Thứ Sáu, 16 tháng 3, 2018

Làm trai, làm người!




Chu Thập
09/03/18

Khoảng giữa thập niên 1950, lũ con nít trai bình thường như tôi ai cũng mê phim cao bồi cả. Những đứa con trai “bình thường”, như tôi hiểu, là những đứa thích câu cá, bắn chim, đá banh, đánh nhau, ăn trộm trái cây trong vườn người khác, “phá xóm phá làng”. Mẹ tôi lúc nào cũng la rầy về chuyện lũ trẻ chúng tôi “tùng tam tụ ngũ” để “quậy”.  Nhưng ít ra, đã tới tuổi mà nhà đạo của tôi gọi là “có trí khôn”, tôi đã biết lơ mơ nhận ra ranh giới giữa phải và trái, giữa thiện và ác. Cho nên phim cao bồi đối với tôi cũng là một thứ bài học “luân lý giáo khoa thư” về cuộc chiến giữa thiện và ác: kẻ gian ác lúc nào cũng phải đền tội, người ngay lành lúc nào cũng chiến thắng! Và dĩ nhiên, các anh hùng trong phim cao bồi lúc nào cũng là người ngay dùng súng để trừ gian diệt tặc. Thời đó, “người Quang Trung” của nhà văn Duyên Anh chưa chào đời, cho nên lũ trẻ chúng tôi chỉ mơ được làm những “Rô Be Tay Lo” (Robert Taylor) và Ga Ry Cúp Bơ (Gary Couper). Những tay súng này bắn chính xác đến độ không cần phải nhắm. Cứ hễ bóp cò nhả đạn là phải có một tên gian ác nằm xuống. Trong nhà không có súng như bên Mỹ, nhưng trên tay lũ trẻ chúng tôi lúc nào cũng có ná thun. Bắn chim là chính, mà bắn nhau không phải là không có. Đầu trên và xóm dưới, phe “có đạo” và phe “bên lương”, chẳng có thù hận gì cả, nhưng lũ trẻ chúng tôi thích chia phe để mở những trận thư hùng. “Binh pháp” trong các phim cao bồi được mang ra áp dụng triệt để. Chẳng có thằng Tây nào chết cả. Nhưng  được làm người hùng trong các phim cao bồi cũng đủ để thỏa mãn khát vọng được hết mình làm con trai của lũ trẻ chúng tôi.
Tôi đã lớn lên với “lý tưởng” cao bồi như thế. Ngay cả ngày nay, già đầu rồi, tôi vẫn còn thích các loại phim “Viễn Tây” (Western) và các thể loại “hành động” (Action). Dễ hiểu lại mua vui cũng được một vài trống canh. Nhưng dĩ nhiên, các tay cao bồi như Clint Eastwood hoặc những vai u thịt bắp như Sylvester Stallone hoặc biến báo như  James Bond không còn là người hùng lý tưởng của tôi nữa. Tôi đã đủ khôn lớn để nhận ra khoảng cách vời vợi giữa sân khấu và cuộc đời và ngay cả giữa bục giảng và đời thường.
Một thí dụ điển hình cho thấy khoảng cách ấy là trường hợp của cựu Tổng thống Joseph Estrada bên Phi Luật Tân vào cuối thập niên 1990. Học hành không tới đâu, nhưng nhờ tài diễn xuất, ông đã trở thành thần tượng và người hùng của đám dân nghèo Phi. Người hùng trừ gian diệt tặc trong phim trường đã lên như diều gặp gió trên sân khấu chính trị: từ thị trưởng, thượng nghị sĩ, ông đã được bầu làm tổng thống thứ 13 của Phi Luật Tân. Trong một đất nước ngóc đầu lên không nổi vì nạn tham nhũng, người dân nghèo cứ tưởng người hùng trên màn ảnh này sẽ bắn bỏ hết những tên tham nhũng để mang lại công bình xã hội cho họ. Nhưng niềm tin của người dân nghèo Phi đã được đặt không đúng chỗ: người hùng trên màn ảnh mà họ đã đưa lên sân khấu chính trị đã hiện nguyên hình nguyên trạng là tổ sư tham nhũng. Cũng may, người dân Phi đã kịp thời tỉnh thức: người hùng trên màn ảnh Estrada đã bị truất phế và kết án chung thân vì tội tham nhũng!
Nổi tiếng trên màn ảnh, nổi tiếng về tham nhũng và ăn chơi đàng điếm, cựu Tổng thống Estrada cũng nổi tiếng về sự dốt nát và ngớ ngẩn của ông. Ông đã trở thành đề tài của không biết bao nhiêu câu chuyện tiếu lâm của người dân Phi.
Không hiếu sao cứ nhớ đến cựu tổng thống Estrada của Phi Luật Tân, tôi lại liên tưởng đến đương kim Tổng thống Mỹ Donald Trump. Phải nhìn nhận rằng cả hai ông tổng thống này đều là những diễn viên xuất sắc. Joseph Estrada thủ vai chính trong rất nhiều phim “hành động” ăn khách  của Phi Luật Tân. Còn Donald Trump thì nổi tiếng trên các chương trình truyền hình thực tế, nhứt là loạt phim “The Apprentice”. Cả hai cũng đều thích đóng vai người hùng! Tôi không muốn nói tới thói trăng hoa của hai ông.
Riêng Tổng thống Trump còn lên giọng định nghĩa thế nào mới thực sự là người hùng. Trong thời gian vận động bầu cử, ông đã lên tiếng chê Thượng nghị sĩ John McCain. Thượng nghị sĩ McCain đã từng là một trung úy phi công bị Việt Cộng bắn hạ, bắt làm tù binh và giam tù nhiều năm tại nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội. Theo lẽ thường, bấy nhiêu khốn khó trong binh nghiệp như thế cũng đủ để được tổ quốc trao tặng tước hiệu anh hùng. Nhưng ứng cử viên Trump thì lại cho rằng đã bị bắt làm tù binh thì chẳng đáng được gọi là anh hùng nữa.
Tội nghiệp Thượng nghị sĩ McCain, bởi vì người lên tiếng tước đoạt tước vị anh hùng của ông lại là người, trong cuộc chiến Việt Nam, đã từng “trốn lính” nhờ khai chân bị mọc nhánh (bone spurs) để được ghi danh học đại học và tiếp tục chơi thể thao!
Phủ nhận tước hiệu anh hùng của Thượng nghị sĩ McCain, Tổng thống Trump muốn chứng tỏ ông mới thực sự là anh hùng qua một lời tuyên bố chỉ khiến cho nhiều người Mỹ tức giận và vô số người trên thế giới cười nhạo. Số là sau cuộc thảm sát tại trường trung học Parkland, Tiểu bang Florida, trong một cuộc gặp gỡ với một số giới chức của chính quyền địa phương trong tiểu bang, Tổng thống Trump đã gọi viên cảnh sát có mặt ở hiện trường mà không chịu can thịp kịp thời là một tên hèn nhát. Sau đó, người hùng “nổ bạo” rằng nếu có mặt trước sân trường và ngay cả không có súng trong tay, ông cũng sẽ “xông” vào để diệt trừ tên hung thủ. Nếu dựng thành phim thì chắc chắn đây sẽ là một pha rất gay cấn và hấp dẫn: người hùng Trump, với hai tay không, dám nhào vào làn tên lửa đạn để trừ gian diệt tặc! Chỉ có điều, theo các chuyên gia tâm lý, khoảng cách giữa lời tuyên bố của ông Trump và hành động có khi là cả vực thẳm. Có cả núi tài liệu nghiên cứu của các chuyên gia tâm lý cho thấy rằng con người thường hành động bằng những cách thế hoàn toàn khác với những gì họ nghĩ là họ phải làm khi đối đầu với một hoàn cảnh thực tế 
(x.https://www.psychologytoday.com/blog/darwins-subterranean-world/201802/why-we-marched-science).
Tổng thống Trump thích làm người hùng. Dĩ nhiên theo cách thế thường không giống ai của ông. Nói chung, ông thích tỏ ra mình là một người đàn ông thứ thiệt: một người đàn ông muốn sàm sỡ với phụ nữ lúc nào mình muốn, một người đàn ông thích tấn công bằng thứ ngôn ngữ thô lỗ, tục tằn và nhứt là dùng sức mạnh của súng đạn để đe dọa kẻ thù. Cứ nhìn vào cảnh ông cầm súng trên tay. Cứ nhìn vào cách ông ăn miếng trả miếng với nhà độc tài trẻ con Kim Jong Un của Bắc Hàn cũng đủ để thấy thứ nam tính mà Tổng thống Trump muốn thể hiện.
Thật ra, sức mạnh đích thực của nam tính đâu có nằm trong bắp thịt, gươm giáo, súng đạn hay những lời nói cộc cằn thô lỗ. Tổng thống Trump đưa rất nhiều tướng lãnh vào nội các. Ông đã gia tăng ngân sách quốc phòng. Ông đòi hỏi phải củng cố và hiện đại hóa kho vũ khí hạt nhân của Hoa Kỳ. Mới đây, ông còn muốn tổ chức một cuộc duyệt binh rầm rộ để phô diễn sức mạnh quân sự của Mỹ . Ông thường lên tiếng ca ngợi các nhà độc tài hay các nhà lãnh đạo có khuynh hướng độc tài. Ông tán thành việc Tổng thống Rodrigo Duterte của Phi Luật Tân giải quyết vấn đề ma túy bằng cách ra lệnh bắn giết vô tội vạ. Và nhứt là mới đây, ông lên tiếng ca ngợi Chủ tịch Tập Cận Bình khi ông này được Quốc hội Trung Cộng trao quyền cai trị mãn đời. Khi được hỏi về việc Tổng thống Trump đưa nhiều tướng lãnh vào nội các và thường ca tụng các nhà độc tài,  một chuyên gia tâm lý giải thích rằng những cậu con trai tuồi từ 6 đến 10 “thường say mê nhân vật Siêu Nhân (Superman)” hay các nhân vật có sức mạnh huyền thoại.
(x.https://www.nytimes.com/2018/02/27/opinion/donald-trump-masculinity.html). Y chang như thằng tôi lúc 6, 7 tuổi. Ngày nay, không thiếu những “cụ già” 72 tuổi như tôi vẫn còn giữ quan niệm về nam tính của tuổi thiếu nhi.
Quan niệm về nam tính của tôi biến chuyển theo thời gian cùng với những người hùng trên màn ảnh. Lúc nhỏ, tôi cho rằng người đàn ông lý tưởng phải hành động và cư xử lạnh lùng và tàn bạo như các tài tử Robert Taylor, Gary Couper, Clint Eastwood hoặc nổi loạn cho tới cùng như Marlon Brando. Ngày nay, những người hùng “cơ bắp” cùng tuổi với tôi như Arnold Schwarzenegger hay Silvester Stallone hay James Bond giúp tôi giải trí khi gặp căng thẳng trong cuộc sống, nhưng không thể là mẫu người đàn ông lý tưởng của tôi nữa.
Nếu phải đi tìm một người hùng trong phim ảnh, tôi thích người hùng Spiderman hơn. Tuy chỉ có trong chuyện khoa học giả tưởng, Spiderman, ngoài sức mạnh phi thường, lại có nhiều tính người và gần gũi với tôi hơn, bởi vì đó là một mẫu đàn ông biết khóc, biết cảm thông và nhứt là biết xem trọng trách nhiệm trong việc sử dụng quyền lực.
Còn nếu phải đi tìm một mẫu đàn ông lý tưởng trong cuộc sống, tôi nghĩ ngay đến Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của Phật Giáo Tây Tạng. Không có lấy một khẩu súng trong tay, nhưng có lẽ ít có ai có được một sức mạnh như nhà lãnh đạo tinh thần này. Sức mạnh đó chính là sức mạnh của tử tế, yêu thương, khoan nhượng, cảm thông và tha thứ. Với tôi, ngài mới thực sự là một mẫu người hùng lý tưởng.
Mới đây, tôi có gặp một cô gái Úc gốc Việt đang làm việc trong kỹ nghệ điện ảnh. Cô là người Việt tỵ nạn thuộc thế hệ thứ hai, nghĩa là sinh ra và lớn lên tại Úc. Cô cho biết hiện đang thai nghén một tác phẩm truyền hình về người Việt thuộc thế hệ thứ hai. Chủ đề được cô khai thác trong câu chuyện sẽ là cuộc khủng hoảng về căn tính (Identity crisis) của người Úc gốc Việt thuộc thế hệ của cô. Theo cô rất nhiều người Việt thuộc thế hệ của cô thường nêu lên câu hỏi: tôi là ai?
Cuộc trao đổi giữa chúng tôi làm nổi bật một sự khác biệt mà lâu nay tôi ít quan tâm tới. Những người Việt tỵ nạn như tôi, vốn sinh ra và lớn lên trong một nền văn hóa đặt nặng truyền thống gia đình, thường không nêu lên câu hỏi về căn tính của mình. Thật vậy, kinh nghiệm bản thân cho tôi thấy mình chẳng bao giờ phải bận tâm và thắc mắc về câu hỏi: tôi là ai?  Trái lại điều khiến tôi quan tâm nhiều hơn chính là phải sống như thế nào cho phải đạo làm người.
Cuộc diễn hành rầm rộ “Mardi Gras” của cộng đồng đồng tính tại Sydney hồi tuần trước lại khiến tôi suy nghĩ nhiều về câu hỏi được cô gái gốc Việt trên đây nêu lên. Lúc nhỏ và cho tới thời gian gần đây, tôi luôn nhận ra ranh giới rạch ròi và trắng đen trong giới tính: trong xã hội loài người, chỉ có hai giới tính là nam và nữ. Nhưng sự lộ diện ngày càng rõ ràng và mạnh dạn của cộng đồng đồng tính và sự kiện nhiều nước đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính, khiến tôi phải mở rộng tầm nhìn và tinh thần khoan nhượng hơn. Quanh tôi không chỉ  không có con trai và con gái, không chỉ có đàn ông và đàn bà, mà còn có vô số người thuộc một số khuynh hướng tính dục hoàn toàn nằm bên ngoài làn ranh của nam giới và nữ giới. Quan trọng hơn cả là họ cũng là những con NGƯỜI bình thường như tôi. Đó là một thực tế tôi phải chấp nhận và tôn trọng. Bên kia những khác biệt về giới tính, câu hỏi được đặt ra cho mọi người, theo tôi nghĩ, có thể không còn là “tôi là ai?”, mà là tôi phải sống như thế nào cho phải đạo làm người mà thôi. Dù có muốn “làm trai cho đáng nên trai” hay làm ông làm bà hay làm gì gì đi nữa, đã là người thì ai cũng phải học làm NGƯỜI.











Thứ Hai, 12 tháng 3, 2018

Hương Cảng: đô thị có tuổi thọ cao nhất thế giới!



09/03/18
Hương Cảng (Hong Kong) không chỉ nổi tiếng vì có giá nhà cao nhất nhì thế giới. Đây cũng là đô thị nơi người dân có tuổi thọ cao nhất thế giới.
Với diện tích chỉ 2.754 cây số vuông, Hương Cảng hiện là nơi sinh sống của trên 7 triệu con người. Đi đâu người ta cũng thấy những ngôi nhà chọc trời. Nhưng với hệ thống giao thông tối tân, chỉ cần mất 30 phút đồng hồ, người ta có thể đi đến bất cứ nơi nào mình muốn. Cảnh trí của thành phố ốc đảo này cũng rất đa diện: bên cạnh trên 300 ngôi nhà chọc trời là nhiều công viên với những vườn cây xanh. Xa đô thị chỉ vài cây số là những dãy núi và nhiều bãi biển. Ngoài ra với nhiều bệnh viện tối tân trong đó mọi người dân đều được hưởng những phúc lợi cơ bản, không lạ gì Hương Cảng nổi tiếng là đô thị có tuổi thọ cao nhất thế giới.
Không thua gì cư dân của những nơi được mệnh danh là “vùng xanh” (blue zones) trên thế giới như Sardinia ở Ý, Okinawa bên Nhật Bản...người đàn ông Hương Cảnh có tuổi thọ trung bình là 81.3 năm; phụ nữ sống dai hơn, thọ đến 87.3 tuổi.
Vì không được xem là một quốc gia cho nên Hương Cảng không nằm trong danh sách của 96 nước được tính tuổi thọ theo chỉ số Global AgeWatch Index. Tuy nhiên, Bác sĩ Timothy Kwok, giáo sư chuyên về khoa chữa bệnh và chăm sóc người già thuộc trường Đại học Hương Cảng, đã dựa vào những tiêu chuẩn được đưa ra trong chỉ số Global AgeWatch Index và một số yếu tố khác để do đo lường và tìm hiểu về tuổi thọ của người dân Hương Cảng.
Theo cuộc khảo sát của Giáo sư Kwok, yếu tố chính giúp gia tăng tuổi thọ của người dân Hương Cảng chính là môi sinh: đường phố trong đô thị này sạch sẽ và an toàn, nhiều phương tiện di chuyển công cộng, thực phẩm an toàn và nhiều tiện nghi công cộng khác. Người già không phải mất giờ để đến các siêu thị: ở đâu cũng có  chợ! Đây là những điều kiện giúp người dân Hương Cảng có được một cuộc sống lành mạnh.
Giáo sư Kwok khẳng định rằng Hương Cảng là một đô thị xanh hơn hầu hết các đô thị khác trên thế giới. Ở đâu cũng có công viên, vườn cỏ và cây xanh. Mỗi buổi sáng, người già có thể quy tụ thành từng nhóm để tập “Tài chí” hay “Khí công”. Sau đó các cụ ngồi lại với nhau để tán gẫu hoặc ăn sáng với nhau. Bác sĩ Gabriel Leung, phân khoa trưởng y khoa tại Đại học Hương Cảng, giải thích rằng tập “tài chí” hay “khí công” mỗi buổi sáng là điều rất thịnh hành đối với người già. Bác sĩ John Beard, giám đốc phân bộ tuổi già thuộc Tổ chức Y tế Thế giới WHO khẳng định rằng cần phải có nhiều công viên để giúp cho người già có thể tập thể dục mỗi buổi sáng. Hầu như tất cả mọi khu phố tại Hương Cảng đều là thành viên của mạng lưới “Những đô thị bạn của người già”. Đây là một mạng lưới toàn cầu có mục đích khuyến khích thành lập những công viên trong các thành phố để giúp người già có điều kiện sinh hoạt với nhau, nhất là tập thể dục. Chính quyền Hương Cảng cũng đề ra sáng kiến kêu gọi chính người có tuổi đi tham quan để nhận diện các vấn đề và đưa các đề nghị lên chính quyền.
Nhưng trong các yếu tố góp phần gia tăng tuổi thọ của người dân Hương Cảng, hệ thống bệnh viện đóng một vai trò trọng yếu. Giáo sư Kwok khẳng định rằng tại Hương Cảng “ai cũng có thể được tiếp nhận vào bệnh viện một cách dễ dàng”. Theo ông, cũng như tại nhiều nước phát triển khác, ở Hương Cảng mọi người dân đều được hưởng hệ thống bảo hiểm y tế công cộng. Người già vẫn là thành phần ưu tiên khi đến bệnh viện.
Theo Bác sĩ Beard, chính nhờ được dễ dàng hưởng sự chăm sóc y tế mà người dân Hương Cảng có tuổi thọ cao. Dĩ nhiên, theo Giáo sư Leung, một hệ thống y tế tốt không chỉ đợi ở tuổi già, mà phải bắt đầu ngay từ những năm đầu đời. Điều này có nghĩa là thai phụ, thơ nhi và trẻ em cũng phải là những thành phần cần được chăm sóc y tế một cách đặc biệt để phòng ngừa những căn bệnh giết người thường xảy ở tuổi trung niên như ung thư, tim mạch, tai biến mạch máu não v.v.
Ngoài môi sinh và y tế, ý chí muốn sống cũng là yếu tố quan trọng gia tăng tuổi thọ của người dân Hương Cảng. Theo Giáo sư Leung, có đến 70 phần trăm người dân Hương Cảng trên 70 tuổi đều chào đời tại Trung Hoa lục địa. Họ đến Hương Cảng để tìm một cuộc sống tốt đẹp hơn. Rất nhiều người là di dân kinh tế. Công việc làm ăn và sự cạnh tranh trong vùng đất mới khiến họ phải vận động rất nhiều. Cũng như hầu hết người di dân và tỵ nạn trên khắp thế giới, những người Trung Hoa từ lục địa đến Hương Cảng đều có một tâm lý ổn định và lành mạnh, nhờ đó họ mới có thể thích nghi với cuộc sống đầy thử thách. Tâm lý ổn định, ý chí muốn sống, cộng với một sức khỏe thể lý tương đối lành mạnh, đó chính là những yếu tố giải thích được tại sao người dân Hương Cảng có tuổi thọ cao.
Nhưng những yếu tố nhân bản chưa đủ để gia tăng tuổi thọ của con người. Bác sĩ Kwok tin rằng bên cạnh những yếu tố như môi sinh, y tế, ý chí muốn sống của con người, thời tiết cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc kéo dài tuổi thọ của con người. Theo giáo sư này, về mặt địa lý, Hương Cảng ở vào một vị trí rất thuận lợi cho tuổi thọ. Đô thị này nằm trong vùng khí hậu ôn đới: không quá nóng mà cũng không quá lạnh. Cuộc sống trong một khí hậu như thế quả là dễ chịu. Trong những nước như Anh Quốc hay Hoa Kỳ, nhiều người phải chết vì lạnh trong những tháng mùa đông. Tại Anh Quốc chẳng hạn, trong mùa đông 2016-2017, số người chết tăng thêm 34.300 người. Còn tại Hoa Kỳ, trong năm 2008, số người chết tăng lên đến 108.500 người.
Dĩ nhiên, theo các chuyên gia về sức khỏe tại Hương Cảng, khí hậu có thể đóng góp một phần quan trọng vào việc kéo dài tuổi, nhưng không phải là tất cả. Lạnh cóng như ở Nhật Bản, người dân vẫn có tuổi thọ cao!
Trong cuộc khảo sát về những yếu tố góp phần làm cho con người sống thọ, các chuyên gia y tế tại Hương Cảng nhấn mạnh đến thức ăn. Nhờ nằm ở một vị trí ưu biệt, Hương Cảng nhìn ra biển ở mọi hướng, nhưng lại là cửa ngõ mở vào Trung Cộng, đồng thời cũng liên lạc được dễ dàng với những vùng khác ở Á Châu cho nên, đô thị này lúc nào cũng có cá tươi, trái cây và rau quả để ăn. Nghiên cứu về cách dinh dưỡng của người dân Hương Cảng, Bác sĩ Kwok cho rằng cách dinh dưỡng ở đây rất gần với cách dinh dưỡng của người dân miền Địa Trung Hải. Nói cách khác, thức ăn của người dân Hương Cảng lúc nào cũng có cá tươi, trái cây, rau quả, cơm, dầu và thịt. Riêng thịt thì luôn luôn được thái nhỏ để chiên xào chứ không bao giờ được ăn từng khối như tại các nước Tây Phương.
Thật ra, theo Bác sĩ Beard, cách dinh dưỡng của người dân Hương Cảng có thể giống cách dinh dưỡng của người Địa Trung Hải hay người Nhật. Nhưng theo ông, bí quyết sống thọ của người dân Hương Cảng  nằm ở chỗ họ ít bị căng thẳng.
Một trong những yếu tố làm giảm sự căng thẳng của con người, theo Bác sĩ Beard, chính là giá trị của gia đình. Cũng như trong hầu hết các xã hội Á Châu khác, người dân Hương Cảng rất xem trọng gia đình, bởi lẽ càng lớn tuổi con người càng được gia đình nâng đỡ về mặt tài chính và xã hội.
Bác sĩ Kwok giải thích: Trước kia “những người có tuổi thích có nhiều con cái”. Nhưng ngày nay, thế hệ sinh sau Đệ nhị Thế chiến (Babyboomers), kể cả ở Hương Cảng, không muốn và cũng không có điều kiện để sinh nhiều con. Dù vậy, những giá trị truyền thống Á Đông, trong đó quan trọng nhất là lòng hiếu thảo, vẫn luôn được trân quý. Hiếu thảo với cha mẹ, ông bà, tổ tiên vẫn là đức tính cột trụ của người Á Đông nói chung và của người dân Hương Cảng nói riêng. Chính nhờ được con cháu kính trọng, yêu thương và bao bọc mà người già cảm thấy muốn sống và sống hạnh phúc.
Sống chung trong một đại gia đình, theo truyền thống Á Đông, đã từng là một cuộc sống lý tưởng. Nhưng ngày nay, hai ba thế hệ cùng sống chung dưới một mái ấm gia đình không thể thực hiện được một cách dễ dàng trong những thành phố có đông dân số   như Tokyo hay Hương Cảng. Tuy không thực hiện được cuộc sống chung của đại gia đình, người dân Hương Cảng vẫn tiếp tục thực thi lòng yếu thảo của họ bằng một cách khác: họ liên lạc với người già bằng các phương tiện truyền thông hiện đại, họ chuyển tiền về giúp đỡ gia đình, người thân và nhất là người già. Đời sống thay đổi, nhưng lòng hiếu thảo không hề thay đổi với người Á Châu.
Hương Cảng là đô thị có tuổi thọ cao nhất thế giới. Tuy nhiên, so với nhiều  nước khác, nhất là các nước Tây Phương, Hương Cảng vẫn chưa phải là một nơi lý tưởng để sống. Cựu nhượng địa của Anh Quốc và nay trở về dưới trướng của Trung Cộng, Hương Cảng vẫn còn có nhiều điểm cần cải thiện. Sự tham gia của người dân vào xã hội dân sự chưa mạnh như tại các nước Tây Phương. Riêng với người già, sức khỏe tâm thần vẫn chưa phải là một lãnh vực được quan tâm nhiều trong hệ thống y tế. Tỷ lệ tự tử của những người trên 65 tuổi tại Hương Cảng vẫn bị xếp hạng là cao so với nhiều nước khác. Trong số 937 vụ tự tử được ghi nhận trong năm 2014, có 241 người thuộc lứa tuổi nói trên. Ngoài ra, theo ước tính, cứ 3 người cao tuổi có một người có những triệu chứng trầm cảm.
Bác sĩ Kwok nhìn nhận rằng Hương Cảng không có một hệ thống hưu trí như tại nhiều nước khác. Thành ra, người già thường chỉ biết dựa cậy vào con cái.
Hiện nay, cùng với Đức, Ý và Úc Đại Lợi, Nhật Bản và Hương Cảng là hai nơi dẫn đầu về tuổi thọ của người dân. Tuy nhiên, tuổi thọ không phải là một hằng số bất biến. Như tại Hoa Kỳ chẳng hạn, mặc dù là quốc gia giàu mạnh nhất thế giới, trong những năm gần đây, tuổi thọ của người dân Mỹ ngày càng sút giảm. Điều này có nghĩa là những thay đổi trong cách dinh dưỡng và nhất là tình trạng ô nhiễm có thể là nguyên nhân khiến cho tuổi thọ tại nhiều nơi sút giảm.
Riêng tại Hương Cảng, các chuyên gia y tế đang tìm cách chứng minh rằng một hệ thống y tế tốt đẹp, cải thiện việc chăm sóc tuổi thơ, di dân kinh tế và nhất là việc giảm hút thuốc nơi phụ nữ Hương Cảng so  với nhiều nơi khác trên thế giới...có thể là những yếu tố góp phần vào việc gia tăng tuổi thọ của con người. Nếu đây quả thực là những yếu tố đích thực góp phần vào việc gia tăng tuổi thọ của con người thì Hương Cảng sẽ tiếp tục dẫn đầu về tuổi thọ của người dân.

(nguồn: https://edition.cnn.com/2018/03/02/health/hong-kong-world-longest-life-expectancy-longevity)




Thứ Sáu, 9 tháng 3, 2018

Ăn xôi chùa ngọng miệng



Chu Thập
02/03/18

Chuyện bắn giết xảy ra như cơm bữa tại Hoa Kỳ không khỏi làm tôi nhớ lại một câu nói khiến tôi phải nổi da gà của Tổng thống Donald Trump lúc còn là một ứng cử viên trong cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc hồi năm 2016. Ngày 23 tháng Giêng năm 2016, trong một cuộc tập họp của những người ủng hộ ông tại Tiểu bang Iowa, ứng cử viên Trump đã nổi hứng tuyên bố với tất cả tin tưởng: “Nếu tôi có đứng giữa Đại Lộ Thứ 5 (Fifth Avenue, đại lộ nổi tiếng trong khu Manhattan, New York) và bắn một người nào đó, tôi vẫn không mất một cử tri nào”. Ý ông muốn nói rằng dù cho ông có giết người ngay giữa ban ngày đi nữa, những người ủng hộ ông vẫn tiếp tục dồn phiếu cho ông. Quả thật, những thành phần cơ bản ủng hộ ông xem ra lúc nào cũng sẵn sàng sống chết cho ông, bất kể ông có phạm tội ác tày đình nào đi nữa.
Hoa Kỳ quả là một quốc gia lạ lùng. Liền sau khi ứng cử viên Trump “nổ bạo” về niềm tin của cử tri dành cho ông, hãng thăm dò dư luận Public Policy Polling đã thử đo lường phản ứng của cử tri về lời tuyên bố nẩy lửa trên đây của ông. Kết quả cuộc thăm dò cho thấy có đến 45 phần trăm những người ủng hộ ông Trump nói rằng họ tán thành việc ông bắn người giữa Đại lộ Fifth Avenue trong khi đó chỉ có 29 phần trăm không tán thành hành động này. Nói chung, trong hàng ngũ cử tri ủng hộ Đảng Cộng Hòa, số người tán thành việc ông Trump bắn người giữa thanh thiên bạch nhựt nhiều hơn số người không tán thành.
Thật ra, ông Trump chỉ thích nổ thôi. Chuyện gì ông cũng muốn nhứt cả. Nào là ông học ở những trường danh giá nhứt. Nào là ông là người  thông minh nhứt. Nào là  ông giàu có đến độ tự mình bỏ tiền túi ra để tranh cử tổng thống chớ chẳng cần ai bảo trợ cả. Dĩ nhiên trong một nền dân chủ trong suốt như Hoa Kỳ, chuyện gì cũng có thể kiểm chứng được. Ông có thật sự thông minh, “thiên tài” hay giàu có cỡ nào đi nữa, người dân Mỹ cũng đều kiểm chứng được cả.
Riêng về mối quan hệ của ông với chuyện súng đạn, người ta cũng kiểm chứng được. Hồi năm 2000, trong cuốn sách mang tựa đề “The America We Deserve” (Hoa Kỳ mà chúng ta xứng đáng để có được), ông lên án Đảng Dân Chủ vì có chủ trương tịch thu mọi súng ống cá nhân. Ông cũng đả kích Đảng Cộng Hòa vì ngả theo Hiệp hội cổ võ mang súng NRA và chống lại việc kiểm soát súng ống.
Nhưng rồi năm 2015, khi lăm le muốn ra tranh cử tổng thống, ông đã đảo ngược lập trường về súng ống của ông. Trong cuốn sách có tựa đề “Crippled America” (nước Mỹ què quặt), ông cho biết đang có súng trong tay, nhưng không bao giờ sử dụng nó. Ông đã quay 180 độ để cho lập trường về súng ống của ông hoàn toàn rập khuôn với lập trường của Hiệp hội súng ống NRA. Và điều gì đã xảy ra?  Tháng Năm năm 2016, ở vào  cao điểm của cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc, Hiệp hội này đã tặng cho ông gần 31 triệu Mỹ kim (hơn 11 triệu để ủng hộ riêng ông và gần 20 triệu để vận động chống lại ứng cử viên Hilllary Clinton). Sau cố Tổng thống Ronald Reagan, ông đã trở thành tổng thống Mỹ đầu tiên đến đọc diễn văn tại đại hội của Hiệp hội NRA. Ông cũng đã nới lỏng biện pháp để giúp cho nhiều người, kể cả những người mắc bệnh tâm thần, được mang súng.
Theo dõi phản ứng của Tổng thống Trump về cuộc thảm sát tại trường trung học Marjory Stoneman Douglas ở Parkland, Tiểu bang Florida hôm 14 tháng Hai 2018 vừa qua, người ta thấy rõ Tổng thống Trump đang bị trói chặt trong cái vòng “kim cô” của Hiệp hội NRA. Thoạt tiên ông chỉ tay vào bệnh tâm thần: đây là nguyên nhân chính của vụ thảm sát; ông ra lệnh phải kiểm soát để súng đạn không lọt vào tay những người mắc bệnh tâm thần. Kế đó là cơ quan điều tra trung ương FBI: theo ông, cơ quan này cứ để giờ điều tra xem Nga có nhúng tay vào cuộc bầu cử tổng thống năm 2016 không, mà không chịu ra tay hành động khi có đủ bằng chứng cho thấy hung thủ sẽ ra tay tại trường trung học Parkland. Một cảnh sát viên có mặt trước trường trung học khi xảy ra cuộc thảm sát, nhưng không chịu can thiệp, cũng bị Tổng thống Trump kết án là kẻ hàn nhát. Ông còn “nổ bạo” hơn nữa khi quả quyết rằng nếu có mặt trước cửa trường khi cuộc thảm sát bắt đầu diễn ra và ngay cả không có súng trong tay, ông cũng đã “xông” ngay vào trường để ra tay nghĩa hiệp chớ không chịu đứng yên mà nhìn học sinh bị bắn giết.  Để giải quyết vấn đề bạo động vì súng đạn tại Hoa Kỳ, ông đã đề nghị nhiều biện pháp cụ thể trong đó có việc trang bị và huấn luyện các giáo viên để họ được mang súng khi vào lớp. Chẳng có nơi nào trên thế giới có chuyện giáo viên vào lớp phải mang súng ống như tại Hoa Kỳ văn minh và “vĩ đại” của Tổng thống Trump. Tuyệt nhiên, Tổng thống Trump không đá động đến luật kiểm soát và hạn chế súng đạn cá nhân. Có mù cỡ nào, ai cũng nhận thấy rằng  sau lưng ông lúc nào cũng có chiếc lưỡi hái của Hiệp hội NRA. Huênh hoang rằng mình là một tỷ phú giàu có đến độ có thể không cần ai hà hơi tiếp sức mà vẫn có thể đắc cử, trong thực tế, ứng cử viên Trump đã há miệng cắn phải miếng mồi của Hiệp hội NRA. Ông không còn độc lập để hành động với tư cách của một tổng thống.  Trong việc đối phó với nạn bạo động vì súng đạn, tay chân ông đã hoàn toàn bị trói chặt. Miệng ông cũng bị khóa lại và ngay cả trái tim của ông dường như  cũng không còn đập những nhịp đập bình thường của một trái tim  biết đau xót và cảm thương trước nỗi khổ đau của người khác. Mới đây, khi đề nghị một số biện pháp có thể bị xem là đi ngược lại với đường lối của Hiệp hội NRA và sợ bị Hiệp hội này nổi giận chăng, ông đã gỡ gạc khi nói rằng Hiệp hội này “vẫn đứng về phía chúng ta mà”!
Sau cuộc thảm sát tại trường trung học Marjory Stoneman Douglas, một số học sinh còn sống sót đã được chọn làm đại diện để đến gặp gỡ Tổng thống Trump tại Tòa Bạch Ốc. Có một chi tiết trong cuộc gặp gỡ được nhiều người chú ý đến nhiều nhứt: tổng thống cầm trên tay một tờ giấy trên đó ông có ghi ra một số điều phải làm khi đối diện với các học sinh. Một trong những điều mà ông thấy cần phải làm nhứt lại là “tôi l nghe các em” (I hear you).
Theo ghi nhận của ký giả Michael D’Antonio của Đài CNN, người đã từng viết về tham vọng của ông Trump trong cuốn sách “Never Enough: Donald Trump and the Pursuit of Success” (Không bao giờ là đủ: Donald Trump và sự theo đuổi thành công), sự “cảm thông” (tôi  nghe các em) mà Tổng thống Trump muốn nhấn mạnh trên tờ giấy cầm trên tay là một điều người ta chưa từng thấy nơi hầu hết các tổng thống Mỹ khác. Đứng trước một cuộc khủng hoảng hay trong một tình huống tương tự, các vị tổng thống như Barack Obama, George W. Bush, Bill Clinton và các vị tổng thống khác tự nhiên chia sẻ nỗi đau của các nạn nhân. Đó là một điều rất tự nhiên đối với các vị tổng thống này. Họ không cần phải viết lên giấy để tự nhắc nhở phải biết tỏ ra cảm thông khi đứng trước hoạn nạn và khổ đau của người khác. Ký giả D’Antonio viết rằng “sự kiện ông Trump cần phải viết lên một tờ giấy để tự nhắc nhở mình phải tỏ ra nhạy cảm, tử tế, cảm thông, can đảm và niềm xác tín của mình  là một dấu hiệu không bình thường cho thấy ngay cả sau một năm (cầm quyền) ông vẫn không thực thi được nhiệm vụ (tổng thống) của mình” (x https://edition.cnn.com/2018/02/24/opinions/parkland-shooting-reveals-trumps-flaws-dantonio-opinion).
Thật ra, công bình mà nói, cho dù trong Ngày Tổng thống (President’ s Day) 19 tháng Hai 2018 vừa qua, kết quả của một cuộc thăm dò  ý kiến của 170 thành viên của Hiệp hội Khoa học Chính trị Mỹ (The American Political Science Association) có khẳng định rằng Donald Trump là tổng thống dở nhứt trong lịch sử Hoa Kỳ đi nữa, cũng phải nhìn nhận rằng sau một năm thi hành nhiệm vụ, ông đã làm được nhiều việc và làm được nhiều việc mà các tổng thống khác không làm được. Nói cho cùng, ông Trump “làm tổng thống” theo cung cách riêng của ông. Ông muốn tỏ ra mình không giống ai. Ông dám nói và dám nói ngay cả một cách thô lỗ, cộc cằn. Xem ra ông chẳng sợ thằng tây nào cả. Ai ông cũng có thể tấn công: các quan tòa, Bộ Tư pháp và ngay cả cơ quan điều tra FBI. Chỉ có điều khiến nhiều người phải thắc mắc và nghi ngờ là:  đối với Nga và Tổng thống Vladimir Putin, lúc nào ông cũng im re. Còn riêng đối với Hiệp hội mang súng NRA là tổ chức chuyên chống lại các dự luật kiểm soát súng đạn và muốn cho ngày càng có nhiều người Mỹ mua súng, nhứt là các loại súng có khả năng giết người hàng loạt, thì xem ra Tổng thống Trump lại ủng hộ chủ trương của họ khi đề nghị võ trang tất cả các thày cô giáo tại Mỹ. Nếu đề nghị của ông được thông qua, thì trước mắt Hiệp hội NRA vẫn là tổ chức có lợi nhiều nhứt. Khi đề nghị trang bị súng ống cho các giáo viên, Tổng thống Trump còn “dụ dỗ”: các thày cô sẽ được tiền thưởng (bonus) khi họ đi tập bắn súng và mang súng vào trường! Nghe chẳng khác nào giọng điệu của một con buôn, nhứt là buôn trên sinh mạng của những người vô tội!
Nhìn lại vụ thảm sát tại trường trung học Marjory Stoneman Douglas và ngẫm nghĩ về mối quan hệ giữa Tổng thống Trump và Hiệp hội NRA, tôi liên tưởng đến câu nói đầy hình tượng của dân gian Việt Nam: “ăn xôi chùa ngọng miệng”. Không cần phải tham nhũng như trong các chế độ độc tài, mà chỉ cần được “đút lót” vào miệng một ít quyền lực, chức vụ, tiền bạc hay danh tiếng...con người dễ trở thành mù lòa, câm điếc. Các thứ “xôi chùa” dễ làm cho con người “ngọng miệng” nhứt dĩ nhiên là quyền lực và tiền bạc. Đó là những thứ dễ bịt miệng và trói tay trói chân con người. Xét cho cùng đó là những thứ dễ biến con người thành nô lệ và nhứt là nô lệ cho sự dối trá.
Ủng hộ hay không ủng hộ Tổng thống Trump, ai cũng phải nhìn nhận rằng dưới thời ông, kinh tế Mỹ lên vùn vụt, tình trạng thất nghiệp cũng giảm chưa từng thấy. Cũng có thể do thái độ cứng rắn của ông và những lời đe dọa bạt mạng của ông mà Bắc Hàn đã bắt đầu thụt lại để ngỏ ý muốn ngồi vào bàn thương thuyết. Nhưng có một điều mà những ai còn có chút lương tri và biết tôn trọng sự thật phải nhìn nhận là: tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ là người phịa chuyện và nói dối như Cuội. Ông tung tin rằng khi xảy ra vụ khủng bố 11 tháng Chín năm 2001, những người Hồi giáo tại Tiểu bang New Jersey đã ăn mừng nhảy múa. Ông khẳng định rằng Tổng thống Barack Obama khồng hề chào đời tại Hoa Kỳ. Ông cáo buộc rằng tổng thống Obama đặt máy nghe lén ông trong suốt thời kỳ bầu cử vừa qua. Ông bảo rằng sở dĩ ông thua bà Hillary Clinton đến 3 triệu phiếu vì đây toàn là phiếu của những cử tri bất hợp pháp...Toàn là những lời bịa đặt, bởi vì ông chẳng trưng được bằng chứng nào cả!
Hoa Kỳ là một quốc gia có nền dân chủ kỳ cựu nhứt thế giới. Nhưng giọng điệu của một ông tổng thống gọi truyền thông là “kẻ thù của nhân dân” và muốn độc quyền tung “tin giả”, lại khiến tôi liên tưởng đến những nhà độc tài trong các chế độ cộng sản, trong đó những kẻ ngồi xổm trên pháp luật và sự thật, thật ra cũng chỉ là nô lệ của dối trá.






Thứ Hai, 5 tháng 3, 2018

Djibouti: cửa ngõ đi vào Phi Châu của Trung Cộng



02/03/18
Djibouti hay Cộng hòa Djibouti là một trong những quốc gia nhỏ bé nhất nằm ở vùng thường được mệnh danh là Sừng của Phi Châu. Với điện tích khoảng 23.200 cây số vuông và dân số chỉ gần một triệu người, Djibouti giáp giới với Eritrea về hướng bắc, Ethiopia về hai hướng tây và nam và Somalia về hướng đông nam. Tuy là một quốc gia nhỏ bé, nhưng hiện nay Djibouti đã trở thành một đối tác chiến lược quan trọng của Trung Cộng. Quốc gia cộng sản bá quyền này đã cho thiết lập một căn cứ quân sự và một hải cảng tại Djibouti và hiện cũng đang thành lập một vùng mậu dịch tự do tại đây. Djibouti đã biến thành một cửa ngõ đi vào Phi Châu của Trung Cộng.
Mới đây, một phóng viên của báo Der Spiegel của Đức đã ghi lại một cảnh tượng như sau: một chiếc xe cảnh sát xuất hiện trên một con đường đất bụi mù trời. Một  cảnh sát viên mở cửa sổ xe và bắt đầu quát tháo bằng tiếng Pháp. Những người bị viên cảnh sát mắng chửi là một toán đàn ông Trung Hoa. Nhưng xem ra họ không hiểu viên cảnh sát muốn nói gì. Phải một lúc sau họ mới nhận ra rằng họ đã quên ghi danh ở cửa ra vào của một công trình xây dựng dọc theo bờ biển.
Khi viên cảnh sát bỏ đi, một người đàn ông tên là Nicholas Li đã nói với người phóng viên: “Thật không thể tưởng tượng được. Đây là công ty của tôi”. Công ty mà người Trung Hoa này muốn ám chỉ hiện đang hoạt động dưới danh nghĩa của Tổ hợp “China Merchants Group”. Công ty hiện đang xây dựng vùng mậu dịch tự do lớn nhất tại Phi Châu ở Djibouti.
Ông Li, 37 tuổi, hiện đang là giám đốc của công ty nói trên. Trong cơn bực tức, ông lấy chân đá những viên đá bên vệ đương. Nhưng dù sao, ông nói: luật là luật!
Công trình xây dựng do ông Li điều khiển không bao lâu sẽ hoàn tất các hãng xưởng, kho chứa, văn phòng và các khách sạn. Rộng tới 48 mẫu tây, vùng mậu dịch tự do này sẽ trở thành một trung tâm thu hút nhiều nhà đầu tư trên khắp thế giới.
Mặc dù Djibouti chỉ là một trong những quốc gia nhỏ bé nhất của Phi Châu, nhưng từ nhiều năm qua, người ta đã bắt đầu nghĩ đến những dự án lớn. Với sự giúp đỡ của Trung Cộng, nhiều người đang mơ biến quốc gia nhỏ bé này thành một thứ Tân Gia Ba hay các quốc gia vùng Vịnh. Người dân Djibouti cũng đang tìm kiếm một cuộc sống tốt đẹp hơn và một vai trò lớn hơn trong xã hội toàn cầu hóa ngày nay.
Hơn bất cứ quốc gia Phi Châu nào khác, Djibouti muốn biến thành một phòng thí nghiệm trong việc di chuyển quyền lực từ Tây sang Đông. Và cho dẫu đối với người dân Djibouti, Âu Châu và Hoa Kỳ vẫn tiếp tục đóng một vai trò quan trọng, nhưng mỗi khi nghĩ đến tương lai của xứ sở, họ lại hướng nhìn về Trung Cộng.
Cũng như nhiều nơi khác trên thế giới, Djibouti đã chứng kiến được tốc độ nhanh chóng qua đó Trung Cộng đã biến các kế hoạch của họ thành hiện thực. Một hải cảng mới đã được xây dựng  và những chiếc xe cần cẩu khổng lồ hiện đã trở thành một thứ biểu tượng của sự vùng dậy tại Djibouti. Vùng mậu dịch tự do mà ông Nicholas Li đang cho xây dựng trên một vùng đất chỉ có sỏi đá khô cằn chỉ có thể hứa hẹn cho người dân Djibouti công ăn việc làm và sự thịnh vượng mà thôi.
Ông Li chỉ mới đặt chân đến Djibouti từ vài tháng nay. Sau khi đã học xong cử nhân chính trị kinh doanh tại Trung Cộng, ông đã sang Anh Quốc để học cao học. Nhờ vậy, ông nói tiếng Anh lưu loát.
Vùng tự do mậu dịch mà ông Li đang chỉ huy xây dựng là một công trình quan trọng đối với Djibouti, bởi vì nó hứa hẹn mang lại nhiều việc làm cho người dân địa phương. Trong khi trong vùng Vịnh, các quốc vương Hồi giáo ngồi trên mỏ dầu thì tại Djibouti chỉ có nắng cháy khô cằn. Cách đây một hai thế hệ, người dân Djibouti phần lớn vẫn còn là dân du mục. Dê và lạc đà hiện vẫn còn thấy lang thang trên các đường phố ở thủ đô Djibouti.
Nhưng Djibouti hiện đang nắm trong tay một thương phẩm quan trọng: một trong những tuyến đường hàng hải quan trọng bậc nhất thế giới nằm ngay ở duyên hải của nước này. Hàng chục tàu dầu và tàu chở hàng khác hướng về Biển Đỏ mỗi ngày để trực chỉ kênh đào Suez và các hải cảng ở Âu Châu.
Chính vị trí chiến lược của Djibouti là một trong những lý do khiến Trung Cộng tìm đến đây: người thảo kế hoạch, chuyên gia ngân hàng và kỹ sư đã được gởi đến quốc gia nhỏ bé này. Người ta còn  thấy cả bóng dáng của quân đội nhân dân nữa! Và mặc dù là những người sau cùng đặt chân đến Djibouti, Trung Cộng lại có những kế hoạch lớn hơn. Quốc gia nhỏ bé này đã trở thành cửa ngõ đi vào Phi Châu của họ.
Những quốc gia đã từng đặt chân đến Djibouti trước Trung Cộng hiện vẫn tiếp tục ở lại, phần lớn với quân đội của họ. Hoa Kỳ, Nhật Bản và Ý đều duy trì các căn cứ quân sự của họ tại thủ đô Djbouti. Và dĩ nhiên, các nước cựu thực dân như Pháp, Tây Ban Nha và Đức cũng đều duy trì các lực lượng của họ tại căn cứ không quân số 188 của Pháp (base aérienne). Riêng Pháp Ngữ vẫn tiếp tục là một trong những ngôn ngữ chính tại Djibouti.
Tổng cộng, ngoại quốc cũng như người địa phương, dân số Djbouti hiện có khoảng gần một triệu người. Họ nói nhiều ngôn ngữ khác nhau, kể cả tiếng Á Rập hay ngôn ngữ của những nước láng giềng như Somalia và Ethiopia. Hai sắc dân bản địa lớn nhất tại Djibouti là người Afar ở phía Bắc và người Issa ở phía Nam. Từ nhiều năm qua, hai sắc dân này không ngừng xung đột nhau. Nhưng kể từ khi cuộc nội chiến kết thúc vào năm 1994, tình hình  tại Djbouti đã tương đối ổn định.
Đương kim tổng thống Djibouti, ông Ismail Omar Guelleh đã dùng bàn tay sắt để giữ cho xứ sở được ổn định. Với nhà độc tài này, tự do chính trị là một khái niệm quá nguy hiểm. Thay vào đó, ông luôn luôn nhấn mạnh đến kỷ luật và ổn định. Trong một vùng đầy xung đột, tình trạng ổn định được xem là một trong điểm son của Djibouti. Ngoài ra, Djibouti cũng được đề cao nhờ sự cởi mở với thế giới bên ngoài. Mặc dù Hồi Giáo được xem là quốc giáo tại đây, nhưng niềm tin tôn giáo nói chung vẫn được xem như một vấn đề riêng tư. Việc phụng tự vẫn được tổ chức đều đặn trong các nhà thờ của Kitô Giáo và một người phụ nữ vẫn có thể hiên ngang mặc quần Jeans và không trùm khăn trên đầu để đi lại trên các đường phố.
Tổng thống Guelleh luôn tự hào vể khoảng cách của ông đối với các cường quốc Tây Phương. Mặc dù phải trả rất nhiều tiền để giữ cho binh sĩ, phi cơ và máy bay không người lái được trú đóng trên đất Djibouti, các nước Tây Phương vẫn phải chịu lệ thuộc vào Tổng thống Guelleh, chỉ vì họ muốn được ở lại trên đất nước này. Trong một cuộc phỏng vấn trên tạp chí Jeune Afrique, Tổng thống Guelleh nói: “Người Mỹ luôn nói với chúng tôi rằng sự hiện diện của Trung Cộng ngăn cản các cuộc hành quân của họ và người Nhật còn lo lắng nhiều hơn”. Tuy nhiên, theo ông, Mỹ và Nhật không cần phải lo lắng như thế!
Các cuộc thương thảo và hợp đồng của Tổng thống Guelleh với Trung Cộng diễn ra một cách rất nhẹ nhàng và thoải mái. Dạo tháng Mười Một năm vừa qua, Chủ tịch Tập Cận Bình đã dành cho Tổng thống Guelleh một vinh dự rất lớn khi đích thân mời ông đến Bắc Kinh và long trọng đón tiếp như một quốc khách. Cả Chủ tịch Tập Cận Bình và Tổng thống Guelleh đều đồng ý về “đối tác chiến lược” giữa 2 nước, mặc dù dân số Trung Cộng đông gấp 1.400 lần dân số Djibouti.
Dĩ nhiên, từ “đối tác” có ý nghĩa hoàn toàn chính trị. Khi một quốc gia khổng lồ xem một nước nhỏ như ngang hàng, thì điều đó có nghĩa là Trung Cộng không chỉ muốn hiện diện tại Djibouti, mà còn muốn xem đây như một cửa ngõ để đi vào Phi Châu.
Thật ra, Trung Cộng không chỉ xem Djibouti như một cửa ngõ để đi vào Phi Châu, mà còn lợi dụng quốc gia nhỏ bé này để mở rộng con đường tơ lụa mới. Với tham vọng bành trướng chủ trương “Nhất Đới, Nhất Lộ”, Bắc Kinh đã và đang đầu tư rất nhiều vào việc xây dựng các hải cảng, các tuyến đường bộ, các đường hỏa xa và trung tâm thương mại tại Á châu, Phi Châu và Âu Châu . Mục tiêu của “Nhất Đới, Nhất Lộ” là thiết lập một vùng kinh tế toàn cầu dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Trung  Cộng.
Djibouti là một địa điểm thích hợp cho Trung Cộng vì nằm trên con đường tơ lụa mới. Tổng hành dinh của giám đốc Nicolas Li nằm ngay bên cạnh Ngân hàng Quốc tế Con đường Tơ lụa, được Bắc Kinh cho thành lập hồi năm 2016. Dĩ nhiên, để tránh tiếng “bá quyền”, Bắc Kinh cũng rất hào phóng trong các dự án viện trợ như xây  trường học, bệnh viện, trung tâm thể thao. Bắc Kinh cũng muốn chứng tỏ mình rất tôn trọng văn hóa địa phương, cho nên cho xây một thư viện quốc gia cho Djibouti.
Với quốc gia cộng sản khổng lồ này, kinh tế và chính trị luôn sánh vai với quân sự. Thành ra để kiến tạo một cửa ngõ vững chắc giúp tiến vào lục địa Phi Châu, Trung Cộng cũng đưa quân sang Djibouti. Mặc dù chỉ lẩn quẩn trong các doanh trại, quân đội nhân dân cũng hiện diện một cách rất rõ ràng tại Djibouti. Ở phía tây Hải cảng Djibouti, quân đội nhân dân Trung Cộng đã mở một căn cứ hải quân hồi giữa năm vừa qua. Đây là căn cứ quân sự đầu tiên của Trung Cộng bên ngoài Á Châu để tiếp liệu cho các chiến đoàn của họ. Đây là một căn cứ quan trọng vì có thể làm nơi trú đóng cho 10 ngàn binh sĩ.
Các cơ quan truyền thông của Trung Cộng không ngừng nhắc đến tầm quan trọng của căn cứ quân sự mới này. Dạo tháng Mười Một năm vừa qua, các binh sĩ đồn trú tại Djibouti đã chính thức tham gia một cuộc thao diễn quân sự. Liền sau đó, cái loa tuyên truyền bằng Anh ngữ của Trung Cộng là Hoàn cầu Thời báo đã giải thích rằng “lẽ dĩ nhiên quân đội Trung Cộng trú đóng tại Djibouti phải luôn luôn sẵn sàng để chiến đấu”. Tờ báo này cũng rêu rao rằng Trung Cộng đã đầu tư trên 100 tỷ Mỹ kim tại Phi Châu, cho nên quân đội có nhiệm vụ phải “bảo vệ quyền lợi của Trung Cộng tại lục địa này”.
Với sự hiện diện của quân đội tại Djibouti, Trung Cộng muốn bắn đi 2 thông điệp: một là sức mạnh quân sự, hai là sứ mệnh hòa bình của mình. Cùng với sức mạnh quân sự, Trung Cộng nhấn mạnh rằng họ chỉ nhắm đến “quốc phòng”, nghĩa là tự vệ mà thôi.
Với sự hiện diện của quân đội nhân dân Trung Cộng tại Djibouti, chưa bao giờ người ta thấy các cường quốc lại gần nhau như tại nước này. 4000 binh sĩ Mỹ đang trú đóng tại Djibouti không thể không xem vùng đất này như một nơi đầy nguy hiểm. Họ chỉ được phép ra khỏi căn cứ khi có phép đặc biệt mà thôi. Cả các đơn vị của Pháp và Đức hiện đang trú đóng tại Djibouti cũng luôn tỏ ra rất cẩn trọng trong việc di chuyển. Từ trên không, khi các phi cơ của Mỹ, Pháp, Đức trở về căn cứ tại đông bắc Djibouti, các phi công đều có thể nhìn thấy rõ mọi sự bên dưới: hải cảng của Trung Cộng, căn cứ hải quân của Trung Cộng, vùng tự do mậu dịch mà Trung Cộng đang  xây dựng...Mọi sự xem ra rất gần với nhau, nhưng lại cũng rất xa cách nhau.

(nguồn:http://www.spiegel.de/international/world/djibouti-is-becoming-gateway-to-africa-for-china-)

Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2018

Nước mắt trong tuần chay

Chu Thập
23/02/18
Thảm sát lại xảy ra trong một trường trung học ở Parkland, Tiểu bang Florida, Hoa Kỳ. Chỉ từ đầu năm đến nay, nghĩa là chưa quá 2 tháng, đã xảy ra 18 vụ nổ súng và bắn giết trong các trường học ở Hoa Kỳ. Chẳng có nơi nào trên thế giới có chuyện kỳ quặc và dã man như thế. Đã là thảm sát thì đương nhiên hậu quả phải là bi thảm. Lẽ ra chỉ phải có nước mắt của đau xót và tiếc thương từ tận đáy tâm hồn con người. Nhưng tại quốc gia muốn mãi mãi là “vĩ đại” này, bắn giết và thảm sát, nhứt là trong các cơ sở giáo dục, đã trở thành một thứ thông lệ nhàm chán. Và dĩ nhiên những lời chia buồn, nhứt là từ cửa miệng của những nhà lãnh đạo quốc gia cũng trở thành một mớ sáo ngữ vô nghĩa và đương nhiên trở thành nhàm chán. Thật vậy, cũng như sau những vụ bắn giết khác, liền sau cuộc thảm sát tại trường trung học Marjory Stoneman Douglas ở Parkland, Tiểu bang Florida, trong buổi sáng ngày Valentine 14 tháng Hai vừa qua khiến cho 17 người bị thiệt mạng, trong đó phần lớn là học sinh, đương kim Tổng thống Mỹ Donald Trump đã gởi đến gia đình các nạn nhân và những người sống sót “những lời cầu nguyện và tưởng nhớ” (prayers and thoughts). Lâu nay tôi vẫn nghi ngờ về khả năng “cảm thông” của một ông tổng thống luôn tỏ ra hung hãn, tấn công, mạt sát và mạ lỵ không trừ một người nào, trừ nước Nga và tổng thống Vladimir Putin! Tôi cũng không biết ông có thực sự cầu nguyện không. Nhưng những người còn sống sót trong vụ thảm sát tại Parkland vừa qua đã không tin ở những “lời cầu nguyện và tưởng nhớ” của ông Trump.
Trước hết, hãy lắng nghe tâm sự của cô nữ sinh Carly Novell, 17 tuổi, một trong những học sinh còn sống sót trong vụ thảm sát, nhờ núp trong một chiếc tủ của phòng báo chí của trường cùng với 18 bạn học khác. Trong một “tuýt” được chia sẻ liền sau cuộc thảm sát, Carly cho biết cách đây 70 năm, ông ngoại của cô, ông Charles Cohen, lúc chỉ mới 12 tuổi, cũng đã từng trốn trong một tủ quần áo khi toàn bộ gia đình của ông bị sát hại trong một trong những vụ tàn sát  tập thể đầu tiên tại Hoa Kỳ xảy ra hồi năm 1949.
Thông điệp mà cô nữ sinh Carly muốn nhắn gởi đến tổng thống Trump và các nhà lập pháp Mỹ là: “Súng đạn mang lại cho  những người xấu cái khả năng bắn giết người khác. Đây là chuyện súng đạn và đây là chuyện của tất cả những người mà cuộc sống bị bất thần cướp đi vì súng đạn”. Cô nữ sinh này đã không xem trọng những “lời cầu nguyện và tưởng nhớ” của Tổng thống Trump. Cô muốn thấy có sự thay đổi và sự thay đổi trong luật kiểm sống súng đạn cá nhân.
Phẫn nộ, mạnh dạn, thẳng thắn và công khai hơn, một nữ sinh khác, cũng sống sót từ cuộc thảm sát, tên là Emma Gonzalez đã lên tiếng trong một cuộc biểu tình kêu gọi chính phủ ban hành luật kiểm soát súng đạn cá nhân. Sau khi kêu gọi dành một phút mặc niệm (điều mà Emma cho là chưa thấy có trong Quốc hội Liên bang) để tưởng nhớ và cầu nguyện cho các nạn nhân, Emma nói: “Lẽ ra tất cả những người này phải ở nhà để than khóc. Nhưng thay vào đó chúng tôi cùng nhau đến đây để đứng bên nhau bởi vì nếu tất cả những gì mà chính phủ của chúng ta và tổng thống của chúng ta làm được chỉ là gởi đi sự tưởng nhớ và những lời cầu nguyện thôi, thì đã đến lúc chính các nạn nhân phải làm một cuộc thay đổi”. Emma trích dẫn lời mà một giáo viên đã nói với em: “Khi những người lớn nói với tôi rằng tôi có quyền mang súng thì tất cả những gì mà tôi có thể nghe được là quyền mang súng được xem trọng hơn quyền sống của học sinh”. Theo Emma, nếu tên sát nhân chỉ có trong tay một con dao, hắn đã không thể giết hại được nhiều người như thế.
Trong bài diễn văn đọc tại cuộc biểu tình yêu cầu ban hành luật kiểm soát súng đạn cá nhân, Emma đã so sánh những gì đã diễn ra tại Hoa Kỳ với những nước như Úc Đại Lợi, Gia Nã Đại và Anh Quốc là những quốc gia đã ban hành luật để kiểm soát gắt gao súng ống cá nhân. Theo cô, tình trạng bạo động vì súng đạn tại Hoa Kỳ có liên hệ chặt chẽ với kỹ nghệ súng đạn, nhứt là tổ chức NRA (National Rifle Association: hiệp hội cổ võ mang súng) là nhóm đã ủng hộ cho ứng cử viên Trump 30 triệu Mỹ kim trong cuộc bầu cử hồi năm 2016.
Ngỏ lời với các nhà lập pháp, chính phủ và cá nhân Tổng thống Trump, Emma Gonzalez nói thẳng: “Hỡi  tất cả các chính trị gia đã nhận tiền của tổ chức NRA, thật là nhục nhã cho quý vị (shame on you)!” Đám đông tham gia cuộc biểu tình đã hô lớn khẩu hiệu “nhục cho quý vị” nhắm vào các nhà lập pháp và cá nhân Tổng thống Trump.
Nhưng hãy nghe tiếp “bản án” mà Emma muốn dành cho các chính trị gia ủng hộ việc cho cá nhân được tự do sở hữu súng đạn: “Họ (các chính trị gia) nói rằng luật kiểm soát chặt chẽ súng đạn sẽ không giảm bớt nạn bạo động vì súng đạn. Chúng tôi gọi đó là chuyện ruồi bu (we call in BS (bullshit). Họ nói rằng một người tốt có súng đạn trong tay sẽ chận đứng được một người xấu có súng trong tay. Chúng tôi gọi đó là chuyện ruồi bu. Họ nói rằng súng đạn cũng chỉ là phương tiện như dao kéo và cũng nguy hiểm như xe hơi. Chúng tôi gọi đó là chuyện ruồi bu. Họ nói rằng không có luật nào có thể ngăn ngừa được hàng trăm thảm trạng điên rồ đã xảy ra. Chúng tôi gọi đó là chuyện ruồi bu. Họ nói rằng trẻ con không biết gì về việc người lớn đang nói, rằng chúng tôi còn quá trẻ để hiểu được chính phủ hoạt động như thế nào. Chúng tôi gọi đó là chuyện ruồi bu”.
Để chứng tỏ không phải là “con nít” hoàn toàn không biết gì về hoạt động của chính phủ hay vô tư với chính mạng sống của mình, các học sinh còn sống sót trong cuộc thảm sát vừa qua tại Parkland đã loan báo sẽ tổ chức một cuộc biểu tình ngay tại Thủ đô Washington vào ngày 24 tháng Ba tới đây. Giới trẻ ngày nay muốn hành động và muốn thấy hành động chớ không phải những lời nói suông. Tại cuộc biểu tình do những người sống sót từ cuộc thảm sát tại Parkland tổ chức, người ta đọc được những biểu ngữ có nội dung đầy thách thức với chính phủ Trump: “Cầu nguyện và chia buồn chưa đủ! Các viên chức chính phủ của chúng ta cần phải hành động hoặc là từ chức”.
Cho tới nay, Tổng thống Trump vẫn chưa cho thấy ông có quyết tâm tìm kiếm một biện pháp cụ thể nào để chận đứng nạn bạo động vì súng đạn tại Hoa Kỳ. Với ông, vấn đề chính trong vụ thảm sát tại Parkland cũng như trong bất cứ một vụ bắn giết nào bằng súng đạn cá nhân, là bệnh tâm thần. Hung thủ là một người mắc bệnh tâm thần. Với thói quen đổ vạ và đánh bùn sang ao người khác, ông quy trách cho cơ quan điều tra trung ương FBI về vụ thảm sát, vì theo ông cơ quan này đã được báo cáo đầy đủ về hồ sơ của hung thủ nhưng không chịu ra tay mà lại phí giờ để điều tra việc Nga can thiệp vào cuộc bầu cử hồi năm 2016. Ngoài ra, cùng với “những lời cầu nguyện và tưởng nhớ”, Tổng thống Trump cũng khuyên nhủ mọi người hãy “lấy sự tử tế để đáp lại sự hung ác”. Riêng với các học sinh, ông dạy hãy xây dựng những quan hệ tốt đẹp để “biến bạn học thành bạn hữu và láng giềng” (www.newyorker.com/news/our-columnists/president-trumps-victim-blaming-response-to-the-mass-shooting-in-florida). Tuyệt nhiên, Tổng thống Trump không đá động gì đến chuyện súng ống trong tay của những người mắc bệnh tâm thần hay những thành phần bất hảo trong xã hội hoặc ngay cả trong tay những người bình thường đi nữa.
Chuyện đáng suy nghĩ nhứt mà những người sống sót từ cuộc thảm sát ở Parkland, dù có bị xem là “con nít” đi nữa, vẫn có thể nhận ra và như em Emmanuel Gongalez đã nhận xét một cách chí lý là: “Nếu tên sát nhân chỉ có trong tay một con dao, hắn đã không thể giết được nhiều người như thế!” Tổng thống Trump và các nhà lập pháp Mỹ đã không nhận ra hay không muốn nhận ra điều đó.
Hoa Kỳ, mặc dù dân số không chiếm tới 5 phần trăm dân số thế giới, nhưng sở hữu từ 35 đến 50 phần trăm số súng đạn cá nhân của toàn thế giới: trung bình cứ 100 người Mỹ thì có đến 88 khẩu súng! Chỉ cần sự hiện diện của một khẩu súng trong tay ai đó cũng đủ để một ai đó trở thành nạn nhân của bạo động vì súng đạn! Trong tay của một ai đó mắc bệnh tâm thần hay một người  bình thường nhưng có thể hành động bất thường trong một lúc bốc đồng nào đó, một khẩu súng cũng đủ để tạo ra một thảm kịch đau buồn cho cả nước.
Gởi lời chia buồn, tưởng nhớ và cầu nguyện đến gia đình các nạn nhân của vụ thảm sát là một cử chỉ cao đẹp đáng được đề cao. Trong cơn hoạn nạn, ai mà không cần được người khác, nhứt là các nhà lãnh đạo đất nước, ưu ái nâng đỡ. Vị tổng thống Mỹ nào cũng đều cư xử như thế cả. Nhưng trong bối cảnh của vụ thảm sát vừa qua và vô số những thảm trạng có liên quan đến súng đạn cá nhân xảy ra như một thông lệ nhàm chán, như các học sinh ở Parkland đã nhận xét, “cầu nguyện và tưởng nhớ” thôi sẽ không bao giờ chấm dứt được nạn bạo động vì súng đạn tại Hoa Kỳ, nếu không muốn nói đó chỉ là những sáo ngữ trên môi mép.
Vụ thảm sát tại Parkland xảy ra vào ngày Valentine và cũng là ngày mà Kitô Giáo trên toàn thế giới gọi là Ngày Thứ Tư Lễ Tro, khởi đầu mùa Chay để chuẩn bị mừng lễ Phục Sinh. Tổng thống Trump đã được 80 phần các tín hữu tin lành bảo thủ dồn phiếu cho trong cuộc bầu cử năm 2016 vì họ tin rằng ông là một tín đồ tốt biết bảo vệ những giá trị truyền thống của Kitô Giáo. Tôi không biết hôm đó Tổng thống Trump có đến nhà thờ để được xức tro trên đầu hầu tỏ dấu ăn chay, sám hối, cầu nguyện trong mùa chay  và nói lên quyết tâm cải thiện như các Giáo hội Kitô kêu gọi không.
Tôi biết rằng đối với các tín hữu Kitô, mùa chay là mùa của cầu nguyện, chay tịnh và nhứt là thay đổi cuộc sống bằng những hành động cụ thể. Lời kêu gọi của các nhà lãnh đạo Kitô Giáo trong mùa chay mà tôi thường nghe được mỗi năm là: cùng với lời cầu nguyện, chay tịnh và kiêng khem, hãy mở rộng trái tim và đôi tay để chia sớt  với mọi người, nhứt là những người cần được giúp đỡ. Tựu trung, như Phật Giáo thường dạy, “dù xây chín đợt phù đồ, không bằng làm phước cứu cho một người”. Tuần chay nào cũng có nước mắt, nhưng nếu nước mắt không đi kèm với những hành động cụ thể của quảng đại, yêu thương, bác ái, chia sẻ, cảm thông, tha thứ...thì nước mắt của tuần chay cũng chỉ là nước mắt cá sấu.






Thứ Hai, 26 tháng 2, 2018

Sardinia: một bí quyết sống thọ!

23/02/18
Antonio Todde là người đàn ông đầu tiên trên thế giới đã sống đến 110 tuổi. Người đàn ông có tuổi thọ cao nhất thế giới này sống tại Tiana, một ngôi làng trên Đảo Sardina, miền nam Ý Đại Lợi.
Cụ Todde sinh vào khoảng cuối thập niên 1880 và qua đời hồi năm 2002. Như vậy cuộc sống của cụ đã trải rộng ra 3 thế kỷ. Cụ ông Tonino, con trai của cụ, hiện cũng đã 84 tuổi, đã cho biết như thế. Cụ ông này cũng hy vọng sống đến 100 tuổi.
Tiana chỉ là một ngôi làng thuộc một vùng trong đó tỷ lệ của những người sống đến 100 tuổi được xem là cao gấp 3 lần so với những vùng khác của Đảo Sardinia và toàn nước Ý.
Mặc dù di truyền, cách dinh dưỡng và sự vận động thể lý thường được xem là những yếu tố nòng cốt trong bí quyết sống thọ của người dân làng Tiana, nhưng các cuộc nghiên cứu về tuổi thọ của người dân tại Địa Trung Hải nói chung thường chỉ ra rằng quan hệ xã hội mới là chìa khóa giải thích về tuổi thọ. Theo kết quả của những cuộc nghiên cứu về tuổi thọ của người dân Địa Trung Hải, sự quan tâm và chăm sóc của gia đình cũng như mối giây liên kết trong cộng đồng giúp duy trì được sức khỏe tinh thần của con người. Và đây mới chính là điều quan yếu cho sức khỏe thể lý cũng như tinh thần của con người.
Vào đầu thập niên 2000, Tiến sĩ Giovanni Pes, một bác sĩ kiêm chuyên gia về dân số học người Ý, đã nhận thấy rằng tử xuất của người dân tại nhiều làng thuộc miền trung Đảo Sardinia rất thấp, trong khi đó tuổi thọ của họ lại rất cao.
Cách đây gần 20 năm, Tiến sĩ Pes đã viếng thăm hầu như tất cả 377 thị xã trên Đảo Sardinia. Qua những chuyến viếng thăm này, nhà khoa học này muốn chứng minh rằng có một số vùng trên đảo có rất nhiều người đã có một tuổi thọ đặc biệt. Mỗi khi tìm thấy một thị xã nào đạt được một số tiêu chuẩn và có đông người sống thọ, Tiến sĩ Pes đánh một dấu xanh. Những dấu xanh như thế đã được ông gọi là Vùng Xanh (Blue Zone) của Đảo Sardinia.
Những dấu xanh như thế không chỉ dành riêng cho bản đồ của Đảo Sardinia. Các nhà khoa học cũng đã tìm thấy một số những vùng xanh như thế tại một số nơi khác trên thế giới như Đảo Okinawa ở Nhật Bản, Đảo Nicoya ở mạn Tây Bắc Costa Rica và Đảo Ikaria của Hy Lạp. Đây là những vùng có rất nhiều người có tuổi thọ cao.
So sánh các đảo này với nhau, các nhà khoa học nhận thấy có một số điểm chung. Trước hết, vì địa lý hay vì một số lý do khác, hầu hết dân số của những đảo trên đây đều sống biệt lập trong một thời gian dài. Do tách biệt với đất liền cho nên đã có những cuộc hôn phối giữa những người bà con xa. Theo  các nhà khoa học, có thể đây là một trong những yếu tố giúp cho một số “gen” sống thọ được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy rằng do bị biệt lập cho nên những vùng xanh này chậm phát triển về kinh tế và xã hội, do đó cũng tương đối nghèo hơn so với những vùng khác và cũng tiếp cận với chủ nghĩa tư bản trễ hơn. Tuy nhiên, mặc dù nghèo và do đó không có nhiều lương  thực, nhưng những vùng xanh như thế lại có cách dinh dưỡng lành mạnh hơn. Ngoài ra, một mẫu số chung khác của những vùng xanh này là người dân có cuộc sống đòi hỏi nhiều vận động thể lý hơn, đồng thời thiên về lối sống tập thể hơn là cá nhân chủ nghĩa. Có lẽ đây là lý do khiến cho người dân trong các vùng xanh ít bị căng thẳng hơn. Cuối cùng, điểm nổi bật của những vùng xanh chính là mối quan hệ xã hội khắng khít của người dân. Đây là yếu tố cho phép người già của những vùng này vẫn còn cảm thấy mình là một phần quan trọng của xã hội.
Nhưng điều độc đáo của riêng Đảo Sardinia chính là số đàn ông sống thọ tại đây cao hơn mức trung bình rất nhiều so với nhiều vùng khác trên thế giới. Theo Tiến sĩ Pes, tại phần lớn các nước Tây Phương, trong 4 người sống đến 100 tuổi, chỉ có một người thuộc nam giới. Trong khi đó, tại Sardinia, số đàn ông và đàn bà sống đến 100 tuổi lại ngang ngửa nhau!
Để tìm hiểu hiện tượng này, thoạt tiên Tiến sĩ Pes đã phân tách hệ di truyền của người dân Đảo Sardinia. Nhà khoa học này cho rằng vì sống tách biệt với đất liền cho nên người dân đảo này thừa hưởng được hệ di truyền đặc biệt giúp họ sống thọ. Tuy nhiên, thật ra theo Tiến sĩ Pes, hệ di truyền chỉ đóng góp được từ 20 đến 25 phần trăm vào tuổi thọ của con người. Ông đã phỏng vấn các cụ già trên đảo cũng như nghiên cứu các dữ kiện lịch sử của  đảo. Kết quả cho thấy rằng các yếu tố tâm lý và xã hội mới thực sự là chia khóa của tuổi thọ của người dân Sardinia.
Luigi Corda, tác giả của tập sách “100 x 100: Thế kỷ 20 xuyên qua chân dung của 100 cụ 100 tuổi tại Sardinia”, đã bỏ ra 2 năm để chụp hình và phỏng vấn các cụ 100 tuổi tại nhiều vùng trên đảo. Trong tập sách, ông Corda khẳng định  rằng “gia đình đóng một vai trò quan trọng đối với tuổi thọ”. Theo ông, ngoài những yếu tố như di truyền, cách dinh dưỡng và niềm tin tôn giáo, các cụ già luôn tỏ ra tích cực và ham sống khi cảm thấy được gia đình chăm nom săn sóc và cảm thấy mình vẫn còn là cột trụ của gia đình.
Tác giả Corda cũng ghi nhận rằng tất cả những cụ già 100 tuổi mà ông đã gặp gỡ đều khỏe mạnh: họ vẫn còn tỏ ra rất sáng suốt và không dùng bất cứ loại thuốc nào; các cụ cũng đọc sách báo mà không cần kiếng lão và vẫn tiếp tục làm việc như mọi người.
Theo bà Maria Chiara Fastame, một chuyên gia tâm lý thuộc trường Đại học Cagliaria ở miền nam Sardinia, khác với nhiều nơi  ở Bắc Ý, các cụ già tại Sardinia không phải bị đưa vào các viện dưỡng lão. Thân nhân và láng giềng chăm sóc các cụ, biến mỗi ngôi nhà thành một nơi gặp gỡ giữa người già và người trẻ. Các thế hệ già không bị xem như một gánh nặng, mà trái lại như những người chuyển tải những giá trị và sự hiểu biết. Giáo sư Fastame khẳng định: “Họ (người già) là một kho tàng của cộng đồng”.
Claudio Cabiddu, một thanh niên sinh ra tại Sardinia và hiện đang là sinh viên theo học về tâm lý của người 100 tuổi tại Đại học Cagliaria chia sẻ: “Nơi tôi lớn lên, tôi đã được các cụ già đã từng làm việc và nuôi súc vật bao bọc. Nếu chúng tôi không thể học được từ các cụ và truyền lại kiến thức cho con cái chúng tôi, chúng tôi sẽ bị mất mát rất nhiều”.
Trong làng của Cabiddu, người già được đón nhận về nhà và được gia đình chăm sóc. Người sinh viên này giải thích rằng khi có người già trong gia đình, mọi người sẽ tiếp tay với nhau để giúp cho họ không cảm thấy cô đơn.
Ngoài tình gia đình, người già cũng liên kết với cộng đồng xuyên qua các sinh hoạt xã hội như lễ hội, thi đấu thể thao, đánh cờ v.v
Nhờ được tham gia vào các sinh hoạt xã hội trong làng, người già cũng có được một vai trò tích cực trong cộng đồng. Nhờ hoạt động, đầu óc của người già luôn tỏ ra minh mẫn.
Theo Giáo sư Fastame, “nhìn dưới khía cạnh tâm lý, môi trường xã hội là một yếu tố nền tảng giúp cho người già được sống khỏe mạnh về thể lý lẫn tinh thần”
Sarah Harper, một giáo sư chuyên về tuổi già tại đại học Oxford, Anh Quốc, cũng nhìn nhận rằng môi trường xã hội là một yếu tố quan trọng giúp sống thọ. Theo bà, môi trường xã hội cũng quan trọng không kém  nếp sống lành mạnh, cách dinh dưỡng tốt trong việc sống thọ.
Paul Hitchcott, một giáo sư tâm lý học cũng thuộc trường Đại học Cagliari ghi nhận rằng rất hiếm thấy những triệu chứng về trầm cảm nơi những người già tại miền trung Đảo Sardinia. Người ta ít thấy nơi họ dấu hiệu của những chứng bệnh mà người già tại những nơi khác thường trải qua trong những năm cuối đời.
Theo Tiến sĩ Pes, mặc dù là một vùng có thu nhập thấp, nhưng Sardinia lại là một nơi ít có những chứng bệnh truyền nhiễm.
Cụ bà Maria Tegas là một trong những cụ bà 100 tuổi của làng Tiana. Mồ côi năm chỉ mới được một tuổi, cụ bà lúc nào cũng nhớ lại thế nào là đói. Khi lập gia đình, bà đã phải đi bộ mỗi ngày 24 cây số trên một con giốc đầy sỏi đá để mang thức ăn về cho 6 đứa con nhỏ. Với giọng nói nhỏ nhẹ nhưng rõ ràng, bà Tegas nói: “Chúng tôi đã sống như chim trên trời”. Ý bà muốn nói đến cuộc sống thiếu thốn qua ngày. Phải đợi đến năm 50 tuổi, khi nhận được chút trợ cấp xã hội, cuộc sống của bà mới dễ thở hơn.
Tuổi thọ của bà Tegas cũng như ông Todde và hằng trăm cụ ông cụ bà 100 tuổi trên Đảo Sardinia quả là một ẩn số y khoa kể từ khi các nhà khoa học bắt đầu đánh dấu xanh vào một số thị xã trên đảo này: tại sao người dân tại những điểm xanh trên đảo có tuổi thọ cao hơn những nơi khác trên đảo? Trung bình, cứ 100.000 dân trên toàn Đảo Sardinia mới có khoảng 24 người sống đến 100 tuổi, trong khi đó tại những điểm xanh trên đảo, tỷ số này là 3 trên 5, nghĩa là cứ 5 người thì đã có đến 3 người sống đến 100 tuổi.
Có nhiều lý thuyết được các nhà khoa học đưa ra để giải thích về tuổi thọ đặc biệt tại một số vùng xanh của Đảo Sardinia. Nhưng  qua cuộc sống hàng ngày của họ, người ta có thể học được một số nguyên tắc cụ thể. Trước hết, người dân Sardinia tin rằng không gì quan trọng cho bằng gia đình và tình bằng hữu. Họ luôn trân quý và nuôi dưỡng các mối quan hệ lành mạnh này. Kế đó, cười là một bí quyết để sống thọ của người Sardinia. Người Sardinia nổi tiếng về óc khôi hài của họ. Tiếng cười giảm bớt sự căng thẳng và ngay cả hạ giảm nguy cơ về các bệnh tim mạch.
Nhưng được người dân Sardinia đánh giá cao hơn cả vẫn là sự tôn trọng đối với người già. Họ tin rằng thế hệ người già đóng một vai trò quan trọng trong việc mang lại tình thương, sự hướng dẫn và lẽ khôn ngoan. Đây là bằng chứng cho thấy rằng cảm thấy được yêu thương và trân trọng sẽ giúp cho con người sống thọ hơn hay ít nhất mang lại cho con người cảm hứng và động lực để sống lâu hơn.
Nhìn vào cuộc sống hàng ngày của người Sardinia, một cảnh tượng sẽ  tức khắc đập vào mắt của du khách: họ đi bộ rất nhiều! Đảo Sardinia, nhất là miền Trung, là một vùng đất sỏi đá, nắng cháy khiến cho việc canh tác ở một quy mô lớn rất khó khăn. Tuy nhiên, đây là một vùng lý tưởng cho việc chăn nuôi và đi bộ mỗi ngày không dưới 10 cây số là chuyện thường ngày đối với những người chăn nuôi súc vật. Ngày nay ai cũng biết rằng đi bộ là phương cách tốt nhất giúp điều hòa tim mạch và làm cho giãn gân giãn cốt.
Cuối cùng, cách dinh dưỡng của người Sardinia thật đơn giản: thức ăn chính của họ là bánh mì “nguyên hạt” (whole grain), rau quả hoa trái trong vườn và đậu. Riêng những người mục tử thì lại dùng loại phó mát “pecorino” được làm bằng sữa dê. Người Sardinia chỉ ăn thịt vào ngày chủ nhật hoặc những dịp đặc biệt mà thôi.

(nguồn:
-https://edition.cnn.com/2018/02/06/health/sardinia-centenarian-village-tiana/index.html

-https://www.theguardian.com/world/2016/aug/12/ethical-questions-raised-in-search-for-sardinian-centenarians-secrets)