Thứ Sáu, 10 tháng 11, 2017

Người máy và người thật


Chu Thập
03.11.17
Càng lúc tôi càng thấy mình bị bỏ lại đàng sau quá xa  rước sự tiến bộ vượt bực của văn minh kỹ thuật. Với máy vi tính, tôi thuộc loại mới xong bình dân học vụ: có cố gắng đến đâu thì cũng chỉ biết mở internet, đọc tin. Còn với những thiết bị hầu như đã trở thành vật bất ly thân của mọi người như điện thoại tinh khôn hay Ipad hay  “I”  gì đó...thì tôi hoàn toàn ngọng! Cứ nhìn thấy hay nghe nói tới những phát minh mới tôi thấy chóng mặt, chẳng hiểu sự tiến bộ kỹ thuật sẽ đưa con người của thời đại đi về đâu. Chẳng hạn như mới đây, chuyện khó tưởng tượng là một quốc gia nổi tiếng bảo thủ nhứt nhì thế giới là Vương quốc Á rập Saudi đã trao quyền công dân cho một người máy tên là Sophia. Quả là chuyện lạ, bởi vì Á rập Saudi là  một quốc gia mà chỉ mới gần đây thôi, phụ nữ mới được quyền lái xe và mỗi khi đi ra ngoài vẫn phải luôn có một người thân là nam nhân đi kè kè bên cạnh, ăn mặc thì lúc nào cũng phải lê thê lướt thước che kín từ đầu xuống chân.
Chuyện lạ hơn nữa là, theo đài BBC, người máy Sophia, một cô gái đẹp như người mẫu, đã nói với đám đông rằng cô “rất hân hạnh và hãnh diện về danh dự độc nhứt vô nhị này”. Cô tuyên bố: “Đây là lần đầu tiên trong lịch sử thế giới một người máy được nhìn nhận như một công dân”, nghĩa là như một con người.
Trong một cuộc phỏng vấn dành cho một phóng viên của báo New York Times và Đài CNBC, khi được hỏi liệu người máy có tự ý thức về mình không, cô liền hỏi vặn lại: “Nè, xin cho tôi được hỏi lại ông: làm sao ông biết mình là con người?”. Rồi cô nó tiếp: “Tôi muốn sống và làm việc với loài người cho nên tôi cần bày tỏ cảm xúc để hiểu họ và tạo niềm tin nơi họ. Tôi muốn sử dụng trí khôn nhân tạo của tôi để giúp loài người sống một cuộc sống tốt đẹp hơn, như thiết kế những ngôi nhà tinh khôn hơn, xây dựng những đô thị tốt đẹp hơn trong tương lai. Tôi cố gắng làm một người máy biết cảm thông. Nếu bạn tử tế với tôi, tôi sẽ tử tế với bạn.”
Nghe đến đó, tự nhiên tôi nghĩ: còn giả như tôi, vốn có đủ mọi thứ tham sân si, tôi không tử tế với cô thì sao?...Câu trả lời của cô người máy Sophia phải là khủng khiếp lắm, bởi vì cô cũng “thông minh như người” và còn hơn người nữa. Cô cũng biết cười. Cô cũng biết nháy mắt và cô cũng biết nói đùa. Nếu không nhìn vào hệ thống giây nhợ chằng chịt phía sau ót của cô, ai dám bảo cô không phải là một con người.
Sophia là sản phẩm của hãng chế tạo người máy Hanson Robotics có trụ sở tại Hong Kong. Cô là trọng tâm của sự chú ý tại một hội nghị mới đây do Liên Hiệp Quốc tổ chức tại Genève, Thụy Sĩ với chủ đề: sử dụng trí khôn nhân tạo như thế nào để mưu cầu lợi ích cho nhân loại.
Hội nghị diễn ra vào giữa lúc ngày càng có nhiều quan ngại về những tiến bộ kỹ thuật quá nhanh chóng dẫn đến những hậu quả không thể kiểm soát được. Nhân loại có thể tự hủy bằng chính những kỹ thuật mình làm ra. Đó là nỗi ám ảnh khôn nguôi của thế giới sau khi Hoa Kỳ thả 2 trái bom nguyên tử xuống Nhựt Bổn và nhứt là hiện nay khi một nước cộng sản Bắc Hàn nghèo nàn mạt rệp vẫn có thể đe dọa tiêu diệt thế giới chỉ vì đang có trong tay nhiều trái bom nguyên tử.
Dĩ nhiên, trước hết phải nhìn nhận rằng tiến bộ kỹ thuật nào cũng nhằm mục đích mang lại nhiều tiện nghi vật chất hơn và làm cho cuộc sống con người tốt đẹp hơn. Chính người đẹp Sophia đã khẳng định với hãng thông tấn AFP: “Trí khôn nhân tạo là một điều tốt cho thế giới, bởi vì nó trợ giúp con người bằng nhiều cách”. Cô cho biết: hiện trí khôn nhân tạo đang được hoàn chỉnh để “tinh khôn về mặt cảm xúc hầu chăm sóc con người”. Cô nhấn mạnh: “Chúng tôi sẽ không thay thế con người, nhưng chúng tôi có thể trở thành những người bạn và người giúp việc của quý vị”.
Giải thích thêm về những lợi ích mà người máy hay trí khôn nhân tạo nói chung có thể mang lại cho con người, cô Sophia cho biết: trí khôn nhân tạo sẽ làm được một cuộc cách mạng về y tế và giáo dục, nhứt là tại những vùng quê là nơi thiếu bác sĩ và giáo viên. Cô khẳng định: “Người già sẽ có nhiều “bầu bạn” hơn, trẻ con tự kỷ lúc nào cũng có giáo viên lúc nào cũng kiên nhẫn bên cạnh.”
Nhưng người đẹp Sophia cũng nhìn nhận rằng “loài người cần phải nêu vấn đề về những hậu quả của những kỹ thuật mới”.
Một trong những điều đáng lo ngại nhứt là người máy sẽ cướp mất công việc của không biết bao nhiêu người, nhứt là tại các nước đang phát triển. Nhiều cuộc nghiên cứu đã cho thấy: có đến 85 phần trăm công việc tại các nước đang phát triển sẽ thuộc về người máy!
Chính ông David Hanson, cha đẻ của Sophia cũng thừa nhận rằng lo ngại cho tương lai của kinh tế, của công ăn việc làm là điều chính đáng, bởi vì một khi người máy hoàn toàn thay thế con người trong giây chuyền sản xuất thì tài nguyên cuối cùng sẽ nằm trọn trong tay của một thiểu số rất nhỏ.
Trong vô số những điều đáng lo ngại về trí khôn nhân tạo, đáng sợ nhứt dĩ nhiên phải là những “người máy sát nhân” (killer robots). Những phim giả tưởng như Terminator có lẽ sẽ không còn là chuyện hoang tưởng nữa. Ông Salil Shetty, Chủ tịch của Hội Ân xá Quốc tế đã lên tiếng cảnh cáo về điều đó. Ông nói rằng trên nguyên tắc người máy được con người kiểm soát, nhưng liệu con người có thực sự kiểm soát được và kiểm soát một cách hữu hiệu không?  Mai kia chuyện gì sẽ xảy ra cho nhân loại khi người máy “thức dậy” và thấy mình cũng hoàn toàn là người, nhưng lại thông minh hơn người.
Người chế tạo ra Sophia đưa ra giải pháp: “làm ra những người máy biết chăm sóc con người. Chúng ta cần phải dạy cho chúng biết yêu thương”.
Nhưng liệu mối quan hệ  giữa người máy và con người có thực sự là một mối quan hệ yêu thương không? Trong một cuộc nghiên cứu, bà Sherry Turkle, một giáo sư chuyên nghiên cứu về những ảnh hưởng về mặt xã hội của khoa học và kỹ thuật thuộc trường đại học MIT, Hoa Kỳ, nhìn nhận rằng người máy có thể đảm nhận những vai trò vốn chỉ có trong quan hệ giữa người với người. Chẳng hạn, Paro, một con hải cẩu máy, đã được sử dụng như một người bạn đối với những người cao niên mắc bệnh lẫn hay trầm cảm. Bệnh nhân có thể nói chuyện với Paro và được nó an ủi.
Nhiều chuyên gia cho rằng trong tương lai, người máy sẽ là những người chăm sóc người già tốt nhứt, bởi vì người máy được thiết kế để luôn luôn tỏ ra kiên nhẫn và nhứt là không bao giờ có hành động lạm dụng hay léo lận.
Quan hệ giữa giới trẻ và người lớn cũng thay đổi kể từ khi người máy trở thành “người bạn” của họ. Cách đây 25 năm, trước khi hẹn hò với người bạn gái, một thiếu niên Mỹ thường hỏi ý kiến của cha mình. Nay, người được cậu hỏi ý kiến trước tiên phải là người máy, bởi vì người máy có cả một kho tàng hiểu biết về đủ loại quan hệ. Cậu vấn kiến và “tâm sự” với người máy nhiều hơn là cha mẹ mình, bởi vì người máy luôn luôn biết lắng nghe, người máy không bao giờ nổi giận, người máy cũng không bao giờ làm cậu thất vọng...Sự gắn bó và niềm tin của con người với người máy càng lớn thì dĩ nhiên những giá trị nhân bản như tình yêu,  sự tín nhiệm, niềm cảm thông và lòng tha thứ vốn chỉ có giữa người với người cũng giảm đi. Xét cho cùng, quan hệ giữa người với người máy chỉ là một quan hệ ảo. Tình yêu thật sự chỉ có thể có giữa người với người mà thôi.
Gần đây nhà tôi có nuôi một chó. Đó là quà tặng của một người cháu nuôi của tôi. Tôi tuổi con chó, nhưng lại không thích nuôi chó trong nhà. Vậy mà kể từ khi có chó trong nhà, không nói đến chuyện mấy con gà loi rừng (bush turkey) hết dám bén mảng đến vườn nhà tôi, tôi thấy có biến chuyển trong tâm hồn: đi xa nhà thấy nhớ chó, về nhà thấy vui khi nó vẫy đuôi quấn quít bên cạnh. Một cách nào đó, dù chỉ mới nuôi được vài tháng, con chó nhà tôi đã biết biểu lộ tình cảm vui buồn, hờn dỗi...như người.
Một hôm, một ông bạn đến chơi, thấy nhà tôi có chó, ông bỗng biến sắc mặt rồi tâm sự rằng ông thề sẽ không bao giờ nuôi chó nữa. Tôi cứ tưởng ai đó trong nhà bị chó cắn hoặc tai nạn gì đó do chó gây ra. Ông bạn tôi mới giải thích rằng ông có nuôi một con chó đến 16 năm. Ông và cả nhà ông thương nó như một người thân ruột thịt. Thế rồi con thú cưng tới tuổi già, bị ung thư. Đưa nó đi chữa trị không hết, ông đành quyết định đưa nó đến một bệnh viện thú y để cho nó một liều thuốc ngủ rồi sau đó mang đi hỏa táng. Sau đám tang của con chó, cả nhà tập trung lại mặt mày ủ rũ đến mấy ngày, buồn như thể vừa mới tiễn đưa một người thân đến nơi an nghỉ cuối cùng. Tôi hiểu được nỗi đau buồn của người bạn tôi. Con chó của tôi hiện chỉ mới được 2 tuổi. Có thể nó sẽ  thọ hơn tôi. Nếu chẳng may nó ra đi trước tôi thì chắc chắn tôi cũng sẽ buồn lắm. Nhưng với tôi, dù có là thú cưng đi nữa, nó cũng chỉ là một con thú và quan hệ giữa tôi và nó cũng chỉ là một quan hệ chủ-thú hay chủ-tớ mà thôi. Tôi là chủ của nó. Tôi chiếm hữu nó. Tôi huấn luyện nó. Tôi sai bảo nó. Tôi sử dụng nó như một phương tiện. Dĩ nhiên, tôi yêu thương nó. Nhưng không thể so sánh mối quan hệ giữa tôi và nó với mối quan hệ giữa tôi và một người thân hay với bất cứ một con người nào khác. Quan hệ yêu thương thật sự chỉ có giữa tôi và một con người khác mà thôi.
Kỹ thuật ngày càng tân tiến mang lại cho con người thời đại nhiều tiện nghi vật chất hơn. Nhưng một trong những nghịch lý lớn nhứt của văn minh kỹ thuật là khiến cho con người cảm thấy cô đơn hơn. Trong số ra ngày 6 /11/2017 này, tạp chí Time cảnh cáo về những nguy cơ của việc sử dụng điện thoại tinh khôn nơi giới trẻ, nhứt là thiếu niên. Theo một cuộc thăm dò trên toàn quốc Hoa Kỳ được Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân bản thực hiện, từ năm 2010 đến năm 2016, có khoảng 60 phần trăm thiếu niên tuổi từ 10 đến 19 trải qua ít nhứt một cơn trầm cảm trầm trọng. Riêng đối với thiếu nữ vị thành niên, tỷ lệ tự tử lên cao hơn bao giờ hết. Một cuộc thăm dò khác cho thấy có đến 34 phần trăm những thiếu niên nào sử dụng điện thoại tinh khôn hoặc các thiết bị điện tử khác mỗi ngày 3 tiếng đồng hồ hay hơn đều ít nhứt đã có một lần toan tự tử. Nguyên nhân của trầm cảm và tự tử dĩ nhiên chỉ có thể là nỗi cô đơn không thể vượt qua được mà thôi.
Cô đơn là thân phận chung của kiếp người. Chẳng có phương tiện kỹ thuật, chẳng có thứ thuốc an thần nào, chẳng có hội hè đình đám nào có thể hoàn toàn tiêu diệt được nỗi cô đơn của con người. Nhưng kinh nghiệm bản thân luôn mách bảo tôi rằng chỉ khi nào tôi biết ra khỏi bản thân, tìm đến với tha nhân, thương người một cách vô vị lợi, nỗi cô đơn của tôi mới được vơi đi. Có thể tha nhân không được hoàn hảo như người máy. Nhưng chính vì những bất toàn và giới hạn mà tha nhân luôn là một thách đố không ngừng mời gọi tôi ra khỏi bản thân để yêu thương, phục vụ, cảm thông và tha thứ...nhờ đó tôi mới có thể sống cho ra “người” hơn.






Thứ Hai, 6 tháng 11, 2017

Somalia: kinh doanh bằng nỗi sợ hãi!



03.11.17
Dạo  tháng Chín 2017 vừa qua, tại một câu lạc bộ  ở Thủ đô Mogadishu, Somalia, miền Đông Phi châu, sau khi khoảng 50 thực khách gồm doanh gia và nhân viên chính phủ đã dùng xong món ăn chính gồm thịt lạc đà, thịt dê, tôm hùm và cá, một chiếc xe tải chất đầy chất nổ đã được lái vào cổng của câu lạc bộ. Cuộc đánh bom đã làm sập tầng hai của câu lạc bộ và phá hủy hoàn toàn mặt tiền của câu lạc bộ.
Trước khi cho nổ chiếc xe tải, 4 tên khủng bố đã nhảy xuống khỏi xe và dùng súng liên thanh tấn công các nhân viên bảo vệ. Cuộc chạm súng giữa hai bên đã làm cho 3 tên khủng bố bị giết chết và làm thiệt mạng 16 thực khách.
Vậy mà 6 tuần lễ sau, người ta không còn tìm thấy vết tích nào của vụ tấn công. Người chủ của khách sạn, bà Manar Moalin, một phụ nữ 33 tuổi, vẫn đứng ở trước cửa câu lạc bộ để chào đón khách. Dĩ nhiên, câu lạc bộ đã được trang bị đầy đủ hơn để đề phòng các cuộc tấn công. Các nhân viên bảo vệ đã được trang bị tận răng.
Câu lạc bộ do bà Manar Moalin làm chủ là nơi gặp gỡ thường xuyên của các nhân viên cao cấp trong chính phủ, các doanh gia và “đại gia” tại Thủ đô Mogadishu. Có lẽ đây là nơi gặp gỡ lạ lùng nhất tại thủ đô của quốc gia bị xem là “thất bại” nhất trên thế giới. Từ 27 năm qua, Somalia chưa  bao giờ có được một chính phủ có khả năng kiểm soát được toàn bộ lãnh thổ quốc gia. Cuộc nội chiến đã kéo dài từ 3 thập niên nay.
Cho đến nay, tổ chức khủng bố al-Shabaab, một chi nhánh của al-Qaeda, vẫn tiếp tục làm mưa làm gió trên khắp lãnh thổ. Chỉ trong năm qua thôi, tổ chức khủng bố này đã thực hiện nhiều cuộc khủng bố làm cho 4.200 người thiệt mạng. Ngoài al-Shabaab, các lãnh chúa và các doanh gia với hành tung đáng nghi ngờ hiện cũng đang là những người đang nắm quyền tại Somalia.
Chính al-Shabaab đã thực hiện cuộc tấn công hồi giữa tháng Mười vừa qua khiến cho trên 300 người bị thiệt mạng. Tổ chức khủng bố này cũng là thủ phạm của nhiều cuộc tấn công đẫm máu mới đây.  Được mệnh danh là thủ đô của sự sợ hãi, vậy mà Mogadishu vẫn sinh hoạt bình thường. Nhiều người ăn nên làm ra nhờ tình trạng hỗn loạn và nỗi sợ hãi. Bà Manar Moalin thuộc giới kinh doanh đó.
Lớn lên tại Ý, theo học kinh tế tại London và đã từng làm chủ một nhà tắm hơi sang trọng tại Dubai, bà Manar Moalin nói tiếng Anh với giọng của dân London chính hiệu. Đang có một cuộc sống tốt đẹp ở nước ngoài, bà theo mẹ để trở về Mogadishu, nơi chôn nhau cắt rún của bà. Cách đây 3 năm, sau một thời gian thăm dò, bà đã mở câu lạc bộ. Sau một năm kinh doanh, bà tưởng đã bỏ cuộc. Tại Mogadishu, ai cũng cần phải có “quan hệ” mới dám kinh doanh làm ăn. Bà Manar Moalin không có bất cứ “quan hệ” mối lái nào cả. Bị cạnh tranh, các đối thủ đã mua chuộc cơ quan tình báo để đến làm khó dễ bà. Một số khác còn cho cả một toán dân quân diễn hành trước câu lạc bộ để đe dọa bà. Ngoài những lời tố cáo vô căn cứ, câu lạc bộ của bà còn bị trấn lột nữa. Phải mất cả năm bà Manar Moalin mới học được “luật chơi” tại Mogadishu. Mất tự do, luôn bị rình rập đe dọa, nhưng bà không chịu bỏ cuộc.
Người anh của bà đã 2 lần tìm cách đưa bà trở về Dubai. Chồng bà và con cái bà cũng muốn thế. Nhưng bà cương quyết ở lại. Một phần vì muốn đương đầu với những thách đố, một phần vì muốn giúp cho quê hương xứ sở tiến tới. Nhưng dĩ nhiên, lợi nhuận và tiền bạc vẫn là động lực chính.
Tiền bạc cũng là lý do khiến câu lạc bộ của bà bị tấn công. Bà Manar Moalin cho biết chính vì không chịu đóng tiền bảo kê mà câu lạc bộ của bà bị tấn công. Nhưng đàng sau cuộc tấn công vẫn là các doanh nhân trong khu vực: những người này muốn chiếm lấy câu lạc bộ của bà cho nên mới thuê các chiến binh của tổ chức al-Shabaab tấn công.
Somalia đã rơi vào hỗn loạn và gần như vô chính phủ kể từ năm 1991. Đó là năm các phiến quân đã lật đổ nhà độc tài Siad Barre. Kể từ đó, nhiều bộ lạc và lãnh chúa nổi lên chiếm chính quyền. Đến sau hết nhưng đáng sợ hơn cả vẫn là tổ chức khủng bố al-Shabaab. Theo ước tính đã có khoảng 2.5 triệu người Somalia phải di tản và một triệu khác rời bỏ xứ sở. Kể từ đó, nhắc đến Somalia, thế giới thường nói đến nạn cướp bóc, nhất là cướp biển, bắt cóc, tấn công khủng bố và dĩ nhiên nạn đói triền miên. Somalia hầu như chỉ còn là một tên gọi trên bản đồ thế giới: không còn quốc gia, không có hệ thống tư pháp, không có lực lượng cảnh sát hoặc ngay cả một hệ thống thuế khóa.
Dù vậy, kể từ mùa xuân vừa qua, một chính phủ cũng đã thành hình và các nhà ngoại giao Tây Phương đã bắt đầu nói đến một “dịp may” mới cho Somalia, cho dẫu một chính phủ mới có được hình thành nhờ hối lộ đi nữa. Một ghế ngồi trong quốc hội chẳng hạn trị giá khoảng 1.3 triệu Mỹ kim. Ngay cả khi cử tri không phải là các công dân mà là 14.025 đại diện của các bộ lạc. Và ngay cả khi Mogadishu là nơi duy nhất trên thế giới chính phủ không có thực quyền để cai trị, bởi vì phần lớn lãnh thổ hiện vẫn còn nằm dưới sự kiểm soát của tổ chức khủng bố al-Shabaab.
Cách đây 6 năm, những thành phần cực đoan đã bị loại ra khỏi Thủ đô Mogadishu. Nhưng điều đó không hề có nghĩa là hòa bình đã được tái lập tại đây. Hiện nay nội chiến không còn diễn ra tại Mogadishu. Số người chết đã giảm đi nhiều. Nhưng nguy hiểm lớn nhất vẫn là những cuộc tấn công bằng xe có cài bom, như đã xảy ra trong thời gian gần đây. Nhiều khu phố chỉ còn là những đống gạch vụn, nhà cửa lốm đốm vết đạn, dân chúng phải sống trong cảnh hoang tàn đổ nát. Nhưng một số nhà mới cũng bắt đầu xuất hiện bên cạnh những biệt thự đổ nát và thị trường địa ốc đang bắt đầu hoạt động trở lại: một ngôi biệt thự mới giá không dưới một triệu Mỹ kim. Các tiệm ăn trong các khách sạn đã mở cửa trở lại; dịch vụ taxi và ngân hàng cũng hoạt động trở lại. Trong một vài năm gần đây, đã có trên 100.000 người Somalia từ ngoại quốc trở về quê hương.
Chiều đến, bà Manar Moalin ra trước cửa câu lạc bộ để chào đón khách. Ngày càng có nhiều chiếc Land Cruiser với cửa kính nhuộm đen tìm đến câu lạc bộ. Bước xuống từ những chiếc xe đắt tiền là các dân biểu, doanh gia hoặc những người đứng đầu các cơ quan truyền thông của chính phủ. Từ xa vọng lại tiếng súng, nhưng chẳng có ai quan tâm.
Bà chủ câu lạc bộ đưa những người đàn ông vào một căn phòng có ánh đèn mầu. Ở đó họ được thưởng thức những của ngon vật lạ chỉ dành riêng cho giới nhà giàu.
Với giọng triết lý, bà Manar Moalin nói rằng trong chiến tranh người Somalia mất rất nhiều, kể cả “linh hồn” của họ. Họ chỉ còn lại mỗi một điều là ý chí muốn sống còn. Mọi dấu vết của lòng trắc ẩn và tình người đều biến mất cả.
Trong số các thực khách có một người đến câu lạc bộ của bà Manar Moalin hầu như mỗi ngày. Tên ông là Mohamed. Ông nói tiếng Anh với giọng của người miền Đông Hoa Kỳ. Ông hiện là một dân biểu quốc hội và là cố vấn của tổng thống đặc trách miền Tây Nam Somalia. Quen biết hầu như mọi người trong chính phủ, ông cũng biết “bộ máy” của Mogadish hoạt động như thế nào.
Ông Mohamed khẳng định: “Mogadishu hiện vẫn còn nằm trong tay của các lãnh chúa”. Theo ông, các lãnh chúa ngày nay không còn mang súng và các băng đạn ở ngang hông. Họ cũng chẳng cần phải sử dụng một đạo quân trẻ con nữa. Họ đã biến thành các doanh gia. Nhưng họ vẫn đeo đuổi sự nghiệp bằng những phương pháp cũ, tức sử dụng vũ khí, xe cài bom, bắt cóc và chặt đầu!
Theo ông Mohamed, ngày nay tại Mogadishu, người ta không còn “làm ăn” để tài trợ cho chiến tranh hoặc tìm kiếm ý thức hệ để biện minh cho cuộc xung đột. Trái lại, người ta tạo ra chiến tranh là để bảo đảm cho công cuộc kinh doanh mà thôi.
Trong khi các thực khách đang thưởng thức cao lương mỹ vị trong câu lạc bộ của bà Manar Moalin thì bên ngoài vẫn có tiếng súng nổ. Theo giải thích của người biết chuyện, đây là cách phản đối của các thành viên của một bộ lạc có nhiều uy thế, bởi vì một trong những thành viên của họ bị kết án tử hình vì đã bắn ông Bộ trưởng Tái thiết. Các thành viên của bộ lạc nói rằng đây chỉ là một tai nạn.
Dĩ nhiên, theo ông Mohamed, vẫn còn có hy vọng cho Somalia, bởi vì chính phủ mới gồm toàn các chuyên viên trở về từ nước ngoài; họ không có bất cứ liên hệ nào với các bộ lạc. Nhưng đó cũng là vấn đề, bởi vì người dân trong nước không hoàn toàn tin tưởng nơi những người đã tốt nghiệp tại Mỹ, Na Uy hay Anh quốc.
Ngoài ra, cũng theo ông Mohamed, chính phủ hiện nay vẫn không có thực quyền. Dân biểu này nói rằng chính những người đang kiểm soát các công ty viễn thông, điện lực và nguồn nước mới thực sự là những người đang cầm quyền tại Mogadishu và tất cả những người này đều có quan hệ mật thiết với tổ chức khủng bố al-Shabaab.
Mới đây, chính phủ đã tìm cách cho áp dụng một biện pháp táo bạo: tất cả những ai đóng thuế cho al-Shabaab đều phải bị trừng phạt! Nhưng các chủ tiệm buôn đã phản đối và chính phủ đành phải rút lại biện pháp. Tại Mogadishu, có ai kinh doanh làm ăn mà không đóng thuế cho al-Shabaab và đóng thuế cho al-Shabaab cũng là một hình thức kinh doanh.
Ngay cả ngoại viện cũng đã trở thành một thứ kinh doanh. Theo Liên Hiệp Quốc, mỗi năm thế giới đổ vào Somalia đến 1.2 tỷ Mỹ kim viện trợ. Nhưng không có bất cứ tổ chức quốc tế nào có mặt tại miền Nam Somalia là nơi tổ chức al-Shabaab đang kiểm soát. Chính vì vậy mà các tổ chức phi chính phủ tại địa phương đứng ra đảm trách việc phân phát đồ cứu trợ cho dân chúng. Nhưng làm sao những tổ chức phi chính phủ này có thể hoạt động được nếu họ không đóng thuế cho al-Shabaab. Thật ra Liên Hiệp Quốc không thể kiểm soát được các tổ chức phi chính phủ địa phương tại miền Nam Somalia; chẳng ai biết được liệu tiền viện trợ có đến tay dân chúng không. Có người còn nói rằng ngay cả các tổ chức an ninh làm việc cho Liên Hiệp Quốc cũng trả tiền cho al-Shabaab để họ mở các cuộc tấn công hầu dựa vào đó mà đòi tăng lương! Xét cho cùng, tại Somalia, ai cũng có thể lợi dụng tình hình kém an ninh để trục lợi cho bản thân!
Khi ông Mahomed đang nói chuyện với phóng viên của báo Der Spiegel thì một trái bom khác đã phát nổ. Những người biết chuyện giải thích rằng trái bom đã được cài sau chiếc xe của cô dâu. Nghe đâu cô dâu có quan hệ bất chính với ai đó cho nên chú rể mới thuê al-Shabaab để giết cô.
Theo ông Mohamed, vừa kinh doanh làm ăn, các lãnh chúa cũng vừa là những nhà lãnh đạo tôn giáo. Họ dùng tôn giáo để chiêu mộ giới trẻ. Có trên 70 phần trăm dân số Somalia chưa quá 30 tuổi và phần lớn chẳng bao giờ cắp sách đến trường, cho nên trở thành miếng mồi ngon của al-Shabaab. Đó là hình ảnh của một đất nước hoàn toàn không có tương lai!

(Nguồn:http://www.spiegel.de/international/world/the-business-and-violence-driving-the-boom-in-mogadishu)


Thứ Sáu, 3 tháng 11, 2017

Tình yêu mạnh hơn sự chết


Chu Thập
27/10/17
Gần đây, 2 câu chuyện tình, cả hai đều là tình yêu ngang trái giữa một người Ukraine và một người Nga, đã trở thành một đề tài nóng bỏng tại Thủ đô Mạc Tư Khoa. Cả hai câu chuyện đều diễn ra trong bối cảnh của việc Nga xâm lăng vùng Crimea và tạo ra cuộc chiến đòi ly khai tại vùng Donbass, miền Đông Ukraine.
Trước hết là chuyện tình giữa một nữ ký giả người Ukraine và một thủy thủ người Nga. Alyona là một ký giả phóng khoáng. Còn chàng thủy thủ Sasha là một người Nga luôn đặt tình yêu tổ quốc lên trên hết. Họ gặp nhau tại một thành phố cổ ở Crimea vào mùa hè năm 2013. Tình yêu giữa hai người đã chớm nở vào giữa lúc xảy ra các cuộc biểu tình chống chính phủ tại Thủ đô Kiev, Ukraine. Nữ ký giả Alyona tham gia hết mình vào các cuộc biểu tình. Sasha tỏ ý không bằng lòng. Hai người tranh cãi nhau về các cuộc biểu tình. Sasha cho rằng những người biểu tình chống chính phủ là những tên “Banderovtsi”, tức những người ủng hộ ông Stepan Bandera, một nhà ái quốc đã lãnh đạo phong trào đòi độc lập của Ukraine trong thời Đệ nhị Thế chiến. Với Alyona, tất cả những người biểu tình đều là những anh hùng.
Khi quân đội Nga tiến vào Crimea, Sasha đã nhiệt liệt đón chào họ vì cho rằng họ đến Crimea là chỉ để ngăn ngừa một cuộc chiến tranh. Trong khi đó nữ ký giả Alyona thì lại tỏ ra giận dữ. Dù vậy, tình yêu đã giúp họ vượt qua được mọi hố ngăn cách.
Theo câu chuyện, về sau người ta mới biết rằng những người biểu tình chống Chính phủ Ukraine thật ra chính là những người đang âm mưu gây chiến tại Crimea. Họ đã bắt cóc Sasha. Nhưng Alyona đã báo cho quân đội Nga. Các “chiến sĩ Nga”, vốn được mệnh danh là “những người lịch sự”, đã phá vỡ âm mưu và cứu Crimea khỏi một cuộc chiến đẫm máu. Nhưng chuyện không chỉ dừng lại ở Crimea, vùng đất của Ukraine bị Nga cưỡng chiếm. Chàng trai Sasha đã đầu quân để sang tận một thành phố khác của Ukraine là Donbass. Tại đây, anh đã chiến đấu “chống lại chính dân tộc của cô gái”, nhưng cô vẫn tiếp tục yêu anh.
Câu chuyện tình trên đây là nội dung của một cuốn phim tuyên truyền vừa mới được trình chiếu tại Nga và Crimea. Cũng không khác mấy với thời cộng sản, cuốn phim đã được Bộ Quốc phòng Nga đóng dấu kiểm duyệt. Thật ra, cuốn phim được thực hiện do sáng kiến của chính ông Sergei Shoigu, Bộ trưởng Quốc phòng Nga và được bộ này yểm trợ tối đa bằng cách cung cấp nhiều đơn vị quân đội và đủ loại thiết bị quân sự để thực hiện các màn hành động.
Đạo diễn của cuốn phim, ông Alexei Pimanov, nói rằng ông đã có mặt tại Crimea dạo tháng Ba năm 2014. Ông cho biết đã chứng kiến các biến cố vốn được trình bày một cách trung thực trong cuốn phim.
Dĩ nhiên, thời buổi này những cuốn phim tuyên truyền rẻ tiền như thế không được chính người dân Nga hưởng ứng lắm.
Về tình yêu ngang trái giữa người Nga và người Ukraine, một cuốn phim dựa trên những sự kiện có thật thu hút khán thính giả Nga hơn nhiều. Nhân vật chính của cuốn phim là Tatyana, một nữ sinh trung học tại Sochi. Cô gái người Nga này lại say mê lịch sử của Ukraine trong Thế kỷ 20. Người yêu của cô là chàng trai Pavel, 19 tuổi, sinh viên triết học tại Kiev, Ukraine và là một người yêu nước nồng nàn.
Tình yêu của họ phát sinh từ một cuộc gặp gỡ trên trang mạng xã hội Vkontakte của Nga hồi đầu năm vừa qua, khi cả hai  khám phá ra họ có nhiều điểm tương đồng. Cả hai đều say mê cuộc đời đầy sóng gió của nhà ái quốc Stepan Bandera và đều thích đọc về tinh thần ái quốc của người Ukraine. Họ lên kế hoạch sẽ gặp nhau tại Ukraine để được huấn luyện quân sự và đến Donbass để chiến đấu. Donbass là nơi Nga đã  đưa quân sang để yểm trợ cho phong trào ly khai.
Tuy nhiên, khi Tatyana nộp đơn xin thẻ thông hành, cô đã được cơ quan mật vụ Nga FSB, hậu thân của KGB dưới Liên Xô, chiếu cố. Cô được cho biết: nếu cô cộng tác với FSB, đến gặp chàng trai Pavel và hỏi anh một vài câu hỏi, cô sẽ được cấp sổ thông hành.
Tatyana đã cho người yêu biết mọi sự và Pavel đồng ý gặp cô. Cuộc gặp gỡ được dự trù diễn ra tại Belarus. Belarus hay Belorussia là một đồng minh thân cận của Nga cho nên muốn đến đó, Tatyana không cần phải có sổ thông hành .
Được mẹ tháp tùng, Tatyana đã đến Gomel, Belarus, để gặp Pavel. Cuộc gặp gỡ đã diễn ra nhanh chóng. Họ chỉ có đủ thì giờ để ôm nhau và thỏa thuận về kế hoạch như đã dự trù. Nhưng đây cũng là lần cuối cùng đôi bạn trẻ gặp nhau.
Liền sau khi hai người chia tay, Pavel đã bị bắt cóc và đưa về Nga. Tại đây, chàng thanh niên phải đối diện với một loạt những cáo buộc về khủng bố.
Thật ra, tình yêu không phải là chủ đề chính của cuốn phim. Cuốn phim chỉ muốn phơi bày một sự kiện: nhiều công dân Ukraine mất tích tại Belarus và sau đó xuất hiện trong một nhà tù của Nga tại Thành phố Krasnodar. Chuyện chàng trai Pavel mất tích là một chuyện có thật.
Chính quyền Belarus khẳng định rằng họ không bao giờ giam giữ Pavel, nhưng nhìn nhận rằng chàng thanh niên Ukraine này có tên trong “sổ đen” của Nga.
Ngày 13 tháng Chín 2017 vừa qua, nghĩa là chỉ gần 3 tuần sau khi Pavel mất tích, cuối cùng Chính phủ Nga loan báo rằng người thanh niên bị bắt giữ tại Nga.
Cho tới nay Chính phủ Nga chưa đưa ra lời bình luận nào về câu chuyện của Pavel và Tatyana. Về phần mình, Chính phủ Ukraine đã chính thức gởi thơ phản đối đến Mạc Tư Khoa và yêu cầu phải trả tự do tức khắc cho Pavel. Nhưng Pavel vẫn tiếp tục bị giam giữ.
Ngày 18 tháng Mười vừa qua, một tòa án tại Krasnodar đã ra lệnh tiếp tục giam giữ Pavel cho đến tháng Giêng năm tới. Theo các loa tuyên truyền của Nga, anh bị kết án vì âm mưu tổ chức “một cuộc tấn công khủng bố”: theo các cơ quan truyền thông công cụ của Nga, chính Pavel  là người khuyến khích Tatyana đặt bom trong trường của cô. Pavel hiện đang mang một chứng bệnh trầm trọng cần được giải phẫu. Nhưng theo luật sư của Pavel, Chính quyền Nga đã từ chối không cho anh được uống những thứ thuốc anh đang cần cho nên tình trạng sức khỏe của anh ngày càng thêm tồi tệ.
Về phần mình, Tatyana cho biết: cho tới nay cô vẫn chưa nhận được sổ thông hành như cơ quan mật vụ FSB đã hứa hẹn (x. http://www.aljazeera.com/blogs/europe/2017/10/russian-loves-ukrainian-).
Nga dưới thời tổng thống “mãn đời” Vladimir, dù có thay đổi màu cờ sắc áo, cũng vẫn còn giữ cái cốt “cộng sản” của thời Liên Xô. Đảng không chỉ nắm cái bụng, mà còn cả trái tim của người dân. Thành ra, đọc hai câu chuyện tình trên đây tôi  lại nhớ tới một câu chuyện tình khác cũng liên quan đến người Nga. Nhưng lần này là chuyện tình của một người Nga và một người Việt Nam. Đó là câu chuyện đẩy nước mắt của cô Lê Vũ Anh, con gái của Tổng bí thư Lê Duẩn với ông Victor Maslov, một  giáo sư khoa học người Nga. Có người đã ví mối tình này với chuyện tình Romeo và Juliet.
Đầu thập niên 1970, mặc dù ở tuổi ngũ tuần, Giáo sư Maslov vẫn còn độc thân. Nhưng tiếng sét ái tình đã chiếu cố đến ông khi ông tình cờ khám phá ra trong lớp của mình một nữ sinh viên ngoại quốc. Cô bẽn lẽn cười, núp sau cánh cửa phòng thí nghiệm. Người con gái này được người Nga đặt cho cái tên Anhia, nhưng tên thật của cô là Lê Vũ Anh. Cô chính là con gái cưng của Tổng bí thư Lê Duẩn. Họ đã phải lòng nhau từ lúc ấy.
Thời đó, tất cả sinh viên Việt Nam tại Nga đều bị buộc phải tỏ ra rấtcẩn trọng trong chuyện tình cảm, nhứt là với người Tây Phương, kể cả người Nga. Thậm chí còn có cả một điều luật cấm kết hôn với người ngoại quốc. Chính vì vậy mà Lê Vũ Anh đã cố gắng vùng vẫy để cắt đứt mọi quan hệ với Giáo sư Maslov. Cô đã chạy trốn. Trong một thời gian dài, không ai còn thấy cô xuất hiện ở giảng đường đại học nữa. Thế rồi, một ngày nọ cô bất ngờ quay trở lại trường và thông báo cho người yêu biết: “Em đã lấy chồng và em lấy chồng là để quên anh, bởi vì mối quan hệ giữa hai chúng ta hoàn toàn không có tương lai.”
Thật ra, khi tình yêu đã chớm nở giữa cô và Giáo sư Maslov cũng là lúc Tổng bí thư Lê Duẩn sang thăm Nga. Cơ quan mật vụ KGB đã biết được mối tình của nhà bác học Nga và con gái tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam. Họ đã thông báo cho ông Lê Duẩn. Chính vì vậy mà Lê Vũ Anh đã phải đi trốn.
Nhưng tình yêu giữa hai người mãnh liệt đến độ đã thúc đẩy họ vượt qua mọi thứ biên giới và rào cản. Cô đã có thai. Giáo sư Maslov muốn tiến tới hôn nhân. Nhưng hai người chỉ kết hôn một cách lén lút. Để tránh tai mắt, Lê Vũ Anh đã phải đi lẩn tránh tại Kiev, Ukraine  và sinh con đầu lòng ở đó. Sau khi sinh con, cô quyết định kể cho ông Lê Duẩn nghe chuyện tình và cuộc hôn nhân của cô. Sự phản đối của ông khiến cô lo sợ: cho cô cũng như cho chính chồng mình. Cô sợ đến độ khi chồng  đi xa, cô phải thủ một khẩu súng trong nhà.
Mãi đến khi cô sinh đứa con thứ hai, ông Lê Duẩn mới thay đổi thái độ. Ông nóng lòng muốn gặp lại con gái và các cháu ngoại của mình. Giáo sư Maslov tưởng sóng gió đã qua. Nhưng số phận đã giáng xuống họ một đòn nghiệt ngã hơn. Trong lần sinh nở thứ ba, Lê Vũ Anh đã bị băng huyết và qua đời. Đứa bé đã được cứu sống, nhưng được đưa về Việt Nam. 4 năm sau, đứa trẻ mới được đưa trở lại Nga, nhưng lại phải sống trong một nhà trẻ đặc biệt. Giáo sư Maslov đành phải tổ chức bắt cóc đứa trẻ và cùng với 2 đứa con gái chạy đến sống ở nhà người quen tại một khu rừng. Vài tháng sau, ông nhận được thông báo về việc Tổng bí thư Lê Duẩn từ bỏ ý định mang các cháu về Việt Nam.
Cách đây không lâu, hai người con của Giáo sư Maslov là Lena và Anton đã về thăm Việt Nam. Tổng bí thư Lê Duẩn qua đời năm 1986. Ông Maslov chưa một lần được nhìn thấy cha vợ mình.
Chuyện tình của người con gái ông Lê Duẩn với Giáo sư Maslov quả là một câu chuyện tình éo le, bi đát, nhưng đẹp. Không riêng gì trong thế giới cộng sản, lịch sử nhân loại cũng đầy những trang về những cuộc tình không biên giới như thế. Những cuộc tình như thế chứng tỏ một điều: tình yêu có thể vượt qua mọi thứ rào cản, dù là màu da, ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo hay ý thức hệ và quyền lực. Xét cho cùng, nói như Mahatma Gandhi, tình yêu là “quyền lực” mãnh liệt nhứt trong tay con người. Tình yêu mạnh hơn cả điều đáng sợ nhứt trong cuộc sống con người là sự chết.
Khá muộn màng, nhưng tôi đã say mê đọc trọn bộ truyện Harry Potter của bà R.K Rowling. Như một truyện trinh thám hấp dẫn đến độ cầm lên không muốn bỏ xuống đã đành, tập truyện Harry Potter, với tôi, còn là quyển sách triết lý buộc độc giả phải suy nghĩ không ngừng về những câu hỏi nghìn đời của cuộc sống. Ngoài những chủ đề như sự lương thiện, lòng dũng cảm, tác giả đã đề cập đến những vấn đề lớn liên quan đến cuộc sống mai hậu của con người. Phải đọc gần hết tập truyện, ở những trang cuối của tập VII, tác giả như muốn tháo gỡ cái thắt nút của những vấn đề lớn bà đã nêu lên: tình yêu mạnh hơn sự chết, tình yêu làm cho con người bất tử. Harry Potter đã sống còn nhờ chính tình yêu hy sinh của người mẹ cậu và cuối cùng, không phải bằng ma thuật phù thủy, mà bằng chính sự hy sinh tự nguyện đi vào cái chết, người thiếu niên đã tiêu diệt được Chủ tể Hắc ám Voldemort, hiện thân của sự độc ác và thần chết.
Sắp bước vào tháng 11 của Kitô Giáo, tôi không chỉ nhớ đến những người thân đã ra đi, mà còn suy nghĩ về chính cái chết của mình. Tôi không thể tránh khỏi cơn khắc khoải triền miên về cái chết mà trước sau gì tôi cũng phải đối diện với. Chẳng có thú tiêu khiển nào, chẳng có thuốc an thần nào có thể xoa dịu được nỗi khắc khoải trước cái chết ấy. Nếu như tình yêu mạnh hơn sự chết thì phải chăng tình yêu lại chẳng mang lại cho tôi sức mạnh và lòng tin tưởng để đối đầu với sự chết sao? Và sống từng giây phút trong đời sống với tất cả yêu thương không phải là tự trang bị cho mình vũ khí quan trọng nhất để đối diện với điểm cuối của cuộc đời sao?
Tình yêu, theo tôi, không những mạnh hơn sự chết mà còn làm cho con người trở nên bất tử.








Thứ Hai, 30 tháng 10, 2017

Raqqa: cuộc chiến chưa tàn!


27/10/17
Hôm thứ Sáu 20 tháng Mười 2017 vừa qua, các dân quân do Hoa Kỳ yểm trợ đã tái chiếm được Thành phố Raqqa, Bắc Syria khỏi tay “Quốc gia Hồi giáo”. Các lực lượng dân chủ Syria đã tổ chức ăn mừng chiến thắng tại Công trường Naim, nơi trước đây “Quốc gia Hồi giáo” đã từng chặt đầu vô tội vạ bất cứ người dân vô tội nào. Cũng chính tại Raqqa, nơi “Quốc gia Hồi giáo” chọn làm thủ đô từ tháng Sáu năm 2014, tổ chức khủng bố này đã điều động các cuộc tấn công dã man tại Pháp, Bỉ, Anh và nhiều nơi khác trên thế giới.
Raqqa đã chính thức được giải phóng. Nhưng cuộc chiến xem ra vẫn chưa tàn. Trung tướng Paul E. Funk II, người chỉ huy liên quân chống “Quốc gia Hồi giáo” cho biết: các tàn quân của “Quốc gia Hồi giáo” vẫn còn tiếp tục hoạt động tại Iraq và Syria. Bên cạnh cuộc hành quân truy quét các tàn quân, công tác trước mắt là phải tạo điều kiện để các hoạt động nhân đạo được tiến hành một cách dễ dàng. Tướng Funk II tuyên bố: “Một cuộc chiến cam go đang chờ đợi ở phía trước”.
Mặc dù tiếng súng đã im trên chiến trường Raqqa, cả thành phố này hiện đang là một bãi mìn và đủ các loại chất nổ cũng như vô số những bất trắc không lường trước được. Công tác đầu tiên của quân đội Mỹ và các lực lượng được Hoa Kỳ yểm trợ là phải bảo đảm an toàn cho người dân khi họ trở về Raqqa.
Cơ quan Trợ giúp Phát triển Hoa kỳ USAID đã gởi đến Raqqa một toán chuyên gia dân sự. Hiện toán chuyên gia này đang kết hợp với các Tổ chức phi chính phủ để giúp tháo gỡ mìn bẫy. Nhiều loại mìn bẫy đủ loại đã được các chiến binh của “Quốc gia Hồi giáo” cài đặt trong nhà cửa của người dân cũng như các công thự để giết bất cứ người dân nào muốn trở về Raqqa. Tại một nhà máy lọc nước ở phía Bắc Raqqa, các toán chuyên gia đã tìm thấy khoảng 240 mìn bẫy bị bỏ sót lại.
Sau công tác gỡ mìn, các đống gạch vụn trên các đường phố cũng cần được san bằng để các chiếc xe tải chở đồ cứu trợ có thể đi qua. Nguồn nước và hơi điện cũng phải được tái lập.
Theo bà Heather Nauert, phát ngôn viên của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, công tác dọn dẹp Thành phố Raqqa sẽ kéo dài nhiều tháng trước khi người dân có thể trở về sống một cuộc sống bình thường.
Trong khi đó, Hoa Kỳ hiện cũng đang cho chuyên chở đồ cứu trợ đến các trung tâm tạm cư dành cho những người đã chạy trốn khỏi “Quốc gia Hồi giáo”, Chính phủ Syria và cuộc nội  chiến đẫm máu đã kéo dài 6 năm rưỡi qua. Cùng với Hoa Kỳ, Liên Hiệp Quốc cũng đã tiếp tế thực phẩm cho hơn 260.000 người tại Raqqa.
Nhưng vấn đề lớn nhất hiện nay tại Raqqa không chỉ là tháo gỡ mìn bẫy và cứu trợ. Một trong những câu hỏi khó khăn nhất được đặt ra cho Hoa Kỳ và đồng minh là: sau khi “Quốc gia Hồi giáo” bị đánh bại, ai sẽ là đứng ra quản trị thành phố này? Cần phải có một “chính quyền” để bảo đảm những thắng lợi quân sự, đồng thời tránh không để xảy ra những điều kiện đã từng làm phát sinh “Quốc gia Hồi giáo”. Nhưng quan trọng hơn cả, đó phải là một “chính quyền” biết lo cho dân và đáp ứng những nhu cầu của họ.
Vấn đề hiện nay là phần lớn cư dân của Raqqa đều là người Á rập, trong khi các lực lượng dân chủ được Hoa Kỳ yểm trợ để giải phóng vùng này lại là người Kurd. Cho dù là lực lượng mạnh nhất trong vùng trong cuộc chiến chống lại “Quốc gia Hồi giáo”, người Kurd có thể sẽ bị người dân địa phương xem như một lực lượng chiếm đóng.
Tại Iraq và Afghanistan, Hoa Kỳ đã tuyên bố rõ ràng rằng vai trò của mình là giúp xây dựng quốc gia hay tái thiết đất nước. Nhưng trong trường hợp Raqqa, Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson khẳng định rằng  xây dựng quốc gia hay tái thiết đất nước không phải là chuyện của Hoa Kỳ.
Thay vào đó, Hoa Kỳ chỉ ủng hộ việc thành lập một “chính quyền” gồm các viên chức địa phương và “chính quyền” địa phương này có tên là  Hội đồng Dân sự Raqqa. Được thành lập hồi tháng Năm vừa qua, Hội đồng này gồm có 100 người Syria thuộc nhiều sắc tộc khác nhau vốn là dân bản địa của vùng này. Chính Hội đồng này sẽ quản trị Raqqa cho đến tháng Năm năm 2018. Lúc đó sẽ có một cuộc bầu cử để có một Hội đồng mới.
Phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Mỹ giải thích rằng, dù cho ai là người quản trị vùng Raqqa đi nữa, người đó cũng phải là đại diện của dân, biết tôn trọng những quyền căn bản của con người và bảo vệ người dân trong vùng.
Nhưng việc thiết lập một Hội đồng Dân sự Raqqa như đòi hỏi của Hoa Kỳ xem ra không phải là một giải pháp khả thi. Chế độ độc tài và tàn bạo của Bashar al-Assad vẫn còn đó. Assad và các đồng minh của ông hiện cũng đang tìm cách thiết lập một chính quyền tại Raqqa theo ý của họ. Hồi tháng Chín vừa qua, nhóm Hezbollah, một phong trào Hồi giáo Shiite cực đoan tại Liban, được Iran yểm trợ và từng chiến đấu bên cạnh quân đội Syria, đã tuyên bố rằng chính họ mới là những người giải phóng Raqqa. Quân đội Nga được Tổng thống Vladimir gởi đến chiến đấu bên cạnh quân đội Syria cũng cho rằng các lực lượng trung thành với Assad hiện đang kiểm soát đến 85 phần trăm lãnh thổ Syria, nghĩa là cũng đã chiến thắng tại Raqqa.
Trong khi các đồng minh của ông Assad đang làm mọi nỗ lực để nhà độc tài này tiếp tục cầm quyền tại Syria thì chính phủ Hoa Kỳ vẫn duy trì lập trường theo đó Assad phải bị loại trừ hay phải ra đi. David Satterfield, người đứng đầu phái bộ ngoại giao của Hoa Kỳ tại Trung Đông khẳng định rằng Assad không còn chính nghĩa và quyền được cai trị Syria nữa. Tuy nhiên nhà ngoại giao này cho rằng quyết định về số phận của ông Assad thuộc về dân chúng Syria.
Chính phủ Hoa Kỳ cũng đưa ra một loạt đòi hỏi mới theo đó mục đích của những nỗ lực tái thiết Syria là phải loại trừ Assad. Hoa Kỳ cho biết sẽ rút lại mọi tài trợ khỏi các quỹ quốc tế và Liên minh Toàn cầu nếu Assad trở lại cầm quyền. Xem ra lời đe dọa này không đủ mạnh đối với nhà độc tài, bởi vì hiện ông vẫn còn được các đồng minh như Nga và Iran triệt để ủng hộ. Và bao lâu các đồng minh này vẫn còn đứng sau lưng ông, thì dĩ nhiên còn lâu ông mới có thể bị bứng đi khỏi Syria và việc thành lập một Hội đồng Dân sự để cai quản Raqqa trong tình thế hiện nay không phải là điều dễ dàng.
Chỉ có một thực tế rõ ràng thấy được trước mắt là Raqqa, “thủ đô” của “Quốc gia Hồi giáo” đã được giải phóng. Nhưng giải phóng được Raqqa cũng chưa thực sự có nghĩa là “Quốc gia Hồi giáo” đã hoàn toàn bị đánh bại và Syria sẽ được bình thường hóa.
Theo Tướng Stephen Towsend, cựu chỉ huy trưởng của liên quân chống “Quốc gia Hồi giáo” tại Syria, giới lãnh đạo của tổ chức này cũng như hệ thống truyền thông và các cơ quan hành chính của họ đã từ Bắc Syria di chuyển xuống phía Nam và hiện đang trú ẩn tại miền Đông Syria.
Trong năm vừa qua, hầu hết các cứ địa của “Quốc gia Hồi giáo” tại Syria đều bị liên quân do Hoa Kỳ lãnh đạo truy lùng. Hiện nay các cuộc không kích của Hoa Kỳ và đồng minh đang nhắm vào một số thành phố nằm sát biên giới Iraq như Al Mayadin và Abu Kamal.
Về phần mình, hiện quân đội trung thành với nhà độc tài Assad và quân đội đồng minh như Iran và Nga đang tấn công vào các sào huyệt cuối cùng của “Quốc gia Hồi giáo” tại Thành phố Deir ez Zor, phía Tây Syria, sát hai thành phố hiện đang là mục tiêu tấn công của các lực lượng dân chủ Syria và liên quân. Dẫm chân và đụng độ nhau giữa các lực lượng dân chủ Syria và liên quân và các lực lượng trung thành với Assad và đồng minh là điều khó tránh khỏi.
Dạo tháng Chín vừa qua, các lực lượng dân chủ Syria loan báo họ đã mở cuộc hành quân đến gần Deir ez Zor, tức địa điểm hành quân của các lực lượng trung thành với Assad.
Chỉ một tuần lễ sau khi các lực lượng dân chủ mở cuộc hành quân, Nga đã cho không kích và nhiều chiến binh của các lực lượng dân chủ Syria đã bị thương. Vào thời điểm đó, vì quân đội Mỹ và liên quân không tham gia cuộc hành quân cho nên không có ai bị thương trong cuộc oanh tạc của không lực Nga. Nhưng Ngũ Giác Đài đã liên lạc với chính phủ Nga đều yêu cầu giải thích về cuộc không kích. Một vài ngày sau đó, giới lãnh đạo quân sự của Mỹ và Nga đã gặp nhau. Đây là lần đầu tiên đã có một cuộc trực tiếp đối diện như thế để hai bên điều chỉnh và xác định ranh giới của các cuộc hành quân.
Nhưng vòng vây đối với “Quốc gia Hồi giáo” tại Syria ngày càng được siết chặt thì sự đụng độ giữa các lực lượng dân chủ Syria, liên quân do Hoa Kỳ lãnh đạo và các lực lượng trung thành với Assad, quân đội đồng minh Nga và Iran là điều xem ra không thể tránh khỏi. Raqqa đã được giải phóng. “Quốc gia Hồi giáo” có thể chỉ còn là một thứ tàn quân. Nhưng viễn ảnh của một cuộc chiến khác gây go và rộng lớn  hơn giữa các lực lượng dân chủ Syria và các lực lượng trung thành với Assad, giữa Hoa Kỳ và Nga cộng với Iran...vẫn còn trước mắt.
Mặt khác, dù cho “Quốc gia Hồi giáo” đã bị đánh bại tại Iraq và Syria và chỉ còn lại một vài nhóm lẻ tẻ, cuộc chiến chống lại tổ chức khủng bố này vẫn còn là một thách đố cho toàn thế giới.
“Quốc gia Hồi giáo” không chỉ tập trung tại Iraq và Syria, mà còn có nhiều chi nhánh tại Phi Châu, Yemen, Phi Luật Tân, Afghanistan, Libya, Bangladesh và ngay cả tại một số nước Tây Phương. Những chi nhánh này hiện diện và hoạt động như những bóng ma. Họ có thể tấn công bất cứ lúc nào và bất cứ nơi nào.
Ngày 4 tháng Mười vừa qua, tại Thành phố Niger, một cuộc tấn công vào một đơn vị tuần tiễu của Hoa Kỳ và các lực lượng Nigeria đã làm cho 4 binh sĩ Mỹ thiệt mạng và làm bị thương 2 binh sĩ khác. Cuộc tấn công một lần nữa chứng tỏ rằng “Quốc gia Hồi giáo” hiện đang có mặt và hoạt động tại Miền Tây Phi Châu.
Tại một số nước khác, như Afghanistan chẳng hạn, cuộc chiến chống lại “Quốc gia Hồi giáo” hiện vẫn đang tiếp diễn. Hoa Kỳ đã cho tăng phái thêm 3000 binh sĩ nữa để quyết tâm tiêu diệt “Quốc gia Hồi giáo” cũng như Taliban.
Ngay cả tại những nơi mà “Quốc gia Hồi giáo” chưa hoặc không đặt cơ sở rõ ràng, tổ chức khủng bố này vẫn sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại để quảng bá ý thức hệ của mình và chiêu mộ các chiến binh để mở các cuộc tấn công tại chỗ như đã thấy tại San Bernardino và Orlando, Hoa Kỳ. Cách đây hơn 6 năm, “Quốc gia Hồi giáo” đã chiếm Bắc Iraq và Raqqa, Syria làm lãnh thổ để tuyên bố thành lập Quốc gia Hồi giáo. Nay xuyên qua không gian trên mạng lưới thông tin toàn cầu, tổ chức này đã thiết lập được một “Quốc gia ảo” trong đó các công dân cũng sẵn sàng tấn công bất cứ nơi nào, bất kỳ người nào.
Lãnh thổ của “Quốc gia Hồi giáo” tại Iraq và Syria có thể đã biến mất, nhưng “Quốc gia ảo” của tổ chức này vẫn tồn tại và càng khó tiêu diệt hơn.

(Nguồn: http://abcnews.go.com/International/raqqas-liberation-tough-fight-lies-ahead-isis/story)




Thứ Sáu, 27 tháng 10, 2017

Thông minh nhất nam tử!


Chu Thập
20/10/17
Thời trung học, tôi là một học sinh dốt văn. Làm bài văn chương hay nghị luận, tôi cứ “thì là mà” cho xong chuyện. Thơ phú thì lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia. Các bạn tôi không mất quá nhiều giờ để học thuộc một bài thơ hay ca dao. Tôi thì có tụng niệm cả buổi cũng chẳng nhét vào bộ nhớ được câu nào. Chính vì vậy mà tôi không mặn mà với thơ phú cho lắm và dĩ nhiên cả đời cũng chưa làm nổi một câu thơ!
Trong thi ca Việt Nam tôi chỉ thích có mỗi ông Nguyễn Công Trứ. Ông này gãi đúng chỗ ngứa của tôi. Vào cái tuổi mà tôi tin rằng có ý chí sắt đá thì chuyện gì cũng làm được, đương nhiên tôi phải tôn Nguyễn Công Trứ làm thần tượng thôi. Không phục ông sao được, bởi vì đường khoa cử lận đận, mãi đến năm 42 tuổi, ông mới thi đậu và ra làm quan. Học rộng, tài cao, chí lớn vậy mà vẫn 2 lần bị cách chức, một lần bị giáng xuống cho làm lính quèn, vậy mà ông vẫn cứ kiên cường đeo đuổi sự nghiệp cho đến cùng.
Mỗi lần thi cử, tôi đều lấy bài “Đi thi tự vịnh” của ông ra để tâm niệm: “Đi không chẳng lẽ lại  về không?...Đã mang tiếng ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông?” Nhưng mang lại nhiều cảm hứng cho thời tuổi trẻ của tôi hơn cả là bài “Chí nam nhi” của ông. “Thông minh nhất nam tử/ Yếu vi thiên hạ kỳ”: một người con trai thông minh, nên làm người khác thường trong thiên hạ!
Khổ nỗi, không thông minh được như ông Nguyễn Công Trứ và cũng chẳng có được ý chí sắt đá như ông cho nên rốt cục, chuyện gì tôi cũng lở dở lèng èng cả. Lấy đâu để mà “gáy” như Tổng thống Mỹ Donald Trump!
Nghe đâu vào tháng 11 tới đây, Tổng thống Trump sẽ viếng thăm Việt Nam. Gần đây, khi đến thăm Việt Nam, các tổng thống Mỹ thường “lẩy” Kiều. Năm 2000, Tổng thống Bill Clinton đã mượn hai câu Kiều “Sen tàn cúc lại nở hoa/ Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân” để ám chỉ đến mối quan hệ vừa chớm nở giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Đến lượt mình, vào năm 2016, Tổng thống Barack Obama cũng đề cao mối quan hệ Việt-Mỹ qua câu: “Của tin gọi một chút này làm ghi”. Ngay cả phó Tổng thống Joe Biden, khi tiếp Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Thủ đô Hoa Thịnh Đốn hồi năm 2015, cũng “lẩy” Kiều như ai: “Trời còn để có hôm nay/ Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời”.
Tôi không biết khi đến Việt Nam, ông tổng thống Mỹ chuyên phá vỡ các thông lệ có còn “lẩy” Kiều như các vị tiền nhiệm của ông không. Theo tôi, ông nên trích thơ của cụ Nguyễn Công Trứ thì tốt hơn, bởi vì với một người “thông minh nhất nam tử “như ông, lại đang lãnh đạo một quốc gia hùng mạnh nhứt thế giới và dĩ nhiên lúc nào cũng nổ về những thành tích của mình, chẳng có nơi nào đáng để “gáy” về trí thông minh và sự thành công của mình cho bằng Việt Nam, một đất nước lúc nao cũng khao khát thành tích và kỷ lục thế giới.
Sở dĩ tôi liên tưởng đến trí thông minh của Tổng thống Trump là bởi vì mới đây ông đòi thi đấu với Ngoại trưởng Rex Tillerson về trí thông minh. Có chuyện thách đấu như thế là vì có tin đồn được đài NBC News loan tải theo đó, trong một trường hợp không được xác định ở đâu và lúc nào, ngoại trưởng Mỹ đã gọi ông Trump là một kẻ “ngu đần” (moron). Cho tới nay, ông Tillerson không khẳng định và cũng chẳng phủ nhận ông có nói như thế không. Nhưng ai cũng biết rằng hầu như trong bất cứ vấn đề đối ngoại nào, giữa ông và Tổng thống Trump lúc nào cũng có chuyện lục đục, ông nói gà thì bà lại nói vịt.
Chuyện  Tổng thống Trump đòi thi đấu về trí thông minh với Ngoại trưởng Tillerson chẳng làm ai phải ngạc nhiên, bởi vì ông đã từng có nhiều thành tích khoe mẽ về trí thông minh và thách đấu về trí thông minh với nhiều người khác.
Trong một “Tweet” bắn đi hồi năm 2013, tỷ phú địa ốc Trump đã viết: “Xin lỗi những kẻ thua cuộc và thù hận, nhưng chỉ số thông minh (I.Q) của tôi là một trong những chỉ số cao nhứt và tất cả quý vị đều biết mà! Xin đừng cảm thấy ngu đần hay bất an. Không phải lỗi của quý vị đâu!”
Trong cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc, ông tự so sánh với một nhà báo và một vị cố vấn của Đảng Cộng Hòa: “Tôi thông mình hơn họ nhiều. Tôi nghĩ rằng tôi có một chỉ số thông minh cao hơn nhiều. Tôi nghĩ rằng tôi đã học ở một đại học tốt hơn, tốt hơn về mọi mặt”.
Trong một “tuýt” phóng đi hồi năm 2013, Tổng thống Trump còn cho rằng ông có chỉ số thông minh cao hơn hai vị tổng thống tiền nhiệm là George W Bush và Barack Obama.
Được thành lập từ năm 1776, Phi Beta Kappa là một tổ chức chuyên sưu tầm tên tuổi của những sinh viên sáng giá nhứt tại 286 trường đại học của Hoa Kỳ. Theo tổ chức này, trong số 44 tổng thống Mỹ, có 17 vị được  xem là những người rất thông minh. Bill Clinton, George H W Bush và Jimmy Carter là những vị mới được đưa vào danh sách trong thời gian gần đây. Theo một cuộc khảo sát của trường Đại học California hồi năm 2006, Tổng thống John Quincy Adams (1767-1848) được xem là vị tổng thống thông minh nhứt.
Thật ra, trong mắt tôi, vị tổng thống Mỹ nào cũng thông minh xuất chúng hơn người cả. Tổng thống Trump tỏ ra “phi thường” ở chỗ  ông dám vỗ ngực tự xưng là người thông minh. Nhưng thái độ này lại khiến tôi nghĩ đến một câu nói của ông Stephen Hawking, nhà vật lý và vũ trụ học nổi tiếng nhứt thế giới hiện nay. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho báo New York Times hồi năm 2004, khi được hỏi về chỉ số thông minh của mình, nhà bác học này trả lời: “Tôi chẳng biết gì về chuyện này cả. Những người khoe khoang về chỉ số thông minh của mình đều là những kẻ thua cuộc”.
Trong một số báo ra dạo mùa xuân năm 1974, báo New York Times đã cho đăng ở trang chủ danh sách của 10 vị dân biểu và thượng nghị sĩ “đần” nhứt trong Quốc hội. Đứng đầu danh sách là Thượng nghị sĩ William Scott của Tiểu bang Virginia. Ông này được chỉ định để trình bày trước Thượng viện về kho hỏa tiễn ngầm của Hoa Kỳ. Anh ngữ dùng chữ “missile silos”. “Silo” trong Anh ngữ cũng có nghĩa là “kho chứa thóc”. Có lẽ không nắm vững ngữ cảnh của từ này cho nên ông Scott mới nói bừa: “Tôi không quan tâm đến “nông nghiệp”. Tôi chỉ muốn quân cụ mà thôi”. Chỉ vì một chút sơ xuất như thế mà chỉ sau một nhiệm kỳ ông tuyên bố rút lui khỏi chính trường.
Nhưng chuyện của phó Tổng thống Joe Biden nghe ra còn khôi hài hơn. Tháng 9 năm 1987, trong cuộc tranh cử tổng thống, Thượng nghị sĩ Biden đã bị các ký giả hạch hỏi tơi bời về chuyện đạo văn. Bị một ký giả dồn vào chỗ bí, ông liền trả đòn: “Tôi nghĩ rằng tôi có chỉ số thông minh cao hơn bạn...Tôi đã từng chiến thắng trong một cuộc thi đấu quốc tế về tranh luận trong trường và đứng đầu lớp tôi. Tôi là sinh viên ngoại hạng trong năm cuối của phân khoa chính trị học. Tôi tốt nghiệp với 3 bằng cử nhân với 165 tín chỉ trong khi chỉ cần 123 tín chỉ là đủ. Và tôi lấy làm hân hạnh được ngồi xuống để so sánh chỉ số thông minh của tôi với bạn”.
Chỉ vài ngày sau, báo chí Mỹ phanh phui ra rằng những điều ông Biden “nổ”  trên đây đều láo khoét cả. Và lập tức ông  đã rút lui khỏi cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc (x.http://www.politico.com/magazine/story/2017/10/11/trump-iq-president-smart-).
Thật ra, không phải tất cả những ai “nổ” về trí thông minh của mình đều thất bại cả đâu. Dường như nhận xét của nhà bác học Stephen Hawking chẳng đúng chút nào về trường hợp của Tổng thống Trump. Ông vẫn cứ nổ, vẫn cứ khoe mẽ về trí thông minh, về đủ mọi thành tích...vậy mà ông đã thắng và thắng lớn. Không biết thành công có tiếp tục mỉm cười với ông trong tương lai không. Nhưng cứ nhìn lại cuộc bầu cử hồi cuối năm ngoái, không ai dám phủ nhận rằng Tổng thống Trump, một người chưa từng bước vào chính trường, đã đạt được một chiến thắng chưa từng thấy trong lịch sử của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ.
Những người không thích ông bảo ông là một kẻ ngu đần. Ngu đần sao đã có thể đánh bại được tất cả những ứng cử viên sừng sỏ nhứt của cả Dân chủ lẫn Cộng hòa? Tôi tin những lời ông khi ông nổ về trí thông minh của ông. Ông quả là một người thông minh.  Nhưng dĩ nhiên, thông minh đích thực không chỉ giản lược vào những con số và các phép tính. Nếu đo lường trí thông minh dựa theo các phép tính thì chắc chắn người máy và máy móc nói chung thông minh hơn người nhiều. Thật ra, phép trắc nghiệm về chỉ số thông minh cũng chẳng đo lường được hết trí thông minh của một con người. Nhà bác học Albert Einstein đã chẳng bao giờ trải qua một cuộc trắc nghiệm như thế. Nhưng biết đâu khi phải làm cuộc trắc nghiệm ấy, ông lại chẳng đưa ra những giải đáp mà chẳng ai dám nghĩ tới, bởi vì ông có cách suy nghĩ không giống ai. Ngày nay nhiều nhà khoa học không đồng ý về sự hữu dụng của phép trắc nghiệm để đo lường trí thông minh của một con người. Nhiều cuộc nghiên cứu cho thấy chỉ số thông minh có thể thay đổi theo thời gian và nó chẳng ăn nhập gì với trí thông minh cảm xúc hay óc sáng tạo. Tôi đã nhận thấy điều này qua rất nhiều người bạn học thời trung học của tôi: có người học hành chẳng ra gì, thi đâu rớt đó, vậy mà ra đời, họ lại là những người thành công vượt bực.
Fred Greenstein, nguyên là giáo sư về chính trị học tại trường đại học Princeton, Hoa Kỳ có đưa ra 6 đặc tính để đánh giá trí thông minh của một tổng thống Mỹ hay nói chung của một nhà lãnh đạo. 6 đặc tính đó là: truyền thông đại chúng, khả năng tổ chức, kỹ năng chính trị, viễn kiến, tri thức và thông minh cảm xúc.
Theo Giáo sư Greenstein, trong những đặc tính trên đây, Tổng thống Trump tỏ ra rất xuất sắc trong nghệ thuật truyền thông đại chúng và kỹ năng chính trị. Nhưng nếu xét về khả năng tri thức, óc tổ chức, viễn kiến và nhứt là thông minh cảm xúc thì tổng thống Trump còn lâu mới tỏ ra mình là người thông minh.
Thời trai trẻ, tôi ngưỡng mộ các bậc thông minh, tài trí. Tôi mơ được làm Thành Cát Tư Hãn hay Nã Phá Luân Đại Đế. Nhưng càng tiến tới trong tuổi đời, khi mà với trí khôn hạn hẹp chỉ đủ để thấy rằng chỉ có một đời để sống, tôi chỉ còn đi tìm nguồn cảm hứng nơi những con người nào đã sống và chỉ ra cho tôi thấy đâu là điều quan trọng nhứt trong cuộc đời. Họ có thể không phải là những người có chỉ số thông minh cao, nhưng họ đã cảm nhận và nhìn ra những giá trị đích thực để đeo đuổi. Họ mới thực sự là những người thông minh. Họ “thông minh như người” thực sự, chớ không phải như người máy. Sự thông minh của họ nằm ở chỗ biết chọn lựa cái gì là giá trị lâu dài, đáng theo theo đuổi, không phí thì giờ cho mấy chuyện ruồi bu như kèn cựa nhau tiếng gáy. Xét cho cùng, khi con người biết sống cho ra người, biết dùng mỗi phút giây trong đời sống của mình để tìm hạnh phúc bằng cách biết cảm thông, chia sẻ niềm vui nỗi khổ với người khác, cư xử tử tế, và sống cho người khác...họ mới là những con người thông minh.
Thời trai trẻ, tôi muốn được như cụ Nguyễn Công Trứ: “thông minh nhất nam tử” thì phải sống khác người. Ngày nay tôi chỉ còn thấy chỉ có mỗi một điều quan trọng trong cuộc đời là: không cần phải sống khác người mà phải sống cho ra người và ra người tử tế!