Thứ Hai, 17 tháng 9, 2018

Đảo quốc Nauru: khi nguồn khoáng sản đã cạn kiệt!



14/09/18
Mới đây đảo quốc nhỏ bé mất hút trong Thái Bình Dương là Nauru đã làm cho người khổng lồ Trung Cộng phải giận dữ. Số là tại Hội nghị của Diễn Đàn Các Đảo Quốc Thái Bình Dương gọi tắt là PIP (Pacific Islands Forum) được tổ chức tại Nauru hồi đầu tháng Chín vừa qua, trưởng đoàn ngoại giao của Trung Cộng tại Hội nghị đã yêu cầu ban tổ chức phải sắp xếp cho mình được phát biểu đầu tiên. Trung Cộng muốn được ưu tiên như thế vì đã bỏ ra gần hai tỷ Mỹ tim để viện trợ cho nhiều nước thuộc Diễn Đàn Các Đảo Quốc Thái Bình Dương. Nhưng vốn là nước chủ nhà, lại không có quan hệ ngoại giao chính thức với Trung Cộng, cho nên Nauru đã thẳng thừng bác bỏ đòi hỏi này của Trung Cộng. Được biết Nauru vẫn giữ quan hệ ngoại giao với Đài Loan, một nước mà Trung Cộng chỉ xem như một tỉnh phản loạn. Vì Nauru không có quan hệ ngoại giao chính thức với Trung Cộng cho nên tổng thống nước này, ông Baron Waqa đã xem thái độ của trưởng đoàn ngoại giao Trung Cộng là “xấc xược” và “lợi dụng sức mạnh để bắt nạt”.
Thế giới có lẽ biết đến Nauru qua thái độ cứng rắn của tổng thống nước này trước lối hành xử “xấc xược” của Trung Cộng. Nhưng tên của Nauru lại quá quen thuộc với người dân Úc, bởi vì nói đến Nauru, ai cũng nghĩ ngay  đến trung tâm giam giữ người tầm trú tại Nauru do Chính phủ Úc cho thiết lập và trả tiền cho Chính phủ Nauru để quản lý. Trung tâm giam giữ người tầm trú Nauru nổi tiếng không những vì một chính sách di trú gây tranh cãi của Chính phủ Úc, mà còn vì đây là nguồn thu nhập chính của Nauru.
Trước đây nền kinh tế èo uột của Nauru chỉ dựa vào việc khai thác quặng mỏ phosphate. Với dân số chỉ vỏn vẹn có 10.000 dân, vậy mà kể từ thập niên 1970, khi nguồn khoáng sản đã cạn kiệt, nền kinh tế của Nauru hầu như đang trên đà sụp đổ.
Hiện dưới lòng biển Nauru vẫn còn những quặng mỏ có chứa một số kim khí như nickel, cobalt và manganese là những chất rất cần cho kỹ nghệ năng lượng sạch. Đây có thể là cái phao cứu hộ cho một nền kinh tế đang hấp hối. Nhưng phải chờ cho đến năm 2025, một số công ty ngoại quốc như DeepGreen của Gia Nã Đại mới khởi công khai thác.
Trong khi chờ đợi, Nauru chỉ còn biết trông chờ vào một nguồn thu nhập èo uột từ trung tâm giam giữ người tầm trú do Úc Đại Lợi cho thiết lập trên chính lãnh thổ của mình. Kể từ năm 2013, khi trung tâm giam giữ và thanh lọc người tầm trú được mở cửa trở lại, Úc Đại Lợi đã và đang cung cấp khoảng hai phần ba tổng sản lượng của Nauru trị giá khoảng 170 triệu Mỹ kim. Đây là tiền viện trợ cũng như phí tổn phải trả cho Chính phủ Nauru để mướn đất và thuê người quản lý trung tâm.
Tuy nhiên, con số người tầm trú được Chính phủ Úc đưa đến trung tâm giam giữ và thanh lọc tại Nauru ngày càng thưa dần. Một số được đi định cư ở Mỹ, một số được đưa trở lại Úc. Trung tâm ngày càng trống, điều đó có nghĩa là thu nhập của Nauru cũng ngày càng ít hơn. Nền kinh tế vốn đang sống dựa vào thu nhập này lại phải lao đao.
Trước đây, Nauru vốn là một trong những quốc gia giàu nhất  trên thế giới nếu tính theo thu nhập đầu người. Nhưng nay, đảo quốc này chỉ còn gợi lên cho thế giới lịch sử của một thời thực dân bóc lột, đê tiện và quản lý kém.
Năm 1968, Úc Đại Lợi trao lại chủ quyền cho Nauru sau khi Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan và Anh Quốc đã khai thác đến cạn kiệt quặng mỏ phosphate của nước này và gây ra những thảm họa tồi tệ nhất về môi sinh.
Được biết đến với tên chính thức là Cộng hòa Nauru, quốc gia hải đảo này đã từng là nơi định cư của người Micronesia và Polynesia từ cả một ngàn năm trước Công nguyên. Vào Thế kỷ 19, Nauru bị sáp nhập và xem như một thuộc địa của Đế quốc Đức. Sau Đệ nhất Thế chiến, Nauru được giao ba nước Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan và Vương quốc Anh đồng cai trị. Trong thời Đệ nhị Thế chiến, Nauru bị quân đội Nhật Bản chiếm đóng. Sau chiến tranh, Nauru được giao cho Liên Hiệp Quốc điều hành và năm 1968, nước này mới chính thức trở thành một quốc gia độc lập.
Thoạt nhìn, Nauru trông chẳng khác nào một thiên đàng trong Thái Bình Dương. Nhưng việc khai thác phosphate đã biến Nauru thành một vùng đất lồi lõm không những không còn phù hợp cho việc canh tác mà cũng khó khăn cho cả việc xây cất.
Ít nhất hai lần, vào năm 1963 và năm 1970, Chính phủ Úc đã đề nghị đưa 10.000 dân Nauru đến định cư tại một vùng đảo ngoài khơi tiểu bang Queensland, nhưng kế hoạch này đã bị dân chúng Nauru phản đối.
Vào cao điểm, thu nhập từ quặng mỏ phosphat có thể lên đến 1.7 tỷ Úc kim. Nhưng kể từ ngày Nauru được độc lập, khoản thu nhập này đã bị phung phí.
Vào khoảng năm 2002, lấy lý do đồng Úc kim xuống giá, Nauru  tuyên bố phá sản và không đủ khả năng để trả nợ. Tài sản ở nước ngoài như tòa nhà Nauru House tại Melbourne và Downtowner Motel tại Carlton và Khách sạn Mercure tại Sydney bị truất hữu. Nhiều chính phủ kế tiếp nhau vừa tham nhũng vừa tiêu pha công quỹ một cách hoang phí. Ngân hàng Trung ương vỡ nợ, bất động sản ở hải ngoại bị truất hữu, ngay cả máy bay cũng bị tịch thu ngay trên phi đạo.
Trong tình thế tuyệt vọng như thế, Nauru chỉ còn biết đưa ra lá bài “chủ quyền quốc gia”. Trong thập niên 1990, quốc gia hải đảo này đã biến thành một nơi rửa tiền. Chính phủ Nauru bán tất cả những gì còn bán được như sổ thông hành, thông hành ngoại giao với quyền miễn tố. Khách hàng của Nauru dĩ nhiên là Mafia Nga và ngay cả tổ chức khủng bố Al-Qaida. Chỉ trong năm 1998, đã có khoảng 70 tỷ Úc kim của Mafia Nga được rót vào các ngân hàng của Nauru.
Năm 2002, cùng với Ukraine, Nauru đã bị Hoa Kỳ đưa vào danh sách  những nước chuyên rửa tiền và bị áp đặt những trừng phạt kinh tế nặng nề. Theo Bộ Ngân Khố Hoa Kỳ, Nauru nổi tiếng về việc cho phép thành lập những ngân hàng ma.
Phải mất một thời gian điều tra và làm việc với Chính phủ Nauru, Cơ quan Đặc nhiệm Tài chính Quốc tế gọi tắt là FATF mới có thể đưa nước này trở lại “khuôn phép” của thế giới tài chính thế giới. Năm 2002, Nauru đã thông qua luật chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố. Các ngân hàng ma cũng nhanh chóng bị xóa sổ.
Tuy nhiên, năm 2016, nại lý do Nauru chưa tuân thủ các quy định của  thế giới về việc rửa tiền, ngân hàng Westpac đã gởi thư cho các khách hàng để loan báo rằng ngân hàng chấm dứt các dịch vụ tại Nauru. Hiện nay tại Nauru ngân hàng duy nhất còn hoạt động là ngân hàng Bendigo, vốn chỉ mới khai trương vào năm 2015.
Cách đây vài tuần lễ, Bộ trưởng Tài chính Nauru, ông David Adeang, loan báo rằng Nauru hoàn toàn tuân thủ các quy định về an ninh tài chính và thuế khóa của Ủy ban Âu Châu và đã được đưa ra khỏi danh sách những nước chuyên rửa tiền.
Bộ trưởng Tài chính Nauru khẳng định rằng kể từ khi ông Waqa được bầu làm tổng thống, Nauru đã nỗ lực để gỡ lại danh dự vốn đã bị làm cho hoen ố bởi các chính phủ trước vì tham nhũng.
Kinh tế của Nauru cũng đã có phần khởi sắc kể từ năm 2013 nhờ cho phép Úc tái lập trung tâm giam giữ và thanh lọc người tầm trù trên lãnh thổ của mình.
Chính phủ Úc Đại Lợi đã thử nghiệm việc giam giữ và thanh lọc người tầm trú tại Nauru kể từ năm 2001, sau biến cố thường được mệnh danh là cuộc khủng hoảng Tàu Tampa. Tháng Tám năm 2001, một chiếc tàu hàng của Na Uy tên là MV Tampa vớt 433 thuyền nhân, phần lớn là người Hazara từ A Phú Hãn. Chính phủ Úc đã từ chối thỉnh cầu của Tàu Tampa được phép đi vào lãnh hải Úc. Do đó, khi tàu Tampa đi vào lãnh hải Úc, Thủ tướng John Howard đã ra lệnh cho lực lượng đặc nhiệm của Úc xông lên tàu. Chính phủ Na Uy đã nại đến công pháp quốc tế để tố cáo chính phủ không thi hành nghĩa vụ phải cứu giúp những người đang gặp nạn trên biển. Chỉ vài ngày sau đó, Chính phủ Úc đã thông qua Luật bảo vệ biên giới (Border Protection Bill) theo đó, để khẳng định chủ quyền của mình, Úc Đại Lợi có quyền “quyết định ai được phép vào và cư ngụ tại Úc Đại Lợi”. Song song với luật này, chính phủ Úc cũng đưa ra điều được gọi là “Giải pháp Thái Bình Dương” (Pacific Solution) theo đó người tầm trú sẽ được đưa qua Đảo quốc Nauru để được thanh lọc. Úc Đại Lợi đã thương lượng với Chính phủ Nauru và Papua New Guinea để thành lập hai trung tâm giam giữ và thanh lọc người tầm trú.
Tại Nauru, trung tâm giam giữ và thanh lọc người tầm trú đã hoạt động cho đến năm 2007. Trong suốt thời gian này, việc thanh lọc cho thấy hầu hết những người tầm trú không phải là những người phạm pháp hay khủng bố, mà là những người đã trốn chạy các cuộc bách hại cần được bảo vệ. Phần lớn đã được cho tái định cư tại Úc Đại Lợi.
Dưới thời Chính phủ Lao Động, trung tâm giam giữ và thanh lọc người tầm trú tại Nauru được mở cửa trở lại. Năm 2012, khi trở lại cầm quyền, Chính phủ Liên Đảng cũng tiếp tục cùng một chủ trương, nghĩa là giam giữ người tầm trú tại Nauru với hy vọng họ sẽ bỏ cuộc và xin định cư tại đảo quốc này. Chính sách này bị chỉ trích từ nhiều phía. Các ký giả ngoại quốc không được phép vào trung tâm để làm phóng sự.
Việc giam giữ người tầm trú tại Nauru rất tốn kém. Năm 2017, một Ủy ban Thượng viện Úc nhận được một bản phúc trình cho biết kể từ năm 2012, việc giam giữ người tầm trú tại Nauru và đảo Manus của Papua New Guinea (PNG) đã ngốn của ngân sách liên bang ít nhất 5 tỷ Úc kim.
Từ số tiền khổng lồ này chỉ có một số nhỏ góp phần vào việc phát triển kinh tế của Nauru và PNG. Phần lớn được chi cho việc bảo trì, trả lương cho nhân viên làm việc trong trung tâm, phí tổn pháp lý và y tế v.v.
Nhưng dù sao Nauru vẫn là quốc gia hưởng lợi nhiều nhất. Chính phủ Nauru nhận được tiền cho việc định cư người tầm trú, các dịch vụ công cộng, công ăn việc làm cho người dân địa phương. Nói chung, kinh tế của Nauru gia tăng nhờ trung tâm giam giữ người tầm trú.
Kinh tế của Nauru hầu như hoàn toàn lệ thuộc vào Úc Đại Lợi và chính sách giam giữ người tầm trú tại Nauru của nước này. Ngân sách 2018-2019 của Nauru cho thấy Úc Đại Lợi phải gánh lấy ít nhất hai phần ba thu nhập của Nauru. Năm vừa qua, sự đóng góp của Úc vào tổng sản lượng của Nauru lên đến 165 triệu Úc kim. Ngoài ra, trong năm tài khóa 2018-2019, Úc viện trợ cho Nauru 26 triệu Úc kim.
Khách du lịch Úc cũng mang lại một sức sống mới cho hãng hàng không Nauru Ailines. Hiện nay, Ngân hàng Phát triển Á Châu và Úc Đại Lợi đang tài trợ cho Nauru để tân trang hải cảng duy nhất của Nauru. Trong khi chờ đợi, phương tiện di chuyển duy nhất để đến quốc gia hải đảo này là máy bay.
“Lộ phí” hàng không hiện đang là một nguồn thu nhập đáng kể đối với Nauru. Nhưng một khi nguồn khoáng sản đã cạn kiệt, một khi chỗ dựa là trung tâm giam giữ người tầm trú không còn hoạt động nữa, thì liệu nguồn thu nhập từ “lộ phí” hàng không có đủ để vực dậy nền kinh tế của quốc gia hải đảo này không?


(theo: https://www.theguardian.com/world/2018/sep/04/corruption-incompetence-and-a-musical-naurus-riches-to-rags-tale)





Thứ Tư, 12 tháng 9, 2018

Chuông chùa, chuông giáo đường


Chu Thập
07/09/18

Khi một nhân vật lịch sử nằm xuống, người ta thường thu thập những giai thoại về họ. Về cố thượng nghị sĩ Mỹ John McCain, người ta thường nhắc đến câu chuyện có liên quan đến quyển tiểu thuyết nổi tiếng của văn hào Ernest Hemingway có tựa đề “For Whom the Bell Tolls” (Chuông gọi hồn ai đó), được xuất bản hồi năm 1940. Chuyện kể về một thanh niên Mỹ tên là Robert Jordan đã tình nguyện gia nhập vào Đội quân Quốc tế theo phe Cộng Hòa để chống lại phe Quốc gia do nhóm Phát xít yểm trợ trong cuộc chiến Tây Ban Nha (1936-1939).
Năm lên 12 tuổi, tình cờ nhặt được hai chiếc lá thật đẹp từ một cành cây trước nhà, cậu thiếu niên McCain đã chạy vội vào phòng đọc sách của cha mình để tìm một cuốn  sách hầu ép những chiếc lá này. Cậu muốn giữ những chiếc lá như một kỷ vật mang lại may mắn. Cuốn sách mà cậu tìm thấy trước tiên chính là quyển tiểu thuyết “Chuông gọi hồn ai đó” của văn hào Hemingway. Trang sách cậu tình cờ mở ra lại nằm ngay trong chương 10 của quyển sách. Đây là trang mô tả về sự tàn ác của chiến tranh. Cậu đã bị lôi cuốn tức khắc và đã đọc hết cuốn sách. Nhân vật Robert Jordan đã gợi lên trong cậu một niềm cảm hứng sâu xa: cậu mơ ước mình cũng có được “lòng can đảm và tinh thần cao thượng” như nhân vật chính của cuốn sách.
Trong cuốn hồi ký có tựa đề “Worth the Fighting For” (Một cuộc chiến xứng đáng để chiến đấu cho), được xuất bản năm 2002, Thượng nghị sĩ McCain đã viết như sau: “Từ rất lâu, Robert Jordan là một nhân vật mà tôi ngưỡng mộ hơn hầu hết mọi người khác trong đời sống thật cũng như trong tiểu thuyết. Anh ta là một người gan dạ, luôn quyết tâm và có khả năng, lại biết hy sinh quên mình, anh có đầy đủ những tính chất làm nền tảng cho lòng can đảm mà tác giả Hemingway đã mô tả như là một nét dễ thương khi đứng trước áp lực, một người đàn ông sẵn sàng hy sinh tính mạng chứ không bao giờ chịu bán rẻ danh dự của mình” (x. http://thoibao.com/chuong-goi-hon-john-mccain/).
Thời trung học, tôi chưa có đủ khả năng để đọc nguyên bản “Chuông gọi hồn ai đó” bằng Anh ngữ. Nhưng bản dịch bẳng tiếng Pháp “Pour qui sonne le glas”, thì tôi lại rất quen thuộc. Quả thật, câu chuyện gợi lên nhiều cảm hứng cho giới trẻ. Nhưng với riêng tôi, cứ mỗi lần nghe nhắc đến tựa đề của quyển tiểu thuyết, tôi lại nhớ đến tiếng chuông chùa và chuông giáo đường trong làng tôi.
Làng tôi, một làng quê thuộc tỉnh Khánh Hòa, miền Trung Việt Nam, là một trong những ngôi làng có truyền thống “tôn giáo đề huề” nhứt.  Một nửa họ hàng của tôi theo Công giáo, một nửa theo Phật giáo hay Đạo ông bà. Bên ngoài nhà thờ hay nhà chùa, ai cũng đều là ông bà, cô bác, cô dì, anh chị em với nhau. Biểu tượng của 2 tín ngưỡng nổi bật trong làng tôi là tiếng chuông chùa và chuông giáo đường. Sáng tối trưa chiều, hầu như ngày nào tôi cũng “phải” nghe tiếng chuông. Bên kia con sông Con chia cách làng làm hai là tiếng chuông chùa. Bên này bờ sông là tiếng chuông nhà thờ.
Tiếng chuông chùa nghe âm u, buồn thảm, nhứt là những ngày mưa gió, nhưng cũng luôn có sức gợi lên ray rứt và sám hối. Trong một truyện viết về một vùng nông thôn, nhà văn Nguyễn Khải trong nước đã nói đến sức mạnh cải hóa của tiếng chuông chùa. Vào giữa lúc chế độ cộng sản có thái độ nghi kỵ cũng như nỗ lực tiêu diệt tôn giáo, nhà văn Nguyễn Khải kể lại câu chuyện của một ông huyện ủy được bổ nhiệm về một vùng quê. Một trong những công tác đầu tiên của ông là cho sửa lại một ngôi chùa đổ nát, sau đó mời một nhà sư về tụng kinh gõ mõ. Ông huyện ủy tin rằng sớm một hồi chuông, tối một hồi chuông, tên cướp nào, dù sừng sỏ đến đâu, nghe mãi rồi có lúc cũng phải hồi tâm.
Tiếng chuông từ giáo đường của tôi có đủ âm điệu vui buồn. Nhưng hình như buồn nhiều hơn vui. Tuần bảy ngày có đến sáu buổi sáng tôi phải nghe “tiếng chuông gọi hồn” từ tháp chuông nhà thờ của tôi. Thời đó, sáng  nào trong nhà thờ cũng có “lễ mồ”, tức lễ cầu hồn. Người ta dựng lên một ngôi mồ giả giữa nhà thờ. Mồ giả được phủ bằng một lớp vải đen được vẽ lên với mọi cảnh của tang chế như những giọt nước mắt, những chiếc đầu lâu, những chiếc xương...Trên bàn thờ cũng như các cây cột trong nhà thờ, người ta treo toàn những tấm liễn màu đen...5 giờ sáng, tiếng cầu kinh của vị linh mục và cung điệu buồn thảm bằng tiếng La Tinh của ca đoàn được kèm theo những tiếng chuông cứ mỗi phút gõ đều một cái. Lễ cầu cho người quá cố cũng là một lời mời gọi hồi tâm và sám hối!
Nhưng buồn thảm nhứt vẫn là tiếng chuông bất thần vang lên từng tiếng đứt quãng giữa ban ngày. 9 tiếng báo hiệu có một phụ nữ trong xóm đạo vừa thở hơi cuối cùng. Còn 7 tiếng thì nghe khủng khiếp hơn: một người đàn ông, nhứt là một người lính chết trận bất thần được đưa về gia đình mà không có một lời báo trước.
Tôi không biết tựa đề “Chuông gọi hồn ai đó” của quyển tiểu thuyết của nhà văn Hemingway có gợi lên trong Thượng nghị sĩ McCain cùng những cảm xúc và suy nghĩ như tôi không. Chỉ biết rằng suốt cuộc đời binh nghiệp và chính trị của ông, lúc nào ông cũng nhập vai một trách trọn vẹn vào nhân vật Robert Jordan của quyền tiểu thuyết. Trong đám tang của ông, nhiều người đã nói đến những đức tính và lý tưởng cao đẹp mà ông là hiện thân. Dù không muốn nhìn nhận ông là một anh hùng quốc gia đi nữa thì ít ra cũng không thể hẹp hòi đến độ không dành cho ông sự kính trọng vì lòng can đảm, tính cương trực, tấm lòng vị tha  và sự công minh của ông. Có người tôn ông lên bậc quân tử. Cũng có người so sánh ông với cố Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Kofy Anan và gọi ông là người chính trực.
Quả thực ông có nhiều đức tính để tôi nhìn vào như một tấm gương. Tuy nhiên, với tôi ông cũng chỉ là một con người như mọi người khác, nghĩa là cũng từng có những yếu đuối, lầm lẫn, sai lạc. Trong những ngày cuối đời, ông đã cố gắng viết một di chúc để lại cho nhân dân Mỹ. Ở ngưỡng cửa của sự chết, nhìn lại cuộc đời, con người thường tỏ ra sáng suốt hơn lúc nào hết cho nên họ thường nói lên những điều khôn ngoan. Trong di chúc của Thượng nghị sĩ McCain tôi chú ý đến câu ông viết trong phần mở đầu: “Tôi đã cố gắng phục vụ đất nước trong danh dự. Tôi đã có những sai lầm, nhưng tôi hy vọng rằng tình yêu của tôi đối với nước Mỹ sẽ được tính để bù sớt cho những sai lầm đó”. Trong dòng kế tiếp, ông nhắc lại: “Cũng như hầu hết mọi người, tôi cũng đã có những hối tiếc”.
Đọc những lời tự thú trên đây và nghe văng vẳng bên tai “Chuông gọi hồn ai đó”, tôi cho rằng  chân dung của Thượng nghị sĩ McCain đã tỏa sáng hơn khi ông nhìn nhận mình đã có những yếu đui, sai lầm. Suốt cuộc đời, ông đã sống can đảm. Cuối đời, ông lại càng tỏ ra can đảm hơn khi thú nhận mình đã có lúc sai lầm. Theo ngôn ngữ tôn giáo, ông đã tỏ lòng sám hối. Sám hối, hiểu một cách thấu đáo, chính là dám đào sâu trong lương tâm của mình và nhìn nhận sự thật. Nhìn nhận sự thật, sống chết cho sự thật...đó mới thực sự là can đảm.
Thời buổi này, có lúc tôi cảm thấy hoang mang vì không biết rồi đây “sự thật” sẽ đi về đâu. Nhứt là mới đây, trong một cuộc phỏng vấn trên đài NBC ở Mỹ, luật sư riêng của Tổng thống Donald Trump là ông Rudolph Giuliani , khi tìm cách biện minh cho thân chủ của mình, đã tuyên bố: “Sự thật không phải là sự thật” (Truth isn’t truth).  Hồi năm ngoái, sau khi tuyên thệ nhậm chức, Tổng thống Trump khẳng định rằng số người tham dự lễ đăng quang của ông đông hơn nhiều so với số người tham dự lễ tuyên thệ nhậm chức của người tiền nhiệm ông là Tổng thống Barack Obama. So sánh 2 bức ảnh chụp được về 2 buổi lễ, ai cũng thấy số người tham dự lễ tuyên thệ của Tổng thống Obama đông hơn nhiều so với số người tham dự lễ đăng quang của Tổng thống Trump. Nhưng vị nữ cố vấn thân cận của Tổng thống Trump là bà Kellyanne Conway lại khẳng định rằng Tổng thống Trump hoàn toàn đúng, bởi vì có những sự kiện mà bà gọi là “sự kiện khác” (alternative facts).
Thú thật, tôi chẳng hiểu “sự kiện khác” là gì. Kể từ đó, tôi luôn cảm thấy hoang mang khi người ta nói về “sự thật”. Có sự thật không? Sự thật là gì? Trả lời cho một câu hỏi như thế đâu có đơn giản. Thời mới bước chân vào ngưỡng cửa triết học, hai môn nhập môn tôi phải học là luận lý học và tri thức luận và câu hỏi đầu tiên tôi phải bù đầu bứt tóc để trả lời là: sự thật là gì?  Định nghĩa kinh điển nhứt về sự thật mà tôi học được là: sự tương hợp của trí tuệ và sự vật (adaequatio intellectus et rei). Tôi chẳng bao giờ thỏa mãn về định nghĩa này. Sự vật hay thực tại mà trí khôn của tôi tiếp cận với qua các giác quan hay qua chứng từ của người khác thường được nắm bắt bằng nhận thức của tôi. Mà nhận thức của tôi có khi lại rất giới hạn.
Thời xa xưa, trái đất bằng phẳng và mặt trời quay xung quanh trái đất đã chẳng là một “sự thật” hiển nhiên đó sao? Nếu các nhà khoa học không chứng minh ngược lại thì có lẽ nhân loại vẫn cứ tiếp tục bám vào “sự thật” ấy. Có những điều tôi cho là sự thật nhưng người khác lại bảo là sai lầm. Triết gia kiêm khoa học gia Pháp Blaise Pascal (1623-1662) đã chẳng nói: “Sự thật bên này dãy núi Pyréneés lại là sai lầm bên kia dãy núi đó” (Vérité en decà des Pyrénées, erreur au delà). Sự thật lúc này có thể  không phải là sự thật lúc khác và sự thật của người này có khi không phải là sự thật đối với người khác. Thí dụ, về hiện tượng trái đất bị hâm nóng, trong khi các khoa học gia cho rằng đó là một hiện tượng thật đã và đang xảy ra thì có người lại quả quyết là không đúng vì mùa Đông ông ta vẫn cảm thấy lạnh và tuyết vẫn rơi. Tin vào cảm nhận và giác quan giới hạn của mình để phủ nhận những dữ kiện dựa trên những bằng chứng khoa học là một điều nguy hiểm vì dù thông minh cách mấy, ai cũng có giới hạn.
Định nghĩa thế nào là sự thật không phải là điều dễ dàng. Thuyết phục người khác về sự thật lại càng khó hơn. Chỉ có điều: tôi biết một cách chắc chắn là có sự thật! Sự thật cũng giống như không khí tôi hít thở từng phút từng giây. Tôi chỉ biết có không khí và thế nào là không khí khi tôi bị ngộp thở. Cũng thế, tôi thường biết có sự thật khi tôi nói dối. Và có con người nào có mặt trên mặt đất này mà đã không ít hay nhiều nói dối?
Kinh nghiệm đầu đời của tôi không phải là cảm nghiệm được sự thật cho bằng biết nói dối. Và trong hơn 70 năm sống kiếp con người, tôi ý thức rằng có sự thật và thế nào là sự thật mỗi khi tôi nói dối. Khi tôi phạm pháp như trốn xâu lậu thuế hay cướp của giết người và bị đưa ra trước tòa, luật sư giỏi có thể cãi cho tôi trắng án, nghĩa là vô tội. Nhưng sự thật như thế nào thì chỉ có tòa án lương tâm của tôi mới biết mà thôi!
Ngày nay, tôi không còn nghe được tiếng chuông chùa hay chuông giáo đường nữa. Nhưng từ trong đáy thẳm tâm hồn của tôi, lúc nào cũng có tiếng “chuông gọi hồn ai đó” luôn nhắc nhở tôi về sự thật. Sự thật không phải là điều để định nghĩa, lý luận, tranh cãi mà là để thực thi, để sống, nhứt là để phán xét chính tôi. Không cần phải đợi xuống mồ, khi tôi không còn hay không muốn nghe tiếng “chuông gọi hồn ai đó” nữa, thì đó là lúc tôi đã chết rồi.












Thứ Hai, 10 tháng 9, 2018

Đức quốc: giáo dục chống chủ nghĩa cực đoan


07/09/18
Chemnitz là thành phố lớn thứ ba của Tỉnh bang Saxony, miền Đông Đức Quốc, sát biên giới với Ba Lan và Cộng hòa Tiệp. Từ năm 1953 đến năm 1990, thành phố này thường được mệnh danh là Karl-Marx-Stadt, nghĩa là thành phố của Karl Marx, ông tổ của chủ nghĩa Marxít. Được đặt tên theo Karl Marx bởi vì thành phố này là một trong những thành phố của Đức được kỹ nghệ hóa rất sớm và do đó cũng có một lịch sử lâu dài về phong trào lao động.
Mới đây, thành phố Chemnitz đã được các cơ quan truyền thông tại Đức cũng như nước ngoài chú ý tới. Tối thứ Bảy ngày 25 tháng Tám 2018 vừa qua, một nhóm đàn ông trong thành phố đã có một cuộc cãi vã nhau. Không ai biết nguyên do và nội dung của cuộc cãi vã, nhưng bất thần một người trong nhóm đã rút từ trong túi ra một con dao. Cuộc cãi vã đã biến thành bạo động và kết quả là ba người bị thương và một người đã chết sau khi được mang vào nhà thương để chữa trị. Không mấy chốc, câu chuyện đã được loan truyền lên các trang mạng xã hội và dân tộc tính của những người nhóm đàn ông được làm nổi bật. Người bị đâm chết là một người Đức da trắng 35 tuổi. Hai người bị tình nghi gây ra án mạng là một người Syria 23 tuổi và một người Iraq 22 tuổi.
Sang ngày thứ Hai, 2 nghi phạm đã bị bắt giữ và bị gán cho tội ngộ sát. Chi tiết của biến cố và những động lực đàng sau cuộc xô xát chưa được biết rõ. Phía Công tố vẫn giữ thinh lặng. Tuy nhiên, các nhà điều tra nói rằng việc đâm chém không phải là một hành động tự vệ.
Ngày chủ nhật , tức sáng ngày sau khi xảy ra án mạng, một nhóm “côn đồ” (hooligan) cực hữu đã loan báo địa điểm và giờ giấc của một cuộc họp mặt của những “ủng hộ viên và cảm tình viên” để cho mọi người thấy “ai là người ngồi ở ghế sau trong thành phố”, nghĩa là ai mới thực sự là người làm chủ tình hình trong thành phố.
Liền sau khi lời loan báo của nhóm cực hữu được phổ biến, đã có 800 người xuất hiện. Trong số này có rất nhiều thành phần thuộc nhóm cực hữu trong thành phố. Những thước phim được ghi lại cho thấy những người biểu tình không những đe dọa mà còn rượt đuổi bất cứ người nào họ cho là người ngoại quốc.
Qua ngày thứ Hai, Chính phủ Đức đã lên tiếng tố cáo hành động xách nhiễu của nhóm cực hữu. Chính phủ Đức nói rằng một hành động như thế “không thể diễn ra trên các đường phố của chúng ta”.
Cảnh sát đã nhận được nhiều lời than phiền. Một thiếu nữ Đức 15 tuổi và người bạn A Phú Hãn 17 tuổi của cô nói rằng họ đã bị tấn công. Một thanh niên Syria 18 tuổi cho biết anh đã bị hành hung. Và một người đàn ông Bảo Gia Lợi 30 tuổi cũng tố cáo rằng ông đã bị bắt giữ và đe dọa. Các thước phim thu được cũng cho thấy những người biểu tình còn tấn công ngay cả các cảnh sát viên. Cảnh sát đã phải dùng hơi cay để tái lập trật tự.
Cũng trong ngày thứ Hai, hàng ngàn người đã tập trung tại trung tâm thành phố Chemnitz. Cảnh sát ước tính số người biểu tình ủng hộ nhóm cực hữu lên đến 6000 người. Trong khi đó cũng có khoảng 1.500 người khác tập trung lại để phản đối nhóm cực hữu. Những người này được cho là thuộc nhóm tả khuynh. Hai bên đã ném pháo, ve chai và ngay cả thuốc nổ vào nhau. Cảnh sát đã phải huy động đến 600 nhân viên và sử dụng súng nước để chống lại đám biểu tình.
Các thước phim quay được cũng cho thấy những người biểu tình thuộc nhóm cực hữu đã giơ tay chào theo kiểu Đức Quốc Xã. Cảnh sát đã tiến hành truy tố ít nhất 10 vụ bạo động. 18 người thuộc cả hai phía và hai cảnh viên đã bị thương tích. 4 người biểu tình thuộc nhóm cực hữu bị tấn công và bị thương khi đang trên đường về nhà. Có người phải được đưa vào bệnh viện để chữa trị.
Các chính trị gia Đức đã có những phản ứng khác nhau trước cuộc bạo động. Trong một cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh Deutschlandfunk, Alexander Dierks, Tổng thư ký của Đảng Dân Chủ Kitô Giáo tại Tỉnh bang Saxony, bác bỏ những cáo buộc cho rằng chính quyền tiểu bang đã xem thường mối đe dọa từ nhóm cực hữu. Đề cập đến cuộc bạo loạn trong thành phố Chemnitz, ông nói rằng cảnh sát tiểu bang đã được chuẩn bị để đối phó và đã thực sự thi hành luật pháp và tái lập trật tự.
Về phần mình, ông Atila Karaborlu, đại diện của Cộng đồng Thổ Nhĩ Kỳ tại Đức, một trong những người đã phải khiếp sợ trước cảnh hàng ngàn người biểu tình thuộc nhóm cực hữu diễn hành xuyên qua thành phố Chemnitz, nói rằng “Kể từ thập niên 1990, rất tiếc là những cuộc tấn công như thế (nhắm vào người ngoại quốc) đã diễn ra liên tục trong xứ sở của chúng ta”.
Ông Karaborklu nhắc đến cuộc bạo động tại Rostock-Lichtenhagen hồi năm 1992. Cuộc bạo động đã diễn ra nhiều ngày và làm cho một trung tâm tiếp cư người tầm trú bị đốt cháy. Theo người đại diện cộng đồng Thổ Nhĩ Kỳ tại Đức, “có liên hệ giữa những cuộc bạo động trong thập niên 1990 và thái độ thụ động của chính quyền cũng như giữa những cuộc sát nhân do Tổ chức Đức Quốc Xã Thầm Lặng chủ trương và thái độ của chính phủ vốn xem các nạn nhân như tội nhân”.
Tỉnh trưởng Tỉnh bang Saxony, ông Michael Kretschmer thì lại khẳng định rằng chính quyền tiểu bang sẽ không để cho mình bị tước đoạt quyền hành. Ông gọi nhóm cực hữu là những người gieo rắc hận thù.
Về phần mình, Chính phủ Đức cũng đã tỏ rõ  lập trường cứng rắn đối với nhóm cực hữu. Bộ trưởng Tư pháp Đức, bà Katarina Barley, tuyên bố với báo Handerlsblatt rằng bất cứ ai đe dọa và tấn công người khác cũng như khích động chống lại các nhóm thiểu số phải “bị tức khắc truy tố ra trước pháp luật. Bà khẳng định rằng sẽ không bao giờ để cho “việc xách nhiễu và thói côn đồ” diễn ra tại Đức.
Riêng Thủ tướng Đức, bà Angela Merkel tuyên bố: “Không nên để cho bạo động xảy ra ở bất cứ công trường và đường phố nào”.
Tỉnh bang Saxony đã nổi tiếng về những vụ bạo động. Trong nhiều năm qua, tỉnh bang có 4 triệu dân này đã bị hoen ố vì những cuộc bạo động do các nhóm cực hữu và bài ngoại tổ chức. Tổ chức khủng bố Tân Đức Quốc Thầm Lặng từ lâu đã ẩn núp trong tỉnh bang này. Họ chỉ được vạch mặt  chỉ tên vào năm 2011. Còn phong trào cực hữu có tên là PEGIDA thì lại thường xuyên tổ chức những cuộc biểu tình tại thành phố Dresden kể từ năm 2014. Năm 2015, tại một thành phố khác trong Tỉnh  bang Saxony là Heidenau, những người tranh đấu cực hữu đã đụng độ với cảnh sát vì một trung tâm tiếp cư người tỵ nạn đã được thành lập trong một nhà kho cũ.
Đầu tháng Tám 2018 vừa qua, cảnh sát Saxony đã bị chỉ trích vì đã ngăn cản một toán phóng viên truyền hình đến làm phóng sự về một cuộc biểu tình chống Thủ tướng Merkel. Một trong những người biểu tình đã đứng ra phản đối sự hiện diện của toán phóng viên. Về sau người ta mới biết người này là một nhân viên cảnh sát.
Thật ra cực đoan và bài ngoại không chỉ là vấn đề riêng của Tỉnh bang Saxony. Những cuộc tấn công nhắm vào người di dân và ngoại quốc đã xảy ra trên toàn nước Đức. Theo tổ chức bênh vực người tầm trú Pro Asyl và Sáng hội Amadeu Antonio Foundation, hồi năm ngoái, đã có tổng cộng 1.713 vụ tấn công nhắm vào người tỵ nạn. Chỉ riêng trong Tỉnh bang Saxon có đến 240 vụ. Nhưng nhìn chung, con số các vụ tấn công nhắm vào người tỵ nạn đã có phần thuyên giảm.
Chính phủ Đức đang nỗ lực giáo dục dân chúng, nhất là giới trẻ chống lại chủ nghĩa cực đoan. Một tuần sau khi xảy ra vụ bạo động tại thành phố Chemnitz, bà Franziska Giffey, Bộ trưởng Gia đình đã đến thăm thành phố này. Vị  bộ trưởng được xem là trẻ nhất trong nội các của Thủ tướng Merkel đã nói chuyện với các đại diện của xã hội dân sự về sự cần thiết phải có một nền công dân giáo dục tốt hơn. Trong cuộc thảo luận với các đại diện dân sự, Bộ trưởng Gia đình Đức nhấn mạnh rằng công dân muốn chính phủ phải làm việc với giới trẻ để đề phòng chủ nghĩa cực đoan và giáo dục họ về dân chủ. Bà cũng nói rằng bà hiểu được nguyện vọng của người dân là phải được cảm thấy an toàn trên đường phố.
Theo bà Giffey, đã đến lúc Chính phủ Đức cần phải có một luật về giáo dục về dân chủ và các giá trị, nhờ vậy giới trẻ mới thấy được họ cũng là công dân trong một cộng đồng.
Nhưng theo ông Franz Knoppe, chủ tịch của một tổ chức giáo dục văn hóa địa phương, cần phải đưa vào các trường học những chương trình để giúp học sinh học cách thực tập những tiến trình dân chủ.
Từ hàng chục năm qua, Chính quyền Tỉnh bang Saxony chưa bao giờ đặt vấn đề công dân giáo dục như thế trong các trường học. Đây là lý do khiến cho các cơ cấu Tân Đức Quốc Xã đã thành hình trong tỉnh bang.
Trong cuộc tổng tuyển cử hồi năm ngoái, Đảng Cực Hữu có tên là Alternative for Germany (AFD) đã chiếm được 27 phần trăm số phiếu tại Tỉnh bang Saxony, qua mặt Đảng Dân Chủ Kitô Giáo của bà Merkel.
Điều gì đã khiến cho nhiều người chạy theo phong trào cực đoan bài di dân và bài ngoại trong Tỉnh bang Saxony? Có lẽ cần phải nhìn lại lịch sử để tìm câu trả lời. Về mặt kinh tế, Đông Đức lúc nào cũng lẹt đẹt chạy theo sau Tây Đức. Nhưng theo các nhà nghiên cứu, đó chưa hẳn là lý do khiến cho nhiều người dân ở Saxony chạy theo chủ nghĩa cực đoan.
Một cuộc nghiên cứu hồi năm ngoái đã chỉ ra rằng chính tâm thức mà Chế độ Cộng sản Đông Đức đã tạo ra khiến cho người dân Đông đức ngày nay có thái độ bài ngoại. Theo kết quả của cuộc nghiên cứu, người dân Đông Đức đã từng được nhồi sọ về nhu cầu phải có sự hài hòa hòa, tập thể, trật tự và tinh ròng về bản sắc dân tộc. Các nhà nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng người dân Đông Đức vẫn không muốn xóa bỏ quá khứ của thời cộng sản cũng như di sản Đức Quốc Xã cho nên hễ gặp khó khăn về kinh tế và xã hội, họ đổ lỗi cho người ngoại quốc.
Dĩ nhiên, hơn bất cứ tiểu bang nào khác ở Đức Quốc, Saxony là nơi chủ nghĩa cực đoan, cách riêng Tân Đức Quốc dễ hồi sinh và hình thành hơn cả là bởi di sản cộng sản cũng như tình hình kinh tế yếu kém. Tuy nhiên, theo một số phân tích gia, chính chính quyền tỉnh bang Saxony, vốn do Đảng Dân Chủ Kitô Giáo lãnh đạo trong một thời gian dài, đã không lưu tâm đến vấn đề và do đó không hành động đủ để ngăn chận sự phát triển của chủ nghĩa cực đoan.

(theo:
-https://www.dw.com/en/violence-in-chemnitz-a-timeline-of-events
-https://www.dw.com/en/in-chemnitz-minister-promotes-education-as-answer-to-extremism)

Thứ Năm, 6 tháng 9, 2018

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân



Chu Thập
31/08/18
Trên thế giới hiện nay, nếu có một quốc gia nào trong đó câu chữ Hán “quan nhứt thời, dân vạn đại” được ứng dụng một cách rõ ràng nhứt thì tôi nghĩ nước đó phải là Úc Đại Lợi, quê hương thứ hai của tôi. Ngủ một đêm sáng thức dậy đã thấy có một thủ tướng mới. Đất nước gì lạ quá: chỉ trong 5 năm mà đã có đến 5 thủ tướng!
Nhiều người bảo Úc Đại Lợi đang trở thành trò cười cho thế giới. Riêng tôi chẳng thấy có gì để chê cười cả. Việc thay đổi lãnh tụ, ngay cả thay đổi như chong chóng, cũng là thể hiện của một nền dân chủ đích thực. Ổn định chính trị như ở Trung Cộng, Bắc Hàn, Việt Nam hoặc trong các chế độ độc tài cá nhân là một thứ ổn định giả hiệu.
Tôi không theo học một khoa chính trị học nào, nhưng tôi cũng biết đại khái  rằng, cũng như mẫu quốc Anh, Úc Đại Lợi theo nền dân chủ đại nghị. Người dân không trực tiếp chọn lãnh tụ quốc gia, mà chỉ bầu các đảng phái chính trị. Đảng nào được nhiều phiếu nhứt thì chọn lãnh tụ để đại diện dân cai trị đất nước. Lãnh tụ nào được Đảng bầu lên làm được việc thì đảng để yên, còn nếu thấy chẳng làm được việc thì cho về vườn hay cho ra ghế sau ngồi chơi xơi nước. Chính vì vậy mà tôi chẳng thấy nao núng chút nào mỗi khi Úc Đại Lợi thay ngôi đổi chủ ở dinh thủ tướng. Ý thức hay không, lúc nào tôi cũng thấy mình có trách nhiệm trong việc thay đổi ấy. Kể từ khi rời Việt Nam, chỉ có ở Úc là nơi tôi thực sự cảm thấy mình có tự do và lúc nào cũng thực thi quyền dân chủ của mình với tất cả trách nhiệm của một người công dân.
Tôi thực sự cảm thấy tự do bởi vì tôi không bị bắt buộc hay cảm thấy cần phải tôn thờ một lãnh tụ nào cả. Tôi cũng chẳng phải sống chết cho một đảng nào cả. Với tôi, quyền tự do đi bầu là một quyền thiêng liêng của mỗi một công dân. Tôi tôn trọng tuyệt đối Quyền này và sự lựa chọn của mỗi cá nhân vì tôi đã không được thực hiện trong chế độ cộng sản. Tùy theo tình hình đất nước và dĩ nhiên theo sự phán đoán trong giới hạn của tôi, khi thì tôi bỏ phiếu cho đảng này, lúc thì tôi chọn đảng khác. Có khi vào phòng phiếu, đứng thừ người ra một lúc mà không biết dồn phiếu cho đảng nào, tôi ngả sang một đảng nhỏ nào đó mà tôi nghĩ có thể tạo được một cán cân quyền lực trong quốc hội. Kết quả bầu cử ở Úc Đại Lợi, dù đảng tôi chọn không đắc cử, cũng chẳng bao giờ làm tôi buồn giận và dĩ nhiên, trong gia đình tôi, dù có những chọn lựa chính trị khác nhau, cũng chẳng bao giờ xảy ra cãi vã xào xáo hay không nhìn mặt nhau. Dân chủ đích thực là như vậy đó. Tôi chấp nhận và tôn trọng bất cứ lãnh tụ nào được bầu lên và dĩ nhiên, tôi cũng chấp nhận một cách dễ dàng sự kiện một lãnh tụ bị đảng cầm quyền lật đổ để đưa một người khác lên thay thế. “Quan nhứt thời” mà. Quan đến rồi quan cũng phải đi. Quan lên voi rồi quan cũng phải có lúc xuống chó thôi!
Nhìn sang một quốc gia có nền dân chủ lâu đời và mẫu mực cho cả thế giới là Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ, tôi  thấy “quan nhứt thời” cũng là chuyện bình thường và là thể hiện của nền dân chủ đích thực. Tổng thống nào giỏi thì cầm cự được 2 nhiệm kỳ 8 năm. Không tài ba lắm thì cũng đi hết một nhiệm kỳ 4 năm. Còn nếu phạm pháp thì cũng bị mang ra luận tội và bãi nhiệm. Điều này có nghĩa là chẳng có ông tổng thống Mỹ nào có quyền ngồi xổm trên luật pháp cả.
Theo dõi tin tức bên Hoa Kỳ, sau khi một  số cựu  phụ tá thân cận của ông đã cung khai về một số vụ “lùm xùm” gì đó có dính líu tới ông, tôi nghe có nhiều đồn đoán về việc đương kim Tổng thống Donald Trump có thể bị quốc hội mang ra luận tội và bãi nhiệm. Có lẽ đã đánh hơi được chuyện đó chăng, trong một cuộc phỏng vấn mới đây dành cho Đài truyền hình Fox News, Tổng thống Trump khẳng định rằng nếu ông bị bãi nhiệm thì  thị trường chứng khoán sẽ sụp đổ và rất nhiều người Mỹ sẽ lâm vào cảnh nghèo (If I ever got impeached, I think the market would crash).
Ai cũng nhìn nhận rằng dưới thời Tổng thống Trump kinh tế Mỹ đang lên như diều gặp gió, thất nghiệp giảm chưa từng thấy, công ăn việc làm tăng ào ào. Nếu như lời nói trên của Tổng thống Trump là đúng thì tôi cầu mong cho ông không bị bãi nhiệm, bởi vì nếu thị trường chứng khoán Mỹ mà sập tiệm thì cả thế giới cũng bị vạ lây. Nhưng tôi không biết các nhà lập pháp Mỹ có suy nghĩ như tôi không. Đã có tội thì dù có là một kinh tế gia tài ba cỡ nào đi nữa, tổng thống Mỹ nào cũng đều có thể bị mang ra luận tội và bị bãi nhiệm cả. Mà hình như thứ tội mà một tổng thống Mỹ có thể  bị mang ra đàn hặc và bãi nhiệm không phải là làm kinh tế dở hoặc một tội ác tày trời nào cả mà lại liên quan đến vấn đề “đạo đức” nhiều hơn.
Nhớ lại vụ Watergate của Tổng thống Richard Nixon giữa hai năm 1972 và 1974. Chỉ có cho người của mình đột  nhập vào trụ sở của Ủy ban Dân chủ để nghe lén hay  ăn cắp tài liệu thôi, vậy mà Tổng thống Nixon đã  bị quốc hội chuẩn bị đưa ra luận tội. Biết mình có thể bị bãi nhiệm, ông đã từ chức.
Chuyện của Tổng thống Bill Clinton hồi cuối thập niên 1990 có khác chút đỉnh, nhưng cũng quy về một mối là tác phong đạo đức. Đạo đức ở đây không có nghĩa là ông bị quốc hội luận tội vì thói trăng hoa của ông hay mối quan hệ của ông với người tập sự viên Monica Lewinsky ngay trong Tòa Bạch Ốc, mà là hành động bội thề của ông: thề thốt nói sự thật, nói hết sự thật và chỉ nói sự thật, nhưng ông lại nói quanh nói quẩn để chối sự thật. Truyền thống dân chủ Mỹ, như được chính Tổng thống George Washington lập ra, được xây dựng trên chính nền tảng là sự thật. Xét cho cùng, tác phong đạo đức của nhà lãnh đạo đất nước luôn được các nhà lập quốc Mỹ xem trọng.
Về điểm này tôi nhận thấy đương kim Phó tổng thống Mike Pence là người đã có một cái nhìn rất sáng suốt khi xảy ra vụ tai tiếng của Tổng thống Bill Clinton. Thời gian đó, Phó tổng thống Pence đang là bình luận viên trên một đài phát thanh địa phương tại Tiểu bang Indiana. Trong một bài bình luận có tựa đề “Tại sao Clinton phải từ chức hay phải bị bãi nhiệm” (Why Clinton must resign or be impeached”, ông bác bỏ lập luận cho rằng tổng thống “cũng chỉ là một người như chúng ta thôi”. Theo ông, “nếu quý vị và tôi rơi vào những thói quen vô đạo, chúng ta có thể hãm hại gia đình của chúng ta, các ông chủ sở làm của chúng ta và bạn bè của chúng ta. Tổng thống Hoa Kỳ là người có thể đốt cả hành tinh. Nói một cách nghiêm chỉnh, nếu chúng ta nghĩ rằng chúng ta không cần phải đòi hỏi tổng thống phải có tác phong đạo đức hơn người láng giềng của chúng ta thì đó là một ý tưởng điên rồ và nguy hiểm.
Xuyên suốt lịch sử của chúng ta, chúng ta đã luôn xem chức vụ tổng thống như là kho tàng chất chứa  tất cả những niềm hy vọng, lý tưởng và giá trị cao đẹp nhứt của chúng ta. Không đòi hỏi điều đó là bất công đối với dòng máu đã đổ ra để mua lấy các quyền tự do của chúng ta”.
Trong một bài bình luận khác  về thói dối trá của Tổng thống Bill Clinton, bình luận viên Pence viết: “Hơn nữa, những lời dối trá liên tục của tổng thống (Clinton) với dân chúng Mỹ về vấn đề này là một bằng chứng chống lại ông bởi vì đó là một bằng chứng cho thấy ông đã không bảo vệ được chức vụ tổng thống xét như là “biểu tượng tạo nhiều cảm hứng nhứt về tất cả những gì là cao đẹp nhứt trong các lý tưởng của Hoa Kỳ”.  
Về ảnh hưởng của một vị tổng thống đối với các gia đình Mỹ, tác giả viết: “Khi quan hệ ngoại hôn bất chính và ly dị ngày càng gia tăng, Hoa Kỳ cần phải hướng nhìn về Đệ nhứt Gia đình như mẫu mực cho tất cả chúng ta.” Ông kêu gọi các nhà lập pháp Cộng hòa hãy hành động để bãi nhiệm tổng thống Clinton ngay cả nếu hành động này có thể khiến cho Cộng hòa mất quyền kiểm soát Quốc hội (https://edition.cnn.com/2018/08/06/politics/kfile-mike-pence-moral-columns/index.html). Lúc bấy giờ Hạ viện do Cộng hòa kiểm soát đã tiến hành việc luận tội Tổng thống Bill Clinton vì tội bội thề, nghĩa là dối trá và như vậy không có tác phong đạo đức để lãnh đạo đất nước và làm biểu tượng cho những  lý tưởng  cao đẹp nhứt của Hoa Kỳ.
Đọc lại những lời bình luận của Phó tổng thống Pence về vụ tai tiếng của Tổng thống Bill Clinton và việc Hạ viện Hoa Kỳ tiến hành luận tội để bãi nhiệm ông vì tội bội thề, tôi nhận thấy Hoa Kỳ là một quốc gia luôn xem trọng những giá trị đạo đức trong sinh hoạt chính trị.
Thượng nghị sĩ John McCain vừa mới qua đời. Ít thấy có một chính trị gia Mỹ nào vừa nằm xuống mà đã được nhiều người, dù thuộc bên nào, ca ngợi, thương nhớ như ông. Hầu hết những lời ca ngợi đều quy về nhân cách và tác phong đạo đức của ông. Tôi chỉ đọc được 2 điều đáng ghi nhớ về ông. Năm 1968,  Tổng thống LB Johnson bổ nhiệm thân phụ ông, một viên tướng tư lệnh Hải quân 4 sao làm tổng tư lệnh lực lượng Thái Bình Dương, bao gồm cả bộ chỉ huy quân đội Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam. Chộp lấy cơ hội để tuyên truyền, nhà cầm quyền cộng sản Miền Bắc đề nghị phóng thích ông hiện đang bị giam ở nhà tù Hỏa Lò Hà Nội. Nhưng viên sĩ quan hải quân McCain này đã yêu cầu cho những tù nhân Mỹ bị bắt trước ông phải được thả ra trước đã. Cộng sản Bắc Việt đã từ chối đề nghị của ông và như vậy ông đã bị tống giam vào ngục tối trong hai năm rưỡi nữa.
Một câu chuyện khác khiến tôi cảm phục tư cách của ông. Trong một cuộc vận động bầu cử tại Thành phố Lakeville, Tiểu bang Minnesota dạo tháng Mười năm 2008, một người phụ nữ ủng hộ ông đã cầm micro nói với ông: “Tôi không thể tin tưởng ông Obama, tôi đã đọc (tài liệu) về ông...ông ta là một người Á Rập”. Ứng cử viên McCain liền giựt micro khỏi tay người phụ nữ, ngắt lời bà rồi nói: “Thưa bà, không phải vậy đâu. Ông ta là một người có gia đình, là một người có tư cách, một công dân mà tôi không đồng quan điểm về những vấn đề nền tảng và đó là cốt lõi của cuộc vận động của tôi. Ông không phải là một người Á Rập”.
Có thể Thượng nghị sĩ McCain không phải là một chính trị gia giỏi. Cả 2 lần tranh cử tổng thống đều thất bại. Nhưng nếu ông sẽ mãi mãi là nguồn cảm hứng cho người đương thời và các thế hệ tương lai là bởi ông là người có nhân cách lớn. Nói theo ngôn ngữ quen thuộc của người Việt Nam, ông là người luôn sống có nhân nghĩa.
“Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân”. Cụ Nguyễn Trải đã viết những dòng mở đầu như thế trong bài Bình Ngô Đại Cáo. Cụ Ngô Tất Tố đã dịch thành “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Thời trung học tôi vốn dốt văn, nhưng cũng hiểu được rằng người trọng nhân nghĩa là người biết xem trọng những giá trị đạo đức, biết nghĩ tới người khác, không dối trá. Điều này lại càng đúng hơn cho những người muốn “trị quốc bình thiên hạ”. “Người dân” được “yên” không chỉ nhờ được no cơm ấm áo, mà còn phải được nâng cao trong cuộc sống nhân bản và đạo đức nữa. Và dĩ nhiên, con người, dù trong địa vị và hoàn cảnh nào, cũng chỉ thực sự có được cái tâm an bình khi họ biết sống có “nhân nghĩa”.









Thứ Hai, 3 tháng 9, 2018

Á Rập Saudi: Hiện đại hóa và nhân quyền!



                                                                                               31/08/18

Khi Thái tử Mohammed bin Salman được bổ nhiệm đệ nhất phó thủ tướng của Vương quốc Á Rập Saudi  và chuẩn bị lên kế vị vua cha, thế giới hy vọng một luồng gió mới sẽ thổi vào vương quốc Hồi giáo này. Nhưng không những “không có gì mới dưới ánh mặt trời” của vương quốc, mà tình hình xem ra còn tồi tệ hơn. Chỉ vài tháng sau khi muốn chứng tỏ rằng Á Rập Saudi muốn “ngang tầm” với thế giới hiện đại, Thái tử Mohammed bin Salman lại bước những bước thụt lùi đáng lo ngại hơn.
Hiện nay, như các cơ quan truyền thông thế giới đưa tin, một nhà hoạt động cho nhân quyền hiện đang phải đối mặt với  án tử hình bằng xử trảm. Tù nhân này lại là một phụ nữ. Tội của bà ư? Tham gia biểu tình, “hô những khẩu hiệu thù nghịch với chế độ” và nhất là quay phim những cuộc biểu tình ôn hòa để đưa lên các trang mạng xã hội.
Tên của người phụ nữ này là Israa al- Ghomgham. Bà đã bị bắt giữ và biệt giam trong tù từ gần 3 năm nay. Khi bị bắt giam tù, người phụ nữ này và 5 “tòng phạm” của bà đã không bao giờ được cho phép tiếp xúc với bất cứ luật sư nào.
Tuần vừa qua, tại một tòa án chống khủng bố ở Thủ đô Riyadh, các công tố viên đã kêu gọi xử trảm các bị cáo. Với các tổ chức bênh vực nhân nhân quyền trên khắp thế giới, một sự trừng phạt như thế chỉ có thể bị xem là một hành động vô nhân đạo mà thôi.
Bà al-Ghomgham sẽ là người phụ nữ đầu tiên bị tử hình vì tham gia vào một cuộc biểu tình ôn hòa.
Dạo tháng Giêng vừa qua, ông Anthony Bubalo, một nhà ngoại giao Úc đã từng làm việc tại Á Rập Saudi và hiện đang là giám đốc nghiên cứu tại viện Lowy Institute của Úc Đại Lợi, đã nói với báo mạng news.com.au rằng thái tử kế vị Mohammed bin Salman muốn tỏ cho thế giới thấy rằng ông thực sự muốn canh tân xứ sở của ông.
Dân số Á Rập Saudi tương đối trẻ. Phần lớn dưới tuổi 30. Thái tử Mohammed bin Salmon mong muốn và tin tưởng rằng ông có thể hiện đại hóa đất nước. Khi vừa lên cầm quyền, ông liền mở chiến dịch thanh trừng không xót thương tất cả những đối thủ chính trị có dính líu vào tham nhũng. Đã có hàng trăm chính trị gia và doanh nhân bị bắt giữ tại khách sạn Ritz Carlton ở Riyadh. Trong số này có 11 người là thành viên của hoàng gia, bộ trưởng và các đại gia. Tất cả đều bị cáo buộc với một loạt tội ác như tham nhũng và nhận hối lộ. Trong chiến dịch thanh trừng này, Chính phủ Á Rập Saudi đã thu được trên 100 tỷ Mỹ kim.
Kể từ đó, dưới mắt thế giới, hình ảnh của Thái tử Mohammed bin Salmon bỗng sáng rực lên như một lãnh tụ thực sự muốn hiện đại hóa đất nước. Khắp nơi cũng như trong nước, ở đâu người ta cũng thấy khuôn mặt tươi cười của ông bên cạnh các nguyên thủ quốc gia trên thế giới như đứng bên cạnh Nữ hoàng Anh trong cung điện Buckingham, Thủ tướng Anh Theresa May, Tổng thống Mỹ Donald Trump cũng như Tổng thống Nga Vladimir Putin trên khán đài nhân Giải Túc Cầu Thế Giới vừa qua.
Trong bài phỏng vấn dành cho báo mạng news.com.au, nhà ngoại giao Úc Bubalo khẳng định rằng thái tử Mohammed bin Salman ý thức rằng Á Rập Saudi không thể tiếp tục sống dựa vào kho dầu lửa  của mình nữa, bởi vì giá dầu không còn cao như cách đây một thập niên. Để hiện đại hóa đất nước, dĩ nhiên cần phải hiện đại và đa dạng hóa kinh tế.
Không những về kinh tế, Mohammed bin Salman còn muốn chứng tỏ cho thế giới thấy ông là một nhà cải cách ngay cả trong lãnh vực nữ quyền. Đầu năm nay, thế giới đã nhìn thấy tận mắt hình ảnh của các phụ nữ Á Rập Saudi ăn mừng về việc chính phủ quyết định cho phép họ được lái xe. Bất thần, họ cũng được đi xem các trận đấu thể thao vốn trước kia chỉ dành cho nam giới. Ngoài ra, như một dấu chỉ khác của nỗ lực hiện đại, ngày 18 tháng Tư vừa qua, Á Rập Saudi cho phép mở một rạp chiếu bóng. Rạp sẽ chiếu những phim gì, không ai biết được, nhưng ít ra được vào rạp xem chiếu bóng quả là một “quyền” mới khó tưởng tượng được trong vương quốc Hồi giáo này.
Phụ nữ được phép cầm tay lái quả là một tiến bộ khủng khiếp tại Á Rập Saudi. Chỉ cách đây mới 7 năm thôi, một nhà hoạt động cho nữ quyền trong vương quốc là cô Manal al-Sharif đã bị bắt giữ và giam tù vì tội “đàn bà mà dám lái xe”!
Tuy nhiên, với thế giới bên ngoài, một số những cử chỉ “tiến bộ” trên đây cũng chẳng thực sự làm thay đổi được bộ mặt trước sau như một vẫn còn độc tài của Á Rập Saudi. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nói rằng tòa án được mệnh danh là Tòa Hình Sự Đặc Nhiệm được thành lập năm 2008 để xử các hành vi khủng bố, thật ra chỉ được sử dụng để truy tố các nhà bất đồng chính kiến ôn hòa. Tòa này nổi tiếng với những vi phạm về những tiêu chuẩn xét xử công minh của thế giới.
Riêng về trường hợp của bà al-Ghomgham, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền khẳng định rằng những cáo buộc hoàn toàn không dính dáng gì đến tội ác cả. Ngoài tội gọi là tham gia các cuộc biểu tình ôn hòa và quay phim các cuộc biểu tình này, bà al-Ghomgham còn bị cáo buộc lấy hình của một người khác trên Facebook để dán vào sổ thông hành của mình, đồng thời “ủng hộ tinh thần những người biểu tình”. Bà al-Ghomgham còn bị cáo buộc tham dự tang lễ của những người biểu tình bị giết chết trong những cuộc đụng độ với các lực lượng an ninh.
Dựa vào luật “Ta’zir” của Hồi giáo, các công tố viên đã kêu gọi sử trảm 5 trong số 6 bị cáo. Theo luật “Ta’zir” của Hồi giáo, thẩm phám có quyền tự do quyết định về thế nào là tội ác cũng như về bản án.
Samah Hadid, Giám đốc chiến dịch của Tổ chức Ân xá Quốc tế tại Trung Đông, lo ngại rằng rồi đây những phụ nữ khác hiện đang bị giam trong các nhà tù của Á Rập Saudi vì những “tội ác” tương tự cũng có thể bị mang ra xử tử như thế. Bà Hadi kêu gọi chính phủ Á Rập Saudi hãy tức khắc chấm dứt phương pháp xử tử vô nhân đạo này. Theo bà, với việc xử trảm bà al-Ghomgham, Á Rập Saudi  muốn gởi đi một tín hiệu đáng sợ là những nhà hoạt động ôn hòa cho nhân quyền khác rồi đây cũng sẽ bị mang ra xử trảm như thế.
Bà Hadid nói rằng “Á Rập Saudi là một trong nước xử tử nhiều nhất và thế giới không thể tiếp tục làm ngơ trước thành tích nhân quyền ghê tởm này”. Bà kêu gọi “cộng đồng thế giới hãy tạo áp lức lên Á Rập Saudi để chấm dứt hình phạt tử hình vốn được sử dụng một cách bất công và vì lý do chính trị.
Bà al-Ghomgham và chồng bà là ông Moussa al-Hashem đã bị bắt giữ trong một cuộc bố ráp tại nhà ngày 6 tháng Mười Hai năm 2015, vì bị cáo buộc tham gia vào những cuộc biểu tình ôn hòa tại tỉnh Qatif, miền Đông Á Rập Saudi, liền sau cuộc cách mạng ôn hòa thường được mệnh danh là Mùa Xuân Á Rập.
Bà al-Ghomgham vốn là một tín đồ Hồi giáo thuộc hệ phái Shia. Theo Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, mục tiêu chính của cuộc tranh đấu ôn hòa của bà là kêu gọi Chính phủ Á Rập Saudi, vốn thuộc hệ phái Sunni là hệ phái chiếm đa số tại vương quốc này, hãy chấm dứt “chủ trương kỳ thị có hệ thống” chống lại thiểu số Hồi giáo Shia.
Không chỉ kỳ thị đối với cộng đồng thiểu số Hồi giáo Shia trong vương quốc, Thái tử Mohammed bin Salman cũng chủ trương loại trừ và bách hại bất cứ một thành phần bất đồng chính kiến nào.
Theo Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, mới đây nại đến việc duy trì an ninh, chính phủ Á Rập Saudi đã ra lệnh bắt giữ ít nhất 13 phụ nữ. Một số đã được trả tự do, nhưng vẫn còn một số khác hiện đang bị giam giữ mà không hề bị mang ra xét xử và còn bị truyền thông của vương quốc gọi là những kẻ “phản quốc”. Họ bị kết án 20 tù vì bày tỏ ý kiến một cách ôn hòa.
Tháng Năm vừa qua, một người viết Blog tên là Eman al-Nafjan đã bị giam giữ cùng với 6 người phụ nữ tranh đấu cho nhân quyền khác. Đầu tháng Tám vừa qua, Amal al-Harbi, vợ của ông Fawzan-al-Harbi, một nhà tranh đấu cho nhân quyền bị bắt giữ và giam tù hồi năm 2014, cũng bị bắt giữ. Người ta cũng không biết lý do tại sao bà bị bắt giữ.
Trong tháng Tám này lại có thêm hai người phụ nữ tranh đấu cho nhân quyền là Samar Badawi và Nassima al-Sada cũng bị bắt giữ và giam tù. Theo Tổ chức Ân xá Quốc tế, “đây là dấu hiệu cho thấy các cuộc bắt giữ không giảm bớt”.
Cách đây 6 năm, bà Raif  Badawi, chị của bà Samar Badawi đã được Đệ nhất phu nhân Michelle Obama cùng với cựu Ngoại trưởng Hillary Clinton trao Giải Phụ Nữ Can Đảm trong một buổi lễ được cử hành tại Thủ đô Hoa Thịnh Đốn.  Bà Badawi đã bị trừng phạt bằng 1000 cú roi và hiện đang thi hành bản án 10 năm tù vì tội gọi là “dùng các kênh điện tử để phỉ báng Hồi giáo”. Như Tổ chức Ân xá Quốc tế đã nhìn nhận, bà Badawi và những người phụ nữ Á Rập Saudi can đảm là một chút vết tích còn sót lại của một cộng đồng tranh đấu cho nhân quyền tại Á Rập Saudi. Với Thái tử Mohammed bin Salman, sẽ không còn lại một không gian nào cho những người tranh đấu cho nhân quyền trong vương quốc này.
Dù có cam kết hiện đại hóa đất nước đến đâu, Vương quốc Á Rập Saudi vẫn tiếp tục tạo những thành tích tồi tệ về nhân quyền, đặc biệt liên quan đến sắc tộc, tôn giáo và thân phận phụ nữ.
Cho tới nay, dường như cộng đồng thế giới vẫn tiếp tục nhắm mắt làm ngơ trước những vi phạm nhân quyền trắng trợn của vương quốc này. Những nước như Anh, Pháp và Hoa Kỳ, vốn là những nước có thể tạo áp lực lên Á Rập Saudi để cải thiện tình trạng nhân quyền của nước này, vẫn tiếp tục giữ thinh lặng. Chỉ có một quốc gia dám lên tiếng chỉ trích những vi phạm nhân quyền của Á Rập Saudi và kêu gọi trả tự do cho những người bất đồng chính kiến bị giam giữ là Gia Nã Đại. Phản ứng trước lời kêu gọi của Gia Nã Đại, Á Rập Saudi liền loan báo rút đại sứ về nước, đồng thời trục xuất đại sứ Gia Nã Đại. Ngoài ra các bệnh nhân Á Rập Saudi đang điều trị tại Gia Nã Đại cũng như các sinh viên học sinh đang học tại Gia Nã Đại cũng bị ra lệnh phải rời khỏi Gia Nã Đại.
Với hành động này, Á Rập Saudi nói rằng “bất cứ một toan tính nào của Gia Nã Đại nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của Á Rập Saudi cũng đều có nghĩa là Á Rập Saudi được phép can thiệp vào công việc nội bộ của Gia Nã Đại”.
Theo các nhà phân tích, với chỗ dựa vững chắc là Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Donald Trump, khi tỏ rõ thái độ cứng rắn trước những lời chỉ trích từ bên ngoài về thành tích nhân quyền tồi tệ của mình, Á Rập Saudi muốn gởi đi một tín hiệu cho thế giới rằng họ sẽ còn mạnh tay hơn đối với các nhà bất đồng chính kiến và hoạt động cho nhân quyền trong nước.
Trong thời đại này, hiện đại hóa và nhân quyền thường không đi đôi với nhau. Đó quả thật là điều đáng buồn cho thế giới!
(nguồn:
-https://www.news.com.au/world/middle-east/female-human-rights-activist-faces-beheading-for-taking-part-in-antigovernment-protests/news-story
-https://www.news.com.au/finance/economy/world-economy/the-two-words-from-canada-that-offended-saudi-arabia/news)