài, nhứt là trong thời đại thông tin toàn cầu và sau khi chủ nghĩa cộng sản Liên Xô đã cáo chung và các chế độ cộng sản Đông Âu đã sụp đổ, người Việt tỵ nạn đang sống trong những nước dân chủ và tự do không hề bị thông tin một chiều lung lạc! Sự thật lịch sử đều đã được phơi bày rành rành ra đó.
Làm sao chối cãi được sự thật về cuộc Cải cách ruộng đất “long trời lở đất” khiến cho bao nhiêu người vô tội đã bị sát hại bằng những phương pháp tàn bạo chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại. Phủ nhận sao được sự thật về những cuộc đấu tố dã man đối với các văn nghệ sĩ Miền Bắc trong thời Nhân Văn Giai Phẩm. Nhắm mắt làm ngơ sao được trước biến cố Mậu Thân ở Huế, trong đó có cả hàng ngàn người bị hành quyết hoặc chôn sống một cách dã man. Còn có chút lương tri liệu có thể không nhìn nhận thảm cảnh của “triệu triệu (chớ không phải chỉ có một triệu như cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói) người buồn” trong khi chỉ có “một triệu người vui” vì cuộc chiến phi lý dã man do những người cộng sản chủ xướng không? Và có lẽ phải đui mù, điếc lác cả thể lý và tinh thần thì may ra mới không nhìn nhận rằng bao nhiêu quân cán chính của Việt Nam Cộng Hòa đã bị đày đọa và hành hạ cho đến chết trong những trại khổ sai được ngụy tạo dưới danh nghĩa “trại cải tạo”.
Và ngày nay, liệu có phải là chuyện thông tin một chiều không khi người dân trong nước cũng như ở hải ngoại cứ phải chứng kiến và nghe những vụ cướp ngày diễn ra như cơm bữa hoặc bao nhiêu người thiện chí cứ mở miệng góp ý, phê bình là bị tù, có khi cho đến chết như trường hợp mới nhứt là thày giáo Đinh Đăng Định. Nói gì đến những tệ nạn xã hội và thảm kịch của người phụ nữ Việt Nam phải bị bán đi làm vợ cho tứ phương thiên hạ. Nói gì đến chuyện người Việt Nam đi đến đâu cũng đều bị các nước láng giềng kêu gọi đề cao cảnh giác vì thói ăn cắp vặt hoặc chẳng có chút tư cách nào trong việc ăn uống trong các nhà hàng. Đó không phải là sự thật sao?
Xét cho cùng, chỉ có một sự thật mà người cộng sản phải nhìn nhận nếu muốn thực thi hòa giải: kể từ khi chủ nghĩa cộng sản bị áp đặt xuống Miền Bắc và kể từ khi Miền Nam Việt Nam bị “cướp” theo đúng nghĩa, cả dân tộc Việt Nam đã và đang  bị đọa đày trong lầm than, khốn khổ, nô lệ và chết chóc.
Là một tín hữu Ki-tô, trong những ngày này, khi thế giới Ki-tô giáo đang chuẩn bị mừng Lễ Phục Sinh, tôi thường suy nghĩ về hai chữ “hòa giải”. Các tín hữu được khuyến khích “hòa giải” với tha nhân xuyên qua việc xưng thú tội lỗi của mình. Sự việc diễn ra một cách kín đáo, chẳng ai biết được người tín hữu “xưng thú” điều gì khi họ đến gặp linh mục. Chỉ có điều chắc chắn là để được hòa giải với tha nhân, họ cần phải nhìn nhận những lỗi phạm và bất công cách này hay cách khác mình đã gây ra cho tha nhân. Niềm vui lớn nhứt mà có lẽ người tín hữu cảm nhận được khi hòa giải với tha nhân chính là cảm thấy mình được “giải thoát”: giải thoát khỏi xiềng xích của ích kỷ, hận thù và nhứt là dối trá.
Suy nghĩ về hai chữ “hòa giải”, tôi không thể không nhớ lại lời dạy của Chúa Giêsu: “Sự thật sẽ giải phóng anh em” (Ga 8,32).
Kể từ khi Miền Nam Việt Nam bị cộng sản “cướp”, ý nghĩa của hai chữ “giải phóng” đã hoàn toàn bị đảo lộn. Kẻ nô lệ tự cho mình là người giải phóng.  Ít ra có một người, vốn chỉ biết thông tin một chiều, là nhà báo Huy Đức cuối cùng đã “ngộ” ra rằng không phải bên “thắng cuộc” là người cộng sản mới là người giải phóng, mà chính người dân Miền Nam mới thực sự là người giải phóng, bởi lẽ chính họ mới mở mắt cho người miền Bắc biết được thế nào là dối trá, thế nào là sự thật và thế nào là tự do. Bao lâu vẫn còn bị trói buộc trong xiềng xích của hận thù và dối trá, nghĩa là không chịu nhìn nhận tội ác mình đã và đang gây ra cho dân tộc, thì xin chớ nói đến “giải phóng” và nhứt là hòa giải, bởi lẽ hòa giải chỉ có trong sự thật mà thôi.
Mà Sự Thật liệu có còn tồn tại ở Việt Nam sau gần bảy thập niên qua hay không?











Thứ Năm, 5 tháng 4, 2018

Tài sản quý giá nhứt của một con người


Chu Thập
06/04/18
Tôi thích đọc Phạm Tín An Ninh. Có những truyện tôi đọc đến ba bốn lần. Truyện nào của ông cũng là chuyện người thật việc thật.  Lý do tôi thích đọc nhà văn này thật đơn giản: tôi là dân Khánh Hòa. Tôi đọc truyện của nhà văn này để sống lại tuổi thơ ở nhà quê, nhìn lại những thôn làng trong tỉnh tôi đã từng đặt chân đến, đi lại những con đường quen thuộc ở Nha Trang trước năm 1975 hay ngay cả gặp lại một người mình đã từng quen biết.
Bên cạnh lý do “thấy sang bắt quàng làm quen” ấy, tôi “mê” Phạm Tín An Ninh là vì truyện nào của ông, nếu không đầy ắp tình người thì lúc nào cũng thôi thúc người đọc đi tìm những giá trị mà tiền bạc, danh vọng, chức quyền không thể mang lại.
Mới đây tôi đọc lại truyện “Nguồn Cội Xa Xăm” trong tuyển tập “Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân”, tuyển tập thứ hai của nhà văn Phạm Tín An Ninh, được tái bản tại Úc Châu hồi năm 2011. Cũng là chuyện người thật việc thật. Trong truyện, ông kể lại chuyện tình của một người bạn mà ông đã quen trong quân trường Thủ Đức. Đẹp trai, hào hoa, phong nhã và thông minh, sau khi ra trường ông bạn người Vĩnh Long này lên như diều gặp gió trong quan lộ cũng như trong tình trường. Sau một thời gian làm việc tại một quân trường ở Nha Trang, ông bạn này báo tin cho nhà văn Phạm Tín An Ninh rằng mình sắp cưới vợ và vợ ông là ái nữ của một nhà thầu giàu có ở Nha Trang. Phạm Tín An Ninh được  dành cho vinh dự làm phù rể trong lễ cưới. Nhưng đám cưới đã không thành. Ông bạn người Vĩnh Long cho biết sắp đến ngày cưới, bà già vợ tương lai của ông bất thần tuyên bố từ chối cuộc hôn nhân. Lý do bà đưa ra rất cụ thể: tiền! “Bà hỏi ông già tao: Ông hỏi con trai ông là lương tháng của cậu ta có đủ cho con gái tôi mua phấn son cho nó hay không mà đòi cưới với hỏi”.
Nhưng người bạn này đã không bỏ cuộc. Áp dụng chiến thuật “tiền pháo hậu xung” được nhà văn gợi ý, cuối cùng bạn ông cũng đã làm cho bà già vợ xiêu lòng và đành phải chấp nhận đám cưới.
Lanh lợi, xông xáo trong mọi tình huống cho nên khi Sài Gòn thất thủ, người bạn của Phạm Tín An Ninh cũng thành công trong việc đưa cả vợ con sang Mỹ. Tại đây chỉ sau một thời gian ngắn ông đã trở thành một  doanh gia giàu có.
Giàu có, nhưng ông không cảm thấy hài lòng với cuộc sống gia đình. Về con cái, ông tâm sự với nhà văn: “Tụi nó lấy vợ Mỹ, chồng Mỹ. Bây giờ tụi nó thành Mỹ hết. Cả năm nay tao chưa gặp tụi nó. Còn bọn nó đâu có rảnh. Có vacation là tụi nó đưa vợ con nó đi đó đi đây. Lâu lâu tụi nó gọi phône hỏi thăm tao vài câu. Còn bà vợ tao nói tiếng Anh giọng Hà Nội, nên mỗi lần nhớ cháu, mới nói một hai câu là tụi nó nói không hiểu, rồi cúp phône luôn. Nghĩ lại, “lỗi tại ta mọi đàng”. Sang đây vợ chồng tao cứ lo làm giàu. Tao nghĩ ở Việt Nam, vì gia đình tao nghèo nên bị người ta khinh rẻ. Mặc dù tao cũng có chức có tước như ai. Tao nghĩ có tiền là có tất cả. Tao nhất định phải rửa cái hận nghèo. Vì vậy mà đâu có còn thì giờ để gần gũi con cái, cứ bắt tụi nó phải học, cho nó ở hẳn trong “dorm” (nội trú), không cho nó kết bè kết bạn với đám nhỏ Việt Nam, để cho tụi nó sớm thành Mỹ, mà phải là Mỹ thượng lưu, trí thức. Bây giờ nó đã thành Mỹ thiệt rồi, thì càng lúc tao thấy càng cách xa tụi nó, có khi mất luôn. Tính ra con cháu cũng cả đàn đó chứ, vậy mà bây giờ nhìn trước nhìn sau cũng chẳng có ai. Không biết về già vợ chồng tao sẽ sống ra sao đây, vào viện dưỡng lão thì chán chết”.
Riêng về quan hệ với bà già vợ, người bạn của nhà văn Phạm Tín An Ninh cho biết: sang Mỹ, ông đã mua cho ông bà già vợ một ngôi nhà cả triệu đô và giúp cho đám em vợ học hành đến nơi đến chốn. Ông giải thích: “Tao làm cho bà ấy thấy tiền bạc có nghĩa gì đâu, mà ngày xưa bả khinh rẻ gia đình tao, làm cho ba tao buồn đến phải bệnh luôn. Cả đời này tao sẽ còn hận bà”. Hận đến độ chỉ có vợ ông lâu lâu về thăm bà, còn ông thì không bao giờ muốn gặp lại bà, bởi vì “mỗi lần gặp lại bà tao lại nghĩ đến nỗi hận của ba tao”.
Thông điệp mà nhà văn Phạm Tín An Ninh muốn nhắn gởi thật rõ ràng: “Tiền bạc có nghĩa gì đâu”. Tiền bạc, nhứt là tiền bạc phi nghĩa và bất chính, không bao giờ là thước để đo giá trị của một con người. Ngay cả sự thịnh vượng của một quốc gia cũng không tự nó đủ  nói lên sự vĩ đại của một đất nước. Còn có những giá trị khác mà tiền bạc và sự giàu có không thể mang lại.
Trong quan hệ giữa người với người, tôi thấy mình dễ bị đánh động và thu hút bởi một người giàu về những đức tính nhân bản và đạo đức hơn là giàu của cải vật chất hay ngay cả giàu về trí thông minh. Nói chung, những giá trị đạo đức là yếu tố quan trọng nhứt để chúng ta đánh giá về một người khác. Một cách cụ thể, tôi tôn trọng và thích người nào biết sống tử tế, biết cảm thông và có lòng yêu người hơn là một người giàu có, thông minh mà tráo trở. Sở dĩ những giá trị đạo đức và nhân bản có một tầm quan trọng đặc biệt để tôi thẩm định về giá trị của người khác là bởi vì một cách nào đó những giá trị ấy mang lại cho tôi sự tin tưởng. Khi tôi biết ai đó là một người lương thiện, có lòng thương người và biết cảm thông, thì tự nhiên tôi cảm thấy an toàn khi giao dịch và ngay cả “làm ăn” với người đó. Ở bất cứ quy mô nào và trong bất cứ lãnh vực nào cũng thế, sự tin tưởng chỉ có thể đặt trên những giá trị đạo đức.
Gần đây, ở Úc đã nổ ra vụ tai tiếng về gian lận trong vụ thi đấu Cricket tại Nam Phi. Đã hơn 2 tuần nay, hầu như ngày nào các cơ quan truyền thông ở Úc cũng đều đưa vấn đề ra mổ xẻ. Trong các bộ môn thể thao, tôi hoàn toàn mù tịt về Cricket. Có lẽ do tuổi già chăng, được giải thích cặn kẽ không biết bao nhiêu lần, tôi cũng chẳng hiểu và thưởng thức được nghệ thuật của bộ môn thể thao này. Thành ra, cứ mỗi lần có tin liên quan đến Cricket, tôi đều lướt qua hay phớt lờ. Nhưng mấy ngày vừa qua, tôi bị bắt buộc phải theo dõi tin tức về môn thể thao này là bởi vì sự gian lận của thủ quân của đội tuyển Úc bị bắt quả tang và sự gian lận này lại có liên quan đến một số cầu thủ khác cũng như giới lãnh đạo của đội tuyển. Sự gian lận trầm trọng đến độ chính Thủ tướng Malcolm Turnbull cũng phải lên tiếng.
Gian lận là một hành động thuộc phạm trù đạo đức. Dù cho kỹ thuật gian lận có tinh vi đến đâu, nó vẫn là một hành vi vô đạo đức và chẳng có ai tán thành hay ca ngợi một hành vi vô đạo đức cả. Sự gian lận đã làm cho sự nghiệp thể thao của không biết bao nhiêu tuyển thủ tan thành mây khói.
Trong sinh hoạt chính trị cũng thế thôi. Đặc biệt ở Mỹ, dường như người ta xem trọng các giá trị đạo đức trong sinh hoạt chính trị. Trăng hoa nham nhở một chút mà bị khám phá là tiêu tan sự nghiệp. Lỡ có thành tích hành hung vợ cũ thôi một ông phụ tá của Tổng thống Donald Trump phải từ chức. Chuyện lùm xùm của ông Trump với một cô người mẫu hay một nữ tài tử đóng phim khiêu dâm cũng bị bới móc và đàm tiếu. Nhiều người nhớ lại chuyện tai tiếng tình dục khiến Tổng thống Bill Clinton suýt bị bãi nhiệm. Nói chung, khác với các nước Tây Phương, như Pháp chẳng hạn là nơi mà xem ra người dân vẫn tỏ ra tỉnh bơ trước việc một ông tổng thống có vợ bé hay một ông tổng thống đêm đêm cải trang và leo lên xe mô tô để đi thăm bồ, người dân Mỹ nói chung xem trọng những giá trị đạo đức mà những người cầm cân nẩy mực luôn được đòi hỏi phải tôn trọng, thực thi và xiển dương. Người ta không chỉ đánh giá một nguyên thủ quốc gia dựa trên tài kinh bang tế thế, mà còn trên những giá trị đạo đức nữa. Xét cho cùng sức mạnh của một quốc gia không chỉ được thể hiện qua một quân đội hùng mạnh, những vũ khí tối tân, một nền kinh tế mạnh hay mức thất nghiệp thấp, mà còn qua những phúc lợi tinh thần nữa. Xét cho cùng, cũng như trong việc đánh giá một cá nhân, các giá trị đạo đức cũng là một yếu tố quan trọng hàng đầu để thẩm định về sức khỏe của một đất nước. Dân giàu nước mạnh đâu chỉ là chuyện súng đạn và cơm bánh, mà còn ở những giá trị đạo đức và nhân bản làm nên con người.
Trong các cộng tác viên của Tổng thống Trump bị ông sa thải hay tự ý từ chức, tôi thấy “thích” cựu Bộ trưởng Ngoại giao Rex Tillerson. Cựu chủ tịch và giám đốc điều hành của công ty ExxonMobil này nổi tiếng là một nhà thương thuyết tài ba. Nhưng với vai trò ngoại trưởng Mỹ trong 13 tháng vừa qua, theo nhận định của nhiều cơ quan truyền thông, ông đã chẳng lập được thành tích đáng kể nào. Đặc biệt trong cuộc khủng hoảng ở Bán đảo Triều Tiên, theo một lời tuyên bố của Tổng thống Trump, người chỉ muốn tiêu diệt một quốc gia Bắc Hàn côn đồ bằng “nộ khí và lửa”, thì Ngoại trưởng Tillerson chỉ làm “mất giờ” vô ích mà thôi. Không biết có phải vì làm “mất giờ” hay vì dám gọi Tổng thống Trump là một kẻ “ngu đần” (moron) không mà Ngoại trưởng Tillerson đã bị sa thải chỉ bằng một cái “tuýt” của Tổng thống Trump.
Có thể tôi chủ quan, nhưng sở dĩ tôi “thích” ông là vì dựa vào  những tiêu chuẩn thông thường mà tôi thường có để đánh giá về người khác. Tôi thấy có thể đặt tin tưởng nơi một mẫu người như ông. Trong suốt 13 tháng làm ngoại trưởng, ông Tillerson đã chẳng để lại một câu nói nào đáng ghi nhớ. Nhưng trong bài diễn văn từ giã đọc trước toàn thể nhân viên của Bộ Ngoại giao hôm thứ Năm 22 tháng Ba vừa qua, ông đã biểu lộ một nhân cách đáng kính phục. Tôi ghi nhận được một lời khuyên nổi bật trong bài diễn văn của ông: “Đừng bao giờ xem thường tài sản quý giá nhất mà các bạn đang có: đó là danh dự của quý vị!  Chẳng có ai trong các bạn được ban tặng cho điều đó. Các bạn được sinh ra cùng với nó. Nó thuộc về các bạn và mãi mãi thuộc về các bạn và chỉ một mình các bạn mà thôi. Chỉ có các bạn mới rời bỏ nó hay cho phép nó bị cướp mất vì thỏa hiệp. Nếu các bạn để cho điều đó xảy ra, thì rất khó mà lấy lại nó. Các bạn hãy gìn giữ nó như tài sản quý giá nhất mà các bạn đang có”
(http://abcnews.go.com/Politics/spirited-town-tillersons-goodbye).
Có thể ông Tillerson đã thất bại trong vai trò ngoại trưởng. Nhưng với tôi, ông đã thực sự thành công và thành công lớn nhứt của ông chính là trong một môi trường chính trị xôi thịt, bát nháo, ông  đã bảo tồn được tài sản quý giá nhứt của một con người mà tiền bạc và địa vị không thể cướp mất được. Tài sản đó chính là danh dự!