Thứ Sáu, 13 tháng 10, 2017

Bình đẳng và huynh đệ

Chu Thập
06/10/17

Hugh Hefner, người sáng lập tạp chí Playboy nổi tiếng của Mỹ, đã qua đời hôm 27 tháng Chín 2017 vừa qua, hưởng thọ 91 tuổi, để lại người vợ thứ ba chỉ mới 31 tuổi.
Tôi chỉ bắt đầu nghe nói tới tạp chí Playboy kể từ khi quân đội Mỹ ào ạt đổ vào Việt Nam. Chỉ nghe thôi, chớ đọc hay nhìn hoặc ngay cả cầm trên tay nguyên một tờ báo thì không bao giờ. Thời đó, tức giữa thập niên 1960, nói đến văn hóa Mỹ là phải nói đến Playboy. Văn hóa Mỹ xâm nhập vào Việt Nam, Playboy cũng len lỏi vào Việt Nam. Thật ra, được bày bán trong các tiệm sách hoặc ngay cả trên các vỉa hè, có lẽ Playboy chưa có được vinh dự ấy trong xã hội truyền thống của Việt Nam. Nhưng xuyên qua dân  “làm sở Mỹ” và nhứt là những người làm “bồi phòng”, Playboy được chuyền đến tay người Việt Nam và được xem như một sản phẩm văn hóa quý hiếm.
Thời đó, được nhào nặn theo truyền thống “nhà đạo” vốn xem tính dục như “chỗ dơ dáy” hay thứ hang hùm chớ mó tới, tôi xem  tất cả những gì có liên quan đến cơ phận thầm kín của con người  là “đồ xấu xa”. Lúc bấy giờ, tôi chưa biết đến kiểu nói “văn hóa đồi trụy” của mấy ông Việt Cộng. Tình cờ hoặc do xúi bẫy của bạn bè, lỡ liếc nhìn vào một vài trang của Playboy, mặt mày của người thanh niên như tôi đỏ lên như thể bị bắt quả tang ăn vụng hay làm điều “tội lỗi”. Ngay cả vào những năm gần cuối thập niên 1960, khi nhà trí thức công giáo Nguyễn Văn Trung tung ra hai quả bom là hai cuốn sách có tựa đề  “Ca tụng thân xác” và “Ngôn ngữ và Thân xác”, cái đầu “trong trắng” của tôi cũng vẫn chưa làm quen được với ý nghĩa đích thực của tính dục. Với tôi lúc đó, tính dục vẫn mãi mãi là “đồ dơ dáy”. Mãi cho đến khi đi tỵ nạn ở Pháp vào đầu thập niên 1980, được một số bạn thanh niên dắt đến các hồ tắm công cộng hay ra các bãi biển để “rửa mắt”, tôi mới được “rửa tội” lại để không còn phải đỏ mặt hay lúng túng khi phải chiêm ngắm những tấm thân “tươi mát” xuất hiện trước mặt mình một cách đầy thách thức. Mắt của tôi đã bắt đầu được miễn nhiễm khi bước vào các tiệm sách hay sạp báo ở các vỉa hè hoặc ngay cả khi phải đi ngang những khu phố dành riêng cho “người lớn”, nơi đó bên cạnh Playboy là vô số những tờ báo của mẫu quốc đầy dẫy hình ảnh của những “người nghèo mới” không có đủ vải để che thân!
Tôi là dân của một nước chậm tiến cho nên đầu óc tôi cũng chậm tiến, nhứt là về vấn đề tính dục. Phong trào thường được gọi là “cuộc cách mạng tình dục” hay “giải phóng tình dục” đã  phát sinh  tại Hoa Kỳ và lan rộng đến cả thế giới từ thập niên 1960. Với sự bùng nổ các phương tiện ngừa thai, phong trào này đã thách thức những chuẩn mực truyền thống về tính dục và dĩ nhiên cũng đã ít hay nhiều góp phần  “giải phóng” phụ nữ . Một cách nào đó, người phụ nữ đã được giải phóng khỏi rất nhiều ràng buộc gắn liền với tính dục và từ cuộc giải phóng tình dục, người phụ nữ cũng hưởng được nhiều quyền tự do hơn mà trước đó họ không bao giờ biết đến.
Tôi không biết người sáng lập tạp chí Playboy có thật sự đóng góp cho cuộc “cách mạng tình dục”và nhứt là giải phóng phụ nữ không. Mới đây, khi ông vừa nằm xuống, nhiều người đã không tiếc lời để đưa ông lên hàng “thần tượng” (icon) và gọi ông là người đã khởi xướng cuộc cách mạng tình dục và giải phóng phụ nữ. Nhưng nhìn vào hình tượng của một người đàn ông lúc nào cũng có các kiều nữ “tươi mát” bao quanh, tôi thấy mình không cách nào bị thuyết phục về danh dự người ta dành cho ông.
Nữ ký giả Shelly Horton, chủ biên của mục “Life & Style” của báo The Sydney Morning Herald đã có một cái nhìn hoàn toàn khác về người sáng lập tạp chí Playboy. Nữ ký giả này nhận định: “Nếu hôm qua (tức ngày 27 tháng Chín vừa qua) các bạn hỏi tôi nghĩ gì về ông (Hugh Hefner), tôi sẽ nói một cách đơn giản điều tôi nghĩ là: ông ta là một kẻ miệt thị đàn bà; ông đã kiếm lợi bằng cách khai thác phụ nữ một cách chuyên nghiệp và cho cá nhân ông.”
Theo Horton, Hefner là người đã làm giàu và đạt được tiếng tăm khắp thế giới bằng cách đưa những người đàn bà đẹp ăn mặc hở hang hay ngay cả trần truồng  lên thị trường như những sản phẩm để mua bán. Ký giả Horton trích dẫn một cuộc phỏng vấn hồi năm 1967 qua đó người sáng lập tạp chí Playboy tuyên bố rằng phụ nữ đẹp cũng giống như một con thỏ: vừa nhút nhát, vừa linh động, vừa gợi dục. Tựu trung, với ông, phụ nữ đẹp chẳng khác nào một món đồ chơi.
Theo ký giả Horton, chính Hefner đã từng huênh hoang rằng ông đã ăn nằm với “hàng ngàn phụ nữ”.
Chuyện xảy ra trong biệt thự Playboy Mansion của ông  thì vô số kể. Hai người phụ nữ song sinh người Anh là Carla và Melissa Howe là những người đã từng hẹn hò với ông cách đây vài năm. Hai người phụ nữ này cho biết  họ đã nghe kể  rằng ông đã từng giữ một lúc đến 16 cô gái trong biệt thự của ông và một khi đã chán chê, ông đã chuyền tay cho một người đàn ông khác.
Biệt thự Playboy của ông Hefner chẳng khác nào một hang động kín đáo: máy quay phim được cài đặt khắp nơi, tất cả mọi điện thoại đều được nghe lén. Theo ông Stefen Tetenbaum, người đã từng làm “bồi phòng” cho ông Hefner trong 2 năm 1978 và 1979, khách mời đến biệt thự không được phép tiếp xúc với các kiều nữ trong biệt thự. Không có bất cứ phó nhòm săn ảnh nào hoặc thám tử tư nào được lọt vào biệt thự. Người sáng lập Playboy luôn luôn thu hình các cuộc gặp gỡ của ông với người khác. Ông có 2 máy quay phim đặt ở đầu giường  và những màn ảnh rộng trong phòng ngủ. Tất cả những cuộc “ăn chơi” đều được thu hình. Người có nhiệm vụ cất giữ những băng hình này cho biết ông Hefner dùng chúng để chống lại bất cứ cộng sự viên hay khách mời nào dám đe dọa viết hồi ký về ông hay biệt thự của ông.
Theo ông Tetenbaun, những cuộc “ăn chơi” trác táng của ông Hefner thường được gọi là những “Đêm con heo” (Pig Nights). Đó là những cuộc truy hoan về đêm mà một người như tôi nghe đến chỉ muốn nôn mửa mà thôi.
 Riêng về quan hệ của ông Hefner với một người “bồi phòng” như ông Tetenbaun, ông này nói rằng ông chủ của Playboy “không phải là một người tử tế. Nếu ông nếm nước ngọt Pepsi mà thấy nó không đủ lạnh, ông ném đi và bảo tôi phải thay thế bằng một ly khác. Tôi không biết ông ta có bao giờ biết tôi tên gì không. Ông chỉ gọi tôi là tên “bồi phòng”. Theo ông Tetenbaun, ông Hefner tỏ ra rất vũ phu đối với các bạn gái và bạn tình của ông...Ông không chấp nhận những người phụ nữ không có ngực lớn. Nếu các phụ nữ không chịu bơm ngực cho vừa ý ông, ông liền tống cổ họ vào bệnh viện và sa thải họ. Ông Tetenbaun nói rằng đối với ông Hefner, phụ nữ chỉ là những món đồ chơi, không xài được nữa thì ném đi (x. http://www.news.com.au/entertainment/celebrity-life/celebrities-gone-bad/hefners-former-valet-reflects-on-pig-nights-with-hookers-and-hef/news).
Với những thâm cung bí sử từ ngôi biệt thự Playboy của ông Hefner vừa được tiết lộ, tôi cho rằng có thể ông  đã góp phần đẩy mạnh cuộc “cách mạng tình dục”, nhưng không hề là một người   giải phóng phụ nữ. Thật ra, “giải phóng” lúc nào cũng là một từ hàm hồ. Chả có nơi nào từ này được sử dụng nhiều cho bằng trong các nước cộng sản. Mấy ông cộng sản Việt Nam lúc nào mà chẳng  tự hào về cuộc giải phóng mà họ đã thực hiện bằng bạo lực và hệ quả chỉ là nô lệ, áp bức và nghèo nàn lạc hậu. Khi hậu quả của một cuộc giải phóng là phẩm giá của con người bị khinh miệt và chà đạp thì không thể xem đó là một cuộc giải phóng.
Khi tôi viết đến đây thì Hoa Kỳ lại trải qua một thảm kịch khủng khiếp nữa. Vẫn là nan đề của chuyện súng ống. 59 người chết, trên 500 người bị thương. Kể từ năm 1949, đây là cuộc thảm sát gây nhiều tử vong nhứt trong lịch sử Mỹ. Các cơ quan điều tra vẫn chưa cho biết động lực nào đã thúc đẩy kẻ sát nhân, một người da trắng giàu có, đã hành động như thế. Chỉ biết rằng kẻ giết người hàng loạt này đã có cả một kho vũ khí đủ loại và đã chuẩn bị rất kỹ trước khi ra tay hành động. Vào thập niên 1960, tôi đã đồng hóa văn hóa Mỹ với Playboy. Nay cứ nói đến Mỹ thì tôi lại liên tưởng đến súng đạn. Nghĩ như thế cũng phải thôi, bởi vì tính đổ đồng, mỗi công dân Mỹ có ít nhứt một khẩu súng. Ai muốn có súng cũng được.
Cuộc thảm sát tại trường tiểu học Sandy Hook, thành phố Newtown, Tiểu bang Connecticut tháng 12 năm 2012 khiến cho 20 trẻ em và 6 giáo viên bị thiệt mạng đã không đánh động lương tâm của các chính trị gia đủ để thông qua luật kiểm soát súng ống. Kế đó, Quốc hội cũng chẳng làm gì sau khi một người thanh niên da trắng đã xông vào một giáo đường để sát hại một số tín đồ da đen đang thờ phượng tại Charleston, Tiểu bang South Carolina. Những giọt nước mắt của Tổng thống Barack Obama cũng chẳng thấm vào đâu để thúc đẩy Quốc hội thông qua luật kiểm soát khí giới cá nhân. Cũng chẳng có chút thay đổi nào ngay cả sau khi có đến 2 dân biểu bị bắn trọng thương. Dĩ nhiên, các cuộc thăm dò dư luận cho thấy đa số người Mỹ muốn có những luật kiểm soát súng đạn chặt chẽ hơn. Nhưng cho tới nay đương kim Tổng thống Donald Trump vẫn cứ giữ vững lập trường duy trì Tu chính án thứ 2 cho phép và khuyến khích quyền được mang súng của công dân Mỹ. Dạo tháng Tư vừa qua, khi nói chuyện với các thành viên của Hội có súng (National Rifle Association), ông đã cam kết sẽ bảo vệ cho đến cùng quyền được cầm súng của cá nhân.
Trong 2 nhiệm kỳ 8 năm của ông, Tổng thống Obama đã phải đối diện với không biết bao nhiêu cuộc thảm sát bẵng võ khí cá nhân. Lần nào ông cũng gọi đó là một thứ “thông lệ” (routine). Chuyện bắn giết bằng súng đạn trong xã hội Mỹ ngày nay xem ra chẳng khác nào chuyện xảy ra trong các phim cao bồi một thời ở miền Viễn Tây: cứ có xích mích một chút là rút súng ra giải quyết; buồn tình chẳng biết làm gì, người ta cũng rút súng ra giải sầu. Chuyện bắn giết nhau diễn ra chẳng khác nào một trò chơi và dĩ nhiên trong trò chơi, mạng người và phẩm giá con người cũng chỉ còn là một món đồ chơi và đồ chơi rẻ mạt!
Tuần qua, tôi có xem chương trình “48 hours” (48 tiếng đồng hồ) trên đài số 10. Câu chuyện có thật xảy ra cách đây 2 năm tại Tiểu bang California được ghi lại trong chương trình là một vụ thảm sát trong đó một thanh niên 19 tuổi đã dùng súng sát hại cha mẹ và làm thương tích một đứa em nhỏ. Người mẹ là một triệu phú. Nhưng giết cha mẹ để chiếm đoạt tài sản không phải là động lực thúc đẩy người thanh niên ra tay. Căm thù cũng chẳng phải là nguyên nhân khiến cậu phạm tội ác. Cuộc điều tra cho thấy trước đó người thiếu niên đã say mê và bị ám ảnh bởi một vụ bắn giết tương tự. Cậu đã làm một bài luận văn xuất sắc về vụ thảm sát này. Người thanh niên có lẽ đã muốn dàn dựng lại câu chuyện như thể một trò chơi và cha mẹ cậu đã được chọn làm vật tế thần trong trò chơi ấy.
Từ chuyện của người sáng lập tạp chí Playboy đến vụ thảm sát mới đây tại Las Vegas, tôi nghĩ đến phẩm giá con người và sự bình đẳng. Một sự bình đẳng đích thực chỉ có được thể xây dựng trên ý thức về phẩm giá con người. Nhưng phẩm giá con người và bình đẳng sẽ chỉ là những ý niệm mơ hồ và trống rỗng, nếu không có tình huynh đệ. Những nhà  cách mạng Pháp hồi năm 1789 đã có lý để thêm hai chữ “huynh đệ” vào khẩu hiệu “Tự do và Bình đẳng”. Nghĩ cho cùng, nếu tôi nhìn người khác như người anh em của tôi thì liệu tôi có xem họ như một món đồ chơi hay một sự vật để sử dụng, miệt thị và vứt bỏ không tiếc thương không?







Thứ Hai, 9 tháng 10, 2017

Vương quốc Á rập Saudi: phụ nữ và quyền được lái xe!


06/10/17

Sáng thứ Tư 27 tháng Chín 2017 vừa qua, với một cử chỉ được xem là “phi thường”,  Quốc vương Á rập Saudi Mohammaed bin  Salman đã ban hành một sắc chỉ cho phép phụ nữ được phép lái xe kể từ năm tới.
Đây là một chiến thắng lớn cho phụ nữ tại vương quốc Hồi giáo này. Kholoud Attar, chủ một tiệm thời trang tại Thủ đô Riyadh, đã nói với một phóng viên của đài CNN rằng quyết định trên đây sẽ mang lại một sự thay đổi lớn lao cho cá nhân chị cũng như các nữ nhân viên của chị. Người phụ nữ 32 tuổi này giải thích rằng được lái xe sẽ giúp tiết kiệm rất nhiều thời giờ. Riêng đối với các nữ nhân viên đang làm việc trong tiệm thời trang của cô Attar, được lái xe sẽ giúp họ tiết kiệm được một số tiền lớn vì phải thuê người chở tới sở làm. Thuê một người lái xe đưa đón ngốn đến gần một nửa lương tháng của người phụ nữ. Chẳng hạn lương tháng của một nữ giáo viên là 1.600 Mỹ kim. Người giáo viên này phải trả cho tài xế đưa đón mình gần 800 Mỹ kim.
Manak al-Sharif, một trong những người phụ nữ chủ động trong chiến dịch có tên là “Women2Drive” (Phụ nữ được quyền lái xe) tại Á rập Saudi, nói rằng đối với người phụ nữ đang sống trong vương quốc Hồi giáo này, đây là một chiến thắng lớn lao. Cô Sharif hiện đang sống tại Úc Đại Lợi. Năm 2011, cô đã bị giam tù sau khi đưa lên YouTube một băng hình cho thấy cô đang lái xe. Hành động thách thức  này đã khiến cô bị đe dọa giết chết, nhưng đồng thời cũng thúc đẩy cô mở chiến dịch tranh đấu cho quyền được lái xe của người phụ nữ.
Trong cuộc phỏng vấn dành cho đài CNN từ Úc Đại Lợi, người phụ nữ đầy can đảm này đã lên tiếng ca ngợi giới lãnh đạo trẻ tại Á rập Saudi. Nhưng theo cô, động lực khiến giới lãnh đạo Á rập Saudi nhìn nhận quyền được lái xe của phụ nữ chính là tình trạng kinh tế trì trệ hiện nay. Để đẩy mạnh kinh tế, chính phủ nước này thấy  cần phải kêu gọi sự đóng góp tích cực của nữ giới. Được lái xe là một trong những điều kiện để họ có thể tham gia vào hoạt động kinh tế.
Á rập Saudi là một vương quốc áp dụng triệt để giáo lý Wahhabi, một hệ phái Hồi giáo rất bảo thủ. Hệ phái Hồi giáo này không cho phép nam giới và nữ giới được trà trộn với nhau trong các buổi lễ, các cuộc tập trung và ở những nơi công cộng. Mỗi khi đi ra khỏi nhà, nữ giới phải luôn được một người thân trong gia đình thuộc nam giới tháp tùng. Còn để được đi làm hoặc du lịch, họ cũng phải có phép của một người đàn ông giám hộ.
Nhưng với sắc lệnh mới của nhà vua, phụ nữ Á rập Saudi sẽ không phải xin phép người nam giám hộ để học lái xe. Tuy nhiên, các qui định khác về việc giám hộ phụ nữ vẫn còn có giá trị và sẽ tiếp tục chi phối nhiều khía cạnh trong cuộc sống hàng ngày của người phụ nữ. Do đó, mặc dù được phép lái xe là một bước tiến quan trọng đối với phụ nữ Á rập Saudi, con đường tự do và bình đẳng đối với họ vẫn còn dài và đầy chông gai.
Cùng với sắc chỉ cho phép phụ nữ lái xe, việc tháo gỡ một số những giới hạn đối với phụ nữ mở ra nhiều triển vọng cho kinh tế của Vương quốc Á rập Saudi và cách riêng cho sự đóng góp của người phụ nữ vào nhiều lãnh vực, nhất là kinh tế. Đây là thay đổi mới nhất trong một loạt cải tổ tại Á rập Saudi kể từ khi Quốc vương Mohammed bin Salman lên kế vị vua cha.
Ông được vua cha truyền ngôi kể từ tháng Sáu 2017 vừa qua. Kể từ khi đăng quang, ông đã đưa ra chương trình cải cách kinh tế mà mục tiêu phải đạt được là năm 2030. Với mục tiêu này, ông muốn đặc biệt gia tăng con số nữ giới vào nguồn nhân lực.
Được lái xe là một chiến thắng và đồng thời là một nhân quyền đối với người phụ nữ tại Á rập Saudi. Tuy nhiên, sắc lệnh cho phép phụ nữ lái xe đã không được nhiều người, nhất là giới mày râu tại đây hưởng ứng. Trên nhiều trang mạng xã hội, một số người đã bày tỏ quan ngại rằng cho phép phụ nữ lái xe sẽ vi phạm các luật lệ nghiêm nhặt về “nam nữ thọ thọ bất thân” trong vương quốc.
Thật ra, được quyền lái xe không phải là vấn đề lớn nhất đối với nhiều phụ nữ Á rập Saudi. Quan trọng hơn chính là quyền bình đẳng đối với nam giới, như được ra khỏi nhà một mình mà không cần phải có một người thân là đàn ông hay một nam giám hộ  cho phép hay đi kè kè một bên.
Nhiều người phụ nữ Á rập Saudi đã đón nhận sắc lệnh cho phép phụ nữ lái xe như một tin vui. Nhưng trong thực tế, sắc lệnh này vẫn chưa tháo gỡ được nhiều thứ rắc rối khác có thể xảy ra trong việc lái xe của người phụ nữ. Chẳng hạn, khi chiếc xe do người phụ nữ lái bị hỏng giữa đường thì sao? Dĩ nhiên, trong cái nhìn miệt thị phụ nữ trong vương quốc Hồi giáo này, người phụ nữ không thể tự động đứng ra thay bánh xe hay sửa máy ở giữa đường được.
Nhưng còn chuyện rắc rối hơn phải nghĩ tới là: nếu người phụ nữ ngồi một mình trên xe, nghĩa là không có người giám hộ hay một người thân là đàn ông bên cạnh thì làm sao chị có thể mở miệng kêu gọi người qua lại đến giúp đỡ, bởi vì bắt chuyện với một người đàn ông không phải là người thân trong gia đình là một hành động phạm pháp có thể bị trừng phạt một cách nặng nề.
Về quyền của phụ nữ, Á rập Saudi là một trong những nơi đầy mâu thuẫn. Nước này tỏ ra tiến bộ hơn rất nhiều nước khác về một số quyền của phụ nữ. Kể từ năm 2015, lần đầu tiên phụ nữ Á rập Saudi được đi bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử của hội đồng thị xã. Cùng với quyền này, phụ nữ cũng được phép vận động để tranh vào một số chức vụ trong công quyền. Tuy nhiên các ứng cử viên nữ giới lại không được phép “nói chuyện” với các cử tri nam và dĩ nhiên cũng không được phép để cho nam giới và nữ giới được cùng có mặt bên nhau trong các văn phòng vận động bầu cử của họ.
Bên cạnh quyền này, nữ giới cũng được bổ nhiệm vào hội đồng tham vấn. Ít nhất đã có 17 phụ nữ được bầu vào hội đồng này trong cuộc bầu cử cấp thị xã hồi năm 2015. Năm 2011, Quốc vương Abdullah đã ban hành một sắc lệnh cho phép phụ nữ được đi bỏ phiếu và hai năm sau, ông qui định rằng phải dành ít nhất 20 phần trăm số ghế trong hội đồng tham vấn cho nữ giới.
Về phương diện giáo dục, Á rập Saudi cũng tỏ ra rất tiến bộ. Một bản phúc trình của chính phủ được công bố hồi năm 2015 cho thấy có nhiều nữ sinh viên hơn nam sinh viên trong các đại học.
Ngoài ra cũng đáng chú ý không kém là sự kiện nữ giới Á rập Saudi cũng được tham gia thi đấu trong các thế vận hội. Nước này đã cử 2 nữ lực sĩ tham gia thi đấu trong thế vận hội 2012 được tổ chức tại London, Anh quốc.
Song song với những quyền trên đây, phụ  nữ Á rập Saudi vẫn còn phải chịu rất nhiều hạn chế. Phụ nữ nước này vẫn chưa được phép lập gia đình, ly dị, tìm công ăn việc làm hoặc trải qua một cuộc giải phẫu đặc biệt mà không có phép của nam giám hộ . Luật giám hộ vẫn còn chi phối hầu như mọi khía cạnh trong cuộc sống của phụ nữ. Trong trường hợp cha của người phụ nữ qua đời hay vắng mặt, thì người chồng, một người thân thuộc nam giới, người anh em hoặc trong một số trường hợp, ngay cả con trai của họ, mới có quyền chấp thuận trước khi một người phụ nữ có thể hưởng được những quyền thường là rất căn bản của họ.
Một điều cấm kỵ khác đối với phụ nữ Á rập Saudi là họ không được tùy ý tiếp xúc hay có mặt tại những nơi chỉ dành cho đàn ông, ngoại trừ một số trường hợp ngoại lệ như đi bệnh viện, vào ngân hàng và các trường y khoa. Năm 2013, Chính quyền Á rập Saudi đã ra lệnh cho các tiệm buôn nào mướn cả đàn ông lẫn đàn bà làm nhân viên đều phải xây những “bức tường ngăn cách” để triệt để thi hành luật cấm nam nữ trà trộn với nhau.
Phụ nữ Á rập Saudi không được phép xuất hiện nơi công cộng mà không mặc chiếc áo dài đen (abaya) phủ từ đầu đến chân. Luật này là để bảo vệ sự trang nghiêm, kín đáo của phụ nữ ở nơi công cộng.
Phụ nữ Á rập Saudi không được phép làm một số kinh doanh nếu không có một người đàn ông đỡ đầu. Muốn đứng ra mở một doanh nghiệp riêng, người phụ nữ nước này thường phải xin ít nhất 2 người đàn ông đến làm chứng cho tư cách của họ để họ được vay mượn tiền của ngân hàng hoặc được phép kinh doanh.
Trong trường hợp ly dị, phụ nữ nước này không được phép giữ con cái cho đến khi chúng được 7 tuổi nếu là con trai và 9 tuổi nếu là con gái.
Người phụ nữ Á rập Saudi cũng không thể nộp đơn xin cấp thẻ căn cước hay sổ thông hành nếu không có phép của một nam giám hộ.
Người phụ nữ nước này cũng không được phép ăn uống trong các tiệm ăn nếu các tiệm ăn này không có một nơi dành riêng cho gia đình. Tại Á rập Saudi, hầu như tiệm ăn nào cũng có một khu dành riêng cho gia đình tách biệt với những khu chỉ có thực khách nam. Dĩ nhiên, để vào các tiệm ăn, nữ giới cũng phải đi theo một lối dành riêng cho họ, thường là cửa hông.
Về phương diện tố tụng, nữ giới Á rập Saudi không hề có quyền hưởng một phiên xử phân minh. Tại tòa án, lúc nào “chứng cớ của một người đàn ông cũng có giá trị bằng chứng cớ của 2 người phụ nữ”. Tại Á rập Saudi, trước pháp luật, người phụ nữ chỉ được xem như một trẻ em vị thành niên do đó không thể hoàn toàn làm chủ được cuộc sống của mình.
Cuối cùng, người phụ nữ Á rập Saudi không được quyền thừa hưởng gia tài bình đẳng với đàn ông. Theo luật thừa kế dựa theo luật Hồi giáo Sharia, con gái chỉ nhận được nửa gia tài. Vì chỉ nhận được một nửa hoặc có khi bị loại khỏi chúc thư của người cha, phụ nữ Á rập Saudi dễ rơi vào cảnh nghèo túng.
Theo bản phúc trình của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum) được công bố năm vừa qua, trong 144 nước được khảo sát, Á rập Saudi đứng hàng thứ 141 xét về khoảng cách bình đẳng giữa nam giới và nữ giới, đứng sau cả những nước như Syria, Pakistan và Yemen.
Được phép lái xe quả là một bước tiến đáng kể đối với người phụ nữ của Vương quốc Á rập Saudi. Đây là một chiến thắng mà họ chỉ đạt được sau gần 2 thập niên chiến đấu. Tuy nhiên, được lái xe chỉ là một thứ “ân huệ” nhỏ mà vương quốc này “ban” cho thần dân nữ giới của họ. Người phụ nữ Á rập Saudi không chỉ mong có thế. Điều họ chờ đợi không chỉ là được lái một chiếc xe, mà là được hoàn toàn bình đẳng với nam giới trong mọi quyền lợi và nghĩa vụ.
Họ muốn được “lái” cuộc đời của họ.




Thứ Sáu, 6 tháng 10, 2017

Tình người vẫn chiếu sáng

Chu Thập
29/09/17

Nhân trận bão lụt Harvey vừa qua tại Houston, Tiểu bang Texas, Hoa Kỳ tỷ phú Hoàng Kiều ở Mỹ đã làm “vẻ vang dân Việt” khi ông mở hầu bao trao tặng đến 5 triệu Mỹ kim để đóng góp vào việc cứu trợ và tái thiết. Tổng thống  tỷ phú Donald Trump, tuy cũng thuộc hạng giàu nứt đố đổ vách, nhưng cũng chỉ mở túi cho có đúng một triệu thôi. So sánh hành động của hai nhà tỷ phú này, báo Việt Luận, số ra ngày 15 tháng Chín vừa qua, đã chạy “tít” ngay ở trang nhứt: “Tổng thống Trump bị tỷ phú Việt chơi gác”.  Còn trên một trang mạng xã hội nào đó ở Mỹ, có người còn thách thức Tổng thống Trump: “Tôi hy vọng là ngài sẽ đọc tin này, thưa ngài tổng thống Trump” (I hope you’re seeing this, Pres. Trump). Thế giới sẽ tốt đẹp hơn khi người giàu đua nhau làm việc thiện!
Đứng trước hoạn nạn, khổ đau của người đồng loại, nhứt là khi xảy ra thiên tai như bão lụt, động đất, núi lửa...những người giàu có thường tỏ ra hào sảng. Lòng quảng đại của người giàu, dĩ nhiên luôn được đề cao và nhắc nhớ. Tên tuổi của họ được mọi người biết đến. Tuy nhiên, với tôi, cử chỉ chia sớt của người giàu cũng chỉ là những viên kim cương lác đác trong tòa nhà tình người vốn được xây dựng và đứng vững nhờ vô số những viên gạch đóng góp của những người vô danh. Tình người được đo lường không bằng số lượng đóng góp hay tên tuổi, mà thiết yếu bằng sự vô danh.
Với tựa đề “Sự tử tế của người xa lạ” (The kindness of Strangers), Tạp chí Time số ra ngày 25 tháng Chín vừa qua đã ghi lại những đóng góp “vô danh” của người Mỹ cho công cuộc cứu trợ sau trận bão Harvey vừa qua nói riêng và trong các công tác từ thiện nói chung.
Khi trận bão lụt Harvey nhận chìm căn nhà của anh tại thành phố Houston, Isaih Courtney chỉ còn đủ thì giờ để vơ vét chút đỉnh quần áo, ôm con chó cưng trong vòng tay và đưa vợ con đến một nơi an toàn. Trận bão lụt đã để lại khoảng 150 tỷ Mỹ kim thiệt hại vật chất và làm cho trên 70 người thiệt mạng. Hai ngày sau khi trận bão đã đi qua, người cha 28 tuổi và người vợ trẻ đã mon men trở về nhà. Họ nhận thấy không có bất cứ thứ gì trong nhà còn nguyên vẹn; hầu như mọi thứ thiết bị gia dụng đều hư hại.
Courtney vốn là một nhân viên làm việc cho một hãng dầu. Dù vậy, anh không có bảo hiểm về lụt lội và cũng chẳng có đủ tiền để dành để sửa chữa những thiệt hại trong nhà. Bà con, bạn bè tại Houston, ai cũng cùng chung số phận như anh. Thành ra, Courtney nghĩ bụng: chỉ còn một nơi duy nhứt để gõ cửa là tấm lòng của người xa lạ.
Nghĩ như thế cho nên Courtney mới vào trang mạng GoFundMe (xin giúp tôi) để xin 40.000 Mỹ kim. Đây là số tiền mà anh nghĩ là vừa đủ để sửa lại ngôi nhà và thay thế các đồ gia dụng cũng như bàn ghế trong nhà. Kèm theo tấm hình chụp gia đình anh đang đứng trước nhà với đủ thứ mọi vật dụng hư hại, Courtney viết thêm: “Bất cứ thứ gì cũng đều có ích”. Chỉ  vài ngày sau, anh đã nhận được sự đáp trả quảng đại của trên 900 người xa lạ vô danh: tổng cộng số tiền lên đến 32.000 Mỹ kim.
Courtney chỉ là một trong hàng ngàn người Mỹ đã chạy tới những trang mạng như GoFundMe và YouCaring để cầu cứu, vì họ tin ở tấm lòng vàng của những người xa lạ.
5 ngày sau khi trận bão Harvey tấn công vào Thành phố Houston, GoFundMe đã mở được trên 850 chiến dịch quyên góp và thu về được hơn 4.5 triệu Mỹ kim để đáp ứng với nhiều nhu cầu khác nhau, từ những chiếc tã lót cho thơ nhi của những gia đình di tản đến thực phẩm cho thú cưng. Hình ảnh của một bé gái 3 tuổi đang bám chặt thi thể vô hồn của người mẹ đã tạo một xúc động mạnh: em đã nhận được hơn 175.000 Mỹ kim để được cắp sách đến trường. Một gia đình phải chôn cất đến 6 người thân bị chết đuối cũng nhận được trên 47.000 đô.
Riêng trang mạng YouCaring đã tổ chức được trên 6.000 chiến dịch và đã thu về khoảng 44 triệu Mỹ kim. Nói chung, chưa bao giờ những cuộc quyên góp trên các trang mạng và từ những người vô danh đã thu về được nhiều tiền như thế.
Trước đây, kêu gọi đám đông vô danh đóng góp thường chỉ diễn ra trong các cuộc vận động bầu cử. Nhưng theo Tạp chí Time, từ hơn 5 năm vừa qua, những cuộc quyên góp từ đám đông vô danh đã trở thành một “kỹ nghệ” từ thiện thu góp về hàng tỷ Mỹ kim. Những người vô danh không còn trao tặng xuyên qua các tổ chức từ thiện mà trực tiếp gởi tiền đến các cá nhân đang gặp hoạn nạn.
GoFundMe đã được thành lập năm 2010. Con số các ân nhân vô danh nay đã lên đến 40 triệu người. Số tiền họ trao tặng đã lên đến trên 4 tỷ Mỹ kim. Còn kể từ năm 2011 đến nay, trang mạng YouCaring cũng  đã quyên góp được hơn 800 triệu Mỹ kim.
Theo một cuộc thăm dò do trung tâm Pew Research Center thực hiện, có đến 22 phần trăm người Mỹ trao tặng trên những trang mạng như thế và vì trao tặng mà không thông qua một tổ chức từ thiện có tên tuổi, cho nên họ cũng chẳng được miễn thuế.
Tấm lòng quảng đại của những người Mỹ vô danh một phần đã được khích động do các trang mạng xã hội vốn có thể trình bày ra trước mắt thực tại khổ đau của những người cần được giúp đỡ. Ngoài ra, người Mỹ cũng dễ bị đánh động hơn khi họ nhìn thấy tận mắt khoảng cách giàu nghèo và những khó khăn về tài chính của rất nhiều người trong xã hội. Theo Tạp chí Time, có hơn 40 phần trăm người Mỹ không có đủ khả năng tài chính để bất thần phải chi trả một số tiền khoảng 400 Mỹ kim trở lên như sửa một chiếc xe hơi bị hỏng máy,  tu bổ một ngôi nhà bị lụt lội tàn phá hoặc  trong trường hợp khẩn thiết phải vào bệnh viện mà không có bảo hiểm.
Kể từ năm 2010, số tiền dâng cúng của người Mỹ cho các hoạt động từ thiện đã không ngừng gia tăng. Năm 1976, tổng số tiền đóng góp của người Mỹ cho các công cuộc từ thiện là 234 tỷ Mỹ kim. Năm 2009, con số này đã lên gần gấp 3 lần. Và  năm 2016 vừa qua, số tiền quyên góp được lên đến 390 tỷ Mỹ kim. Nhìn chung, người Mỹ lúc nào cũng quảng đại và ngày càng có thêm nhiều người quảng đại.
Với tôi, nước Mỹ lúc nào cũng vĩ đại và vĩ đại nhờ tấm lòng vàng của người dân. Thật ra, ngày nay, khi thế giới ngày càng được thu hẹp thành một ngôi làng, sợi giây  liên đới nhân loại ngày càng nối dài , tình người ngày càng dâng cao, sự chia sẻ ngày càng trở nên thúc bách hơn. Ngay cả giữa hai nước thù nghịch là Nam và Bắc Hàn, cho dù tình hình có căng thẳng đến đâu và chiến tranh có thể xảy ra bất cứ lúc nào, Nam Hàn vẫn cứ tiếp tục mở rộng bàn tay để san sẻ cho Bắc Hàn. Mới đây chính phủ đã phê chuẩn một ngân khoản viện trợ cho Bắc Hàn lên đến 8 triệu Mỹ kim để trợ giúp nhân đạo đặc biệt cho trẻ em và phụ nữ có mang.
Ngay như ở Việt Nam, mặc dù sự vô cảm vẫn là tình trạng chung của cả nước, người ta vẫn thấy có nhiều hoạt động từ thiện. Ngoài các tổ chức có tên tuổi và được “đăng ký”, không thiếu các cá nhân đã và đang tỏ ra  tích cực, có khi rất âm thầm, trong việc bỏ tiền túi hoặc đứng ra quyên góp để giúp đỡ những thành phần yếu kém trong xã hội hoặc những người đang gặp hoạn nạn dưới nhiều hình thức khác nhau. Ít ra, trong bóng đêm của ích kỷ, dửng dưng và vô cảm, ánh sáng của tình người vẫn còn có thể chiếu sáng.
Nhìn vào một bức tranh như thế trên khắp thế giới, tôi cảm thấy lạc quan. Tôi có thể không có niềm tin tôn giáo. Tôi không tin ở các ý thức hệ. Tôi lại càng nghi ngờ về thiện chí của các chính trị gia hơn. Nhưng nếu còn có chút niềm tin thì niềm tin của tôi trước tiên được đặt vào tình người.
Tôi vẫn còn nhớ lời khuyên của tỷ phú Bill Gates trên Tạp chí Time hồi năm vừa qua. Ông viết rằng nếu có một món quà mà ông muốn tặng cho các sinh viên mới ra trường, thì món quà đó phải là cuốn sách có tựa đề “Những thiên thần tốt hơn trong bản chất con người chúng ta” (The Better Angels of Our Nature) của tác giả Steven Pinker, được xuất bản hồi năm 2011.
Trong chương Tám của cuốn sách, tác giả Pinker đã phân tách 5 “thứ quỷ trong con người” đã từng ngự trị và lèo lái lịch sử của thế giới trong quá khứ. Trước hết là con quỷ bạo động: bạo động dưới mọi hình thức đã từng được xem như phương thế thực tiễn để giải quyết mọi vấn đề. Kế đó là con quỷ của óc thống trị. Con quỷ này thường dựa vào chủng tộc, tôn giáo, dân tộc...để thúc đẩy con người bằng mọi giá tìm kiếm quyền lực và danh vọng. Con quỷ thứ ba luôn hoành hành trong bản tính con người là sự thù hận. Nhưng độc ác và bỉ ổi hơn cả vẫn là con quỷ của tàn bạo. Đây là loại quỷ dữ luôn thúc đẩy con người tìm kiếm niềm vui sướng trên chính nỗi khổ đau của người khác. Cuối cùng, con quỷ thứ năm trong bản tính con người là các ý thức hệ.
Nhưng theo tác giả, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy 5 con quỷ trên đây đã dần dần nhường chỗ cho 4 vị thiên thần trong bản tính con người. Thay cho bạo động, hận thù, óc thống trị...nhân loại ngày càng hướng đến sự hợp tác và tình vị tha. Tác giả Pinker gọi 4 thiên thần đó là: sự cảm thông, tinh thần tự chế, ý thức luân lý và lý trí.
Thời xa xưa, nhứt là ở Âu Châu, cứ có  xích mích là người ta liền rút kiếm ra để song đấu; mạng mình và mạng người khác rẻ như bèo. Giữa các quốc gia cũng thế, hễ có xung đột người ta liền dàn quân ra để ăn thua đủ với nhau. Hai cuộc Đại thế chiến có lẽ cũng đã xảy ra vì bạo động và vũ lực luôn được xem như phương thế duy nhứt để giải quyết vấn đề.
Tôi không biết tình trạng căng thẳng tại Bán đảo Triều Tiên có kết thúc bằng một cuộc chiến tranh nguyên tử không. Cuộc đấu võ mồm giữa lãnh tụ Kim Jong Un và Tổng thống Donald Trump nghe chan chát. Bên này gọi bên kia là “Người hỏa tiễn”, bên kia gọi bên này là “kẻ mất trí”. Trừ phi có một kẻ mất trí nào đó, trong cơn điên loạn, sẽ bấm nút vào ngòi nổ của kho vũ khí hạt nhân, hầu hết các nhà lãnh đạo trên thế giới hiện nay đều kêu gọi sử dụng lý trí, suy nghĩ bằng cái đầu tỉnh táo để giải quyết cuộc xung đột. Tôi tin rằng chẳng có lãnh tụ nào muốn có chiến tranh nguyên tử. Cùng với tác giả Pinker, tôi tin rằng “những thiên thần tốt hơn trong bản chất con người của chúng ta” sẽ tích cực hoạt động để ngăn ngừa một cuộc chiến tranh như thế.
Đó là niềm hy vọng của tôi vào  chuyện đại sự. Còn trong phạm vi của cuộc sống âm thầm và vô danh của tôi, tình người và sự cảm thông mà tôi cảm nhận được từ những người xung quanh tôi và nhứt là những người xa lạ mà tôi gặp gỡ trên mọi nẻo đường, lúc nào cũng khơi dậy trong tôi niềm lạc quan vui sống. Và dĩ nhiên, kinh nghiệm bản thân cũng luôn nói với tôi rằng mỗi lần tôi làm được một nghĩa cử, dù nhỏ bé và âm thầm đến đâu, tôi lại thấy cuộc sống có ý nghĩa và đáng sống.


Thứ Hai, 2 tháng 10, 2017

Rohingya: những đứa trẻ mồ côi



27/09/17
Rashid là một cậu bé chỉ mới 10 tuổi, nhưng đôi vai nhỏ bé của em đã phải gánh vác một trách nhiệm nặng nề: em phải chăm sóc cho đứa em gái Rashida, 6 tuổi!
Rashid và Rashida là hai trẻ em mồ côi trong số trên dưới 1.400 em Rohingya đã đến được Bangladesh, gần biên giới Miến Điện mà không có cha mẹ các em đi cùng. Cha mẹ của các em hoặc đã bị giết chết hoặc đã mất tích trong cuộc săn đuổi và truy lùng dã man tại Tỉnh bang Rakhine, miền Tây Miến Điện. Nhiều người đã gọi thảm kịch của người Rohingya tại Miến Điện là một cuộc diệt chủng.
Trong nước mắt, Rashid khẳng định rằng cha mẹ em đã bị quân đội Miến giết chết.
Người Rohingya đã tố cáo quân đội Miến về những cuộc tàn sát nhắm vào sắc tộc của họ. Quân đội Miến đã  lấy cớ bị một nhóm vũ trang người Rohingya tấn công để xua đuổi toàn bộ sắc tộc này ra khỏi Miến Điện.
Tuyệt đại đa số người Rohingya sống tại Tỉnh bang Rakhine. Theo các tài liệu lịch sử, trước đây tỉnh bang này là một vương quốc độc lập có tên là Arakan và chỉ mới bị sáp nhập vào Miến Điện vào năm 1785. Trong khoảng thời gian từ Thế kỷ 15 đến Thế kỷ 17, Vương quốc Arakan đã được các vị vua mang tước hiệu Hồi giáo “Shah” cai trị. Phần lớn người Rohingya đã sống trong vương quốc này trước khi lãnh thổ này bị sáp nhập vào Miến Điện. Tính đến  năm 2013, con số người Rohingya sống tại Miến Điện lên đến khoảng trên dưới một triệu người. Hầu hết theo Hồi giáo, nhưng giữa họ và người Miến theo Phật Giáo, mối quan hệ lúc nào cũng hài hòa. Trong thời  Đệ nhị Thế chiến, nhiều người Rohingya theo người Anh, trong khi đó người Miến theo Phật Giáo lại ngả về phía Nhật bản.
Sau khi Miến Điện được độc lập và nhất là kể từ thập niên 1960, khi quân đội lên cầm quyền, người Rohingya bắt đầu bị kỳ thị. Chính phủ Miến đưa ra nhiều đạo luật buộc người Rohingya phải chứng minh rằng họ đã sống trên đất Miến trước năm 1824 nếu muốn nhập quốc tịch của nước này. Đây là một đòi hỏi hầu như bất khả thi đối với tuyệt đại đa số người Rohingya. Chính vì thế mà họ bị coi như những người vô tổ quốc, không được tự do đi lại và dĩ nhiên phải chịu nhiều bất công khi phải đương đầu với các viên chức nhà nước, đặc biệt trong những vấn đề liên quan đến quyền sở hữu đất đai hoặc hôn thú.
Dĩ nhiên, đàng sau những áp bức và bất công là những kỳ thị bắt nguồn từ chủng tộc và nhất là tôn giáo. Phật giáo chiếm gần 90 phần trăm dân số. Tại Miến Điện, có một sự đồng hóa chặt chẽ giữa Phật Giáo và dân tộc. Tuy theo Hiến pháp, Phật giáo không phải là quốc giáo và các tôn giáo thiểu số cũng không công khai bị bách hại, nhưng nhiều người dân Miến nghĩ rằng đã sinh ra trên đất Miến thì đương nhiên phải theo Phật giáo. Trong các tôn giáo thiểu số, Hồi giáo bị kỳ thị một cách đặc biệt. Tại một số làng quê, người ta đọc được những tấm bảng có nội dung như: “Cấm người Hồi giáo ở lại qua đêm. Cấm người Hồi giáo thuê nhà. Cấm không được kết hôn với người Hồi giáo”.
Ngay cả trong hàng ngũ các chức sắc của Phật giáo Miến Điện cũng có những nhà sư đã tỏ ra rất hung hãn trong việc hô hào chống Hồi giáo. Nổi tiếng nhất là nhà sư Asin Wirathu. Trước hàng trăm tín đồ, nhà sư này đã từng hỏi: “Nên lấy một kẻ bụi đời hay một người Hồi giáo?” Đám tín đồ đồng thanh đáp: “Bụi đời”. Nhà sư lại hỏi: “Nên lấy chó hay lấy người Hồi giáo?” Rồi ông giải thích: “Chó không bao giờ buộc người khác phải cải đạo như Hồi giáo”. Dĩ nhiên, Phật giáo, vốn là tôn giáo của khoan nhượng và vô chấp, không hề có chủ trương cấm cải đạo. Nhưng nghe một nhà sư “giảng đạo” như thế, người ta hiểu được thái độ kỳ thị và mối căm thù của một số tín đồ Phật giáo Miến Điện đối với người Rohingya theo Hồi giáo.
Người Rohingya là một sắc tộc đã từng có mặt trên đất Miến từ nhiều thế kỷ qua. Đây là một sự thật lịch sử mà Chính phủ Miến đã muốn chối bỏ khi ra lệnh cho quân đội tấn công họ hầu buộc họ phải rời bỏ Miến Điện.
Bị bức bách, người Rohingya đành phải bồng bế nhau chạy qua biên giới Bangladesh. Trong lúc chạy loạn, gia đình bị ly tán, trẻ con bị thất lạc là chuyện thường xảy ra.
Rashid, em gái Rashida của em đang sống trong một trại tỵ nạn tại Kutupalong, Bangladesh, cùng với trên 60 em khác. Trong khi những đứa trẻ khác nô đùa thì Rashid lại ngồi thinh lặng, trầm tư. Em đã sống với cha mẹ và 6 anh chị em tại làng Shiderpara, huyện Maungdaw. Ngày 25 tháng Tám vừa qua, quân đội Miến đã bất thần tấn công vào làng. Shiderpara là một trong những ngôi làng của người Rohingya bị quân đội Miến tấn công và đốt phá. Theo Liên Hiệp Quốc, đây là một “hành động thanh lọc chủng tộc tiêu biểu”.
Rashid kể lại: “Đó là một ngày thứ Sáu. Cháu đã nắm tay em gái của cháu để chạy qua một ngọn đồi bên cạnh. Sau khi quân đội đi khỏi, cháu trở về và thấy cha mẹ cháu đã bị giết chết”.
Rashid không có đủ thời giờ để than khóc về cái chết của cha mẹ mình. Em đã nhập vào đoàn người láng giềng gần ngọn đồi và bắt đầu cuộc chạy trốn. Rashid cho biết: em đã phải đi 3 đêm mới tới được biên giới Bangladesh. Em đã lội qua sông Naf để vào Bangladesh một ngày trước lễ Eid ngày 1 tháng Chín. (Trong ngày lễ Eid, người Hồi giáo trên khắp thế giới tưởng niệm việc tổ phụ Abraham chuẩn bị tế sát con trai mình là Isaac, nhưng Thiên Chúa đã cho ông một con dê đực để thế chỗ cho Isaac. Đây là ngày lễ quan trọng của người Hồi giáo).
Hiện nay Rashid không biết những anh chị em khác của mình đang ở đâu. Em nói: “Cháu nghe nói tất cả anh chị em của cháu đều đã bị giết chết cả rồi”.
Trại tỵ nạn tại Kutupalong nơi Rashid đang tạm trú là một trong những trại hiện đang được tổ chức Child Friendly Space (Một không gian thân thiện dành cho trẻ con) điều khiển. Được Quỹ Nhi Đồng UNICEF của Liên hiệp quốc và các cơ quan viện trợ địa phương yểm trợ, trại tỵ nạn đã trở thành nơi nương tựa cho các trẻ em đang bị chấn thương tâm lý trầm trọng. Nhiều em còn quá nhỏ để hiểu được thảm kịch khủng khiếp mà các em phải trải qua.
Faria Selim, một chuyên viên tâm lý đang làm việc cho UNICEF tại Bangladesh cho biết: khi Rashid vừa đặt chân vào trại, cứ vài phút em chạy đến với cô và nói rằng cha mẹ em đã chết!
Rashid nói rằng em đã bỏ học lúc còn ở Miến Điện. Nhưng em thích được học và sinh hoạt trong trung tâm do tổ chức Child Friendly Space điều khiển. Cô Salim cho biết hiện có tất cả 42 trung tâm như thế để tiếp nhận trên 400.000 người tỵ nạn Rohingya. Rashid nói một cách tin tưởng: “Ở đây người ta không phải lo sợ bị tấn công nữa. Chẳng có ai theo dõi chúng tôi. Mọi người đều được tự do để làm bất cứ điều gì”. Rashid muốn được học hành để trở thành một giáo viên hầu dạy dỗ những trẻ em Rohingya khác.
Câu chuyện của Rashid có lẽ cũng tương tự như câu chuyện của 2 em bé gái khác. Dilara Begum 11 tuổi và em của em là Ajija Begum 9 tuổi. Cha mẹ của 2 em cũng đã bị giết chết trong cuộc tấn công của quân đội Miến. Ajija không thể nào quên được chuyện đã xảy ra lúc gia đình sắp ăn trưa. Em đang chơi đùa với các chị thì nghe tiếng súng nổ. Sợ hãi em đã chạy vào một khu rừng gần nhà tại làng Bargojibil, thuộc huyện Maungdaw. Núp trong bụi cây, em thấy các binh sĩ Miến đã bắn vào cha mẹ em. Sau đó họ đã cắt cổ cha em và dùng dao đâm vào bụng mẹ em.
Ajija không dám trở về nhà. Trong cảnh hỗn loạn, em không còn nhìn thấy các chị của mình nữa. Nghe câu chuyện của cha mẹ em, những người láng giềng đang sống trên đồi đã giúp em cùng đi trốn với họ. Tại trại tỵ nạn Kutupalong, Ajija đã gặp lại các chị của mình.
Câu chuyện của một em khác tên là Mushtakim cũng thảm thương không kém. 8 anh chị em của em đều đã bị giết trong cuộc tấn công của quân đội Miến. Riêng em phải mang một mảnh đạn trong người.
Tại Miến Điện, cũng như Rashid và nhiều trẻ con khác, Ajija thường trốn học vì quân đội Miến thường hành quân trong làng. Còn Dilara, chị của em, thì không bao giờ cắp sách đến trường.
Rải rác trong các trại tỵ nạn tại Bangladesh, có rất nhiều thiếu niên cùng một cảnh ngộ như Rashid, Dilara và Ajiji. Nur Hossein là một thiếu niên 12 tuổi. Gia đình em có tất cả 9 anh chị em. Hiện chỉ có em và đứa em gái tên là Jahura Begum 7 tuổi còn sống sót sau cuộc tấn công của quân đội Miến.
Hossein kể lại: “Làng Rodiongsong, miền Bắc huyện Maungdaw, bị tấn công vào lúc 10 giờ sáng ngày 25 tháng Tám vừa qua. Nắm tay em Jahura, em đã cùng với những người dân làng khác bỏ chạy xuyên qua các cánh đồng”. Em cho biết cha mẹ em đã bị giết chết trong cuộc tấn công và dân làng đã giúp đưa 2 em sang Bangladesh.
Kể lại cuộc sống tại Miến Điện, Hossein nói rằng trước kia trẻ con Miến tại Rakhine và trẻ con Rohingya học chung với nhau. Nhưng từ 2 năm nay, trẻ con Rohingya bị tách riêng ra và phải đi học trong một trường khác. Em rất thích môn bóng tròn, nhưng vì sợ quân đội Miến, em đã bỏ chơi. Cuộc sống trong trại tỵ nạn, tuy thiếu thốn và tạm bợ, nhưng Hossein nói rằng em cảm thấy an toàn, vì không còn phải sợ bị quân đội tấn công nữa. Dù vậy, em không thể nào quên được cha mẹ em.
Anjuman là một trẻ em Rohingya mồ côi khác hiện cũng đang sống trong tại tỵ nạn ở Bangladesh. Theo lời kể của Anjuman, thảm kịch đã xảy ra cho gia đình em khi em và đứa em trai cùng với các chị em gái đang chơi đùa trong nhà của người anh rể tại làng Saheb Bazar, huyện Buchidong thì bất thần, quân đội tấn công vào nhà và bắt đầu nổ súng vào mọi người. Người anh rể đã kịp chạy ra cửa, nhưng không tránh khỏi những viên đạn. Anh đã chết cùng vơi 10 người khác trong gia đình, kể cả cha mẹ của em.
Anjumin đã đến được Bangladesh cùng với người anh cả 35 tuổi.
Theo các nhân viên làm việc trong các trại tỵ nạn, hầu hết các trẻ em Rohingya đặt chân được đến Bangladesh và hiện đang sống trong các trại tỵ nạn đều bị chấn thương tâm lý một cách trầm trọng. Trong các trại tỵ nạn, trẻ em không có cha mẹ hay thân nhân được chia thành hai nhóm: một nhóm tuổi từ 4 đến 11 và một nhóm tuổi từ 12 đến 18. Những em thuộc nhóm tuổi từ 4 đến 11 là những em dễ bị tổn thương nhất. Riêng nhóm các em tuổi thừ 12 đến 18 được cho ở trong những trung tâm dành cho thiếu niên. Ngoài các chương trình học thông thường khác, các em được dạy một cách đặc biệt về chương trình ngừa thai.
Tại trung tâm do tổ chức Child Friendly Space điều khiển, hiện có khoảng 562 trẻ em mồ côi, phần lớn đến sau ngày 25 tháng Tám. Mặc dù được cung cấp đầy đủ dụng cụ để học hành cũng như được cố vấn tâm lý, nhiều em hoàn toàn tỏ ra bất động còn một số khác thì không muốn nói chuyện.


 Nguồn: (http://www.aljazeera.com/indepth/features/2017/09/rohingya-children-recall-horror-losing-parents)

















Thứ Sáu, 29 tháng 9, 2017

Anh hùng vô danh


Chu Thập
22.9.17

Mới đây các cơ quan truyền thông thế giới có nhắc đến tên của một người Nga đã từng cứu thế giới khỏi một cuộc Đệ tam Thế chiến. Người Nga này là ông  Stanislav Petrov, một viên trung tá trong quân đội Liên Xô đã qua đời ngày 19 tháng Năm vừa qua tại một vùng ngoại ô Thủ đô Mạc Tư Khoa.
Ngày 26 tháng Chín năm 1983, theo dõi trên đài Radar, ông Petrov  là người đã tận mắt chứng kiến việc Hoa Kỳ cho phóng một hỏa tiễn vào Liên Xô. Đây là cao điểm của chiến tranh lạnh. Một cuộc chiến tranh nguyên tử có thể xảy ra bất cứ lúc nào và dĩ nhiên sẽ tiêu diệt thế giới. Nhưng với tất cả sáng suốt và bình tĩnh, viên trung tá này nghi ngờ rằng đây có thể chỉ là một báo động giả cho nên đã không báo cáo về tổng hành dinh của trung tâm phòng không Liên Xô để từ đó các tướng lãnh sẽ tham khảo ý kiến của tổng bí thư Yuri Andropov. Theo diễn tiến bình thường có thể dự đoán được, chuyện Liên Xô cho “nhấn nút đỏ” để trả đũa và như vậy châm ngòi cho một  thế chiến trong đó vũ khí nguyên tử chắc chắn sẽ được mang ra sử dụng là điều khó tránh khỏi.
Cũng như cuộc khủng hoảng tại Cuba hồi năm 1962 đã không dẫn đến một cuộc chiến tranh nguyên tử, hành động can đảm của Trung tá Petrov đã ngăn chận được một Đệ tam Thế chiến. Tuy nhiên, dưới thời Liên Xô, hành động của ông Petrov không bao giờ được tuyên dương. Mãi cho đến lúc Liên Xô tan rã, chủ nghĩa cộng sản cáo chung tại chính cái nôi chào đời của nó và các tài liệu quân sự được giải mã hồi năm 1998, người ta mới nhận ra được hành động anh hùng của viên trung tá này. Ngay cả người vợ của ông Petrov là người đã qua đời năm 1997, cũng không hề biết được ông đã làm gì trong đêm  26 tháng Chín năm 1983.
Câu chuyện được giải mã của ông Petrov cho thấy: hôm đó đồng hồ vừa điểm 12 giờ đêm khi ông ghi nhận được một tiếng động bất thường trên màn ảnh Radar. Cùng với âm thanh này, máy vi tính của viên sĩ quan cũng nói với ông rằng vật thể xuất hiện trên đài Radar chính là một hỏa tiễn của Hoa Kỳ đang hướng thẳng về Liên Xô.
Vào thời điểm đó, bầu khí căng thẳng của chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Liên Xô đã đạt đến cao điểm. Hành động của viên trung tá 44 tuổi này chỉ xảy ra 6 tháng sau khi Tổng thống Ronald Reagan vạch mặt chỉ tên Liên Xô như một “đế quốc quỷ dữ” và chỉ mới 3 tháng sau khi các chiến đấu cơ của Nga đã bắn hạ một phi cơ  hàng không dân dụng của Nam Hàn đang bay từ New York đến Alaska khiến cho tất cả 279 hành khách thiệt mạng.
Trong một cuộc phỏng vấn dành cho hãng thông tấn RT của Nga hồi năm 2010, ông Petrov kể lại: “Khi tôi vừa thấy báo động, tôi liền đứng dậy khỏi ghế. Tất cả các binh sĩ thuộc cấp của tôi đều bấn loạn, cho nên tôi yêu cầu họ đừng hoảng hốt. Tôi biết rằng quyết định của tôi sẽ có nhiều hậu quả”.
Liền sau đó, đài Radar do Trung tá  Petrov điều khiển lại cung cấp thêm một tín hiệu đáng sợ nữa: trên màn ảnh chính lại hiện lên dấu hiệu cho thấy có thêm 4 hỏa tiễn nữa vừa mới được phóng đi.
Trung tá Petrov có 15 phút đồng hồ để quyết định liệu có nên báo cáo về trung ương rằng kẻ thù không đội trời chung đã phóng hỏa tiễn có mang đầu đạn nguyên tử không và liệu có nên yêu cầu trả đũa không. Nhưng ông đã không làm quyết định đó vì nghĩ rằng nếu Hoa Kỳ có tấn công Liên Xô thì hẳn họ đã bắn hàng loạt hỏa tiễn chứ không phải chỉ lẻ tẻ vài cái. Biết mình đã làm một quyết định đúng đắn giúp tránh được một cuộc Đệ tam Thế chiến, Trung tá Petrov đã ăn mừng bằng nửa lít rượu Vodka và ngủ vùi 28 tiếng đồng hồ liền.
Kể lại những giây phút quyết liệt và đầy thử thách đó, ông Petrov nói rằng lúc đó chiếc ghế bành ông đang ngồi nóng lên như một chảo dầu đang sôi và chân ông hoàn toàn bất động; ông cảm thấy mình không thể đứng dậy nổi nữa.
Thật ra, như trong cuốn phim có tựa đề “The man who saved the world” (người đã cứu thế giới) do tài tử gạo cội Kevin Costner thủ diễn và được trình chiếu hồi năm 2004, tài liệu lịch sử cho thấy rằng vào thời điểm đó, Hoa Kỳ không hề cho phóng đi bất cứ hỏa tiễn nào nhắm vào Liên Xô. Tất cả những âm thanh và hình ảnh báo động mà Trung tá  Petrov ghi  nhận được trên màn ảnh Radar chỉ là những tia sáng mặt trời phản chiếu xuyên qua các đám mây.
Sau khi Liên Xô sụp đổ và các tài liệu được giải mã, viên trung tá hồi hưu của Nga đã được cả thế giới ca ngợi và trao tặng nhiều giải thưởng. Ông Heidrun Hannusch, một viên chức của Hội đồng Giải Dresden Peace Prize (Giải Hòa Bình Dresden) nói rằng hành động anh hùng của ông Stanislas Petrov sẽ được lịch sử ghi nhớ như một trong những biến cố ý nghĩa nhứt của những thập niên vừa qua trong việc bảo vệ hòa bình.
Trong khi cả  thế giới ca ngợi hành động anh hùng của ông Petrov thì Mạc Tư Khoa lại rất kiệm lời đối với ông. Quân đội Nga vẫn cho rằng dù cho ông Petrov có “phát hiện” ra hỏa tiễn của Mỹ trên màn ảnh Radar và có giải thích thế nào đi nữa, ông chẳng can dự gì vào quyết định tự chế của trung ương lúc bấy giờ (x. https://www.washingtonpost.com/local/obituaries/stanislav-petrov-soviet-officer-credited-with-averting-nuclear-war-dies-at-77/2017/09/18 ).
Với cả thế giới, ông Petrov là một vị anh hùng đáng ca ngợi. Nhưng tại Liên Xô và ngay cả tại Nga thời hậu cộng sản, ông vẫn mãi mãi là một người vô danh. Cái chết của ông, cũng như hành động can đảm của ông, hầu như đã không được nhắc đến.
Lịch sử thế giới thường được viết lên bằng vô số những anh hùng vô danh như thế. Trong một số ra dạo tháng Hai vừa qua, báo The Telegraph của Anh có liệt kê 5 vị anh hùng tuy không hề được nhắc đến, nhưng đã thực sự góp phần hình thành lịch sử thế giới.
Trước hết có lẽ phải nhắc đến một người phụ nữ có tên là Enheduanna. Người phụ nữ này là một thi sĩ Sumeri đã sống vào Thế kỷ thứ 23 trước Công nguyên, tức cách đây trên 4000 năm. Theo các sử gia chính bà là người đầu tiên đã viết lên những ca khúc và thánh thi mà sau này các tác giả Do Thái đã đưa vào Kinh Thánh.
Vị anh hùng vô danh thứ hai được báo The Telegraph đề cao là ông Thomas Clarkson, một người da đen đã có công trong việc tranh đấu để bãi bỏ chế độ nô lệ. Nói đến việc Anh quốc bãi bỏ chế độ nô lệ, người ta thường chỉ nhắc đến ông William Wilberforce. Thật ra ông Clarkson mới là linh hồn của cuộc tranh đấu bãi bỏ chế độ nô lệ. Trong những năm trước khi việc buôn bán nô lệ bị bãi bỏ, chính ông Clarkson là người đã thu thập bằng chứng cho thấy những điều kiện dã man trong các chiếc tàu chở người nô lệ. Những lái buôn nô lệ đã tìm cách ám sát ông và chận đứng chiến dịch của ông. Chỉ sau khi ông Clarkson vận động được một số dân biểu trong Quốc hội Anh, lúc bấy giờ ông Wilberforce mới thực sự dấn thân vào cuộc tranh đấu giải phóng người nô lệ. Dù vậy, sau khi ông Wilberforce qua đời, công trạng của người da đen Clarkson không hề được nhắc đến. Các con ông Wilberforce xem ông Clarkson chỉ như một thứ thư ký được cha họ thuê đi thu thập bằng chứng mà thôi.
Nhưng có lẽ chẳng có vị anh hùng nào “vô danh” cho bằng ông Tenzing Norgay, một người Nepal  đã từng sát cánh bên cạnh ông Edmund Hillary trong cuộc chinh phục đỉnh núi Everest trong dãy Hy Mã Lạp Sơn. Ngày 29 tháng Năm năm 1953, sau khi ông Hillary, một người Tân Tây Lan và một người Anh lãnh đạo của cuộc thám hiểm là ông John Hunt đã đặt chân đến đỉnh Everest, cả hai đều được trao tặng tước hiệu “hiệp sĩ”. Còn ông Tenzin Norgay chỉ nhận được một huy chương danh dự. Chẳng ai nhắc đến ông như một người đã hướng dẫn cuộc thám hiểm và đã đặt chân lên đỉnh Everest!
Nhưng số phận của một vị anh hùng vô danh khác là ông Alan Turing lại còn tệ hơn. Alan Turing là một nhà toán học tài ba. Trong thời Đệ nhị Thế chiến, ông là người đứng đầu một nhóm các chuyên gia đã chế tạo ra máy Enigma. Đây là tiền thân của máy điện toán có khả năng giải mã được các tín hiệu mật của Đức quốc xã. Phát minh của ông Turing đã giúp cho Anh quốc có thể hiểu được chiến thuật của Đức, nhờ đó mà thế chiến đã kết thúc sớm hơn và hàng triệu triệu người được cứu thoát. Nhưng sau chiến tranh, phát minh và chiến công của ông Turing vẫn bị tiếp tục xếp vào loại “tuyệt mật”. Tệ hại hơn, năm 1952, ông Turing, vốn là một người đồng tính, đã  bị kết án vì “tội công xúc tu sĩ”. Thay vì bị giam vào tù, ông chấp nhận chịu thiến và năm 1954, đã tự vận. Mãi đến năm 2013, nữ hoàng Elizabeth II mới hồi phục danh dự cho ông và nhìn nhận công trạng của ông.
Vị anh hùng vô danh thứ năm được báo The Telegraph vinh danh là ông Bayard Rustin. Ông này là một người Mỹ gốc Phi Châu đã từng mang lại cảm hứng và hướng dẫn hầu hết những nhà lãnh đạo trong các phong trào tranh đấu cho các quyền dân sự tại Hoa Kỳ, trong đó có cố Mục sư Martin Luther King. Lớn lên trong thời kỳ Đại Khủng hoảng kinh tế tại Hoa Kỳ hồi thập niên 1930, ngay từ lúc còn là một thanh niên, ông Rustin đã đứng lên tranh đấu để đòi hỏi quyền tự do cho người da đen. Chính ông là người đã khởi xướng cuộc tranh đấu bất bạo động tại Hoa Kỳ. 13 năm trước khi bà Rosa Park đã làm hành động thách thức khi ngồi vào ghế xe buýt dành cho người da trắng, ông Rustin đã từng làm một hành động như thế. Cảm hứng từ cuộc tranh đấu bất bạo động của Mahatma Gandhi, năm 1956, ông Rustin đã thuyết phục Mục sư Martin Luther King rằng tranh đấu bất bạo động là phương pháp duy nhứt để đạt được quyền bình đẳng. Khi phong trào lớn mạnh, một đối thủ chính trị, vốn biết rõ khuynh hướng đồng tính của ông Rustin, đã đe dọa tố cáo mối quan hệ của ông với lãnh tụ Martin Luther King. Để bảo vệ chính nghĩa, ông Rustin đã rút lui vào bóng tối và trở thành một người hoàn toàn vô danh trong cuộc tranh đấu bất bạo động cho quyền bình đẳng của người da đen tại Hoa Kỳ.
Ít ra cuối cùng tên tuổi và sự nghiệp của 5 con người lỗi lạc trên đây cũng đã được biết đến. Nhưng lịch sử của thế giới không chỉ được viết lên bằng tên tuổi của những người như thế, mà bởi vô số những anh hùng vô danh thực sự mà tên tuổi không bao giờ được nhắc đến. Vào lúc này đây, tôi nghĩ đến vô số những anh hùng như thế trong các thảm họa xảy ra trên thế giới, nhứt là những thiên tai như bão lục và động đất mới đây. Chỉ có một số rất ít được nhắc nhớ. Tuyệt đại đa số vẫn là những người vô danh. Chính họ mới là những người anh hùng đích thực. Họ sống và làm điều mà lương tâm và lý trí mách bảo phải làm mà không màng đến danh vọng, tiếng tăm hay bất cứ một phần thưởng nào. Hòa bình thế giới không chỉ đến từ bàn hội nghị của các nhà lãnh đạo thế giới. Hòa bình thế giới cũng chẳng đến từ một số ít những người được trao Giải Nobel Hòa Bình, mà chính nhờ vô số những người một cách âm thầm cố gắng sống tình người, mối giây liên đới, sự cảm thông và hy sinh quên mình cho người đồng loại. Xét cho cùng, chính lúc cố gắng làm người tử tế, con người thực sự trở thành anh hùng.