Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2020

Lãnh đạo thời Cô Vi



Zaheena Rasheed
                                                                                 Chu Thập chuyển ngữ

Đại dịch Covid-19 đang đe dọa mạng sống và cuộc sống của con người trên khắp thế giới.
Chỉ trong 3 tháng, đã có hơn một triệu người tại trên 180 quốc gia bị nhiễm bệnh và ít nhất 50.000 người chết vì một cơn dịch mà Liên Hiệp Quốc gọi là “cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất” đối với thế giới kể từ Đệ nhị Thế chiến.
Tại nhiều vùng rộng lớn trên trái đất, việc “đóng cửa” nhằm chận đứng sự lây lan của siêu vi đã khiến cho cuộc sống và hoạt động kinh tế dậm chân tại chỗ. Ở những vùng bị ảnh hưởng nặng nề nhất, các bệnh viện đã quá tải vì số bệnh nhân và người chết, trong khi đó khắp nơi người nghèo và những người dễ bị tổn thương phải đương đầu với tình trạng thiếu thốn lương thực và chết đói.
Hôm thứ Ba (mùng Bảy tháng Tư 2020) vừa qua, khi nhấn mạnh đến nguy cơ mà cuộc khủng hoảng đang đặt ra cho hòa bình và sự ổn định trên thế giới, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, ông Antonio Guterres đã gởi đến các chính trị gia lời kêu gọi khẩn thiết hãy “bỏ qua một bên những trò chơi chính trị” và ngồi lại với nhau để “đối phó một cách mạnh mẽ và hữu hiệu” (với cuộc khủng hoảng).
Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc nói: “Thế giới đang đối đầu với một thử thách chưa từng có. Và đây là lúc phải hành động”.
Thật ra, những hệ lụy của cuộc khủng hoảng lẽ ra không nên cao hơn.
Cuộc sống hay cái chết của hàng triệu người tùy thuộc vào những quyết định mà các nhà lãnh đạo thế giới sẽ làm trong những ngày và tuần lễ sắp tới. Nhưng các nhà phân tích lại nói rằng những dấu hiệu mới nhất thật dáng lo ngại.
Tại một số quốc gia, vì lợi ích riêng tư, vì không tin tưởng vào khoa học hay vì sợ kinh tế sụp đổ, các nhà lãnh đạo đã đối phó bằng sự do dự và phủ nhận.
John M Barry, một sử gia đã từng nghiên cứu về cơn đại dịch cúm Tây Ban Nha trong đó đã có 100 triệu người bị thiệt mạng hồi năm 1918, nói: “Tại nhiều nước, thật đáng buồn. Tại một số nước, thật đáng lên án vì hành động của một số nhà lãnh đạo sẽ khiến cho nhiều công dân phải chết một cách không cần thiết”.
Tại Trung Quốc của ông Tập Cận Bình, là nơi cơn bệnh đã được phát giác trước tiên hồi cuối tháng Mười Hai năm vừa qua, chính quyền đã bị tố giác đang bưng bít và trừng phạt những bác sĩ nào đã lên tiếng báo động khi đại dịch vừa mới bùng phát. Đây là những hành động mà những người chỉ trích nói rằng đã cho phép siêu vi phát tán từ trung tâm thành phố Vũ Hán ra mọi hang cùng ngỏ hẻm trên thế giới.
Tại Hoa Kỳ, thoạt tiên Tổng thống Donald Trump đã xem thường tính nghiêm trọng của mối đe dọa khi ông tiên đoán rằng siêu vi sẽ “biến mất” như “một phép lạ”  và hạ giảm các mối lo ngại ngày càng gia tăng khi nói rằng dịch bệnh chỉ là một “cú lừa” của các  đối thủ chính trị của ông. Ông chỉ thay đổi giọng điệu đó hồi tuần trước sau khi các cuộc thăm dò cho thấy dân chúng ngày càng lo âu và các chuyên gia tiên đoán rằng sẽ có 200.000 người chết tại Hoa Kỳ nếu không có những biện pháp ngăn chận sự lây lan.
Tại Ba Tây, Tổng thống Jair Bolsanaro cứ tiếp tục phủ nhận dịch bệnh mà ông gọi là chuyện “tưởng tượng” hoặc chỉ như “một thứ cúm nhẹ”. Chỉ mới tuần vừa qua, ông đã thách thức lời khuyên của các viên chức y tế của ông về việc phải tránh tiếp xúc khi đi thăm các khu phố ở Thủ đô Brasilia để kêu gọi dân chúng trở lại làm việc.
Trong khi đó tại Mễ Tây Cơ, hồi cuối tháng Ba vừa qua, Tổng thống Andres Manuel Lopez Obrador đã tổ chức các cuộc biểu tình, ôm hôn những người ủng hộ ông và thúc đẩy người dân Mễ hãy “sống bình thường”. Tổng thống Mễ đã hành động như thế mặc dù chính Bộ trưởng Y tế của nước này đã kêu gọi dân chúng nên ở nhà để tránh lây lan.
Giáo sư Charles Call, thuộc Viện Brookings có trụ sở tại Thủ đô Hoa Thịnh Đốn, nói rằng hành động của các nhà lãnh đạo trên đây làm nổi bật “thái độ thù nghịch đối với khoa học và các cơ chế nhà nước”. Viết trên Blog của ông, giáo sư Call nói rằng thái độ ngạo mạn của các nhà lãnh đạo trên đây đang bị nhiều người chỉ trích. Ông tiên đoán rằng cuộc khủng hoảng sẽ là một “cuộc trắc nghiệm về chủ nghĩa dân túy” tại các nước này.
Tại Nam Dương,  hồi tuần trước, Tổng thống Joko Widodo đã nhìn nhận rằng ông đã cố tình bưng bít thông tin về sự bùng phát của đại dịch. Ông nói rằng đây là một chiến thuật nhằm ngăn ngừa sự sợ hãi của dân chúng. Trong những ngày đầu khi dịch bệnh bùng phát, một số bộ trưởng của ông đã nói rằng sự cầu nguyện có thể ngăn ngừa được dịch bệnh, trong khi đó những người khác lại cho rằng thời tiết ấm áp của Nam Dương có thể làm cho việc lây lan bị chậm lại.
Viết trên báo The Diplomat, ông Asmiati Malik, giáo sư phụ khảo tại Đại học Universitas Bakrie của Nam Dương, cho rằng thái độ “phi khoa học” của chính phủ bắt nguồn từ những quan ngại về tinh trạng kinh tế của quốc gia có dân số đông đứng hàng thứ tư trên thế giới. Tuy nhiên theo giáo sư Malik, phủ nhận và giới hạn sự  truy cập thông tin của dân chúng về sự lây lan của dịch bệnh là một chính sách có thể gây tử vong cho hàng ngàn người.
Theo sử gia  Barry, sự phủ nhận và chậm trễ (trong việc đối phó với dịch bệnh) sẽ gây thiệt hại cho những nước này khi đến một lúc phải đưa ra những giới hạn cứng rắn hơn để chận đứng dịch bệnh. Ông nói  “Nếu bạn chờ đợi dân chúng sẽ tuân thủ lời kêu gọi giữ khoảng cách xã hội (social distancing), thì phải làm sao để họ tin vào lời kêu gọi đó. Nếu dân chúng không tin tưởng những người đưa ra lời kêu gọi đó thì họ sẽ không tuân thủ và một khi không có sự tuân thủ thì lời kêu gọi đó sẽ không hữu hiệu”.
Đây là lý do tại sao bài học duy nhất và quan trọng nhất từ đại dịch năm 1918 là: “hãy nói sự thật”
Có một số nhà lãnh đạo đã làm điều đó.
Ngày 11 tháng Ba, khi sự lây nhiễm đã bắt đầu gia tăng mạnh tại Ý, thủ tướng Đức, bà Angela Merkel đã nói rằng sẽ có đến 70 phần trăm dân chúng Đức bị lây nhiễm. Lời cảnh cáo này hoàn toàn đi ngược lại với những lời tuyên bố của các chính trị gia khác vào thời điểm đó. Một tuần lễ sau, trong một bài diễn văn đươc truyền hình, bà thủ tướng đã kêu gọi dân Đức hãy tôn trọng những giới hạn nghiêm nhặt về việc đi lại và giao tiếp xã hội. Bà nói: “ Tình trạng thật nghiêm trọng. Hãy ứng phó một cách nghiêm chỉnh. Trong một thể chế dân chủ,  không nên xem thường những giới hạn như thế, ngay cả chỉ là tạm thời. Nhưng hiện nay, đây là những giới hạn cần thiết để cứu mạng người”.
Kể từ đó, tại Âu Châu, Đức đã dẫn đầu trong  việc xét nghiệm rộng rãi về Covid-19 : kể từ lúc xảy ra cuộc khủng hoảng, đã có gần một triệu người được xét nghiệm. Và mặc dù đang đứng hàng thứ năm trên thế giới về con số người bị nhiễm bệnh, với trên 80.000 người bị nhiễm, Đức vẫn có số tử vong thấp nhất trong nhóm này.
Ca ngợi Thủ tướng Merkel, bà Judy Dempsey, thuộc viện Carnegie Europe, nói rằng hành động của thủ tướng “vạch ra con đường phía trước để có một sự đáp ứng thống nhất và cương quyết. Đây là một đáp ứng cần thiết và cho thấy các nền dân chủ có thể thực hiện cách tốt nhất”.
Tại Tân Gia Ba, Thủ tướng Lý Hiển Long cũng được ca ngợi vì đề ra một chiến dịch truy tìm và xét nghiệm gắt gao nhờ đó, kể từ khi dịch bệnh bùng phát, chỉ có khoảng 1000 người bị lây nhiễm. Trong một cuộc phỏng vấn trên đài CNN hôm chủ nhật (Mùng Năm tháng Tư vừa qua), Thủ tướng Tân Gia Ba nói rằng sự trong suốt và tin tưởng là những yếu tố nền tảng trong cuộc chiến của Tân Gia Ba chống lại siêu vi. Ông nói: “Chúng tôi hành động một cách trong suốt. Nếu có tin xấu, chúng tôi sẽ cho bạn biết. Nếu có những điều cần phải làm, chúng tôi cũng sẽ nói cho bạn biết. Nếu dân chúng không tin tưởng bạn thì  ngay cả khi bạn có đề ra những biện pháp đúng đắn, rất khó để tuân thủ”.
Tổng thống Nam Hàn Moon Jae-in, nữ Thủ tướng Tân Tây Lan Jacinda Ardern và Tổng thống El Salvador Nayib Bukele cũng đều được ca ngợi vì đã hành động một cách trong suốt và cương quyết.
Tuy nhiên không thiếu những nhà lãnh đạo bị tố cáo đang lợi dụng cuộc khủng hoảng để thu tóm quyền lực.
Hôm thứ Hai (mùng Sáu tháng Tư vừa qua), thủ tướng Hung Gia Lợi Viktor Orban đã được trao quyền không giới hạn để cai trị bằng sắc lệnh: theo một luật mới, người dân nào phát tán “thông tin giả” sẽ bị phạt tù năm năm. Các nhà phê bình cho rằng luật này có thể được dùng để khóa miệng các ký giả. Những quan ngại tương tự cũng được nêu lên tại Phi Luật Tân là nơi tổng thống Rodrigo Duterte tự trao cho mình những quyền hạn trong tình trạng khẩn trương cho phép ông nại đến những tin giả về Covid-19 để đàn áp.
Tại Israel, Thủ tướng Benjamin Netanyahu sử dụng tình trạng khẩn trương về đại dịch để cho phép các cơ quan tình báo theo dõi công chúng và đóng cửa các tòa án trước khi các cáo buộc về hành động tham nhũng của ông được mang ra xét xử.
Meenakshi Ganguly, giám đốc chi bộ Nam Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) nói: “Chúng tôi nhìn nhận rằng cơn đại dịch này đang đặt ra một trắc nghiệm chưa từng có đối với các nhà lãnh đạo thế giới. Vấn đề của chúng ta là một số nhà lãnh đạo đã có những toan tính độc tài. Đây không phải là thời gian để làm chính trị...bất cứ một quyền hành nào trong tình trạng khẩn trương cũng cần phải tương xứng và các chính phủ phải luôn luôn bảo vệ quyền lợi của người dân”.
Ngoài việc thu tóm quyền lực, các nhà quan sát còn lo ngại về cuộc đấu đá giữa các cường quốc, nhất là giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng. Tức giận trước việc Hoa Thịnh Đốn cứ liên tục dán cho Covid-19 cái nhãn hiệu “Siêu vi Tàu”, các viên chức tại Bắc Kinh hiện đang phản công bằng cách tuyên truyền mà không đưa ra bất cứ bằng chứng nào rằng chính quân đội Mỹ đã mang siêu vi này vào Vũ Hán.
Mối quan hệ ngày càng tồi tệ giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng, cũng như việc Hoa Kỳ dựa vào  chính sách “Hoa Kỳ trước tiên” của ông Trump để rút lui khỏi chính trường thế giới, đang cản trở một hành động phối hợp trước cơn đại dịch.
Charles Kupchan, thuộc Hội đồng Quan hệ Ngoại giao có trụ sở tại Hoa Kỳ, cho rằng  hiện “không có bất cứ một sự đáp ứng toàn cầu nào. Và đây là một vấn đề lớn bởi vì cuộc khủng hoảng sẽ được giải quyết một cách tốt đẹp hơn nếu những nước lớn ngồi lại với nhau.  Khi xảy ra dịch Ebola hồi năm 2014 hay trong cuộc khủng hoảng tài chính hồi năm 2008, Hoa Kỳ là nước đã đứng ra và lên tiếng: “Chúng ta sẽ cùng nhau giải quyết vấn đề như thế nào?”  Nhưng những ngày như thế không còn nữa. Chính phủ Trump đã tỏ ra cực kỳ chậm chạp trong việc đối phó với cuộc khủng hoàng trong nước và việc lãnh đạo của ông ở nước ngoài đã giới hạn tối đa”.
Kupchan nói: “Đây có thể là một tai họa cho những người dễ bị tổn thương nhất trên thế giới”. Theo ông “Những vấn đề cốt lõi cần phải  được giải quyết là cung cấp và phân phối các thiết bị y tế, chia sẻ những cách thức tốt nhất về xét nghiệm và cô lập cũng như đối phó với những cộng đồng có thu nhập thấp. Điều tồi tệ nhất mà tôi lo sợ là khi  Covid-19  tấn công vào các trại tỵ nạn và những nước có hệ thống y tế kém phát triển. Đây có thể sẽ là một cuộc tàn phá rộng lớn”.

Nguồn: Zaheena Rasheed, Covid-19 pandemic is testing world leaders. Who’s stepping up?


Thứ Tư, 25 tháng 3, 2020

Liên đới trách nhiệm thời Cô Vi


Chu Thập
26/3/20
Sáng nay (26 tháng Ba 2020), nghe tin Thái tử Charles bị nhiễm Covid-19. Người sẽ kế vị trên ngai vàng của Vương quốc Anh thống nhứt, suốt ngày được bao bọc trong cung điện, mà không được Covid-19 tha cho thì huống chi là một thứ dân như tôi. Thời buổi này, cứ ho một vài cái, thân nhiệt nhích lên một chút là thấy lo. Mà lo là phải bởi vì tình trạng lây lan và tử vong vì Covid-19 ngày càng tồi tệ. Số người chết tại Ý và Tây Ban Nha đã qua mặt Trung Cộng. Ấn Độ, với dân số trên một tỷ người, vừa mới tuyên bố tình trạng khẩn trương trên toàn quốc. Nhật Bản chính thức cho biết sẽ dời Thế Vận Hội sang năm sau. Tổ chức Y tế Thế giới WHO cảnh cáo rằng Hoa Kỳ sẽ là trung tâm điểm của đại dịch. Vậy mà mới đây, Tổng thống Donald Trump lại tỉnh bơ tuyên bố sẽ  cho đất nước “mở cửa” lại vào ngày Chúa Nhựt lễ Phục Sinh, tức ngày 12 tháng Tư sắp tới: mọi người dân Mỹ sẽ đi làm việc trở lại, đễ cho kinh tế Mỹ không sập tiệm, để cho thị trường chứng khoán lên trở lại, để cho Tổng thống Trump được tái cử trong cuộc bầu cử vào tháng Mười Một tới, để cho ông vẫn tiếp tục bám vào quyền lực...Với ông tổng thống Mỹ thứ 45 này, kinh tế quan trọng hơn sinh mạng của người dân và dĩ nhiên, quyền lực của ông quan trọng hơn bất cứ giá trị nào trên cõi đời này! 
Trong hơn 10 ngày, kể từ khi tuyên bố tình trạng khẩn trương trên toàn quốc, Tổng thống Trump đã không ngừng tiếp tục dối trá về cuộc chiến chống lại Covid-19. Hãy thử nghe lại những lời tuyên bố của ông kể từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát.
Trong hai ngày Mùng Bảy và 19 tháng Hai, Tổng thống Trump đã nói chắc nịch: “Khi chúng ta bước vào tháng Tư, khi khí trời ấm hơn, cái con “virút” đó (Covid-19) sẽ chỉ có một tác động tiêu cực mà thôi”. Thật ra, theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO, Covid-19 có thể lây lan trong mọi môi trường, kể cả những vùng nóng và ẩm ướt.
Ngày 27 tháng Hai, tổng thống Trump vẫn giữ thái độ lạc quan tếu: “Nó (tức cơn đại dịch) sẽ biến mất. Sẽ có ngày phép lạ sẽ diễn ra, nó sẽ biến mất”. Nhưng chỉ vài ngày sau đó, Tiến sĩ Anthony Fauci, Giám đốc của Viện quốc gia chuyên nghiên cứu về Dị Ứng và Bệnh Truyền Nhiễm, đã cảnh cáo rằng “nội trong tuần lễ sau hay hai hoặc ba tuần lễ sau, chúng ta sẽ thấy rất nhiều cộng đồng bị lây nhiễm”. Và lời cảnh báo của Tiến sĩ đã và đang xảy ra.
Chưa hết, ngày 23 tháng Ba, Tổng thống Trump lại tiên báo ngon ơ rằng nếu kinh tế suy sụp, con số người chết vì tự tử “dứt khoát sẽ cao hơn nhiều so với con số những người mà chúng ta cho là” sẽ chết vì Covid-19. Thật ra, theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa bệnh tật ước tính, con số người chết vì Covid-19 tại Hoa Kỳ có thể lên đến từ 200.000 đến 1.7 triệu người. Cũng theo Trung tâm này, tự tử là một trong những nguyên nhân tử vong hàng đầu tại Hoa Kỳ, nhưng con số người chết vì tự tử trong năm 2017 chẳng hạn chỉ có khoảng 47.000 người.
Nói sai sự thật, bóp méo sự thật, tung ra những thuyết âm mưu, dối trá, léo lận...vốn là nghề của chàng! Còn biết suy nghĩ bằng cái đầu và có chút lương tri, tôi nghĩ không ai có thể phủ nhận tật  dối trá bẩm sinh của ông Trump. Hãy thử so sánh hai câu tuyên bố của ông liên quan đến đại dịch Covid-19. Ngày 22 tháng Giêng, ông khẳng định: “Không, Coronavirus sẽ không trở thành một đại dịch. Dứt khoát không!”  Rồi mới đây, khi đại dịch đã lan tràn khắp thế giới và không buông tha cho Hoa Kỳ, ông lại nói tỉnh bơ: “Tôi đã luôn luôn biết đây là một đại dịch thực sự mà. Tôi đã cảm nhận nó là một đại dịch từ lâu rồi, trước cả khi nó được gọi là một đại dịch”. Tôi nghĩ: hẳn phải xem cả cái nước Mỹ là “đồ ngu”  hết cho nên ông mới dám nói ngược nói xuôi như thế!
Có lẽ nghĩ rằng dân Mỹ “ngu” hết cho nên ông mới liên tục cho họ ăn bánh vẽ. Tin về dịch Covid-19 từ Vũ Hán, Trung Cộng, đã được phổ biến ra cả thế giới ngay từ cuối năm 2019. Trong tháng Giêng năm 2020, tình báo Mỹ cũng đã báo cáo về các mối nguy hiểm của dịch bệnh này. Nhưng Tổng thống Trump, người tự cho là thông minh nhứt thế giới và thông biết mọi sự, đã gạt bỏ ra ngoài tai các bản báo cáo của tình báo Mỹ.
Ngày mùng Hai tháng Ba, khi dịch bệnh đã bắt đầu lây lan ở mức báo động, ông lại tuyên bố không bao lâu nữa Hoa Kỳ sẽ có thuốc chủng ngừa. Ngày hôm sau, ông cũng hứa hẹn nội trong một tuần lễ Hoa Kỳ sẽ có đủ thiết bị để xét nghiệm cả triệu người. Tuy nhiên, Trung tâm Kiểm soát và Phòng chống bệnh tật lại cho biết khả năng của Hoa Kỳ chỉ có thể sản xuất tối đa được 75.000 bộ mà thôi.
Léo lận, dối trá...cho nên ông Trump không bao giờ nhìn nhận bất cứ mội sai lầm nào. Sai lầm của ông, người khác phải chịu trách nhiệm!  Truyền thông, Đảng Dân Chủ, người tiền nhiệm của ông là Tổng thống Barack Obama và bất cứ ai có ý kiến hay quan điểm khác ông, chớ đừng nói đến những người chống đối ông, đều phải chịu trách nhiệm về những sai lầm của ông. Khi dịch bệnh Covid-19 vừa bùng phát, ông bảo đây là một “cú lừa” (hoax) của truyền thông và Đảng Dân Chủ.  Về khả năng hạn chế của Hoa Kỳ trong việc xét nghiệm, ông hoàn toàn đổ lỗi cho người tiền nhiệm Obama. Trong các câu tuyên bố của ông liên quan đến đại dịch Covid-19, tôi đặc biệt chú ý đến câu: “Tôi hoàn toàn không chịu trách nhiệm” ( I don’t take responsibility at all). Và đây cũng là câu nói khiến tôi phải mang ra nghiền ngẫm trong thời Cô vi này.
Trong cơn đại dịch, tình liên đới nhân loại buộc tất cả mọi người có mặt trên trái đất này đều phải nhận lấy trách nhiệm và cư xử có trách nhiệm. Dĩ nhiên, trách nhiệm trước tiên thuộc về các chính phủ, những người đang nắm quyền cai trị trong tay. Không riêng chế độ độc tài cộng sản Trung Quốc vì ngay từ đầu đã bưng bít mà gây ra nông nỗi này, nhưng tất cả mọi chính phủ cũng đều phải gánh lấy trách nhiệm bởi vì lơ là trong việc phòng chống bệnh tật. Nhưng tinh liên đới nhân loại cũng đòi hỏi tôi cũng phải lãnh lấy trách nhiệm trong việc phòng chống lại bệnh tật. Sống bừa bãi, không tuân thủ những biện pháp đề phòng do chính phủ đề ra, không những tôi sẽ mang lấy bệnh tật mà cũng làm cho người xung quanh tôi bị lây nhiễm. Xét cho cùng, mỗi một người hiện đang có mặt trên trái đất này, đều là một phần của nhân loại. Ít hay nhiều, mạng sống của mỗi người đều có thể bị tổn thương vì cách sống thiếu trách nhiệm của tôi.
Nhà toàn học kiêm triết gia Pháp nổi tiếng là Blaise Pascal đã từng nói: “Tất cả mọi khốn khổ xảy đến cho nhân loại đều do con người không thể ngồi yên một chỗ”. Vì cơn đại dịch Covid-19, tôi có cơ hội “ngồi yên” một chỗ nhiều hơn. Đây là dịp để tôi suy nghĩ nhiều hơn về thế nào là tình liên đới nhân loại và trách nhiệm của tôi đối với mọi người. Sống có trách nhiệm hơn để không phải tự giam hãm trong vỏ ốc ích kỷ và dối trá của mình.






Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2020

Nghịch lý thời Cô Vi


Chu Thập
16/3/20

Ngày nào cũng như ngày nào, nhà tôi bắt đầu bữa ăn sáng bằng câu hỏi:Ông Trump ra sao rồi?” Gần đây tôi “ghiền” theo dõi tin tức về tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ. Cũng đúng ý ổng thôi. Ổng phải là cái đinh của thế giới. Ổng thích được cả và thiên hạ chú ý đến ổng mà!
Thời buổi này báo mạng đầy dẫy. Sáng thức dậy, không gì thú vị bằng vừa nhâm nhi ly cà phê vừa lướt qua tin tức hàng đầu trên khắp thế giới. Nhưng đi đâu rồi cũng quay về chốn cũ: tin tức hàng đầu ở đâu cũng đều quy về Tổng thống Donald Trump cả! Thành ra, mặc dù ổng không phải là “tổng thống của tôi”, nhưng tôi vẫn cứ phải quan tâm đến nhứt cử nhứt động của ổng. Chẳng phải vì tôi thích hay không thích ổng; chỉ vì ổng đang nắm trong tay “số phận” của bao nhiêu con người kể cả những con người của tương lai, nhưng những gì ổng làm hay ổng tuyên bố thì thường khiến tôi nếu không thấy “đau đầu” thì cũng thấy “lên ruột”. Khi đại dịch bùng nổ, ngày nào tôi cũng theo dõi không biết ổng có bị nhiễm không. Bởi nếu ổng mà có gì thì có nghĩa là thằng tôi cũng không sao thoát khỏi bị mắc “dịch”. Cũng may, nghe nói kết quả xét nghiệm mới đây cho thấy, vì là người “được Chúa tuyển chọn” chăng, ổng chẳng hề hấn gì cả mặc dù đã tiếp xúc bắt tay với những người bị nhiễm “cô vi” (Covid-19).
Tống thống Trump không hề hấn gì, nhưng một cuộc thăm dò mới đây cho thấy có đến hai phần ba dân Mỹ lo sốt vó vì cơn đại dịch toàn cầu này. Và đây có lẽ cũng là nghịch lý lớn nhứt hiện nay: Dân số Mỹ hiện nay đã lên đến 327 triệu người. Vậy mà cho đến nay, trong cơn đại dịch này, chỉ mới có khoảng 11.000 người được xét nghiệm. Tính theo đầu người, đây là tỷ lệ xét nghiệm thấp nhứt thế giới. Hãy thử so sánh với Nam Hàn, một quốc gia với dân số chỉ có 51 triệu người, nhưng hầu như mỗi ngày đều có khoảng 20.000 người được xét nghiệm. Hoa Kỳ và Nam Hàn là hai quốc gia đã loan báo trường hợp bị nhiễm “cô vi” đầu tiên chỉ cách nhau vài tiếng đồng hồ.
So sánh tỷ lệ xét nghiệm trên đây không thể không dẫn đến thắc mắc: tại sao  quốc gia “vĩ đại” nhứt trong các nước văn minh giàu có, nhứt là có nền khoa học tiến bộ nhứt thế giới, lại lẹt đẹt chạy theo đuôi người ta trong việc xét nghiệm khi xảy ra một cơn đại dịch như hiện nay?
Ở cái quốc gia “vĩ đại” này, có nhiều điều thật khó hiểu. Ngày 21 tháng Giêng vừa qua, tức 3 tuần lễ sau khi tin tức đã bùng nổ về việc Covid -19 đã từ Vũ Hán, Trung Cộng, lây lan đi khắp thế giới, ở Mỹ đã thấy có trường hợp bị nhiễm đầu tiên. Ngày 5 tháng Hai, Chính phủ Mỹ đã cho phân phát dụng cụ để xét nghiệm khoảng 1.600 bệnh nhân. Nhưng phải chờ đợi rất lâu mới có kết quả và theo các bác sĩ, kết quả lại không chính xác. Trong khi đó thì việc xét nghiệm riêng tư lại gặp phải tệ nạn bàn giấy. Khi được báo chí hỏi liệu ông có phải chịu trách nhiệm về tình trạng trì trệ này không, tổng thống Trump trả lời dứt khoát: “Tôi không hề chịu trách nhiệm về điều này!”
Mới đây, Tổng thống Trump đã ban bố tình trạng khẩn trương trên toàn quốc và cho thành lập một hệ thống xét nghiệm tương tự như ở Nam Hàn. Tuy nhiên, ông đảo ngược hoàn toàn những lời tuyên bố trước: cách đây không lâu, ông bảo ai cũng có thể và nên được xét nghiệm. Nay thì ông lại nói: “Chúng tôi không muốn dân chúng ai cũng phải bị xét nghiệm nếu chúng tôi thấy họ không nên làm điều đó”. Các nhân viên y tế Mỹ bị đặt trước một tình thế khó xử khi phải quyết định ai mới cần được xét nghiệm.
Tuần qua, dân chúng Mỹ xôn xao về phí tổn phải trả cho việc xét nghiệm là 3.000 Mỹ kim. Với một hệ thống y tế tốn kém như Mỹ, một phí tổn cao như thế có thể là điều khó tránh khỏi. Thật ra,  trung bình một lần nhập viện khẩn cấp ở Mỹ tốn 2.245 Mỹ kim, đó là chưa kể khi phải ở phòng riêng và được chăm sóc đặc biệt để phòng ngừa Covid-19. Ngoài ra, vì không có khả năng tài chính, muốn được thử nghiệm phải chờ đợi lâu. Hiện nay, có đến một phần ba dân số Mỹ không được trả  lương khi bị bệnh (paid sick leave) và việc xét nghiệm đòi hỏi một thời gian mới có kết quả.
Hạ viện Mỹ, do Đảng Dân Chủ kiểm soát, vừa mới thông qua một dự luật bảo đảm cho mọi người dân được xét nghiệm miễn phí, tăng phụ cấp trong thời gian chữa trị và bảo đảm 14 ngày nghỉ được trả lương cho mọi công nhân. Nhưng số phận của dự luật lại nằm trong tay của Thượng Viện do Đảng Cộng Hòa kiểm soát và dĩ nhiên, nếu được thông qua, dự luật lại còn phải qua cái ải cuối cùng là quyết định của Tổng thống Trump.
Cho tới nay, trên toàn nước Mỹ hiện có khoảng trên bà ngàn trường hợp nhiễm Covid-19 và con số người chết vì dịch bệnh này chỉ mới có khoảng hơn 60 người. Với dân số đông thứ ba trên thế giới, thống kê trên đây có thể  là một con số không đáng kể. Thật ra, những con số trên đây có thể cao hơn rất nhiều, bởi vì ở Mỹ hiện chưa có đủ phương tiện để xét nghiệm và thiếu phương tiện xét nghiệm có nghĩa là không thể biết chính xác con số người bị nhiễm bệnh. Và đây chính là một nghịch lý “vĩ đại” của quốc gia luôn tự hào là “vĩ đại” này.
Các cuộc nghiên cứu được thực hiện khi xảy ra các trận dịch lớn như HIV/AIDS, Ebola, Sars...cho thấy không đầy một phần ba dân Mỹ đặt tin tưởng nơi hệ thống y tế của đất nước họ và người Mỹ đi khám bệnh cũng ít hơn so với người dân của các nước phát triển khác. Không biết có phải vì người Mỹ ít quan tâm đến bệnh tật không? Hay họ còn có những quan tâm khác quan trọng hơn sức khỏe? Nếu họ được khám bịnh miễn phí bất cứ lúc nào và nơi nào trên toàn quốc như những quốc gia phát triển khác thì con số có khác không?
Mới đây, một bản tin từ một thị trấn ở Tiểu bang Missouri cho biết: một thiếu nữ ở Tiểu bang Missouri vừa từ Ý trở về hôm 2 tháng Ba vừa qua. Cô cảm thấy có triệu chứng bị nhiễm bệnh. Các viên chức y tế khuyên cả gia đình cô nên tự cách ly. Cô làm theo lời khuyên. Nhưng cha cô và em gái của cô quyết định chấm dứt việc cách ly để đi tham dự một lớp học nhảy. Một cuộc xét nghiệm đã cho thấy cô thiếu nữ đã bị nhiễm Covid-19 và là người đầu tiên trong Tiểu bang Missouri được xem là bị nhiễm bệnh. Rất có thể qua cha và người em gái của cô, Covid-19 đã lây lan sang nhiều người khác và cứ thế lan rộng ra toàn tiểu bang.
Trên đây chỉ là một trường hợp cá biệt, nhưng nó có thể phản ảnh một khía cạnh sâu xa trong xã hội Mỹ hiện nay: phần lớn sống theo cá nhân chủ nghĩa! Chủ nghĩa này không chỉ chi phối các quan hệ giữa người với người mà còn được thể hiện một cách rõ nét qua khẩu hiệu “Nước Mỹ trước hết” của Tổng thống Trump và của Đảng Cộng Hòa. “Nước Mỹ trước hết” có nghĩa là thế giới xung quanh có sống chết như thế nào cũng mặc kệ, miễn là nước Mỹ vẫn thịnh vượng, hùng mạnh và “vĩ đại”. “Nước Mỹ trước hết” cũng có nghĩa là xung quanh tôi, người ta sống chết như thế nào cũng mặc kệ miễn là tôi vẫn giàu có và khỏe mạnh.
Nghịch lý lớn nhứt của nước Mỹ trong thời Covi không chỉ phô bày khoảng cách ngày càng lớn giữa một quốc gia giàu mạnh, tự phụ là “vĩ đại” và tình trạng dễ bị tổn thương của người dân khi gặp dịch bệnh hay khủng hoảng nói chung. Nghịch lý ấy cũng gợi lên cho tôi nghịch lý lớn nhứt trong cuộc sống: nếu tôi biết ra khỏi cái vỏ ích kỷ và cá nhân chủ nghĩa của tôi để quan tâm đến người khác thì đó cũng chính là lúc tôi quan tâm đến chính bản thân tôi. Áp dụng vô thực tế, khi chấp nhận tuân theo các lời khuyên của các chuyên gia y tế để giữ gìn một sức khỏe tốt và vệ sinh cần thiết để đối phó với dịch, khi tuân thủ việc tự cách ly khi cần thiết để khỏi lây nhiễm cho người khác...Tôi không những bảo vệ người khác mà còn giúp cho chính tôi giảm bớt những nguy cơ bị tái phát. Suy nghĩ về nghịch lý này, tôi cũng nghe văng vẳng bên tai lời của một trong những nhân vật vĩ đại nhứt trong lịch sử của Kitô Giáo là thánh Phanxicô Assisi: “chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân!”
Cái Tôi trước hết cũng có nghĩa là Cái Tôi phải sau hết!













Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2020

Xã hội chủ nghĩa không còn là một từ “bẩn” tại Hoa Kỳ



Edward Castleton
                                                                                   Chu Văn chuyển ngữ


Trong cuộc tranh luận giữa các ứng cử viên thuộc Đảng Dân Chủ tối Thứ Tư (19/2/2020) vừa qua tại  Las Vegas, Bernie Sanders đã  được hỏi về một cuộc thăm dò dư luận theo đó hai phần ba cử tri “sẽ không cảm thấy thoải mái với một ứng cử viên tổng thống theo xã hội chủ nghĩa”. Thượng nghị sĩ này đã trả lời: “Trong nhiều phương diện, ngày nay chúng ta đang là một xã hội xã hội chủ nghĩa. Khi Donald Trump kiếm được 800 triệu Mỹ kim từ việc trốn thuế và phụ cấp để xây những chung cư sang trọng, đó là xã hội chủ nghĩa cho người giàu. Chúng ta cần phải phụ cấp cho các công nhân của Walmart hiện đang sống nhờ Trợ cấp Y tế (Medicaid) và tem phiếu thực phẩm (food stamps), bởi vì những gia đình giàu có nhất tại Mỹ đang trả cho công nhân của họ đồng lương chết đói. Đó là xã hội chủ nghĩa cho người giàu. Tôi tin ở xã hội chủ nghĩa Dân Chủ cho công nhân”.
Sự say mê đối với xã hội chủ nghĩa trong Đảng Dân Chủ Mỹ bắt nguồn từ đâu? Điều gì đã thay đổi và liệu các cử tri khác có thể được thuyết phục rằng họ cũng sẽ được hưởng lợi không?
Bill Gates nghĩ rằng sự say mê đối với Thượng nghị sĩ Bernie Sanders thuộc Đảng Dân Chủ hay dân biểu Alexandria Ocasio-Cortez không nên làm cho giới doanh nghiệp giàu có phải lo lắng, bởi vì “xã hội chủ nghĩa” của họ chỉ cho thấy rằng một số người Mỹ muốn tăng thuế nhưng không hề muốn hủy bỏ chủ nghĩa tư bản. Trong một cuộc phỏng vấn trên Đài CNBC hôm mùng Sáu  tháng Năm 2019 vừa qua, ông Gates nói rằng ngay cả ông, dù là người giàu thứ nhì tại Hoa Kỳ, cũng ủng hộ một chính sách thuế thu nhập cấp tiến hơn cũng như gia tăng thuế đánh trên tài sản được thừa hưởng (Đây là loại thuế đã được tổng thống Trump giảm xuống gần như số không).
Warren Buffett, người giàu thứ ba tại Mỹ, đã không ngừng chỉ trích sự bất công trong hệ thống thuế khóa của Mỹ. Theo hệ thống này, ông tương đối đóng thuế ít hơn người giúp việc nhà hay người trực điện thoại cho ông. Chuyện người giàu bị lương tâm cắn rứt có thể không phải là điều mới mẻ. Nhưng tâm trạng vừa lo âu vừa muốn làm từ thiện của những người “siêu” giàu tại Mỹ khác với mối quan tâm về thần học của những người La Mã giàu có vào thời thánh Augustinô (354-430). Những người này được thu hút bởi cuộc sống mai hậu do  Kitô Giáo hứa hẹn và hy vọng nhờ sự hoán cải có thể bảo vệ được linh hồn của mình trong một tương lai bên kia thế giới này.
Tuy nhiên những lời tuyên bố mới đây của ông Gates và những người khác không những bộc bạch thiện chí của họ mà còn cho thấy một bối cảnh chính trị cấp tiến hơn. Sanders, Ocasio-Cortez và các đồng minh của họ, những người tự xưng là “xã hội chủ nghĩa dân chủ”, không hề đòi hỏi phải quốc hữu hóa những lãnh vực chính của nền kinh tế Mỹ. Sở dĩ chiến dịch của ông Sanders trong các cuộc bầu cử sơ bộ hồi năm 2016 được nhiều người ủng hộ là bởi vì ông đã chỉ trích tiền học phí quá cao trong các đại học Mỹ cũng như những tốn phí ngút ngàn của việc chăm sóc y tế. Nếu học phí là nguyên nhân tạo ra nỗi lo lắng cho giới trung lưu thì phí tổn y tế ảnh hưởng đến mọi người trừ người giàu có.
Những vấn đề trên đây không hề bắt nguồn từ xã hội chủ nghĩa của thời xa xưa, vốn gắn liền với giới công nhân lắp ráp trong các kỹ nghệ giây chuyền. Một cách nào đó, xã hội chủ nghĩa đã thay đổi trong kỷ nguyên được đánh dấu bằng cuộc khủng hoảng môi sinh do con người tạo ra. Những người tranh đấu đang tập họp xung quanh ông Sanders không hề say mê hình ảnh của ống khói của các nhà máy. Họ cũng chẳng giới hạn những nguyện vọng của họ vào việc làm toàn phần hay sự độc lập về năng lượng mà việc xẻ đá lấy dầu (fracking) hay mở lại các mỏ than có thể mang lại. Đây là điều mà ông Trump và những đồng minh bảo hộ mậu dịch của ông, những người rất muốn mang về Mỹ mọi hệ thống sản xuất giây chuyền, hứa hẹn.
Đó đây bên trong Đảng Dân Chủ, người ta có thể nghe vọng lại những đòi hỏi của xã hội chủ nghĩa trước kia. Chẳng hạn những lời tuyên bố của Thượng nghị sĩ Elizabeth Warren. Bà này đề nghị nên cho công nhân được đại diện trong ban lãnh đạo của các công ty lớn. Ngay cả những ứng cử viên ôn hòa hơn trong các cuộc bầu cử sơ bộ năm 2020 như ông Pete Buttigieg, cũng đã nhìn nhận rằng sự say mê hiện nay của nhiều người đối với “xã hội chủ nghĩa” bắt nguồn từ sự kiện “chủ nghĩa tư bản đã làm cho nhiều người thất vọng”. Đây là lý do giải thích tại sao các cử tri Dân Chủ có một cái nhìn tích cực về xã hội chủ nghĩa hơn là tư bản chủ nghĩa (có tới 57 phần trăm cử tri dân chủ ủng hộ xã hội chủ nghĩa). Mặc dù đa số cử tri Mỹ (57 phần trăm) chọn tư bản chủ nghĩa, nhưng sự hấp dẫn của chủ nghĩa này hiện đang suy giảm. Lâu nay các nhà khoa học xã hội và các sử gia vẫn cho rằng sở dĩ chính trường Mỹ có một sắc thái đặc biệt là bởi vì vắng bóng xã hội chủ nghĩa.
Qua các tác phẩm vốn đã từng được đưa vào chương trình học của môn chính trị học ở cấp đại học, Seymour Martin Lipset (1922-2006) đã tìm cách giải thích tại sao những ý tưởng xã hội chủ nghĩa đã đi vào chính trị trên khắp Âu Châu mà không hề có tại Hoa Kỳ. Theo ông, sở dĩ như thế là do bản chất của hệ thống chính trị Mỹ (sự thống trị của 2 Đảng chính, những cuộc bầu cử chỉ có một vòng (first past the post), cử tri đoàn có giá trị hơn lá phiếu phổ thông). Cũng theo tác giả Lipset, sở dĩ ở Mỹ không có xã hội chủ nghĩa là vì tính không đồng chủng của giai cấp công nhân, vốn không ngừng đổi mới theo từng đợt di dân. Tác giả cũng cho rằng sở dĩ xã hội chủ nghĩa không có mặt tại Hoa Kỳ là vì sự vắng bóng của một liên minh bền vững giữa các đảng chính trị và các nghiệp đoàn. Cuối cùng, theo tác giả, về mặt văn hóa, người  Mỹ gắn bó với những giá trị cá nhân, tức những giá trị không hợp với những ý tưởng và cương lĩnh xã hội chủ nghĩa.
Tác giả Lipset đã chịu ảnh hưởng của một cuộc nghiên cứu của triết gia Max Weber và một nhà xã hội học đương thời của ông là ông Werner Sombart. Tác phẩm có tựa đề “Tại sao không có xã hội chủ nghĩa tại Hoa Kỳ?” (Why is there no socialism in the United States) đã được xuất bản năm 1906. Sombart là người rất tinh thông về các tác phẩm viết về kinh tế của Karl Marx và đồng thời rất có thiện cảm với Đảng Dân Chủ Xã Hội Đức. Ông nghiên cứu về những hình thức khác nhau của tính hiện đại trong các xã hội tư bản. Sombart kết luận rằng ngay cả khi tư bản chủ nghĩa đạt đến cao trào trong xã hội Mỹ đi nữa, xã hội này cũng khác biệt với những xã hội Âu Châu cùng thời kỳ, bởi vì nó thù nghịch với xã hội chủ nghĩa. Và sở dĩ xã hội Mỹ thù nghịch xã hội chủ nghĩa là vì giai cấp công nhân của nó thích được “trưởng giả hóa”.  Theo tác giả Sombart, giới công nhân Mỹ không chống lại tư bản chủ nghĩa hay chính phủ của họ và sẵn sàng thích nghi với một hệ thống chính trị vốn ưu đãi sự thống trị của lưỡng đảng, mặc dù rõ ràng hệ thống này đã không thể hiện quyền lợi của giai cấp họ. Công nhân Mỹ giàu có hơn công nhân Âu Châu và có thể thăng tiến hơn nhờ cật lực làm việc.
Trong đoạn nổi tiếng nhất của ông, tác giả Sombart viết: “Nhờ tình trạng kinh tế được cải thiện và mức sống gia tăng, người lao động trung bình có cơ hội trải qua những cơn cám dỗ của sự đồi bại từ chủ nghĩa duy vật. Chính vì vậy mà họ thấy cần phải học để yêu thích hệ thống kinh tế vốn đã nhào nặn nên số phận của họ. Họ phải học cách dần dần thích nghi não trạng của mình với cơ chế đặc thù của một nền kinh tế tư bản và cuối cùng cũng đành phải đầu hàng trước tác động không thể cưỡng chế được do  sự thay đổi nhanh chóng và sức mạnh ngày càng gia tăng của thời kỳ lạ lùng này. Được luồng khí ái quốc tác động, người lao động cảm thấy hãnh diện vì Hoa Kỳ đã lãnh đạo tất cả mọi quốc gia khác trên con đường tiến bộ; não trạng duy doanh nghiệp được hình thành và biến họ thành một doanh gia cần kiệm, biết tính toán và chẳng màng đến những lý tưởng như ta đang thấy hiện nay. Tất cả những ảo tưởng của Xã hội Chủ nghĩa chỉ là con số không so với thịt bò bít tếch và chiếc bánh táo”.
Tác giả Sombart cũng chỉ ra khả năng di động về mặt địa lý tại Hoa Kỳ vốn không hề có tại Âu Châu. Một biên giới mở cửa hứa hẹn đất đai trù phú và rẻ mạt, đã mang lại cho những ai bất mãn vì cuộc sống khó khăn trong các thành phố kỹ nghệ niềm hy vọng có thể đạt được “Giấc Mơ Mỹ” là có cuộc sống tự trị nhờ sở hữu được đất đai ở thôn quê.
Theo Sombart, người công nhân Mỹ, chính vì khao khát rời bỏ giai cấp của họ cho nên không thể hiểu rằng phúc lợi cá nhân được cải thiện và hành động tập thể là hai điều có thể hòa hợp với nhau. Những người kế vị tác giả Sombart như Lipset chẳng hạn, đã nhấn mạnh đến vai trò của di dân khiến cho việc thành lập một giai cấp công nhân trở thành khó khăn. Các công nhân đến Mỹ từ nước ngoài vào đầu Thế kỷ 20 vẫn xem tình trạng của họ như tạm bợ. Mục tiêu của họ là kiếm được thật nhiều tiền để có thể trở về quê quán của mình. Cũng trong thời kỳ đó, di dân cũng khiến cho bất cứ một liên minh nào giữa các công nhân có tay nghề (thường là những người sinh trưởng tại Mỹ) và những công nhân không có tay nghề (thường là những người đến từ nước ngoài) trở nên khó khăn. Các công nhân đến từ nước ngoài là những người có óc thực tiễn hơn đối với thị trường lao động và cũng ít đòi hỏi hơn về những điều kiện làm việc. Các công nhân đến từ nước ngoài có khuynh hướng muốn hòa nhập vào các cộng đồng sắc tộc của họ tại các thành phố hơn là quan tâm đến quy chế lao động của họ. Thành ra rất khó thuyết phục họ về vấn đề giai cấp.
Tác giả Sombart cũng ghi nhận sự hội nhập dân sự tương đối cao tại Mỹ. Có thể đây là lý do giải thích tại sao ở Mỹ không hề có ý thức về giai cấp công nhân, bởi vì không như ở Âu Châu, kể từ năm 1792, tại Mỹ nam cử tri da trắng đã dần dần hội nhập vào đời sống chính trị trước khi điều đó được ghi khắc trong hiến pháp năm 1856. Tác giả Louis Hartz, một chuyên gia về chính trị hậu chiến, cho rằng sở dĩ người Mỹ ít có ý thức về giai cấp công nhân là bởi vì tại Mỹ không hề có chế độ phong kiến, không có  giới tiểu thương và tiểu công nghệ cũng như không có bất kỳ một cuộc cách mạng nào do giới trưởng giả lãnh đạo để lật đổ cấp lãnh đạo bảo thủ của một xã hội truyền thống. Một người đương thời của tác giả Hartz là ông Richard Hofstadter, khẳng định rằng thay vì chạy theo các ý thức hệ, Hoa Kỳ đã có một ý thức hệ riêng cho mình.
Tuy nhiên, giữa thời kỳ tác giả Sombart cho xuất bản cuộc nghiên cứu của ông và năm Đệ nhất Thế chiến kết thúc,  Hoa Kỳ đã từng có một  đảng xã hội vững mạnh dưới sự lãnh đạo của ông Eugene Victor Debs. Năm 1910, Hoa Kỳ đã có nhiều viên chức theo xã hội chủ nghĩa không kém gì việc Vương quốc Anh thống nhất đã bầu chọn các đảng viên của Đảng Lao Động. Năm 1912, các đảng viên xã hội đã nắm giữ quyền hành tại nhiều thị trấn, nhất là tại một số tiểu bang như Wisconsin, Michigan, New York và California. Ông Debs đã chiếm được 6 phần trăm phiếu phổ thông trong cuộc bầu cử tổng thống và Đảng của ông đã đạt được nhiều kết quả ngoạn mục không những tại các tiểu bang như Wisconsin và New York, mà còn cả tại những tiểu bang thôn quê ở miền Nam như Oklahoma, Arkansas, Texas và Louisiana.
Tuy nhiên những chiến thắng trên đây đã không kéo dài. Sau khi Hoa Kỳ tham chiến, ông Debs và nhiều lãnh tụ xã hội khác là những người đã chống lại sự can thiệp của Mỹ, đã bị giam tù. Cuộc Cách Mạng Nga đã tạo ra nhiều căng thẳng về ý thức hệ trong nội bộ của một Đảng vốn đã yếu kém vì sự đàn áp của chính phủ, bởi vì thứ xã hội chủ nghĩa của  phần lớn đảng viên xã hội Mỹ được cảm ứng từ Tin Mừng của Kitô Giáo và Phong trào Bình dân chống lại độc quyền hơn là từ các tác phẩm của Marx và Lenin.
Nhiều quan sát viên tin rằng  ông Bernie Sanders đã thành công trong các cuộc bầu cử sơ bộ hồi năm 2016 và hiện đang tiếp tục thu hút nhiều người là bởi chiến dịch của ông đã được khuấy  động từ bên trong một đảng đã vững mạnh, với hy vọng có thể thay đổi định hướng chính trị của đảng. Ứng cử viên độc lập Ralph Nader và ứng cử viên xã hội Debs đã  không thành công trong việc xâm nhập vào cơ chế chính trị. Nhưng sở dĩ ông Sanders thành công là bởi vì thời kỳ thăng tiến xã hội kéo dài trong 40 năm qua đã chấm dứt. Đây là thời kỳ mà tác giả Sombart tin rằng đã khiến cho người Mỹ thù ghét xã hội chủ nghĩa. Thuốc chủng chống xã hội chủ nghĩa của việc “trưởng giả hóa” không còn tác động như cách đây  một thế hệ.
Tác giả Lipset tưởng tượng rằng tính “dị thường” của Hoa Kỳ sẽ biến mất với việc các đảng tả phái của Âu Châu chuyển sang hữu phái. Xuyên qua việc tư hữu hóa và các cuộc cải cách để tự do hóa thị trường, các đảng tả phái của Âu Châu cũng sẽ giống như Đảng Dân Chủ của cựu tổng thống Bill Clinton. Ông Lipset đã không bao giờ tưởng tượng được rằng một ngày nào đó các thế hệ trẻ hơn sẽ tự xem mình như những người theo xã hội chủ nghĩa hoặc những người tranh đấu cho Đảng Dân Chủ chạy theo ông Sanders bởi vì họ cảm thấy bị bỏ rơi bởi một Đảng dưới thời ông Barack Obama sau cuộc khủng hoảng tài chính hồi năm 2008, đã thực hiện một cuộc chuyển giao tài sản cho người giàu chưa từng có trong lịch sử Mỹ.
Những người theo xã hội chủ nghĩa hiện nay ở Mỹ thường tìm cách xác định lại giai cấp công nhân không dựa trên mối tương quan với kỹ nghệ và sản xuất cho bằng với kỹ thuật và lãnh vực dịch vụ, bất kể màu da của người lãnh lương. Họ tự cho là đại diện cho các giáo viên, y tá, người quét dọn hay nhân viên trong các tiệm ăn: tất cả đều (là giai cấp công nhân) có cùng một quy chế riêng biệt như những người theo xã hội chủ nghĩa trước kia đã dành cho các nam công nhân da trắng trong các hầm mỏ, xưởng thợ và nhà máy sắt.
Hiện tại, hầu hết những người tranh đấu thuộc cánh tả trong Đảng Dân Chủ đều là giới trẻ thuộc giai cấp trung lưu. Họ đang lo lắng cho sự xuống cấp xã hội của họ. Liệu khuynh hướng chính trị cực đoan của họ có thu hút được những nhóm kinh tế-xã hội khác không? Đây là những nhóm đã từng chạy theo các chính trị gia như ông Debs, nhưng nay lại bị lung lay bởi chính sách mỵ dân của ông Trump. Liệu những người theo xã hội chủ nghĩa hiện nay có thể thu hút được những người Mỹ không sống trong cùng một khu phố, thị trấn, liên bang hay vùng miền như họ không?


(Theo Edward Castleton, “Socialism no longer a dirty word in America”,  Le Monder Diplomatique 21/02/2020.
Edward Castleton là một sử gia và đồng tác giả của cuốn sách “Quand les socialistes inventaint l’ avenir 1825-1860” (khi những người theo xã hội chủ nghĩa phát minh ra tương lai)

Thứ Hai, 24 tháng 2, 2020

Phú quý và lễ nghĩa



Chu Thập
24/2/20
Cuối tuần qua, cái xóm nhỏ của tôi ồn không chịu nổi: 4 người hàng xóm, trong đó có một bà góa, đua nhau cắt cỏ. Sau trận mưa vừa rồi, cỏ lên như thổi. Mấy cái máy nổ bốn thì mở hết công suất, nghe đinh tai nhức óc. Thỉnh thoảng mấy cái máy cắt cỏ rìa lại tru lên những tiếng não nuột. Cụ ông Bruce, một người hàng xóm khác của tôi, đứng nhìn một cách thèm thuồng. Đám cỏ trước nhà cụ trồng toàn loại cỏ mịn thường thấy trong các sân cù (Golf). Loại cỏ “nhà giàu” này đòi hỏi một sự chăm bón rất kỹ. Trong những ngày nắng hạn vừa qua, cụ Bruce đã lỡ tay rắc quá nhiều phân nhưng lại không tưới đủ thành ra một phỉnh lớn của đám cỏ cháy nám. Cụ thấy người ta thi nhau cắt cỏ mà thèm là phải! Suýt soát gần cửu thập, cụ ông cụ bà xem đám cỏ trước nhà như một thứ “nhà thờ”: ngày nào cũng tẩn mẩn tỉ mỉ khòm lưng nhổ từng cây cỏ dại.  Khổ nỗi, cái giống cỏ dại mà nhiều người Việt đặt cho cái tên là “cỏ cộng sản” không phải là thứ dễ diệt trừ: nhổ ngày hôm trước, ngày hôm sau lại thấy xuất hiện! Cứ nhìn cảnh vợ chồng cụ Bruce chăm sóc đám cỏ trước nhà mà thấy thương!
Trong cái xóm không đầy  20 nóc nhà này, nhà tôi được bạn bè bà con Việt Nam đến thăm cho là chẳng giống ai. Ngoài cái “quê hương bỏ túi” được nhét đầy những cây cối nhiệt đới, vườn nhà tôi chẳng có nơi nào đáng gọi là bãi cỏ cả. Là dân nhà quê thứ thiệt, tôi quý đất hơn vàng. Không có tham vọng “trồng cỏ” để làm giàu một cách bất chính đã đành, nơi nào còn trống là tôi trồng cây ăn trái và rau xanh. Có hoa quả để ăn mà cũng chẳng phải quá mất giờ để chăm sóc và cắt cỏ. Cũng may, ở Úc này không có quy định nào về chuyện phải có sân cỏ và chăm sóc cỏ cả!
Nghe nói hồi năm 2016, tại thành phố có tên là Cahokia ở Tiểu bang Illinois bên Mỹ, một người phụ nữ bị cho vào nhà pha bóc lịch. Tội của bà ư? Vì không chịu cắt cỏ. Năm 2019, một người đàn ông ở tiểu bang Florida bị thành phố Dunedin phạt 30 ngàn Mỹ kim vì tội để cho cỏ lên cao quá 10 inches, tức 20.45cm.
Nước Mỹ “vĩ đại” và xem ra cái gì cũng khác người. Một cuộc nghiên cứu được thực hiện hồi năm 2005 ước tính trên toàn nước Mỹ có trên 40 triệu mẫu Anh (mỗi mẫu Anh rộng khoảng 4000 thước vuông) được dùng làm sân cỏ, công viên, vận động trường v.v. Nhưng đáng nói hơn, người Mỹ bỏ ra mỗi năm 60 tỷ Mỹ kim để chăm sóc vườn cỏ.
Theo Bộ Nông Nghiệp Mỹ, các bãi cỏ của các gia đình người Mỹ ngốn hết một nửa lượng nước tiêu dùng và phần lớn lại bị phí phạm. Ngoài ra, mỗi năm người Mỹ còn sử dụng đến 80 triệu cân Anh phân hóa học và thuốc trừ sâu cho các bãi cỏ. Điều đáng quan ngại là phân hóa học và thuốc trừ sâu là nguồn chính của đủ các loại độc tố và chất gây ung thư được thải ra trong nước và bầu khí quyển.
Không hiểu sao mỗi lần nhìn ngắm một bãi cỏ trong các gia đình ở các nước Tây Phương, tôi lại nghĩ đến câu nói quen thuộc của người Việt Nam: “phú quý sinh lễ nghĩa”. Trong tác phẩm Homo Deus (Người-Thượng Đế), sử gia Israel, ông Yuval Noah Harari giải thích rằng “cái ý tưởng trồng một bãi cỏ trước cửa nhà bắt nguồn từ các lâu đài của giới quý tộc ở Pháp và Anh vào thời Trung Cổ”. Điều đó có nghĩa là phải giàu có và quý phái người ta mới trồng một bãi cỏ trước nhà. Như vậy bãi cỏ được xem như biểu tượng của giai cấp và địa vị cao trong xã hội. Chỉ có người giàu mới có đủ điều kiện để trồng và chăm sóc cái biểu tượng của sự giàu sang ấy!
Ngày nay, bãi cỏ trước hay sau nhà đã nghiễm nhiên trở thành biểu tượng và thước đo của sự thành công, giàu có và ổn định. Càng giàu sang phú quý thì bãi cỏ càng lớn! Nếu như “phú quý sinh lễ nghĩa” thì trong một ý nghĩa nào đó, bãi cỏ cũng là một thứ “lễ nghĩa” xem ra không thể thiếu được trong xã hội văn minh và giàu có.
Ở Việt Nam, do điều kiện đất hẹp người đông, bãi cỏ chưa được xem là một thứ “lễ nghĩa” cần phải có. Nhưng kể từ khi mở cửa đi theo “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, có biết bao nhiêu thứ “lễ nghĩa”mới được du nhập từ nước ngoài  hay hồi sinh. Tôi còn nhớ cách đây không lâu, lần đầu tiên về Việt Nam để làm một chuyến gọi là “xâm nhập thực tế” từ Nam ra Bắc, trên con đường từ Hà Nội ra Vịnh Hạ Long, ở một ngôi làng nào đó tôi thấy nhà cửa khang trang mọc lên như nấm và điều đập vào mắt tôi nhiều nhứt là hầu như trên nóc nhà nào cũng có một cái tháp y chang như trong các lâu đài cổ bên Pháp hay Âu Châu. Kể từ đó, đi khắp nước, tôi mới thấy quả thật “phú quý sinh lễ nghĩa”. Người ta bày ra hay làm sống lại mọi thứ “lễ nghĩa”. Không riêng đám cưới, mà ma chay cũng được tổ chức một cách rình rang với đủ mọi thứ “lễ nghĩa”. Mà đâu có riêng trong nước, cứ thử quan sát một đám cưới hay đám ma của người Việt Nam ở hải ngoại chẳng hạn, người ta cũng sẽ thấy đủ mọi thứ “lễ nghĩa”.
Những cái tháp trên các nóc nhà ở một số địa phương miền Bắc Việt Nam dĩ nhiên gợi lên tính biểu tượng của kiến trúc “mà các nhà cai trị độc đoán cũng sử dụng để tạo nên ánh hào quang của sự vĩ đại”. Theo giáo sư Nina L.Khrushcheva, giáo sư về ngành Quan hệ Quốc tế tại Đại học The New School, New York, “kiến trúc là một trong những công cụ như vậy. Từ các pharaoh Ai Cập đến các hoàng đế La Mã hay các nhà độc tài đương thời như Kim Jong Un của Triều Tiên, tất cả các nhà lãnh đạo độc đoán thường sử dụng (hoặc lạm dụng) kiến trúc để thao túng nhận thức của công chúng, bằng cách tạo ra những không gian công cộng hùng vĩ phản ảnh hình ảnh lộng lẫy của họ”. Giáo sư Khrushcheva cũng nhắc đến sự kiện “chính quyền của Tổng thống Trump đang cho lưu hành một dự thảo sắc lệnh hành pháp có tên là “Làm cho các tòa nhà liên bang đẹp trở lại”. Dự thảo sắc lệnh này yêu cầu các kiến trúc sư tuân thủ các thiết kế kiến trúc “cổ điển”, lấy cảm hứng từ truyền thống Hy Lạp và La Mã”. Theo giáo sư Khrushcheva, “có lẽ điều này không gây ngạc nhiên. Rất lâu trước khi trở thành tổng thống, Trump đã sử dụng kiến trúc để khẳng định quyền lực và đặc quyền của mình. Chẳng hạn, các công trình mạ vàng lòe loẹt đặc trưng cho nhiều tòa nhà của ông có nhiều điểm tương đồng với cách bài trí xa hoa được lựa chọn bởi những nhà lãnh dạo chuyên quyền hiện tại như Tập Cận Bình của Trung Quốc, Vladimir Putin của Nga hay Recep Tayyip Erdogan của Thổ Nhĩ Kỹ”
Tôi không rành chữ Hán. Nhưng trong ngũ thường “nhân nghĩa lễ trí tín”, tôi thường được ông bà cha mẹ dạy rằng lễ và nghĩa được xem là hai “nhân đức” quan trọng làm nên nhân cách. Lễ là phải cư xử hòa nhã với mọi người. Còn nghĩa đòi hỏi phải biết tôn trọng công bình theo lẽ phải. Tôi cũng được dạy rằng không cần phải chờ cho đến lúc “phú quý” mới thực thi hai “nhân đức” nghĩa và lễ. Đã là nhân đức thì giàu sang hay nghèo hèn, thông minh hay ngu dốt,  lãnh tụ hay dân đen...ở bất cứ địa vị nào trong xã hội, ai cũng phải “tu nhân” và sửa tánh để biết đối nhân xử thế và sống cho ra người tử tế.








Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2020

Tiếng kêu cứu của Mẹ Đất!


Chu Thập
15/2/20
Ông bạn hàng xóm của tôi là người “nhiều chuyện”. Dân Úc rặc trong xóm tôi thường kiệm lời. Gặp nhau “hello” hay hỏi một cách xã giao “How are you?” là cùng. Nhưng ông bạn hàng xóm của tôi thì lúc nào cũng có chuyện để kể. Gần đây ỗng đã trở thành một nhà khí tượng đáng tin cậy của tôi. Hễ cứ gặp nhau là ổng tuôn ra đủ thứ dự báo về thời tiết. Mà cũng lạ, dự báo nào của ổng cũng đều trúng phóc. Ổng báo mưa thì có mưa. Ổng nói sẽ có giông là có giông. Ổng thích đưa ra những nhận xét về sự thay đổi của thời tiết. Một buổi sáng cách đây không lâu, ông gọi tôi đến gần chiếc xe đậu trước nhà, chỉ vào tấm kính rồi bày tỏ sự ngạc nhiên: “Mùa hè năm nay thật khác lạ: đêm nóng chảy mỡ, vậy mà sáng ra lại thấy có một lớp đá đóng trên kính xe!”  Tôi mới dò hỏi: “Vậy ông có tin có khí hậu thay đổi không?” Không biết câu hỏi có đánh đúng tim đen của ông không, ngập ngừng một lúc ông mới trả lời: “Về khí hậu thay đổi, tôi chỉ bán tín bán nghi”.
Gần đây, tôi sợ đụng đến quan điểm chính trị và bởi khí hậu thay đổi cũng là một vấn đề chính trị “nhạy cảm” cho nên tôi luôn cố gắng tránh né để khỏi tranh cãi và đụng độ một cách vô ích. Về hiện tượng khí hậu thay đổi và thay đổi vì hoạt động của con người, tôi tin các nhà khoa học hơn các chính trị gia. Bao nhiêu hội nghị thượng đỉnh và hiệp định về khí hậu thay đổi cho tới nay cũng chẳng đi tới đâu. Trái đất vẫn tiếp tục bị hâm nóng, bầu khí quyển và nguồn nước vẫn tiếp tục bị ô nhiễm.
Không tin các chính trị gia đã đành, tôi cũng nghi ngờ thiện chí của những người giàu có khi họ hô hào cuộc chiến chống lại khí hậu thay đổi. Đứng đầu danh sách các tỷ phú hào sảng nhứt trong cuộc chiến chống lại khí hậu thay đổi, tôi nghĩ đến trước tiên ông chủ của hãng máy bay dân dụng Virgin Blue là Sir Richard Branson. Vào năm 2006, ông này cam kết bỏ ra 3 tỷ Mỹ kim để nghiên cứu và tìm cho bằng được một thứ nhiên liệu khả dĩ thay thế được dầu và khí đốt là hai thủ phạm chính hâm nóng trái đất và làm cho khí hậu thay đổi. Một năm sau, ông còn bỏ ra 25 triệu Mỹ kim để treo giải thưởng cho người đầu tiên tìm ra được phương pháp khả dĩ mỗi năm có thể loại trừ được một tỷ tấn khí thải ra khỏi bầu khí quyển. Nhưng đào đâu ra tiền để nhà tỷ phú này tỏ ra hào sảng như thế? Thưa từ việc hãng máy bay của ông tiếp tục nhả khí thải vào bầu khí quyển! Có người bảo tỷ phú Branson chống lại ô nhiễm bằng cách gây ô nhiễm!
Trong hàng ngũ những người giàu có luôn hăng say hô hào chống lại khí hậu thay đổi có lẽ cũng phải kể đến tên của ông Warren Buffett. Không ai chối cãi được tấm lòng quảng đại của tỷ phú giàu nhứt nhì thế giới này trong các công tác từ thiện. Ông Buffett không ngừng lên tiếng cảnh cáo về những hậu họa của khí hậu thay đổi. Nhưng ai cũng biết rằng ông tỷ phú này đã và đang đầu tư rất nhiều trong các công ty chuyên gây ô nhiễm trong đó có công ty dầu khí ExxonMobil.
Nhắc đến những người giàu có hô hào chống lại khí hậu thay đổi có lẽ cũng phải kể đến tên của tỷ phú Michael Bloomberg, người hiện cũng đang lăm le nhảy vào cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc dưới lá cờ của Đảng Dân Chủ. Tỷ phú này đã đóng góp rất nhiều cho các tổ chức bảo  vệ môi sinh như Sierra Club và EDF. Lúc còn làm thị trưởng New York, ông cũng đã được ca ngợi vì các chính sách bảo vệ môi sinh. Nhưng nhiều người vẫn đặt vấn đề về nguồn gốc của khối tài sản kết xù của ông, bởi vì ông đã làm giàu phần lớn nhờ vào công ty luật Willett Advisers chuyên cố vấn về dầu khí.
Tên tuổi của nhà từ thiện Buffett cũng thường gắn liền với một tỷ phú nổi tiếng khác là Bill Gates. Mặc dù rất được biết đến vì những nỗ lực chống lại khí hậu thay đổi, tính đến năm 2012, Sáng hội Gates Foundation của vợ chồng ông lại đầu tư ít nhứt là 1.2 tỷ Mỹ kim vào hai công ty dầu khí khổng lồ là BP và ExxonMobil (x.Naomi Klein, This Changes Everything, Capitalism vs.The Climate, Alfred A.Knoff,Canada, 2014, trg 230-238).
Mới đây, tôi cũng chú ý đến tên tuổi của một người nổi tiếng khác là danh thủ quần vợt Roger Federer. Trên sân thể thao, tư cách của danh thủ này lúc nào cũng sáng chói. Tuy nhiên, gần đây, triệu phú thể thao này lại trở thành điểm nhắm của  Greta Thunberg, cô thiếu niên người Thụy Điển hiện đang nổi tiếng vì cuộc tranh đấu chống lại khí hậu thay đổi. Sở dĩ đã có lời qua tiếng lại giữa hai người nổi tiếng này là vì Federer hiện đang đầu tư rất nhiều vào Ngân hàng Credit Suisse của Thụy Sĩ, mà kể từ năm 2016,  Ngân hàng này lại cho các công ty khai thác dầu khí vay đến 57 tỷ Mỹ kim.
Sở dĩ Federer đã bị Thunberg và những nhà tranh đấu cho môi sinh chiếu cố đến là bởi vì danh thủ này đến Úc Đại Lợi để tham dự Giải Australian Open vào giữa lúc nạn cháy rừng đang nhận chìm quốc gia miệt dưới này trong khói lửa. Trong một tuyên ngôn được đưa ra khi đến Úc, Federer nói rằng ông biết ơn những nhà tranh đấu trẻ vì họ nhắc nhở ông về trách nhiệm của một nhà thể thao và kinh doanh đối với hiện tượng khí hậu thay đổi.
Khi tôi đang ngồi viết những dòng này thì Úc Đại Lợi đang trải qua những ngày mưa tầm tã. Nhiều nơi bị ngập lụt, cúp điện. Suốt ngày bó chân bó cẳng lẩn quẩn trong nhà, không ra vườn được, không đi câu được và cũng chẳng có bạn bè để “nhậu nhẹt” bù  khú cho hết cái khối thời giờ của một “tỷ phú thời gian”, có lúc tôi thấy buồn. Nhưng nghĩ lại mới thấy đó là một nỗi buồn ích kỷ. Tại sao không vui khi mưa giúp dập tắt và ngăn ngừa lửa rừng, khi nhà nông có nước để gieo trồng, khi mực nước trong các đập nước dâng cao bảo đảm việc cung ứng nước cho mọi người và nhứt là khi cây cối và rau xanh trong vườn của tôi được tưới tẩm.
Tự vấn lương tâm trong mấy ngày mưa, tôi thấy rõ ràng mình là người đầu tiên đáng bị đem ra chỉ trích. Người ta thường có khuynh hướng nhìn vào người khác kể cả những người giàu có , nổi tiếng để chỉ trích mà quên mất là chính bản thân cũng cần bải bị “tự kiểm”. Đâu cần phải làm điều ác, đâu cần chỉ nghĩ đến lợi ích, quyền lợi, niềm vui và hạnh phúc riêng của mình mà không màng đến niềm đau nỗi khổ của người khác, nhứt là những người đang phải hứng chịu những hậu quả khốc liệt của khí hậu thay đổi cũng đã là một cái tội rồi. Lại phải để cho ông tổ của chủ nghĩa Marxit nhắc nhở: “Chỉ có súc vật mới quay lưng trước nỗi khổ của đồng loại để chăm sóc cho bộ da riêng của mình”!
Tôi còn nhớ, cách đây 13 năm, trong một bài diễn văn đọc trong Hội nghị Thượng đỉnh Toàn quốc được tổ chức tại Quốc hội Liên bang ở Canberra, thủ tướng Úc lúc bấy giờ là ông Kevin Rudd đã tuyên bố rằng khí hậu thay đổi là “thách đố luân lý lớn nhứt của thế hệ chúng ta”. Là một nhà lãnh đạo quốc gia, có lẽ thủ tướng Rudd nghĩ đến trước tiên trách nhiệm của các chính phủ đối với khí hậu thay đổi. Nhưng nếu trái đất là ngôi nhà chung của mọi người thì bảo vệ môi sinh, chống lại khí hậu thay đổi phải là nghĩa vụ luân lý của mỗi người, chớ không chỉ là trách nhiệm của các chính phủ, của những người giàu có hay của một đảng xanh nào đó.
Dựa trên các bản tường trình của các chính phủ, một cuộc nghiên cứu được đăng trên báo Environmental Research Letters (Thư tín về Nghiên cứu Môi sinh), chứng minh rằng trong cuộc chiến chống lại khí hậu thay đổi, người dân không nên mong đợi quá nhiều nơi chính sách và hành động của các chính phủ. Cuộc nghiên cứu khẳng định: “Đảo ngược khí hậu thay đổi bắt đầu từ chính bạn”   
Cách sống của tôi, ít hay nhiều, đều ảnh hưởng đến sự thay đổi của khí hậu và sự gia tăng hay giảm bớt sự ô nhiễm của môi sinh. Khói thuốc lá tôi nhả ra mỗi ngày và một tàn thuốc lá tôi vứt bừa bãi xuống đất chắc chắn đã góp phần vào việc làm cho môi sinh bị ô nhiễm. Nói gì đến khói từ xe hơi của tôi! Nghĩ cho cùng, có biết bao nhiêu hành động phung phí thiếu trách nhiệm của tôi làm cho trái đất thêm hâm nóng và ô nhiễm. Trái lại, một cố gắng nhỏ của tôi như giảm thiểu tối đa việc sử dụng bao bị ni lông chẳng hạn cũng có thể giúp giảm được không biết bao nhiêu khí thải! Thật là thiếu đạo đức khi biết giữ cho nhà mình sạch sẽ mà lại không màng gì tới rác rến trong ngôi làng toàn cầu.
Tôi đã và đang làm gì trước tiếng kêu thảm thiết của Mẹ Đất? Có lẽ  đó phải là câu hỏi buộc tôi phải tự vấn lương tâm, buộc tôi phải cân nhắc trong việc sử dụng mọi thứ chung quanh mình mỗi ngày hơn bao giờ hết.







Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2020

Ngày Không Nên Quên...



Chu Thập
03/02/20
Tháng Giêng năm 2020 được đánh dấu bằng nhiều biến cố khó quên như Vương quốc Anh thống nhứt chính thức rút ra khỏi khối Liên Âu, dịch bệnh do vi khuẩn Corona đang đặt toàn thế giới vào tình trạng khẩn trương và dĩ nhiên chuyện tổng thống Mỹ Donald Trump bị luận tội. Riêng về trường hợp tổng thống Mỹ thứ 45 này, dù có trắng án đi nữa, ông cũng sẽ mãi mãi được nhắc đến như vị tổng thống thứ 3 trong lịch sử Mỹ bị mang ra đàn hặc. Có những biến cố lịch sử không bao giờ có thể bị xóa khỏi ký ức tập thể của nhân loại. Với tôi, một trong những biến cố khó quên ấy chính là cuộc sát tế người Do Thái do Đức Quốc Xã chủ trương trong thời Đệ nhị Thế chiến.
Ngày 27 tháng Giêng vừa qua kỷ niệm đúng 75 năm ngày Hồng quân Liên Xô giải phóng trại tập trung Đức Quốc Xã tại Auschwitz. Ba Lan. Mặc dù sinh sau biến cố này gần 2 năm, với ký ức tập thể của nhân loại, tôi cũng vẫn cảm thấy như thể chính mình đã trải qua biến cố đau thương ấy. Rải rác khắp Âu Châu, đã có tới 6 triệu người Do Thái bị sát hại bằng nhiều cách khác nhau bởi bàn tay của chế độ Đức Quốc Xã và những người hợp tác với chế độ đồi bại này. Để cho mọi thế hệ ở khắp mọi nơi trên thế giới này đừng quên biến cố đau thương chung của toàn thể nhân loại ấy, ngày Mùng Một tháng Mười Một năm 2005, trong phiên khoáng đại lần thứ 42, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua một nghị quyết lấy ngày 27 tháng Giêng hàng năm làm Ngày Thế Giới Tưởng Niệm Cuộc Sát Tế.
Một người sinh sau đẻ muộn như tôi và chẳng có giây mơ rễ má nào với người Do Thái ở Âu Châu trong thời Đệ nhị Thế chiến mà vẫn cảm được nỗi đau chung của nhân loại thì huống chi những người còn sống sót trở về từ các trại tập trung và hậu duệ của họ. Nhưng hận thù có khi không phải là thuốc chữa cho vết thương tưởng chừng như không bao giờ khép lại ấy. Chính vì vậy mà ngày 27 tháng Giêng hàng năm, con cháu của những người còn sống sót và chính họ muốn nhắn gởi cho thế giới một thông điệp có giá trị hơn bao giờ hết cho thế giới ngày nay.
Chia sẻ trên trang mạng Psycholigy Today, Tiến sĩ Mona S Weissmark cho biết: cha mẹ của bà là những người sống sót trở về từ các trại tập trung Auschwitz, Dachau và Buchenwald.  Trong trại tập trung, mẹ của bà được đóng dấu lên cánh tay với con số 47021 và cha của bà mang số 184879. Những con số được xâm lên người này không bao giờ có thể được tẩy xóa. Chúng đã trở thành hình ảnh sống động của tính vô nhân đạo của con người trong cuộc sát tế người Do Thái.
Theo Tiến sĩ Weissmark, chỉ trừ một số ít anh chị em bà con, hầu như mọi người trong đại  gia đình của cha mẹ bà đều đã bị Đức Quốc Xã tàn sát. Trong bức hình của đại gia đình mà cha bà vẫn luôn giữ trong người, số người sống sót không đếm đủ trên đầu ngón tay!
Dù đã trải qua tận cùng của đớn đau và hãi hùng, cha mẹ của Tiến sĩ Weissmark vẫn quyết định không để cho con gái mình phải sợ hãi vì những ký ức của họ. Ông bà chỉ kể lại cho cô con gái nghe kinh nghiệm của họ khi được hỏi mà thôi. Họ đã cương quyết  chôn chặt quá khứ để cho con gái của họ có được một tuổi thơ hồn nhiên và hạnh phúc.
Tiến sĩ Weissmark chào đời tại một nông trại ở Vineland, Tiểu bang New Jersey, Hoa Kỳ. Cha mẹ của bà đã gặp nhau  và lấy nhau tại Đức sau Đệ nhị Thế chiến và di dân sang New York, rồi định cư tại Vineland. Vineland là quê hương thứ hai của nhiều người Do Thái sống sót từ các trại tập trung Đức Quốc Xã. Mặc dù cố gắng  chôn chặt quá khứ, cha mẹ của Tiến sĩ Weissmark cũng không thể tránh khỏi những câu hỏi nhức nhối của cô con gái như: tại sao cánh tay của họ bị xâm với những con số không thể tẩy xóa được? Cô dì, chú bác và ông bà nội ngoại của cô đã chết như thế nào? Các cai tù Đức Quốc Xã đã đối xử với họ ra sao? Làm thế nào để người Đức biết được họ là người Do Thái?
Tiến sĩ Weissmark thú nhận rằng bà hận người Đức và chỉ mong thấy họ đau khổ và bị trừng phạt vì những  tội ác họ đã gây ra cho người Do Thái. Có lúc người con gái đặt thẳng câu hỏi với mẹ mình: “Mẹ có thù ghét người Đức không?” Tiến sĩ Weissmark kể lại: lúc đó, mẹ bà mới nhìn thẳng vào mắt con gái  và chậm rãi nói từng tiếng một như thể muốn nhắn gởi cho mọi người một sứ điệp: “Mẹ không thù ghét người Đức. Hận thù cũng giống như bệnh ung thư. Nó đầu độc và lan ra toàn thể con người của con. Và chính con sẽ trở thành điều con thù ghét. Những người Đức Quốc Xã đã không chiến thắng bởi vì mẹ đã giữ được tình nhân đạo trong mẹ. Họ đã không thể và sẽ không thể cướp đi nó (tình nhân đạo) khỏi mẹ”.
Tiến sĩ Weissmark thú nhận rằng lúc đó bà không hiểu được hoàn toàn cái nhìn của mẹ mình. Làm sao mẹ bà không thể không thù ghét người Đức?
Thế rồi vài tháng trước khi qua đời, mẹ bà được một người thuộc Sáng Hội Shoah (Sáng hội Tưởng niệm cuộc sát tế) hỏi: “Bà có muôn nhắn gởi điều gì với thế giới về nỗi đau khổ mà bà đã trải qua tại Auschwitz không?” Mẹ bà im lặng một lúc rồi nói: “Tôi muốn thế giới biết rằng đừng có ai phải đau khổ như tôi đã từng đau khổ”.
Câu trả lời của người mẹ khiến cô con gái phải ngạc nhiên. Thì ra bà đã sống mỗi ngày nỗi đau mà bà đã từng nếm trải trong trại tập trung Auschwitz. Dù vậy, bà vẫn cương quyết không để cho hận thù gậm nhấm tâm hồn mình và chỉ mong sao không có ai phải đau khổ như mình. Tiến sĩ Weissmark kết luận: “Đây là một hành động cảm thông”
Trong một bài diễn văn đọc tại Tòa Bạch Ốc, Elie Wiesel (1928-2016) một người cũng sống sót trở về từ một trại tập trung Đức Quốc Xã và được trao tặng Giải Nobel Văn Chương năm 1986, đã nhấn mạnh rằng sự vô cảm của con người trước nỗi khổ đau của người đồng loại là mối nguy hiểm lớn nhứt đối với nhân loại.
Hitler đã không có ba đầu sáu tay để một mình có thể sát tế 6 triệu người Do Thái. Đa số người Đức đã bỏ phiếu để chuẩn nhận tư cách đồ tể của ông. Sát cánh bên ông còn có rất nhiều người rải rác khắp Âu Châu. Cái chết của 6 triệu người Do Thái là thước đo của chính sự vô cảm của con người. Quả thật điều nguy hiểm nhứt cho nhân loại không phải là bệnh tật hay chiến tranh mà chính là sự vô cảm. Đó là bài học có tính thời sự hơn bao giờ hết mà ngày 27 tháng Giêng hàng năm vẫn tiếp tục nhắc nhở cho thế giới.