Thứ Bảy, 29 tháng 6, 2019

Hiệu ứng Cánh bướm



Chu Thập
Thỉnh thoảng tôi cũng có xem chương trình The Voice của Úc Đại Lợi hiện đang được trực tiếp truyền hình trên Đài Số 9 trong tháng Sáu này. Để tỏ ra mình cũng “ngang tầm thời đại” như ai! Thật ra, theo đúng kiểu nói quen thuộc của người miền Nam, tôi “coi hát” hơn là “nghe hát”. Tiếng Anh vẫn còn ở trình độ ăn đong cho nên nghe các ca sĩ hát cũng như vịt nghe sấm. Hơn nữa, thời buổi này tôi có cảm tưởng  người ta “hét” hơn là “hát”. Dù vậy, chương trình The Voice tối thứ Ba 11 tháng Sáu vừa qua cũng đã tạo ra nhiều cảm xúc sâu đậm trong tôi.
Trong chương trình thi đấu, ca sĩ Delta Goodrem đã cho một nhóm thí sinh gà nhà của mình hát ca khúc có tựa đề “Let it be” của ban The Beatles. Nghe tiếng được tiếng mất cho nên tôi mới vào Google để đọc lại ca khúc. “Mỗi khi tôi gặp nguy nan khốn khó, Mẹ Maria hiện ra với tôi để nói những lời khôn ngoan “Let it be” (xin vâng!). Và trong giờ đen tối của tôi, mẹ đứng ngay trước mặt tôi để nói những lời khôn ngoan “Let it be”.
Ca khúc nổi tiếng trên đây đã được Paul McCartney sáng tác năm 1970. Ông giải thích rằng thập niên 1960, người mẹ quá cố của ông đã đến với ông trong một giấc mơ và nói với ông: “Mọi sự sẽ tốt đẹp. Hãy chấp nhận”. Mẹ ông tên là Maria. Nhưng điệp khúc “Let it be” (xin vâng) lại thường được gán cho Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ của Chúa Giêsu. Do đó, khi có người hỏi khi trích câu “Let it be”, ông muốn ám chỉ đến người mẹ tên Maria của ông hay Đức Trinh Nữ Maria, Paul McCartney trả lời rằng ai muốn hiểu sao cũng được.
Đứng trước thử thách, nghe ca khúc này có lẽ ai cũng cảm thấy xúc động. Cảm động nhứt là khi nhóm thí sinh gồm ba người Tây Tân Lan có tên là Koi Boys, trước khi hát, đã cho biết họ đã từng hát ca khúc này trong nhà thờ sau khi xảy ra vụ thảm sát trong một đền thờ Hồi giáo tại Christchurch dạo tháng Ba 2019 vừa qua trong đó có 51 người bị sát hại. Họ muốn hát lên ca khúc để tưởng nhớ các nạn nhân. Tiếng hát hay đúng hơn tiếng khóc của họ đã khiến cho 3 trong 4 giám khảo của cuộc thi tuyển đã rơi lệ. Riêng ca sĩ Delta đã xúc động đến nỗi đã phải chạy ra bên ngoài sân khấu khóc tức tưởi. Có lẽ tối hôm đó, cả hội trường cũng đều được nối kết với nhau trong cùng một cảm xúc.
Quả thật một ca khúc có ý nghĩa được cất hát lên đúng lúc đã tạo ra một chấn động giây chuyền khơi dậy trong lòng người một trong những tình cảm tốt đẹp nhứt là sự cảm thông. Bộ mặt thế giới có lẽ sẽ thay đổi biết chừng nào nếu những chấn động như thế được nhân lên khắp nơi!
Tôi cũng có một ý nghĩ như thế khi theo dõi cuộc biểu tình ôn hòa mới đây của người dân Hong Kong. Theo tường thuật của phóng viên Bill Birthes của Đài ABC (Úc), trong cuộc biểu tình, một người thanh niên 28 tuổi tên là Freeman Leung đã cất hát lên một bài thánh ca quen thuộc của Kitô Giáo là “Sing Halleluja To The Lord”. Người thanh niên này giải thích rằng khi anh cất tiếng hát lên bài ca, mọi người xung quanh anh, kể cả những người không đồng tôn giáo, cũng  đều hát theo và bầu khí trở nên bình lặng, thanh thản, nhờ vậy giữ cho các cuộc biểu tình lúc nào cũng diễn ra trong ôn hòa. Mặc dù chỉ là một thiểu số không quan trọng trong đám đông 2 triệu người biểu tình, các tín hữu Kitô Hong Kong lúc nào cũng tỏ ra tích cực; tiếng hát của họ là một vết dầu loang có sức đánh động mọi người và khơi dậy sự cương quyết cũng như tinh thần yêu chuộng hòa bình.
Suy nghĩ về tác động giây chuyền của những cử chỉ nhỏ bé và âm thầm trong cuộc sống con người tôi thường liên tưởng đến điều thường được các nhà khoa học gọi là “hiệu ứng cánh bướm”: đừng xem thường sự vỗ cánh của một cánh bướm! Năm 1972, tại một cuộc hội thảo của Hiệp hội Phát triển Khoa học Hoa Kỳ, chuyên gia khí tượng học Edward Norton Lorenz đã nêu lên một câu hỏi: “Liệu một con bướm vỗ cánh ở Ba Tây có thể gây ra một cơn lốc ở Texas không?” Theo ông,  một cái đập cánh của một con bướm nhỏ bé cũng có thể gây ra sự thay đổi, dù rất nhỏ, trong điều kiện gốc của hệ vật lý, dẫn đến kết quả là những thay đổi lớn về thời tiết như cơn lốc tại một địa điểm cách nơi con bướm đập cánh hàng vạn cây số. Thật ra, tỉ lệ tác động của một cái đập cánh của một con bướm đối với toàn bộ cơn lốc là quá nhỏ: vai trò của con bướm không đáng kể trong những tính toán về những hỗn loạn trong thế giới vật lý. Giáo sư Lorenz giải thích rằng nếu một cái đập cánh của một con bướm có thể gây ra cơn lốc thì một cái đập cánh của một con bướm khác cũng có thể dập tắt nó. Chính vì thế mà dự báo thời tiết vẫn luôn luôn là dự báo vì không thể tính toán hết sự thay đổi khi xuất hiện một tác nhân nhỏ ảnh hưởng đến tiến trình thu thập thông tin. Điều này cho thấy sự đáng sợ của những sai số vô cùng nhỏ bé nhưng lại có ảnh hưởng rất lớn đối với  kết quả thực nghiệm (x. http://soha.vn/kham-pha/dung-bao-gio-xem-thuong-mot-canh-buom-2015112615194908.htm)
Trong tình liên đới nhân loại, dù không thấy và có khi cũng chẳng cảm nghiệm hay kiểm chứng được, tôi vẫn tin rằng bất cứ một hành vi nhỏ bé nào của tôi cũng đều có ảnh hưởng đối với cục diện thế giới. Như một viên đá cuội ném xuống một mặt hồ phẳng lặng lúc nào cũng tạo ra vô số những gợn sóng, mỗi một hành vi của tôi, dù nhỏ bé và xem ra vô nghĩa đến đâu, cũng đều ít hay nhiều ảnh hưởng đến những người xung quanh tôi và một cách nào đó như một vết dầu loang phủ lên một không gian rộng lớn hơn. Ai mà chẳng mong thế giới này ngày càng trở nên một nơi tốt đẹp hơn để sống. Và dĩ nhiên, dù chỉ là một thành phần vô danh tiểu tốt trong xã hội,  ai cũng có trách nhiệm góp phần thay đổi thế giới, bằng chính  những đóng góp âm thầm và nhỏ bé từng ngày của mình.
Trên báo mạng Psychology Today, tôi đọc được một số gợi ý rất cụ thể: “Khi bạn mua sắm một món hàng nào đó, hãy trao tặng một điều gì đó. Khi bạn nhặt được một đồng, hãy cho đi một đồng. Khi bạn cần một đồng, hãy xin được giúp đỡ. Khi bạn xin giúp đỡ, hãy đáp trả bằng sự giúp đỡ. Khi bạn nhận được một cử chỉ tử tế, hãy cư xử tử tế...Khi không phải là chuyện của mình, đừng xen vào. Còn nếu đó là việc của mình, hãy làm với sự cảm thông...Và nếu bạn cảm thấy mình chẳng là gì cả, hãy nói với một người khác rằng họ là người quan trọng. (Và như vậy), bạn vừa mới làm được một điều quan trọng vì bạn đã thay đổi thế giới”.


Chủ Nhật, 23 tháng 6, 2019

Chúng ta mắc nợ người tỵ nạn



Angelina Jolie
Khi nói đến một người tỵ nạn, bạn nghĩ đến ai trước tiên? Có lẽ bạn không tưởng tượng đó là một người Âu Châu. Nhưng nếu là một đứa trẻ sinh ra trong thời Đệ nhị Thế chiến và hỏi cha mẹ bạn ai là một người tỵ nạn, có lẽ họ sẽ mô tả đó là một người đến từ Âu Châu.
Hơn 40 triệu người Âu Châu đã bị ly tán vì chiến tranh. Cơ quan Tỵ nạn của Liên Hiệp Quốc đã được thành lập cho họ. Chúng ta quên bẵng điều đó. Ngày nay khi hô hào chống lại người tỵ nạn với những lời lẽ độc địa nhứt, một số lãnh tụ truy tìm những con đường dẫn về những quốc gia đã từng trải qua những kinh nghiệm đau thương về tỵ nạn và được cộng đồng thế giới giúp đỡ.
Hễ vừa chứng kiến xung đột vũ trang hay bách hại, phản ứng tự nhiên của con người là cố gắng bồng bế con cái chạy trốn khỏi hoạn nạn. Bị đe dọa bởi bom đạn, hãm hiếp tập thể hay các đội ám sát, dân chúng gom nhặt chút tài sản mà họ có thể mang theo và tìm nơi an toàn. Người tỵ nạn là những người đã chọn lựa chạy trốn khỏi một cuộc xung đột. Chính họ vượt thoát chiến tranh và cũng đưa gia đình thoát khỏi chiến tranh và họ cũng chính là những người thường giúp tái thiết xứ sở của họ. Đó là những đức tính cần được ngưỡng mộ.
Tại sao trong thời đại chúng ta, hai chữ “tỵ nạn” lại có những hàm ý tiêu cực như thế? Tại sao các chính trị gia lại đắc cử vì đã hứa hẹn đóng cửa biên giới và quay lưng lại với người tỵ nạn?
Ngày nay, làn ranh giữa tỵ nạn và di dân đã trở nên lu mờ và bị chính trị hóa. Tỵ nạn là những người bị buộc phải rời bỏ xứ sở của họ vì bị bách hại, vì chiến tranh hay bạo động. Di dân là những người đã chọn ra đi với mục đích chính là để có cuộc sống tốt đẹp hơn. Một số lãnh tụ cố tình sử dụng hai từ tỵ nạn và di dân như nhau; họ dùng những lời lẽ thù nghịch để tạo ra sợ hãi đối với tất cả những người đến từ bên ngoài.
Ai cũng đáng được tôn trọng và đối xử một cách công bình. Nhưng chúng ta cần phải có một sự phân biệt rõ ràng. Theo công pháp quốc tế, giúp đỡ người tỵ nạn không phải là một chọn lựa, mà là một nghĩa vụ. Kiểm soát biên giới một cách chặt chẽ và tốt đẹp, đề ra những chính sách di dân nhân đạo mà vẫn thi hành trách nhiệm để giúp đỡ người tỵ nạn là điều hoàn toàn khả thi. Hơn một nửa số người tỵ nạn trên toàn thế giới là trẻ em và cứ 5 đứa trẻ tỵ nạn thì có tới 4 em sống trong một quốc gia có xung đột hay khủng hoảng khiến các em phải trốn chạy. Không có tới 1 phần trăm người tỵ nạn đã được tái định cư vĩnh viễn, kể cả trong các nước Tây Phương.
Người Mỹ quảng đại: điều đó có nghĩa là xứ sở của chúng ta là nước viện trợ nhiều nhứt thế giới. Nhưng hãy nhìn sang Lebanon. Đây là nơi mà cứ 6 người có một người là tỵ nạn. Hay Uganda là nơi một phần ba dân chúng sống trong nghèo khổ cùng cực, nhưng lại chia sẻ tài nguyên nghèo nàn của họ cho hơn một triệu người tỵ nạn. Trên khắp thế giới, nhiều nước nghèo nhứt lại trao tặng nhiều nhứt.
Khi tôi khởi sự làm việc cho Cơ quan Tỵ nạn của Liên Hiệp Quốc hay Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc cách đây 18 năm, có khoảng 40 triệu người bị buộc phải di tản;  tôi đã hy vọng rằng con số này sẽ giảm bớt. Nhưng theo bản phúc trình toàn cầu mới nhứt của Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc, ngày nay con số người bị buộc phải di tản đã lên đến hơn 70 triệu và đang gia tăng nhanh chóng. Từ Miến Điện qua Nam Sudan, chúng tôi không thể giúp giải quyết các cuộc xung đột và đưa dân chúng trở về nhà. Và chúng tôi hy vọng Liên Hiệp Quốc sẽ tìm được giải pháp cho cuộc khủng hoảng nhân đạo này.
Năm 1946, tại khóa họp đầu tiên của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, Tổng thống Truman đã nói đến trách nhiệm tiên quyết của các quốc gia thành viên là phải tạo dựng hòa bình và ổn định. Ông nói rằng Liên Hiệp Quốc  “không thể...chu toàn đầy đủ trách nhiệm của mình nếu...không có các thỏa thuận hòa bình và nếu các thỏa thuận này không tạo được một nền móng vững chắc để xây dựng một nền hòa bình vững chắc”.
Nhưng sự thật đáng buồn là: các quốc gia thành viên lại áp dụng các phương thế và chuẩn mực của Liên Hiệp Quốc theo cách thế riêng của mình. Các quốc gia thường đặt các quyền lợi kinh doanh và thương mại lên trên sự sống của người dân vô tội ở những nơi có xung đột. Chúng ta mệt mỏi hay thất vọng và từ chối những nỗ lực ngoại giao đối với một số quốc gia trước khi họ được ổn định. Chúng ta tìm kiếm những thỏa hiệp hòa bình, như tại A Phú Hãn chẳng hạn, mà không màng đến nhân quyền. Chúng ta không chịu nhìn nhận rằng ảnh hưởng của khí hậu thay đổi là một yếu tố chính gây ra xung đột và di tản.
Chúng ta dùng viện trợ để thay thế cho ngoại giao. Nhưng bạn không thể giải quyết một cuộc chiến bằng viện trợ nhân đạo. Nhứt là khi rất ít những lời kêu gọi trợ giúp nhân đạo trên thế giới không đạt tới 50 phần trăm kết quả. Liên Hiệp Quốc chỉ nhận được 21 phần trăm cho Quỹ 2019 vốn cần có cho các chương trình cứu trợ tại Syria. Tại Libya, tỷ lệ này chỉ đạt được 15 phần trăm.
Hồi năm ngoái, tỷ lệ di tản là: mỗi ngày có khoảng 37.000 người bị buộc phải rời bỏ nhà cửa của họ. Hãy thử tưởng tượng sẽ phải thất vọng biết chừng nào nếu không có đủ quỹ để giúp đỡ chỉ một nửa số người đó.
Chúng ta cử hành Ngày Tỵ Nạn vào ngày 20 tháng Sáu. Thật là một ảo tưởng khi  nghĩ rằng mỗi quốc gia có thể rút lui ra sau biên giới của mình và hy vọng rằng vấn đề sẽ biến mất. Chúng ta cần có một sự lãnh đạo và một nền ngoại giao hữu hiệu. Chúng ta cần chú trọng vào một nền hòa bình lâu dài đặt nền tảng trên công lý, nhân quyền và trách nhiệm để giúp cho người tỵ nạn được trở về nhà của họ.
Đây không phải là một giải pháp dễ dàng, mà đòi hỏi cương quyết hành động. Nhưng chỉ có một giải pháp như thế mới mang lại sự thay đổi. Khoảng cách giữa chúng ta và người tỵ nạn trong quá khứ ngắn hơn chúng ta tưởng.

(Angelina Jolie, diễn viên kiêm đạo diễn, đặc sứ của Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc, What We Owe Refugees, tạp chí Time 19/6/2019)


Thứ Tư, 12 tháng 6, 2019

Bóng của Đại Huynh



Chu Thập
11/6/19

Tháng Sáu năm nay (2019) có 2 cuộc kỷ niệm đáng ghi nhớ. Trước hết là  Ngày 6 tháng Sáu, kỷ niệm 75 Ngày D.Day, Ngày quân đội Đồng minh, dưới sự lãnh đạo của Hoa Kỳ, đã đổ bộ lên bờ biển Normandie, miền Bắc nước Pháp, để giải phóng nước này và cả Âu Châu khỏi sự cai trị tàn bạo của Đức Quốc Xã. Các nhà lãnh đạo của các nước đã từng tham gia vào cuộc đổ bộ đã có mặt tại địa điểm của cuộc đổ bộ để bày tỏ lòng biết ơn với 175 ngàn binh sĩ đã hy sinh để chiến đấu cho Tự Do.
Ít được chú ý hơn, nhưng có lẽ đáng được ghi nhớ hơn, đó là cuộc thảm sát tại Quảng trường Thiên An Môn ở Thủ đô Bắc Kinh, Trung Cộng: ngày 4 tháng Sáu năm 1989, Đảng cộng sản Trung Quốc, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch tối cao Đặng Tiểu Bình, đã ra lệnh cho quân đội đàn áp cuộc biểu tình ôn hòa đòi Tự Do và Dân Chủ của sinh viên. Đã có không dưới 1000 người bị tàn sát!
Cách nhau 45 năm, nhưng hai biến cố đều được liên kết với nhau trong cùng một khát vọng chung của con người ở mọi thời đại: đó là được Tự Do! Người dân Âu Châu ngày nay đã hưởng được Tự Do: họ đã được giải phóng khỏi chế độ tàn bạo của Đức Quốc Xã, họ cũng đã thoát khỏi gông cùm của chủ nghĩa cộng sản!
Nhưng tại Trung Cộng, ngay tại Quảng trường Thiên An Môn, chân dung của đồ tể Mao Trạch Đông vẫn còn đang sừng sững ngự trị, bóng ma dối trá của chủ nghĩa cộng sản vẫn còn đang phủ xuống không những trên toàn lãnh thổ Trung Cộng, mà hiện đang lan rộng ra rất nhiều vùng đất trên thế giới.
Cái bóng ma ấy đầy đặc đến độ có thể che đậy được một cuộc tàn sát dã man được cả thế giới chứng kiến. Nếu trong Thế kỷ 20 vừa qua, cần phải kể đến những hình ảnh có tính biểu tượng nhứt, chắc chắn thế giới không thể không nghĩ đến người thanh niên thường được mệnh danh là “Người chống xe tăng” (The Tank Man). Trong cuộc biểu tình ôn hòa của các sinh viên Trung Hoa hồi năm 1989, các phóng viên ngoại quốc có mặt trong biến cố đã ghi được thước phim mô tả cảnh một người thanh niên, đơn độc một mình, không một tấc sắt trong tay, đã xông ra chận đứng bước tiến của đoàn xe tăng! Cả thế giới đều nhìn thấy hình ảnh hào hùng ấy. Nó đã trở thành biểu tượng về sức mạnh của Lương Tâm, của Tự Do và nhứt là của Sự Thật!
Nhưng 30 năm sau, trong khi mỗi lần nhắc đến cuộc thảm sát Thiên An Môn, thế giới bên ngoài lúc nào cũng trưng dẫn hình ảnh của “Người chống xe tăng” thì tại Trung Cộng, hầu như toàn bộ giới trẻ Trung Cộng đều không hề biết tới người thanh niên ấy. Tất cả mọi phương tiện truyền thông đại chúng đều nằm trong tay Đảng Cộng Sản: tất cả mọi sự kiện và hình ảnh liên quan đến biến cố 4 tháng Sáu năm 1989 đều bị xóa sạch!
Phóng viên Bil Birtles của Đài ABC Úc đã phỏng vấn một số sinh viên ở Bắc Kinh về biến cố Thiên An Môn. Một sinh viên báo chí 24 tuổi nói: “Tôi nghĩ rằng tôi chỉ có một ấn tượng mơ hồ về biến cố 4 tháng Sáu. Biến cố này ít được nhắc đến ở Trung Hoa và tôi không hề học được (về biến cố) trong các sách giáo khoa về lịch sử. Tôi không biết biến cố đó xảy ra chính xác như thế nào cả. Tôi chỉ biết rằng có lẽ chính quyền Trung Cộng đã làm một điều gì đó khủng khiếp lắm đối với những người biểu tình”. Cũng như nhiều sinh viên khác mà phóng viên Birttles đã có dịp tiếp xúc, người sinh viên báo chí trên đây không hề thấy được bức hình nổi tiếng của “Người chống xe tăng”.
Nói chung, không những không được thông tin về biến cố, hầu hết giới trẻ Trung Hoa đều được nhồi sọ để tin rằng chính quyền cộng sản đã “làm đúng” trong biến cố “4 tháng Sáu”.
Đó là sự thành công của Đảng Cộng Sản Trung Quốc trong việc che đậy sự thật. Sách vở, báo chí ở Trung Cộng không hề đề cập đến cuộc tàn sát đã man tại Quảng trường Thiên An Môn ngày 4 tháng Sáu năm 1989. Ngày nay, với địa vị của nền kinh tế thứ nhì thế giới, người dân Trung Cộng đã có cuộc sống khá sung túc. Họ cũng được sử dụng hầu hết các phương tiện thông tin hiện đại. Chỉ khác một điều với thế giới bên ngoài: mọi phương tiện truyền thông đều nắm dưới sự kiểm soát nghiêm nhặt của chính quyền. Mạng lưới thông tin lớn nhứt tại Trung Quốc hiện nay là Baidu. Nếu bạn gõ vào đó mấy chữ “4 Tháng Sáu” để tìm kiếm thông tin, bạn sẽ chỉ đọc được một loạt những bài viết của các phương tiện truyền thông quốc doanh.
Hình ảnh của “Người chống xe tăng” đã hoàn toàn bị xóa sạch. Danh tánh và số phận của anh cũng hoàn toàn không được biết tới. Một ký giả Úc đã gọi Trung Cộng là “Cộng hòa Nhân dân mắc bệnh quên” (The People’s Republic of Amnesia). Nói cho cùng, ở quốc gia cộng sản khổng lồ này Sự Thật không hề là một điều đáng ghi vào bộ nhớ của con người!
Ngày quân đội Đồng minh đổ bộ vào Normandie đã được 75 năm. Ngày sinh viên Trung Hoa bị tàn sát tại Quảng trường Thiên An Môn cũng đã được 30 năm. Trong tháng Sáu năm nay, còn có một kỷ niệm khác mà 2 biến cố trên đây buộc tôi phải nhớ đến: đó là kỷ niệm đúng 70 năm ngày cuốn sách nổi tiếng có tựa đề “1984” của nhà văn Anh George Well (1903-1950) chào đời. Thật vậy, ngày 8 tháng Sáu năm 1949, George Orwell đã cho trình làng cuốn tiểu thuyết giả sử viết về một chế độ độc tài không tưởng của ông. Cũng như trong cuốn “Trại Súc Vật” (The Animal Farm) xuất bản trước đó 4 năm, lời cảnh cáo mà tác giả Orwell muốn nhắn gởi cho thế giới sau Đệ nhị Thế chiến, vẫn tiếp tục có tính thời sự. Napoleon trong “Trại súc vật” hay “Đại Huynh” trong “1984” đều giống nhau: cả hai đều muốn xóa bỏ sự thật và đều muốn tuyệt đối kiểm soát tư tưởng của con người. Napoleon hay “Đại Huynh” không chỉ đã từng xuất hiện trong các đồ tể như Hitler, Stalin, Mao Trạch Đông và ngay cả Tập Cận Bình. Napoleon và “Đại Huynh” hiện cũng đang lấp ló để tái sinh trong một số nhà lãnh đạo của thời đại.
Một trong những từ ngữ nổi bật thường được tác giả George Orwell lập lại trong cuốn sách “1984” của ông và luôn được các chế độ cộng sản tận dụng là “kẻ thù của nhân dân”. Báo chí Mỹ thường cho rằng đương kim Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump là người rất ít đọc sách. Nhưng tôi không ngờ ông lại thuộc lòng và sử dụng rất “nhuần nhuyễn” thuật ngữ “kẻ thù của nhân dân”. Cứ mỗi lần nói đến báo chí tự do Mỹ hiện nay, ông đều gọi đó là “kẻ thù của nhân dân”. Gần đây nhứt, trong một “tuýt”được bắn đi ngày 26 tháng Năm 2019, ông viết: “Truyền thông dòng chính đang bị chỉ trích và khinh bỉ trên khắp thế giới vì bị hủ hóa và giả dối. Trong hai năm liền, họ cứ chúi mũi vào Ảo Tưởng Thông Đồng Với Nga mặc dù vẫn luôn biết rằng không hề có Thông Đồng. Họ thực sự là Kẻ Thù của Nhân Dân và là Đảng Đối Lập Thật Sự!”
Không ngờ Tổng thống Trump đã vô tình quảng cáo không công cho cuốn sách “1984” của nhà văn George Orwell, bởi vì trong tuần lễ sau khi ông tuyên thệ nhậm chức tổng thống, cuốn sách này lại bán chạy như tôm tươi.
Không biết tại sao người Mỹ lại tìm đọc cuốn sách ấy. Riêng tôi, không hiểu sao cứ nghe cụm từ “Kẻ Thù của Nhân Dân” là tôi thấy “run”. Năm năm sống trong chế độ cộng sản đã từng cho tôi chứng kiến cảnh không biết bao nhiêu người bị bắt giữ và bị kết án vì “có nợ máu với nhân dân” và nhứt là “kẻ thù của nhân dân”. Nay nghe khẩu hiệu sặc mùi cộng sản ấy từ một nhà lãnh đạo của thế giới tự do, tôi thấy “lo”. Lo là bởi vì câu nói ấy, với tôi, đơn thuần chỉ có nghĩa là một phủ định sự thật. Hãy thử dẫn chứng một sự kiện: phát ngôn viên đầu tiên của Tổng thống Trump là ông Sean Spicer nhấn mạnh rằng đám đông tham dự lễ tuyên thệ nhậm chức của ông đông chưa từng thấy, nhứt là lớn hơn đám đông đã tham dự lễ tuyên thệ của Tổng thống Barack Obama. Sự thật như được ghi nhận qua các hình ảnh vẫn còn lưu trữ được cho thấy một thực tế hoàn toàn khác. Thế nhưng khi xem lại những hình ảnh này, cố vấn thân cận của Tổng thống Trump là bà Kellyanne Conway lại chế ra một từ mới là “những sự kiện khác” ( alternative facts). Nghe đâu có khác gì chuyện được kể trong “1984”. Nhưng có lẽ đáng “lo” nhứt là lời biện hộ của luật sư riêng của ông là Rudy Giuliani khi ông tuyên bố: “Sự thật không phải là sự thật!”
Tôi cảm thấy “choáng váng”  khi nghe những lời tuyên bố như thế. Nó cứ gợi lại cho tôi những thảm kịch hãi hùng đã từng xảy ra trong các chế độ xây dựng trên sự dối trá.
Nhưng dù bị xóa sổ ở Trung Cộng, hình ảnh của “người chống xe tăng” lúc nào cũng hiện lên trong tâm trí tôi. Nó nhắc nhở tôi rằng: con người có thể chối bỏ sự thật, nhưng họ không thể bóp nghẹt được tiếng nói của lương tâm. Và một khi dám sống cho đến cùng mệnh lệnh của lương tâm, con người không còn phải lo sợ trước bất cứ một vũ lực nào!





Thứ Sáu, 7 tháng 6, 2019

Biết thì thưa thốt...


Chu Thập
04/06/19
Cuốn phim Aladdin, do đạo diễn Mỹ Guy Ritchie thực hiện và với sự góp mặt của tài tử gạo cội Will Smith trong vai ông thần đèn, hiện đang được trình chiếu tại Úc Đại Lợi. Lúc nhỏ, tôi đã được câu chuyện “Aladdin và cây đèn thần” đưa vào thế giới thần tiên. Nay ở tuổi già, ngoài những cảnh trí hùng vĩ ở Trung Đông mà có nằm mơ cũng sẽ không bao giờ được đặt chân đến, tôi “được” hay đúng hơn “bị” phim Aladdin bắt phải suy nghĩ miên man về một trong những vấn đề muôn thuở của con người là Quyền Lực. Trong các câu nói nổi tiếng về quyền lực, tôi không thể nào quên lời cảnh cáo của sử gia kiêm chính trị gia Anh John Dalberg-Acton hay gọi tắt là Lord Acton (1834-1902): “Quyền lực hủ hóa con người. Quyền lực tuyệt đối hủ hóa con người một cách tuyệt đối” (Power tends to corrupt and absolute power corrupts absolutety).
Dường như đạo diễn Guy Ritchie cũng muốn nhắn gởi một thông điệp như thế khi làm sống lại câu chuyện Aladdin vốn rất quen thuộc này. Cả Aladdin và tể tướng Jafar đều nghĩ rằng hễ nắm được trong tay ông thần đèn thì thế nào cũng chiếm được trái tim của công chúa Jasmine. Khi chiếm được ông thần đèn, Jafar bày tỏ ước muốn là thu tóm trong tay mọi quyền lực trong vũ trụ. Ông thần đèn đã trao vào tay của ông quyền lực đó và đó cũng chính là lúc ông bị một quyền lực như thế hủy diệt. Chiếm lại cây đèn thần, Aladdin chỉ còn lại một ước nguyện để xin. Với cây đèn thần, Aladdin có thể có tất cả mọi sự, nhứt là chiếm được trái tim của công chúa Jasmine. Nhưng sau một hồi suy nghĩ, chàng thanh niên từ bỏ tất cả mọi tham vọng để chỉ xin một điều: giải phóng ông thần ra khỏi cây đèn để ông được trở thành một con người bình thường! Lời ước cuối cùng đã được thực hiện. Aladdin trở thành trắng tay và trở về nguyên trạng của một chàng thanh niên lang thang đầu đường xó chợ, chuyên ăn cắp vặt để sống qua ngày, nhưng lúc nào cũng có tấm lòng biết thương người. Đó chính là sức mạnh đích thực mà người thanh niên khố rách áo ôm lúc nào cũng có và đó chính là sức mạnh giúp chàng chiếm được trái tim của nàng công chúa.
Chuyện Aladdin không thể không làm tôi nhớ lại lợi dặn dò của ông chú Ben Parker với đứa cháu “Người Nhện” (Spider Man) của mình: “Quyền lực càng nhiều thì trách nhiệm càng nhiều” (With great power comes great responsibility). Chính vì thế mà “Người Nhện” đã sử dụng quyền lực của mình để cứu người hơn là đeo đuổi các tham vọng riêng của mình. Quyền lực và trách nhiệm luôn đi đôi với nhau. Và trách nhiệm, hiểu một cách đơn giản nhứt, chính là biết quên mình để chỉ nghĩ đến người khác.
Aladdin đã cư xử như thế khi nắm trong tay quyền lực. Anh đã đặt trách nhiệm đối với người khác lên trên quyền lực của mình. Anh thà trở về với con người thật trơ trụi, bất toàn hơn là sử dụng quyền lực cho riêng bản thân. Nói cho cùng, trách nhiệm đối với người khác đòi hỏi sự khiêm tốn. Đây là bài học mà tôi cũng học được trong đoạn cuối “có hậu” của phim Aladdin.
Tôi thấy thế giới cần sự khiêm tốn hơn bao giờ hết. Tổng thống Donald Trump, người được xem là có nhiều quyền lực nhứt trên thế giới hiện nay, đã nhiều lần tuyên bố rằng ông là “một thiên tài (với tâm lý) rất ổn định” (a very stable genius). Là thiên tài cho nên cũng có nghĩa là thông minh và thông minh nhứt thế giới. Bất cứ ai chống hay phê bình ông cũng đều được ông tặng cho nhãn hiệu “Kém thông minh” (Low I.Q).
Ở Mỹ, Tổng thống Trump có lẽ không phải là người duy nhứt tự hào về óc thông minh của mình. Tác giả Tom Nichols, một chuyên gia về an ninh quốc gia, cho rằng tại Mỹ hiện đang có rất nhiều người như Tổng thống Trump. Trong cuốn sách có tựa đề “The Death of Expertise” (cái chết của sự hiểu biết chuyên môn), ông mô tả mẫu người thông minh đó như sau: “Già trẻ, giàu nghèo, họ là những người có học. Một số chỉ cần được trang bị một chiếc laptop (vi tính di động) hay một thẻ thư viện. Nhưng tất cả đều chia sẻ một mẫu số chung: họ tin rằng họ đang có trong tay  cả túi khôn! Họ xác tín rằng họ có nhiều thông tin hơn các nhà chuyên môn, hiểu biết rộng rãi hơn các giáo sư và có cái nhìn sâu rộng hơn các đám đông mê muội” (https://www.psychologytoday.com/au/blog/out-the-ooze/201905/is-lack-intellectual-humility-what-ails-america)
Tôi luôn tự hỏi: điều gì sẽ xảy ra khi ai cũng nghĩ rằng mình “thông minh” hơn người khác? Có người cho rằng chuyện hay nhứt  của Trạng Quỳnh chính là cuộc đấu khẩu giữa ông và ông Tú Cát. Dù chỉ mới đỗ tú tài, ông Tú Cát vẫn thường nổ rằng mình là người thông minh, hay chữ, coi thiên hạ chẳng ra gì. Để thử tài Quỳnh, ông Tú Cát ra câu đối: “Trời sinh ông Tú Cát”. Quỳnh liền đối lại: “Đất nứt con bọ hung”.
Thiếu sự khiêm tốn, có lẽ con người cũng như giống bọ hung, suốt ngày chỉ biết vùi đầu trong đống phân mà vẫn nghĩ mình hơn người.
Khiêm tốn là khởi đầu của sự khám phá. Có lẽ đây là luận đề mà sử gia Yuval Noah Harrari muốn đưa ra khi giải thích về sự tiến bộ của Âu Châu sau thời Trung Cổ. Đó là thời kỳ người Âu Châu mở ra các cuộc thám hiểm đi tìm đất mới. Vào thời kỳ đó, Trung Hoa vẫn còn miên man ngủ vùi trong sự tự mãn rằng mình là trung tâm của thế giới, là cái rốn của vũ trụ. Trong khi đó, các nhà thám hiểm Âu Châu không chỉ hăm hở đi tìm đất mới để chinh phục. Cùng đi với họ lúc nào cũng có cả một đội ngũ các nhà khoa học như địa chất học, sinh vật học, nhân chủng học, khảo cổ học...Họ ra đi để khám phá, để học hỏi, bởi vì họ tự nhận rằng mình còn rất nhiều điều để học hỏi. Tác giả gọi các cuộc khám phá của các nhà thám hiểm và khoa học gia Âu Châu là “sự khám phá của sự ngu dốt” (The discovery of ignorance).
Biết mình và biết mình ngu dốt, phải chăng đó không là sự hiểu biết tối hậu mà con người cần đeo đuổi? Chỉ có một sự hiểu biết như thế may ra mới có thể mở mắt, mở trí, mở lòng để con người biết sống khiêm tốn hơn, tử tế hơn, cảm thông hơn trong cách đối nhân xử thế. Câu nói của người xưa lúc nào cũng đáng suy nghĩ và đem ra thực hành: “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”.




Thứ Hai, 3 tháng 6, 2019

Thời Đại Mua Sắm





Yuval Noah Harari
Hoang Địa chuyển ngữ
Cũng như con cá mập, nếu không bơi thì sẽ bị nghẹt thở, nền kinh tế tư bản hiện đại cũng phải không ngừng gia tăng sản xuất. Nhưng sản xuất không thôi chưa đủ. Cần phải có người mua các sản phẩm. Nếu không các kỹ nghệ gia và các nhà đầu tư sẽ phá sản. Để tránh tai họa và bảo đảm rằng dân chúng sẽ luôn mua bất cứ sản phẩm mới nào được kỹ nghệ sản xuất, người ta phải tạo ra một loại “đạo đức” mới là chủ nghĩa tiêu thụ.
Xuyên suốt lịch sử nhân loại, hầu như mọi người đều đã sống trong những điều kiện thiếu thốn. Chính vì thế mà ai cũng cảm thấy phải biết tiết kiệm. Cuộc sống khắc khổ của những người theo giáo phái Thanh giáo (chú thích của người dịch: Thanh Giáo (Puritan) là tín đồ Tin Lành tại Anh Quốc trong 2 thế kỷ 16 và 17. Họ chủ trương sống khắc kỷ để thanh tẩy Giáo hội Anh khỏi những thực hành của Giáo hội Công Giáo) và những người Sparta (chú thích của người dịch: xã hội Sparta trong thời Hy Lạp cổ đề cao lối sống kỷ luật, đơn giản, đạm bạc và khắc khổ)  là 2 thí dụ điển hình. Theo những người này, người tốt là người biết tránh xa xí, không bao giờ phí phạm thức ăn và thà mặc chiếc quần rách hơn là mua cái mới. Chỉ có vua chúa và giới quý tộc mới tự cho phép mình được công khai từ bỏ những giá trị ấy và khoe khoang về sự giàu có của họ.
Chủ nghĩa tiêu thụ xem việc ngày càng tiêu thụ nhiều sản phẩm và dịch vụ là một điều tích cực. Chủ nghĩa này khuyến khích con người phải biết tự chiều chuộng, xả láng và ngay cả tự làm cho mình chết dần chết mòn bằng việc tiêu thụ quá đà. (Đối với chủ nghĩa tiêu thụ) cuộc sống thanh đạm là một căn bệnh cần phải chữa trị. Bạn không cần phải nhìn đâu xa để thấy tác động của nền “đạo đức” tiêu thụ. Chỉ cần đọc phía sau của một hộp thứ ăn bằng ngũ cốc. Sau đây là một hàng quảng cáo in trên hộp đồ ăn sáng bằng ngũ cốc ưa thích của tôi, được một công ty Israel là Telma sản xuất: “Đôi khi bạn cần phải “tự đãi” mình một bữa. Đôi khi bạn cần phải có thêm chút năng lực. Có lúc bạn cần phải xem xét trọng lượng của bạn và có lúc bạn thấy cũng phải cần có cái gì đó...ngay bây giờ đây! Telma cống hiến cho bạn đủ loại ngũ cốc...Hãy vui hưởng mà không phải hối hận!”
Hầu như thời nào con người cũng cảm thấy muốn tìm cách chống chế hơn là bị thu hút bởi những lời như thế. Họ xem đó như những lời dụ dỗ ích kỷ, đồi bại và hủ hóa về mặt đạo đức. Nhưng với sự tiếp tay của tâm lý học, chủ nghĩa tiêu thụ đã cố gắng thuyết phục được con người rằng tự chiều chuộng là một điều tốt cho bạn và sống thanh đạm là tự áp chế.
Và chủ nghĩa tiêu thụ đã thành công. Tất cả chúng ta đều trở thành những người tiêu thụ tốt. Chúng ta mua không biết bao nhiêu sản phẩm mà chúng ta thực sự không cần đến và mãi cho đến ngày hôm qua chúng ta cũng không biết là chúng hiện hữu. Các nhà sản xuất cố tình thiết kế những sản phẩm ngắn hạn và phát minh những mẫu sản phẩm mới vốn không cần thiết, nhưng lại hoàn toàn có sức thỏa mãn khiến chúng ta phải mua để tỏ ra “hợp thời”. Mua sắm đã trở thành một cái thú qua giờ được ưa chuộng và những sản phẩm tiêu thụ đã trở thành những trung gian cần thiết trong các quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, giữa vợ chồng và bạn bè. Những ngày lễ nghỉ tôn giáo như Giáng Sinh đã trở thành những liên hoan mua sắm. Tại Hoa Kỳ, ngay cả Ngày Chiến Sĩ Trận Vong, vốn khởi thủy là một ngày để tưởng nhớ các binh sĩ đã hy sinh, nay đã trở thành một dịp để hạ giá đặc biệt. Hầu hết mọi người đều đánh dấu ngày này bằng cách đi mua sắm, có lẽ để chứng minh rằng những người bảo vệ tự do đã không nằm xuống một cách vô ích.
Sự thăng hoa của chủ nghĩa tiêu thụ được thể hiện một cách rõ nét nhứt trong thị trường thực phẩm. Các xã hội nông nghiệp truyền thống đã từng sống dưới chiếc bóng hãi hùng của đói khát. Còn trong thế giới dư dật ngày nay, một trong những vấn đề sức khỏe hàng đầu lại là nạn béo phì mà nạn nhân là người nghèo (vốn phải thồn cho đầy bụng các thứ hamburger và pizza) hơn là người giàu (là những người chỉ ăn những món sà lách và trái cây “hữu cơ” (organic). Mỗi năm dân Mỹ chi cho thức ăn kiêng nhiều hơn số tiền cần để nuôi tất cả những người nghèo trên toàn thế giới. Béo phì đã tạo ra một chiến thắng đôi cho chủ nghĩa tiêu thụ: thay vì ăn ít, vốn sẽ làm cho kinh tế bị đình trệ, con người ăn quá nhiều và sau đó lại đi mua các loại thức ăn kiêng nhờ vậy mới giúp cho kinh tế găng gấp đôi.
Tại sao nền “đạo đức” tiêu thụ và nền “đạo đức” tư bản của các doanh gia cũng là một? Theo họ, lợi nhuận không nên bị phung phí, nhưng thay vào đó phải được đầu tư lại để sản xuất. Cũng như trong những thời kỳ trước, ngày nay lao động cũng được phân chia thành thành phần ưu tuyển và khối quần chúng. Ở Âu Châu vào thời Trung Cổ, giới quý tộc tiêu tiền một cách hoang phí trong các thứ xa xí phẩm, trong khi đó người nông dân sống thanh đạm, chắt chiu từng đồng xu nhỏ. Ngày nay, tình thế đảo ngược. Người giàu tính toán so đo trong việc quản lý tài sản và công cuộc đầu tư của họ trong khi người nghèo phải vay nợ để mua những chiếc xe và các thứ máy truyền hình mà họ thật sự không cần đến.
Nền “đạo đức” tư bản và tiêu thụ là 2 mặt của cùng một đồng tiền. Cả hai hợp lại thành một “giới điều”: với người giàu, giới điều tối cao là “hãy đầu tư”. Còn đối với chúng ta thì giới điều tối cao là “hãy mua sắm”.
Nhìn dưới một khía cạnh khác, nền “đạo đức” tư bản-tiêu thụ là một cuộc cách mạng. Trước kia, hầu hết các hệ thống đạo đức đều đề cao sự chiến đấu cam go. Con người được hứa hẹn sẽ vào thiên đàng, nhưng với điều kiện họ phải sống  cảm thông và khoan nhượng, chiến thắng sự tham lam và cơn giận dữ cũng như giới hạn các quyền lợi ích kỷ của mình. Điều ấy quả là quá khó khăn đối với hầu hết mọi người. Lịch sử của các nền đạo đức là một câu chuyện buồn của những lý tưởng cao đẹp mà không ai có thể thực hiện được. Hầu hết các tín hữu Kitô đều không thể bắt chước Đức Kitô, hầu hết các phật tử đều thất bại trong việc đi theo Đức Phật và hầu hết các môn đệ của Đức Khổng Tử đều có thể khiến cho Ngài phải nổi giận!
Trái lại, ngày nay hầu như mọi người đều có thể sống theo lý tưởng tư bản-tiêu thụ. Nền đạo đức mới này cũng hứa hẹn thiên đàng nhưng với điều kiện  người giàu phải tiếp tục tham lam và bỏ tiền ra để làm ra nhiều tiền hơn và đám đông quần chúng thì phải thả lỏng cho sự thèm khát và các đam mê của họ và ngày càng mua sắm nhiều hơn. Đây là thứ tôn giáo đầu tiên trong lịch sử trong đó các tín đồ sẵn sàng làm bất cứ điều gì họ được yêu cầu phải làm. Vậy thì làm thế nào để chúng ta biết rằng chúng ta sẽ được lên thiên đàng? Chúng ta đã thấy nó trên màn ảnh truyền hình rồi!

(Yuval Noah Harari, Sapiens, A Brief History of Humankind, Penguin Random House, UK 2011, trg 388-391)


Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2019

Khuôn vàng



Chu Thập
19/5/19

Mới đây, báo The New York Times đã cho phổ biến tình trạng tài chính của Tổng thống Donald Trump từ năm 1985 đến năm 1994. Theo tài liệu, trong gần một thập niên này, tỷ phú địa ốc Trump đã thua lỗ hơn một tỷ Mỹ kim. Nhưng chỉ vài năm sau đó, với ngòi bút của “văn sĩ chuyên viết mướn” (ghostwriter) Tony Schwartz, ông đã cho xuất bản cuốn sách bán chạy như tôm tươi “The Art of the Deal” (Nghệ thuật Mặc cả). Trong cuốn sách nổi tiếng này, nhà địa ốc được bầu làm tổng thống khẳng định rằng, đúng như cái tên “Trump” tiền định của ông, hễ ông tung “lá bài chủ” ra tố, nghĩa là mặc cả và ngã giá thì lúc nào ông cũng thắng. Tự nhận mình là “chuyên gia đánh thuế” (tariff man), ông “tả xung hữu đột” với mọi thứ hàng hóa nhập cảng vào Mỹ, từ Gia Nã Đại, qua Mễ Tây Cơ đến Liên Âu và gần đây nhứt là Trung Cộng. Cuộc chiến thương mại mà ông cho là “tốt và dễ thắng” (trade wars are good and easy to win) hiện chưa kết thúc, nhưng trước mắt Trung Cộng đang liểng xiểng. Ai mà chẳng mừng khi thấy quốc gia cộng sản khổng lồ này bối rối và biết đâu nay mai chẳng sụp đổ kéo theo sự giải thể của đàn em cộng sản  Việt Nam.
Tổng thống Trump quả thực là người hễ đụng tới đâu là đẻ ra tiền tới đó. Mới đây, theo đài CNN, dựa theo báo cáo tài chính của ông được Tòa Bạch Ốc cho công bố, chỉ trong năm 2018, các cơ sở kinh doanh của ông, hiện do 2 người con trai của ông điều hành, đã kiếm sơ sơ cũng được 434 triệu Mỹ kim.
Tổng thống Trump lúc nào cũng tự hào về sự giàu có của mình. Lúc ra tranh cử tổng thống, ông tuyên bố tài sản của mình trị giá 10 tỷ Mỹ kim, mặc dù tạp chí Forbes, tờ báo chuyên điều tra về tài sản và xếp hạng các tỷ phú, lại chỉ đếm được khoảng 3 tỷ mà thôi. Hãnh diện về tài kinh doanh của mình, trong một tuýt bắn ra hồi năm 2014, ông viết như sau: “Tôi chưa bao giờ thấy một điều như thế: bất cứ điều gì nó đụng tới đều biến thành vàng”. Hay quá! Đây là một câu nói của Fred C. Trump về con trai Donald của ông (tức là tôi) (I’ve never seen anything like it, everything he touches turns to gold!” So nice, a quote by Fred C. Trump about his son Donald (me!)
Hư thực như thế nào tôi không biết, nhưng cái tuýt trên đây không thể không gợi lại cho tôi chuyện thần thoại về vua Midas, người hễ đụng tới đâu cũng biến thành vàng tới đó. Theo thần thoại, Midas là vua của vương quốc Phrygia, Tiểu Á. Ông có tất cả mọi sự mà bất cứ bậc vua chúa nào cũng đều mơ ước. Ông sống trong nhung lụa trong một tòa lâu đài vĩ đại. Chỉ khác với các vua chúa khác một điều: vua Midas sống một mình với cô công chúa. Mặc dù giàu có chẳng ai bằng, nhưng ông nghĩ rằng chỉ có vàng mới thực sự mang lại hạnh phúc cho ông. Suốt ngày ông chỉ biết ngồi đếm những đồng tiền vàng! Thỉnh thoảng ông còn dùng vàng để đắp lên người. Vàng lúc nào cũng là nỗi ám ảnh duy nhứt của vua Midas.
Ngày nọ, vị thần của rượu và yến tiệc là Dionysus đi rảo qua vương quốc của vua Midas. Silenus,người đồng hành của thần Dinonysus cảm thấy mệt mỏi cho nên đã dừng lại nghỉ chân trong ngôi vườn hồng cạnh cung điện của vua Midas. Tình cờ đi ngự uyển, vua Midas bắt gặp có người lạ mặt trong vườn hồng của mình. Ông liền mời Silenus vào cung điện, tiếp đãi tử tế và vài ngày sau đó, ông được hướng dẫn đến gặp thần Dionysus. Cảm kích trước lòng hiếu khách của vua Midas, thần Dionysus hứa sẽ cho ông bất cứ điều gì ông muốn. Không cần phải vò đầu bứt tóc, vua Midas liền xin: “Tôi muốn rằng bất cứ điều gì tôi đụng tới đều biến thành vàng”. Thần Dionysus hỏi ông đã suy nghĩ cẩn thận chưa, vua Midas vẫn tỏ ra cương quyết trong ước muốn của mình.
Ngày hôm sau, vừa thức giấc, vua Midas nhận thấy ước nguyện của mình đã thành sự thật: cái bàn nhỏ trong phòng ngủ vừa được ông chạm tới đã biến thành vàng! Ông chạy khắp nơi trong cung điện để xem điều ước muốn của mình có thật sự ứng nghiệm cho tất cả mọi thứ khác không. Tất cả mọi sự hễ được ông đụng tói đều biến thành vàng!.
Nhưng vua Midas không bao giờ nghĩ rằng ước nguyện cũng là một lời nguyền. Thật vậy, trong bữa ăn sáng, hễ ông đưa tay chạm đến bất cứ thức ăn nào, nó cũng đều biến thành vàng. Hoa hồng là loại hoa ông yêu thích nhứt. Nhưng khi ông vừa cầm một cánh hồng đưa lên mũi để ngửi mùi thơm của nó, cánh hoa cũng biến thành vàng. Vua Midas bắt đầu cảm thấy lo sợ. Vừa thấy cô con gái rượu đến gần, ông ôm chầm lấy cô, cô gái tức khắc biến thành một khối vàng.
Thần Dionysus nghe biết chuyện. Ông liền nói với vua Midas hãy đi ra sông Pactobus để rửa tay. Nhà vua làm theo và nhận thấy vàng tuôn chảy ra khỏi bàn tay của mình. Ông trở về cung điện và sờ vào bất cứ những gì đã bị hóa vàng. Mọi thứ đều trở lại bình thường. Niềm vui lớn nhứt của ông là ôm hôn cô con gái và thấy cô cũng trở lại trạng thái bình thường. Kể từ đó, vua Midas quyết định chia sẻ tài sản của mình cho dân chúng. Khi ông băng hà, dân chúng nhắc tới ông không chỉ như một “ông vua đụng tới đâu biến thành vàng tới đó”, mà  như một  người tử tế, quảng đại và luôn biết ơn về mọi thứ mình có.
Tôi không biết tổng thống Trump có biết câu chuyện thần thoại về vua Midas không. Nếu như bất cứ điều gì tôi đụng tới đều biến thành vàng cả thì còn gì khốn khổ bằng! Giấc mơ vàng có khác gì một cơn bệnh đâu.
Năm 1519, nhà thám hiểm Hernan Cortès và đoàn quân chinh phục của ông đặt chân lên đất Mễ Tây Cơ. Lúc bấy giờ, Mễ Tây Cơ vẫn còn là một hòn đảo biệt lập đối với thế giới bên ngoài. Người thổ dân Aztec nhanh chóng nhận thấy một điều là: những người khách lạ có một niềm ham mê kỳ lạ đối với một thứ kim loại màu vàng. Dĩ nhiên, người Arztec cũng đã từng biết sử dụng thứ kim loại này để làm đồ trang sức. Nhưng để mua bán hay đổi chác, họ lại dùng hột cocoa hay vải vóc mà thôi. Họ không thể hiểu nổi tại sao người Tây Ban Nha lại thích vàng đến thế. Khi người thổ dân Arztec hỏi ông Cortès tại sao người Tây Ban Nha thích vàng như thế, nhà thám hiểm này liền trả lời: “Bởi vì tôi và những người đồng hành của tôi mắc phải một chứng bệnh trong trái tim mà chỉ có vàng mới chữa được” (Yuval Noah Harari, Sapiens, a brief history of Humankind, Penguin Random House, London, 2011, trg 193).
Bài học tôi rút ra được từ câu chuyện của vua Midas là: người ta chỉ có thể chữa được những chứng bệnh trong trái tim bằng cách chia sẻ tài sản và của cải cho người khác mà thôi!
Cố thủ tướng Úc Bob Hawke vừa mới qua đời. Ông được tưởng nhớ như một người Úc vĩ đại nhứt. Về cuộc đời của ông, tôi đặc biệt nhớ đến một chi tiết: ông đã sinh ra và được giáo dục trong một gia đình Tin Lành. Cha ông là một mục sư. Thủ tướng Hawke kể lại rằng lúc nhỏ  ông thường được người cha nhắc nhở: “Con ơi, nếu con tin Chúa là Cha thì cũng hãy xem mọi người là anh em”. Lớn lên, ông nổi loạn, từ bỏ niềm tin tôn giáo, nhưng lúc nào cũng nhớ lời cha dặn “hãy xem mọi người là anh em”. Thay cho bài quốc ca “God save the Queen”, ông đã trao cho Úc Đại Lời một bản quốc ca mới có những lời như: “For those who’ve come across the seas, we have boundless plains to share, with courage let us combine to advance Australia Fair” (Với những người đến đây từ bốn biển, chúng ta có những bình nguyên bao la để chia sẻ, với lòng quả cảm tất cả chúng ta hãy kết hợp để tiến tới ngày Hội của Úc Đại Lợi). Những lời lẽ như thế chắc chắn phản ảnh tâm nguyện của thủ tướng Hawke là “xem mọi người là anh em”.
Cũng bằng thừa để nói rằng vàng bạc chẳng mang lại hạnh phúc đích thực cho con người. Trái lại nếu tôi  sống theo khuôn vàng “xem mọi người là anh em” để biết quảng đại, chia sẻ và cảm thông...chắc chắn tôi sẽ hạnh phúc hơn là “đụng đâu cũng biến thành vàng tới đó”.






Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2019

Vi nhân nan!


Chu Thập
12/05/19
Một ông bạn ở Marrickville, Sydney, mỗi lần thư đi tin lại với tôi đều ghi thêm một địa chỉ nghe rất nặng mùi kiếm hiệp là “Ma Cốc”. Bắt chước ông, tôi cũng gọi nơi tôi đang sống là “Cùng Cốc”. Chưa hẳn là “thâm sơn”, nhưng phía sau nhà tôi là cả một dãy núi thuộc lâm viên quốc gia. Không làm vua một cõi thì ít ra cũng hơn cả “quận công”, muốn làm gì thì làm mà chẳng sợ bị ai dòm ngó. Một cuộc sống như thế dĩ nhiên mang lại cho tôi nhiều cái thú, những cũng kéo theo nhiều thua thiệt. Phần lớn những người hàng xóm của tôi là dân Úc rặc. Gặp nhau cũng “Hello”, nhưng không dễ gì có được một quan hệ thân tình với họ. Có lúc tôi thèm gặp bạn bè ở miền Tây Sydney để bù khú và chén chú chén anh.
Nhiều người bảo: sống như thế thì thà chơi với chó còn hơn! Mà đúng vậy. Hiện tôi sống và  “chơi” với cậu chó trong nhà nhiều hơn với ai hết. Sáng sớm thức dậy đã thấy cậu đứng chờ ở cửa sau. Suốt ngày, ngoài những lúc lim dim ngủ ngày, cậu luôn có mặt bên cạnh tôi. Chiều đến, làm gì thì làm, cũng phải bỏ ra một giờ đề đưa cậu đi chơi ngoài công viên. Thân thiết với tôi như vậy cho nên cậu “dạy” cho tôi rất nhiều điều. Đúng hơn tôi học nơi cậu chó nhiều điều hơn tôi dạy cậu. Một trong những điều đó là: chó chẳng cần phải học làm chó mà vẫn sống được như chó! Dĩ nhiên, ở với người cho nên chó cũng được dạy dỗ, huấn luyện để làm theo một số mệnh lệnh của người như canh nhà, đuổi gà. Nhưng có rất nhiều điều, chẳng cần học mà cậu chó nhà tôi vẫn làm được.
Quan sát các sinh hoạt của cậu chó nhà tôi, tôi nghiệm ra một sự thật rất hiển nhiên là: thú vật chẳng cần phải học để làm thú vật! Tôi thấy rõ điều này nơi giống gà lôi rừng (bush turkey). Giống gà này sinh hoạt hoàn toàn khác với bất cứ loài có cánh nào. Cứ đến mùa sinh sản, chú gà trống bỏ ăn bỏ ngủ để dùng lá cây đắp một cái ụ cao có khi to bằng một chiếc xe hơi nhỏ. Sau đó chú moi vài cái lỗ sâu. Mấy chị gà mái nào muốn chọn chú làm cha của bày con của mình đều đến đẻ trứng vào đó. Sau đó, nhiệm vụ canh giữ “lâu đài tình ái” thuộc về chú gà trống. Chú canh phòng cái ổ trứng rất cẩn mật. Thỉnh thoảng chú thăm dò và điều chỉnh nhiệt độ trong ổ. Đủ ngày đầy tháng, mấy chú gà con mới nở phải tự mình tìm đường để ngoi ra khỏi cái ổ khổng lồ đó và ngay lập tức, chẳng cần cha mẹ dẫn dắt, chúng vẫn có thể bương chải đi kiếm ăn một mình. Con nào vượt qua được cái hành trình đầu đời đó thì “sống mạnh sống hùng”, không thể nào bị chó vật hay xe cán. Đây là hình ảnh rõ ràng nhứt cho tôi thấy thú vật chẳng cần học hành mà vẫn làm thú một cách đầy đủ. Có lúc bực tức khi thấy vườn tược của mình bị đám gà lôi rừng này phá nát, tôi chửi đổng: cái đám gà “mất dạy”! Chợt thấy mình vô lý quá: gà hay thú vật nói chung đâu có cần học hành hay được dạy dỗ đâu mà “mất dạy”!
Tôi ý thức về chân lý này hơn qua một giai thoại về Đức Khổng Tử. Một hôm, trên đường sang nước Tần, ngài và một số môn sinh gặp một số thiếu nhi đang chơi đùa giữa đường. Ngồi trên xe quan sát đám trẻ, ngài thấy một cậu bé không nô đùa với chúng bạn mà lại cặm cụi lấy cát đắp một cái thành nhỏ.
Đức Khổng Tử mới tiến lại gần và hỏi cậu bé: “Này cậu bé, cớ sao cậu không chơi đùa với mấy đứa trẻ kia?”  Cậu bé đáp: “Đùa giỡn thì vô ích, vì có thể bị rách áo quần, nhọc công mẹ vá, lại buồn lòng cha, nên tôi không đùa giỡn”. Nói xong, cậu lại tiếp tục đắp thành. Đức Khổng Tử lại hỏi: “Cậu không tránh đường cho xe của ta đi sao?” Cậu bé thản nhiên đáp: “Từ xưa đến giờ, xe phải tránh thành, chứ có bao giờ thành phải tránh xe đâu?” Nghe câu trả lời thật bất ngờ, Đức Khổng Tử liền xuống xe, tiến lại gần cậu bé và hỏi nhiều điều. Câu hỏi nào cũng được cậu bé trả lời vanh vách.
Đức Khổng Tử mới thắc mắc: “Năm nay cháu được bao nhiêu tuổi?” Cậu bé lịch sự đáp: “Thưa phu tử, cháu lên 6 ạ!”  Ngài ngạc nhiên: “Cháu mới 6 tuổi mà sao biết nhiều điều thế?” Câu bé liền giải thích: “Thưa phu tử, cháu nghe nói con cá nở ra 3 ngày đã bơi tung tăng từ hồ nọ đến hồ kia. Con thỏ 6 ngày đã chạy khắp đồng cỏ. Cháu sinh ra 6 năm mới được như thế!”
Không rõ có phải do được gợi hứng từ cuộc gặp gỡ trên đây không mà sau này Đức Khổng Tử đã nói một câu để đời: “Vi nhân nan” (làm người thì khó).  Và không biết có phải do thấm nhuần lời dạy của Đức Khổng Tử không, người Việt Nam kéo dài câu nói trên đây thành: làm người thì khó, làm chó thì dễ!  Câu ca dao rõ ràng có hàm ý khinh miệt  đối với loài chó. Câu chửi “đồ chó” là một lời mắng nhiếc thậm tệ. Mà đâu có riêng gì người Việt Nam, người Tây Phương, dù nuôi chó như thú cưng, cũng đâu có xem chó ra gì. Chê mắng ai thì bảo người đó là “con của chó cái!” Nghĩ cho cùng, chó đâu có đáng bị khinh bỉ như thế đâu. Bởi lẽ chó không làm điều xấu, chó không biết phân biệt phải trái và thiện ác. Nói cho cùng, chó đâu có ý thức về đạo đức.
Theo một định nghĩa cổ điển nhứt, người là “một con vật có lý trí”. Chính lý trí là làn ranh phân biệt rõ ràng giữa thú và người; người khác thú vì có lý trí. Chính lý trí mách bảo cho con người phải biết phân biệt điều ngay lẽ trái, điều thiện và điều ác. Chính lý trí luôn thúc đẩy con người phải sống theo những giá trị đạo đức. Chính lý trí luôn nhắc nhở con người phải sống cho ra người. Và sống cho ra người, từ cổ chí kim, lúc nào cũng được ghi khắc trong trái tim con người thành một quy luật mà người được tôn làm “Vạn Thế Sư Biểu” (Bậc Thày của Muôn Đời) đã tóm tắt bằng câu: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác). Cũng quy luật muôn đời ấy lại được Chúa Giêsu đề ra dưới một hình thức tích cực hơn: “Điều gì ngươi muốn người khác làm cho ngươi, hãy làm cho họ” (Mt 7,12).
Vi nhân, làm người, sống cho ra người chính là sống theo quy luật muôn đời ấy. Bất cứ ai biết hồi tâm, tỉnh táo một chút để nhìn lại cuộc hành trình làm người của mình, cũng đều phải thú nhận rằng làm người khó vô cùng. Bậc thánh hiền như Đức Khổng Tử mà còn phải đấm ngực thú nhận điều đó huống hồ là tôi.
Gừng càng già thì càng cay. Còn tôi, càng già càng thấy mình yếu nhược, bất lực và ngu dốt, nhứt là trong chuyện học làm người và sống cho ra người. Chỉ biết mượn tâm sự của nhà văn Nguyễn Đức Lập (1945-2016) để tự an ủi. Trong một bài tự truyện viết có lẽ cũng vào cái tuổi quá “thất thập cổ lai hi” như tôi, ông thú nhận: “Đức Phật là người đi mà không đến. Cái học của tôi cũng vậy, học thầy, học bạn, học sách, học báo, học đường, học chợ, học chỉ để mà học. “Dủ học dủ ngu”.
Ngày xưa thầy Tử Lộ hỏi Đức Không Tử khi nào thì chấm dứt sự học. Vị Vạn Thế Sư Biểu đã trả lời: “Khi huyệt đã đào nhẵn nhụi rồi, đất đã đắp chắc chắn rồi, người đi đưa đã quay chưn lui gót rồi, lúc đó mới hết học”. Và cái học khó nhứt vẫn là học làm sao sống cho ra con người”.







Thứ Năm, 2 tháng 5, 2019

Tiếng chuông Nhà Thờ Đức Bà Ba Lê



Chu Thập
2/5/19
Có một thời, không biết có phải do Hội chứng Stockholm không, tôi “yêu” cuồng nhiệt  Pháp quốc, cái đế quốc thực dân đã từng giẫm gót giày lên đất nước tôi và đày đọa dân tộc tôi đến cả trăm năm. Có lẽ do niềm tin tôn giáo và văn hóa mà tôi đã hấp thụ được từ các nhà truyền giáo người Pháp, tôi thấy cái gì của Pháp cũng nhứt cả: từ bánh mì, phó mát (fromage), rượu vang, bơ sữa, xe hơi, nhà lầu...đến thời trang, điện ảnh, văn chương, nghệ thuật, tư tưởng và ngôn ngữ...cái gì của Pháp cũng đều số một hết!
Tôi say mê nước Pháp đến độ chỉ đeo đuổi một ước mơ: đến Ba Lê rồi chết cũng được!  Trong thời gian chờ đợi trong trại tỵ nạn, mặc cho ai có bảo rằng đảng cầm quyền tại Pháp hồi đầu thập niên 1980 là đảng “xã hội”, tức có bà con giây mơ rễ má với cộng hòa “xã hội chủ nghĩa” Việt Nam mà mình đã trốn chạy khỏi, tôi vẫn quyết chí đeo đuổi giấc mơ của mình là được trở thành công dân của “mẫu quốc”.
Tôi đến Pháp vào cuối tháng Mười năm 1982. Tuy vẫn còn sống trong một trại tạm trú ở ngoại ô Ba Lê, tôi thấy mình cũng đâu có thua gì ông Phán thời Pháp thuộc: “tối (cũng) sâm banh, sáng (cũng) sữa bò” như ai!  Sau vài ngày ăn uống ngủ nghê để lấy lại sức, tôi mới mon men tìm đường lên “Kinh thành Ánh sáng”. Đường trên lỗ miệng. Vả lại, hệ thống hỏa xa và xe điện ngầm ( Metro) ở Ba Lê thật thuận tiện. Chỉ cần trình độ “thoát nạn mù chữ” như tôi cũng đủ để khỏi bị lạc đường.
Bước ra khỏi xe điện ngầm, tôi bước đi những bước thật chậm rãi dọc theo bờ sông Seine, như người đang mơ một giấc mơ đẹp mà không muốn bị ai đánh thức. Nhưng điểm đến của chuyến thăm thú “Kinh thành Ánh sáng” của tôi dĩ nhiên là Nhà Thờ Đức Bà (Notre Dame de Paris). Là một người công giáo, tôi xem đây là một địa điểm hành hương. Với niềm tin tôn giáo được tiếp nhận và nhào nặn từ các nhà truyền giáo Pháp, muốn hay không tôi thấy mình đã bị ràng buộc vào cả một truyền thống “đạo” lâu đời của người Pháp. Với tôi, vào Nhà Thờ Đức Bà là đi lại cuộc hành trình tôn giáo của cả dân tộc Pháp từ gần hai ngàn năm qua!
Nhưng ở cái nước được xem là “Trưởng Nữ của Giáo Hội” này, mặc dù kể từ năm 1905 đã có sự phân biệt rạch ròi giữa Nhà Thờ và Nhà Nước, niềm tin tôn giáo và văn hóa vẫn tiếp tục quyện chặt lấy  nhau. Nhà Thờ Đức Bà là biểu trưng của sự phân biệt ấy. Di tích lịch sử đã có từ hơn 800 năm này không chỉ là một nơi thờ phượng hay địa điểm hành hương, mà cũng là một điểm du lịch thu hút mỗi năm trên cả chục triệu du khách. Không cần phải có niềm tin tôn giáo để bước vào nơi tôn nghiêm này. Tôi đã hòa mình vào dòng người qua lại trong đó không chỉ như một người hành hương, mà còn như khách thưởng lãm một công trình nghệ thuật.
Với tôi là một “con dân” thuộc địa của Pháp, có lẽ văn hào Victor Hugo (1802-1885) là người đã có công lớn nhứt để quảng bá cho công trình nghệ thuật này. Thật vậy, tôi biết đến Nhà Thờ Đức Bà qua các tác phẩm của đại văn hào này và dĩ nhiên tác phẩm nổi tiếng nhứt của ông về ngôi thánh đường này chính là “Nhà Thờ Đức Bà Ba Lê” (Notre Dame de Paris).
Bước vào ngôi thánh đường cổ kính này là đi lại từng bước của chính văn hào Victor Hugo. Phải nhiều lần chiêm ngắm lối kiến trúc cổ của ngôi thánh đường này ông mới tìm được nguồn cảm hứng để viết một cuốn tiểu thuyết có tính chất lịch sử với bối cảnh là kinh thành Ba Lê thời Trung Cổ.
Văn hào Victor Hugo đã đưa tôi đi một vòng trong nhà thờ  để rồi cuối cùng dừng lại ở một địa điểm được ông đưa vào vị trí trang trọng và quan trọng nhứt của nơi linh thiêng là gác chuông nhà thờ. Tôi đứng nhìn lên gác chuông thật lâu để sống lại những ngày khốn khổ của nhân vật chính của quyển tiểu thuyết của văn hào Victor Hugo là Quasimodo, được tài tử Mỹ Anthony Quinn hồi sinh trong cuốn phim nổi tiếng  có tựa đề “The Hunchbach of Notre Dame” được đạo diễn Pháp Jean Delannoy thực hiện và cho trình chiếu năm 1956. Lưng đã còng, gương mặt lại dị dạng, Quasimodo được người Việt Nam gọi một cách khinh bỉ là “Thằng gù Nhà thờ Đức Bà”. Kỳ thực, đàng sau những dị tật bẩm sinh bị xã hội khinh bỉ và ruồng rẫy ấy, người kéo chuông của Nhà thờ Đức Bà là một con người có  tâm hồn cao thượng luôn biết xả thân hy sinh vì người khác. Lẽ ra phải gọi ông là một người hùng hơn là một “thằng gù”!
Tôi chiêm ngắm vẻ đẹp thẩm mỹ của ngôi thánh đường Gothic là Nhà Thờ Đức Bà, nhưng văn hào Victor Hugo dường như muốn lôi kéo tôi đến một vẻ đẹp khác đáng được tìm kiếm và trân trọng hơn: đó là vẻ đẹp của tâm hồn con người. Đó là vẻ đẹp mà dao kéo thẩm mỹ và mỹ phẩm không thể tạo ra được. Đó là vẻ đẹp ẩn hiện đàng sau những bất toàn và ngay cả những dị tật thể hình mà con người cho là xấu xa gớm ghiếc nhứt. Đó là vẻ đẹp mà văn hào Victor Hugo luôn tìm kiếm và đề cao khi ông nói: “Có một quang cảnh vĩ đại hơn đại dương, đó là bầu trời. Có một quang cảnh vĩ đại hơn bầu trời, đó là nội tâm con người”.
Từ ngàn xưa, dường như người Nhật đã muốn nhấn mạnh đến vẻ đẹp ấy qua điều thường được gọi là “Triết lý Wabi Sabi”. “ Wabi Sabi là một triết lý thẩm mỹ cổ xưa bắt nguồn từ Thiền Tông, đặc biệt là trà đạo, một nghi lễ thuần khiết và đơn giản trong đó các bậc thày đánh giá cao cái chén được làm thủ công và hình dạng bất thường, với men không đồng đều, vết nứt và vẻ đẹp hư hỏng trong sự không hoàn hảo có chủ ý của người tạo ra cái chén” ( x. Mai Thanh Truyết, Wabi Sabi - Triết lý của sự bất toàn https://www.tvvn.org/wabi-sabi-triet-ly-cua-su-bat-toan-mai-thanh-truyet/)
Đứng nhìn lên gác chuông Nhà Thờ Đức Bà, nghe văng vẳng tiếng chuông được kéo lên từ bàn tay của người gù Quasimodo, tôi cũng nghe vọng lại tiếng hát của ca sĩ Leonard Cohen (1934-2016) “Hãy rung lên những tiếng chuông khi chúng  còn có thể rung. Hãy quên đi của lễ dâng hoàn hảo của bạn. Trong mọi thứ đều có vết rạn nứt. Đó là cách thế mà ánh sáng len lỏi vào” (Ring the bells thay still can ring. Forget your perfect offering. There’s a crack in everything. That’s how the light gets in).
Nhà Thờ Đức Bà đã trải qua một trận hỏa hoạn chưa từng thấy. Nhưng dường như xuyên qua ngọn lửa cao ngút ấy, người gù Quasimodo vẫn tiếp tục kéo chuông để đưa ra một sứ điệp: vẫn có ánh sáng ở cuối đường hầm! Ông nhắc nhở tôi phải luôn tỉnh táo và lạc quan để tìm thấy vẻ đẹp thâm sâu trong nội tâm của mỗi người, nhứt là những người khốn khổ thường bị xã hội đẩy ra bên lề. Có lẽ ông cũng muốn lập lại một câu đáng ghi nhớ nhứt trong cuốn phim “Tiếng âm nhạc” (The sound of music): “Khi Chúa đóng một cánh cửa chính, thì ở một nơi nào đó Ngài mở ra một cánh cửa sổ” (When the Lord closes a door, somewhere He opens a window).