Thứ Hai, 12 tháng 8, 2019

Kỳ thị quá đáng hay Ái quốc cực đoan


Mai Loan
Houston, Texas
Từ hơn hai năm qua, sự kiện TT Trump thường xuyên bắn những mẩu tin ngắn trên trang mạng Twitter với những lời lẽ và nội dung thường gây chấn động kinh hồn gần như đã trở thành một hiện tượng bình thường khiến mọi người hết còn kinh ngạc chưng hửng, có lẽ vì đã quen dần với những lời lẽ dối trá, thiếu văn hoá hay những luận điệu bóp méo sự thật hoặc cường điệu quá lố. Tuy vậy, thỉnh thoảng người ta cũng phải giật mình chú ý đến nó, điển hình là những gì đã vừa xảy ra mới đây, và những diễn biến tranh cãi và hệ luỵ nổ ra sau đó.
Vào cuối tuần trước, TT Trump bắn ra mẩu “tweet” để công kích mạnh mẽ bốn vị nữ dân biểu liên bang phe Dân Chủ là Alexandria Ocasio-Cortez (New York), Ilhan Omar (Minnesota), Ayanna Pressley (Massachusetts) và Rashida Tlaib (Michigan). Cả 4 vị đại biểu này đều là những người lần đầu tiên đắc cử vào chức vụ này trong cuộc bầu cử năm 2018 trong chiến thắng to lớn của đảng Dân Chủ đã lật đổ được đa số cầm quyền của phe Cộng Hoà để giành lại quyền kiểm soát Hạ Viện. Cả 4 phụ nữ này lại thuộc thành phần thiểu số, gốc La-tinh hoặc da đen, thắng cử ở địa phương với thành tích và lập trường khuynh tả.
Tuy nhiên, TT Trump lại nói rằng những nữ dân biểu “hãy nên trở về quê cũ” (go back) là “những vùng đất đầy tội phạm là nơi gốc gác của họ” (crime infested places from which they came), và lại còn xác định rằng bốn vị nữ lưu này tất cả đều “khởi thuỷ đến từ những quốc gia mà chính quyền tại đó đều hoàn toàn là tai hoạ.” (originally came from countries whose governments are a complete and total catastrophe). Nhưng sự thật là trong số đó có 3 người được sinh ra ở nước Mỹ, chỉ riêng có bà Omar là người tị nạn đến từ Somalia của Châu Phi, và sau đó đã được nhập tịch Hoa Kỳ trước khi dấn thân vào chính trường để đạt được thành công hiện nay.
Nhà báo Ishaan Tharoor, trong một bài viết trên tờ Washington Post, nhận định rằng sự độc hại ghê gớm đằng sau những mẩu “tweets” như trên quả tình không cần gì phải dấu giếm về tính kỳ thị sắc tộc: Rõ ràng là ông Trump đã công khai đặt vấn đề về vị thế của bốn vị nữ dân biểu liên bang gốc thiểu số này có quyền hiện diện trên đất nước Hoa Kỳ hay không.
Điều này có lẽ cũng đúng với chủ trương và thành tích của ông thích cổ súy cho chủ nghĩa quốc gia cực đoan của người da trắng, bắt đầu từ chiến dịch nghi ngờ về nguồn gốc sinh đẻ của ông Barack Obama là vị tổng thống da đen đầu tiên của nước Mỹ, cho đến những lời miệt thị đối với một vị thẩm phán gốc Mễ là Gonzalo Curiel vì nghi ngờ ông này sẽ thiên vị trong vụ xét xử về Trump University (dẫu rằng sau này ông Curiel cũng đã xét xử thuận lợi cho chính quyền Trump đầu năm 2018 trong một vụ kiện liên quan đến bức tường biên giới).
Rồi đến những lời lẽ than phiền của ông Trump rằng tại sao nước Mỹ không thu hút được những di dân đến từ những nước như Na Uy (gồm đa số da trắng) mà lại toàn là từ những nước Phi Châu nghèo đói mà ông gọi là “những nước đầy hố phân” (shithole countries). Chưa kể đến trước đó là những đòn tấn công phủ đầu lên tất cả những người Hồi-giáo, hoặc là những lời lẽ bênh vực cho những thành phần cực đoan chủ trương “da trắng thượng đẳng” (như trong vụ biểu tình tại Charlottesville) và những chính sách trong hai năm qua luôn có tính cách hạ phẩm giá những khối di dân và gốc thiểu số.
Dĩ nhiên, những lời lẽ đầy tính kỳ thị sắc tộc như vậy đã dẫn đến phản ứng bực tức và giận dữ từ nhiều chính trị gia phe Dân Chủ cũng như của một số các lãnh tụ ở Âu Châu. Tại Hoa Kỳ cũng như ở nhiều quốc gia khác trên thế giới hiện nay, người ta khó lòng ngồi yên chấp nhận chuyện một người nào đó có quyền nói với người khác rằng “anh hãy về nơi quê xưa gốc gác của mình đi”.
Bà Nancy Pelosi, Chủ tịch Hạ Viện, đã phản bác như sau: “Khi ông Donald Trump nói với 4 vị dân biểu liên bang là hãy trở về quốc gia cũ của họ, ông ta đã một lần nữa xác định lại cái kế hoạch ‘Hãy Làm Cho Nước Mỹ Vĩ Đại Trở Lại’ thật ra chỉ là chính sách ‘Hãy Làm Cho Nước Mỹ Trở Thành Da Trắng Trở Lại’. Sự đa dạng của chúng ta chính là sức mạnh và sự đoàn kết của chúng ta chính là điều tạo nên quyền lực cho quốc gia này.”
Ông Sadiq Khan, Thị trưởng của thủ đô Luân Đôn tại Anh Quốc, cũng đã không ngần ngại lên án nội dung mẩu “tweet” của TT Trump: “Tôi đã từng nghe những lời lẽ như vậy từ cửa miệng của những kẻ kỳ thị và phát-xít. Nhưng chưa bao giờ nghe được từ một chính trị gia dòng chính. Nhưng giờ đây chính vị tổng thống Mỹ lại là người thốt ra những lời lẽ tệ hại như vậy.
Ngay cả ban chủ biên tờ The Wall Street Journal, một nhật báo bảo thủ được coi là thành trì lý luận của đảng Cộng Hòa, cũng viết trong một bài xã luận nói rằng ông Trump nói không đúng sự thật (counterfactual) và ông Trump dại, nếu không muốn nói là “ngu xuẩn về mặt chính trị” (politically stupid).
Nói không đúng sự thật, vì khi ông Trump khuyến cáo bốn bà dân biểu da màu hãy rời nước Mỹ để “trở về xứ” của họ, ông không chịu tìm hiểu trước để biết rằng ba trong bốn người đó sinh trưởng ở Mỹ. Đây chính là xứ của họ chứ còn nơi nào khác nữa, cho dù họ không có cùng mầu da như ông Trump và nhiều người Mỹ trắng khác. Các đời ông nội, ông cố của họ đến từ các nước Nam Mỹ hay Phi Châu thì cũng chẳng khác gì các đời ông nội, ông cố của ông Trump đến từ nước Đức, hoặc của bố mẹ vợ ông đến từ Slovenia ở Âu Châu.
Gọi là dại dột hay ngu xuẩn, vì ông Trump đã làm cho hai phe trong đảng Dân Chủ đang xung khắc bỗng dưng đoàn kết lại! Bốn bà dân biểu này, với chủ trương gần như là “cực tả”, đã gây khó xử không ít cho giới chức lãnh đạo của phe Dân Chủ cũng như bà Chủ tịch Nancy Pelosi vì dễ trở thành mục tiêu tấn công cho TT Trump và phe Cộng Hoà trong kỳ bầu cử năm 2020 khi họ nhắm vào các chủ trương cấp tiến quá khích của nhóm này gây khó chịu cho nhiều thành phần cử tri da trắng. Giờ đây, bỗng dưng ông Trump tạo cơ hội cho bà Pelosi đóng vai đàn chị đứng ra bênh vực bốn cô em trẻ tuổi và háo thắng. Hai bên đã giải hoà và nội bộ phe Dân Chủ ít ra là sẽ êm thắm trong thời gian sắp tới.
Tuy nhiên, TT Trump không phải là người dễ dàng chịu thua, cũng như không bao giờ chịu lên tiếng xin lỗi về những sai trái dù lộ liễu của mình. (Trong vụ tai tiếng cáo buộc về nơi chốn sinh đẻ của TT Obama, vào năm 2016 ông Trump đã lên tiếng ngắn gọn để cuối cùng phải chịu thú nhận rằng quả tình ông Obama là người sinh đẻ tại Hawaii, coi như chấm dứt những chiến dịch tin đồn dối trá từ trước. Nhưng liền sau đó ông lại quay sang đổ tội lên đầu bà Clinton!) Trong bối cảnh phân hoá dữ dội hiện nay trên chính trường và xã hội nước Mỹ, TT Trump càng bạo gan và táo tợn hơn nữa vì đã có sẵn hậu ý chính trị khi biết rằng những lời lẽ gây chống đối và tranh cãi đó nhiều khi lại kích động hữu hiệu đối với khối cử tri bảo thủ cực đoan gần như là sẵn sàng ủng hộ ông cuồng nhiệt trong suốt hơn 2 năm qua.
Khi được giới truyền thông phỏng vấn sau đó rằng liệu ông có cảm thấy hối tiếc hay không trước những lời nhận định được nhiều người đánh giá là kỳ thị sắc tộc, TT Trump còn tố mạnh hơn nữa bằng cách chụp mũ cho những nữ dân biểu này là “cộng sản”, và cáo buộc sai trái rằng bà Omar đã từng ca ngợi và ăn mừng tổ chức khủng bố Al Qaida, sau đó còn đưa ra lời chụp mũ rằng cả 4 vị nữ dân biểu này trước sau gì cũng có thể là một mối đe doạ cho nước Do Thái. TT Trump đã mạnh miệng xem thường sự phản đối nếu có qua lời phát biểu: “Điều đó chẳng làm tôi phải quan tâm bởi vì có nhiều người đồng tình với nhận định của tôi. Và tất cả những gì tôi đã nói là nếu như họ muốn rời khỏi nước Mỹ, thì họ cứ ra đi.
Dĩ nhiên nhiều người đã phân tích về tính chất mâu thuẫn và đạo-đức-giả lộ liễu trong việc ông Trump đã đề nghị những người chống đối ông khi họ chê trách về tình hình nước Mỹ hiện nay có nhiều điều tồi tệ là hãy nên rời khỏi xứ này. Bởi vì chính cá nhân TT Trump, trước và sau khi lên nắm quyền, đã thường xuyên chỉ trích rất nhiều định chế vể xã hội dân sự của Hoa Kỳ, chê bai về tình hình và đời sống tại nhiều thành phố ở Mỹ, đả kích nhiều chính trị gia và kể cả những quân nhân được xem là anh hùng chiến tranh (như nghị sĩ John McCain) trong khi chính mình lại là kẻ xin hoãn dịch đến 5 lần. Trong khi đó, ông Trump lại thường đề cao quá lố những lãnh tụ của các quốc gia kẻ thù với Hoa Kỳ như Vladimir Putin của Nga hoặc Kim Jong Un của Bắc Hàn. Nhưng có bao giờ những người chống đối ông đã yêu cầu TT Trump là hãy rời bỏ nước Mỹ và đến sinh sống tại những nước đó? 
Đối với nhà báo Adam Serwer, trong một bài viết trên tạp chí The Atlantic, những lời viết của TT Trump rõ ràng là một hành động kỳ thị sắc tộc theo đúng định nghĩa sách vở của nó (literally textbook racism). Ngay cả với chính quyền Hoa Kỳ, theo quy định của cơ quan chính quyền liên bang là Uỷ Hội Bảo Vệ Cơ Hội Tìm Việc Đồng Đều (EEOC), khi một người sếp hay chủ nhân nói với nhân viên câu nói “Hãy trở về lại nơi xuất xứ của anh chị” thì điều đó là một thí dụ về tội quấy rối bất hợp pháp dựa trên yếu tố nguồn gốc quốc gia.
Sự kiện ông Trump đã cáo buộc sai trái đối với 3 vị nữ dân biểu là người được sinh đẻ tại Hoa Kỳ khi đòi họ hãy trở về quê cũ lại còn minh chứng một điều đáng lo ngại khác. Đó là việc một vị đương kim tổng thống của nước Mỹ bầy tỏ cho mọi người thấy niềm tin theo ý-thức-hệ của ông rằng cái quyền có quốc tịch Mỹ phải được đặt trên nền tảng sắc tộc, và chỉ có những người da trắng mới có thể thực sự trở thành những công dân Hoa Kỳ, còn tất cả những người da mầu khác, đặc biệt là thành phần gốc di dân, chỉ có thể là công dân Mỹ với một số những điều kiện ban phát nào đó.
Đây chính là một trong những yếu tố nền tảng của chủ thuyết ái quốc của dân da trắng, cho rằng chỉ có họ mới là công dân, là người ái quốc và do đó đất nước này chỉ nên giành cho người da trắng. Và nghiệt ngã thay, điều này lại đúng với những gì tâm huyết của TT Trump về mặt ý-thức-hệ. Nhưng nó chỉ nói lên một niềm tin về mặt tâm lý hay tinh thần, chứ không thể là một lời xác định về sự thật diễn ra ngoài đời và được áp đặt trong xã hội.
Nhưng nó cũng không chỉ giới hạn là một niềm tin về mặt tinh thần mà còn có thể là một tính toán rất khôn ngoan về mặt chính trị và chiến lược vận động tranh cử. TT Trump có thể nói rất đúng khi cho rằng có rất nhiều người đồng tình với những lời phát biểu của ông khi tấn công những vị dân biểu khuynh tả thuộc phe Dân Chủ. Bởi vì những mẩu “tweets” loại này chắc chắn là tiếp tục gây kích động cho khối cử tri ủng hộ ông cuồng nhiệt trong phe Cộng Hoà và tiếp tục thổi lửa thêm vào làn sóng khuấy động của những phần tử cực hữu trên nhiều diễn đàn truyền thông.
Khác với các vị tổng thống tiền nhiệm, hoặc đa số các vị dân cử khác, phần lớn đều thay đổi những lời lẽ hay quyết định để trở thành ôn hoà hơn nhằm phục vụ đại đa số người dân trên toàn vùng chứ không chỉ giành cho những cử tri ủng hộ mình như trong thời gian tranh cử, TT Trump trong suốt hơn 2 năm qua đã tiếp tục lựa chọn con đường chỉ phục vụ cho khối cử tri trung kiên với mình triệt để, dù rằng nó chỉ chiếm thiểu số trên toàn quốc. Nó có mục đích duy trì sự ủng hộ của khối này ở tỉ lệ rất cao và kiên trì từ đó đến nay, chứ không cần tìm cách mở rộng cánh cửa để mong đón nhận sự ủng hộ từ những khối cử tri khác trước đó chưa từng ủng hộ ông.
Đứng trước mùa vận động cho kỳ bầu cử vào cuối năm 2020, TT Trump đã quyết định lựa chọn chiến lược rõ ràng y hệt như những gì đã xảy ra vào năm 2016: đó là ông sẽ cáo buộc tất cả những ai chống đối là thành phần phản quốc, kẻ thù của nhân dân, hoặc là những kẻ tiếp tay cho những mối đe doạ từ những thành phần di dân chuyên gây tội phạm, cho dù đó là những viên chức kỳ cựu, các chính trị gia thuộc 2 phía và đại đa số giới truyền thông dòng chính.
Mục đích của TT Trump không phải nhằm tấn công để hạ bệ 4 vị nữ dân biểu này, bởi lẽ họ đã được đắc cử vẻ vang dù với lý lịch là người thiểu số và có 2 người theo Hồi-giáo bởi vì đa số cử tri tại 4 địa hạt đó đã ủng hộ họ mạnh mẽ và nhiều phần là sẽ tiếp tục ủng hộ trong những kỳ bầu cử về sau này. Họ chỉ là đại diện cho 4 địa hạt riêng rẽ trong tổng số 435 địa hạt trên toàn nước Mỹ, và do đó đương nhiên có số cử tri cũng đặc thù và có thể khác biệt với cử tri tại những địa hạt khác. Đó là quyền lựa chọn của mỗi khối cử tri riêng biệt của từng địa hạt để có tiếng nói đại diện tại Hạ Viện Hoa Kỳ (cho dù họ chỉ chiếm thiểu số) theo như Hiến Pháp Hoa Kỳ đã quy định và phân quyền rõ ràng, cho dù đại đa số người dân trên toàn nước Mỹ có không đồng ý với họ.
Nhưng TT Trump muốn nêu tên 4 vị này với những lời cáo buộc về chủ trương cực tả của họ là vì ông muốn chụp mũ, đánh đồng toàn bộ các vị dân biểu và nghị sĩ của đảng Dân Chủ đều có cùng lập trường thiên tả như vậy trong kỳ bầu cử sắp tới để dễ bề khích động khối cử tri bảo thủ cực đoan sẽ hăng hái đến thùng phiếu lần tới.
Và dĩ nhiên, TT Trump không bao giờ chịu nhìn nhận những điều gì mình nói hay làm là sai lầm, hoặc mang tính cách kỳ thị sắc tộc như trong trường hợp này. Theo nhận định của nhà bỉnh bút Greg Sargent, trong một cột mục trên tờ Washington Post, việc TT Trump phủ nhận tính kỳ thị sắc tộc trong những lời lẽ lần này chỉ là một cố gắng nhằm giảm thiểu những tai hại về mặt chính trị đối với những khối cử tri trung dung có thể khó chịu vì nó. Mục đích của sự phủ nhận này là nhằm giúp cho ông Trump có toàn quyền lên tiếng về những chủ đề kỳ thị sắc tộc mà không bị cáo buộc là con người có đầu óc kỳ thị, và do đó không cần gì phải lên tiếng xin lỗi hoặc nhường bước những kẻ chống đối và cáo buộc ông.
Thái độ tự tin của TT Trump trong vụ này lại càng được minh chứng rõ ràng hơn nữa trong những ngày sau đó. Trong một cuộc tập họp quần chúng ủng hộ diễn ra vào tối thứ Tư tại North Carolina, TT Trump đã lập lại những lời cáo buộc về nữ dân biểu Ilhan Omar, gốc Somalia và theo Hồi-giáo, vốn là mục tiêu chống đối mạnh mẽ nhất của những người theo khuynh hướng cực hữu. Chính vì thế nên đám đông trong hội trường đã không ngần ngại đáp ứng, đồng thanh reo hò khẩu hiệu “Tống cổ chị ta về nước!” (Send her back), bắt chước theo khẩu hiệu ăn khách trước đây khi tấn công bà Hillary Clinton là “Tống giam bà vào tù!” (Lock her up). 
Tiếng reo hò vang dội kéo dài đến 13 giây đồng hồ giữa lúc TT Trump đứng im và ngẩng mặt tự hào về tài nghệ khích động đám đông của ông trước khi tiếp tục bài nói chuyện của mình. (Những hình ảnh được thu vào video cho thấy rõ ràng điều này chứ không hề là “fake news”).
Qua ngày hôm sau, dĩ nhiên là nhiều tiếng nói chống đối lại nổi lên, kể cả từ một số những viên chức và chính trị gia phe Cộng Hoà dám can đảm và thẳng thắn nói lên ý nghĩ của mình. TT Trump liền lên tiếng cải chính, nói rằng ông ta đã cố gắng tìm cách xoa dịu đám đông này để đừng tiếp tục reo hò như vậy (khi lên tiếng đòi hỏi trục xuất một vị dân biểu liên bang được đắc cử chính thức và hợp pháp). Dĩ nhiên những hình ảnh thu lượm được hoàn toàn trái ngược lời biện bạch gượng gạo trâng tráo của ông, nhưng cũng không hề khiến cho TT Trump và những người ủng hộ phải cảm thấy ngượng ngùng.
Để rồi hai ngày sau đó, ông Trump lại lật lọng lần nữa để cho rằng ông rất tán đồng việc reo hò của đám đông đòi tống cổ nữ dân biểu Omar về nước. Ông đã ca ngợi họ là những người thực sự ái quốc! Có lẽ giờ đây mọi người hết còn thấy ngạc nhiên hay chưng hửng trước sự kiện một vị nguyên thủ quốc gia sẵn sàng ăn nói lật lọng, cho dù là nó có thể di hại đến nhiều thế hệ sau này khi các con em lớn lên cũng không ngần ngại nói dối tương tự và lập luận rằng một ông tổng thống cũng đã từng làm như vậy nhiều lần.  
Dù đa số các viên chức trong đảng Cộng Hoà gần như im lặng đồng tình với lời lẽ và hành động của TT Trump, nhưng nhiều chuyên gia đã lên tiếng báo động về hành vi của vị tổng thống và sự việc đa số những người trong đảng Cộng Hoà cùng đồng tình với nó. Ban chủ biên của tờ Washington Post, trong một bài xã luận đã nhận định: “Việc ông Trump đòi hỏi các vị dân biểu phe Dân Chủ hãy nên trở về gốc gác cũ của họ là những nước tệ hại là coi như đặt trên nền tảng rằng nguồn gốc xuất xứ của một người chứ không phải là thành tích, bản chất và lý lịch cá nhân của họ mới là điều kiện cho phép họ được tham dự vào chính trường quốc gia. Và chuyện ông phỉ báng họ về tội “hận thù” quốc gia này cũng là một điều không thể chấp nhận được.” (Các nhà báo của tờ Washington Post đã ghi nhận là TT Trump trong thời gian qua đã nói dối ít nhất trên 10,000 lần, và chắc chắn con số này còn tiếp tục gia tăng mỗi ngày.)
TT Trump đã tìm thấy trong chính trường phe Cộng Hoà hiện nay có một luồng sinh khí của những thành phần da trắng cực đoan và ông đã khéo léo chiêu dụ nó về dưới trướng để đạt được quyền lực. Vì thế nên ông đã tiếp tục dựa vào nó trong nhiều trường hợp và từ từ lôi kéo theo cả đảng Cộng Hoà đi cùng về hướng này. Và không lấy gì làm lạ khi đảng Cộng Hoà ngày nay, theo lời nhận định của nhà báo Jamelle Bouie, trong một cột mục bình luận trên tờ New York Times, “đã trở thành một đảng đang nâng cao cái khối thiểu số cử tri nền tảng của mình  với khuynh hướng bảo thủ cực đoan và coi đó như là cái nước Mỹ nguyên thuỷ và chính gốc, nên họ cũng sẵn sàng giới hạn lại cái khối cử tri của mình thay vì mở rộng ra để đón nhận những cử tri mới.”
Chỉ có một thiểu số nhỏ các chính trị gia của phe Cộng Hoà đã dám lên tiếng chỉ trích những lời cáo buộc sặc mùi kỳ thị sắc tộc của TT Trump. Đa số còn lại giữ thế im lặng, “thủ khẩu như bình” như là một biện pháp khôn ngoan nhất hiện nay vì họ không muốn làm phật lòng khối cử tri ủng hộ cuồng nhiệt cho TT Trump và sau đó có thể sẽ bị trả thù bằng cách sẽ phải đối đầu với các ứng viên cực hữu khác trong kỳ bầu cử sơ bộ bên đảng Cộng Hoà. Một số khác cũng tìm cách biện hộ cho TT Trump một cách miễn cưỡng.
Một trong những người dám can đảm chỉ trích TT Trump là bà Jennifer Horn, một cựu chủ tịch tỉnh bộ đảng Cộng Hoà tại tiểu bang New Hampshire, cựu uỷ viên của Ban Thường trực Trung ương Đảng Cộng Hoà. Trong một bài xã luận đăng trên tờ USA Today, bà Horn viết rằng bấy lâu nay bà đã ca ngợi những điều tốt đẹp về đảng của TT Lincoln, và lý luận rằng những đức tính cao đẹp đó là nền tảng giúp cho nước Mỹ trở thành quốc gia vĩ đại nhất trên địa cầu: đó là tự do, bình đẳng và cơ hội không giới hạn.
Tuy nhiên, giờ đây trái tim của bà Horn đã tan vỡ khi ngồi chứng kiến những giây phút cuối cùng của một tiến trình kéo dài trong 3 năm qua rằng cái đảng ngày nào của TT Lincoln giờ đây có lẽ sắp chết, khi nó đã bị nuốt ngốn bởi những hành động của một người tham nhũng, gian dối, xấu xa và phá hoại đang khoác lên mình cái nhãn hiệu của chủ nghĩa Cộng Hoà đã bị đánh cướp. Nó đã biến một cái đảng ngày nào vĩ đại giờ đây đã trở thành một phong trào quốc gia cực đoan sặc mùi kỳ thị chủng tộc, chuyên dùng lòng thù hận và đố kỵ để chia rẽ và phá hoại.
Vị tổng thống này đang dấn thân vào những hành động kỳ thị sắc tộc tệ hại nhất. Đó là vì ông đã dùng những từ ngữ kỳ thị nhằm mục đích gây kích động đám đông và thuyết phục một người Mỹ rằng người Mỹ khác là kẻ thù của anh ta chỉ vì họ khác biệt mầu da, và ông tổng thống đó đang làm việc này chỉ nhằm thúc đẩy mục tiêu và quyền lực cho chính mình.
Điều đáng tiếc là hiện nay đa số các vị dân cử phe Cộng Hoà ở Quốc Hội đều im lặng thay vì phải đoàn kết để lên tiếng chống đối lại hành vi đáng lên án này của vị tổng thống. Chỉ có dân biểu liên bang Will Hurd tại Texas là dám gọi những lời tấn công này là “kỳ thị sắc tộc và bài ngoại”. Và dân biểu liên bang Michael Turner tại Ohio kêu gọi TT Trump cần phải lên tiếng xin lỗi. Nhưng đa số còn lại đều im lặng, với tính toán riêng của họ rằng phải đứng chung với ông Trump, hay ít ra là im lặng để mặc cho ông nói tiếp những lời lẽ kỳ thị, vì mục đích phải giữ sự đoàn kết trong đảng để có thể nâng cao xác suất thành công trong kỳ bầu cử năm 2020.
Tuy nhiên, điều này chắc chắn sẽ đem lại một kết quả trái ngược. Bởi vì khi không dám lên tiếng nói lên sự thật về vị tổng thống hiện nay, những người của phe Cộng Hoà giờ đây đã mặc nhiên cho phép những lời lẽ gây hận thù của ông Trump làm định nghĩa về cái đảng chính trị của mình cho nhiều thế hệ kế tiếp trong tương lai.
Sự kiện dân biểu Kevin McCarthy, Chủ tịch khối Cộng Hoà tại Hạ Viện, bênh vực rằng những mẩu “tweets” của ông Trump là những tranh luận giữa chủ nghĩa xã hội và tự do thật ra chỉ là một cố gắng lộ liễu và đáng chê trách nhằm che đậy chủ nghĩa quốc gia cực đoan và kỳ thị sắc tộc và nguỵ biện như là một cố gắng đáng khen. Những vị dân cử phe Cộng Hoà trước đây đã từng lên tiếng phản đối những lời lẽ và hành vi của ông Trump giờ đây lại im lặng gần như đồng tình, rõ ràng là đang tự chôn mình trong cái đạo-đức-giả của chính họ, trong một niềm tin hão huyền và tuyệt vọng rằng họ có thể giành được chiến thắng về bầu cử.   
Có thể nói chưa bao giờ có một lời chỉ trích mạnh bạo và thẳng thừng, nói đúng tim đen của những chính trị gia kỳ cựu của phe Cộng Hoà hiện nay, mà lại đến từ cửa miệng của một viên chức cao cấp và kỳ cựu của đảng Cộng Hoà tại New Hampshire cũng như ở Trung ương Đảng như bà Jennifer Horn.
Để kết thúc bài viết lần này, xin góp ý thêm về chuyện những người bênh vực chuyện TT Trump lên tiếng đòi tống cổ những ai lên tiếng chỉ trích về những điều trái tai gai mặt xảy ra tại Hoa Kỳ là hãy nên trở về cố quốc, đặc biệt là đám đông những người Việt cư ngụ tại Mỹ. Tuy nhiên, điều cắc cớ là nếu có ngày nào đó, TT Trump hay bất cứ một nhân vật nào, dù là Cộng Hoà hay Dân Chủ, bỗng dưng lên tiếng yêu cầu đòi tống xuất con em chúng ta hãy trở về nguồn gốc quê cũ là nước Việt Nam, vốn đang là một nước tệ hại với nhà cầm quyền tham nhũng và đàn áp người dân, bóp nghẹt các quyền tự do cơ bản, liệu chúng ta có ngồi im để chấp nhận những lời yêu cầu quá đáng và xấc xược như vậy hay không, chưa kể là nó hoàn toàn phi lý và bất hợp pháp.
Dĩ nhiên, những đòi hỏi như vậy hoàn toàn sai lầm về tình cũng như lý. Đứng về mặt luật pháp, mọi người khi đã có quốc tịch Hoa Kỳ tức là đã đáp ứng đầy đủ yếu tố pháp lý đòi hỏi nên từ đó cũng có đầy đủ quyền lợi của một công dân được Hiến pháp Hoa Kỳ bảo vệ, trong đó có quyền lợi lớn nhất được ghi trong Tu Chính án số 1: đó là quyền tự do ngôn luận, tức là có quyền đề cao hay chỉ trích bất cứ ai, kể cả tổng thống, miễn là hành xử trong vòng hợp pháp. (Có lẽ đa số những người Cộng Hoà ủng hộ TT Trump hiện nay đã sử dụng thành thục quyền tự do ngôn luận này trong suốt 8 năm cầm quyền của ông Obama để chỉ trích ông bằng những ngôn từ thậm tệ, nhưng có ai lên tiếng cáo buộc họ là không nhớ ơn nước Mỹ, và đòi đuổi cổ họ về lại nguyên quán.)
Chẳng hạn như con cháu chúng ta được sinh đẻ và lớn lên tại đất nước Hoa Kỳ, chúng cũng có quyền tự do ngôn luận như bất cứ mọi công dân nào khác, tuy thuộc những gốc gác khác nhau cho dù đó là từ Phi Châu, Á Châu, hoặc Âu Châu v.v. Không ai có quyền đòi đuổi con cháu chúng ta là hãy trở về nguyên quán là nước VN mỗi khi chúng lên tiếng bình phẩm hay chỉ trích những lời lẽ hay chính sách của các viên chức chính quyền tại đây nếu chúng thấy những lời lẽ hay chính sách đó là sai lầm.
Ngay cả cá nhân TT Trump, hoặc bà vợ của ông là Melania gốc gác từ Âu Châu, họ cũng có ông bà là di dân tuy là người da trắng, nhưng cũng đã nhập cảnh vào Hoa Kỳ từ mấy thập niên trước rồi mới sinh ra anh em nhà ông Trump. Bây giờ chẳng lẽ chúng ta đòi đuổi gia đình ông Trump trở về nước Đức là quê hương của các đời ông nội, ông cố của ông nếu như mỗi khi ông thường lên tiếng chê bai về một số những điều tại Hoa Kỳ, điển hình như ông thường chê bai về thành tích của các vị tổng thống tiền nhiệm đã làm suy bại nước Mỹ?
Sau cùng, ngay cả những người Mỹ trắng lâu đời lên tiếng đòi hỏi đuổi cổ về nguyên quán đối với những người gốc di dân dù rằng họ cũng có quốc tịch Mỹ vì nghĩ rằng đất nước này là của người Mỹ trắng, thì chính những người này cũng hoàn toàn sai lầm. Bởi vì nước Mỹ ngày nay, tức là Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, từ lúc ban đầu cũng không thuộc về người Mỹ trắng, mà là đất đai của những người địa phương gốc Da Đỏ (Indians). Rồi đất đai của họ bị những người ở bên Anh trên đường lưu đầy bỗng khám phá ra và đặt chân lên. Và sau đó, những người Âu Châu này đã cần cù, siêng năng để dần dần định cư, làm ăn thành công và chiếm luôn đất nước của họ để áp đặt luật lệ mới và đẩy những khối người dân da đỏ này vào những vùng định cư riêng biệt cho họ xa lánh với đô thị.
Tiếc là thỉnh thoảng chúng ta cũng gặp một vài người Việt thuộc loại “đội trên đạp dưới” nên thích tăng bốc những người da trắng và chê bai người da mầu, như hai anh chàng Vũ Kiểm và Phạm Cơ là xướng ngôn viên trên đài phát thanh VietRadio tại Houston, khi thường xuyên gọi 4 vị nữ dân biểu liên bang này trong lúc đọc tin tức với những từ ngữ miệt thị là “4 con ngựa non háu đá, 4 con gà mái tác oái tác quái” trong khi không chịu nhìn lại thành tích của mình chưa hẳn đáng xách dép cho những người đã thành công để có thể thắng cử vẻ vang vào chức vụ dân biểu liên bang với biết bao trở ngại vì mầu da và nguồn gốc của họ.
Đáng buồn là vậy, đối với những người đang làm trong ngành truyền thông tiếng Việt hiện nay.
                                                                                                 
MAI LOAN
Houston, Texas, ngày 25 tháng 7/2019


Thứ Bảy, 10 tháng 8, 2019

Những lời của tôi đã khích động bạo hành...


Rob Schenck
Chu Văn chuyển ngữ
Với tư cách là lãnh tụ chống phá thai trên toàn quốc trong hơn 30 năm,  từ trên bục giảng tôi thường sử dụng ngôn ngữ khích động. Tại những cuộc tập trung của tổ chức chống phá thai Operation Rescue (Chiến dịch Cứu thoát), tôi đã mô tả các bác sĩ phá thai như những tên sát nhân, những kẻ trục lợi trên sự khốn khổ của người khác một cách vô liêm sỉ, những quái vật và ngay cả những con heo. Thế rồi một thành viên của phong trào của tôi đã bắn hạ và giết chết ông Barnett Slepian, một bác sĩ sản khoa tại Buffalo, Tiểu bang New York. Tôi đã từng gọi đích danh người này trong các cuộc biểu tình và những cuộc phong tỏa các bệnh viện. Slepian không phải là người cuối cùng đã chết hay bị thương nặng bởi những cá nhân đã từng hiểu theo nghĩa đen những điều mà lúc đó tôi nghĩ là những lời nói vô hại. Giờ đây tôi phải sống với nỗi đau buồn vô hạn và hối tiếc rằng phải mất một thời gian dài để học được rằng những lời nói độc hại rất thường dẫn đến chết chóc.
Tổng thống Donald Trump đã từng gọi người Mễ Tây Cơ là những kẻ hãm hiếp và sát nhân. Ông đã cảnh cáo rằng những người vượt biên giới phía nam là “những kẻ mang ma túy” (vào Mỹ). Ông cho rằng các viên chức Mễ là “những tên lưu manh và họ gởi những phần tử xấu vào (đất Mỹ) vì những thành phần này không chịu trả tiền cho họ”.  Và ông đã bắn ra một “tuýt”: “Chúng ta không thể cho phép những người này xâm lăng xứ sở của chúng ta”. Khi nói những điều đó, Tổng thống Trump đã hạ phẩm giá và miệt thị người dân của ông và biến họ thành mục tiêu (bắn giết) của  một tên giết người hàng loạt như người đã giết 22 người, bắn bị thương nhiều người cũng như tạo chấn thương cho cả một cộng đồng tại El Paso trong những ngày qua.
Ông Trump có thể nghĩ mình là một người “khôn” khi khai thác sự giận dữ, uất hận, sợ hãi và hận thù của một số cử tri. Thật ra, ông không phải là người “khôn”. Ông chỉ là một người nguy hiểm. Tuy chúng ta không biết chắc chắn, nhưng những lời tố cáo thiếu trách nhiệm, vô căn cứ và đầy miệt thị đối với người gốc La Tinh (từ Châu Mỹ La Tinh) và những người khác đã là động lực khiến tay súng ở El Paso đã lái xe hơn cả 8 tiếng đồng hồ đến biên giới để tìm những kẻ “xâm lăng” mà ông đã cảnh cáo. Trong một bản tuyên ngôn, tay súng này đã viết rằng cái nhìn của hắn “có trước” (cái nhìn) của ông Trump), nhưng ngôn từ của hắn lại giống ngôn từ của Tổng thống một cách kỳ lạ. (Tay súng này) viết: “Cuộc tấn công này là một sự đáp trả trước cuộc “xâm lăng” của người nói tiếng Tây Ban Nha tại Texas”. Ít nhứt với tư cách là tổng thống, ông Trump đã “chúc lành” cho những chủ đích đen tối và xấu xa của tay súng này. Có một điều mà chúng ta có thể chắc chắn là Tổng thống sẽ tiếp tục châm ngòi và khích động những  kẻ cuồng dại lao đầu vào những hành động sát nhân nếu ông tiếp tục miệt thị người da đen và da màu.
Ngôn ngữ chống di dân thô lỗ của Tổng thống là điều không thể chấp nhận được. Vấn đề không phải là tư cách thiếu lịch sự, vấn đề cũng không phải các chính sách sai lầm hay cách  ăn nói bỗ bã của ông mà là những lời nói không cần thiết đang ngày càng gây nguy hại cho nhiều người. Nếu ông Trump vẫn tiếp tục tuôn ra những lời nói thóa mạ thì những kẻ uất hận và bị tra tấn như tên giết người hàng loạt tại El Paso sẽ tiếp tục hiểu (những lời nói của) ông một cách nghiêm chỉnh. Và sẽ có nhiều cuộc tắm máu hơn, nhiều mạng sống hơn sẽ bị cướp đi, sẽ có nhiều khổ đau và chấn thương hơn và một lối sống ngày càng xuống cấp hơn cho mọi người Mỹ.
Trump cần phải học bài học khủng khiếp mà tôi đã học được là: lời nói quan trọng, đó là cả vấn đề sinh tử!

(Rob Schenck, My Words Led to Violence. Now Trump’s Are Too

(Rob Schenck  là một mục sư tin lành, đã từng tranh đấu cho Tổ chức Operation Rescue (Chiến dịch Cứu thoát) và nhiều nhóm chống phá thai trên toàn quốc. Ông hiện đang là chủ tịch của Viện The Dietrich Bonhoeffer tại Washington, D.C và tác giả của cuốn sách “Costly Grace: An Evangelical Minister’s Rediscovery of Faith, Hope and Love” (Ân sủng đắt giá: một Mục sư Tin lành tìm lại được Niềm Tin, Hy Vọng và Tình Yêu)


Thứ Bảy, 3 tháng 8, 2019

Cảm thông: sức mạnh tối thượng!


Chu Thập
3/8/19
Tôi tưởng chỉ có Hoa Kỳ mới vĩ đại. Bên Úc Đại Lợi của tôi, cũng có người sính sự vĩ đại lắm. Trong cuộc bầu cử dạo tháng Năm 2019 vừa qua, tỷ phú hầm mỏ Clive Palmer, sáng lập viên của Đảng Palmer Thống Nhứt sau đổi thành Đảng Úc Đại Lợi Thống Nhứt, đã tung ra khẩu hiệu “Làm cho Úc Đại Lợi vĩ đại” (Make Australia Great). Trong suốt mùa bầu cử, đi đâu tôi cũng thấy khẩu hiệu ấy. Nhưng  người dân Úc xem ra  bằng lòng với tình trạng “miệt dưới” của mình hơn là vươn lên vị trí vĩ đại.
Vĩ đại và làm cho vĩ đại trở lại thì đã có Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Donald Trump rồi. Ở quốc gia vĩ đại này cái gì cũng đều nhứt hết: kinh tế mạnh nhứt, thất nghiệp thấp nhứt, quân sự mạnh nhứt. Cái gì cũng nhứt hết! Chỉ có điều: gần đây tôi lấy làm lạ không hiểu tại sao trong quốc gia vĩ đại này người dân lại kéo nhau sang Gia Nã Đại và Mễ Tây Cơ để mua thuốc chữa bệnh!
Tôi không rành mấy về hệ thống y tế của quốc gia vĩ đại này. Nhưng sống trong một đất nước mà lúc nào cũng phải ngay ngáy lo tiền thuốc thang đến nỗi phải vác giò chạy sang các nước khác để mua thuốc men chữa bệnh thì phiền quá! Có hơn gì Trung Cộng đâu. Cách đây không lâu, người ta thấy cảnh người dân của quốc gia có nền kinh tế đứng nhì thế giới và đang lăm le qua mặt Hoa Kỳ cũng như muốn  bá chủ thế giới, cũng đua nhau sang Úc Đại Lợi mua sữa dành cho trẻ con. Họ cũng đi thành nhóm, chờ siêu thị vừa mở là vào quơ hết sữa bột trẻ con trên kệ và lắm khi còn dành giựt lẫn nhau. Bát nháo và hết sức khó coi!
Úc Đại Lợi chưa bao giờ vĩ đại và có lẽ cũng chẳng bao giờ muốn vĩ đại cả. Nhưng ít ra ở đây, về phương diện y tế, tôi thấy mình chẳng dám đòi hỏi hơn. Với cái thẻ Medicare, tôi thấy mình thực sự bình đẳng với mọi công dân của đất nước này. Tôi muốn cho ông bác sĩ nào “cà” cái thẻ Medicare là tùy tôi. Thích thì tôi thường xuyên đến gặp. Không thì tôi tìm ông khác. Vô nhà thương công thì cái thẻ Medicare cũng mở mọi cánh cửa cho tôi. Tôi cũng không cần phải trả thêm đồng xu cắc bạc nào. Cầm cái thẻ Medicare, tôi thấy mình thực sự “có giá”. Tôi cũng chưa nghe ai than không có đủ tiền trả tiền thuốc vì với dược phẩm cho những bịnh mãn tính như tiểu đường huyết áp..., chước giảm giá là chuyện đương nhiên.
Phải mất một thời gian dài đi thăm dò, khảo sát và lượng giá, tôi mới chọn được một ông bác sĩ gia đình ưng ý. Cách đây hơn 10 năm, khi mới dọn về nhà mới, thấy trong khu vực mình ở có tên một ông bác sĩ Việt Nam, tôi mừng quá. Dù sao nói tiếng Việt cũng sướng miệng hơn và nhứt là được giải bày tâm sự dễ dàng hơn. Nhưng tôi hoàn toàn thất vọng. Đi khám bệnh đâu phải chỉ để xin một cái toa hay một giấy giới thiệu để làm siêu âm hoặc chụp quang tuyến X, mà còn để được nâng đỡ tinh thần hay hướng dẫn về một cuộc sống lành mạnh. Nhưng ông bác sĩ Việt Nam trong khu vực mà tôi gặp là người quá kiệm lời. Ông cho tôi cảm tưởng như thể ông là một người máy. Suốt buổi khám bệnh kéo dài không quá 10 phút, ông cứ ngồi gõ lên phím của chiếc vi tính rồi in ra một cái toa để mua thuốc. Thời buổi này, “bác sĩ người máy” kiệm lời như thế không phải là ít. Thành ra, cứ mỗi lần đi khám bệnh, gặp một ông bác sĩ như thế, tôi cảm thấy ấm ức như còn thiếu một điều gì đó. Điều mà tôi cảm thấy thiếu chính là một lời khuyên, lời an ủi, khích lệ, nâng đỡ và nhứt là sự cảm thông. Nếu chỉ để nghe bệnh nhân khai bệnh và cho toa thì tôi nghĩ trong tương lai người máy hay trí khôn nhân tạo giỏi hơn nhiều: bắt mạch chính xác hơn và cho toa chắc chắn cũng bảo đảm hơn! Nhưng người máy đâu có bàn tay để xoa dịu, đâu có cái miệng để an ủi đỡ nâng, đâu có ánh mắt nhân hậu, đâu có lỗ tai để biết lắng nghe những điều bịnh nhân khó bày tỏ và dĩ nhiên đâu có trái tim để cảm thông.
Có lẽ ông tỷ phú Denny Sanford bên Mỹ cũng cảm thấy “ấm ức như còn thiếu một điều gì đó” như tôi mỗi khi đi gặp bác sĩ cho nên mới đây đã tặng 100 triệu Mỹ kim để nghiên cứu giúp các bác sĩ biết “thương người hơn”. Theo một bản tin của báo San Diego Union-Tribune được báo Người Việt trích đăng hôm 23 tháng Bảy vừa qua,  tỷ phú Sanford đã hiến tặng số tiền trên đây cho Đại học San Diego, Tiểu bang California để giúp nghiên cứu về sự đồng cảm và sự cảm thông và nhứt là giúp cho giới y sĩ trau dồi hai đức tính này.  Ông Sandord giải thích: “Các bác sĩ làm việc trong một môi trường trong đó lòng nhân ái được xem là điều thiết yếu. Nhưng đức tính này thường bị lãng quên trong thế giới thực tế phũ phàng của ngành y tế ngày nay. Nếu chúng ta có thể giúp cho các chuyên gia y tế duy trì và phát triển lòng nhân ái của họ, dựa trên sự hiểu biết khoa học thì thế giới sẽ là nơi tốt đẹp hơn, lành mạnh hơn”.
Hồi năm ngoái, tỷ phú Sanford cũng đã tặng 100 triệu Mỹ kim cho hệ thống đại học quốc gia ở San Diego để nghiên cứu cách dạy cho trẻ con về cách cư xử lịch sự và quan tâm đến người khác với hy vọng giảm bớt tình trạng bạo động, bắt nạt và kỳ thị.
Được biết, lý do chính thúc đẩy tỷ phú Sanford hào sảng hiến tặng tiền của như thế là cuộc gặp gỡ giữa ông và Đức Đạt Lai Lạt Ma hồi năm 2017, khi nhà lãnh tinh thần này đến Đại học San Diego để đọc diễn văn ra trường cho các sinh viên năm đó. Ông Sanford nhìn nhận rằng chính Đức Đạt Lai Lạt Ma đã cho ông thấy rằng sự cảm thông, lòng nhân đạo, sự tử tế có thể giúp thay đổi  con người và cả thế giới.
Theo tôi, toàn bộ sứ điệp của Đức Đạt Lai Lạt Ma đều xoay quanh hai chữ cảm thông. Thật ra, toàn bộ giáo huấn của Ngài lúc nào cũng toát ra từ con người đầy nhân ái của Ngài. Không biết đạo diễn của phim The Lion King hiện đang được chiếu tại Úc Đại Lợi có tìm được nguồn cảm hứng từ nhà lãnh đạo tinh thần này không, nhưng bàng bạc trong cuốn phim tôi thấy có nhiều thông điệp về sự tử tế, lòng từ ái và sự cảm thông. Bài học đầu tiên mà sư tử cha Mufasa dạy cho cậu con trai Simba của mình trong một cuộc thám hiểm là: “Trong khi những người khác tìm kiếm những gì họ có thể lấy được thì một ông vua đích thực chỉ tìm kiếm những gì mình có thể trao tặng”.
Nhưng bài học cốt lõi của cuốn phim The Lion King có lẽ là những lời thốt ra từ miệng của Sarabi, mẹ của Simba. Sau khi lập mưu giết Mufasa, sư tử em tên là Scar lên tiếm ngôi. Scar không ngừng đeo đuổi Sarabi. Nhưng Sarabi lúc nào cũng cự tuyệt và chống lại Scar, nhứt là mỗi khi hắn lên tiếng phê bình lòng từ ái, sự quan tâm của Mufasa đối với những con thú khác. Sarabi đã dạy cho Scar một bài học: “Sức mạnh đích thực của một quốc vương là sự cảm thông”.
Có lẽ đó là câu duy nhứt tôi đã ghi lòng tạc dạ sau khi đã xem cuốn phim.
Thật ra, cảm thông đâu chỉ là đức tính dành riêng cho bậc vương giả hay các nhà lãnh đạo. Sự cảm thông tiềm ẩn trong lòng mỗi người. Cảm thông cần được đánh thức, đặt lên bệ thờ trang trọng nhứt trong tâm hồn. Bởi vì cảm thông chính là cột trụ của tòa nhà nhân cách, là sức mạnh tối thượng của con người vì không bao giờ bị tiêu diệt. Cảm thông chính là biểu hiện của sự vĩ đại đích thực của một cá nhân cũng như của một đất nước.




Thứ Tư, 31 tháng 7, 2019

Giả như chúng ta có một tổng thống bình thường...



Frida Ghitis
Chu Văn chuyển ngữ

Ở vào một thời kỳ khác có lẽ sáng thứ Hai (19 tháng Bảy 2019) vừa qua, Tổng thống của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, vì chắc chắn là người có thể lôi kéo được sự chú ý của cả thế giới, đã cho mở một cuộc họp báo khẩn cấp và đưa ra một lời cảnh cáo mạnh mẽ rằng dùng bạo lực để đàn áp những người biểu tình ôn hòa là điều không thể chấp nhận được.
Cuối tuần vừa qua, những gì chúng ta thấy diễn ra tại Mạc Tư Khoa và Hương Cảng là những dấu hiệu đáng lo ngại cho thấy một làn sóng những cuộc đàn áp tàn bạo hơn sắp diễn ra. Các chế độ tại Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh đã cảnh cáo rằng họ sẽ nghiền nát các phong trào ôn hòa của dân chúng. Hẳn đây là là một báo động cho Tổng thống Mỹ và đòi hỏi phải có một sự đáp trả khẩn cấp.
Thay vào đó, sáng thứ Hai vừa qua, Tổng thống Donald Trump đã thức giấc chỉ để chuẩn bị thêm dầu vào chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc trên toàn nước Mỹ bằng cách bắn ra một loạt những thông điệp giận dữ chống lại những khuôn mặt nổi bật (trong cộng đồng) của người Mỹ gốc Phi Châu. Đây là chuyện quen thuộc của ông: mặc dù bị công chúng rộng rãi lên án, ông vẫn tiếp tục bắn ra những “tuýt” kỳ thị chủng tộc. Tổng thống Trump đang biến chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc thành một biểu hiệu riêng của ông; ông dành toàn thời giờ của ông để khích động những người da trắng kỳ thị chủng tộc và bứng Hoa Kỳ ra khỏi nền tảng đạo đức cao đẹp của nó.
Có lẽ đây không phải là chuyện ngẫu nhiên, mà diễn ra vào giữa lúc những người tranh đấu cho dân chủ cảm thấy cần được ủng hộ hơn bao giờ hết. Những người tranh đấu cho dân chủ có thể sử dụng một lời tuyên bố mạnh mẽ của Hoa Thịnh Đốn để nói với các nhà lãnh đạo tại Nga và Trung Cộng rằng thế giới đang theo dõi họ. Rằng hành động của họ có thể có hậu quả. Rằng ít nhứt chỗ đứng của họ trên trường thế giới đang chao đảo. Rằng dân chúng Mỹ đứng về phía những người đang đòi hỏi công lý.
Hãy xem những gì đã xảy ra tại Nga. Tại đây, những người tranh đấu cho dân chủ đang tranh đấu cho quyền được bỏ phiếu sau khi chính quyền ngang nhiên loại bỏ các ứng cử viên đối lập trong một cuộc bầu cử ở cấp thị xã. Mức ủng hộ dành cho Tổng thống Vladimir Putin đang tụt dốc, sự bất mãn của dân chúng đang gia tăng và những cuộc biểu tình phản đối rộng rãi nhứt kể từ nhiều năm nay đang diễn ra, ngay cả sau khi có luật không cho phép bất cứ một cuộc biểu tình nào.
Cuối tuần qua, cảnh sát cơ động đã được huy động hàng loạt để giải tán một cuộc biểu tình ôn hòa, bắt giữ cả ngàn người tại Mạc Tư Khoa.
Đáng lo ngại nhứt là những gì đã xảy ra cho lãnh tụ đối lập Alexei Navalry. Mạng sống của ông có thể tùy thuộc rất nhiều vào việc liệu thế giới có lên tiếng để nói rõ với với Điện Cẩm Linh rằng, nếu ông ta bị sát hại, sẽ có nhiều hậu quả.
Ông Navalry đã bị bắt giữ trước đó sau khi kêu gọi một cuộc biểu tình. Thế rồi bất thần, hôm Chủ Nhựt vừa qua (28 tháng Bảy 2019), ông được đưa vào bệnh viện với một chứng bệnh mà bệnh viện gọi là “dị ứng nặng”. Thật ra ông không hể có bất cứ dị ứng nào. Tin này khiến cho nhiều người nghĩ đến số phận của những người đã từng chỉ trích Điện Cẩm Linh. Gọi cho đúng tên sự việc, tất cả đều có những  vấn đề về hóa sinh học.
Hãy nhớ lại sự biến dạng khủng khiếp của cựu Tổng thống Ukraine,ông Viktor Yushchenko. Năm 2014, chính trị gia Ukraine này đã dám thách thức ứng cử viên được ông Putin ủng hộ. Ông thoát chết trong đường tơ kẽ tóc sau khi bị đầu độc bằng chất dioxin. Ông tin rằng chính Điện Cẩm Linh đã đứng đang sau cuộc mưu sát.
Điện Cẩm Linh đã từng bị tố cáo vì đầu độc những người chỉ trích ông Putin, ngay cả những người đã sống lưu vong như ông Alexander Litvinenko, người đã chết vì bị Putin ra lệnh đầu độc bằng chất phóng xạ Polonium như một cuộc điều tra của Anh Quốc đã tố cáo hay như ông Sergei Skripal và con gái của ông, cả hai đã bị đầu độc tại Salisbury, Anh. Chính quyền Anh đã tố cáo hai người đàn ông Nga thực hiện vụ đầu độc này khi cho biết họ thuộc tổ chức quân báo Nga. Hai người đàn ông này nói rằng họ chỉ là du khách đến viếng thăm Salisbury.
Một số  người khác vì chỉ trích Điện Cẩm Linh đã chết trong những cái chết bí ẩn. Ông Boris Nemtsov, một chính trị gia nổi tiếng đã từng chỉ trích ông Putin, đã bị bắn hạ ngay trước Điện Cẩm Linh. Ông Boris Berezovsky được cho là tự tử. Rất nhiều ký giả can đảm cũng như thế. Ủy ban Bảo vệ Ký giả tính có đến 28 ký giả Nga đã bị sát hại kể từ năm 2000, tức năm Putin lên cầm quyền.
Bác sĩ riêng của ông Navalry nói rằng ngược lại với lời khuyên của bà, bệnh nhân của bà đã bị chuyển từ bệnh viện sang nhà tù. Bà cho rằng ông đã bị đầu độc. Có thể là một lời cảnh cáo mà cũng có thể là một cuộc mưu sát. Bị đưa trở lại nhà tù hôm thứ Hai vừa qua, ông Navalry cho rằng ông đã bị đầu độc khi bị cảnh sát giam giữ.
Một lời cảnh cáo mạnh mẽ từ Hoa Thịnh Đốn có thể cứu ông và những người khác.
Một lời cảnh cáo gởi đến Bắc Kinh cũng khẩn cấp không kém. Trong nhiểu tuần lễ, dân chúng Hương Cảng đã tham gia nhiều cuộc biểu tình ôn hòa chống lại một chính quyền lẽ ra phải được độc lập đối với Trung Cộng theo đúng mô hình “một đất nước, hai chế độ” như đã được thỏa thuận khi Hương Cảng được Anh Quốc trao trả lại cho Trung Cộng.
Người dân Hương Cảng đã biểu tình để phản dối một dự luật cho phép dẫn độ về Trung Cộng là nơi mà hệ thống tư  pháp nằm dưới sự kiểm soát của Đảng Cộng Sản. Những cuộc biểu tình rộng lớn đã diễn ra với sự tham gia của hai triệu người trong một lãnh thổ với dân số chỉ có 7 triệu người. Điều này cho thấy sự bất tín nhiệm của dân chúng đối với Trung Cộng rộng lớn và mãnh liệt biết chừng nào!
Bắc Kinh ngày càng tỏ ra mất kiên nhẫn và để lộ những dấu hiệu đáng lo ngại. Hồi tuần trước, phát ngôn viên của quân đội Trung Cộng, ông Wu Qian đã đưa ra một lời cảnh cáo đe dọa rằng các lực lượng quân sự của Trung Cộng sẽ được nhanh chóng đưa tới Hương Cảng nếu chính quyền tại đây yêu cầu. Ông cũng mô tả những cuộc biểu tình theo một giọng điệu rõ ràng cho thấy Bắc Kinh đang mất kiên nhẫn. Ông Wu nói rằng cung cách của những người biểu tình là điều không thể chấp nhận được.
Ông Wu tuyên bố như trên vào hôm thứ Tư. Sang ngày Chủ Nhựt, cảnh sát  cơ động  Hương Cảng đã mở một cuộc tấn công tàn bạo vào những người biểu tình. Có mặt trong cuộc bạo động hỗn loạn, thông tín viên Anna Coren của Đài CNN đã hoảng hốt lo sợ thấy rõ. Bà nói: những người biểu tình đã tỏ ra hoàn toàn ôn hòa.
Sang ngày thứ Hai, Trung Cộng đã đưa ra một cảnh cáo nặng lời nhứt khi tố cáo rằng những người biểu tình đòi dân chủ đang phạm “tội ác”.
Ai mà chẳng rùng mình lo sợ khi nghĩ đến những gì sẽ xảy ra với bàn bay của một chế độ đã từng tàn sát những người biểu tình tại Quảng trường Thiên An Môn cách đây 30 năm.
Khi những chiếc xe tăng càn quét tại Thiên An Môn, tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là George H.W. Bush đã tức khắc công khai lên án chế độ (Trung Cộng), các tổng thống Mỹ khác cũng đã từng lên tiếng mạnh mẽ và dứt khoát chống lại cuộc đàn áp.
Dĩ nhiên, Hoa Kỳ đã nhiều lần thất bại và lịch sử nước này còn lâu mới không có vết nhơ, nhưng những lời đáng tin cậy của một tổng thống Mỹ vẫn có thể giúp vẽ ra những làn ranh đạo đức. Những lời như thế có thể hay cũng không thể làm suy suyển được một bạo chúa. Những lời như thế có thể hay cũng không thể ngăn chặn được một cuộc tàn sát. Nhưng ít ra chúng vẫn có thể giúp phân biệt được một hành vi chính đáng và một hành vi không chính đáng trong thời đại chúng ta. Ngay cả khi những lời như thế không thể chận đứng được một tai họa sắp xảy ra, chúng vẫn có thể khiến cho một bạo chúa khác phải suy nghĩ khi đứng nhìn từ xa.
Không gì thảm hại bằng cho Hoa Kỳ và thế giới khi Hoa Thịnh Đốn ngày nay đang được thống trị bởi một tổng thống nghĩ rằng không gì quan trọng bằng sự nghiệp của mình và tin rằng khích động hận thù kỳ thị chủng tộc trong nước là ưu tiên hàng đầu trong chương trình nghị sự của quốc gia.

(Frida Ghitis https://edition.cnn.com/2019/07/29/opinions/if-we-had-a-normal-us-president-russia-china-ghitis/index.html)



Thứ Hai, 22 tháng 7, 2019

Nhìn từ mặt trăng



Chu Thập
23/7/19
Tôi ít đi du lịch nước ngoài. Bù lại tôi thích đi loanh quanh trên Úc Đại Lợi hơn. Có bỏ nguyên một năm cũng không đủ để thăm thú hết những danh lam thắng cảnh của đất nước “miệt dưới” này. Chỉ tiếc một điều: cảnh rừng của Úc Đại Lợi quá độc điệu! Đi đâu cũng chỉ thấy toàn rừng tràm (gumtree). Mùa thu, muốn xem lá vàng rơi phải lên tận thủ đô Canberra. Thỉnh thoảng đó đây cũng lác đác vài cụm rừng nhiệt đới (rain forest) may mắn còn sót lại sau những cuộc khai hoang vô tội vạ trước đây. Nay chỉ để “làm cảnh”mà thôi. Một tên nhà quê như tôi, vốn sinh ra và lớn lên giữa núi rừng trùng điệp của miền Trung, cứ mỗi lần nhìn cây xanh là mơ được sống giữa đủ chủng loại cây cối. Sự đa dạng của thực vật nói chung dễ gợi lên cho tôi những quan hệ hài hòa giữa người với người.
Thật vậy, thiên nhiên nói chung dạy cho tôi rất nhiều điều về giá trị của sự đa dạng. Sự đa dạng của thiên nhiên tạo sức mạnh và giúp cho vạn vật được tồn tại. Chẳng hạn, trong một ngôi vườn hay một công viên chỉ độc có một loài cây thì khi xảy ra bệnh tật, tất cả đều lây bệnh. Trái lại nhiều loại cây được trồng bên nhau sẽ giúp giữ được cân bằng sinh thái nhờ đó một số có thể chiến đấu để chống lại bệnh tật.
Trong ngôi vườn đàng sau nhà mà tôi thường khoe với bạn bè như một “quê hương bỏ túi”, bên cạnh các thứ cây và rau xanh của ôn đới, tôi cũng trồng gần như đủ các loại cây và rau xanh của  nhiệt đới. Mùa nào thức ấy đã đành, sự đa dạng của cây trái, hoa quả và côn trùng bảo đảm được sức khỏe cho cây trái.
Giữa cây cối và thú vật, sự đa dạng càng lớn thì bệnh tật càng ít. Sự đa dạng của thực vật và động vật cũng góp phần gia tăng sức khỏe của con người. Ngày nay hầu như nhà dinh dưỡng học nào cũng cho tôi biết rằng một cách ăn uống cân bằng, nghĩa là có một thực đơn đa dạng, giúp cho con người sống khỏe mạnh hơn.
Giá trị của sự đa dạng trong thế giới thực vật và động vật dĩ nhiên cũng được áp dụng cho chính con người. Các cuộc nghiên cứu về những cuộc hôn phối giữa các gia đình và dòng họ vua chúa ngày xưa, vốn nhằm mục đích bảo tồn sự tinh ròng của dòng giống vương giả, cho thấy tử xuất cao vì đủ thứ bệnh tật cũng như những hỗn loạn vì di truyền. Trái lại, sự pha trộn giữa nhiều dòng máu khác nhau luôn tạo ra được những thế hệ khỏe mạnh và ít bệnh tật hơn.
Giá trị của sự đa dạng không chỉ giới hạn trong thế giới thực động vật và sức khỏe của con người. Về mặt văn hóa, sự đa dạng lúc nào cũng được xem là một sự phong phú cần thiết cho cuộc sống xã hội. Khi tôi gặp gỡ hoặc sống và làm việc với những người không cùng màu da và văn hóa với tôi, tôi tiếp thu được nhiều tư tưởng và những cách suy nghĩ mới. Va chạm với những người không có cùng văn hóa, tôn giáo và cách suy nghĩ như tôi, tôi bị buộc phải nhìn lại những giá trị và niềm tin vốn lâu nay đặt tôi vào thế độc tôn và cho rằng chỉ có mình tôi mới nắm được chân lý!
Nói cho cùng, sự đa dạng tô điểm và làm cho cuộc sống của tôi thêm phong phú hơn. Ngày nay thế giới đã trở thành một ngôi làng nhỏ trong đó mọi người đều hưởng thụ được quà tặng mà sự đa dạng văn hóa đã mang lại. Quả thật sự bùng nổ văn hóa đã mang lại cho thế giới rất nhiều món quà. Cocoa đến từ dân tộc Maya bên Mễ Tây Cơ, cà phê xuất xứ từ Ethiopia ở Phi Châu, rượu đã được phát minh tại Trung Hoa từ cả 7000 năm nay, đường lần đầu tiên được phát triển tại Ấn Độ từ hàng ngàn năm qua và dĩ nhiên, những thức ăn như bắp, khoai tây, cà chua, hạt tiêu, vanilla, si rô...đến từ những người thổ dân ở Bắc Mỹ. Còn nếu nói về niềm tin tôn giáo, thì hẳn tôi phải mang nợ rất nhiều với những truyền thống tôn giáo lâu đời từ mọi lục địa!
Sự đa dạng giúp tôi mở mắt lớn hơn để nhìn vào nhân loại như một gia đình, một thực thể duy nhứt trong đó, dù có khác biệt đến đâu, mỗi người đều là một thành viên.
Ý tưởng trên đây được gợi lên cho tôi khi nhìn lại bước chân đầu tiên của con người trên mặt trăng cách đây đúng 50 năm. Ngày 20 tháng Bảy năm 1969, khi phi hành gia Neil Armstrong trở thành người đầu tiên đặt chân lên mặt trăng, tôi đã ở tuổi 20, tuổi đã biết suy nghĩ và bị dằn vặt về những vấn đề lớn như tình hình đất nước, như chiến tranh và hòa bình. Cũng như mọi người dân Miền Nam, tôi mừng vì xem biến cố này như một chiến thắng của thế giới tự do trước hiểm họa cộng sản. Thật vậy, năm 1957, thế giới tự do đã run sợ trước sức mạnh của Liên Xô khi đế quốc đỏ này thành công trong việc phóng vệ tinh Sputnik vào không gian. Bốn năm sau đó, để chứng tỏ cho  thế giới thấy sức mạnh của Hoa Kỳ, Tổng thống Kennedy loan báo rằng vào cuối thập niên 1960, Hoa Kỳ sẽ đưa con người lên mặt trăng.
Dĩ nhiên, vấn đề đầu tiên vẫn là “tiền đâu”. Tổng thống Kennedy và người kế vị ông là Tổng thống Johnson đã yêu cầu Quốc hội chuẩn y một ngân sách lên đến 28 tỷ Mỹ kim (tương đương với 169 tỷ hiện nay). Đây là thời kỳ được xem là cao điểm của điều người Mỹ thường gọi là “Chiến tranh Việt Nam”.  Ngoài các phong trào như quyền dân sự, nữ quyền, Chiến tranh Việt Nam đã tạo ra nhiều rạn nứt sâu đậm trong xã hội Mỹ. Vậy mà đứng trước hiểm họa của Liên Xô và được kích thích bởi lòng tự hào dân tộc, mọi người đã đoàn kết với nhau để đáp lại lời kêu gọi của hai vị tổng thống thuộc Đảng Dân Chủ. Quốc gia, vốn được mệnh danh là “hiệp chủng quốc” và thường được biểu trưng qua một khẩu hiệu bằng tiếng La Tinh “E pluribus unum”, nghĩa là “thống nhứt từ nhiều dị biệt”, đã bày tỏ sự đoàn kết trong chương trình đưa người lên cung trăng.
Thống nhứt trong dị biệt, người Mỹ đã thể hiện được một sự thống nhứt như thế trong chương trình đưa người lên cung trăng. Nhưng tổng thống lúc bấy giờ là Richard Nixon, thuộc Đảng Cộng Hòa, đã vượt ra khỏi biên giới Mỹ để có một cái nhìn sâu xa hơn. Sau khi các phi hành gia của phi thuyền Apollo 11 đã hoàn thành sứ mệnh và trở về trái đất, ông đã gọi điện thoại chúc mừng họ và nói một câu để đời: “Tất cả mọi dân tộc trên thế giới này đều thực sự là Một” (all the people of this world are truly one).
Tôi xem đó như câu nói có ý nghĩa nhứt trong biến cố lịch sử ngày 20 tháng Bảy năm 1969. Cuộc đổ bộ của các phi hành gia Mỹ lên  mặt trăng không chỉ là thành tựu riêng của người Mỹ hay của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ, mà là của Con người nói chung. Chúng ta có lý để nói: Con người đã đặt chân lên cung trăng!
Từ cung trăng nhìn xuống, người ta chỉ thấy một nhân loại duy nhứt, dù có khác màu da, chủng tộc, văn hóa, tôn giáo hay bất cứ một thứ dị biệt nào. Mỗi người đều mang trong mình toàn thể nhân loại. Thành tựu nào của một người cũng là thành tựu của cả nhân loại. Và dĩ nhiên bất cứ một hành động tội ác nào xúc phạm đến một người cũng là tội ác chống lại nhân loại.
Suy nghĩ như thế cho nên tôi cũng cảm thấy đủ mạnh miệng để nói rằng kỳ thị chủng tộc chống lại một nhóm người hay chỉ một người vì màu da, chủng tộc, văn hóa, tôn giáo của người đó cũng đủ là một tội ác chống lại toàn thể nhân loại.
Suy nghĩ như thế cho nên tôi cũng cho rằng sức mạnh và sự vĩ đại đích thực của con người không nằm trong tài năng, sự giàu có, địa vĩ xã hội hay thái độ hung hăng, gây hấn của họ, mà hệ tại ở thái độ khoan nhượng, bao dung của họ trước sự đa dạng và dị biệt của mọi người trong xã hội loài người.



Chủ Nhật, 14 tháng 7, 2019

Tư cách của nhà lãnh đạo: quan trọng hay không quan trọng?



Saul Levine M.D
Chu Văn chuyển ngữ
Bạn có nghĩ rằng, không bàn đến các chính sách, nhà lãnh đạo của một nước dân chủ có cần phải là một người có tư cách, một công dân chính trực không?
Nhà lãnh đạo có cần phải là một người có đạo đức, đáng trọng nể, có hiểu biết và là một mẫu mực mà giới trẻ và cha mẹ của họ muốn mô phỏng không? Họ có nên là người phải cam kết phục vụ xứ sở và công dân của xứ sở đó hơn là chính họ không?
Trong một thế giới lý tưởng, tôi mong ước được trả lời “nên” cho những câu hỏi trên đây. Một số người sẽ nghĩ ràng tôi đang mơ một điều không thể có được và họ có lý, bởi vì trong thế giới thực hữu, thật khó mà tìm được những nhà lãnh đạo chính trị có được  những đức tính trên đây.
Suy nghĩ sâu xa hơn, chúng ta biết rằng một người mẫu mực không đương nhiên có những khả năng phi thường của một nhà lãnh đạo và một nhà lãnh đạo được dân bầu lên, tuy là một tên bịp bợm thiếu tư cách, vẫn có thể làm được một số thành tựu tích cực cho xứ sở của mình.
Khi bộ mặt thật của những nhân vật nổi tiếng và những người được ngưỡng mộ được phơi bày, (tiếng tăm của) họ bất thần đi xuống. Trong nhiều ngành nghề như thể thao, giải trí và kinh doanh, những hành động bất chính hay sai trái, thường là về tình dục, ma túy, bạo hành hay gian lận, diễn ra trước mắt công chúng. Một khi những hành động như thế được phơi bày thì đương nhiên khó tránh khỏi búa rìu của dư luận, sự săm soi của truyền thông hay tiêu tan sự nghiệp. Sự kết án của công luận cũng có thể dẫn đến ngay cả sự buộc tội trong tòa án.
Tôi không bào chữa cho những lỗi lầm cá nhân hay hành vi tồi tệ của họ (những người nổi tiếng) và nếu có tội họ cần phải bị trừng phạt. Nhưng sự thật là họ đã chỉ cam kết thi thố tài năng phi thường của họ qua sự khéo léo, qua nghệ thuật, thể thao hay khả năng chuyên môn của họ mà thôi. Họ đã phục vụ cho nhu cầu về “ngôi sao” của chúng ta và họ đã giúp vui hoặc có lẽ truyền cảm hứng cho chúng ta. Đáp lại,chúng ta tôn thờ họ vì những thành công vượt bậc của họ.
Tuy nhiên, họ (những người nổi tiếng) không hề cam kết trở thành những công dân lương thiện và mẫu mực về đạo đức vốn được chúng ta đòi hỏi phải có. Đây là một trong những lý do tại sao chúng ta thất vọng và bất thần chê bai họ vì họ không đạt được điều đó.
Nhưng các vị dân cử và các nhà  lãnh đạo chính trị thuộc về một phạm trù khác và xét về tư cách họ cần phải được đánh giá theo một tiêu chuẩn cao hơn. Thật vậy, họ đã cam kết như thế. Thi hành công vụ cũng bao hàm cả những trách nhiệm về công dân và lãnh đạo. Công dân chờ đợi các lãnh đạo phải tỏ ra xứng đáng với sự tôn trọng của họ, phải biết tự trọng và tỏ ra mình là những con người đáng tin tưởng và có tư cách.
Điều được nhiều người mong muốn trên đây không phải là một vấn đề đảng phái, bởi vì bất luận cánh hữu hay cánh tả, lãnh đạo bên nào cũng có những sai trái.
Hầu hết những phê bình chỉ trích về Tổng thống Trump đều nhắm tới những lời thóa mạ và những hành xử thiếu tư cách của ông. (Tôi không bàn đến các chính sách hay sức khỏe tâm lý của ông, cả hai vấn đề đang được thảo luận rộng rãi trên các phương tiện truyền thông). Những cách ứng xử trên đây được phơi bày lồ lộ 24 giờ một ngày và 7 ngày một tuần qua những lần xuất hiện trước công chúng, các bài diễn văn, các cuộc phỏng vấn, các cử chỉ và dĩ nhiên các “tuýt” của ông.
Ông đã từng nói đến thành tích sàm sỡ của ông đối với phụ nữ và miệt thị ngoại diện cũng như khả năng của họ. Ông đã nhục mạ các đối thủ chính trị và xuyên tạc về các sự kiện và thành quả. Ông bày tỏ cảm tình với những người kỳ thị chủng tộc và những người tân Đức Quốc Xã có chủ trương bạo động, ông chế nhạo một ký giả tàn tật và thóa mạ thân phụ của một tử sĩ.
Ông cổ võ bạo động để chống lại các phương tiện truyền thông và những ký giả nào dám ngắt lời ông. Ông đề cao dân tộc chủ nghĩa và dân túy. Ông xem thường những bài học về lịch sử, ngoại giao và khoa học.
Vậy mà ông vẫn bình chân như vại và được sự ủng hộ của đám đông nòng cốt là những người sùng mộ những cuộc độc thoại độc tài của ông. Càng nghe nói đến những hành động sai trái của ông và việc ông thích thú miệt thị những “kẻ thù” của ông, họ càng được ông thu hút.
Dù hữu khuynh hay tả khuynh, gây hấn là một thái độ thường tình của các nhà lãnh đạo trong nhiều chế độ. Chúng ta hiện đang chứng kiến một sự phẫn nộ như thế của một số nhà  độc tài dân túy đang cầm quyền hoặc đang lăm le muốn lên cầm quyền tại nhiều nước khác. Các nhà độc tài đương nhiên làm dấy lên những dư luận  tương phản nhau, người ủng hộ thì ca ngợi, kẻ chống đối thì phê bình chỉ trích.
Khi theo dõi cùng một sự kiện trên các phương tiện truyền thông, phản ứng của dân chúng rất khác nhau, tùy theo họ ủng hộ hay chống đối nhà lãnh đạo. Quan sát cùng một băng hình, nhưng họ có những ý kiến rất đối nghịch nhau về điều họ chứng kiến. Cuốn phim cổ điển Rashomon, do đạo diễn lừng danh Akira Kurosawa thực hiện, chứng minh một cách rõ ràng rằng cùng tham gia vào một sự kiện, nhưng dân chúng lại tường thuật khác nhau về điều họ đã trải nghiệm.
Nhận thức là điều có thể bị lèo lái và niềm tin mãnh liệt có thể khiến người ta chối bỏ những sự kiện tỏ tường. Cuộc nghiên cứu của tôi về những tín đồ thuần thành của các giáo phái cho thấy sự tôn sùng một lãnh tụ có tài mê hoặc có thể bóp méo nhận thức,  lung lạc sự hiểu biết và đánh lừa cảm xúc. Không phải hoàn toàn do ngẫu nhiên mà các lãnh tụ các giáo phái và các lãnh đạo mỵ dân đều thu hút được những người bất mãn với cuộc sống của họ và đang tìm kiếm giải đáp cho cuộc sống của họ.
Sống giữa những người giàu có huênh hoang, nhưng lại bị đè bẹp dưới sức nặng của những khó khăn tài chính, cảm thấy bất ổn trước những thay đổi nhanh chóng về kỹ thuật và xã hội, dân chúng cảm thấy thất vọng. Không thấy có hy vọng trước mắt, viễn ảnh ngày càng tồi tệ hơn cho nên dân chúng cảm thấy xuống tinh thần, chán nản và thất vọng.
Họ đặc biệt trở thành dễ tổn thương khi nghe những lời đường mật của một nhà lãnh đạo có sức thu hút đang bày tỏ sự cảm thông sâu xa và nói lên được nỗi khốn khổ và sự phẫn nộ của họ. Nhà lãnh đạo đó thu tóm được nguồn năng lực phát sinh từ sự thất vọng của họ và đáp trả lại một cách đầy thuyết phục.
Nhà lãnh đạo đầy ma lực thuyết phục cử tọa của mình rằng ông ta hay bà ta hoàn toàn hiểu được những quan tâm của họ và chia sẻ những “bức xúc” và cơn thịnh nộ của họ. Nhà lãnh đạo đó luôn miệng quở trách “những người khác” trong nước cũng như nước ngoài vì gây ra đau khổ cho họ và cam kết sẽ trừng phạt hay trục xuất những người đó. Nhà lãnh đạo đó hứa hẹn sẽ lãnh đạo những người đi theo mình trên một con đường tươi sáng dẫn đến một cuộc sống tốt đẹp và hạnh phúc hơn cho mọi người.
Những lời hứa hẹn này chẳng khác nào “bánh Manna từ trời rơi xuống” (chú thích của người dịch: lang thang trong sa mạc 40 năm trước khi vào Đất Hứa, dân Do thái đã sống còn nhờ một loại “bánh” từ trời rơi xuống mà họ đặt tên là Manna) hay những món quà vô cùng hào sảng mà chỉ có một nhà lãnh đạo có viễn kiến mới có thể trao tặng cho họ.
Giờ đây tôi xin được hỏi bạn: những đức tính nào của một nhà lãnh đạo có sức thu hút những công dân rất bất mãn và bị đe dọa: Chính trực-Nhã nhặn-Lý trí-Từ tâm hay Giận dữ-Hung hăng-Độc tài-Kỳ thị?
Và với riêng cá nhân bạn: mẫu người lãnh đạo nào là quan trọng đối với bạn và con cái bạn?


Thứ Ba, 9 tháng 7, 2019

Làm người có văn hóa!


Chu Thập
Có những hình ảnh khiến khó có thể cầm được nước mắt khi nhìn vào. Đặc biệt những hình ảnh liên quan đến thảm cảnh của người tỵ nạn. Như hình ảnh của một đứa bé Syria bị chết đuối và trôi dạt vào một bờ biển của Thổ Nhĩ Kỳ dạo tháng Chín năm 2015. Mới đây, một hình ảnh tương tự có lẽ cũng đã làm cho cả thế giới phải rơi lệ: tấm ảnh do phóng viên Julia Le Duc chụp được và được báo Mễ La Jornada phổ biến cho thấy thi thể của một người đàn ông và đứa con gái 23 tháng tuổi của ông nằm úp mặt xuống nước bên cạnh bờ sông Rio Grande khi hai cha con tìm cách vượt biên giới Mễ Tây Cơ để vào đất Mỹ. Trong bức ảnh, người ta thấy một tay đứa bé gái choàng qua cổ người cha gốc El Salvador và đầu em giấu chặt trong chiếc áo thun của cha em.
Tuy không khiến phải rơi lệ, nhưng hình ảnh của những chú chim con phải chết vì tình trạng ô nhiễm do loài người gây ra cũng tạo ra nhiều xúc cảm sâu xa. Dạo cuối tháng Sáu vừa qua, nhiếp ảnh viên Karen Mason, một thiện nguyện viên thuộc tổ chức bảo vệ chim có tên là Audubon Society, đã chụp được một tấm ảnh khá cảm động khi đi dạo dọc theo một bờ biển ở phía Tây thành phố Tampa, Tiểu bang Florida Hoa Kỳ. Trong bức ảnh người ta thấy một con chim hải âu đen mẹ đang mớm mồi cho một chú chim con và miếng mồi đó là một mẩu tàn thuốc lá dài vứt trên bờ biển. Kèm theo tấm ảnh được cho phổ biến trên các trang mạng xã hội, nhiếp ảnh viên Mason đưa ra lời kêu gọi: “Nếu có hút thuốc, xin bạn vui lòng đừng bỏ lại tàn thuốc”.
Ai cũng biết hút thuốc có hại cho sức khỏe của chính người hút thuốc cũng như những người xung quanh. Tàn thuốc lá cũng là một trong những yếu tố gây ô nhiễm cho đại dương. Theo ước tính, mỗi năm có khoảng 5.6 ngàn tỷ tàn thuốc lá được vứt bỏ một cách vô tội vạ. Một phần rất lớn những tàn thuốc lá này được tuôn vào các dòng hải lưu. Được làm bằng chất nhựa, phải mất nhiều thập niên, tàn thuốc lá mới bị phân hủy trong môi trường. Theo Liên Hiệp Quốc, hiện có trên 100 triệu tấn phế thải bằng nhựa đang lênh bênh giữa đại dương.
Cũng như những tấm ảnh của người tỵ nạn chết đuối trên đây đã khiến cho nhiều người không cầm được nước mắt, bức ảnh của chú chim con ngậm tàn thuốc lá cũng gây được một ý thức mạnh nơi nhiều người về việc bảo vệ môi sinh. Dạo tháng Năm vừa qua, do áp lực của quần chúng, trên 180 nước đã đồng ý tu chính Công ước  Basel nhằm giảm thiểu lượng phế thải bằng nhựa được tuôn xuống đại dương. Chỉ có một ít nước, trong đó có quốc gia “vĩ đại” Hoa Kỳ của Tổng thống Donald Trump, từ chối tham gia vào Công ước.
Bức ảnh của chú chim con ngậm tàn thuốc lá trên đây tại Hoa Kỳ không khỏi khiến tôi liên tưởng đến một hình ảnh khác cũng liên quan đến việc bảo vệ môi sinh: đó là hình ảnh của đám đông tham dự đại nhạc hội Glastonbury, Anh Quốc hôm cuối tháng Sáu vừa qua. Đáp lại lời kêu gọi của ban tổ chức, năm nay những người tham dự đại nhạc hội đã cương quyết không đụng tới bất cứ thứ nước nào được chứa đựng trong các chai nhựa. Được biết trong 2 năm trước đây, đã có trên một triệu chai nước lạnh, nước ngọt và bia rượu được bán tại đại nhạc hội.
Được mời đến nói chuyện tại đại nhạc hội, Sir David Attenborough, 93 tuổi, nhà làm phim truyền hình nổi tiếng về thiên nhiên, đã ca ngợi đám đông tham dự đại nhạc hội. Ông nói: “Cám ơn các bạn đã không sử dụng hơn một triệu chai nước tại Glastonbury”.
Theo ước tính, trên toàn thế giới, cứ mỗi phút có khoảng một triệu chai bằng nhựa được bán ra. Con số này có thể tăng thêm 20 phần trăm vào năm 2021. Với lượng chai nhựa được tiêu thụ như thế, các tổ chức bảo vệ môi sinh cho rằng chất nhựa đang tạo nên một cuộc khủng hoảng môi sinh không kém gì khí hậu thay đổi. Trong năm 2016, trên toàn thế giới, đã có trên 480 tỷ chai chứa nước uống được bán ra. So với một thập niên trước, con số này tăng thêm 300 tỷ. Như vậy đến năm 2021, con số này có thể lên đến trên 583 tỷ. Hầu hết các chai nhựa được sử dụng cho nước ngọt và nước lã được làm bằng chất Polyethylene terephthalate hay gọi tắt là PET. Chất này vốn rất dễ tái sinh. Tuy nhiên, việc thu nhặt và tái sinh chai nhựa để giảm thiểu việc gây ô nhiễm đại dương, đã không đáp ứng kịp với đà tiêu thụ ngày càng gia tăng trên toàn thế giới.
Là một trong 5 nước thải ra nhiều chất nhựa nhứt trên thế giới, Việt Nam hẳn đã và đang góp phần rất lớn vào việc gây ô nhiễm cho đại dương. Trung bình mỗi năm Việt Nam thải ra khoảng 1.8 triệu tấn chất nhựa. Theo ước tính, trong năm 2015, mỗi một người Việt Nam thải ra 41 ký chất nhựa. Con số này ngày càng tăng chớ không giảm.
Nhưng xem chừng Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quan tâm đến nhiều chuyện khác hơn là giảm thiểu lượng phế thải bằng nhựa đang được tuôn xuống đại dương. Có lẽ người ta quan tâm đến chuyện “văn hóa” hơn. Thay vì kêu gọi dân chúng bớt uống nước ngọt để đề phòng bệnh béo phì dẫn đến đủ thứ bệnh khác và giảm thiếu việc sử dụng chai hay lon nhựa để tránh gây ô nhiễm cho môi trường, nhứt là đại dương, người đứng đầu một cơ quan gọi là Cục Trưởng Cục Văn Hóa là bà  Ninh Thị Thu Hương lại phản đối một câu quảng cáo có chữ “Lon” của hãng Coca Cola. Không biết câu quảng cáo “Mở lon Việt Nam” có phạm thuần phong mỹ tục không, chớ lời bàn của người đứng đầu một “Cục” quan trọng như bà Hương nghe khiếp quá. Bà cho rằng chữ “Lon” không có trong tiếng Việt và nếu bị gắn thêm râu ria, mũ mão, nó sẽ gợi lên nhiều ẩn ý “phản cảm”, thiếu thẩm mỹ. Tôi tự hỏi: sao bà Hương chẳng thấy rằng chữ “Cục” của cơ quan mà bà đứng đầu có “thẩm mỹ” hơn chữ “Lon” chút nào đâu?
Có lẽ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quá bị ám ảnh về hai chữ “văn hóa”. Có nguyên một “Cục” để lo về chuyện “văn hóa” của người dân! Chưa bao giờ và cũng chẳng có ở đâu người ta sử dụng từ “văn hóa” cho bằng ở Việt Nam. Từ thôn, ấp, làng xã “văn hóa” đến đủ thứ “văn hóa”: văn hóa ẩm thực, văn hóa giao thông, văn hóa chửi...Cứ mở miệng ra là “văn hóa”!
Lúc nhỏ, tôi thường nghe người lớn phân chia 2 loại người: có văn hóa và thiếu văn hóa. Có văn hóa là có học, có kiến thức, có hiểu biết. Thiếu văn hóa là quê mùa, dốt nát. Tội nghiệp mấy bác nông dân trong làng tôi. Họ bị xếp vào loại thiếu văn hóa.
Ngày nay, tôi hiểu “có văn hóa” và “thiếu văn hóa” theo một ý nghĩa khác. Từ “cultivé” trong tiếng Pháp mà tôi học được thời trung học gợi lên cho tôi sự “trau dồi”: trau dồi không những về kiến thức, mà còn cả về đức hạnh. Với tôi, người “có văn hóa” không hẳn là người học rộng hiểu nhiều, mà là người biết sống tử tế, biết quan tâm đến người khác. Nói cho cùng, người “có văn hóa” là người luôn biết cố gắng sống cho ra người. Theo ý nghĩa đó, tôi cho rằng tất cả những ai đang quan tâm đến việc bảo vệ môi sinh, tức quan tâm đến sự sống của trái đất, của mọi sinh vật đang sống trên trái đất, của mọi thế hệ sinh vật sẽ sống trên trái đất...đó mới  là mẫu người thực sự “có văn hóa” của thời đại!

Thứ Hai, 1 tháng 7, 2019

Ngoại giao bằng đồng Mỹ kim


John Walcott
Chu Thập chuyển ngữ
                                                                                      
Các viên chức quan thuế và biên phòng cho biết trong tháng Năm vừa qua đã có khoảng 144.000 người vượt qua biên giới Mỹ ở phía Nam. Đây là con số cao nhứt tính từ 13 năm qua. Tổng thống Donald Trump đã đáp trả bẳng một lời đe dọa có thể khiến cho những người đang cố gắng chận đứng làn sóng (nhập cư lậu) phải ngạc nhiên. Thật vậy, hôm 30 tháng Năm vừa qua, ông tuyên bố tăng thuế lên mọi hàng hóa nhập cảng từ Mễ Tây Cơ; từ trái bơ đến xe hơi, mọi thứ đều cứ mỗi tháng phải chịu thêm 5 phần trăm thuế cho đến lúc lên đến mức tối đa là 25 phần trăm, nếu Mễ Tây Cơ không chịu chận đứng làn sóng  nhập cư lậu.
Hiểu một cách đúng đắn, di dân không phải là một vấn đề mậu dịch và lời đe dọa (trên đây của tổng thống Trump) cho thấy rõ hơn chính sách ngoại giao của ông. Mỗi khi gặp thách đố trên chính trường quốc tế, phản xạ của Tổng thống Trump là rút ra củ cà rốt và cây gậy kinh tế để đẩy mạnh quyền lợi của Hoa Kỳ. Từ vũ khí hạt nhân của Bắc Hàn đến chuyện đánh cắp tài sản trí tuệ của Trung Cộng và làn sóng di dân từ Trung Mỹ, ông đã chọn chính sách ngoại giao bằng đồng Mỹ kim nhắm vào các kỹ nghệ xe hơi, nông nghiệp và quốc phòng cũng như nhiều ngành sản xuất của các nước.
Đây là một sự đoạn tuyệt hoàn toàn với đường lối mà các tổng thống tiền nhiệm đã từng đi theo để giải quyết các vấn đề quốc tế. Theo truyền thống, Hoa Kỳ đã từng sử dụng nhiều phương tiện ngoại giao như: thương thảo rộng rãi và chi tiết với các nhà ngoại giao của các nước khác để tìm kiếm những lãnh vực trong đó hai bên có thể chia sẻ quyền lợi, dùng các cuộc hợp thượng đỉnh để đạt được thỏa hiệp với các lãnh tụ nước ngoài và tổ chức các liên minh rộng lớn gồm các quốc gia có cùng quan điểm để tạo áp lực lên các đối thủ. Theo các chuyên gia, điều đó có nghĩa là tạo được nhiều ảnh hưởng mạnh hơn và qua đó gởi đi một thông điệp cho biết Hoa Kỳ đã quan tâm theo dõi vấn đề cho đến cùng.
Trong ngắn hạn, chính sách của Tổng thống Trump đã có những kết quả không rõ ràng. Các chuyên gia về chính sách ngoại giao từ lưỡng đảng nói rằng điều đáng lo ngại hơn chính là Tổng thống Trump đang làm thiệt hại cho quyền lợi của Hoa Kỳ khi làm cho Hoa Kỳ xem ra thay đổi liên miên và chỉ chú trọng vào giá trị kinh tế. Zack Cooper, thuộc Viện American Enterprise vốn có khuynh hướng bảo thủ, nói: “Những hành động của ông (Tổng thống Trump) đã khiến cho người ta lo sợ rằng Hoa Kỳ không còn là một nước hùng mạnh, có nguyên tắc và có thể tiên liệu được nữa”.
Tổng thống Trump cho rằng chính sách của ông hữu hiệu. Hôm 7 tháng Sáu vừa qua, ông loan báo sẽ hoãn lại vô thời hạn lời đe dọa đánh thuế lên hàng hóa Mễ Tây Cơ. Ngày hôm sau, Tổng thống Mễ, ông Andrès Manuel Lopez Obrador cho biết ông sẽ tiếp tục thảo luận với Hoa Kỳ về vấn đề này. Ngày 10 tháng Sáu, Tổng thống Trump nói rằng Hoa Kỳ và Mễ Tây Cơ đã đạt được một thỏa thuận để chận đứng làn sóng nhập cư từ Trung Mỹ. Tuy nhiên những chi tiết của điều được gọi là thỏa thuận vẫn chưa rõ ràng.
Tổng thống Trump tuyên bố rằng những miếng mồi thương mại và những lời đe dọa của ông đã đạt được chiến thắng tại bất cứ nơi nào trên thế giới. Trước khi lên đường tham dự Hội nghị Thượng đỉnh với nhà độc tài Kim Jung Un của Bắc Hàn dạo tháng Sáu năm 2018,  ông đã vẽ ra viễn ảnh của những cuộc đầu tư của Hoa Kỳ vào Bắc Hàn; ông nói với nhà độc tài Kim rằng Bắc Hàn “sẽ có ngày trở thành một nước có nền kinh tế và tài chính mạnh”. Tại những nơi khác thì Tổng thống Trump lại có hành động khác: ông đã rút tên Hoa Kỳ ra khỏi Hiệp ước Nguyên tử được ký kết với Iran hồi năm 2015 nhằm bãi bỏ chương trình hạch tâm của nước này và áp đặt những chế tài kinh tế mới. Chính sách này không chỉ được áp dụng cho các nước đối nghịch (với Hoa Kỳ). Tổng thống Trump đo lường giá trị của mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và các nước đồng minh, trong đó có Nhật Bản, Nam Hàn và các nước thuộc Khối Minh Ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) bằng đồng Mỹ kim: ông yêu cầu các nước đồng minh phải trả tiền thêm cho công cuộc phòng thủ chung và đe dọa sẽ dùng kinh tế để trừng phạt nếu các nước này  không chịu  trả tiền cho quân đội Mỹ trú đóng tại nước họ. Ông đã đe dọa đánh thuế lên xe hơi của Gia Nã Đại để buộc quốc gia đồng minh thân cận nhứt của Hoa Kỳ phải tuân theo các kế hoạch của ông và thay đổi Hiệp ước NAFTA.
Một số nước thuộc Khối NATO đã cam kết sẽ gia tăng đóng góp vào việc phòng thủ chung của Liên minh. Nam Hàn và Nhật Bản cũng đã cam kết chi tiêu nhiều hơn cho quân đội của họ. Tuy chưa được phê chuẩn, Hiệp ước NAFTA cũng đã được sửa đổi với một số thay đổi có giới hạn trong quan hệ mậu dịch giữa Hoa Kỳ và Gia Nã Đại. Tuy nhiên, những chiến thắng trong ngắn hạn này không mang lại thành công nào cho chính sách của Tổng thống Trump. Thuế đánh trên hàng hóa của Trung Cộng vẫn chưa giúp đạt được một thương ước rộng rãi. Và các cơ quan tình báo Mỹ cảnh cáo rằng thay vì đánh gục Iran và Bắc Hàn, những cấm vận kinh tế mạnh mẽ lại giúp củng cố các nhà lãnh đạo độc tài bằng cách tạo ra sự bất mãn nơi dân chúng.
Chú  trọng đến kinh tế mà không màng đến bất cứ điều gì khác có thể tạo ra  những nguy hiểm trong dài hạn. Vì trong sắp tới kinh tế Trung Cộng có thể sẽ qua mặt kinh tế Hoa Kỳ cho nên Hoa Kỳ cần phải tạo ra một chính nghĩa chung với Liên Âu, Nhật Bản và các nước đồng minh khác để ngăn chận Trung Cộng trên trường thế giới. Williams Burns, chủ tịch của Viện Carnegie vì Hòa bình Thế giới và đã từng là viên chức cao cấp trong các chính phủ Cộng Hòa cũng như Dân Chủ, nói rằng những lời đe dọa về thương mại thiếu cân nhắc của Tổng thống Trump đối với các nước đồng minh sẽ khiến cho việc xây dựng một chính nghĩa chung trở nên khó khăn hơn. Ông nói: “Những chiến thuật đơn phương của chúng ta và việc đánh thuế bừa bãi sẽ quay lại làm hại chúng ta”
Có thể Tổng thống Trump có lý do chính trị để đeo đuổi một chính sách như thế.  Một số cuộc thăm dò dư luận cho thấy chính sách ngoại giao bẳng đồng Mỹ kim của ông có hiệu quả tốt đối với thành phần ủng hộ cơ bản của ông.  Với các vấn đề như di dân, mối nguy hiểm về vũ khí hạch tâm của Bắc Hàn và Iran, các hoạt động phi pháp trên mạng của Trung Cộng cùng nhiều vấn đề khác trên thế giới vốn không dễ dàng giải quyết được, chính sách của Tổng thống Trump có thể tạo ra cảm tưởng rằng đó là một chính sách hữu hiệu. Nhưng cái giá mà Hoa Kỳ sẽ phải trả về lâu về dài sau khi Tổng thống Trump rời bỏ Tòa Bạch Ốc, đó chính là điều đã khiến cho giới ngoại giao Mỹ phải lo ngại.

(John Walcott, The risks of Trump’s Dollar-driven Diplomacy, Tạp chí Time 24 /6/2019)