Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2022

Giải oan cho Thượng Đế

 

Chu Văn





Năm nào cũng vậy, những ngày trước lễ Phục Sinh của Kitô giáo, ra đường nhìn thiên hạ lũ lượt kéo nhau đi nghỉ, đến phố thị nghe ồn ào  nhộn nhịp hẳn ra, tự nhiên tôi cũng thấy vui. Cùng với niềm vui tự nhiên ấy, là một tín hữu Kitô, năm nào tôi cũng cố gắng tìm hiểu, đào sâu và sống sao cho phù hợp hơn với sứ điệp của lễ Phục Sinh.

Năm nay, các Giáo hội Tin Lành và Công giáo La mã mừng lễ Phục sinh vào ngày chủ nhựt 17 tháng Tư tới đây, trong khi đó ngày lễ lại được các Giáo hội Chính thống cũng như các cộng đồng tín hữu công giáo theo nghi lễ Đông Phương  cử hành vào một tuần lễ sau, tức ngày 24 tháng Tư. Nhưng dù có khác ngày và theo những nghi thức riêng, sứ điệp Phục Sinh, như được các vị lãnh đạo của Kitô giáo trên khắp thế giới dẫn giải vẫn là một. Đó là sứ điệp của Hòa Bình. Đó là sứ điệp của Tình Thương chiến thắng Hận Thù và những cái đuôi của Hận Thù là chiến tranh và chết chóc.

Trong bối cảnh của “chiến dịch quân sự đặc biệt” hay nói trắng ra là cuộc chiến xâm lược do Nga gây ra tại Ukraine, tôi đặc biệt chờ đợi “sứ điệp Phục Sinh” từ miệng của nhà lãnh đạo Giáo hội Chính thống Nga là Thượng phụ Kirill. Sở dĩ tôi chú ý đến nhà lãnh đạo tôn giáo này là bởi vì tiếng nói của ông chắc chắn đã ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc chiến xâm lược của Nga tại Ukraine.

Trong thời gian gần đây đã có rất nhiều người Nga xuống đường để phản đối cuộc chiến xâm lược do Vladimir Putin chủ xướng. Trong số những người phản đối cuộc chiến, người ta thấy có nhiều linh mục, giới trí thức và nghệ sĩ. Đã có hàng ngàn người bị bắt giữ vì tham gia các cuộc biểu tình. Tuy nhiên theo một cuộc thăm dò do hãng thăm dò độc lập duy nhứt tại Nga là Levada thực hiện, có đến hơn 80 phần trăm dân chúng Nga ủng hộ cuộc chiến tranh xâm lược do Putin phát động (1).

Dĩ nhiên, trong một chế độ độc tài như Nga, nơi mà hiện nay mọi thành phần bất đồng chính kiến cũng như các cơ quan truyền thông độc lập đều bị bịt miệng, những con số dường như cũng không còn “biết nói” nữa. Tuy nhiên, trình tự được chính Putin rêu rao trước khi mở cuộc chiến xâm lược vào Ukraine, cộng với những lời phát ra từ bục giảng của Thượng phụ Kirill, không cho phép tôi phớt lờ trước ảnh hưởng của nhà lãnh đạo tôn giáo này đối với nhận thức của người dân Nga về cuộc chiến hiện nay.

Trong nhiều tuần lễ qua, các nhà lãnh đạo tôn giáo trên khắp thế giới đã không ngừng van nài Thượng phụ Kirill lên tiếng chống lại cuộc chiến xâm lăng Ukraine do Putin điều động. Nhưng trong các bài giảng hằng tuần được truyền đi trên Đài Truyền Hình, dĩ nhiên của nhà nước Nga, vị thượng phụ này lúc nào cũng giữ nguyên một giọng: lúc nào ông cũng mặc cho cuộc chiến xâm lược của Putin một sứ mệnh cao cả là chiến đấu chống lại những sức mạnh của sự Dữ đang tìm cách hủy diệt sự hiệp nhứt mà Thượng Đế đã ban cho “Nước Nga Thánh Thiêng”.

Một ngày trước khi quân đội Nga tràn vào Ukraine, thượng phụ Kirill đã đăng đàn để ca ngợi các binh sĩ Nga như những người bảo vệ tổ quốc. Ông nói: “Họ (các binh sĩ Nga) không hề nghi ngờ rằng họ đã chọn một con đường rất đúng đắn trong cuộc sống của họ”. Rồi không đầy 2 tuần lễ sau khi quân đội Nga xâm chiếm lãnh thổ Ukraine, Thượng phụ Kirill biện hộ rằng cuộc xâm lược có một “ý nghĩa siêu hình” và cảnh cáo “đàn chiên” của ông rằng cái giá mà họ phải trả khi mở rộng vòng tay đón nhận văn minh tiêu thụ của thế giới Tây Phương và “tự do” mà thế giới này mang đến thật là khủng khiếp: đó là phải đứng ra tổ chức những cuộc diễu hành của những người đồng tính!

Trong một bài giảng hàng tuần khác để biện minh cho cuộc chiến xâm lược của Putin, Thượng phụ Kirill nói đến “sự thật của Thượng Đế”. Và theo “sự thật” đó thì người Nga, người Ukraine và người Belarus đều chung  chia  một gia sản tinh thần và dân tộc  cho nên cần phải được liên kết với nhau như một dân tộc. Đây chính là nội dung bài hiệu triệu  của Putin trước khi đưa quân sang xâm chiếm Ukraine (2). Với Putin và Kirill, xâm chiếm Ukraine, ngay cả bằng vô số tội ác chiến tranh và diệt chủng, biến quốc gia độc lập này thành một phần của Đại Nga là một nghĩa vụ thiêng liêng được chính Thượng Đế ủy thác!

Từ lâu Thượng phụ Kirill và Putin đã là 2 đồng minh rất thân cận với nhau. Họ gần gũi và đồng hóa với nhau như bóng với hình. Thượng phụ Kirill đã có lần mô tả 12 năm cầm quyền đầu tiên của Putin là “một phép lạ của Thượng Đế”. Về phần mình, Putin tiết lộ rằng chính thân phụ của Kirill, lúc làm một linh mục quản xứ tại một giáo xứ ở Leningrad đã rửa tội “chui” cho ông vào năm 1952. Hai người thường xuyên xuất hiện bên cạnh nhau trong những ngày lễ quan trọng, đặc biệt mỗi dịp lễ Phục Sinh, những lần thăm viếng các tu viện và hành hương đến những linh địa. Gắn kết với nhau hơn có lẽ là cái quá khứ KGB của cả hai. Putin đã từng là một điệp viên KGB. Còn Kirill, theo một số tài liệu trong Văn khố Nga, cũng đã từng là một điệp viên KGB trước khi xuất gia vào tu viện. Dạo đầu tháng Ba vừa qua, báo The Guardian của Nga có phỏng vấn một số người Ukraine. Được hỏi ý kiến về Thượng phụ Kirill, một số đã dựa vào Văn khố Nga để khẳng định rằng ông ta đã từng là một điệp viên  KGB và chính vì quá khứ này mà ông đã ủng hộ cuộc chiến xâm lược của Putin tại Ukraine (3).

Trong những năm gần đây, Putin ngày càng tỏ ra mình là một tín hữu rất “đạo đức”. Ông đeo trên cổ một sợ giây chuyền có gắn một cây thánh giá bằng bạc. Ông hôn kính các tượng ảnh. Đáng chú ý nhứt là lần ông để mình trần trầm người xuống một hồ nước lạnh trước các ống kính truyền hình. Theo Chính Thống giáo, đây là nghi thức qua đó một nam tín hữu bày tỏ sự trưởng thành và nam tính của mình trong ngày lễ Hiển Linh (tức lễ Ba Vua).

Putin là một tín hữu thuần thành hay là một ma đầu chính trị? Với vô số tội ác đã từng xảy ra tại Nga cũng như ngay cả ở hải ngoại và nhứt là những  tội ác chiến tranh đã và đang diễn ra tại Ukraine trong hơn một tháng qua, tôi không tin rằng Putin là tín đồ của bất cứ tôn giáo nào.

Còn ông giáo chủ Kirill, mỗi lần nhìn ông giương cây trượng dát vàng lên để giảng dạy, tôi không nhìn thấy thánh giá của Chúa Giêsu đâu cả, mà chỉ là lưỡi lê của cuồng vọng và hận thù, nhứt là khi nhìn thấy vô số tội ác do Putin đã và đang gây ra tại Ukraine, ông vẫn có thể muối mặt để cổ võ các binh sĩ tiếp tục tham gia vào tội ác, vì Nga là một “nước yêu chuộng hòa bình” (4).

Nhìn Thượng phụ Kirill múa gậy của bạo lực để tôn vinh Thượng Đế, tôi không thể không liên tưởng đến câu thần chú “Allahu Akbar” (Thượng Đế Vĩ Đại) được một số lãnh tụ Hồi giáo và những kẻ khủng bố hô lớn để sát hại những người vô tội.

Tội nghiệp Thượng Đế! Cứ bị người ta nhân danh để làm điều ác. Ngay cả một người nhân ái và từ bi như Đức Phật cũng cùng chung một số phận. Có một dạo thế giới nói đến rất nhiều về một nhà sư Miến Điện tên là Wirathu. Ông không ngần ngại tự nhận mình là một “Osama Bin Laden” của Miến Điện. Lãnh đạo một cộng đồng tu sĩ với hơn 2500 tăng sĩ, Wirathu đã qui tụ được hàng trăm ngàn khán thính giả qua các bài thuyết giảng của ông được truyền đi trên Facebook và YouTube. Nội dung của các bài thuyết pháp của nhà sư này lúc nào cũng xoay quanh sự thù hận đối với người Hồi Giáo, đặc biệt là người Hồi giáo thuộc sắc tộc Rohingya. Sự khích động của nhà sư Wirathu đã khiến cho hàng trăm người Rohingya bị giết chết và trên cả trăm ngàn người phải đi lánh nạn (5). Tạp chí Time đã có lý để gọi nhà sư này là “bộ mặt khủng bố của Phật Giáo”.

Nhìn chung, hình như lịch sử của bất cứ một tôn giáo có tổ chức nào cũng có những trang đẫm máu. Không bị bách hại vì niềm tin hay đạo pháp thì cũng nhân danh niềm tin hay đạo pháp để bách hại người khác.

Lịch sử của Kitô giáo của tôi đầy những trang như thế. Mỗi dịp lễ Phục Sinh, tôi thường nhìn lại những trang sử đó. Gần đây, tôi hay bị dằn xóc vì một câu chuyện trong Kinh Thánh mà Giáo Hội cho tôi nghe trong Đêm Vọng Phục Sinh. Đó là câu chuyện về cuộc xuất hành của người Do Thái ra khỏi kiếp nô lệ bên Ai Cập. Theo câu chuyện, để tạo sức ép buộc vua Pharaoh của Ai Cập phải để cho người Do Thái được tự do ra đi, Thượng Đế đã giáng xuống đất nước này không biết bao nhiêu tai họa. Nhưng vua Pharaoh vẫn cứ cứng lòng. Cuối cùng, trong đêm tối, Thượng Đế đã sai sứ thần xuống giết chết  tất cả các con trai đầu lòng của người Ai Cập và với quyền lực của Ngài, người Do Thái đã vượt qua được Biển Đỏ mà vẫn “ráo chân” (Sách Xuất Hành 12,29-42). Người Do Thái xem đây là một biến cố lịch sử. Kitô giáo xem câu chuyện như Lời Chúa. Vì là Lời Chúa cho nên sau khi lắng nghe câu chuyện, cộng đồng tín hữu đã cùng hòa tiếng trong ca khúc khải hoàn để chúc tụng Thượng Đế vì đã thực hiện một kỳ công vĩ đại như thế.

Mỗi năm, khi nghe lại câu chuyện Xuất Hành của người Do Thái, tôi hay nghĩ vẩn nghĩ  vơ: liệu có một Thượng Đế, vì chọn một dân tộc làm dân riêng mà tàn sát những đứa trẻ vô tội của một dân tộc khác không? Tôi sợ phải tuyên xưng một Thượng Đế như thế và dĩ nhiên tôi lại càng sợ hơn khi có người tự xưng mình là người được Thượng Đế “tuyển chọn” và được vô số người tung hô và sùng bái. Với tôi, thực tế là một trái ngược: con người đã “tuyển chọn” Thượng Đế theo ý muốn của họ.

Lễ Phục Sinh, Giáo Hội của tôi mời gọi tôi tuyên xưng rằng Chúa Giêsu đã thực sự sống lại. Trong suốt hơn 70 năm của cuộc hành trình đức tin, tôi chưa một lần “thấy” hay cảm nhận được Chúa Phục Sinh. Điều tôi chỉ có thể thấy được đó là Thập Giá và trên Thập Giá Ngài đã tha thứ cho những kẻ đã đóng đinh Ngài. Với cái chết trên Thập Giá, Ngài muốn chứng tỏ rằng chỉ có tình yêu, sự khoan nhượng, tấm lòng cảm thông và nhứt là sự tha thứ mới có thể chiến thắng được hận thù. Có lẽ đó mới thực sự là ý nghĩa của Phục Sinh. Với cái chết trên Thập Giá, Chúa Giêsu đã muốn giải oan cho Thượng Đế, bởi lẽ Thiên Chúa là Tình Yêu. Vì vậy, tôi tin rằng chỉ có những ai, ngay cả những kẻ tự xưng là vô thần, biết sống yêu thương mới thực sự cảm nhận được sự hiện hữu của Thượng Đế và giải oan cho Thượng Đế vì vô số tội ác mà con người đã gán cho Ngài hay nhân danh Ngài để thực hiện.

 

Chu Văn

 

 

 

Chú thích

1. Who are the everyday Russians rallying behind Putin’s war? https://www.aljazeera.com/news/2022/4/6/the-russians-who-rally-behind-putins-special-operation

2. Deborah Netburn, A spiritual defense of the war in Ukraine? Putin’s patriarch is trying, https://www.latimes.com/world-nation/story/2022-03-29/russian-orthodox-patriarch-offers-a-spiritual-defense-of-the-war-in-ukraine

3. Patriarch Kirill of Moscow, wikipedia

4. Patriarch urges soldiers to defend “peace-loving” Russia amid Ukraine campaign https://www.reuters.com/world/europe/patriarch-urges-soldiers-defend-peace-loving-russia-amid-ukraine-campaign-2022-04-03/

5. Buddist monk uses racism and rumours to spread hatred in Burma https://www.theguardian.com/world/2013/apr/18/buddhist-monk-spreads-hatred-burma

 

Thứ Tư, 6 tháng 4, 2022

Những ván cờ

 Thi Văn 




Tôi không biết chơi cờ vua. Thế nhưng mỗi lần đi chợ ở phố Việt hay phố Tàu, tôi thích nhìn cảnh người ta tụ tập quanh bàn cờ. Tôi tin đây là một trong những sinh hoạt đặc trưng ở những khu phố Á Đông ở nước Úc. 

Mù tịt về chơi cờ. Với tôi, các quân cờ chỉ khác nhau giữa trắng và đen, còn lại thì lô nhô như những con dấu. Vì vậy dưới con mắt của tôi, chẳng con nào quan trọng hơn con nào. Tôi thích quan sát cảnh chơi cờ chỉ vì tôi thích nhìn những biến chuyển của mỗi con người chung quanh bàn cờ. Nhìn họ tôi có thể đoán được diễn tiến thắng thua qua thái độ của họ.

Trước hết, với hai kỳ thủ, tôi có thể thấy họ hết sức nghiêm túc và tập trung ngay khi ván cờ vừa bắt đầu. Với họ, kể từ phút ấy, mọi sự trên đời không có gì là quan trọng nữa. Khuôn mặt của họ chỉ có sự tập trung và tinh thần quyết thắng. Bằng mọi giá, phải giữ được quân Vương. Tất cả mọi quân cờ khác có thể bị ra rìa nhưng quân Vương vẫn phải trụ được trên bàn cờ. Như vậy họ mới có thể chiến thắng.

Những người chung quanh cũng thường chia làm hai phe. Họ cũng nín thở theo dõi sự di chuyển của những quân cờ và đôi khi không kiềm được sự tán thưởng trước những nước cờ cao. Nước cờ càng cao, mồ hôi càng tuôn. 

Khi ván cờ kết thúc, họ chia nhau những lời khen chê bàn luận. Và lại bày những bàn cờ khác. Những quân cờ lại được đặt vào vị trí. Tiếp tục vai trò của mình. Một bàn cờ với đầy đủ quân cờ tôi thấy dễ thương hơn một bàn cờ cuối mùa. Chúng trông thật thảm hại với vài con chơ vơ trên bàn cờ. Có khi tôi tự hỏi: các kỳ thủ có cảm nghĩ gì không khi họ loại một quân cờ. Trong sự tưởng tượng của tôi, tôi tin là chúng cũng buồn khi bị loại.

Nhiều năm qua tôi thường tự hỏi tại sao tôi bị mất nước một cách đau đớn "khi Đồng Minh tháo chạy". Người thì bảo tại vì chính phủ Miền Nam VN thối nát, tham nhũng. Tôi tin là có nhưng nếu so với chính phủ VN hiện nay thì sao? Tệ hơn ngàn lần, nhưng chẳng ai lung lay được. Người thì bảo phong trào phản chiến ở Hoa Kỳ khiến chính phủ Mỹ phải rút quân. Tôi cũng tin như vậy vì với hơn 50 ngàn quân nhân tử trận, người dân Mỹ có quyền đau xót. Thế nhưng tại sao phải rút luôn cả việc viện trợ quân sự? Thế giới tự do đã chẳng từng cho rằng Miền Nam VN là tuyến đầu chống cộng cho cả vùng Đông Nam Á đó sao? Vì cảm thấy bị phản bội, cha tôi đã từ chối định cư ở Mỹ. Ông tin đã là đồng minh thì muôn đời là đồng minh.

Tôi ngây thơ mà cha tôi cũng ngây thơ. Tôi tiếc rằng cha tôi đã không sống cho đến ngày tôi thấm thía được cái "chân lý" của những người làm chính trị: "Không có bạn bè vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có quyền lợi quốc gia là vĩnh viễn" (Winston Churchill). Tôi thấy đau thật là đau vì "đến khi tôi hiểu thì tôi đã..." mất nước!

Thêm vào đó, khi nghe tổng thống Volodymyr Zelensky của Ukraine phát biểu: "Tôi không bao giờ muốn Ukraine trở thành một cái mảng trên bàn cờ thế giới để cho những tay chơi hạng gộc đẩy qua đẩy lại, hay dùng như một tấm bình phong, hoặc như một phần trong sự mặc cả" (1), tôi càng hiểu thêm rằng VN thân yêu của tôi chỉ là một quân cờ trên bàn cờ thế giới. Bàn cờ mà những tay chơi là những cường quốc. Và con chốt VN đã bị cho ra rìa, bị bức tử. VN trở thành con chốt thí.

Bàn cờ thế giới xoay chuyển không hiền lành như ván cờ nơi cuối phố, nơi mà người ta chỉ hao tốn mồ hôi và thời gian. Nơi đó, mỗi quân bài là một quốc gia, một dân tộc hoặc một nhóm người. Nơi đó, mỗi quân bài là cả một tập thể với cả một chiều dài lịch sử, gắn bó trên một vùng đất, một không gian. Nơi đó, khi một quân bài bị loại, là cả một dân tộc, một quốc gia phải giãy chết. Hãy nhìn cuộc chiến Ukraine đang xảy ra. Bạn sẽ thấy cái thống khổ của cả một dân tộc. Ukraine đang chiến đấu trong chết chóc, đau đớn và tuyệt vọng để tồn tại trong ván cờ. Ván cờ máu! Ván cờ mà Putin đã không ngần ngại tiêu diệt tất cả, từ nhân mạng đến tài sản. Giống như trên ván cờ, tất cả có thể bị loại. Cho dù “quân địch chết ba quân ta chết hết”. Miễn sao quân Vương vẫn trụ lại. Đúng là như Nguyễn Du đã viết "phơi thây trăm họ nên công một người". Công hay Tội?



Zelensky trong diễn văn nhậm chức của mình vào năm 2019 đã khẳng định: "Mỗi chúng ta (người dân Ukaine) là một tổng thống...và đây cũng là cơ hội mà chúng ta gánh vác chung trách nhiệm". (2).

Hãy làm tổng thống như Zelensky!

Thi Văn 6/4/2022 

Chú thích:

(1) https://www.politico.eu/article/zelenskiy-airs-his-grievances-with-trump/

(2) https://vnexpress.net/bai-phat-bieu-nham-chuc-gay-chu-y-cua-tan-tong-thong-ukraine-3928444.html

Thứ Tư, 30 tháng 3, 2022

Tôi và Trịnh

 





Thi Văn






Tôi vừa nhận được tin nhắn của con trai: Phim "Em và Trịnh" sẽ được trình chiếu trong năm nay 2022. Nghĩ cũng thấy vui vui. Khi con còn nhỏ, tôi cố duy trì tiếng Việt cho các con cực khổ như đạp xe lên dốc. Bây giờ, tin tức gì về Việt nam thì con tôi biết trước và báo cho tôi.

Thế nhưng, có cái gì đó nằng nặng trong ngực tôi. Đã lâu lắm rồi, tôi không còn nghe nhạc Trịnh Công Sơn nữa dù rằng tôi luôn có trong đầu một cuộn băng mở sẵn những bài hát quen thuộc của ông. 

Tôi đã từng rung động, say mê nghe hoài không chán những bản tình ca của ông. Những ngày mới tập làm người ty nạn, mỗi lần nghe bài "Em còn nhớ hay em đã quên" là nước mắt tự động rơi. Nhạc phản chiến của ông cũng nói dùm tôi những phẫn nộ và đau khổ trong trái tim ngây thơ của tôi khi nhìn thấy những hình ảnh khốn khổ của chiến tranh. Nói chung, ông là một nghệ sĩ thành công, rất thành công. 

Trong nhiều năm sau này, có một điều gì đó khiến tôi không còn hòa cảm được với những lời thơ những giòng nhạc đơn sơ nhưng độc đáo của ông. "Rằng hay thì thật là hay...". Đây là điều không đúng với tôi. Tôi thường thích thưởng thức nghệ thuật mà không cần thắc mắc về tác giả. Họ là ai, thích gì, ghét gì, chính kiến thế nào, nhân sinh quan ra sao. Với tôi, không là vấn đề. Hay là hay! Cho nên cái cảm giác "mất cảm giác" với "nhạc họ Trịnh" bắt buộc tôi phải đi tìm câu trả lời cho chính mình. 

Trịnh Công Sơn, vào ngày 30/4/1975, đã lên Đài Phát Thanh Sài Gòn hát bài "Nối Vòng Tay Lớn" và kêu gọi mọi người dân Miền Nam, nhất là anh chị em nghệ sĩ "hãy vui mừng và hợp tác với chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam. Những kẻ đã ra đi chúng ta xem như là đã phản bội đất nước!" (1). Điều này không làm giảm đi sự yêu mến "nhạc họ Trịnh" của tôi. Có thể lúc đó ông nghĩ như nhiều người, cộng sản là tốt. 

Tôi vẫn chưa có câu trả lời. Tôi tiếp tục đi tìm. Tài liệu về một người nổi tiếng như ông nhiều không vô kể. Ông được ca ngợi bằng tất cả những lời hay đẹp mà người ta có thể nghĩ ra. Đáng kể nhất có thể kể như: một người viết ca khúc thiên tài, một con người nhân bản, sống thật với chính mình, rung động trước nghịch cảnh chiến tranh, lên án chiến tranh...và là một hiện tượng. Trong rừng mỹ từ mà người ta dành cho ông, hôm nay, tôi tìm được một dòng ngắn: "Năm 1968, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã gặp bộ đội cụ Hồ trong 26 ngày đêm Cách mạng giải phóng Huế" (2).

Bây giờ thì tôi hiểu là cái linh tính của tôi nó đã "thấy" trước cái điều mà tôi  không giải thích được. Trịnh Công Sơn "của tôi" đã là một chứng nhân sống của "vành khăn sô cho Huế". 

Ông đã chọn bên ngay từ đầu và nhạc của ông cũng có mục đích chính trị. Ông không "vô tư" như tôi tưởng. Là hậu duệ của những người di cư chạy trốn Cộng sản 1954, tôi hiểu nỗi khổ đau cay đắng của cha mẹ tôi khi phải bỏ lại tất cả để di cư vào nam. Ông bà đã phải làm lại từ đầu, hy sinh thật nhiều để tôi có một tuổi thơ tốt đẹp dù trong một đất nước chiến tranh. Rồi chính vì tương lai con cái, ông bà lại một lần nữa dắt tôi bỏ nước ra đi. Tôi là nạn nhân của cộng sản.

Tôi mong rằng những thế hệ sau tôi sẽ thưởng thức nhạc Trịnh Công Sơn một cách hồn nhiên hơn, vô tư hơn. Tiếc rằng tôi thì mãi mãi không thể. Những bài hát của ông gợi lại tất cả những giai đoạn đau buồn của đất nước và nhất là của những người đàn bà già trẻ lớn nhỏ mà tôi là một. Chúng tôi, kể từ sau ngày Trịnh Công Sơn hát bài "Nối Vòng Tay Lớn", đã phải già đi trước tuổi, phải chia nhau những cảnh nghèo, những đảo lộn, những cay đắng, những giọt nước mắt, những thất bại, những thua thiệt trong âm thầm, bất lực và đau khổ. Cuộc đời của chúng tôi không là thơ, cũng chẳng là mơ, mà chỉ là những tiếng thở…dài. Tại sao ông đã không hát những điều đó lên giùm chúng tôi?? Tại sao ông "hát cho người nằm xuống" mà không hát cho những con người còn sống nhưng không được quyền sống như ý nguyện??

Ngày mai, 1/4/2022 là ngày giỗ 21 năm của Trịnh Công Sơn. Những dòng này coi như là một lần chia tay. Thẳng thắn và sòng phẳng.

Trịnh Công Sơn ơi, ông đã hát "Đại bác đêm đêm dội về thành phố người phu quét đường dừng chổi đứng nghe...". Nghe có vẻ trung thực và đơn giản. "Đại bác nghe quen như câu dạo buồn". Nghe như chuyện tuy buồn nhưng chỉ là chuyện "thường ngày ở huyện". Tất cả những gì ông diễn tả là sự thật. Nhưng tiếc thay chỉ là một nửa. Cái nửa kia của sự thật tôi thiết nghĩ ông đã tự biết rất rõ từ bao nhiêu năm trước và sau cái ngày thống nhất mà ông đã vui mừng. Cái thống nhất chưa bao giờ thống nhất. 

Người nước nào cũng hãnh diện khi có những thiên tài. Việt nam ta cũng vậy. Người ta thường cho rằng hiền tài thì dễ kiếm chứ thiên tài thì hiếm. 

Tôi rất mừng cho Ukraine, trong cuộc chiến này, họ không có một thiên tài Trịnh Công Sơn nhưng có một hiền tài Zelensky. 

Thi Văn 31/3/2022


Chú Thích:

1) https://tienphong.vn/nhac-sy-trinh-cong-son-lam-gi-ngay-30-4-post624519.tpo#:~:text=Ng%C3%A0y%2030%2F4%2F1975%2C,khi%20ch%E1%BA%A5m%20d%E1%BB%A9t%20chi%E1%BA%BFn%20tranh.

(2) https://cadn.com.vn/nhac-si-trinh-cong-son-sau-ngay-dat-nuoc-thong-nhat-post224053.html


Thứ Tư, 23 tháng 3, 2022

Những vòng tay ôm

 Thi Văn




Cuối cùng thì tôi cũng ôm được các con của tôi sau đúng 2 năm, khi những biện pháp chống dịch được nới lỏng.

Thật tình mà nói, trừ "người bạn cùng giường" ra thì, như những người Á Đông khác, tôi ít tỏ bày tình cảm với người khác bằng những cử chỉ thân mật như ôm hôn. Tôi thường cho rằng những ân cần, lo lắng, chăm sóc hết lòng...là cách "tỏ tình" tốt nhất cho tất cả mọi trường hợp. Ngay chính với mẹ tôi, tôi không còn nhớ là từ lúc nào, tôi đã không còn đòi bà ôm tôi hay tôi ôm bà. Ngay cả lúc tôi từ giã bà lên thuyền vượt biển, một lần đi mà tôi tin rằng khó có ngày gặp lại. Bà nhìn tôi và tôi nhìn bà, nước mắt cứ chảy, chân cứ rời xa mà tay không nghĩ đến ngay cả một cái đụng nhẹ trong bóng nhá nhem của một ngày mới. Cứ như vậy, tôi vội vã bước đi theo lời thúc giục của bà mà không thấy có nhu cầu cho một cái ôm như lời vĩnh biệt.

Bước vào đời sống xã hội ở Úc, tôi cảm thấy chuyện ôm như một cách chào hỏi trở nên "bừa bãi". Tôi thấy mình cứng nhắc và gượng gạo để có những cái "ôm xã giao". Tôi không thích vì tôi có thể cảm được đó là những cái ôm trống rỗng. Giống như ôm không khí, một không khí có mùi và nặng. 

Khi các con tôi bước vào tuổi niên thiếu và không còn nhu cầu cho những ôm hôn, tôi cũng không còn những cử chỉ ấy mà cũng không thấy đó là một thiếu thốn trong quan hệ với các con. Tình thương của tôi dành cho các con lúc nào cũng dư để chúng có thể cảm nhận. 

Chỉ sau khi các con rời nhà để có cuộc sống riêng thì mỗi lần về thăm, tôi ôm các con hai lần: lúc con về và lúc con từ giã. Lúc đó, tôi bắt đầu cảm thấy, với người thân, ôm và được ôm là một cảm nhận khác của hạnh phúc. Một niềm vui.

Thế rồi đại dịch Covid 19 tới, tôi vẫn nhớ lần cuối cùng chúng tôi ôm nhau từ giã sau một bữa ăn gia đình tổ chức vội vàng ngay trước ngày áp dụng biện pháp giãn cách xã hội. Rồi khẩu trang, rồi ngăn vùng. Tôi chỉ còn nhìn thấy các con qua mạng. Những ngày tháng ấy làm cho tôi thấm thía giá trị của những vòng tay. Cả một cộng đồng nhân loại không còn được bày tỏ sự thân thiện, tin tưởng nhau như trước. Người ta không còn ôm nhau, không còn bắt tay nhau, không còn ngồi chung với nhau, không còn chia nhau một bữa ăn và cũng không còn thấy mặt nhau. Đi gần ai cũng tự hỏi, người này có đang dính Covid 19  không. Lỡ đụng cái gì không thuộc về mình thì rửa tay mệt nghỉ. Những ai có thú cưng thì còn có gì để ôm. Những người độc thân, và nhất là những người độc thân tại chỗ thì chỉ có nước ôm người thân trong mộng. Những người ở chung một nhà cũng không còn cái bầu khí thân thiện, gần gũi như trước. Mỗi người thành một ốc đảo. Nhìn những phản ứng của mọi người, tôi tự hỏi, phải chăng sự hoài nghi, lo lắng, cộng thêm những tin thất thiệt, tin giả, "giải ảo", thuyết âm mưu...đã có đất tung hoành ngang dọc trên khắp thế giới vì chúng ta đã không còn những đụng chạm thể lý mà chúng ta từng làm trước đây. Phải chăng khi đụng chạm nhau qua cái bắt tay, ôm hôn xã giao, dù như cái máy, cũng làm cho bộ não tiết ra sự tin tưởng và thân thiện để nối kết "chúng sinh" lại với nhau. 



Gần đây, khi nhìn những người dân Ukraine ôm hôn nhau từ biệt để người ra chiến trường, người đi lánh nạn, tôi mới nhìn thấy rõ giá trị và sức mạnh của những vòng tay ôm. Nhìn những người vợ trẻ ôm con thơ cố gắng kéo dài cái khoảnh khắc từ giã người bạn đời mới đẹp làm sao. Người ta có thể thấy tất cả cái đẹp, cái sâu đậm trong đó: tình yêu gia đình và đất nước, sức sống của một dân tộc, sự can trường và can đảm của mỗi con người, sự tha thiết, cuồng nhiệt, và đương nhiên cả đau khổ và bất lực. Tôi cũng bị rung động vì hình ảnh của những em bé chạy nạn tay ôm chặt con thú nhồi bông. Tôi không biết em bảo vệ thú hay thú bảo vệ em. Dễ thương làm sao! Dù chỉ là thú nhồi bông, tôi tin chúng là thiên thần bản mệnh của các em. Đồng hành với các em trên những con đường khói lửa. Tôi lại nghĩ, nếu những trẻ em Việt nam trong cuộc di tản 1975 mà kịp mang theo những món đồ chơi thân thương của các em thì chắc là sẽ thấy an ủi hơn. Những tấm hình ngày đó cho thấy các em không có quyền mang gì ngoại trừ tấm thân gầy gò của mình, chiến tranh đã lột sạch tất cả những nhỏ nhoi còn sót lại của nhiều thế hệ trẻ Việt nam.




Bây giờ thì tôi tin rằng một trong những lý do người Ukraine vẫn còn kiên cường chưa bị khuất phục là nhờ vào những vòng tay ôm mà họ đã trao cho nhau. Tôi bị thuyết phục bởi tình yêu và sự nhiệt huyết của dân tộc Ukraine. Và tôi tin vào sức mạnh của những vòng tay ôm. 
Hãy ôm ấp đời sống, 
Vì 
"Ôm và hôn diễn tả được những điều mà lời nói không thể!" (Kacie Conroy)

Thi Văn 23/3/2022


Thứ Tư, 16 tháng 3, 2022

Thế giới nhìn từ một xóm nhỏ



 



Chu Văn

Cái xóm nhỏ của tôi gồm có 16 nóc nhà tọa lạc trên một ngõ cụt. Ngoại trừ 2 gia đình trẻ có con còn trong tuổi cắp sách đến trường, hầu hết đều trong tình trạng mà người Úc gọi là “tổ trống” (empty nest). Nằm cách trục lộ giao thông chính, phía sau lại tựa lưng vào một dãy núi thuộc lâm viên quốc gia cho nên cái xóm nhỏ của tôi rất yên ắng. Không bị ô nhiễm về âm thanh đã đành, cư dân trong xóm của tôi cũng rất hiếu hòa. Tôi chưa từng nghe có tiếng cãi cọ, gấu ó nào vang ra từ bất cứ gia đình nào. Nhưng gần đây, đất bằng lại dậy sóng. Và sóng gió lại nổi lên từ nóc nhà của người đàn bà mà tôi thường gọi là bà Tàu. Bà đã từng sống trong một khu phố giàu gần Sydney. Nhưng sau khi ly dị ông chồng người Úc nghiện ngập cờ bạc và rượu chè, bà dắt hai cậu con trai về cái xóm nhỏ của chúng tôi. Cả hai đều đã bước vào đại học, nhưng sống rất âm thầm và kín đáo.

Trong những năm đầu mới dọn về đây, bà Tàu sống rất cởi mở và chan hòa với mọi người trong xóm. Nhưng không rõ do đâu, sức khỏe của bà ngày càng sa sút. Thị lực ngày càng giảm. Sự giao tiếp của bà với người hàng xóm cũng ngày càng thưa thớt và dĩ nhiên, sự tương tác của bà với người xung quanh cũng ngày càng chua chát và gay gắt. Lúc đầu bà chỉ  trút hết cơn giận dữ và những lời thóa mạ lên ông phát thơ, vì ông cứ tỉnh bơ cho chiếc xe gắn máy của ông cày xéo trên thảm cỏ trước nhà bà. Kế đó là những người hàng xóm nào vô tình để cho các cô cậu chó của mình phóng uế bừa bãi trên thảm cỏ đó. Tiếng Anh ăn đong của tôi chưa đủ để hiểu hết sự cộc cằn và thô tục trong những tràng chửi rủa của người đàn bà gốc Hong Kong và có chồng Úc này, nhưng phải nói đó là những lời lẽ có sức khơi dậy một cơn phẫn nộ khủng khiếp nơi những người hàng xóm của tôi.

Mắt mũi ngày càng yếu kém, bà Tàu ngày càng nghi ngờ tất cả mọi người và giam mình vào cô đơn. Gần đây, được nhìn nhận như một người mù (legally blind), bà Tàu được chính phủ cho người tới giúp đỡ trong mọi sinh hoạt hàng ngày, từ cắt cỏ, dọn rác, đi chợ, nấu ăn và dọn dẹp trong nhà. Hai cậu con trai, từ ngày ra trường và đi làm ăn ở xa, không bao giờ về thăm mẹ. Bà Tàu lại lủi thủi trong nhà suốt ngày. Có lúc tôi cứ tưởng bà được đưa vào một viện dưỡng lão hoặc ngay cả không chừng đã yên nghỉ ở một nơi nào đó không chừng. Cư dân trong cái xóm nhỏ của tôi chỉ biết bà vẫn còn hiện hữu nhờ vào những lúc bà chửi đổng. Đúng là “tôi chửi, vậy tôi hiện hữu”! Cứ năm ba bữa một lần, bà Tàu hé cánh cửa sổ trước nhà, hướng ra đường và chửi. Cũng có điều lạ: ai cũng là kẻ thù của bà cả, ngoại trừ gia đình tôi. Bà nói chuyện rất lịch sự và vui vẻ với chúng tôi. Lễ tết đều gọi sang chúc mừng. Nhưng cách đây 2 tuần, khi nhịp độ chửi đổng của bà gia tăng, nhà tôi gọi điện thoại sang khuyên nhủ và giải thích rằng mọi người trong xóm đều là những người tốt hết. Thế là bà liền đưa ra một loạt các “thuyết âm mưu” cho từng người hàng xóm để biện minh cho hành vi của mình. Cuối cùng bà nổi cơn tam bành vì cho rằng chúng tôi cũng đứng về “phía kẻ thù” để chống bà. Chúng tôi là những người cuối cùng trong xóm trở thành kẻ thù của bà. Mỗi lần nghe bà chửi, mọi người trong xóm tôi đều ngao ngán lắc đầu: “Bà ta bị bệnh tâm thần” rồi!

Tuy không phải là một chuyên gia tâm lý, nhưng tôi tin rằng tôi không chẩn đoán sai khi bảo rằng bà Tàu đang mắc chứng hoang tưởng, vì bà nhìn đâu cũng nghi ngờ, cũng thấy kẻ thù. Cái xóm nhỏ của tôi sẽ yên hàn biết chừng nào nếu không có một người hoang tưởng như bà Tàu! Cũng may không ai trong xóm tôi tin những cáo buộc hoang tưởng mà bà gán cho người khác. Không thì chắc “hòa bình” sẽ bỏ xóm tôi mà đi.

Từ cái xóm nhỏ tôi nhìn ra ngôi làng lớn là thế giới ngày nay và cũng nhận ra rằng ngôi làng lớn này có bất ổn và ngay cả trở thành một nơi ngày càng nguy hiểm để sống là bởi vì thời nào cũng có những con người hoang tưởng do thời thế đưa lên vị trí lãnh đạo. Tất cả các bạo chúa trong lịch sử nhân loại đều là những kẻ hoang tưởng. Từ Tần Thủy Hoàng, Nero đến Stalin, Hitler, Mao Trạch Đông, Pol Pot và ngay cả Hồ Chí Minh...nhân loại có khốn khổ là bởi đã có những con người hoang tưởng như thế. Ngày nay, ngay giờ phút này đây, hiện thế giới đang khốn đốn vì một bạo chúa hoang tưởng có lẽ còn khủng khiếp hơn nhiều.



Khi Vladimir Putin đưa vũ khí hạt nhân ra đe dọa, tôi không nghĩ đó là một lời đe dọa suông. Đã hoang tưởng lại bị dồn vào chân tường, con người này sẽ không từ bất cứ một phương tiện nào miễn là không tỏ ra mình là kẻ thua cuộc. Ông ta đã từng sử dụng vũ khí sinh học để đầu độc kẻ thù của ông tại Salisbury, Anh Quốc. Ông cũng đã sử dụng vũ khí nguyên tử để tiêu diệt Alexander Litvinenko, một cựu nhân viên KSB, người đã dám lên tiếng chỉ trích ông, cũng tại Anh Quốc.

Hiện Putin đang giống như một con chuột bị dồn vào chân tường. Hình ảnh con chuột bị dồn vào chân tường đã được chính ông sử dụng để nói về một kinh nghiệm của tuổi thơ. Putin lớn lên trong một khu phố nghèo ở St Peterburg. Đây là một khu phố đầy tội phạm và chuột. Năm 2000, ông chia sẻ về tuổi thơ của mình: “Lối vào chung cư đầy chuột. Các bạn tôi và tôi dùng gậy gộc để xua đuổi chúng. Lần nọ, tôi nhìn thấy một con chuột cống bự. Tôi đã rượt theo nó cho đến khi dồn nó vào một chân tường. Nó không còn lối thoát nào. Thình lình nó nhảy vào người tôi. Tôi ngạc nhiên và lo sợ. Bây giờ chính con chuột là kẻ săn đuổi tôi. Nó nhảy lên nhảy xuống trên các bậc thang. Cũng may, tôi nhanh tay hơn cho nên đóng sầm cửa vào mũi nó”.

Ngày nay có thể Putin thấy mình cũng giống như con chuột bị dồn vào chân tường đó (1). Nhưng vì hoang tưởng ông không muốn và cũng không thể chấp nhận thực tế đó. Nếu như trong tự điển của Nã Phá Luân không có từ “Không thể” (impossible) thì trong đầu của Putin, hai tiếng “thất bại” và “thua cuộc” cũng không bao giờ được nghĩ tới, mặc dù cuộc xâm lăng Ukraine đã cho thấy rốt cuộc, con người mà một Donald Trump của Mỹ đã bái phục và xưng tụng như một “thiên tài” (genius) và là người có óc phán đoán chín chắn (savvy) chỉ là một “ông vua ở truồng” hoang tưởng, cô đơn và ngày đêm sống trong sợ hãi.

Trạng thái hoang tưởng của Putin có lẽ đã hiển hiện qua chính những cái bàn dài hơn 5 thước thường được ông dùng để tiếp các nhà lãnh đạo nước ngoài cũng như hội họp với bộ sậu của ông. Để mình trần cỡi ngựa, bắn cung, câu cá, đánh vật...Putin lúc nào cũng muốn tỏ ra mình là một con người dũng mạnh, nhưng lúc nào cũng sống trong cô đơn và sợ hãi. Sợ Covid-19 đã đành, ông cũng sợ tất cả mọi người, ngay cả những cận thần trung thành nhứt như ngoại trưởng Sergei Lavrov, các tướng lãnh, hội đồng an ninh quốc gia (2).

Hoang tưởng và bị dồn vào chân tường, Putin có thể làm bất cứ điều gì để tỏ ra mình không bao giờ là một kẻ yếu nhược phải thua cuộc. Cuộc chiến ở Ukraine không chỉ cho thấy cảnh máu đổ thịt rơi của một dân tộc, mà còn là một mối đe dọa về một hiểm họa khủng khiếp có thể xảy ra bất cứ lúc nào vì sự hoang tưởng của một bạo chúa. 

Không một bạo chúa nào tự sức mình vươn lên và có đủ ba đầu sáu tay để làm điều ác. Lịch sử thế giới từ Thế kỷ 20 đến nay cho thấy rõ điều đó. Hitler đã được chính người dân Đức bầu lên. Hitler gây chiến tranh khắp nơi, sát hạt người Do Thái và ngay cả đồng bào ruột thịt của mình nhờ chính bàn tay của không biết bao nhiêu người tung hô và ái mộ ông. Chúng ta cũng có thể nói như thế về những đồ tể khác như Stalin, như Mao Trạch Đông, như Polpot và ngay cả Hồ Chí Minh. Đồ tể nào cũng là một kẻ hoang tưởng được chính những kẻ hoang tưởng dựng lên.

Hoa Kỳ, dưới thời Tổng thống Joe Biden đã liên kết được các nước đồng minh và thế giới tự do để chống lại một bạo chúa hoang tưởng ở cách xa nửa vòng thế giới. Nhưng ngay trong biên giới của mình, cái bóng của hoang tưởng có lẽ vẫn đang rập rình che khuất một phần của đất nước này. Các chuyên gia trong Hội Chuyên gia Tâm lý Trị liệu của Mỹ (The American Psychiatric Association) bị buộc phải tuân thủ một “Luật Nước Vàng” (Goldwater Rule) không cho phép họ chẩn đoán về sức khỏe tâm thần của những “người của công chúng” (public figures), cụ thể là của một tổng thống đương nhiệm. Nhưng cứ qua hành động và các phát biểu của ông Donald Trump lúc còn tại vị, thật khó có thể chối cãi rằng ông có vấn đề về sức khỏe tâm thần. Một người tự nhận mình là một “thiên tài ổn định” và “chỉ mình tôi có thể sửa sai” mọi sự, chỉ có thể được xếp vào hạng hoang tưởng như Putin mà thôi. Có nên ngạc nhiên không, khi Trump xem Putin như thần tượng và ngay cả giáo chủ? Nước Mỹ đã bầu một người như thế làm tổng thống và mặc dù ông đã bị đánh bại trong một cuộc bầu cử tự do và công bình, hiện vẫn còn cả khối người ở Mỹ và ngay cả ở Việt Nam tôn thờ và sùng bái ông. Hoang tưởng vẫn còn là một căn bệnh nguy hiểm của thời đại. Nhiều người đã chấp nhận khuất phục trước những lãnh tụ hoang tưởng vì cho rằng họ sẽ giúp mình đạt những ước muốn hoang tưởng, ngông cuồng.

Năm 1992, khi chủ nghĩa cộng sản đã cáo chung tại cái nôi của nó là Nga, nhà chính trị học nổi tiếng là ông Francis Fukuyama đã cho xuất bản tác phẩm có tựa đề “Sự chấm dứt của lịch sử và Người cuối cùng” (The End of History and the Last Man). Trong cuốn sách, tác giả lập luận rằng sự lan rộng của các nền dân chủ và chủ nghĩa tư bản trên khắp thế giới và sự cáo chung chủ nghĩa cộng sản ở chính cái nôi của nó báo hiệu rằng, nhân loại đang bước đến điểm đến của quá trình tiến hóa của văn hóa xã hội. Thế nhưng, lịch sử trong 30 năm qua và nhứt là sự xuất hiện của các chế độ dân túy, những chế độ tìm cách khơi dậy những bất mãn của những người cho rằng họ bị thua thiệt, không chấp nhận một xã hội dân chủ, bình đẳng và hòa đồng. Những người muốn quay về thời “hoàng kim” của quá khứ. Đặc biệt sự ngự trị của các bạo chúa hoang tưởng mà thế giới đang chứng kiến, cho thấy những lời “tiên tri” của tác giả Fukuyama đã không được ứng nghiệm. Lịch sử vẫn cứ tiếp diễn bằng những hành động ngông cuồng của những kẻ hoang tưởng lãnh tụ và những người chạy theo để tung hô.

Từ cái xóm nhỏ nhìn ra thế giới xung quanh, tôi cho rằng hoang tưởng vẫn  là một trong những căn bệnh trầm kha của loài người. Không phải ai cũng bị hoang tưởng hay tâm thần. Nhưng thống kê cho thấy tại Úc này (mà cũng có thể tương tự ở các nước phát triển) cứ 5 người thì có một người đã từng bị tâm thần một thời gian nào đó trong đời của họ. Nếu có một thứ thuốc để phòng  cho căn bệnh hoang tưởng này thì đó chỉ có thể là luôn giữ một cái nhìn chính trực, công bằng, khoan dung và vị tha về người khác, không xem người khác như phương tiện để đạt cứu cánh của mình, mà đối xử với sự tôn trọng và nhứt là cảm thông.

 Chu Văn

 

 

 

Chú thích

1.Jamie Seidel, Sign Putin could use Russia’ s nuclear weapons on Ukraine https://www.news.com.au/technology/innovation/military/sign-putin-could-use-russias-nuclear-weapons-on-ukraine/news-story/ea5c01da565485e9210e372aa38a11c5

2. Philip Bump, The bizarre, literal isolation of Vladimir Putin https://www.washingtonpost.com/politics/2022/02/28/putin-bizarre-isolation/

Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2022

Sinh Ra Để Chết

 

Thi Văn

Cách đây 47 năm, tháng Ba 1975, thành phố Buôn Mê Thuột nơi tôi được sinh ra, đã thất thủ.

Sự thất thủ của thành phố Tây Nguyên này khởi đầu cơn hấp hối của đất nước tôi.

Khi ấy mặc dù chỉ hơn mười tuổi, tôi cũng cảm nhận được một điều gì đó rất kinh khủng đang từng ngày phủ chụp xuống tất cả mọi người trong đó có tôi, một đứa bé bất lực khi nhìn cha mẹ càng bất lực hơn chờ cơn hấp hối chấm dứt số phận của miền Nam Việt Nam. Không một hy vọng, không một hứa hẹn. Mỗi sáng thức dậy để nghe cha mẹ than thở với nhau "lại mất thêm một tỉnh nữa". Và Miền Nam Việt Nam đã giãy chết như vậy, trước mắt tôi. Tôi nhớ mình đã không ngăn được nước mắt  vào ngày số phận Miền Nam Việt Nam kết liễu dù cho mãi sau này, càng lớn lên tôi mới thấy được ngày càng nhiều hơn nữa cái khốn khổ và nghiệt ngã của dân tôi, nước tôi. Mỗi người dân Miền Nam vào ngày đó đều có một câu chuyện. Và câu chuyện nào cũng đẫm nước mắt.

Suốt hơn hai tuần nay, từ khi có cuộc chiến ở Ukraine, những cảm giác hồi hộp, nghẹt thở, kinh hoàng mà tôi tưởng mình đã quên đi sau 47 năm trở về. Mạnh mẽ như mới hôm qua. Làm gì, ngủ hay thức, sự lo lắng và suy tư của tôi cũng quay về cơn hấp hối của Ukraine. Tôi tin là những ai đã trải qua những gì tôi đã trải qua 47 năm trước cũng sẽ cùng có chung một cảm giác, một lo lắng, một sự bất lực. Ở Thế kỷ 21, tại Âu Châu mà lại có một đất nước cũng phải chịu đựng những điều đau khổ, chết chóc, chiến tranh vô nghĩa như đất nước của tôi vào thế kỷ trước quả là một điều khó hiểu cho một người đang bước vào tuổi già như tôi. Tôi theo dõi tin tức từng giờ từng phút, tôi cũng không cho phép mình ngủ suốt đêm mà không mở điện thoại cầm tay để xem chiến sự tới đâu, với một hy vọng ngộ nghĩnh như một đứa trẻ rằng vì tôi cứ theo dõi nên Ukraine vẫn còn chống cự được. Tôi không cho phép mình ngủ "vô tư" như 47 năm trước.

Chiến tranh không bao giờ cho chúng ta cái nhìn lạc quan. Những người già, những người trẻ, những đứa bé đã bị tước đi sinh mạng một cách tức tưởi. 

Có một quy luật tuyệt đối đúng: chúng ta sinh ra để chết. Nhưng nếu chết bởi một cái chết không như qui luật tự nhiên của trời đất, cũng không phải là một cái chết do chính chúng ta quyết định, thì quả là quá đau! Cái vô nghĩa của những cái chết trong chiến tranh là thế.

Tôi không thể thay đổi quy luật sống chết. Nhưng tôi không chỉ sinh ra để chết mà còn để sống. Tôi không mấy tin tưởng là sẽ được đầu thai để có kiếp khác. Tôi cũng không nghĩ là nếu có đời sau ở thiên đàng hay hỏa ngục, thì cuộc sống ở đó sẽ giống như cuộc sống nơi cái trần gian nhiều vui buồn sướng khổ này. Vì vậy, tôi muốn sống hết mình, tôi muốn sống một cuộc sống có giá trị, tôi muốn làm cho trái đất này ngày càng trở thành một nơi đáng sống hơn cho những thế hệ sau tôi.

Born to die

Born to be alive

Let's live a worthy life

(Sinh ra để chết 

Sinh ra cũng để sống 

Sống thật đẹp trước khi chấm hết)

Thi Văn 13/3/2022



 

 

Chủ Nhật, 27 tháng 2, 2022

Tự nguyện làm kẻ ngu xuẩn hữu ích

 



Chu Văn

 

Trong bài diễn văn đọc vào sáng sớm thứ Năm, 24 tháng Hai 2022 vừa qua để thúc quân ra trận xâm lăng Ukraine, Vladimir Putin có nhắc đến “thánh tổ” Lenin: “Ukraine hiện đại hoàn toàn được thiết lập bởi Nga, chính xác hơn, bởi Bolshevik, tức nước Nga cộng sản. Tiến trình này đã khởi sự liền sau cuộc cách mạng năm 1917...Nhờ chính sách của cộng sản Nga, Sô Viết Ukraine mới trổi dậy. Do đó, ngay cả ngày nay, có đủ lý do để gọi Ukraine là “Ukraine của Vladimir Ilyich Lenin”. Lenin chính là cha đẻ và kiến trúc sư của Ukraine. Điều này đã được hoàn toàn xác nhận bởi các tài liệu văn khố...Vậy mà giờ đây, những hậu duệ “biết ơn” đã phá hủy các tượng đài của Lenin tại Ukraine. Họ gọi đây là tiến trình giải cộng (decommunisation). Các người muốn giải cộng ư?...Chúng tôi sẵn sàng cho các người thấy thế nào mới thực sự là giải cộng cho Ukraine” (1).

Tiếc nuối thời vàng son của Liên Xô, nhân danh Lenin để xâm lăng Ukraine, phải chăng Putin là một người cộng sản? Thực tế cho thấy kể từ khi lên cầm quyền tại Nga từ năm 1999 đến nay, Putin không hề là một người cộng sản, mà chỉ là một quái vật được sản sinh từ trong lòng chủ nghĩa cộng sản. Xét cho cùng, kể từ khi chủ nghĩa cộng sản chào đời tại Nga cho đến nay, có lẽ chưa từng có một lãnh tụ cộng sản nào thực sự là một người cộng sản. Từ Lenin, Stalin đến Mao Trạch Đông rồi ngày nay Tập Cận Bình và ngay cả Hồ Chí Minh, Nguyễn Phú Trọng...tất cả đều là những đồ tể tham quyền cố vị, độc tài khát máu và dối trá. Miệng lưỡi họ lúc nào cũng tràn đầy những mỹ từ cao đẹp như bình đẳng, như độc lập, như tự do...nhưng bàn tay của họ thì lúc nào cũng vấy máu. Tôi rất tâm đắc với một bài thơ ba dòng của nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc:

“Các nhà chính trị như Mã Giám Sinh

Biến mọi chữ đẹp

Thành đĩ”

(Thơ ba dòng 262)

Dĩ nhiên, không phải chính trị gia nào cũng đều hãm hiếp ngôn ngữ. Nhưng trên môi miệng các nhà độc tài, nhứt là độc tài cộng sản, mọi “chữ đẹp” đều bị đánh tráo. Rõ ràng nhứt là Sự Thật. Với các nhà độc tài, nhứt là cộng sản, Sự Thật đơn thuần chỉ có nghĩa là dối trá. Chẳng hạn, vào đầu thập niên 1930, Stalin đã đẩy mạnh chính sách tập thể hóa tại Ukraine khiến cho hàng triệu người bị chết đói. Stalin đã nói dối đổ lỗi cho tình báo Ba Lan. Dối trá một cách ngây ngô và buồn cười như thế, vậy mà dân chúng Nga vẫn tin răm rắp. Putin, một hậu sinh khả úy, lập lại cùng một sách đó trong suốt sự nghiệp chính trị của mình.

Là con đẻ của một chế độ xây dựng trên dối trá, Putin biết rõ tác động của dối trá. Đã từng là một sĩ quan mật vụ KGB, ông đã tỏ ra nhuần nhuyễn hơn bất cứ lãnh tụ chính trị nào trong việc dàn dựng những cuộc khủng hoảng giả tạo để ra tay hành động.

Năm 1999,  Putin được Tổng thống  Boris Yeltsin bổ nhiệm làm thủ tướng để chuẩn bị thay thế ông. Lúc đó, chỉ có khoảng 2 phần trăm dân chúng Nga ủng hộ Putin. Ông đã cho đánh  bom tại nhiều cơ sở và chung cư tại Nga, giết hại gần 300 thường dân. Các cuộc đánh bom đã được gán cho quân khủng bố Chechnya. Lòng ái quốc của dân Nga được khơi dậy. Tỷ lệ ủng hộ của dân chúng dành cho ông bất thần  vụt lên 45 phần trăm. Putin liền xua quân đánh chiếm Chechnya. Sự ủng hộ của dân chúng Nga dành cho tân thủ tướng lên cao ngút ngàn. Nhờ vậy, ông đã chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2000. Sau này, nhờ lời khai của các nhân chứng và tiết lộ của những người tố giác, các cuộc điều tra mới cho thấy vai trò của FSB, hậu thân của cơ quan mật vụ KGB, trong các vụ đánh bom. Nhưng dĩ nhiên, trong nước Nga dưới thời Putin, không người nào dám tìm kiếm và nói lên sự thật mà không bị nếm mùi tàn ác của Putin. Phó chủ tịch của Ủy ban điều tra về vai trò của FSB trong các vụ đánh bom đã bị hạ sát bằng súng. Một ký giả điều tra về vụ việc cũng bị đầu độc đến chết. Riêng ông Alexander Litvinenko, người “thổi còi” về vai trò của FSB và tố cáo Putin trực tiếp can dự vào các cuộc đánh bom, đã bị đầu độc đến chết tại London, Anh Quốc, hồi năm 2006.

Cũng liên quan đến Chechnya. Năm 2004, những tên khủng bố Chechnya đã bắt cóc hàng trăm học sinh và giáo viên tại một trường học ở Beslan, Bắc Ossetia. Chính quyền Nga từ chối thương lượng với các tên khủng bố, thay vào đó đã đưa quân đội đến tấn công vào trường học. Hơn 330 người chết và 550 người bị thương. Trong số người chết, có 184 trẻ em. Putin vẫn nại đến những vụ đánh bom khủng bố để biện minh cho việc sử dụng bạo lực một cách tàn bạo dã man của mình.

Bà Ana Politkoskaya, một ký giả chuyên tranh đấu cho nhân quyền đã đến Beslan để tường trình về biến cố. Bà bị đầu độc nhưng sống sót để tiếp tục điều tra về những vi phạm nhân quyền và các cuộc tấn công của Putin vào nền dân chủ. Hậu quả là năm 2006, bà bị bắn hạ ngay trong căn hộ của bà ở Mạc Tư Khoa.

Năm 2005, Sergei Magnitsky,một luật sư làm việc cho một công ty đầu tư của Mỹ ở Nga đã điều tra và phơi bày một vụ gian lận lên đến 230 triệu Mỹ kim có dính líu đến các tài phiệt Nga. Magnitsky đã bị bắt giữ và đánh đập cho đến chết trong tù. Năm 2012, Chính phủ Mỹ đã thông qua luật mang tên ông Magnitsky để chế tài những người Nga nào can dự vào các hành động vi phạm nhân quyền. Sau khi Chính phủ Mỹ ban hành luật Magnitsky, quốc hội bù nhìn do Putin kiểm soát đã trả đũa bằng một luật cấm người Mỹ không được nhận các trẻ em mồ côi Nga làm con nuôi. Riêng Putin, trong một cuộc họp báo khẳng định rằng Magnitsky “không hề bị tra tấn, mà chết vì đột quỵ”.

Một trò dối trá và độc ác khác của Putin đã được ghi nhận rõ ràng trong vụ bắn hạ chiếc máy bay MH17 của hãng hàng không dân dụng Mã Lai ngày 17 tháng Bảy năm 2014. Tất cả 298 người, gồm phi hành đoàn và hành khách đều thiệt mạng. Tháng Năm năm 2018, kết quả của một cuộc điều tra được Liên Hiệp Quốc yểm trợ đã kết luận rằng chính Đội Phòng Không 53 của Nga có căn cứ tại Kurks, đã phóng hỏa tiễn bắn hạ chiếc máy bay. Dĩ nhiên, Putin cũng hoàn toàn bác bỏ kết quả điều tra này.

Cuối cùng, nói đến sự độc ác và dối trá của Putin, không thể bỏ qua vụ ám sát lãnh tụ đối lập nổi tiếng là ông Boris Nemtsov tại Mạc Tư Khoa dạo tháng Hai năm 2015. Trước khi bị hạ sát, ông Nemtsov đã cho thu băng một cuộc phỏng vấn truyền hình trong đó ông nói đến những cuộc điều tra của ông về tội ác chiến tranh của Nga tại Ukraine. Trong cuộc phỏng vấn, ông gọi Putin là “chuyên gia về dối trá. Ông ta là một tên dối trá bệnh hoạn”.

Sau cái chết của ông Nemtsov, Putin đến gặp mẹ của ông ta và trấn an: “Chúng tôi sẽ làm mọi sự để bảo đảm rằng những kẻ gây ra tội ác xấu xa và bỉ ổi này cũng như những kẻ đứng sau lưng họ đều phải bị trừng phạt đích đáng”.

Các băng hình và các cuộc điều tra của các ký giả cho thấy  cuộc hạ sát ông Nemtsov cũng như các cuộc ám sát khác đều là công tác chuyên nghiệp và có tổ chức của FSB (2) và dĩ nhiên với bàn tay dàn dựng của chính Putin.

Những tiến bộ kỹ thuật trong thế kỷ 21, đặc biệt trong lãnh vực truyền thông xã hội, lại càng đẩy mạnh “nghệ thuật” dối trá  của Putin. Chính bằng dối trá mà Putin đã xâm lăng bán đảo Crimea của Ukraine dễ dàng như trở bàn tay. “Nếu bạn thuộc tả khuynh, bạn sẽ nghe nói rằng Ukraine là Đức Quốc Xã; nếu bạn thuộc cánh hữu, người ta sẽ nói với bạn rằng Ukraine là đồng tính; nếu bạn là người cực hữu, bạn sẽ nghe nói rằng Ukraine là Do Thái. Những câu chuyện như thế đã khiến cho dân chúng ở Tây Phương không thấy được sự thật đơn giản là: một nước đã xâm lăng một nước khác, chiếm lấy lãnh thổ của nước đó, sát hại và làm cho dân chúng của nước đó ly tán. Thành công ở Crimea, Ukraine, được nước làm tới, Nga (của Putin) đã áp dụng những kỹ thuật tương tự cho cuộc trưng cầu dân ý về Brexit (tại Anh quốc) cũng như trong cuộc bầu cử tại Mỹ 2016 và cũng đạt được những kết quả như thế. Những người sử dụng Facebook và Twitter tại Vương quốc Anh hay tại Hoa Kỳ đều đã không nhận ra được bộ mặt thật của con người đó và đã hành động theo sự ra dấu của một bàn tay dấu ẩn. Đó là bàn tay lừa bịp trên mạng lưới kỹ thuật số” (3).

Độc ác và dối trá là hai mặt của một đồng tiền trong con người của Putin. Putin không che đậy sự độc ác của mình. Putin cũng nói dối một cách trắng trợn. Vậy mà thế giới vẫn có cả khối người tin ông và ủng hộ ông. Cá mè một lứa thì không nói. Chủ tịch Tập Cận Bình của Trung Quốc cho tới nay vẫn không nhìn nhận việc Nga xâm chiếm Ukraine là một cuộc xâm lăng. Cũng không nên ngạc nhiên tại sao có nhiều người Việt Nam trong nước ủng hộ Putin và tán thành việc ông xâm lăng Ukraine. Điều đáng buồn và đáng lo ngại là hiện nay tại Hoa Kỳ vẫn còn nhiều người tự nguyện làm điều mà đồ tể Lenin gọi là “những kẻ ngu xuẩn hữu ích” (useful idiots) của Putin.

Đứng đầu danh sách “những kẻ ngu xuẩn hữu ích” của Putin, dĩ nhiên phải kể đến cựu Tổng thống Donald Trump. Không ngu xuẩn là gì khi không những tự nhận mình là “thiên tài ổn định” mà còn ca ngợi Putin như một thiên tài trong kế hoạch thôn tính Ukraine và gọi việc ông này đem quân vào hai vùng tự trị của Ukraine là hoạt động “gìn giữ hòa bình”. Vậy mà  sau lưng một con người ngu xuẩn và tự nguyện làm “người ngu xuẩn hữu ích” cho một đồ tể độc ác và dối trá như thế lại có cả một cái đuôi dài của những người cũng tự nguyện làm “những kẻ ngu xuẩn hữu ích”.

Một người đã từng tốt nghiệp Võ bị Quốc gia West Point,  làm dân biểu liên bang, giữ chức vụ  giám đốc cơ quan tình báo CIA và nhứt là chức vụ ngoại trưởng như  Mike Pompeo cũng tự nguyện làm “một kẻ ngu xuẩn hữu ích” cho Putin khi không tiếc lời đề cao hành động độc ác và dối trá của ông này: “Tôi rất kính trọng ông ta” (4).

Nhưng có lẽ bỉ ổi nhứt là đài Fox. Cứ nghe một số nhà bình luận của đài này tự nguyện làm “những kẻ ngu xuẩn hữu ích” để ra rả biện hộ cho hành động xâm lăng Ukraine của Putin, những người tỵ nạn như tôi cứ tưởng như mình phải bị tra tấn bởi các “loa phường” ở Việt Nam.

Độc ác và dối trá là cặp song sinh trong nhân cách của các lãnh tụ độc tài. Ủng hộ, tán thành những hành động độc ác và dối trá của họ cũng chính là đồng lõa với tội ác. Trong các thứ ngu, có lẽ ngu nhứt vẫn là tự nguyện “làm kẻ ngu xuẩn hữu ích” cho những người độc ác và dối trá.




Chu Văn

 


Chú thích:

1. Extracts from Putin’s speech on Ukraine https://www.reuters.com/world/europe/extracts-putins-speech-ukraine-2022-02-21/

2. Vladimir Putin’s lying game https://theconversation.com/vladimir-putins-lying-game-100513

3. Vladimir Putin’s Hall of Mirrors https://www.theatlantic.com/ideas/archive/2022/02/putin-ukraine-invasion-maskirovka-provokatsiia/622874/

4. Putin’s Useful Idiots https://www.theatlantic.com/ideas/archive/2022/02/russia-ukraine-war-republican-response/622919/

5. Hình minh họa, nguồn: Seattle Times