Thứ Tư, 16 tháng 9, 2015

Những quà tặng vô giá


Chu Thập
22.11.11


Mới đây, công ty may mặc thời trang nổi tiếng của Ý “Benetton” đã gây “sóng gió” tại Roma khi tung ra một tấm bảng quảng cáo với nội dung mà nhiều người cho là xúc phạm đến vị lãnh đạo của Giáo hội công giáo là đức giáo hoàng Benedicto. Với các kỹ thuật chỉnh sửa và ghép ráp hình rất tinh vi, bảng quảng cáo đã cho đức giáo hoàng hôn môi một giáo sĩ hồi giáo một cách “mùi mẫn”.
Không riêng nhà lãnh đạo của Giáo hội công giáo và vị giáo sĩ cao cấp của Hồi giáo Ai cập, khách qua đường còn thấy một số cặp nguyên thủ quốc gia khác cũng trong thư thế “hôn hít” rất là “kỳ cục” ấy, như tổng thống Barack Obama của Hoa kỳ hôn chủ tịch Hồ cẩm Đào của Trung Quốc, rồi cũng tổng thống Obama hôn ông Hugo Chavez, tổng thống Venezuela, như tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy hôn bà Angela Merkel, thủ tướng Đức, như tổng thống Nam Hàn Lee Myung bak hôn lãnh tụ “kính yêu” Bắc Hàn Kim Jong Il hay như thủ tướng Israel, Benjamin Netanyahu hôn chủ tịch Mahmoud Abbas của Palestine. Lúc còn trong nước, mồi lần chứng kiến cảnh các lãnh tụ trong khối “xã hội chủ nghĩa anh em” hay “môi hở răng lạnh” trao cho nhau cái hôn “hữu nghị” và áp má vào nhau nghe chùn chụt, tôi đã thấy lợm giọng rồi. Nay người ta lại cho những nguyên thủ đáng kính trọng trên thế giới hôn nhau trên môi thì quả thật, tôi chỉ muốn “nôn” mà thôi.
Với hàng chữ “Unhate” (không thù hận) được viết lớn bên cạnh tấm hình, hãng Benetton lại đi đến tận cùng của ngụy biện để giải thích rằng mình làm như thế là để kêu gọi xây dựng hòa bình và chấm dứt thù hận.
Trước đây, vào năm 1990, công ty may mặc thời trang này cũng đã cho phát hành một số bảng quảng cáo cũng có nội dung tương tự nhưng ít táo bạo và thách thức hơn như: một linh mục hôn một nữ tu, hình ảnh một trẻ sơ sinh đẫm máu, một phụ nữ da đen cho một trẻ sơ sinh da trắng bú mớm, một bệnh nhân AIDS hấp hối trên giường bệnh được bao quanh bởi những người thân trong trạng thái rất đau khổ. Thông điệp được hãng này đưa ra xuyên qua những tấm bảng quảng cáo này là hãy “chấp nhận” và “khoan nhượng”.
Phản ứng mạnh mẽ nhứt trước tấm ảnh quảng cáo có hình đức giáo hoàng là Tòa thánh Vatican. Ngay sau khi Tòa thánh lên tiếng phải đối, hãng Benetton đã cho tháo gỡ bức hình có đức giáo hoàng và tuyên bố rằng mục đích của chiến dịch quảng cáo là để chống lại văn hóa thù hận dưới mọi hình thức, đồng thời cũng đã xin lỗi Tòa thánh vì đã xử dụng hình ảnh của đức giáo hoàng để quảng cáo với nội dung xúc phạm đến tình cảm của các tín hữu công giáo (x.bản tin của Đàn Chim Việt, 20/11/2011).
Cũng như những người sinh ra và lớn lên trong một nền văn hóa đề cao nguyên tắc “nam nữ thọ thọ bất thân”, có lẽ suốt thời niên thiếu, tôi chưa từng thấy có ai công khai “hôn hít” bao giờ cả. Ngay cả như cha mẹ tôi cũng chưa một lần bị tôi bắt gặp “quả tang”  làm một cử chỉ âu yếm công khai nào chứ đừng nói tới chuyện ôm nhau mà hôn hít. Mãi cho tới khi đến Pháp, lần đầu tiên tôi thực sự bị “sốc” khi thấy bất cứ nơi công cộng nào  người ta cũng hôn nhau được và dĩ nhiên  hôn nhau theo kiểu Tây (French kiss). Nhưng chuyện gì rồi cũng quen. Bây giờ tôi thấy mình như “trơ” ra trước cảnh trai gái, đàn ông đàn bà ôm nhau hôn trên màn ảnh cũng như trên đường phố trước mắt mình. Với tôi, cái hôn say đắm hay bất cứ cử chỉ âu yếm nào của hai người khác phái đang yêu nhau lúc nào cũng đẹp. Phải nói rằng cái hôn là cử chỉ biểu lộ tình cảm đẹp nhứt mà văn minh Tây phương đã mang lại cho nhân loại.
Thật ra, mở Wikipedia để tra cứu, tôi thấy “hôn hít” không phải là phát minh của văn minh Tây phương, mà đã có từ thời Ai cập cổ cũng như Hy lạp, Assyria và Ấn dộ. Theo nhà nhân chủng học Cesare Lombroso ở thế kỷ 19, cái hôn của những tình nhân xuất phát và tiến hóa từ cái hôn của người mẹ. Vào đầu thế kỷ 20, nhà sử học Ernest Crawley , khi nghiên cứu về nguồn gốc của cái hôn, đã cho rằng tại Nhựt Bản, trước thế kỷ 20, người ta chỉ biết có mỗi nụ hôn là nụ hôn của người mẹ dành cho thơ nhi. Tại Phi Châu và những “vùng kém văn minh”, vợ chồng hay người yêu không bao giờ hôn nhau.
Tuy nhiên, trong bối cảnh tôn giáo, thì cái hôn xem ra rất phổ quát. Kinh thánh của Do thái giáo cũng như Kinh Coran của hồi giáo ghi lại rất nhiều cái hôn. Riêng Kitô giáo, trong giai đoạn tiên khởi, đã nói đến cái hôn bình an. Theo ngã của văn minh Tây phương, đã có một dạo, cái hôn bình an này cũng được du nhập vào Việt nam, nhưng không thể hội nhập vào văn hóa Việt nam. Tôi còn nhớ, vào cao điểm của nghi thức Thánh lễ sau cuộc cải tổ của Công đồng Vatican II, tức sau năm 1965, các tín hữu công giáo được vị chủ tế mời gọi trao cho nhau một cử chỉ bình an. Ở Tây phương, thì đây là lúc người người bắt tay nhau hay nếu thân hơn một chút thì ôm lấy nhau để gọi là trao cho nhau cái hôn bình an. Trong chuyến đi Việt nam vừa rồi, tôi thấy cử chỉ  bình an này vẫn còn được người công giáo Việt nam trao cho nhau một cách máy móc và lạnh lùng. Trong đa số các nhà thờ, nam nữ vẫn thọ thọ bất thân, nghĩa là nam vẫn cứ ngồi bên hữu và nữ thì vẫn “tử thủ” bên tả. Khi linh mục kêu gọi trao bình an cho nhau, thì ai đó ra hiệu và người ta mới quay sang nhau, có khi cũng chẳng cần nhìn nhau và rập ràng cúi chào nhau. Đừng nói đâu xa, tại Úc đại lợi này, trong các thánh lễ bằng tiếng Việt nam, mỗi khi được mời gọi trao ban bình an, cùng lắm người Việt nam chỉ bắt tay nhau thôi. Ngay cả vợ chồng cũng chìa tay ra cho nhau! Hiếm lắm mới thấy có những cặp vợ chồng ôm nhau để trao bình an cho nhau.
Dường như cái hôn vẫn còn là một cách biểu lộ tình cảm xa lạ với người Việt nam và người Á châu nói chung. Phải chăng vì trân quý sự chân thành và sợ những cái hôn Giuda mà người Việt nam còn e dè với cử chỉ này không?  Nhưng dù sống ở thời đại nào và thuộc nền văn hóa nào, con người vẫn phải đi vào quan hệ với người khác bằng sự “tiếp xúc” qua thân xác của mình. Hôn cũng chỉ là một hình thức tiếp xúc. Điều quan trọng không phải là sự tiếp xúc mà là mức độ thân mật và chân tình của con người. Người ta vẫn có thể ngồi sát bên nhau mà vẫn là người xa lạ hay kẻ thù của nhau. Một nụ hôn Giuda, dù có “mùi mẫn” đến đâu cũng chẳng đánh động được người được hôn.
Ngày nay y khoa đã khám phá ra sức mạnh chữa trị của sự va chạm và tiếp xúc với một người khác. Chuyên gia tâm lý trị liệu Karl Menninger đã chứng minh rằng những người “chậm trí” thường đáp trả một cách tích cực hơn nếu có sự tiếp xúc giữa họ với người chữa trị họ. Một bài viết được đăng trong một tạp chí y khoa ghi lại rằng các bệnh nhân bị đột quỵ thường trở lại bình thường mau chóng hơn nếu có một người yêu thương họ hiện diện bên cạnh để nắm tay họ. Bài báo cũng cho thấy rằng những nạn nhân bị tê liệt não bộ cũng sẽ cử động nhiều hơn sau khi tiếp xúc với người thân. (x.Harold Sala, Joyfully Single in a Couples’World, Mandaluyong City, Philippines, 1996, trg 99)
Tạp chí Reader’s Digest, ấn bản Úc châu, trong số ra tháng 12 này, cũng ghi lại một câu chuyện thật cảm động về sức mạnh chữa trị và hồi sinh nhờ sự tiếp xúc giữa người mẹ và một thơ nhi. Đây là một “phép lạ” mà các bác sĩ không giải thích được, nhưng chỉ có cha mẹ đứa bé mới biết đích xác tại sao nó sống còn. Theo câu chuyện, mặc dù phải còn 14 tuần nữa người phụ nữ tên là Kate Ogg, 29 tuổi, mới đến ngày lâm bồn, nhưng chị đã trải qua những cơn đau thắt không chịu đựng nổi, cho nên đã được đưa vào bệnh viện Wollongong, New South Wales. Tại đây, hai đứa con sinh đôi đầu lòng, một trai một gái của chị đã chào đời. Nhưng trong khi đứa em gái tên là Emily đã “mang tiếng khóc vào đời” thì anh nó, Jamie, lại ra đời như một khúc gỗ. Trong 20 phút, các bác sĩ đã tìm cách đưa dưỡng khí vào buồng phổi của em, nhưng tất cả mọi cố gắng đều vô ích. Đứa bé vẫn không thở, không cử động, không đáp trả lại với bất cứ  thứ kích thích nào. Một trong những bác sĩ đã phải thú nhận với người mẹ rằng họ không còn hy vọng nào để cứu sống em.
Để cho người mẹ được nhìn mặt con lần cuối, các bác sĩ đã đưa đứa bé trở lại cho chị. Cùng với người chồng đang có mặt bên cạnh, người mẹ đã tháo tấm vải quấn xung quanh đứa con và đặt nó trực tiếp tiếp xúc lên ngực mình. Chị vừa thổn thức vừa ôm đứa bé vào lòng. Chị nhớ lại rất nhiều lần, mỗi khi chồng chị nhức đầu hay đau yếu, chị đều ôm  lấy anh và hôn vào mắt anh. Chị không bao giờ ý thức rằng chính cái lối săn sóc mà người ta thường gọi là “chăm sóc theo kiểu Kangaroo mẹ chăm sóc con” (kangaroo mother care) đó đã giúp cho bệnh tình của chồng chị thuyên giảm rất nhiều.
Ôm con vào lòng, Kate bắt đầu nói chuyện với nó. Chị kể cho nó nghe về em nó và gia đình nó. Lạ lùng quá, sau vài phút, người mẹ nghe thấy lồng ngực của đứa con bắt đầu cử động một cách nhịp nhàng. Chị nói cho chồng biết là có thể đứa bé còn sống và bảo chồng đi gọi bác sĩ. Nhưng bác sĩ chạy đến chẩn đoán và giải thích rằng đây có thể là một phản xạ tự nhiên mà thôi. Nhưng hai vợ chồng vẫn không hết hy vọng. Họ đặt đứa bé vào lòng và cả ba ôm lấy nhau như bất cứ một gia đình nào muốn gắn bó thân mật với nhau. Lần này, họ không thể tin được điều đã xảy ra: đứa bé bắt đầu mở mắt ra và nắm lấy ngón tay của cha nó. Người chồng liền chạy đi báo tin cho các bác sĩ. Một viên bác sĩ cùng với một y tá nhẩn nha đến phòng và cũng với một giọng điệu như lần trước, ông giải thích rằng hai vợ chồng đang bị ảo tưởng. Lúc bấy giờ người mẹ mới đưa một ngón tay của mình cho viên bác sĩ xem và nói rằng đứa bé đã liếm vào ngón tay có dính sửa của chị. Viên bác sĩ liền đưa tay bồng đứa bé lên và ngạc nhiên vô cùng khi nghe nó bắt đầu khóc. Ông đặt nó xuống giường trở lại và đặt ống nghe lên lồng ngực của nó. Đứa bé đã bắt đầu thở và máu cũng đã lưu chuyển trong người nó.
Bài viết trên báo Reader’s Digest đã trích dẫn lời của ông Matt Hertenstein, một giáo sư phụ khảo về tâm lý học tại đại học DePauw, Hoa kỳ và là một chuyên gia nổi tiếng trên thế giới về sức mạnh của sự “tiếp xúc” bằng da thịt của con người. Giáo sư Hertenstein nói: “Thân xác của chúng ta thèm được đụng chạm. Người ta đã chứng minh được ảnh huởng tích cực của sự “tiếp xúc” đối với sinh lý, hệ thống miễn nhiễm, sự đáp trả trước sự căng thẳng và ngay cả não bộ của chúng ta”. Điều này không chỉ đặc biệt có giá trị đối với trẻ sơ sinh mà còn đối với mọi người trong bất cứ trạng thái thể lý và tinh thần nào.
Nhìn lại kinh nghiệm  bản thân, mỗi lần ngã bệnh, ở bất cứ tuổi nào, điều tôi sợ nhứt vẫn là sự cô đơn và điều tôi “thèm” nhứt vẫn là sự hiện diện của người thân. Thật ra, không chỉ có những lúc đau yếu, mà bình thường, tôi vẫn thấy thèm một lời chào hỏi, một nụ cười thân thiện, một ánh mắt giao cảm và cảm thông và nhứt là một bàn tay thân ái nào đó, nếu không được vỗ lên vai, thì cũng được nắm bắt.
Trong một số dịp đặc biệt, tôi cũng cố gắng hội nhập vào văn hóa Tây phương để “ôm hôn” người thân, nhứt là sau một thời gian dài xa cách. Nhưng trong cuộc sống thường ngày, tôi vẫn luôn trân quý những cử chỉ thân thiện và thân ái mà tôi nhận được và trao cho người khác. Đó là những quà tặng vô giá mà người cho không bao giờ ngờ. Rất nhiều lần trong đời, tôi đã lướt qua buồn khổ, thất bại, chán nản chỉ nhờ vào một cử chỉ hết sức “vớ vẩn” của người thân. Một cái vỗ vai có thể khiến tôi đứng dậy làm lại từ đầu, một ánh mắt khích lệ khiến tôi có sức mạnh để chạy trốn...công an. Quả thực, tôi đã sống một cuộc sống đầy ý nghĩa cho đến hôm nay phần lớn nhờ vào những tiếp xúc thân tình giữa người với người, và tôi tin rằng tôi vẫn luôn cần như vậy.
Viết những giòng chữ này mỗi tuần, tôi cảm thấy hạnh phúc vì tôi biết rằng tôi đang được “tiếp xúc” với người khác. Nhận và trao ban tình thân ái chắc chắn là “thương vụ” duy nhứt mà tôi yêu thích và gắn bó trong cuộc đời này.




Thứ Ba, 15 tháng 9, 2015

Phi Châu: những viên kim cương vấy máu



Đối với Mbuyi Mwanza, người thiếu niên 15 tuổi hiện đang quần quật đào xới tại một vùng đất ở mạn tây nam Cộng hòa Dân chủ Congo, những viên kim cương chẳng tượng trưng cho bất cứ một thứ gì khác ngoài một nhu cầu trước mắt là được ăn! Người thiếu niên này cũng biết thế nào là đau mình, nhức mỏi vì công việc nặng nhọc. Nhưng nỗi đau trong thân xác không là gì so với nỗi đau tinh thần khi phải hàng ngày nhìn thấy gia đình mình đói khổ. Cha cậu mù lòa. Mẹ cậu đã bỏ rơi cậu từ nhiều năm nay. Cách đây 3 tháng, Mwanza đã tìm được một viên kim cương , nhưng phần thưởng của những tháng ngày lao nhọc ấy chẳng thấm vào đâu trước nợ cơm áo và nhất là thuốc men cho người cha tật nguyền, đau yếu. Một viên kim cương khoảng một carat có thể mang lại cho Mwanza một 100 Mỹ kim. Mới 12 tuổi, người thiếu niên đã bỏ học để gia nhập vào lực lượng đào kim cương của làng cậu. Mwanza biết trong làng cũng có hàng chục thiếu niên khác đã gia nhập vào lực lượng đào kim cương. Cũng như cậu, những thiếu niên này không còn cách nào khác hơn để sống còn ngoài việc đào tim cương.
Mỏ kim cương, nơi Mwanza đang làm việc, nằm dọc theo một dòng suối nhỏ mà nước vẫn còn tiếp tục đổ vào Sông Congo. Đây là trung tâm của một trong những nguồn cung cấp kim cương có giá trị nhất trên thế giới. Nhưng Tshikapa, thủ phủ của tỉnh nơi có mỏ kim cương này, lại chẳng bao giờ biết đến sự giàu có mà một quặng mỏ quý giá như thế dưới lòng đất của mình có thể mang lại. Tại thành phố này, không có lấy bất cứ một con đường nào được tráng nhựa. Ngay cả phi đạo cũng vẫn còn là một con đường đất. Mỗi năm có cả trăm thợ mỏ chết vì hầm sập. Chuyện này lại ít khi được nhắc tới vì rất thường xảy ra. Nhiều bậc cha mẹ không còn một chọn lựa nào khác là cho con đi làm thợ mỏ. Mwanza nói: “Chúng tôi phải làm việc này để có cái mà ăn. Khi tìm được một viên kim cương, tôi được ăn. Chỉ ăn thôi chứ không đủ tiền để được học hành”.
Hiện nay kỹ nghệ kim cương có doanh số lên đến 81.4 tỷ Mỹ kim. 65 phần trăm số kim cương trên thế giới lại xuất phát từ Phi Châu. Đây là một ngành kỹ nghệ “vấy máu” bởi vì tại lục địa đen này, nó gắn liền với máu, xung đột, chiến tranh, lao động cưỡng bách và được sử dụng để nuôi dưỡng những phong trào phiến quân có vũ trang.
Năm 2003, kỹ nghệ kim cương đã thiết lập một quy ước lấy tên là “Kimberley Process”. Đây là một quy ước quốc tế nhằm bảo đảm cho giới tiêu thụ rằng kim cương mà họ đang sử dụng không xuất phát từ những vùng đang có xung đột. Nhưng trong hơn 10 năm sau đó, mặc dù quy ước này đã giúp giảm thiểu phần nào số lượng kim cương xuất phát từ những vùng có xung đột, nó vẫn không chận đứng được sự kiện vẫn còn nhiều viên kim cương xuất phát từ những vùng có chiến tranh vẫn được bán trên thị trường thế giới. Và như câu chuyện của người thiếu niên Mwanza cho thấy, ngay cả khi đào xới trong những vùng không có chiến tranh hay xung đột, đây vẫn là một công việc khốn khổ và không được trả lương một cách tương xứng. Như ông Zacharie Mamba, trưởng một đơn vị đào kim cương tại Tshikapa, đã nhìn nhận: “Chúng tôi có nhiều của cải, nhưng nghèo vẫn nghèo...Thay vì mang lại phúc lành, kim cương chỉ đem đến cho chúng tôi sự bất hạnh”.
Tuy nhiên, những viên chức đặc trách về việc khai thác mỏ kim cương tại Congo lại cho rằng đây là nguồn lợi sinh tử, nếu không muốn nói là duy nhất, của khoảng một triệu người phải lầm than khốn khổ đang đào bới bằng những phương tiện rất thô sơ.
Quy ước “Kimberley Process” đang tìm cách xoa dịu lương tâm của những người đang sử dụng kim cương, bằng cách cho họ biết xuất xứ của những viên kim cương. Tuy nhiên, kỹ nghệ kim cương và thị trường tự do đã không làm được gì để tẩy chay những viên kim cương xuất xứ từ những vùng có xung đột cũng như không cải thiện được những điều kiện làm việc và sinh sống của những người thợ mỏ như thiếu niên Mwanza. Muốn hay không, những người đang đeo trên người những viên kim cương hầu như không thể kiểm chứng được liệu họ có phải mua chúng từ một vùng có xung đột hoặc từ những bàn tay khốn khổ của những thiếu niên như Mwanza không.
Quy ước “Kimberley Process” đã thành hình từ một cuộc gặp gỡ được tổ chức tại thành phố Kimberley, Nam Phi, hồi năm 2000. Cuộc gặp gỡ đã qui tụ các nhà sản xuất và mua bán kim cương chính trên thế giới với mục đích thảo luận về những vấn đề liên quan đến  kỹ nghệ kim cương mà đáng quan ngại nhất là dùng loại đá quý này để tài trợ cho các cuộc nội chiến tại hai nước Angola và Sierra Leone, như cuốn phim có tựa đề “Blood Diamond” (Kim cương vấy máu) được thực hiện hồi năm 2006 đã nói đến. Khoảng năm 2003, có tất cả 52 nước cũng như nhiều tổ chức kêu gọi bài trừ việc sử dụng kim cương xuất phát từ những vùng có xung đột, đã phê chuẩn quy ước và thiết lập một hệ thống điều lệ để gọi là “cấp phát thẻ thông hành” cho phép những nước nào sản xuất kim cương được xuất cảng loại đá quý này. Theo qui ước này, những quốc gia nào không thể chứng minh được rằng kim cương của họ xuất phát từ những nơi không có xung đột, sẽ bị loại ra khỏi thị trường kim cương trên thế giới.
Qui ước “Kimberley Process” đã được hoan nghênh như một bước quan trọng trong việc chấm dứt việc khai thác kim cương tại những vùng có xung đột. Tuy nhiên, theo một số chuyên gia đã giúp soạn thảo quy ước, trước đây chỉ có khoảng từ 5 đến 10 phần trăm số kim cương trên thế giới bị xem là bất hợp pháp. Nay tỷ lệ này lên đến 25 phần trăm. Quy ước vẫn còn nhiều lỗ hổng to lớn. Cưỡng bách lao động và những vi phạm nhân quyền vẫn chưa được xét đến trong quy ước. Hơn nữa, định nghĩa về thế nào là “xung đột” vẫn còn rất lờ mờ. Theo định nghĩa trong quy ước “Kimberley Process”, những viên kim cương xuất phát từ những vùng có xung đột là những đá quý được bán ra để tài trợ cho những phong trào phiến loạn nhằm đển lật đổ một chính phủ. Chính vì vậy mà năm 2008, quân đội Zimbabwe đã tịch thu một số lượng kim cương rất lớn tại miền đông nước này và tàn sát trên 200 người thợ mỏ. Hành động tàn ác này vẫn không bị xem như một vi phạm đối với quy ước “Kimberley Process”. Đã có hàng ngàn người bị giết chết, bị hãm hiếp và bị bắt làm nô lệ tại Zimbabwe. Vậy mà những viên kim cương xuất phát từ những cuộc thảm sát như thế vẫn không bị quy ước này xem như xuất phát từ những vùng có xung đột, chỉ vì tại đây không có bóng dáng các  phiến quân.
Ngay cả trong một số trường hợp, mặc dù đã bị quy ước tẩy chay, như tại Cộng hòa Trung Phi chẳng hạn là nơi mà kim cương đã giúp tài trợ cho một cuộc chiến tranh diệt chủng sát hại đến hàng ngàn người kể từ năm 2013, kim cương xuất phát từ những vùng có xung đột vẫn lọt ra thị trường thế giới. Kể từ năm 2013, Cộng hòa Trung Phi đã được đưa vào danh sách những nước bị cấm bán kim cương ra thị trường thế giới. Nhưng theo một số chuyên gia của một Ủy ban Liên Hiệp Quốc, đã có khoảng 140.000 carat kim cương trị giá 24 triệu Mỹ kim, đã được đưa lậu từ nước này ra thị trường thế giới. Trong một bản phúc trình dạo tháng 6 vừa qua, tổ chức có tên là “Enough Project”,  chuyên vận động chấm dứt nạn bạo động gắn liền với việc sản xuất kim cương tại Phi Châu, ước tính rằng các nhóm vũ trang tại Phi Châu đã kiếm được từ 3.87 triệu đến 5.8 triệu Mỹ kim mỗi năm từ việc lấy thuế và buôn bán kim cương lậu.
Một phần lớn số kim cương này được chuyển lậu qua biên giới Congo và từ đây được tung ra thị trường thế giới. Cộng hòa Trung Phi là một thí dụ điển hình về việc sản xuất những viên kim cương vấy máu.
Hiện nay, nhiều quốc gia, các nhà lãnh đạo trong kỹ nghệ kim cương, trong đó có Hội đồng Kim cương Thế giới (World Diamond Council) có trụ sở tại Hoa Kỳ, đang vận động để nới rộng định nghĩa của quy ước “Kimberley Process” về xuất xứ của kim cương. Theo các tổ chức này, cần phải đưa vào định nghĩa của vùng xung đột cả những vi phạm nhân quyền, những lạm dụng về luật lao động và ngay cả những tác động xấu đối với môi sinh. Một số quốc gia như Nga, Trung Cộng và Zimbabwe đã không chấp nhận việc đưa những vi phạm nhân quyền vào định nghĩa về xung đột.
Cho tới nay, đã có một số quốc gia tại Phi Châu đã tuân thủ quy ước “Kimberley Process”. Đó là trường hợp hai nước Botswana và Namibia. Chính phủ của hai nước này đã tạo được một thành tích đáng kể là kiểm soát được việc khai thác kim cương ở quy mô kỹ nghệ cũng như tiểu thủ công nghệ để tránh được những lạm dụng về lao động và môi sinh. Ngoài ra, cũng phải kể tới Sierra Leone. Mặc dù đã phải vất vả chống chọi với dịch bệnh Ebola trong thời gian gần đây, nước này cũng đã tỏ ra tuân thủ nghiêm nhặt đối với quy ước “Kimberley Process”.
Tuy việc sản xuất kim cương trên thế giới đã được kiểm soát phần nào, những viên kim cương vấy máu, tức xuất phát từ những vùng có xung đột, từ những vi phạm nhân quyền, từ những điều kiện lao động không xứng với phẩm giá con người cũng như hủy hoại môi sinh...vẫn tiếp tục được đưa vào thị trường thế giới. Vấn đề còn lại chính là lương tâm người tiêu thụ. Người tiêu thụ có thể cảm thấy “an lòng” khi biết rõ viên kim cương mình mang trên người xuất phát từ những vùng không có xung đột như Gia Nã Đại hoặc Úc Đại Lợi chẳng hạn. Nhưng không phải là một nhà chuyên môn làm sao người tiêu thụ có thể kiểm chứng được xuất xứ của mọi viên kim cương?
Một cặp nhân tình nọ sắp làm đám cưới. Họ chuẩn bị mọi thứ đâu ra đó. Chỉ còn lại một điều khiến cho người chồng tương lai phải lo lắng bối rối. Anh muốn sắm cho vợ mình một chiếc nhẫn kim cương. Nhưng lâu nay anh đã nghe nói đến rất nhiều về những viên kim cương vấy máu xuất phát từ Phi Châu. Anh đến một tiệm nữ trang sang trọng ở New York để tìm một chiếc nhẫn kim cương. Nhưng cuối cùng, sau nhiều đắn đo, anh tuyên bố: “Tôi không muốn biểu tượng của sự kết hợp của chúng tôi lại gắn liền với bất ổn và đau thương (của người khác)”. Để cho lương tâm được yên ổn, hai vợ chồng đã đồng ý đi tìm một biểu tượng của sự kết hợp của họ bằng một thứ nữ trang khác không “vấy máu”.
Mỗi khi mua một món hàng, người tiêu thụ thường tìm xuất xứ của món hàng đó. Ngày nay, ngoại trừ những thứ hàng nhái, phần lớn các sản phẩm, ngay cả thức ăn được bày bán trong bất cứ một siêu thị hay cửa hàng nào cũng đều gắn nhãn hiệu có ghi xuất xứ. Nhiều người Việt Nam thường tỏ ra “dị ứng” với những hàng hóa được sản xuất tại Việt Nam hay Trung Quốc. Nhưng với kim cương và những thứ xa xí phẩm nói chung, kiểm chứng được xuất xứ không phải là điều dễ dàng. Cuối cùng, như cặp vợ chồng sắp cưới trên đây đã làm, thà không mang trên mình bất cứ viên kim cương nào hơn là muốn tỏ ra “sang trọng” mà lương tâm phải bị dày vò.
(theo Aryn Baker, Dirty Diamonds, tạp chí Time 7&14 tháng Chín 2015)


Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2015

Tôi mơ trúng số!


Chu Thập
4.9.15
Trong chuyến đi nghỉ vừa qua ở phía Bắc tiểu bang Queensland, tôi có một giấc mơ kỳ lạ. Không phải mơ trúng số mà là mơ về một nhân vật nổi tiếng đang sống mạnh khỏe, bỗng “chuyển sang từ trần”. Tôi kể lại giấc mơ và mọi người đều cho rằng có thể đây là một điểm báo tốt. Biết đâu thần tài chẳng muốn gõ cửa nhà mình. Anh em bèn họp lại và thảo luận một cách rất nghiêm chỉnh và cố giải mã cho bằng được giấc mơ. Cuối cùng mọi người đi đến quyết định: kết hợp mọi dữ kiện về nhân vật này để viết thành một hàng số và dựa vào đó để đánh “lô tô”. Tôi vốn không tin dị đoan. Nhưng nhìn vào những con số như một bệ phóng hay điểm tựa cho niềm hy vọng thì có mất mát gì đâu. Nghĩ vậy cho nên tôi rất hăng hái trong nhiệm vụ đi mua vé số. Vậy mà cuối cùng, nhân vật mà tôi mơ đã chết vẫn cứ sống nhăn răng và tấm vé số chúng tôi dựa vào cái chết của người này để “đánh số”...trật lất. Vui cả làng. Mọi người đều cười h hê vì một niềm hy vọng hão huyền. Riêng anh bạn tôi liên tưởng đến chuyện cầu nguyện của một nữ tu quen biết. Người nữ tu này được người nhà cho một ít tiền túi và dắt vào một Casino để thử thời vận. Rất nghiêm chỉnh và với tất cả thành tâm, trước khi “kéo máy”, bà lâm râm khấn nguyện: “Xin Chúa cho con “kéo trúng” để con lấy tiền gởi về giúp người nghèo ở Việt Nam”. Ý nguyện chân thành và chính đáng quá đi thôi. Vậy mà rốt cục, không biết Chúa có nghe lời cầu khấn của người nữ tu không, chút tiền túi của bà đều được cúng cho tỷ phú James Packer hết.
Tôi cũng đã có đôi lần cầu nguyện và mơ được giàu có để làm từ thiện như người nữ tu trên đây. Nhưng ngẫm nghĩ thấy không ổn chút nào. Tôi không tin rằng hễ bần cùng thì đương nhiên con người sinh ra đạo tặc. Tôi lại càng không nghĩ rằng  người giàu có dễ mở hầu bao hơn để trao tặng. Nghịch lý của cuộc đời mà tôi thường chứng kiến được là người nghèo có khi lại tỏ ra quảng đại hơn người giàu có. Và không cần phải triết lý vụn vặt cho mệt óc, kinh nghiệm sống thường cũng nói với tôi rằng người giàu không đương nhiên hạnh phúc hơn người nghèo.
Mới đây, đọc báo The Age, số ra ngày 31 tháng 8 vừa qua, tôi thấy một tỷ phú nọ than “cô đơn”. Tỷ phú này là ông Markus Persson, chỉ mới 36 tuổi, cha đẻ của trò chơi điện tử có tên là “Minecraft”. Mới đây ông đã bán công ty của ông cho Microsoft với giá 2.5 tỷ Mỹ kim. Vậy mà ông lại tuyên bố rằng chưa bao giờ ông cảm thấy cô đơn cho bằng lúc này. Tỷ phú người Thụy Đin này chia sẻ trên các trang mạng xã hội rằng chỉ gặp gỡ với một nhóm bạn, tiệc tùng với những người nổi tiếng, có thể làm bất cứ điều gì mình muốn...vậy mà chưa bao giờ ông cảm thấy l loi cho bằng lúc này.
Một ông tỷ phú trẻ khác là Dustin Moskovitz, đồng sáng lập viên của Facebook, dường như cũng có những cảm nghĩ tương tự. Nhà tỷ phú 31 tuổi, được tạp chí Forbes xếp vào hạng 59 trong danh sách những người giàu có nhứt Hoa Kỳ, đã cho đăng trên trang mạng “Medium.com” một bài “tự thú” trong đó anh lên án kỹ thuật ngày nay vì nó phá hủy đời sống của các chuyên viên khi bắt họ phải làm việc hơn 50 giờ mỗi tuần, khiến họ không còn sống cho mình nữa. Kèm với bài viết, Moskovitz cho đăng bức ảnh chụp chung với hai sáng lập viên khác của Facebook là Sean Parker và Mark Zuckerberg hồi năm 2006 với lời chú thích: “Đây là một năm vĩ đại đối với Facebook, nhưng lại là một trong những năm tồi tệ nhứt đối với con người tôi”. Nhà tỷ phú trẻ này thú nhận đã uống nước ngọt nhiều hơn nước lã và thường mất ngủ và “thiếu ăn”. Anh hối tiếc: “Giá như tôi có một cuộc sống khác...thì có lẽ tôi đã hạnh phúc hơn” (The Sydney Morning Herald 22/8/2015).
Những lời “tự thú” trên đây của những người giàu có là chuyện tôi nghe không biết bao nhiêu lần. Thông điệp họ muốn nhắn gởi thật rõ ràng: tiền của, các tiện nghi vật chất, cuộc sống xa hoa, danh vọng, địa vị...không đương nhiên mang lại hạnh phúc cho con người. Điều đó cũng có nghĩa là càng sống giản dị con người càng dễ hài lòng với cuộc sống và hạnh phúc hơn.
Trong các bản thẩm định về những nơi đáng sống nhứt trên thế giới này, tôi thấy Thủ đô Cophenhagen của Đan Mạch thường đứng đầu danh sách. Năm nay, Ký giả Robert Kiener của tạp chí Reader’s Digest đã đến tận nơi để tìm hiểu sự thật. Trong bài phóng sự với tựa đề “Happiness is...Copenhagen!” (Hạnh phúc là...Copenhagen), ông đã thực sự cảm nhn được điều đó. Minh họa cho bài viết là hình của ông Frank Jensen, thị trưởng thành phố Copenhagen, đang đứng bên chiếc xe đạp. Ông thị trưởng 56 tuổi này giải thích: “Hơn một nửa cư dân của Copenhagen đi xe đạp đến sở làm hay trường học mỗi ngày. Đi xe đạp lành mạnh hơn, “xanh hơn” (ít ô nhiễm hơn) và r tiền hơn đi xe hơi. Chúng tôi có nhiều xe đạp hơn cư dân và số xe đạp nhiều hơn xe hơi gp 5 lần”. Cũng theo lời ông thị trưởng, ngay cả các chính trị gia, dĩ nhiên trong đó có ông, cũng dùng xe đạp để đi làm; 63 phần trăm các dân biểu của Đan Mạch đều dùng xe đạp để đi đến Quốc Hội. Tôi không ngạc nhiên tại sao thành phố gắn liền với những chuyện thần tiên của nhà văn Hans Christians Andersens (1805-1875) thường được mệnh danh là “Đô thị đáng sống nhứt thế giới”, “Đô thị hạnh phúc nhứt thế giới”, “Đô thị “xanh” nhứt Âu Châu” v.v (Reader’s Digest số 9/2015).
Úc Đại Lợi, đặc biệt là thành phố Melbourne, cũng thường lọt vào danh sách những “nơi đáng sống nhứt trên thế giới”. Điều kiện sống, giá sinh hoạt, khí hậu...có thể là những yếu tố giúp mang lại danh dự này cho thành phố Melbourne. Nhưng tôi không nghĩ rằng ở thành phố này, người ta có đời sống giản dị như ở Copenhagen. Không giản dị là bởi cuộc sống của người dân Úc nói chung vẫn còn xa xỉ, rườm rà, thừa mứa. Theo thống kê, mỗi năm người dân miệt dưới này chi 10 tỷ Úc kim cho những thứ họ không bao giờ dùng đến. Cứ thử nhìn vào tủ quần áo, các vật dụng trong nhà bếp hay ngay cả trong phòng tắm để thấy có biết bao nhiêu thứ được mua sắm nhưng chẳng bao giờ được đụng đến. Khi các vật dụng chiếm quá nhiều không gian trong nhà thì dĩ nhiên chúng cũng khiến cho cuộc sống con người trở thành “khó thở” cả về phương diện vật chất lẫn tinh thần. Theo một cuộc nghiên cứu mới đây, đồ đạc quá tải trong nhà cũng ảnh hưởng đến hạnh phúc của con người. Kết quả của một cuộc nghiên cứu được thực hiện mới đây tại Anh Quốc cho thấy các cặp vợ chồng cãi vã nhau 32 lần mỗi năm chỉ vì đồ đạc cồng kềnh trong nhà. Tình trạng này dĩ nhiên có thể dẫn đến căng thẳng, trầm cảm và ngay cả đổ vỡ
James Wallman, tác giả của cuốn sách có nhan đề “Living More with Less” (Cuộc sống càng đơn giản càng phong phú), viết rằng “có quá nhiều, lại làm ít và sống một cuộc sống quá chú trọng đến việc thu tích của cải vật chất làm cho con người lo lắng”. Theo tác giả, thay vì cảm thấy được vật chất làm cho phong phú, con người lại bị chúng bóp ngạt.
Joshua Fields Millburn và Ryan Nicodemus là hai người Mỹ đã được một số người biết đến vì chủ trương đơn giản hóa tối đa của họ. Cách đây 5 năm, họ làm việc mỗi tuần 70 tiếng đồng hồ với sổ lương hằng năm không dưới một trăm ngàn Mỹ kim. Nhưng cuộc chạy đua thu tích của cải và tiện nghi vật chất đã khiến họ bị căng thẳng: xe hơi và các thứ xa xí phẩm  khác không làm cho cuộc sống của họ được phong phú. Do đó, họ quyết định đóng thùng tất cả đồ đạc trong nhà lại và chỉ mở ra những gì họ thực sự cần đến và khi nào họ cần đến mà thôi. Ngày đầu tiên, họ mở thùng lấy ra các vật dụng vệ sinh, một bộ đồ vest, hai chiếc quần lót, một đôi giày, một đôi vớ, một chiếc cà vạt và một giây nịt. Ngày thứ hai, họ mở thùng lấy ra một số vật dụng cần thiết khác như đĩa ăn và dao. Năm ngày sau, họ không còn phải mở bất cứ thùng đồ nào nữa. Hầu như tất cả những gì họ đã mua sắm đều còn nằm trong thùng. Họ khám phá được rằng những gì làm cho họ hạnh phúc không phải là của cải vật chất mà chính là thời giờ họ dành cho bạn bè và gia đình.
Không chỉ các vật dụng thừa thãi khiến cho cuộc sống cồng kềnh, mà một không gian quá lớn cũng làm cho cuộc sống trở thành trống rỗng. Tại Úc Đại Lợi, cách đây 30 năm, một ngôi nhà trung bình chỉ chiếm khoảng 150 thước vuông. Ngày nay, mặc dù số người trong nhà không còn nhiều như trước kia, diện tích trung bình của một ngôi nhà lại lên đến 243 thước vuông. Người Úc được xếp vào hạng có nhà lớn nhứt thế giới. Theo một số chuyên gia tâm lý và xã hội, nhà càng nhỏ, trong nhà càng ít đồ đạc thì ít tốn năng lượng và dĩ nhiên cũng ít tốn tiền hơn. Càng ít tốn kém thì đương nhiên cũng đỡ nhức đầu hơn và ít phải cãi vã vì  tốn kém. Ngoài ra, nhà nhỏ cũng giúp cho mối quan hệ trong gia đình dễ được đầm ấm hơn.  Lợi ích xã hội của những ngôi nhà nhỏ cũng đáng kể. Nhà nhỏ giúp cho các khu ngoại ô gia tăng và như vậy đẩy mạnh đời sống cộng đồng (theo  Sunday Style, News.com.au 5/7/2015).
Với tôi, cuộc sống giản dị không chỉ ít tốn kém và như vậy ít căng thẳng hơn, mà còn phải giúp tôi biết ra khỏi bản thân để sống vị tha và quảng đại hơn. Càng ít vướng bận tôi cảm thấy dễ đến với người khác hơn. Từ nhiều năm qua, một “trùm sò” như tôi, ngoài thuốc thang, chẳng còn thấy mình thiếu bất cứ điều gì trong xã hội văn minh và giàu có này: quần áo mặc cho đến chết cũng còn, giày vía mỗi tuần chỉ mang một lần cho nên lúc nào cũng trông như mới, bộ đồ lớn thì năm khi mười họa mới diện vào một lần khi có cưới hỏi. Ngay cả mái tóc, cần làm đẹp, tôi chỉ cần nhờ nhà tôi lướt qua một đường kéo là xong. Mỗi năm cũng tiết kiệm cho ngân quỹ gia đình chút đỉnh. Nói gì đến những khoản khác như thuốc lá và bia rượu. Làm thử bài tính, tôi thấy cuộc sống giản dị tối đa này cũng làm cho tôi giàu có thêm. Bởi lẽ tôi sống theo nguyên tắc của cậu con trai trong nhà: nếu không làm ra tiền thì đừng tiêu xài: đó cũng là một cách “làm giàu”. Nhưng dĩ nhiên “giàu” hơn cả chính là dùng số tiền không xài phí ấy để góp vào công cuộc từ thiện. Tôi thấy chẳng cần phải trúng số hay có tiền rừng bạc bể mới có thể làm từ thiện. Tôi cũng chẳng buộc Chúa phải làm “phép lạ” để tôi có tiền giúp người nghèo. Phép lạ tỏ tường nhứt mà tôi có thể cảm nhận được chính là số tiền nhỏ mà tôi dành dụm được từ cuộc sống giản dị để san sẻ cho những người đang túng thiếu. Một món quà được lượng giá không bằng giá trị vật chất mà chính là tấm lòng được gói ghém trong đó. Cố tài tử điện ảnh Leonard Nimoy, người đã thủ vai “Mr. Spock” trong loạt phim “Star Trek” đã nói: “Phép lạ là thế này: chúng ta càng cho đi thì chúng ta càng có nhiều hơn” (Quotable Quotes, Reader’s Digest 9/2015). Nghĩ như thế cho nên cứ mỗi lần chia sớt, dù chẳng bao nhiêu, tôi vẫn cảm thấy hạnh phúc vì cảm thấy được giàu có hơn.








Thứ Tư, 9 tháng 9, 2015

Trao tặng là chìa khóa của thành công




Chu Thập
15.11.11

Tuần qua, tôi đọc được hai lá thư gây nhiều cảm xúc.
Trước hết là lá thư gởi cho em bé thứ 7 tỷ vừa mới chào đời hôm thứ Hai 31 tháng 10 vừa qua. Tác giả của lá thư là linh mục Federico Lombardi, phát ngôn viên của Tòa thánh La mã. Đây quả là một lá thư gây nhiều ngạc nhiên lý thú. Thông thường phát ngôn viên của một chính phủ chỉ đưa ra tuyên ngôn về những chuyện đại sự. Không ngờ, linh mục Lombardi lại chú ý đến con người nhỏ bé và vô danh nhứt hành tinh này.
Lá thư mở đầu như sau: “Bé thương, ta không biết bé là trai hay gái, là người Ấn độ hay Trung quốc, sinh trong một thành phố lớn hay một làng quê hẻo lánh hoặc chào đời trong một cánh đồng hoang hay trong một căn nhà bằng tuyết, trên một hoang đảo hay trong một túp lều nơi trại tỵ nạn.”
Tác giả viết tiếp: “Ta không biết con có khỏe mạnh, đau yếu hoặc khuyết tật không. Ta không biết cha mẹ con có mặt ở đó để ôm con vào lòng không hay chỉ có mỗi một mình mẹ con. Ta không biết người ta có nói rằng con và những người cùng tuổi với con là thừa thãi hay chưa đủ không. Nhưng ta không quan tâm đến điều đó.”
Người ngỏ lời với em bé thứ 7 tỷ này nói rằng mình chỉ quan tâm cho cuộc sống của em trong thế giới ngày nay: một thế giới “hơi phức tạp và ít niềm nở đối với một số người”.
Theo linh mục Lombardi, thế giới này đã không được chuẩn bị một cách đúng đắn và người ta đang tự hỏi trong tương lai thế giới này sẽ như thế nào.
Ám chỉ đến những chuyện “đại sự” như hội nghị Thượng đỉnh vừa qua của khối G20, tức 20 quốc gia có kỹ nghệ tiến bộ nhứt thế giới, tác giả viết: “Các vị nguyên thủ của những nước giàu mạnh nhứt ngồi vào bàn hội nghị; họ vò đầu bứt tóc để tìm ra phương thế tiến bộ mà không tạo ra những tai họa khác.
Chúng tôi cầu mong rằng khi con mỉm cười thì sẽ có người cười lại với con và khi con khóc sẽ có người vỗ về con. Cầu mong cho con được cắp sách đến trường và không phải đói khát. Cầu mong cho có người biết khôn ngoan trả lời những câu hỏi của con và nâng đỡ con trong những sáng kiến của con cũng như giúp con nhận lấy trách nhiệm của mình.
Chúng tôi cũng cầu mong cho con biết yêu thương tha nhân, trưởng thành, làm việc và sống với gia đình con, cùng với bao bạn hữu, trong một dân tộc và một thế giới tự do và hòa bình. Chúng tôi cầu mong cho con có thể hiểu được rằng cuộc sống của con vẫn có ý nghĩa bên kia cái chết”.
Nhưng kết thúc lá thư, linh mục Lombardi nhắn nhủ với đứa bé thứ 7 tỷ này rằng tương lai cũng tùy thuộc vào nó, nó cũng phải phấn đấu, lao nhọc và đến lượt nó cũng hãy niềm nở đón tiếp đứa bé thứ 8 tỷ sẽ có mặt trên trái đất này. (x. Zenit 10/11/11)
Đọc lá thư trên, tôi không thể không nghĩ đến thiên tài Steve Jobs, đồng sáng lập viên, chủ tịch và giám đốc điều hành của công ty Apple, vừa qua đời hôm 5 tháng 10. Tôi nghĩ đến thiên tài này là bởi vì ông là người đã tự mình vượt qua được một tuổi thơ bất hạnh, những khó khăn chồng chất trong cuộc sống để không ngừng vươn lên, thành thân và thành nhân. Ông đã nhận lấy trách nhiệm của mình và làm chủ được định mệnh của mình.
Tôi chỉ tiếc có mỗi một điều là: trong tiểu sử của Steve Jobs, có thể vì ông là một con người quá kín đáo chăng, nên không nghe ai nhắc đến những họat động từ thiện của ông. Di sản của ông là vô số những phát minh mới trong kỹ thuật truyền thông cũng như tinh thần phấn đấu và lạc quan yêu đời. Nhưng giá như có một Sáng hội từ thiện nào đó mang tên ông như trường hợp của ông bà Bill và Melinda Gates, người đã hiến tặng đến hơn ba phần tư tài sản của mình cho các họat động từ thiện, thì chắc chắn tên tuổi của ông sẽ sáng ngời hơn.
Vượt qua được một tuổi thơ bất hạnh, nhận lãnh trách nhiệm về cuộc sống của mình, trở thành một con người hữu dụng cho xã hội: không phải đứa bé nào cũng có đủ điều kiện và nghị lực để vượt khó như Steve Jobs.Tôi nghĩ đến hàng triệu triệu trẻ em mỗi buổi tối phải đi ngủ với cái bụng trống.Tôi nghĩ đến vô số trẻ em phải lê lết hằng bao nhiêu cây số để đến một trại tỵ nạn, để sống cả tuổi thơ trong đó và để không nhìn thấy một tương lai nào bên kia hàng rào kẽm gai. Tôi nghĩ đến bao nhiêu trẻ em ở các nước nghèo không được cắp sách đến trường và bị buộc phải lao động với đôi tay còn quá bé nhỏ yếu đuối...Và dĩ nhiên, tôi cũng nghĩ đến vô số những trẻ em trên thế giới này, dẫu được sinh ra trên nhung lụa, nhưng lại chứng kiến một gia đình đổ vỡ, phải mang nhiều chấn thương đến độ khó trưởng thành một cách bình thường và thành công trong cuộc sống. Một Steve Jobs hay một Philip Roesler, đứa trẻ mồ côi Việt nam hiện là phó thủ tướng Đức, nếu có thành công, đỗ đạt và có một địa vị cao trong xã hội, không chỉ nhờ sức phấn đấu riêng của mình, mà còn nhờ sự bảo bọc của những cha mẹ nuôi tốt.
Cần có những bàn tay nhân ái để vá lại những mãnh đời vỡ vụn. Cần có những tấm lòng quảng đại để cưu mang, vỗ về và đỡ nâng những tâm hồn thơ dại. Đó là nội dung chính của lá thư từ Hội Từ Thiện “Salvation Army” (Đạo binh Cứu độ). Hằng năm, Hội Từ Thiện của Giáo hội Tin lành này vẫn gởi đến cho tôi một lá thư kêu gọi sự quảng đại đóng góp để giúp đỡ những người túng thiếu cơ cực, đói ăn và cần được giúp đỡ trên khắp thế giới.
Năm nay, lá thư kể lại câu chuyện đáng thương của Sophie. Và đây là một câu chuyện có thật. Khi Sophie vừa được vài tháng tuổi thì mẹ em qua đời. Một thời gian sau, cha em tái hôn. Chuyện mẹ ghẻ con chồng là chuyện xưa như trái đất. Sophie không có thể làm bất cứ điều gì để làm hài lòng người mẹ kế. Ồn ào cũng bị mắng. Yên lặng cũng bị hạch xách. Đi học về trễ cũng bị la rầy, mà về nhà sớm quá cũng chẳng được tha. Thêm vào đó, cha em ngày càng tỏ ra vũ phu.
Mỗi năm đến mùa Giáng sinh, mỗi khi có bạn bè hay người thân đến thăm, người mẹ ghẻ đóng kịch bằng những cử chỉ thân thiện và săn sóc đối với Sophie. Nhưng khi ai về nhà nấy, thì bức tranh của một gia đình đầm ấm cũng tan biến.
Sophie nói rằng dưới cùng một mái nhà, nhưng có đến hai gia đình: họ, tức ba em, mẹ kế và các em cùng cha khác mẹ là một gia đình; còn em là một gia đình khác. Em nói rằng em chỉ cần được “thích” thôi, chứ đừng nói đến được yêu thương.
Cuộc sống càng lúc càng nặng nề đến độ khi vừa được 15 tuổi, em quyết định bỏ nhà ra đi. Trong cuộc sống lang thang trên hè phố, Sophie tình cờ gặp một nhân viên của Hội Salvation Army. Người này có một cô con gái cùng tuổi với Sophie tên là Liz. Ngày nọ Liz hỏi Sophie: Ngày lễ Giáng Sinh tới, bạn sẽ đi đâu? Sophie buồn bã trả lời: “Chẳng đi nơi nào cả. Tôi biết đi đâu bây giờ.”
Liz liền mời Sophie về nhà mình trong Ngày Giáng Sinh. Đây là một ngày của gia đình không có bạo động, không có gấu ó, mà chỉ có tiếng cười, tình thương và niềm vui.
Liz chỉ làm một cử chỉ nhỏ, nhưng đã thực sự có sức thay đổi cuộc đời của Sophie, Hội Salvation Army cho biết: sau 18 năm chờ đợi, cuối cùng Sophie đã cảm nghiệm được sự chia sẻ niềm vui trong ngày Giáng Sinh với một gia đình thực sự yêu thương và quan tâm đến em. Người đại diện của Hội Salvation Army tại Úc đại lợi viết: “món quà lớn nhứt là món quà không thể gói hay mua được.”
Kể từ đó, Sophie đã cương quyết tìm kiếm một tương lai tốt đẹp chứ không tự giam hãm trong quá khứ. Với sự giúp đỡ của Hội Salvation Army, em đã quyết định đi học lại và hướng đến các hoạt động phục vụ giới trẻ.
Chỉ cần có một bàn tay chia sẻ, một tấm lòng quảng đại và cảm thông, thì ở đâu đó sẽ có một cuộc đời đang bị nhận chìm trong tăm tối và thất vọng được vực dậy. Thế giới không bao giờ thiếu thốn của cải. Thiếu chăng là thiếu tình thương và sự chia sẻ.
Các vị nguyên thủ quốc gia và những cái “đầu lớn” của thế giới không ngừng gặp nhau để tìm kiếm những giải pháp cho những vấn đề lớn của nhân loại trong đó nổi cộm nhứt vẫn là nghèo đói và những hậu quả của nghèo đói. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu lại khiến cho các nhã lãnh đạo thế giới gia tăng các cuộc “hội họp”. Hết hội nghị thượng đỉnh này đến hội nghị thượng đỉnh khác. Nhưng đâu lại vào đó. Dường như những “chữ bự” vẫn cứ là những “chữ chết” trong các văn kiện được ký kết. Tháng 9 năm 2000, tại “Hội nghị Thuợng đỉnh Thiên kiên kỷ”, 193 quốc gia thành viên của Liên hiệp quốc và ít nhứt 23 tổ chức quốc tế đã đặt bút ký tên vào một tuyên ngôn thường được gọi là “Các Mục tiêu của Thiên niên kỷ”. Một trong 8 mục tiêu đó là vào năm 2015, tình trạng nghèo đói cùng cực trên thế giới phải được xóa bỏ. Năm vừa qua, một Hội nghị Thượng đỉnh lại được tổ chức để nhìn lại những bước tiến trong việc thực thi các mục tiêu này và các nguyên thủ quốc gia chỉ biết nhìn nhau để thở dài và thú nhận rằng “còn lâu” mục tiêu đầu tiên trong 8 mục tiêu đó, tức xóa đói giảm nghèo, mới có thể đạt đựơc vào năm 2015: khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia ngày càng rộng mà giữa giàu nghèo trong cùng một quốc gia lại ngày càng có kích thước của vực thẳm.
Thì ra, giải pháp cho vấn đề không chỉ là chính trị, kinh tế và tài chính, mà thiết yếu là liên đới, tình thương và sự chia sẻ. Có thể, các vị nguyên thủ quốc gia, các nhà kinh tế, các chính trị gia, các nhà thảo kế hoạch...không đến nỗi “ngu” hay “đui” để không nhận ra vấn đề đâu. Nhưng nói đến tình liên đới và tình thương là đụng đến “hầu bao” của mình. Khi tỷ phú Warren Buffet, nhà tài phiệt địa ốc đã hứa trao tặng hầu hết tài sản của mình cho các công cuộc từ thiện, kêu gọi những người giàu có tại Hoa kỳ đóng thuế nhiều hơn để giúp cho người nghèo, ai cũng “giẫy nẩy” lên.
Hãy thử tưởng tượng: nếu trên thế giới này, nhứt là tại các nước nghèo như Việt nam, tất cả những người giàu có chỉ cần bỏ ra mười phần trăm tài sản của mình để giúp đỡ người nghèo, thì chắc chắn bộ mặt của thế giới sẽ thay đổi tức khắc chứ không cần phải đưa ra bất cứ “mục tiêu thiên niên kỷ” nào cả.
Tôi tin rằng tương lai của thế giới thuộc về Tình Thương, mà cụ thể là chia sẻ và trao tặng, chứ không thuộc về tiến bộ kỹ thuật hay kinh tế và tài chính, mà nhứt là lại càng không nằm trong tay của các chính trị gia.
Trong tập sách mỏng có tựa đề “Succes is in Giving” mà tôi tạm dịch là “chìa khóa của thành công nằm trong sự trao tặng”, ông Wesley Harris, một cựu Ủy viên của Hội Salvation Army, Úc đại lợi, đã khẳng định rằng “tinh thần trao tặng là chìa khóa của thành công”. Tiền bạc dĩ nhiên là thứ thiết thực nhứt để trao tặng. Nhưng trong tập sách, ông Harris cũng nói đến vô số những món quà được trao tặng mà không tốn một đồng xu như phục vụ, tôn trọng, lắng nghe, thời gian, sự quan tâm, nâng đỡ, cảm thông và nhứt là sự tha thứ...Ai cũng biết rằng chẳng có ai nghèo đến độ không có gì để trao tặng.
Phần tôi, tôi chỉ muốn gởi cho “em bé bảy tỷ”vài dòng:
“Bé yêu dấu, xin lỗi bé vì tôi lại phải dùng một con số để gọi bé. Bé sinh ra cách tôi hơn nửa thế kỷ. Tôi tin tưởng bé sẽ có một tương lai tốt đẹp hơn tôi. Bởi vì chắc chắn những gì cần thiết để sống hôm nay khác xa ngày xưa rất nhiều. Nhiều khi tôi tự hỏi làm sao những người thuộc thế hệ chúng tôi lại có thể khôn lớn thành người trong hoàn cảnh nghèo đói quê mùa lạc hậu như lúc đó. Nhưng bây giờ, tôi hiểu ra, tôi đã có đủ nghị lực để đương đầu với nghịch cảnh, với đau khổ và nhứt là với cô đơn nhờ ở những điều rất nhỏ: từ miếng bánh bẻ đôi của thằng bạn chăn trâu đến cái áo “bính” của ông anh kề, từ một người bạn chịu khó ngồi nghe tôi ca cẩm đến chai nước mắm ông bạn già khệ nệ đem cho...
Cho nên, bé ơi, đừng lo, ngày nào còn có người nghĩ đến bé thì ngày đó vẫn là ngày đẹp trời. Mà tôi chắc chắn sẽ là một trong những người đó.”





Thứ Hai, 7 tháng 9, 2015

Lào quốc: xứ sở của Cánh đồng chum và bãi mìn


 4.9.15
Để tìm một hình ảnh có thể được xem như là biểu trưng cho Lào Quốc, một trong những đất nước bị bom đạn cày xéo nhiều nhất trong lịch sử nhưng vẫn lạc quan hướng nhìn về tương lai, phóng viên T.D Allman của tạp chí “The National Geographic” dừng lại trên một con đường sầm uất tại Phonsavan, thủ phủ của tỉnh Xiangkhoang, miền trung Lào. Hai hình ảnh tương phản đập ngay vào mắt người phóng viên này là: một núi vỏ bom và một máy ATM.
Trong thời chiến tranh, trẻ con lớn lên tại tỉnh Xiangkhoang ít khi thấy được mặt trời, vì phải ẩn núp trong các hầm trú và địa đạo. Ngày nay, thành phố Phonsavan nhộn nhịp đến nỗi đèn giao thông không những được gắn khắp nơi mà còn cho biết  khách bộ hành phải đứng đợi bao lâu. Ở đâu du khách cũng có thể tìm được một ngân hàng, một tiệm ăn, một ngôi chợ bán trái cây và rau xanh, một gian hàng bán giày thể thao. Dọc theo Cánh Đồng Chum, mà cho tới nay các nhà khảo cổ vẫn chưa hiểu được nguồn gốc và ý nghĩa, du khách có thể nhìn thấy cả khối vỏ bom mà không lực Hoa Kỳ đã ném xuống trong khoảng thời gian từ năm 1964 đến năm 1973. Vỏ bom cũng được trưng bày trước văn phòng du lịch của thành phố. Tại một vài nơi, nhìn từ xa, những ngọn đồi cỏ xanh trong cánh đồng chum trông chẳng khác nào một sân Golf. Nhưng ẩn hiện trong cánh đồng là hàng triệu quả bom, một số đã phát nổ, một số vẫn còn nguyên vẹn. Đây quả là một mối đe dọa triền miên cho người dân Lào, cách riêng cho những người kiếm sống bằng cách khai thác các vỏ bom. Vỏ bom được người dân Lào tận dụng tối đa. Từ những chiếc nhẫn đeo tay cho đến chén bát, muỗng nĩa, đũa...tất cả đều được chế biến từ vỏ bom. Làng Ban Naphia ở ngoại ô thành phố Phonsavan nổi tiếng với xảo thuật chế biến này. Nhiều nhà đã có điện và rất nhiều người đã có điện thoại cầm tay.
Với dân số trên dưới 7 triệu người, mà một phần ba dưới 15 tuổi, Lào hiện có khoảng 5 triệu chiếc điện thoại di động. Tại Ban Pak-Ou, một ngôi làng ở phía Bắc nằm bên bờ sông Cửu Long, các ngư dân vẫn còn sử dụng các phương tiện đánh cá rất thô sơ. Nhưng mọi người ai cũng có một chiếc điện thoại cầm tay để vừa giăng lưới vừa trò chuyện.
Trong thời chiến tranh, để chận đường tiến quân của quân Cộng sản Bắc Việt dọc theo điều thường được gọi là Đường mòn Hồ Chí Minh,  Hoa Kỳ đã dội xuống Lào hơn 270 triệu trái bom chùm hay còn gọi là “bom bi” và 4 triệu trái bom tấn. Trọng lượng của số bom thả xuống Lào nặng gấp mấy lần trọng lượng của khoảng 2 triệu dân Lào vào thời đó. Nghĩa là tính trung bình, mỗi người dân lãnh một tấn bom. Theo ước tính, có khoảng 80 triệu trái bom bi chưa nổ và khoảng 10 phần trăm bom tấn cũng chưa nổ. Và tính trung bình, mỗi ngày Hoa Kỳ chi ra 13.3 triệu Mỹ kim cho việc ném bom xuống Lào.
Cánh đồng chum là một thắng cảnh đẹp đáng được chiêm ngắm. Một số nhà khảo cổ cho rằng cách đây 2000 năm, những cái chum khổng lồ ấy được sử dụng để giữ tro cốt của người quá cố. Nhưng Cánh đồng chum không chỉ là một thắng cảnh mà còn là nơi mà những trái bom nổ chậm có thể phát nổ bất cứ lúc nào. Nạn nhân của những vụ tháo gỡ bom hoặc vô tình dẫm lên nếu không chết thì cũng bị tàn phế.
Tổ chức có tên là “Mines Advisory Group” (Cố vấn về việc đề phòng mìn bẫy) có trụ sở tại Anh Quốc, đã có lần tổ chức những khóa học về những nguy hiểm của mìn bẫy cho người Lào. Nhiều trẻ em tham dự các khóa học đã cho xem các vết thương của các em và nói lên những thương tích về thể lý cũng như tâm lý của các em. Sau đó các em được hỏi ý kiến: các em sẽ làm gì nếu gặp lại những người đã từng ném bom xuống xứ sở của các em. Một em đã giơ tay nói: “Tôi muốn nói với họ là họ phải trả tiền cho chúng tôi”.
Năm 2014 vừa qua, Quốc Hội Hoa Kỳ đã thông qua dự án chi 12 triệu Mỹ kim để giúp tháo gỡ mìn tại Lào, trong khi đó việc xây dựng tòa đại sứ mới của Hoa Kỳ tại Lào tốn đến 145 triệu Mỹ kim. Theo phóng viên Allman, sự khác biệt về phí tổn giữa việc tháo gỡ mìn và xây dựng tòa đại sứ mới này cho thấy mối ưu tiên hiện nay của Hoa Kỳ: họ quan tâm đến an ninh của các nhà ngoại giao của mình hơn là trách nhiệm của mình trong thời chiến tranh đối với Lào, là nơi mà gần như mỗi trái bom chưa nổ đều được chế tạo tại Hoa Kỳ và do chính Hoa Kỳ ném xuống.
Người Lào nổi tiếng là một dân tộc hiếu hòa, dễ thương và cũng dễ tha thứ. Nhưng bao lâu đất nước này còn đầy dẫy bom đạn, thì không ai có thể quên được những hố bom lộ thiên ấy, bởi vì quên là chết.  Cánh đồng Chum vẫn mãi mãi hiện diện để nhắc nhở người dân Lào về mối nguy hiểm triền miên ấy. Người Lào cũng luôn tự nhắc nhở họ về mối nguy hiểm ấy bằng cách tiếp tục biến những vỏ bom cũng như bất cứ tàn tích nào của chiến tranh thành những vật kỷ niệm và ngay cả trang thiết bị hay đồ gia dụng. Trong thời chiến tranh, nhiều người đã sử dụng vỏ của những chiếc oanh tạc cơ khổng lồ B-52 để làm những chiếc ca nô. Một trong những chiếc ca nô ấy đẹp và ý nghĩa đến độ đã được Bảo tàng viện chiến tranh hoàng gia ở London mua về trưng bày.
Nhưng người dân Lào không chịu dừng lại ở quá khứ. Những vật dụng được chế biến từ các phế liệu chiến tranh cho thấy họ cũng muốn nhìn về phía trước với tinh thần lạc quan.
Vạn Tượng, thủ đô Lào Quốc, đã từng là một thành phố bẩn thỉu. Nhưng hiện nay ở đây, người ta đã có thể nhìn thấy những cao ốc 12 tầng. Trước đây, Vạn Tượng yên ắng đến độ người ta chỉ nghe tiếng mưa rơi, tiếng trẻ con khóc hay tiếng cười của người lớn. Nay, mọi thứ đều diễn ra trong tiếng ồn của những chiếc máy điều hòa không khí, tiếng máy phát điện và tiếng còi inh ỏi của đủ mọi loại xe gắn máy.
Kinh tế Lào Quốc gia tăng khoảng 8 phần trăm mỗi năm. Lá cờ của Đảng Nhân Dân Cách Mạng Lào, trên đó người ta vẫn còn thấy hình búa liềm của thời Liên Xô, bay phất phới bên cạnh cờ quốc gia. Nhưng các nhà lãnh đạo Cộng sản Lào  mà vai trò trước đây là làm tiền đồn để cho Miền Bắc Cộng Sản Việt Nam thanh toán Miền Nam Việt Nam, đang tìm kiếm một chỗ đứng mới trong Khối Đông Nam Á. Mục tiêu mà nước này đang nhắm tới là cố gắng thoát khỏi danh sách những nước nghèo nhất thế giới vào năm 2020.
Một trong những biểu tượng lớn của Lào Quốc dĩ nhiên vẫn là sông Cửu Long. Hiện nay hai bên bờ sông đã có lối đi bằng xi măng dành cho người đi bộ, có bãi đậu xe, có nhiều công viên để chiều chiều người dân đến đó hóng gió, nghe nhạc, hẹn hò hoặc theo những lớp ca vũ. Hàn Quốc là quốc gia đã tài trợ cho công trình làm đẹp bờ sông này.
Trong suốt thời kỳ Pháp đô hộ và kế đó với sự hiện diện của Hoa Kỳ, không có bất cứ nước nào đã giúp bắc một chiếc cầu nào qua sông Cửu Long. Ngày nay có đến 6 chiếc cầu lớn được bắc qua dòng sông này. Một trong những chiếc cầu này nằm ở thị trấn Thakhek, là nơi chỉ cách Thái Lan và Việt Nam khoảng 150 cây số. Từ Thakhek, du khách có thể nhìn thấy Thái Lan và xem chương trình truyền hình được phát đi từ Việt Nam. Lào đã trở thành một thứ ngã tư quốc tế đối với nhiều nước Á Châu. Hàng hóa tràn ngập thị trường Lào hiện nay là các sản phẩm từ các nước tư bản, chứ không phải là những chiếc xe tăng thời Cộng Sản Liên Xô nữa.  Một kỷ nguyên hòa bình và nối kết đã mở ra cho Lào. Bay từ Savannakhet dọc theo sông Cửu Long, du khách có thể nhìn thấy những chiếc cầu bắc qua dòng sông này. Trên đó người dân di chuyển hàng hóa ra cũng như vô Lào. Ở đầu nguồn dòng sông, người ta cũng có thể thấy nhà máy thủy điện vĩ đại sản xuất dư điện để Lào có thể xuất cảng sang các nước dọc theo bờ sông. Trước đây, nhìn xuống Louangprabang, người ta chỉ thấy những hố bom. Nay thế cho những lỗ bom đó là những bãi cát dành cho những sân Golf do Nam Hàn xây dựng.
Lào quốc hay còn có tên chính thức là Cộng hòa Dân chủ Lào là một quốc gia nằm giữa khối Đông Nam Á, giáp giới với Miến Điện và Trung Quốc về phía Tây Bắc, với Việt Nam về hướng Đông, với Cao Miên về hướng Nam và với Thái Lan về hướng Tây. Kể từ năm 1975, quốc gia này bị Đảng Cộng Sản Lào cai trị.
Lịch sử của Lào quốc có thể bắt nguồn từ thời Vương quốc Lan Xang, xuất hiện từ thế kỷ thứ 14 đến thế kỷ 18 và sau đó bị chia thành ba vương quốc nhỏ là Luang Prabang, Vạn Tượng và Champak. Năm 1893, ba vương quốc này được thống nhất và đặt dưới sự bảo hộ của Pháp Quốc. Năm 1945, sau khi Nhật Bản đầu hàng và Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc, cũng như Việt Nam, Lào giành được độc lập. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, Pháp trở lại và mãi cho đến năm 1949 mới được tự trị. Năm 1953, Lào được độc lập và trở thành một vương quốc dưới quyền cai trị của Quốc vương Sisavang Vong. Nhưng không bao lâu sau đó, nội chiến bùng nổ, chế độ quân chủ cáo chung. Cũng như số phận của Miền Nam Việt Nam, chế độ dân chủ non nớt của Lào không thể tồn tại trước sự quậy phá của Đảng Cộng Sản thường được gọi là Pathet Lào. Năm 1975, cùng với Việt Nam, Lào rơi vào tay Cộng Sản. Cũng như Việt Nam, Lào Cộng cũng tự xưng là “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa”. Và dĩ nhiên,  “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”  vẫn tiếp tục có ảnh hưởng lớn đối với Lào.
Kinh tế  của Lào hiện nay tập trung vào việc xuất cảng điện  năng được sản xuất từ những nhà máy thủy điện đặt ở các dòng sông của mình, cách riêng sông Cửu Long. Ngoài ra, kinh tế nước này cũng gia tăng nhanh nhờ xuất cảng kim loại.
Thuộc khối Liên hiệp Đông Nam Á (ASEAN), Lào cũng là thành viên của Hiệp ước Mậu dịch Á Châu Thái Bình Dương (APTA). Lào đã làm đơn gia nhập Tổ chức Mậu dịch Thế giới từ năm 1997 và năm 2013, đã chính thức trở thành hội viên của tổ chức.
Theo Tổ chức “Minh Bạch Thế Giới” (Transparency International), Lào vẫn còn là một trong những nước tham nhũng nhất thế giới. Chính vì vậy mà đầu tư ngoại quốc bị cản trở và việc áp dụng pháp quyền gặp nhiều khó khăn. Hiện một phần ba dân số “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Lào” vẫn còn sống dưới mức nghèo khó theo tiêu chuẩn quốc tế, nghĩa là mỗi ngày chỉ sống với không quá 1.25 Mỹ kim. Lào vẫn còn bị xem là một trong những quốc gia có thu nhập hàng năm thấp nhất thế giới. Tính cho đến năm 2013, theo chỉ số phát triển (Human Development Index), Lào bị xếp vào hạng 138. Còn theo chỉ số đói nghèo (Global Hunger Index), Lào đứng thứ 25 trong danh sách của 56 nước lâm vào tình trạng đói nghèo nhất thế giới và dĩ nhiên cho tới nay, Lào vẫn bị xem là một trong những quốc gia có thành tích vi phạm nhân quyền tồi tệ nhất thế giới. Đó là hệ quả của chủ nghĩa cộng sản mà Lào đã đi theo từ năm 1975 đến nay.
(Theo Wikipedia và  tạp chí The National Geographic 8/2015)





Thứ Tư, 2 tháng 9, 2015

Tự do: phần thưởng của trao tặng



Chu Thập
27.11.11

Mấy hôm nay, cư dân mạng xôn xao về một câu chuyện xảy ra tại Trung quốc. Bạn tôi xác định câu chuyện đã xảy ra hồi năm 2008 và đã được hai đài truyền hình nổi tiếng là BBC của Anh quốc và CNN của Hoa kỳ nhắc đến:
Có một chuyến xe buýt chở đầy hành khách đang chạy trên một đường đồi. Giữa đường, ba tên du đãng có võ trang dở trò đồi bại với người tài xế vốn là một cô gái xinh đẹp. Cô gái đã kêu cứu, nhưng tất cả hành khách trên xe chỉ đáp lại bằng sự thinh lặng. Chỉ có một người đàn ông trung niên trông yếu ớt đã lên tiếng yêu cầu ba tên du đãng dừng tay. Và dĩ nhiên, người đàn ông đã bị chúng hành hung. Ông kêu gọi mọi hành khách có mặt trên xe tiếp tay để ngăn chận hành động man rợ của ba tên du đãng, nhưng chẳng có ai hưởng ứng, cho nên đến một khúc đường vắng, cô gái đã bị ba tên côn đồ lôi vào một bụi rậm để thỏa mãn thú tính. Một giờ sau, ba tên bất lương cùng với người nữ tài xế trở lại chiếc xe buýt.
Lạ lùng quá, vừa bước lên xe, cô gái đã thét vào mặt người đàn ông đã tìm cách cứu mình: “Này ông kia, ông xuống khỏi xe tức khắc”.
Sững sờ trước thái độ bất thường của cô gái, người đàn ông thắc mắc: “Cô làm sao thế? Tôi đã tìm cách cứu cô mà...”
Trong nước mắt, cô gái vặn lại: “Cứu tôi ư?  Ông đã làm gì để gọi là cứu tôi chứ?”
Trước phản ứng của cô gái, mọi hành khách trên xe thản nhiên cười. Người đàn ông trả lời một cách cương quyết: “Tôi đã mua vé, tôi có quyền ở lại trên xe”. Cô gái lại dọa: “Nếu ông không xuống, xe sẽ không chạy”.
Điều bất ngờ là mọi hành khách, vốn thinh lặng trước hành động đồi bại của ba tên du đãng, nay lại nhao nhao đòi người đàn ông phải xuống khỏi xe. Một số người còn dùng đến võ lực. Ba tên du đãng cười đắc thắng...Người đàn ông đành xuống xe và chiếc xe từ từ lăn bánh.
Ngày hôm sau, báo chí Trung Quốc đưa tin: một tai nạn bi thảm xảy ra tại một vùng có tên là “Phục Hồ Sơn”: một chiếc xe buýt cỡ trung đã rơi xuống vực; người tài xế và tất cả 13 hành khách đều thiệt mạng.
Không ai biết chuyện gì đã xảy ra, ngoại trừ người đàn ông đã tìm cách cứu cô gái và đã được cô mời xuống khỏi xe trước khi chiếc xe chuẩn bị lên đèo.
Tôi không rõ câu chuyện có thực không. Nhưng trong một đất nước mà sự “vô cảm” đã hầu như trở thành luật sống, thì chuyện xảy ra trên chuyến xe buýt trên đây xem ra chẳng gây ngạc nhiên bằng câu chuyện của bé gái tên là Duyệt Duyệt được truyền đi trên mọi phương tiện truyền thông trên thế giới hồi tháng trước: 18 người khách bộ hành đã có thể nhắm mắt làm ngơ trước cảnh em bé này bị xe tung nằm dở sống dở chết bên lề đường!
Ngoài thái độ vô cảm của con người trong xã hội cộng sản như Trung Quốc hay Việt nam, câu chuyện trên chuyến xe buýt trên đây còn gợi lên trong tôi một câu hỏi: liệu con người có bị “trừng phạt” vì thái độ “vô cảm” của mình không?  Rõ ràng là người đàn ông tìm cách cứu cô gái đã được đền ơn và ba tên du đãng gian ác cũng như những người hành khách vô cảm đã bị trừng phạt! Câu chuyện quả có hậu: Những kẻ gian ác phải đền tội! Đó là đòi hỏi thông thường của công lý.
Lúc nhỏ, dù tôi có lêu lổng đến đâu, cha mẹ tôi cũng nhét được vào đầu óc tôi bài học về “quả báo nhãn tiền”. Những người ăn ở gian ác, bất lương luôn bị trừng phạt. Nếu chính họ không bị trừng phạt thì con cái cháu chắt họ cũng bị quả báo. Lúc nhỏ tôi thường nhìn những người bị tai nạn giao thông, chết bất đắc kỳ tử và nhứt là bị “sét đánh” như những kẻ gian ác. Con “nhà đạo” chúng tôi lại còn bị đe dọa: “ăn ở thất đức thế nào cũng chết tươi ăn năn tội chẳng kịp” và như vậy chỉ có thể “sa hỏa ngục” mà thôi! Trong ánh mắt tôi, không biết bao nhiêu người gian ác đã phải “chết dữ” và “sa hỏa ngục”.
Tuy nhiên, thêm một chút tuổi đời, biết quan sát và suy nghĩ, tôi nhận thấy cái lưới trời, tuy có lồng lộng đó, những đôi khi cũng để tuột mất những con cá thật lớn. Thời nào cũng có những “tên gian ác” vẫn sống phây phây, con cháu lại còn được “chúc phúc”. Dĩ nhiên, lịch sử gần đây cho thấy hầu hết những nhà độc tài tham lam và gian ác đều bị “quả báo nhãn tiền”. Không bị treo cổ xử bắn, không ở tù mục xương thì cũng phải đi lưu đày. Không tán gia bại sản thì gia đình con cái cũng phải bị liên lụy. Nhưng dường như cái định luật  “quả báo nhãn tiền” ấy vẫn có luật trừ, mà trừ hơi nhiều nữa. Cứ nhìn vào các chế độ độc tài cộng sản ở Trung Quốc, Cuba, Bắc Hàn hay Việt nam cũng đủ thấy cái “lỗ hổng” trong định luật ấy. Những kẻ  “cướp” từ chính quyền cho đến tiền bạc của cải , những người cố tình tạo ra cái xã hội “vô cảm” vẫn cứ phây phây ngồi trên quyền lực và đống của cải bất công họ thu tóm được. Con cái họ vẫn được gởi đi học ở các nước tư bản và tiếp tục củng cố gia sản họ để lại. Không thiếu những kẻ gian ác vẫn cứ “trường thọ” và an nhàn. Tôi cứ thắc mắc: “Trời cao có con mắt” không mà lại để xảy ra cái cảnh tréo cẳng ngỗng ấy: kẻ gian ác thì vẫn sung túc giàu sang và hưởng mọi thứ lợi lộc trên trần gian này, còn người lương thiện thì không ngóc đầu dậy nổi. Cứ nhìn vào xã hội Việt nam để thấy rõ điều đó: người lương thiện không thể có đất sống trong một xã hội mà ý niệm “lương thiện” hầu như cũng đã biến mất khỏi ý thức của nhiều người.
Thực ra, trong một xã hội “vô cảm”, sống lương thiện đã là điều khó, mà có ý thức về lương thiện xem ra cũng không phải là điều dễ đối với nhiều người.
Trong bài viết có tựa đề “chân dung một cô gái Việt nam”, tác giả  Tâm Thanh  kể lại trên báo điện tử Đàn Chim Việt một câu chuyện thật cảm động. Một thiếu nữ gốc Việt nam tên là Diễm được cảnh sát Na Uy mời làm thông dịch cho một cô gái Việt nam bị tạm giữ vì nhập cư bất hợp pháp. Tất cả mọi câu hỏi của viên cảnh sát đều được cô gái chính hiệu “Hà lam linh” trả lời bằng một chữ “không” dứt khoát: không cha, không mẹ, không giấy tờ, không sổ thông hành, không thẻ căn cước, kể cả “không biết” bằng cách nào mà mình đã lọt vào Na uy cũng như “không nhớ” mình đã rời Việt nam lúc nào và đã đi qua những thành phố nào trước khi đến Na uy. Với cô gái, cái gì cũng “không nhớ, không biết”. Ngay cả tác giả của bào thai cô đang mang trong người, cô cũng nói là “không biết” luôn.
Số phận của cô gái cầm chắc trong tay là sẽ bị trục xuất về Việt nam.
Tác giả của bài báo ghi lại cảm xúc của người thiếu nữ thông dịch viên như sau: “Diễm cảm thấy xót xa trong lòng. Cảm giác gờm nhớm từ bốn tháng nay biến thành một cảm giác ân hận. Diễm nghĩ đến thân phận chính mình-sở dĩ mình sống nhởn nhơ được, buổi sáng đứng bán nhà thuốc tây, buổi chiều đi nhảy Aerobic, lâu lâu đi thông dịch lấy ngoại tài mua son phấn không cần ăn cắp...là vì cha mẹ mình đã chọn được con đường đúng ý nguyện: tới một nơi có thể lương thiện mà sống được. Không, không phải cha mẹ chọn. Đó là Trời ban. Ba chục năm nay, bây giờ “Kho Trời” đã khóa. Nếu cha mẹ nàng chậm chân, không chừng giờ này Diễm cũng là một người mở miệng bằng câu “không biết” và không từ làm bất cứ việc gì để sinh tồn.
Lợi dụng lúc cô cảnh sát nói chuyện với bà gác tù, Diễm phá chút qui củ thông dịch, đưa tay bắt bàn tay mềm và ấm của Vân, chúc may mắn và an ủi vài câu. Vân tỏ ra cảm động. Cuối cùng, nghĩ tới mai mốt Vân lên máy bay về Việt nam, Diễm ái ngại hỏi:
“Liệu người lương thiện có sống được ở Việt nam không?”
Cô gái hỏi lại:“Nương thiện nà cái gì?” (Đàn Chim Việt.info, 24/11/11)
“Lương thiện là cái gì?” trong một chế độ mà mọi quyền cơ bản đều bị chà đạp, nhiều người đã mất hết mọi sự, ngay cả một chút lương thiện cũng không còn. Với họ, nguyên tắc đạo lý nền tảng “ở hiền gặp lành” mà người xưa truyền lại cũng chẳng còn có giá trị. Trong một xã hội vô cảm, càng ở hiền, tức càng cố gắng sống lương thiện, thì lại càng bị thua thiệt và mất mát. Đó là kinh nghiệm đau xót nhứt mà có lẽ nhiều người Việt nam ngày nay đang nếm trải. Có lẽ vì ở hiền mà chẳng gặp lành cho nên nhiều người cũng đành sống theo phương châm của một triết gia hiện sinh nào đó: “Trong một thế giới gian lận, ai không gian lận là đồ chó má.” Dại gì phải làm người lương thiện để chỉ chuốc lấy nghèo khổ và ngay cả tù đày.
Vậy thì sống lương thiện để được gì?
Tôi nhớ lại câu chuyện đã nghe từ thuở nhỏ: “Trong một chuyến vi hành, một ông vua nọ cho đặt một tảng đá lớn giữa đường và nấp vào một bụi cây bên đường để xem ai sẽ chuyển tảng đá đi hầu giúp cho sự đi lại của người khác không bị cản trở. Suốt cả buổi sáng, rất nhiều người qua lại trên con đường, nhưng tất cả đều tìm cách né tránh tảng đá để tiếp tục cuộc hành trình riêng của mình. Chẳng có ai nghĩ đến chuyện đẩy tảng đá sang bên lề để người đi sau không gặp chướng ngại.
Mãi đến trưa mới có một người dừng lại. Đó là một người nông dân đang vác trên vai một gánh nặng. Trông thấy tảng đá cản đường, ông lẳng lặng đặt gánh xuống và ra sức đẩy tảng đá sang một bên. Và người nông dân hết sức ngạc nhiên khi nhìn thấy bên dưới tảng đá có một cái túi. Mở túi ra, ông thấy cái túi đựng toàn những đồng tiền vàng và một mảnh giấy trên đó có giòng chữ: “Túi tiền vàng này là phần thưởng dành cho những ai dẹp được tảng đá này, vì đó là người nghĩ đến lợi ích chung.” (Francis Xavier, the World’s Best Inspiring Stories, Jaico Publishing house 2009)
Bài học đơn giản nhứt thường được thày cô của tôi rút ra là: bất cứ nghĩa cử nào cũng đều được một phần thưởng và dĩ nhiên, ai cũng được khuyến khích để làm nghĩa cử hầu được thưởng, “không được đời này thì cũng đời sau”. Tựu trung, những bài học rút ra từ câu chuyện đã không giúp tôi thoát khỏi cái ý niệm thông thường về sự công bằng được cô động trong nguyên tắc: “Tôi cho bạn là để bạn cho lại”. Người Việt nam diễn tả lẽ công bằng ấy bằng câu: “Có qua có lại mới toại lòng nhau”. Ở một mức độ nào đó, khi nguyên tắc này được triệt để áp dụng, thì nhân loại cũng đã được xem là tiến bộ lắm rồi. Trong nhiều trường hợp, quan hệ giữa các quốc gia cũng như giữa người với người có khi vẫn chưa thỏa mãn được đòi hỏi “có qua có lại” ấy. Xem mọi phục vụ như điều đương nhiên mà người khác phải làm cho mình hoặc chẳng bao giờ thấy được mình mang ơn người khác không phải là một thái độ hiếm có.Trong cuộc sống, không những chúng ta gặp nhiều kẻ vô ơn, ăn cháo đá bát hoặc có khi phải rơi vào một xã hội trong đó hai tiếng “cám ơn” đã trở thành một thứ “tử ngữ” mà lắm khi còn phải ngậm đắng nuối cay vì cái cảnh “làm ơn mà bị báo oán”. Việt nam mình đã chẳng nói một cách mỉa mai: “Cứu nhân nhân oán, cứu vật vật ơn” sao!
Nhân ngày Lễ Tạ Ơn của người Mỹ dạo cuối tháng 11 vừa qua, tôi đã làm một cuộc “xét mình” và nhận thấy mình đã “vô ơn” với rất nhiều người. Nghĩ như thế cho nên tôi cũng chẳng thấy mình có quyền trách móc ai về sự bội bạc của họ. Với tôi, “tình đời đen bạc” thường là một thách đố cho sự trưởng thành nhân cách. Tôi chỉ thực sự thấy mình là “người” hơn khi làm điều thiện, khi trao tặng “mà không để cho tay trái biết việc tay phải làm”. Tôi chỉ thực sự thấy mình lớn thêm trong nhân cách khi làm việc thiện một cách vô vị lợi, nghĩa là không “nhắm” đến mục đích lợi lộc cho đời này hay đời sau, cũng không vì sợ một sự “trừng phạt” nào ngoài tòa án của lương tâm và không chờ đợi một phần thưởng nào khác là thấy mình được tự do hơn: tự do khỏi tiền bạc, quyền lực và mọi thứ bã danh vọng hão huyền trong cuộc đời này.
“Thi ân bất cầu báo” có lẽ là một thách đố mới cho tôi để tôi luôn thức tỉnh hầu tránh xa nạn dịch “vô cảm”.