Chủ Nhật, 16 tháng 12, 2018

Khí hậu Thay đổi: chuẩn bị đối phó với Đại nạn Hồng thủy!




14/12/18
Cách đây vài tuần, Ioane Teitiota, một cư dân của đảo quốc Kiribati, một quốc gia nhỏ bé trong Thái Bình Dương, đã cùng với 6 người đàn ông khác leo lên một chiếc thuyền đánh cá để đi thăm bà con của họ tại 3 ngôi làng có tên là “London”, “Paris” và “Ba Lan”. Phải mất 8 ngày nhóm ngư phủ này mới đến nơi. Nhưng khi đến nơi, họ mới biết 3 ngôi làng này đã hoàn toàn trống vắng.
Nằm trong rặng san hô ở phía đông Kiribati, 3 ngôi làng được nhà thám hiểm James Cook đặt tên theo 2 thành phố và một quốc gia nổi tiếng ở Âu Châu hiện đã ngập nước đến một nửa. Mặc dù đã cố gắng trồng cây đước cũng như dùng đá và xi măng để dựng lên một bức tường ngăn nước, nhưng cả 3 ngôi làng trên đây vẫn không tránh khỏi tình trạng ngập lụt ngày càng thêm trầm trọng. Dân làng đành bỏ mặc nhà cửa, đất đai và ruộng vườn của họ cho đại dương.
Kiribati là một đảo quốc nhỏ với dân số chỉ có vỏn vẹn 110.000 người sống rải rác trên các rặng san hô và một hòn đảo chính. Nhìn trên bản đồ, Kiribati chỉ là những chấm nhỏ li ti trong một đại dương rộng lớn bằng diện tích của cả nước Ấn Độ. Đây là một đất nước không có núi: độ cao trung bình cách mặt nước biển không quá 2 thước!
Cách chiếc thuyền đánh cá của ông Teitiota 14.000 cây số, ở bên kia thế giới là London, Paris và Ba Lan. Hai thành phố lớn và quốc gia Âu Châu này đều tọa lạc ở một độ cao cách mặt nước biển tương đối an toàn. Đây là một thế giới hoàn toàn khác biệt. Tuy nhiên, dù ở Kiribati, London, Paris hay Ba Lan...ở đâu con người cũng được nối kết với nhau bằng biển. Biển là một và nước biển ở đâu cũng giống nhau. Giống nhau hơn nữa là bởi vì khắp nơi trên mặt địa cầu, hiện mức nước biển đang dâng lên. Không ai biết được mức nước biển sẽ dâng lên bao nhiêu. Nhưng có một điều chắc chắn là: dù ở đâu, ai cũng biết rằng mực nước biển đang dâng lên và sẽ từ từ dâng lên cao hơn!
Hôm thứ Hai mùng Ba tháng Mười Hai vừa qua, đại diện của hầu hết các nước trên thế giới đã tụ họp về Katowice, Ba Lan, để tham dự Hội nghị Thượng đỉnh về Khí hậu Thay đổi do Liên Hiệp Quốc tổ chức. Mục đích của Hội nghị là để duyệt xét việc thi hành Thỏa Hiệp Paris mà các nước đã ký kết cách đây 3 năm. Điều đáng chú ý là Hội nghị đã diễn ra sau một mùa hè bị nhận chìm trong hỏa hoạn và bão lụt chưa từng thấy.
Cách đây 3 năm, tại Paris, cộng đồng thế giới đã thỏa thuận sẽ làm cho nhiệt độ trái đất giảm bớt 2 độ C như đã từng có trước cuộc cách mạng kỹ nghệ. Quả thật, hiện tượng trái đất ngày càng hâm nóng khiến cho các tảng băng tan rã và làm cho mực nước biển dâng lên là một thực tế không thể chối cãi được.
Dĩ nhiên có lẽ phải mất cả ngàn năm các tảng băng trên mặt đất mới hoàn toàn tan rã hoặc cũng có thể chúng sẽ không bao giờ biến mất khỏi mặt đất. Nhưng không thể phủ nhận sự kiện trái đất ngày càng hâm nóng và các tảng băng ngày càng tan rã.
Hiện tượng này diễn ra theo đúng các định luật vật lý: nước giãn nở khi nó bị hâm nóng. Kể từ cuộc cách mạng kỹ nghệ, trái đất đã nóng thêm khoảng một độ C. Trong những thập niên vừa qua, mức độ hâm nóng ngày càng gia tăng. Theo các tính toán của Cơ quan Không gian NASA của Hoa Kỳ, nếu cộng đồng thế giới có biện pháp tức khắc để giảm bớt khí thải nhà kính, trái đất sẽ hâm nóng thêm 1.5 độ C vào giữa thế kỷ 21 này. Nếu  nhiệt độ trái đất tăng thêm 3 độ C nữa thì mực nước biển có thể sẽ dâng lên đến 5 thước. Lúc đó, không riêng gì đảo quốc Kiribati nhỏ bé, mà tất cả mọi thành phố nằm dọc theo duyên hải các nước sẽ rơi vào nguy cơ bị ngập lụt. Nói cho cùng, trái đất là một, biển là một và tất cả mọi người đều đồng hội đồng thuyền theo đúng nghĩa!
Đảo quốc Kiribati đã từng là một thiên đàng. Nhưng ông Teitota vừa hì hục khiêng đá và cát để đấp tường xung quanh nhà, vừa trách biển như thể biển đang nổi giận. Ông nói: “Biển bắt chúng tôi phải nhịn ăn, nhịn khát và cuối cùng thì phải chết đuối”.
Ông cho biết vườn tược của ông đã bị nhiễm mặn. Nguồn nước uống cũng bị ô nhiễm và dĩ nhiên bao nhiêu bệnh tật vì truyền nhiễm cũng ùa tới. Ông chỉ tay về cái giếng phía sau nhà. Từ nhiều năm nay, giếng chỉ còn toàn là nước mặn. Rừng dừa được trồng dọc theo bờ biển, trước kia là nguồn lợi chính của gia đình, nay chỉ còn lại những tàu lá xơ xác và khô đét. Có lẽ cũng như nhiều người dân Karibati, ông Teitota không biết tại sao mực nước biển ngày càng lên cao và đe dọa nhà cửa, ruộng vườn và mạng sống của ông.
Nhưng các nhà khoa học thì biêt rõ nguyên nhân. Viện Nghiên cứu về Ảnh hưởng của Khí hậu ở Potsdam của Đức quốc (The Potsdam Institute for Climate Impact Research viết tắt PIK) là một trong những trung tâm nghiên cứu về Khí hậu Thay đổi hàng đầu của thế giới. Kể từ năm 1992, các nhà nghiên cứu tại Viện Potsdam đã từng cảnh cáo về những hậu quả của hiện tượng trái đất hâm nóng. Họ đã cảnh cáo Chính phủ Đức và gởi đến Ủy Ban Âu Châu và nhiều chính phủ khác những kết quả nghiên cứu của họ.
Tiếng nói của các nhà nghiên cứu của Viện Potsdam và nhiều nhà nghiên cứu khác trên khắp thế giới nay đã được lắng nghe. Hiện nay mỗi buổi sáng có khoảng 200 nhà nghiên cứu về khí hậu của Đức, hầu hết đều sử dụng xe đạp như phương tiện di chuyển, đến các trung tâm nghiên cứu của họ để làm việc hầu không những đưa ra những lời cảnh báo, mà còn gợi lên các giải pháp.
Những nước giàu có như Đức hay Hòa Lan có lẽ không gặp nhiều khó khăn trong việc đối phó với mực nước biển đang lên cao. Nhưng đối với những nước nghèo thì đây là cả một đại nạn. Bangladesh là một trong những nước nghèo ấy. Đây là đất nước mà diện tích không bằng một nửa của Đức, nhưng dân số lại đông gấp hai lần. Hai phần ba lãnh thổ của Bangladesh lại chỉ nằm cách mặt nước biển vài thước và phần lớn dân số lại sống dọc theo các vùng duyên hải.
Tại Thủ đô Dhaka, nhiều vùng không những không có hệ thống thoát nước mà các ống cống cũng nghẹt vì rác rưởi và các bao nhựa. Thành phố ngày càng bị lún sâu.
Mỗi năm, khi mùa mưa trở lại, một phần tư Bangladesh chìm ngập trong nước. Nếu ở một nơi nào đó có vỡ đê thì các làng mạc bị nhận chìm trong nước có khi vài năm. Đội sách vở trên đầu, lội nước sâu đến ngực để đến trường  là chuyện bình thường đối với học sinh Bangladesh.
Lũ lụt có thể mang cá về cho dân đánh cá. Lũ lụt cũng kéo phù sa về làm cho đất đai thêm mầu mỡ. Tuy nhiên bên cạnh đó lũ lụt lại làm sập cầu cống và nhà cửa cũng như nhận chìm trong nước bao nhiêu con người và thú vật. Chu kỳ và cường độ của lũ lụt tại Bangladesh lại ngày càng gia tăng. Hồi năm ngoái, đã có khoảng 150 người bị thiệt mạng vì mưa bão, hàng triệu người phải chịu bao nhiêu hệ quả của lũ lụt.
Khi mặt nước biển dâng cao, nhiều vùng có thể bị nhận chìm trong nước trong hàng 30 năm. Nông nghiệp thất thu, thực phẩm ngày càng khan hiếm khiến hàng triệu triệu người phải rời bỏ quê hương của họ.
Tại Thủ đô Dhaka hiện có Trung tâm Quốc tế về Khí hậu Thay đổi và Phát triển. Cơ quan này đã bắt đầu cố vấn cho các nông dân Bangladesh nuôi vịt thay vì nuôi gà, nuôi cá thay vì trồng lúa và trữ nước mưa bởi vì nguồn nước ngọt ngày càng trở nên quý hiếm. Cách đây vài năm, các nhà nghiên cứu cũng đã bắt đầu phát triển một loại lúa có thể sống trong nước mặn.
Trong vài năm vừa qua, Bangladesh đã xây cất được hơn 2000 trung tâm tạm trú dọc theo hàng ngàn cây số bờ đê. Người ta cũng đã thiết kế được những ngôi vườn nổi, bệnh viện nổi và nhà sàn. Tại nhiều vùng, người dân Bangladesh đã bắt đầu tập sống với lũ và dĩ nhiên với mực nước biển ngày càng cao.
Mực nước biển ngày càng dâng cao là bởi vì các tảng băng ở hai đầu trái đất hiện đang tan rã. Đây là hiện tượng thấy rõ nhất tại Nam Cực. Tính đến năm 2012, mỗi năm  Nam Cực có lẽ đã mất đi khoảng 76 tỷ tấn nước đá. Kể từ đó, theo một bản phúc trình mới đây được phổ biến trên tạp chí Nature, tiến trình này tăng tốc lên đến 219 tỷ tấn mỗi năm. Điều này có nghĩa là một khi đã tan chảy các tảng băng của Nam Cực góp phần làm cho mực nước biển trên toàn trái đất tăng thêm một phần tư. Nếu toàn bộ các tảng băng của Nam Cực đều tan chảy thành nước, mực nước biển sẽ dâng cao thêm hơn 3 thước.
Đây là một hiện tượng mà vào hai thập niên 1950 và 1960, các nhà nghiên cứu về các tảng băng không bao giờ nghĩ tới.
Mặt nước biển dâng cao không chỉ tác hại đến cuộc sống của người dân ở những nước nghèo. Thiên tai cũng không tha người dân của những nước giàu. Trong 30 năm vừa qua, nhà địa vật lý học Ernst Rauch chuyên theo dõi các thiên tai để cố vấn cho công ty bảo hiểm Munich Re của Đức. Một trong những thiên tai khiến ông phải bù đầu bứt tóc là trận bão Sandy. Khi trận bão Sandy rời khỏi Thành phố New York vào buổi chiều ngày 30 tháng Mười năm 2012 vừa qua thì mọi sự đều thay đổi. Phần lớn khu phố thương mại và kinh doanh nổi tiếng Manhattan đều bị ngập lụt, các đường hầm đều chìm trong nước và ngay cả viện bảo tàng tại khu tưởng niệm cuộc khủng bố ngày 11 tháng Chín năm 2001 cũng không tránh khỏi ngập lụt. Điện bị cắt, các chuyến xe lửa bị đình chỉ và Trung tâm tài chính Wall Street cũng ngưng hoạt động. Chỉ riêng tại New York, trận bão Sandy đã làm cho 43 người thiệt mạng, 90.000 nhà cửa bị ngập lụt; tổng số thiệt hại về vật chất lên đến 20 tỷ Mỹ kim.
Dĩ nhiên có nhiều yếu tố gia tăng cường độ hủy hoại của trận bão. Nhưng tai họa chỉ đạt được những kích thước khủng khiếp như thế là bởi vì mực nước biển đã dâng lên từ nhiều thập niên qua. Tại Công viên Battery Park ở phía nam Manhattan chẳng hạn, mực nước biển đã dâng lên 35 centimet trong vòng 93 năm qua và hiện mỗi năm vẫn còn tiếp tục cao hơn.
Giàu có và hùng mạnh như nước Mỹ mà vẫn không tránh khỏi thiên tai. Một bài học mà nhân loại có thể học được từ vô số thiên tai đang xảy ra trên thế giới hiện nay là: con người không thể bảo vệ được tất cả mọi sự! Nhưng bởi vì thiên tai lại cũng là nhân họa, nghĩa là do chính con người ít hay nhiều đã góp phần tạo ra, thì đã đến lúc con người cần phải ý thức hơn về trách nhiệm của mình.
Ioane Teitiota, người công dân của đảo quốc nhỏ bé Karibati, hoàn toàn bất lực trước hiện tượng mực nước biển ngày càng dâng cao. Có lẽ chỉ có một điều mà ông cảm thấy mình có thể làm được: đó là xin tầm trú tại Tân Tây Lan và tuyên bố trước thế giới rằng ông là người đầu tiên được nhìn nhận là tỵ nạn vì Khí hậu Thay đổi. Với hành động này, ông muốn cho thế giới biết rằng không chỉ ngôi nhà tồi tàn của ông, quốc gia nhỏ bé của ông, mà toàn thế giới đang có nguy cơ bị Đại nạn Hồng thủy hủy diệt, nếu không ý thức về trách nhiệm làm cho trái đất bị hâm nóng khiến cho mực nước biển ngày càng dâng cao.

(nguồn: http://www.spiegel.de/international/world/addressing-the-inevitable-how-to-prepare-for-the-climate-change-flood-a-1241890-2.html)


Thứ Tư, 12 tháng 12, 2018

Quyền được ăn và nói



Chu Thập
7/12/18
Liền sau khi Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 13  của Khối G20 tại Á Căn Đình trong hai ngày 30 tháng Mười Một và mùng Một tháng Mười Hai vừa qua kết thúc, Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình của Trung Cộng đã “ngồi lại” với nhau. Lần này cuộc gặp gỡ đã diễn ra trong một yến tiệc kéo dài 2 tiếng đồng hồ. Với tôi, bữa ăn tối này có một ý nghĩa đặc biệt, bởi vì sau đó 2 nhà lãnh đạo của 2 siêu cường đã tuyên bố tạm ngưng cuộc chiến thương mại trong vòng 90 ngày. Ngồi đối diện với ông Tập trong một bàn tiệc dài, tổng thống Mỹ mô tả mối quan hệ giữa hai người là “đáng kinh ngạc” và dự đoán điều đó có nghĩa là “chúng ta có thể sẽ thực hiện được một thứ gì đó tốt đẹp cho Trung Quốc và tốt đẹp cho Hoa Kỳ”. Về phần mình, ông Tập Cận Bình cũng bày tỏ thiện chí: “Chỉ có sự hợp tác giữa chúng ta mới có thể phục vụ lợi ích của hòa bình và thịnh vượng  thế giới”. Đó là những lời tốt đẹp nhứt mà 2 bên “lâm chiến”, dù là trong chiến tranh thương mại,  đã có thể trao đổi cho nhau. Trong và sau bữa ăn, giọng điệu của 2 nhà lãnh đạo nghe lịch sự, “ngọt ngào”, chớ không còn hằn học hay hiếu chiến nữa. Ngồi ăn với nhau, người ta phải tỏ ra lịch sự, tử tế với nhau thôi. “Ăn” và “nói” lúc nào cũng đi đôi với nhau.
Theo dõi biến cố này, tôi lại nghĩ đến sự thâm thúy của “Tiếng Việt mến yêu” của tôi. Tôi không phải là một nhà ngữ học cho nên không hiểu được tại sao trong tiếng Việt của mình, từ xưa đến nay, người ta hay gắn hai động từ “ăn” và “nói” lại với nhau thành một thành ngữ.
Cùng xuất phát từ lỗ miệng, hai động từ này quan trọng đối với người Việt Nam đến nỗi trong những cái học, “học ăn học nói” là 2 cái học đầu tiên và quan trọng nhứt. Trước khi học bất cứ điều gì cần phải “học ăn học nói” đã. “Ăn không nên đọi, nói không nên lời”: ăn và nói mà còn chưa xong thì coi như “đồ bỏ”.
Thật ra, đâu riêng người Việt Nam mới xem trọng việc “học ăn học nói”, nhứt là “học ăn”. Ngày nay, tôi thấy trên các chương trình truyền hình các nước, như ở Úc Đại Lợi chẳng hạn, càng ngày càng có nhiều chương trình dạy nấu ăn. Một cách nào đó, dạy nấu ăn cũng là dạy “học ăn”. Tại Việt Nam hiện nay thì xem ra việc dạy nấu ăn ngày càng khẩn thiết hơn. “Người ta đua nhau viết sách dạy nấu ăn. Báo chí đăng tải những bài học cụ thể cho từng món ăn có thể chế biến tại nhà vào ngày nghỉ.” Tuy nhiên, “tuyệt không có những bài học dạy người ta cách ăn cả ở trường và ngoài xã hội. Đó không chỉ là một nửa mà thậm chí còn chiếm đến hai phần ba kiến thức ẩm thực của một dân phố bình thường. Thế cho nên sinh ra những “bún mắng”, “cháo chửi” cũng là lẽ thường. Vào hàng bún bung mà cứ đòi thêm hành  tây thì ăn mắng còn là rất nhẹ” (x.http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/Van-hoa/902501/an-va-noi).
“Học ăn học nói” là 2 thứ học quan trọng nhứt trong cuộc sống, bởi lẽ “ăn” và “nói” là hai thứ nhân quyền căn bản nhứt và đồng thời cũng gắn liền với nhau.
Vào ngày Thứ Hai Mùng Mười tháng Mười Hai tới đây, thế giới sẽ kỷ niệm đúng 70 năm ngày Liên Hiệp Quốc công bố Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Hai thứ quyền căn bản nhứt là “ăn” và “nói” đều đã được ghi rõ trong Bản Tuyên Ngôn này. Tôi không thể nghĩ đến cái ăn, cái nói trên thế giới mà không nhìn lại 70 năm thực hiện Bản Tuyên Ngôn này.
Trước hết, phải nhìn nhận rằng tình hình nhân quyền trên thế giới trong 7 thập niên qua đã đạt được nhiều thành tích tích cực đáng kể. Chưa bao giờ con người thời đại ý thức về nhân quyền cho bằng ngày nay. Tuy nhiên, bước vào Thế kỷ 21 này, có một thực tế mà tôi thấy không thể phủ nhận được: đó là thái độ bất khoan nhượng của con người  và tình trạng bất bình đẳng trên thế giới ngày càng gia tăng. Tình trạng của thế giới, mà cách đây 70 năm 58 quốc gia trên thế giới mong mỏi sẽ cải thiện được khi đặt bút ký tên vào Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, thì nay xem ra vẫn như cũ.
Theo phân tích của ông Kumi Naidoo, một người Nam Phi hiện đang làm Tổng thư ký của Tổ chức Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International), điều 2 trong Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền giải thích rằng Nhân quyền thuộc về tất cả mọi người, bất luận giàu nghèo, sống ở nước nào, thuộc phái tính hay màu da nào, nói ngôn ngữ nào hay tuyên xưng hoặc thực hành niềm tin tôn giáo nào.
Tuy nhiên, theo ông Tổng thư ký Tổ chức Ân Xá Quốc Tế, tính phổ cập ấy của nhân quyền hiện đang bị tấn công một cách nghiêm trọng. Ông Naidoo đặc biệt chú ý đến khuynh hướng dân túy hiện nay trên thế giới. Đan cử một thí dụ, ông đề cập đến cuộc chiến thắng của ông Jair Bolsonaro tại Ba Tây trong cuộc bầu cử dạo tháng Mười vừa qua. Trong các chương trình hành động, ông tổng thống tân cử của Ba Tây này công khai chống lại nhân quyền. Người lãnh đạo của Tổ chức tranh đấu cho nhân quyền lo ngại rằng các chính sách của tân tổng thống Ba Tây sẽ là một hiểm họa lớn cho người thổ dân, các cộng đồng nông dân truyền thống, những người đồng tính và chuyển giới, giới trẻ da đen, phụ nữ, những người hoạt động và các tổ chức của xã hội dân sự.
Không những phổ cập, nhân quyền cũng liên kết bất khả phân ly với nhau. Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền không phân biệt giữa quyền dân sự, văn hóa, kinh tế, chính trị và xã hội. Bản Tuyên Ngôn cũng không phân biệt sự cần thiết phải thực hiện quyền được ăn với quyền được tự do ngôn luận. Với Bản Tuyền Ngôn, 2 thứ quyền này, tức quyền được ăn và được nói, liên kết chặt chẽ với nhau.
Trong nhiều thập niên vừa qua, nhiều chính phủ, như tại các nước cộng sản,  đã cố tình tách biệt 2 quyền này. Kể từ khi mở cửa chạy theo kinh tế thị trường, Trung Cộng và Việt Nam đã ăn nên làm ra, kinh tế phát triển, nhiều triệu người đã được giải thoát khỏi cảnh nghèo đói cùng cực. Nói chung, tại những nước cộng sản độc tài này, cuộc sống vật chất của người dân được cải thiện. Tuy nhiên, quyền căn bản là được nói, tức tự do ngôn luận và phát biểu vốn gắn liền với quyền được ăn, vẫn không được nhìn nhận. Người dân trong những chế độ cộng sản độc tài no cái bụng, nhưng vẫn còn đói cái miệng.
Tại nhiều nước khác, dù không phải là độc tài chuyên chế, các chính phủ vẫn tìm cách tách biệt quyền được ăn khỏi quyền được nói và những quyền căn bản khác. Khi phải đối đầu với các cuộc khủng hoảng tài chánh chẳng hạn, các chính phủ thường đề ra các biện pháp thắt lưng buộc bụng. Với những biện pháp này, người dân thường không hưởng được những nhu cầu cơ bản như y tế, nhà ở và thực phẩm.
Tổng thư ký của Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế kể lại rằng một người đàn ông được tổ chức phỏng vấn cho biết ông đã phải chọn lựa giữa việc mua thức ăn và mua thuốc men, bởi vì phí tổn y tế quá cao. Ông nói: “Tôi không thể sống với sự đau đớn, tôi cần phải có thuốc. Hoặc là tôi có thuốc hoặc là tôi tự tử (vì quá đau đớn)...Tôi đành phải nhịn ăn bởi vì tôi cần phải mua thuốc”.
Tại một số nơi, tình trạng còn thê thảm hơn. Như tại Cộng hòa Chad, Phi Châu là nơi chính phủ ban hành những biện pháp thắt lưng buộc bụng: người dân ngày càng nghèo; không được chăm sóc y tế, họ cũng chẳng hưởng được một nền giáo dục căn bản. Khi người dân tổ chức đình công hoặc tham gia các cuộc biểu tình, chính phủ tìm cách bịt miệng họ. Bất cứ một tiếng nói bất đồng chính kiến nào cũng đều bị đè bẹp.
Đây là mô hình đang xảy ra trên khắp thế giới hiện nay, chớ không riêng gì trong các chế độ cộng sản hoặc độc tài. Khi cuộc sống trở nên khó khăn, người dân lên tiếng, họ liền bị bịt miệng ngay. Được ăn và được nói là 2 quyền gắn liền với nhau. Chính vì vậy mà trong suốt Mùa Xuân Á Rập hồi năm 2011, những biểu ngữ mà người dân trương lên không chỉ xoay quang quyền được phát biểu, tức quyền được nói, mà còn là quyền được có “cơm bánh, tự do và công lý” một lúc.
Gần đây cả thế giới đã chú ý theo dõi vụ án của ông Jamal Khashoggi, một ký giả người Á Rập Saudi đã bị giết chết một cách dã man ngay trong Tòa lãnh sự của Vương quốc Á Rập Saudi tại Thổ Nhĩ Kỳ hồi tháng Mười vừa qua. Cũng như nhiều nhà tranh đấu cho nhân quyền trong vương quốc này, ông Khashoggi đã trở thành kẻ thù của Chính quyền Á Rập Saudi, bởi vì ông muốn thực thi quyền được công khai nói lên điều mình suy nghĩ. Trong một bài cuối cùng được đăng trên báo The Washington Post, ông đã đề cập đến những vấn đề nhức nhối mà những người đồng bào của ông đang phải đối đầu, nhưng lại không được phép công khai bày tỏ ý kiến, vì họ không hề được hưởng quyền tự do ngôn luận. Những vấn đề mà ký giả này đề cập tới là “nghèo đói, quản lý kém và giáo dục tồi tệ”(x. https://mondediplo.com/2018/12/04rights).
Ký giả Khashoggi không chỉ nói đến quyền được nói, tức tự do ngôn luận, ông cũng lên án tình trạng nghèo đói mà vì bất công, người dân Á Rập Saudi đang phải gánh chịu. Ông đã cho thấy rõ: mọi nhân quyền như được ghi trong Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, đều liên kết chặt chẽ với nhau. Không thể chối bỏ và chà đạp quyền này mà không chối bỏ và chà đạp những quyền khác. Quyền được “nói”, được tự do báo chí, được tự do ngôn luận là cột sống trong tòa nhà nhân quyền, bởi vì nó tạo điều kiện cho con người đòi hỏi những quyền khác, nhờ đó con người mới có thể thể hiện trọn vẹn phẩm giá bất khả xâm phạm của mình.
Bước vào tháng Mười Hai, chuẩn bị mừng lễ Giáng Sinh, hầu như ngày nào gia đình tôi cũng nhận được lời kêu gọi giúp đỡ từ các tổ chức từ thiện như Salvation Army, Caritas, Smith Family hay một tổ chức nào đó của Liên Hiệp Quốc...Hầu như đính kèm với lời kêu gọi lúc nào cũng là những câu chuyện về thảm cảnh chiến tranh hay gia đình mà nạn nhân đáng thương nhứt vẫn là trẻ em và nhu cầu khẩn thiết nhứt vẫn là cơm ăn, áo mặc hoặc quần áo, giày dép để cắp sách đến trường. Cũng không thiếu những lời kêu gọi đưa gia đình tôi đến một nơi nghèo cùng xa lạ nào đó ở tận cùng trái đất...
Lời kêu gọi chia sẻ cơm bánh và mọi thứ có thể chia sẻ được cho người nghèo đến với gia đình tôi vào giữa lúc cơn sốt mua sắm và tiêu xài đang lôi kéo mọi người đến phố chợ. Cứ mỗi lần nhìn hàng người nối đuôi nhau trong các cửa hàng buôn bán trong những ngày này, tôi không thể không nghĩ đến bức tranh của thế giới cách đây 70 năm, khi 58 quốc gia trên thế giới đặt bút ký tên vào Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Đó là bức tranh của bất bình đẳng và dĩ nhiên cũng là bất công trong xã hội. Nơi đây người ta ăn uống thừa mứa đến độ béo phì, nơi kia vô số người vẫn còn quằn quại trong đói khổ, bệnh tật hay bị đày đọa trong lao tù.
“Học ăn học nói” cũng như học làm người là trường học tôi thấy mình cứ học mãi mà không bao giờ tốt nghiệp. Nhưng cứ mỗi dịp Giáng Sinh về, nhứt là năm nay khi kỷ niệm 70 năm công bố Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, tôi thấy mình còn phải học thêm một bài học nữa là “học cho”. Hai chữ “từ thiện”, “bác ái” thường gợi lên trong tôi hành động “bố thí”, tức “cho đi”, “vứt di” những đồng tiền lẻ, những đồ thừa mứa, những thứ tôi không còn dùng tới nữa...Đào sâu hai chữ “nhân quyền”, tôi nghĩ đến phẩm giá của sự bình đẳng và mọi quyền căn bản của mỗi một con người có mặt trên trái đất này. “Học cho” là học chia sẻ và trao ban với cả tấm lòng với sự trân trọng chứ không phải là bố thí. Như vậy trước tiên phải nhìn nhận và tôn trọng phẩm giá của sự bình đẳng ấy. Cái phẩm giá ấy cao trọng đến độ bất cứ một hành động miệt thị, khước từ nào cũng đều là một xúc phạm đến toàn thể nhân loại.








Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2018

Hòa Lan: chuyện Người Bạn của Ông Già Noel



7/12/18
Theo truyền thống, trẻ con khắp Âu Châu chờ đón Ông Già Noel vào ngày 6 tháng Mười Hai. Nhưng tại Hòa Lan, truyền thống này lại mang nhiều màu sắc kỳ thị chủng tộc mà dường như phần đông dân chúng lại không muốn từ bỏ.
Đối với người Hòa Lan, Sinterklaassavond, tức ngày áp lễ thánh Nicolas, tiền thân của Ông Già Noel, được cử hành vào ngày 5 tháng Mười Hai là ngày lễ quan trọng nhất trong năm, quan trọng hơn cả Lễ Giáng Sinh. Buổi chiều ngày này, các gia đình tụ họp lại và trao đổi quà cho nhau; trẻ con đặt những chiếc bít tất của chúng vào chân giường ngủ với hy vọng sáng hôm sau sẽ nhận được bánh kẹo của ông già Noel mà người Hòa Lan gọi là Sinterklaas. Nhưng trong khi tại hầu hết các nước khác trên thế giới, ông già Noel thường chỉ đơn thân độc mã đến tặng quà cho trẻ con, thì tại Hòa Lan, Sinterklaas lại có một người bạn đồng hành.


Tại Hòa Lan, 3 tuần lễ hội trước Giáng Sinh không chỉ xoay quanh nhân vật huyền thoại Sinterklaas, mà còn kéo sự chú ý của dân chúng đến một nhân vật khác cũng rất quan trọng trong những ngày lễ hội. Nhân vật này được đặt tên là Zwarte Piet hay Black Pete, tức Piet Đen. Đen bởi vì ông là một người đến từ lục địa Phi Châu. Zwarte Piet được xem như một người bạn đồng hành của ông già Noel. Ông giúp ông già Noel phân phát quà cáp cho trẻ con và người túng khổ.
Thật ra, nhân vật Zwarte Piet không chỉ được tưởng nhớ tại đất nước của loài hoa Tulip. Nhân vật này cũng được nhắc nhớ trong các lễ hội được cử hành tại các cựu thuộc địa của Hòa Lan như Nam Dương, Curacao, Aruba, Surinam  và ngay cả tại Bỉ.
Hình tượng và dung mạo của nhân vật Zwarte Piet, cũng như của chính ông già Noel Sinterklaas, đã được hình thành và biến chuyển qua dòng lịch sử. Ở khởi đầu, Sinterklaas và những người giúp việc của ông là tiên ông  Odin và nhóm thợ săn của ông. Được những người giúp việc hộ tống, tiên ông  Odin cỡi con ngựa trắng bay trên không trung. Trong đoàn tùy tùng của Odin lúc nào cũng có 2 người bạn da đen. Hai người này sẽ trèo lên nóc nhà của dân chúng để nhìn xuyên qua ống khói lò sưởi và cho Odin biết người dân cư xử như thế nào.
Đây là huyền thoại có trước khi câu chuyện có thật của thánh Nicolas được các thập tự quân từ Thổ Nhĩ Kỳ trở về Âu Châu truyền tụng. Vào thời Trung Cổ, có lẽ từ huyền thoại tiên ông Odin, thánh Nicolas được tô vẽ như một vị anh hùng đã có công xiềng xích được một tên quỷ dữ. Vào đầu Thế kỷ 19, tại Hòa Lan, người ta mới giải phóng cho tên quỷ dữ và biến nó thành một người giúp việc đắc lực cho thánh Nicolas. Và dĩ nhiên, bởi vì đã từng là một thằng quỷ, cho nên người giúp việc này phải là một tên mọi đen mà thôi. Nhân vật Zwarte Piet chính là người giúp việc ấy.
Sự khai sinh của nhân vật Zwarte Piet trùng hợp với sự biến đổi tâm lý của chính nhân vật Sinterklaas. Trước đó, Sinterklaas thường được mô tả như một ông kẹ cô đơn rất nghiêm khắc và hung tợn với những đứa trẻ mất nết. Từ một ông kẹ, Sinterklaas biến thành ông già Noel hiền lành phúc hậu và quảng đại. Từ một tên quỷ dữ, Zwarte Piet cũng biến thành một người giúp việc đắc lực chuyên phục vụ ông già Noel trong việc phân phát quà cáp cho trẻ con và người túng khổ.
Riêng về nhân vật Zwarte Piet, một truyền thuyết khá phổ biến tại Hòa Lan vào khoảng cuối Thế kỷ 19 cho rằng một trong những phép lạ mà thánh Nicolas đã thực hiện sau khi chết là đến can thiếp tại một tòa án của “Hoàng đế Babylone” để giải phóng cho một thiếu niên khỏi ách nô lệ và đem trả cậu về cho cha mẹ cậu. Câu chuyện về phép lạ này không nói đến màu da của người thiếu niên. Tuy nhiên, sang Thế kỷ 20, câu chuyện về phép lạ này được thêm mắm muối và người thiếu niên thay vì trở về nhà với cha mẹ đã tự nguyện làm người bạn đồng hành đi theo thánh Nicolas suốt đời.
Trong những thập niên kế tiếp của Thế kỷ 20, dân gian lại làm cho dung mạo của người bạn đồng hành của thánh Nicolas được rõ nét thêm: cậu là một người Tây Ban Nha hay là một người Ý! Vì cứ phải chui vào ống khói lò sưởi cho nên không những khuôn mặt mà toàn thân cậu đều trở nên đen đủi.
Khi lễ hội Zwarte Piet thịnh hành, những người đóng vai người bạn đồng hành của Sinterklaas, tức thánh Nicolas, đều bôi đen khuôn mặt của họ, đeo những bộ tóc giả màu đen lên đầu cũng như đeo những chiếc bông tai lớn. Cách hóa trang này đã bắt đầu gây tranh cãi vào cuối Thế kỷ 20. Nhiều người cho rằng cách hóa trang này có chủ ý kỳ thị chủng tộc.
Tuy nhiên, theo một cuộc thăm dò được thực hiện hồi năm 2013, có đến 90 phần trăm người dân Hòa Lan không xem cách hóa trang nhân vật Zwarte Piet là một hành động kỳ thị chủng tộc. Một cuộc thăm dò nơi trẻ em Hòa Lan tuổi từ 3 đến 7  hồi năm 2015 cũng cho thấy rằng trẻ con Hòa Lan xem Zwarte Piet như một tay hề gánh xiếc độc đáo hơn là một người da đen. Theo một cuộc thăm dò mới nhất được thực hiện trong năm nay, có đến 88 phần trăm dân Hòa Lan không hề xem Zwarte Piet như một biểu tượng của kỳ thị chủng tộc.
Nhận thức chung trên đây của người dân Hòa Lan về nhân vật Zwarte Piet, dù vậy, cũng không tránh khỏi những cuộc biểu tình phản đối của những người cho rằng cách hóa trang cho nhân vật này có tính kỳ thị chủng tộc. Năm nay, những cuộc biểu tình phản đối đã diễn ra tại 18 thành phố của Hòa Lan. Đã có khoảng 40 người bị bắt giữ, phần lớn là những người ủng hộ nhân vật Zwarte Piet. Những người này đã ném trứng và chuối vào những người biểu tình. Tại một vài nơi, có người còn đưa tay chào theo kiểu Đức Quốc Xã.
Tại Eindhoven và Rotterdam, những người ủng hộ Zwarte Piet và chống lại những người biểu tình đã hóa trang thành Zwarte Piet, nghĩa là bôi cho khuôn mặt thành đen, tô vẽ cho đôi môi dày ra, đeo bông tai lớn, đội trên đầu những bộ tóc quắn giả và len lỏi khắp nơi để trao cho trẻ con kẹo có kèm theo những truyền đơn ủng hộ đảng cực hữu.
Năm 2011, ông Jerry Afriyie đã cùng với một người bạn tung ra một chiến dịch lấy tên là “Zwarte Piet là chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc”. Ông cho biết : trong các cuộc biểu tình, nhiều người đã ném chuối và trứng vào người họ. Họ cũng bị gọi bằng nhiều tên gọi đầy kỳ thị và miệt thị. Người ta cũng dùng cách chào của Đức Quốc Xã để khiêu khích họ.
Afriyie là một người gốc Ghana, Phi Châu. Ông đã đến Hòa Lan lúc lên 10 tuổi. Ông kể lại rằng có người còn gọi ông là Zwarte Piet (thằng mọi đen!) hoặc dơ bẩn như Zwarte Piet hoặc chỉ đáng làm Zwarte Piet mà thôi!
Trước đây, người đàn ông gốc Phi Châu này nghĩ rằng lễ hội Sinterklaas tại Hòa Lan chỉ đơn thuần là một cuộc vui trong đó trẻ con nhận được nhiều bánh kẹo. Cũng như bao đứa trẻ khác, ông Afriyie hoàn toàn không có bất cứ ý thức nào về chính trị. Nhưng năm lên 12 tuổi, ông mới nhận thấy rằng hóa trang thành Zwarte Piet là tự khoác lên người bộ mặt của một người ngờ nghệch, ngu ngốc, nhơ bẩn xấu xa và đần độn đến độ cần phải có người khác dẫn đường chỉ lối. Ông kể lại rằng có lần trên xe buýt, nhân mùa Giáng Sinh, người ta ném kẹo bánh cho ông kèm với những tiếng kêu khọt khet của loài khỉ.
Ông Afriyie đã cố gắng tạo cơ hội cho sinh viên học sinh và thày giáo được đối thoại với nhau, nhưng mọi người đều nhắm măt làm ngơ. Nói chung, người dân Hòa Lan vẫn tiếp tục ủng hộ nhân vật Zwarte Piet. Họ không muốn thay đổi truyền thống. Trong một tuyên ngôn đầy tranh cãi  được đưa ra hồi năm 2014, Thủ tướng Hòa Lan Mark Rutte đã khẳng định: “Zwarte Piet là một người da đen và tôi không thể thay đổi điều đó, bởi vì tên của ông ta là Zwarte Piet”. Theo thủ tướng Hòa Lan, không có một Piet màu xanh, màu nâu, mà chỉ có một Piet Đen thôi.
Truyền thuyết về Zwarte Piet đã được định hình một cách dứt khoát tại Hòa Lan vào năm 1850, sau khi một nhà giáo tại Amsterdam tên là Jan Schenkman đưa nhân vật này vào trong một truyện tranh vẽ. Cho đến năm đó, Hòa Lan vẫn còn là một đế quốc thực dân đeo đuổi chủ trương buôn bán nô lệ. Phải đợi đến năm 1863, Hòa Lan mới chính thức bãi bỏ việc mua bán vô nhân đạo này.
Sử gia Lise Koning tin rằng đã có liên hệ mật thiết giữa Zwarte Piet và các màn ca vũ hóa trang thành người da đen tại Hoa Kỳ trong thập niên 1800 và sau đó được du nhập vào Âu Châu.
Một số khác thì cho rằng Zwarte Piet đã xuất hiện trong những câu chuyện về Thánh Nicolas được truyền tụng tại Âu Châu trong thời Trung Cổ. Những câu chuyện này thường nhắc đến một người bạn đồng hành da đen của thánh Nicolas. Nhưng dù cho nguồn gốc của Zwarte Piet có thế nào đi nữa, một sự kiện không thể chối cãi được là nhiều người, nhất là vào giữa lúc trào lưu kỳ thị chủng tộc và chống di dân đang dâng cao tại Âu Châu, đã lợi dụng nhân vật này để quảng bá cho chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc. Nếu chỉ vì chui qua ông khói lò sưởi cho nên mặt mũi và người ngợm trở thành đen đủi là chuyện có thể hiểu và chấp nhận được. Đàng này, hình tượng Zwarte Piet mà người ta thường thấy trong suốt 3 tuần lễ hội tại Hòa Lan lại là một người Phi Châu, tóc đã quắn mà môi cũng dày ra.
Vì hình tượng Zwarte Piet, như được tô vẽ trong suốt 3 tuần lễ hội tại Hòa Lan gây ra nhiều tranh cãi cho nên nhiều người đề nghị loại bỏ hình tượng này. Artwell Cain, giám đốc của Viện nghiên cứu về chế độ nô lệ và di sản của chế độ này tại Hòa Lan, cho rằng hình tượng Zwarte Piet là một nhục mạ đối với cộng đồng người Phi Châu tạu Hòa Lan. Đây là một điều không còn thích hợp trong thời đại này.
Vấn đề lại càng nghiêm trọng hơn bởi vì hiện nay Đảng cực hữu có tên là “Đảng Tự Do” do một chính trị gia đầy tranh cãi là ông Geert Wilders lãnh đạo ngày càng lớn mạnh. Đảng này hiện đang là đảng lớn thứ ba trong Quốc hội Hòa Lan.
Theo ông Cain, vào giữa lúc Chính phủ Hòa Lan đang tạo áp lực lên các sắc dân thiểu số để hội nhập vào xã hội, một hình tượng như Zwarte Piet hoàn toàn không còn thích hợp nữa.
Với cố gắng dung hòa và tránh đây tranh cãi, nhiều người đã đề nghị tô vẽ Zwarte Piet với một dung mạo khác. Chẳng hạn năm 2006, Sáng hội “The Dutch Programme Foundation” đã kêu gọi dân chúng Hòa Lan thay vì hóa trang Zwarte Piet thành một người Phi Châu, chỉ nên vẽ lên mặt mình những chiếc cầu vồng đủ màu. Nhưng đề nghị này đã không được hưởng ứng nhiều. Chỉ một năm sau, đâu lại vào đó, người dân Hòa Lan vẫn thích hóa trang thành một người Phi Châu chính hiệu. Họ bảo: không thể thay đổi truyền thống!


(nguồn:
-https://en.wikipedia.org/wiki/Zwarte_Piet
-https://www.aljazeera.com/indepth/features/zwarte-piet-black-pete-dutch-racism-full-display.
-https://www.dw.com/en/racism-controversy-dampens-hollands-sinterklaas-tradition)










Thứ Năm, 6 tháng 12, 2018

Một thế giới ít nguy hiểm hơn



Chu Thập
30/11/18
Báo “Người Việt”, một trong những tờ báo Việt ngữ có nhiều độc giả và uy tín nhứt ở Mỹ sẽ kỷ niệm đúng 40 năm thành lập vào ngày 15 tháng Mười Hai tới đây. Tôi chú ý đến biến cố này bởi vì đây là một trong những tờ báo tiếng Việt tôi đọc nhiều nhứt. Đọc không chỉ để theo dõi thế sự mà còn để trau dồi tiếng Việt, để nuôi dưỡng tình tự quê hương và lòng yêu nước. Cụ Phạm Quỳnh đã chẳng nói: “Truyện Kiều còn tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn” đó sao? Tôi hiểu chữ “còn” ấy theo một ý nghĩa thiêng liêng cao quý nhứt. “Còn” là còn trước tiên trong máu thịt, trong trái tim của tôi.
Hình như người nước nào cũng tự hào về sự “cao quý” của đất nước  mình. Không thiếu những tác giả Việt Nam đã viết về “người Việt cao quý”. Một trong những nét “cao quý” ấy có lẽ được thể hiện qua “Tiếng Việt mến yêu” như báo Người Việt lúc nào cũng có một trang riêng để đề cao. Trong lỗ tai của tôi, tiếng Việt lúc nào cũng dễ “mến yêu” và cũng “dễ thương”. Ở những nơi ít có người Việt, không gì bồi hồi xúc động cho bằng tình cờ nghe được tiếng Việt. Nhưng cảm động nhứt vẫn là nghe một câu tiếng Việt ngọng nghệu từ môi miệng của một người ngoại quốc.
Cách đây mấy hôm gia đình tôi có tổ chức một cuộc dã ngoại ngắn ở The Entrance, một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng của vùng Central Coast, cách Sydney khoảng 100 cây số về hướng Bắc. Trong lúc đi bách bộ trong thành phố, tôi tình cờ nghe được một câu tiếng Việt rất chỉnh “người Việt Nam hả?” phát ra từ phía sau. Quay lại, tôi vừa ngỡ ngàng vừa sung sướng khi nhận ra người hỏi câu ấy là một ông Tây rặc. Hỏi ra mới biết ông Tây này không phải là dân Miệt Dưới, mà là một ông Tây Ban Nha. Ông cho biết: vợ ông là một người Việt Nam. Hai người đã gặp nhau khi học đại học chung với nhau. Họ đã lấy nhau được 13 năm và hiện đang làm chủ 2 tiệm Nail, một ở The Entrance và một ở miền Tây Sydney. Qua cuộc trao đổi ngắn, tôi tin chắc đây là một người đàn ông có cuộc sống gia đình rất hạnh phúc. Nhưng riêng qua một vài câu tiếng Việt của ông, tự nhiên tôi thấy ông là một người “dễ thương”.
Tôi cũng nghĩ như thế về đứa con gái 12 tuổi con của người cháu gái của tôi bên Mỹ. Cháu gái tôi kể lại rằng không biết có phải do tình tự dân tộc chợt đến bất ngờ không mà một hôm, chờ mẹ vừa đi làm về, cô bé đã chạy đến ôm chầm lấy mẹ rồi nói: “Mẹ, tôi yêu bạn”. Cháu gái tôi bảo là đã không nhịn cười được trước câu “tỏ tình” bằng tiếng Việt do ông Google mách bảo này.
Tiếng Việt mến yêu và dễ thương thật, nhưng cũng rắc rối vô cùng. Người Tây phương vốn lịch sự, ít khi cười cợt khi nghe người ngoại quốc phát âm sai hoặc nói không đúng cú pháp. Còn “An nam ta” như cụ Nuyễn Văn Vĩnh đã ghi nhận, “có một thói lạ là thế nào cũng cười. Người ta khen cũng cười, người ta chê cũng cười. Hay cũng hì, mà dở cũng hì, quấy cũng hì. Nhăn răng hì một tiếng, mọi việc hết nghiêm trang”. Kể từ khi cố gắng hội nhập vào văn hóa Tây phương, tôi  bớt “hì”, bớt “cười” một cách vô duyên trước những câu tiếng Việt ngọng nghệu của người ngoại quốc. Trái lại, cứ hễ nghe người ngoại quốc nói tiếng Việt là tôi thấy có sự đồng cảm giữa tôi và người đó. Sự đồng cảm thường ít được diễn tả bằng lời nói cho bằng cử chỉ và hành động. Có thể đây là một trong những  nét “cao quý” của người Việt Nam chăng ? Để bày tỏ tình yêu, dường như người Việt Nam nói bằng hành động hơn là lời nói.
Giáo sư Nguyễn Thanh Việt, tác giả của quyển tiểu thuyết “The Sympathizer” (cảm tình viên) được trao giải thưởng Pulitzer hồi năm 2016, đã cố gắng giải thích về tình yêu ấy trong một bài viết được đăng trên tạp chí Time số ra ngày 26 tháng Mười Một và 2 tháng Mười Hai này.
Với tựa đề “American Like Me. What it means to love my country, no matter it feels about me” (Là người Mỹ như tôi. Tôi muốn nói lên tình yêu của tôi đối với đất nước, dù cho đất nước ấy có nghĩ như thế nào về tôi đi nữa), bài viết của Giáo sư Việt xoáy vào một chủ đề gây nhiều tranh cãi hiện nay là lòng ái quốc. Phân tách cụm từ quen thuộc của những người Mỹ chống di dân “Love it or leave” (hãy yêu nước Mỹ hay là hãy rời khỏi nước Mỹ), Giáo sư Việt chia sẻ rằng suốt thời niên thiếu ông chưa bao giờ nói “yêu thương” ai (I love you) bởi vì cha mẹ ông chưa bao giờ nói hai chữ “yêu thương” với ông. Nhưng điều đó không hề có nghĩa là cha mẹ ông không thương ông. Hai ông bà đã thương con đến độ làm việc cật lực khi đến Mỹ. Hai ông bà làm việc nhiều đến nỗi không còn giờ dành cho con. Còn nếu có gặp nhau thì hai ông bà mệt mỏi đến độ không còn tỏ ra vui nổi nữa. Nhưng dù có tất bật đến đâu vì công ăn việc làm, lúc nào ông bà cũng lo cho cái đầy đủ cái ăn, cái mặc. Theo ông, tình yêu mà cha mẹ ông dành cho ông được diễn tả bằng hy sinh hơn là bằng 2 tiếng “tình yêu” ngoài môi mép.
Tác giả của quyển tiểu thuyết “The Sympathizer” chia sẻ: “Một tiếng nói hay một giọng nói cũng đủ để tôi cảm nhận được tình yêu sâu xa ấy, như tôi đã tình cờ nghe được tại một tiệm thuốc tây trong khu phố tôi ở tại Thành phố Los Angeles. Người đàn ông đứng bên cạnh tôi là một người Á Đông, không đẹp trai, lại ăn mặc xuềnh xoàng. Trên điện thoại di động, ông nói giọng miền Nam: “Con ơi, Ba đây. Con ăn cơm chưa?” Trông ông mộc mạc, có lẽ là dân cu li. Nhưng khi ông nói chuyện với con bằng tiếng Việt, giọng của ông nghe rất trìu mến. Điều ông nói, không thể dịch ra (tiếng Anh), mà chỉ có thể “cảm được” mà thôi”.
Theo nhận xét của Giáo sư Việt, lời người đàn ông trên đây nói với con cũng là cách người Việt Nam đón chào khách đến nhà mình. Họ thường hỏi khách “ăn cơm chưa?”  Giáo sư Việt giải thích cho người Mỹ: “Đây là cách mà cha mẹ (Việt Nam), tuy là những người không bao giờ nói “cha mẹ yêu con” (I love you) với con cái, nói với con cái họ rằng họ yêu thương chúng”. Được nuôi dạy và lớn lên theo những lề thói, cảm xúc và mối giây thân tình ấy cho nên giáo sư Việt nói rằng ông gần như muốn khóc khi nghe người đàn ông trên đây nói chuyện với con.
Từ việc bày tỏ tình thương của người Việt Nam, giáo sư Việt nói đến “tình yêu” của ông đối với đất nước Mỹ, quê hương thứ hai của ông. Với nhiều người Mỹ, yêu tổ quốc là yêu lá cờ, là yêu bài quốc ca. Rất nhiều người, từ địa vị cao nhứt trong chính quyền cho đến người “dân đen”, xem những biểu tượng ấy như cốt lõi của lòng ái quốc để buộc mọi người Mỹ phải “yêu” nước Mỹ hay là hãy “rời bỏ” nước Mỹ.
Giáo sư Việt cho rằng sự kiện ông không mặn mà với lá cờ hay bài quốc ca không làm cho ông “bớt” là Mỹ hơn những người “yêu” những biểu tượng ấy. Với ông, điều quan trọng không phải là những biểu tượng ấy mà là những nguyên tắc và giá trị đằng sau những biểu tượng ấy. Những nguyên tắc và  giá trị ấy “là dân chủ, bình đẳng, công lý, hy vọng, hòa bình và nhứt là tự do”.
Tình yêu đối với nước Mỹ như được Giáo sư Việt bày tỏ trên đây đương nhiên làm tôi nhớ lại bài diễn văn mà Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã đọc trước mặt rất nhiều nguyên thủ quốc gia, trong đó có Tổng thống Mỹ Donald Trump và Tổng thống Nga Vladimir Putin vào ngày Mười Một tháng Mười Một 2018 vừa qua, nhân dịp tưởng niệm đúng 100 năm ngày chấm dứt Đệ nhứt Thế Chiến.Trong bài diễn văn, Tổng thống Pháp khẳng định rằng “dân tộc chủ nghĩa là một sự phản bội đối với lòng yêu nước”. Những người theo dân tộc chủ nghĩa chỉ biết đến quyền lợi của đất nước mình bất kể điều gì có thể xảy ra cho người khác. Yêu nước như thế, theo Tổng thống Pháp, là “xóa bỏ điều quý giá nhứt mà một quốc gia  có thể có. Đó là điều làm cho quốc gia sống còn, làm cho nó vĩ đại. Đó là điều quan trọng nhứt. Điều đó chính là những giá trị đạo đức”.
Tôi tin rằng một đất nước chỉ thực sự vĩ đại khi nó được xây dựng trên những giá trị đạo đức và nhân bản. Tôi buồn cho nước Mỹ khi nguyên thủ quốc gia của đất nước vĩ đại này đã đặt quyền lợi của nước Mỹ, mà cụ thể là “dầu lửa”, “công ăn việc làm” và “tiền bán vũ khí” lên trên những giá trị đạo đức và nhân bản khi không những nhắm mắt làm ngơ mà còn biện minh cho hành động tội ác của một nhà độc tài.
Buồn cho nước Mỹ tôi lại càng lo thêm cho thế giới. Mở đầu lời tuyên bố về mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Vương quốc Á rập Saudi và vụ sát hại ký giả Jamal Khashoggi mà Cơ quan Tình báo Mỹ xác nhận đã được thực hiện dưới sự chỉ đạo của Thái tử kế vị của Á rập Saudi, Mohammad bin Salman, Tổng thống Donald Trump viết: “Thế giới đang là một nơi rất nguy hiểm” (The world is a very dangerous place). Và ông chỉ tay về Công hòa Hồi giáo Iran, là quốc gia mà ông cho là đang gây ra mọi xáo trộn tại Trung Đông và là “nước bảo trợ hàng đầu cho khủng bố trên thế giới” (the world’s leading sponsor of terror). Dĩ nhiên, có chế độ độc tài nào mà không làm cho thế giới trở thành một nơi nguy hiểm. Nhưng nhìn sâu vào bản chất của bất cứ một chế độ độc tài nào, ai mà chẳng thấy rằng “vô đạo” là nền móng của chế độ ấy. “Thế giới  đang là một nơi rất nguy hiểm” là bởi vì vẫn tồn tại nhiều chế độ độc tài, vẫn có những nhà lãnh đạo lăm le đi theo con đường chuyên chế và nhứt là có những nước “vĩ đại”, chỉ vì quyền lợi của mình, không những nhắm mắt làm ngơ, mà còn biện minh cho những hành động độc ác của các chế độ độc tài. Bao lâu những giá trị đạo đức và nhân bản bị đặt dưới những quyền lợi vật chất và những bản năng thấp hèn nhứt của con người thì đó là lúc thế giới trở thành “một nơi rất nguy hiểm”. Lịch sử của 2 cuộc thế chiến đã chứng minh điều đó.
Mới đây cơ quan truyền thông Mỹ “Public Broadcasting Service” (PBS) đã tổ chức một cuộc thăm dò để biết tác phẩm văn chương bằng Anh ngữ nào được người Mỹ ưa chuộng nhứt. Kết quả của cuộc thăm dò với 7.200 độc giả cho thấy đứng đầu danh sách 10 tác phẩm được người Mỹ ưa thích nhứt là quyển tiểu thuyết có tựa đề “To Kill a Mockingbird” (Giết Một Con Chim Nhại Tiếng) của Nữ sĩ Nelle Harper Lee (1926-2016). Nhân vật chính của quyền tiểu thuyết xuất bản hồi năm 1960 này là ông Atticus Finch. Là một luật sư, ông Finch đã đánh đổi sự nghiệp và danh tiếng của mình để biện hộ cho một người da đen bị tòa kết án một cách oan ức về một tội mà anh không hề phạm. Luật sư Finch đã trở thành một hình ảnh tiêu biểu về đạo đức, bởi vì ông đã sẵn sàng hy sinh tất cả để bảo vệ công lý và lẽ phải. Một nhân vật khác, tuy phụ, nhưng cũng trở thành biểu tượng của đạo đức là ông “Boo” Radley, người láng giềng của gia đình ông Finch, một người luôn làm những điều tốt đẹp cho người khác.
Quyển tiểu thuyết này hiện đang  được người Mỹ ưa chuộng nhứt là phải, bởi vì hơn bao giờ hết, họ ý thức được rằng những giá trị đạo đức mới thực sự là điều làm cho quốc gia của họ “vĩ đại”.
Tôi chưa một lần hãnh diện về sự “vĩ đại” của đất nước tôi.  Trong tiếng Việt, từ “vĩ đại” cũng không thường được nhắc nhở. Nhưng ít ra với tôi lúc nào tiếng Việt cũng là “Tiếng Việt mến yêu” bởi vì với những câu đầu đời học trò như “Tiên học lễ hậu học văn” và “thương người như thể thương thân”, Tiếng Việt dạy tôi điều quan trọng nhứt trong cuộc đời là học sống cho ra người “có đạo” và tử tế.








Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2018

Những bộ lạc bán khai: cần khai hóa hay bảo vệ?



30/11/18
Mới đây, một nhà truyền giáo người Mỹ tên là John Allen Chau, đã bị một bộ lạc bán khai trong vùng Vịnh Bengal giết chết khi ông tìm cách xâm nhập vào lãnh thổ của họ để cải đạo họ. Cái chết đáng thương của nhà truyền giáo này nêu lên vấn đề: liệu có nên khai hóa các bộ lạc còn bán khai hay tìm cách bảo vệ họ?
Bước vào Thế kỷ 21, tiến trình toàn cầu hóa đã làm cho các dân tộc và văn hóa khác nhau xích lại gần nhau hơn. Tuy nhiên vẫn còn có nhiều nơi và nhiều bộ lạc chưa được thế giới bên ngoài biết đến.
Sentinelese là một trong những bộ lạc đó. Sống cô lập trên một hòn đảo mất hút trong Ấn Độ Dương, bộ lạc này không muốn tiếp xúc với ánh sáng văn minh của thế giới bên ngoài. Có lẽ đây là lý do khiến họ đã giết nhà truyền giáo John Allen Chau. Theo chính quyền địa phương tại Ấn Độ, vì mọi tiếp xúc với bộ lạc này đều bị nhà cầm quyền Ấn Độ ngăn cấm, cho nên những người đã giết nhà truyền giáo Mỹ sẽ không bị truy tố trước pháp luật. Tuy nhiên, 7 người đánh cá đã bị bắt giữ vì đưa nhà truyền giáo vào vùng đất cấm này.
Bộ lạc Sintinelese sống trong một tình trạng cô lập gần như tuyệt đối khiến thế giới bên ngoài biết rất ít về họ. Hòn đảo nhỏ mà bộ lạc này chiếm cứ chỉ rộng khoảng 60 cây số vuông và cách lục địa Ấn Độ chừng 1200 cây số. Hòn đảo này thuộc về Ấn Độ kể từ năm 1947, sau khi quốc gia này giành được độc lập khỏi sự đô hộ của Anh Quốc. Theo ước tính, dân số hiện nay của bộ lạc Sentinelese chỉ có khoảng từ 50 đến 150 người. Họ vẫn tiếp tục sống bằng săn bắn và hái nhặt. Họ cũng có một ngôn ngữ riêng, hoàn toàn không thể hiểu được đối với thế giới bên ngoài.
Các chuyên gia cho rằng người Sentinelese đã từ Phi Châu di cư đến hòn đảo này cách đây khoảng 50.000 năm, nhưng cho tới nay cuộc sống của họ hoàn toàn bí ẩn đối với bên ngoài. Những không ảnh chụp được từ máy bay và vệ tinh không cho thấy có bất cứ dấu hiệu nào về nông nghiệp. Người Sentinelese cũng biết sử dụng kim khí, nhưng đó là thứ kim khí họ nhặt được từ những chiếc tàu bị đắm và trôi dạt vào bờ biển của họ.
Như cái chết đáng thương của nhà truyền giáo Mỹ chứng minh, người Sentinelese không thích người của thế giới bên ngoài xâm nhập vào lãnh thổ của họ. Năm 1996, Chính phủ Ấn Độ đã tìm cách tiếp xúc với họ, nhưng mọi cố gắng đều thất bại. Kể từ đó, mỗi khi thấy có ghe thuyền lạ tấp vào bờ, họ đều dùng cung tên bắn ra.
Năm 2006, có 2 ngư phủ đã đánh cá một cách bất hợp pháp xung quanh đảo của bộ lạc Sentinelese. Hai người này đã bị họ giết chết. Vì tôn trọng ý muốn của người Sentinelese là không muốn tiếp xúc với thế giới bên ngoài cho nên Chính phủ Ấn Độ đã ban hành luật theo đó bất cứ thuyền bè nào đến gần hòn đảo của họ khoảng 5 cây số đều bị xem là một hành động bất hợp pháp.
Sentinelese không phải là bộ lạc duy nhất trên trái đất không muốn tiếp xúc với ánh sáng văn minh của thế giới ngày nay. Hiện vẫn còn có cả trăm bộ lạc như thế rải rác trên khắp năm châu.
Vào năm 2016, đang khi bay lượn trên khu rừng già Amazon của Ba Tây, Châu Mỹ La Tinh, một chiếc máy bay thám thính đã chụp được một số tấm ảnh về bộ lạc Moxinhatetema. Bộ lạc này vẫn cương quyết chiến đấu để chống lại bất cứ một sự xâm nhập nào từ thế giới bên ngoài. Bên cạnh họ, cũng còn có nhiều bộ lạc khác muốn tiếp tục một cuộc sống cô lập như thế. Theo ước tính, trong khắp khu rừng già Amazon có khoảng từ 200 đến 250 ngôi làng với dân số tổng cộng lên đến 35.000 người.
Mặc dù bị bao vây bởi những nhóm khai thác mỏ bất hợp pháp, những bộ lạc này vẫn tiếp tục duy trì nếp sống truyền thống của họ. Họ tẩy chay mọi thứ tiện nghi mà thế giới kỹ nghệ hóa có thể mang lại cho họ.
Theo bà Fiona Watson, cựu giám đốc của Tổ chức Quốc tế  có tên là “Survival International” chuyên mở chiến dịch tranh đấu để bảo vệ quyền của các bộ lạc bán khai, hiện trên toàn thế giới vẫn còn khoảng 100 bộ lạc chưa hề tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Phần lớn đều sống trong khu rừng già Amazon. Ngoài ra, tại một số nơi khác tại Nam Mỹ cũng như ở Á Châu, cũng có một số bộ lạc như thế. Bà Watson nói rằng bao lâu vùng đất của họ được bảo vệ thì các bộ lạc này vẫn có thể tiếp tục sống còn. Nhưng hiện nay các hoạt động khai thác mỏ và đốn gỗ lậu là một trong những mối đe dọa lớn đối với các bộ lạc này.
Dạo tháng Tám vừa qua, Cơ quan FUNAI ( Fundacão National do Indio : Sáng hội bảo vệ người thổ dân) của Chính phủ Ba Tây chuyên bảo vệ quyền lợi và văn hóa của người thổ dân, đã chia sẻ một số không ảnh chụp được từ những chiếc máy bay không người lái. Những không ảnh này vén mở được phần nào cuộc sống cô lập của một bộ lạc đang sống trong thung lũng Javari, nằm sát biên giới Ba Tây và Peru. Những bức ảnh cho thấy một túp lều, những chiếc thuyền nhỏ và một số dụng cụ của các bộ lạc thổ dân. Nằm dọc theo sông Javari, thung lũng Javari là nơi cụ ngụ của 8 bộ lạc được biết đã có tiếp xúc với thế giới bên ngoài và 11 bộ lạc khác hiện vẫn còn trong tình trạng hoàn toàn bị hay tự cô lập.
FUNAI  là một cơ quan được Chính phủ Ba Tây cho thành lập vào năm 1910. Từ đó đến nay, mỗi khi có dịp tiếp xúc với các bộ lạc thổ dân, những người làm việc cho cơ quan này luôn hành động theo tôn chỉ: “Nếu cần thì chết chứ đừng bao giờ sát hại”.
Lý do khiến một số bộ lạc tỏ ra bài ngoại và bạo động là vì họ đã từng bị bóc lột và hành hung.
Cũng có một số bộ lạc tự ý tìm đến với thế giới bên ngoài. Đó là trường hợp của bộ lạc Xinane, hiện đang sống trong thung lũng Javari, trong phần đất thuộc về Peru. Những thước phim do cơ quan FUNAI thu được cho thấy những người đàn ông thuộc bộ lạc này đã tìm đến những làng lân cận để xin chuối. Trong những thước phim này, người ta nghe được một người thanh niên ngỏ ý đi tìm phụ nữ và một thanh niên khác cầm một khẩu súng trên tay. Có thể đây là khí giới mà họ đã tịch thu được từ một nhóm người đã xâm nhập vào lãnh thổ của họ.
Nhìn chung, hầu như bộ lạc nào cũng muốn bảo vệ lối sống và truyền thống riêng của họ. Năm 1987, có một giám mục công giáo và một nữ tu muốn đi truyền đạo cho bộ lạc Waorani tại Ecuador. Theo tường thuật của báo The Washington Post, cả hai nhà truyền giáo này đã bị người Waorani bắt giữ và mang đi sát tế theo một nghi thức rất dã man.
Sau vụ này, nhiều người trong bộ lạc đã bị cưỡng bách phải rời khỏi nơi cư ngụ của họ để nhượng đất cho việc khai thác dầu.
Theo Tổ chức “Survival International”, tại Paraguay, Ayoreo là một bộ lạc tương đối có đông dân số. Bộ lạc này đã được tiếp xúc và đồng hóa với xã hội bên ngoài. Tuy nhiên, vẫn còn một số trong họ cương quyết không chịu rời bỏ lãnh thổ của họ. Vào thập niên 1970, một tổ chức truyền giáo cực đoan của Mỹ đã xâm nhập vào cứ địa này. Cuộc gặp gỡ giữa những nhà truyền giáo cực đoan và người Ayoreo đã khiến cho nhiều người chết và sau đó một số người Ayoreo chết vì dịch bệnh do người Tây Phương mang đến.
Cho đến nay, người ta biết rất ít về những bộ lạc cô lập trong vùng Javari và người ta cũng bỏ cuộc trong những cố gắng tiếp xúc và tìm hiểu họ. Những chiếc máy bay thám thính cho thấy các bộ lạc này sống bằng săn bắn và trồng trọt. Họ cũng biết dùng những dụng cụ được làm bằng kim khí.
Số phận của bộ lạc Matis, một trong những bộ lạc sống trong thung lũng Javari, đã khiến chính phủ Ba Tây thay đổi chính sách về việc cưỡng bách họ phải tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Chỉ trong vài tuần lễ sau khi các viên chức chính phủ viếng thăm họ lần đầu tiên, dịch bệnh đã sát hại toàn bộ 3 ngôi làng. Đứng trước một tai họa như thế, Chính phủ Ba Tây đã ra lệnh chấm dứt mọi cố gắng tiếp tục với họ.
Ngoài  dịch bệnh từ thế giới bên ngoài, người thổ dân còn bị đe dọa nhiều hơn bởi những hoạt động khai thác hầm mỏ và đốn gỗ.
Ngoài Ấn Độ và Châu Mỹ La Tinh, một nơi khác vẫn còn nhiều bộ lạc bán khai là New Guinea. West Guinea là một vùng được biết hiện có khoảng 312 bộ lạc. Một số bộ lạc đã có tiếp xúc với thế giới bên ngoài cho biết vẫn còn nhiều bộ lạc khác đang sống hoàn toàn cô lập trên các vùng cao nguyên.
Tiếp xúc với những bộ này không phải là dễ dàng. Michael Rockefeller, người con trai của Phó tổng thống Mỹ Nelson Rockefeller, đã mất tích khi quay phim về bộ lạc Asmat tại New Guinea.
Với 25.000 người,  Dani được xem là bộ lạc lớn nhất trong vùng cao nguyên của Papua. Trong khi cố gắng gia tăng tiếp xúc với thế giới bên ngoài, bộ lạc này vẫn muốn duy trì văn hóa và truyền thống của họ. Bộ lạc này sống bằng trồng trọt và chăn nuôi. Bên cạnh đó, họ vẫn tiếp tục giữ một số tập tục như che đầu dương vật, ướp xác người già bằng khói và chặt ngón tay để tưởng nhớ những người đã bị giết trong chiến tranh.
Rất tự hào về truyền thống của mình, họ xem các dụng cụ bằng kim khí của thế giới bên ngoài thua kém dụng cụ bằng đá của họ, được sử dụng để biểu diễn cũng như mưu cầu cuộc sống.
Về việc liệu có nên khai hóa hay bảo vệ các bộ lạc, hiện đang có 2 ý kiến khác nhau. Có người cho rằng về lâu về dài các bộ lạc không thể tồn tại trong tình trạng cô lập. Những người có chủ trương này cho rằng giúp các bộ lạc hội nhập vào xã hội văn minh của thế giới ngày nay là một hành động nhân đạo và đạo đức: chỉ nhờ tiếp xúc với thế giới bên ngoài, các bộ lạc này mới có thể tồn tại và sinh sôi nẩy nở cũng như chống chọi với nạn khai thác mỏ và đốn gỗ bất hợp pháp.
Tuy nhiên, đối lại với chủ trương này, một số người khác cho rằng không nên lập lại những sai lầm trong quá khứ khi các nhà truyền giáo và các nhân viên chính phủ được khuyến khích gặp gỡ các bộ lạc một cách ôn hòa. Họ đã mang đến cho người thổ dân kim khí, thuốc than, gương soi mặt và Kinh Thánh, nhưng đồng thời cũng mang theo vô số vi khuẩn là nguyên nhân giết hại chính những người mà họ muốn “cứu thoát”.
Đây chính là lý do tại sao cùng với Ấn Độ và Nam Dương, Chính phủ Ba Tây đã đề ra chính sách bảo vệ đất đai của những bộ lạc bán khai và cho phép họ được tiếp tục sống trong tình trạng cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài.

(nguồn:
https://www.news.com.au/technology/environment/conservation/the-mysterious-tribes-clinging-to-their-ancient-ways/news-story.
https://edition.cnn.com/2018/11/22/asia/most-isolated-tribes-missionary-scli-intl/index.html)