Thứ Sáu, 6 tháng 7, 2018

Người thắng cuộc


Chu Thập
29/06/18
Tuần qua, tôi có dịp trở lại Gosford, thủ phủ của vùng Central Coast, Tiểu bang New South Wales. Không ngờ trung tâm thương mại của thành phố chỉ cách Sydney khoảng 5,7 chục cây số này trông tiêu điều vắng vẻ đến thế! Vào trung tâm bán lẻ nổi tiếng của Đức là Aldi, tôi thấy chỉ có leo teo vài khách hàng. Lúc tính tiền người thu ngân cho nhà tôi biết là chỉ vài tuần lễ nữa Aldi sẽ vĩnh viễn đóng cửa. Ra khỏi Aldi, đi dọc theo hành lang dẫn đến Woolworths, tôi thấy nhiều cửa hàng cũng đã “dẹp tiệm”. Đối diện với trung tâm thương mại chính của thành phố là một tòa nhà đồ sộ khác trông còn thê thảm hơn: kể từ khi Coles đóng cửa cách đây năm ba năm, hầu như không còn bất cứ một cơ sở kinh doanh hay hành chính nào còn hiện diện ở đây nữa.
Ở Gosford chỉ còn lại một nơi tương đối nhộn nhịp và ồn ào. Đó là nhà ga xe lửa chỉ cách trung tâm thương mại chính của thành phố vài phút đi bộ. Vào giờ cao điểm, tôi thấy có một hiện tượng lạ: rất nhiều hành khách là học sinh gốc Á Châu hay da mầu nói chung. Nhưng các em học sinh này không phải là cư dân Gosford mà xuất phát từ những vùng ngoại ô xa lắc xa lơ ở tận phía Bắc Sydney như Strathfield, Burwood, Epping và nhứt là Hornsby. Thì ra, đa số học sinh của trường tuyển Gosford là con cái của người di dân đến từ những nơi khác.
Một hiện tượng khác mà mỗi lần đi khám bệnh tôi cũng ghi nhận được là phần lớn các bác sĩ và nha sĩ làm việc trong các phòng khám bệnh tại thành phố vốn có ít người di dân này lại cũng đều là người di dân. Vào bất cứ trung tâm y tế (medical centre) nào, tôi cũng thấy hầu hết tên của các bác sĩ nếu không là  Ấn Độ, Trung Hoa thì cũng là Việt Nam. Riêng tại trung tâm nha khoa chuyên chữa bệnh nướu răng mà tôi phải đến mỗi năm 2 lần, trong 5 vị bác sĩ chuyên khoa, có một vị Ấn Độ, 2 vị người Hoa và một vị người Phi Luật Tân.
Từ Gosford tôi nhìn xuống một trong những thành phố có đông người Việt tỵ nạn là Bankstown, miền Tây Sydney. Tuần qua, từ ngày 20 đến 23 tháng Sáu vừa qua là Tuần Lễ Tỵ Nạn. Cộng đồng người Việt ở Sydney đã tập trung về Bankstown để biểu dương sức sống mãnh liệt và sự đóng góp tích cực của người tỵ nạn và di dân nói chung cho Úc Đại Lợi. Nhìn về Bankstown, Cabramatta, Fairfield...những nơi đã có một thời trước khi người di dân và tỵ nạn đến là những thành phố hay thị trấn nghèo nàn thưa thớt và nhứt là những khu ngoại ô ở phía Bắc Sydney, tôi càng xác tín rằng người di dân không hề là cặn bã ăn bám hay gánh nặng của xã hội, mà trái lại là một lực lượng đóng góp nhiều cho sự phát triển của đất nước mà họ đã chọn làm quê hương thứ hai. Tôi tưởng tượng: một ngày nào đó, khi  Thành phố Gosford cũng “tràn ngập” người di dân thì chắc chắn bộ mặt tiêu điều vắng vẻ của nó sẽ thay đổi!
Niềm tự hào của tôi về sự đóng góp của người di dân cho đất nước đã đón nhận họ cũng bừng dậy theo cơn sốt bóng đá trong những ngày này. Ngoại trừ Nhật Bổn, Đại Hàn và Ba Lan...dường như bất cứ một đội tuyển quốc gia nào tham dự Giải Túc Cầu Thế Giới 2018 cũng đều là một bức tranh được vẽ lên không phải với màu cờ sắc áo, mà với màu da của các tuyển thủ. Không cần phải nói đến các đội tuyển của Châu Mỹ La Tinh, mà hãy thử nhìn vào các đội tuyển được xem là có nhiều triển vọng nhứt như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Đức, Anh...màu da và tên của các tuyển thủ lúc nào cũng gợi lên cho tôi niềm tự hào về sự đóng góp của người di dân.
Tiếc là đội tuyển của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ đã không có mặt trong Giải Túc Cầu Thế Giới năm nay. Nếu không, những người Mỹ kỳ thị và chống di dân liệu có đủ liêm sỉ để tự hào về đội tuyển quốc gia vốn gồm nhiều màu da và sắc tộc của họ không?
Ở vào thời điểm này, một người tỵ nạn như tôi không thể ngồi xem các trận thi đấu của Giải Túc Cầu Thế Giới năm nay mà không cảm thấy ray rứt khi tại nhiều nước Tây phương, phong trào chống người di dân và kỳ thị chủng tộc đang là cao trào được các chính trị gia dân túy triệt để khai thác để kiếm phiếu trong các mùa bầu cử. Riêng tại Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ, như đã nổ ra trong những tuần lễ vừa qua, di dân đã trở thành chính sách cốt lõi của Tổng thống Donald Trump và là một trắc nghiệm về những giá trị nền tảng làm nên một quốc gia vốn đã từng là của người di dân và do người di dân hình thành và xây dựng.
Tìm đọc lại lịch sử di dân ở Hoa Kỳ, tôi biết rằng vào năm 1845, gần 2 triệu người Ái Nhĩ Lan tỵ nạn đã vượt trùng dương để đến Mỹ trong thời kỳ được mệnh danh là “Nạn Đói khoai tây” (Great Hunger potato famine). Những biến cố như thế làm nên một lịch sử lâu dài về việc đón nhận người tỵ nạn: Chính phủ Mỹ đã lần lượt ban hành nhiều đạo luật liên quan đến việc đón nhận người tỵ nạn. Riêng với người tỵ nạn Đông Dương mà Việt Nam là chính, cũng đã có hai đạo luật được ban hành trong  năm 1975 và 1980.
Tuy nhiên, xen kẽ với những đạo luật ấy cũng không thiếu những đạo luật từ chối hay chống lại việc tái định cư người tỵ nạn. Chẳng hạn như năm 1938, có đến 83 phần trăm người Mỹ chống lại việc đón nhận người Đức gốc Do Thái; 62 phần trăm người Mỹ chống lại kế hoạch đón nhận người Việt tỵ nạn năm 1979. Điều mỉa mai là nhiều người Mỹ chống lại việc tái định cư người tỵ nạn cũng đã từng là người di dân hay tỵ nạn hoặc cha ông họ đã từng là người di dân.
 (x.https://www.psychologytoday.com/au/blog/the-modern-child/201806/the-refugee-child-american-story).
Cũng mỉa mai không kém, lý do chính mà nhiều người Mỹ nại đến để chống lại việc đón nhận người tỵ nạn lại là kinh tế. Thật ra, lịch sử  không ngừng chứng minh rằng việc đón nhận người tỵ nạn và di dân nói chung làm cho Hoa Kỳ trở thành một quốc gia giàu mạnh hơn về kinh tế cũng như văn hóa. Theo Hàn lâm viện Quốc gia, nguồn nhân lực mà di dân mang vào giúp gia tăng tổng sản lượng nội địa của Hoa Kỳ, nhứt là trong thời gian sắp tới khi thế hệ sinh sau Đệ nhị Thế chiến (Baby Boomer) già đi và không còn tham gia vào lực lượng lao động nữa. Một cuộc nghiên cứu do Sáng hội Chính sách (National Foundation for American Policy) của Mỹ  thực hiện cho thấy hơn một nửa các công ty có doanh số  từ một tỷ Mỹ kim trở lên đều được ít nhứt là một người di dân sáng lập. Quỹ Nghiên cứu Kinh tế Hoa Kỳ (New American Economy Research Fund) cũng cho thấy rằng tỷ lệ người tỵ nạn trở thành nhà doanh nghiệp cao hơn 50 phần trăm nếu so với các công dân sinh ra trên đất Mỹ. Theo đánh giá của Tạp chí Fortune chuyên về doanh nghiệp, có đến 40 phẩn trăm trong số 500 doanh nghiệp nổi bật tại Hoa Kỳ là do người tỵ nạn, di dân hoặc con cái họ thành lập.
(https://www.psychologytoday.com/au/blog/the-modern-child/201806/the-refugee-child-american-story).
Trên thế giới, Hoa Kỳ là nơi tôi có nhiều thân nhân, bà con họ hàng và bạn bè nhứt. Hoa Kỳ có đông người Việt tỵ nạn nhứt. Hoa Kỳ cũng là nơi người Việt tỵ nạn thành công và đóng góp nhiều nhứt cho quê hương mới của họ. Phải nhìn nhận rằng sở dĩ đồng bào ruột thịt của tôi ở Mỹ thành công trong việc hội nhập và tích cực đóng góp cho quê hương thứ hai của họ là vì Hoa Kỳ luôn có một chính sách di dân cởi mở. Nói cho cùng đó là do tấm lòng nhân đạo của người dân Mỹ nói chung. Tấm lòng nhân đạo ấy đã được ghi khắc trên bức tượng Nữ Thần Tự Do như sau: “Hãy mang đến cho ta những người kiệt sức, nghèo khổ, đám người nheo nhóc khao khát hơi thở tự do, những người khốn khó rác rưởi chen chúc trôi dạt vào bờ. Hãy gởi cho ta những người này, những kẻ không nhà bị dông tố vùi dập. Ta giương ngọn đèn bên cánh cửa vàng”.
Có những lúc “cánh cửa vàng” ấy khép nhẹ lại. Nhưng nhìn chung, nước Mỹ lúc nào cũng vĩ đại bởi vì trong những giá trị làm nên sự vĩ đại của đất nước này, cốt lõi vẫn là lòng nhân đạo. Cách đây 240 năm, cùng với dân chủ và bình đẳng, lòng nhân đạo đã được các vị cha già dân tộc xem như cột trụ để xây dựng quốc gia và kiến tạo sự vĩ đại của quốc gia này.
Tấm lòng nhân đạo ấy luôn được thể hiện qua việc đón nhận người tỵ nạn và di dân. Cho nên bất cứ một chính sách chống di dân và kỳ thị nào cũng đều bị người Mỹ xem là vô nhân đạo. Chính vì vậy mà chính sách “tuyệt đối không nhân nhượng” (zero tolerance) của Chính phủ Trump đối với người di dân bất hợp pháp mà việc chia cách trẻ con với gia đình chúng được xem như một biện pháp, đã bị cả thế giới lên án là độc ác và vô nhân đạo. Ở Mỹ rất nhiều nhân vật có tiếng nói đầy uy tín, như tất cả các cựu đệ nhứt phu nhân Mỹ đều đã lên án chính sách ấy. Tôi cũng hiểu được phản ứng của số đông người Mỹ. Theo kết quả của một cuộc thăm dò mới đây được Viện Gallup thực hiện, có đến 75 phần trăm người Mỹ cho rằng nhìn chung, di dân là một chuyện tốt đẹp cho đất nước. Lòng nhân đạo vẫn còn là linh hồn của một đất nước vĩ đại. Và một cách cụ thể, nói đến lòng nhân đạo là nói đến sự quan tâm mà con người muốn dành cho những người kém may mắn, những người nghèo khổ, những người cần được giúp đỡ cách này hay cách khác.
Hồi tuần qua, đương kim đệ nhứt phu nhân Melania Trump đã trở thành trọng tâm của một cơn bão đàm tiếu. Khi đến Texas để thăm  một trung tâm tạm giữ những trẻ em bị chia cách với những cha mẹ đang bị giam giữ vì vi phạm chính sách “tuyệt đối không nhân nhượng” của Chính phủ Trump, bà mang trên người một chiếc áo khoác hiệu Zara trên đó có ghi câu “Tôi thực sự không quan tâm. Còn bạn thì sao?” (I really don’t care, Do u?). Chẳng ai biết ẩn ý của bà khi mang chiếc áo khoác chỉ trị giá 39 Mỹ kim này. Văn phòng của bà khẳng định rằng bà chẳng có ý gì cả. Còn phu quân Trump của bà thì giải thích rằng bà muốn nhắn gởi đến các cơ quan truyền thông “Tin giả” rằng bà không màng gì đến những lời bình luận của họ. Riêng tôi tin rằng bên kia khẩu hiệu ấy, bà Trump là một người có trái tim và biết tỏ ra “quan tâm” đến người khác. Sự kiện bà đã từng là một người di dân đến Mỹ để tìm một cuộc sống tốt đẹp hơn bằng nghề người mẫu và cho biết bà “ghét thấy cảnh trẻ con bị phân tán khỏi cha mẹ chúng”, cũng như kêu gọi chính phủ “cai trị với tấm lòng” (govern with heart) và nhứt là  đích thân đi thăm các em chứng tỏ bà là một người có tấm lòng và biết quan tâm.
Hàng chữ trên chiếc áo khoác của bà Trump không khỏi gợi lại cho tôi một lời quảng cáo của hãng “Dove” mà tôi thường thấy trên màn ảnh truyền hình trong mùa Giải Túc Cầu Thế Giới năm nay: “Cần  có kỹ năng để chiến thắng, nhưng cần có sự quan tâm để làm một người thắng cuộc” (It takes skill to win, but it takes care to be a winner). Ngồi xem các cuộc thi đấu mà tôi cứ mang lời quảng cáo ấy ra ngẫm nghĩ: trong cuộc sống, bạn có thể thắng người khác nhờ có nhiều lợi thế hơn người khác nhưng bạn chỉ có thể chiếm được trái tim người khác khi thực sự quan tâm đến người khác bằng chính trái tim của mình.
Bởi vì, chỉ có trái tim mới chinh phục được trái tim.






Thứ Hai, 2 tháng 7, 2018

Kosovo và Giải Túc cầu Thế giới 2018


29/06/18
Đội tuyển Thụy Sĩ đã hạ đổi tuyển Serbia với tỷ số 2-1 trong trận thi đấu vào sáng thứ Bảy 23 tháng Sáu vừa qua. Công đầu của chiến thắng này thuộc về hai tuyển thủ Granit Xhaka và Xherdan Shaqiri. Cả hai đều là người Kosovo thuộc sắc tộc Albani. Sau khi ghi bàn thắng cho đội tuyển Thụy Sĩ, cả hai tuyển thủ này đều dùng mười ngón tay bắt chéo vào nhau làm thành lá cờ của Albania: hai ngón cái của họ tượng trưng cho đầu của 2 con chim ó, trong khi những ngón khác đan chéo vào nhau  trông giống như lông cánh của chúng. Với cử chỉ này, Xhaka và Shaqiri muốn nói lên niềm tự hào về nguồn gốc của họ. Nó  gợi lên cả một quá khứ đau buồn của người dân Kosovo, đồng thời cũng nói lên những mối căng thẳng hiện vẫn còn tồn tại giữa Kosovo và Serbia. Thể thao cũng không tránh khỏi mầu sắc chính trị!
Xhaka và Shaqiri, cả hai  đều chào đời tại Kosovo, vùng đất đã từng là một tỉnh thuộc Cộng hòa Serbia. Cũng như hàng trăm ngàn người khác, trong cuộc chiến chống lại các lực lượng Serbia để giành độc lập trong hai năm 1998 và 1999, gia đình của Xhaka và Shaqiri đã xin tỵ nạn tại Thụy Sĩ. Tuy không có những số liệu chính thức, nhưng người ta ước lượng hiện nay có đến 200.000 người Kosovo gốc Albani đang sinh sống tại Thụy Sĩ. Đây là một tỷ lệ khá lớn nếu so với dân số Kosovo hiện chỉ có khoảng 1.8 triệu người. Cùng với những người đồng hương đang sống tại Đức, những người Kosovo gốc Albani tại Thụy Sĩ là một trong những nguồn lợi lớn cho quê nhà: mỗi năm họ gởi về Kosovo khoảng 176 triệu Mỹ kim.
Cuộc di dân của người Kosovo đã xảy ra ngay cả trước khi cuộc chiến bùng nổ giữa Kosovo và Serbia. Đương kim Thủ tướng Kosovo, ông Ramush Haradinaj cũng đã từng sống ở Thụy Sĩ và làm việc như một huấn luyện viên môn Thái cực đạo trước khi trở về Kosovo để tham gia lãnh đạo chiến tranh du kích giành độc lập. Cuộc chiến đã làm cho khoảng 13.500 người bị thiệt mạng, trong số này có hơn 10.000 nạn nhân là người Kosovo thuộc sắc tộc Albani. Cuộc chiến đã chấm dứt nhờ sự can thiệp của Liên minh Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương (NATO). Các cuộc không kích của NATO đã khiến cho các lực lượng của nhà độc tài Milosevic phải rút lui. Năm 2008, nghĩa là không đầy một thập niên sau, Kosovo đã tuyên bố độc lập khỏi Serbia với danh hiệu đầy đủ là Cộng hòa Kosovo. Tuy nhiên cho tới nay, với sự yểm trợ của đồng minh lâu đời là Nga, Serbia vẫn không chịu nhìn nhận nền độc lập của Kosovo.
Sự có mặt của hai tuyển thủ Xhaka và Shaqiri trong đội tuyển quốc gia Thụy Sĩ để thi đấu với đội tuyển Serbia và chiến thắng hai anh đã mang về cho đội tuyển Thụy Sĩ  không thể không gợi lên lịch sử của một cuộc chiến dai dẳng giữa Kosovo và Serbia.
Cuộc xung đột đã khởi đầu ngay từ cuối Thế kỷ 19 khi người Albani bị trục xuất ra khỏi Serbia và Kosovo bị sáp nhập vào Serbia. Căng thẳng giữa các cộng đồng Serbia và người Albani tại Kosovo ngày càng gia tăng và kéo dài trong suốt Thế kỷ 20. Sau Đệ nhị Thế chiến, Thống chế Josip Broz Tito đã đè bẹp tất cả mọi biểu hiện của tinh thần ái quốc của mọi sắc tộc trong Liên bang Nam Tư. Cách riêng, để kìm hãm Serbia là cộng hòa lớn nhất và có đông dân số nhất trong liên bang, ông đã cho thiết lập những chính quyền tự trị tại Tỉnh Vojvodina, ở miền Bắc Serbia và Kosovo, miền Nam cộng hòa này. Thật ra, sự tự trị mà Thống chế Tito dành cho Tỉnh Kosovo chỉ có trên danh nghĩa. Trong thực tế, mật vụ Liên bang vẫn tiếp tục đàn áp những nhà ái quốc. Năm 1956, nhiều nhà ái quốc Albani tại Kosovo đã bị đem ra xét xử vì tội gọi là gián điệp và phản động.
Cũng như các chế độ cộng sản khác trên khắp thế giới, Liên bang Nam Tư không tránh khỏi những cuộc khủng hoảng về chính trị và nhất là kinh tế. Tháng Sáu năm 1968, các cuộc biểu tình của sinh viên tại Thủ đô Belgrade đã tràn xuống Kosovo. Thống chế Tito đành phải nhượng bộ trước một số đòi hỏi của sinh viên. Riêng tại Kosovo, tiếng Albani được công nhận và Đại học Pristina được thành lập, sau một thời gian dài chỉ được xem như một chi nhánh của Đại học Belgrade.
Năm 1969, Giáo hội Chính thống, vốn là tôn giáo của đa số dân Serbia, đã yêu cầu hàng giáo sĩ phải điều tra về những vấn đề của người Serbia tại Kosovo. Giáo hội này tạo áp lực lên chính phủ trung ương để bảo đảm quyền lợi của người Serbia tại Kosovo, châm ngòi cho những xung đột vốn đã âm ỉ giữa hai sắc dân.
Năm 1970, quy chế chính trị của Kosovo được cải thiện phần nào khi hiến pháp mới của Nam Tư dành cho vùng này một số quyền chính trị. Được nhìn nhận là một tỉnh trong liên bang, Kosovo có được một ghế trong quốc hội liên bang cũng như có riêng một nghị viện, một lực lượng cảnh sát và một ngân hàng riêng.
Năm 1980, Thống chế Tito qua đời. Những thành phần cực đoan trong Đảng Cộng sản Nam Tư ngăn cấm mọi biểu hiện của tinh thần ái quốc. Tất cả những cuộc biểu tình đều bị đè bẹp. Theo ước tính, có đến gần 6 trăm ngàn người Kosovo bị bắt giữ, thẩm vấn, giam giữ. Nhiều người bị đuổi khỏi các công sở, nhất là cơ sở giáo dục. Bên cạnh đó, mối căng thẳng giữa 2 cộng đồng Albani và Serbia tại Kosovo cũng gia tăng.
Tình hình kinh tế của Kosovo lại càng tồi tệ hơn. Bị số đông người Albani kỳ thị nhiều người Serbia đã rời bỏ Kosovo để đến Belgrade tìm việc làm.
Đây cũng là thời kỳ người kế vị Thống chế Tito là Slobodan Milosevic bắt đầu cai trị bằng bàn tay sắt. Là người Serbia, ông đã tỏ ra thiên vị hẳn với người Serbia tại Kosovo. Ông ra lệnh giải tán Nghị viện Kosovo. Năm 1990, bất chấp lệnh của ông Milosevic và những cuộc đàn áp dã man của chính phủ trung ương, Nghị viện Kosovo cho công bố Hiến pháp của Cộng hòa Kosovo. Theo báo cáo viên đặc biệt của Liên Hiệp Quốc, năm 1993, cảnh sát đã gia tăng các cuộc đàn áp nhắm vào người Kosovo.
Đây là giai đoạn nổ ra các cuộc chiến giành độc lập của các cộng hòa trong Liên bang Nam Tư như Slovenia, Croatia và Bosnia. Năm 1997, Milosevic được bầu làm tổng thống của Liên bang Nam Tư.
Bị dồn vào bước đường cùng, các lãnh tụ của Kosovo thấy không còn con đường tranh đấu nào khác hơn là chiến tranh vũ trang. Dưới danh nghĩa “quân đội giải phóng Kosovo”, du kích quân Albani đã giáng những đòn chí tử xuống các lực lượng an ninh liên bang.
Trước các cuộc đụng độ ngày càng gia tăng cường độ, cộng đồng thế giới đã can thiệp. Tình hình Liên bang Nam Tư ngày càng rối ren. Chiến tranh không chỉ diễn ra giữa Kosovo và Chính phủ liên bang, mà còn giữa liên bang và các cộng hòa khác trong liên bang. Với Hiệp ước Dayton đạt được dạo tháng Mười Hai năm 1997, Liên Hiệp Quốc đã yêu cầu Chính phủ liên bang phải đáp ứng những đòi hỏi của cộng đồng Albani tại Kosovo. Nhưng phái đoàn Nam Tư đã bỏ ra về và không chịu tôn trọng hiệp ước.
Cuộc chiến ngày càng khốc liệt. Tháng Năm năm 1998, quân dội Nam Tư bắt đầu mở một cuộc hành quân tại biên giới để tiêu diệt quân đội giải phóng Kosovo. Liên minh Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương NATO đã đáp trả hành động này bằng chiến dịch được mệnh danh là Falcon: máy bay của Liên minh đã biểu dương lực lượng ngay tại nơi Nam Tư truy lùng các du kịch quân Kosovo.
Trong thời gian này, qua trung gian của Tổng thống Nga Boris Yeltsin, Milosevic đã đạt được một thỏa thuận để chấm dứt các cuộc hành quân và chuẩn bị thương thuyết với Kosovo. Với thỏa thuận này, đại diện Liên Hiệp Quốc cũng được  gởi đến Kosovo để theo dõi tình hình. Nhưng cuộc chiến vẫn tiếp tục leo thang.
Tháng Sáu năm 1998, do mối đe dọa của Nam Tư và Serbia đối với an ninh và chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ, Tổng thống Bill Clinton đã tuyên bố tình trạng khẩn trương. Ba tháng sau, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc thông qua nghị quyết 1199 qua đó bày tỏ mối quan ngại sâu xa về sự kiện 230.000 người dân Kosovo phải di tản trước việc sử dụng bạo lực của quân đội Nam Tư và các lực lượng an ninh của Serbia. Cũng qua nghị quyết này, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc yêu cầu Nam Tư (gồm có Serbia và Montenegro) chấm dứt sự thù nghịch và ngưng bắn. Ngoài ra nhiều nỗ lực cũng được thực hiện nhằm thuyết phục Tổng thống Milosevic cho phép quân đội gìn giữ hòa bình của NATO được vào Kosovo.
Nhưng Milosevic không tôn trọng và cũng không chấp nhận bất cứ một thỏa hiệp nào. Quân đội Nam Tư vẫn tiếp tục các cuộc hành quân. Tháng Giêng năm 1999, quân đội Nam Tư đã tàn sát 45 người Albani tại làng Racak. Các nước Tây Phương và Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đã mạnh mẽ lên án hành động dã man này. Và đây cũng chính là giọt nước tràn ly khiến NATO quyết định can thiệp bằng quân sự. Tháng Sáu năm 1999, NATO đã bắt đầu các cuộc không tạc. Hàng ngàn oanh tạc cơ của Liên Minh từ các căn cứ ở Ý và các hạm đội trong Biển Adriatic đã dội bom xuống Thủ đô Belgrade. Trong khi đó các nhà thương thuyết của Phần Lan và Nga vẫn tiếp tục thuyết phục Milosevic ngưng các cuộc hành quân và rút ra khỏi Kosovo, nhưng ông vẫn cương quyết tử thủ. Cuối cùng khi nhận thậy Nga, đồng minh lúc nào cũng chống lại Liên minh NATO, không chịu can thiệp để bảo vệ Nam Tư, Milosevic mới đồng ý để cho quân đội NATO được vào Kosovo.
Ngày 3 tháng Sáu năm 1999, nhà độc tài này mới chấp nhận những điều khoản của một kế hoạch hòa bình do cộng đồng thế giới đề ra để chấm dứt cuộc chiến và ra lệnh cho quân đội rút ra khỏi Kosovo.
Cuộc chiến đã khiến cho từ 1.2 triệu đến 1.45 triệu người Albani tại Kosovo phải di tản. Sau chiến tranh gần một triệu người  tỵ nạn từ các nước láng giềng đã trở về Kosovo.
Tháng Mười Một năm 2001, Tổ chức An ninh và Hợp tác Âu Châu đã giám sát các cuộc bầu cử đầu tiên tại Kosovo. Nhưng mãi cho đến tháng Hai năm 2008, Kosovo mới chính thức tuyên bố độc lập khỏi Serbia. Tính đến tháng Hai năm 2018, đã có 113 nước trên thế giới nhìn nhận Kosovo như một quốc gia độc lập. Riêng Serbia, cho tới nay vẫn chưa chịu nhìn nhận nền độc lập này.
Không nhìn nhận Kosovo như một quốc gia độc lập, Serbia cũng tìm cách ngăn cản không để cho các đội thể thao của Kosovo được tham gia vào các cuộc thi đấu quốc tế. Tuy nhiên áp lực của Serbia đã không có hiệu quả. Kosovo đã được Ủy ban Thế Vận Quốc Tế chính thức nhìn nhận năm 2014 và 2 năm sau được nhận vào Hiệp hội Túc cầu Âu châu UEFA cũng như Hiệp hội Túc cầu Thế giới FIFA.
Dạo tháng Năm vừa qua, Serbia đã không cho đội lực sĩ Thái cực đạo của Kosovo được đến nước mình để tranh giải Vô địch Âu Châu.
Nhưng thái độ thù nghịch của Serbia đối với Kosovo đã không ngăn được làn sóng ủng hộ của thế giới dành cho Kosovo qua sự hiện diện của hai tuyển thủ Xhaka và Shaqiri trong đội tuyển quốc gia Thụy Sĩ. Nhiều người Kosovo nói rằng “Khi Thụy Sĩ thi đấu thì Kosovo cũng thi đấu”.
Một ngôi làng nhỏ tại miền đông Kosovo tự nhận là “Thụy Sĩ nhỏ”, bởi vì tất cả 450 gia đình tại đây đều có bà con đang sinh sống tại Thụy Sĩ. Một ký giả Kosovo nói: “Dân mê túc cầu tại đây sẽ vui mừng vì chiến thắng của Thụy Sĩ còn hơn cả người Thụy Sĩ”.







Thứ Sáu, 29 tháng 6, 2018

Một con én không làm nên mùa xuân


Chu Thập
22/06/18
Ở tuổi “thất thập cổ lai hy”, theo dõi những trận đấu mở màn của mùa Giải Túc Cầu Thế Giới 2018, tôi thường tự hỏi: không biết 4 năm sau mình còn sống để ngồi rung đùi thưởng thức các trận thi đấu nữa không? Quả thật tôi thường lấy Giải Túc Cầu Thế Giới làm đơn vị để tính tuổi đời của mình và cũng có lúc giở giọng triết lý “cùn” để tự an ủi: còn say mê bóng đá là còn hiện hữu! Say mê đến độ dù có lúc phải thức khuya hay dậy sớm hoặc trời mùa đông lạnh cỡ nào đi nữa, tôi cũng rán bò ra khỏi giường để theo dõi những trận đấu của những đội tuyển mà mình tự nhận là “tín đồ”.
“Nguội lạnh” trong việc thờ phượng, chớ với “đạo” bóng đá thì lúc nào và ở tuổi nào tôi cũng đều thấy mình “sốt sắng” cả. Theo dõi những màn gay cấn, tim tôi cũng đập mạnh, miệng tôi cũng hét sảng lên và chân tôi cũng đá lung tung trong không khí. Nhưng với riêng tôi, theo dõi bóng đá không chỉ là thưởng thức những màn giao banh đẹp hoặc những cú làm bàn hay, mà còn để rút ra những bài học làm người nữa. Sân cỏ cũng là một trường học và một trong những bài học mà tôi có thể học được từ sân cỏ lúc nào cũng  là tinh thần đồng đội và tình liên đới.
Trong những trận thi đấu mở màn cho mùa Giải Túc Cầu Thế Giới năm nay, tôi cho rằng trận đấu giữa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha sáng thứ Năm 14/6/18 vừa qua với tỷ số 3-3 là hào hứng nhứt. Đội tuyển Bồ Đào Nha, tuy vô địch Âu Châu năm 2016, nhưng lại không có nhiều “sao” cho bằng đội tuyển Tây Ban Nha. Tây Ban Nha, tuy có nhiều “sao”, nhưng lại không có một “siêu sao” như Cristiano Ronaldo của Bồ Đào Nha. Bù lại, vì có nhiều “sao” hơn “siêu sao” cho nên Tây Ban Nha có lối chơi đồng đội rất uyển chuyển, hài hòa và tuyệt đẹp. Tuy thế, Đồ Đào Nha cũng có những đường banh đẹp và nhứt là lối thủ thành rất vững. Một mình “siêu sao” Ronaldo đã làm bàn đến 3 trái. Anh quả là người hùng của trận đấu. Nhưng Ronaldo hẳn đã không đạt được thành tích ấy nếu không có sự yểm trợ của đồng đội của anh. Dù có là “siêu sao” đi nữa, có lẽ anh cũng chỉ biết xách xe không chạy một mình trên sân cỏ nếu không có sự tiếp sức và yểm trợ của đồng đội của anh. Bóng đá là như thế. Một con én chẳng bao giờ làm được mùa xuân!
Nhìn sang trận đấu giữa đội tuyển Á Căn Đình và đội tuyển của quốc gia nhỏ bé nhứt tại Giải Túc Cầu Thế Giới năm nay là Băng Đảo, tôi lại càng thấy rõ hơn hình ảnh của con én lẻ loi ấy. Tôi muốn nói đến “siêu sao” Lionel Messi.  Dù lúc nào cũng chiếu sáng trên các sân đấu quốc tế, Messi đã chẳng làm được trò trống gì khi thi đấu cho đội tuyển quốc gia Á Căn Đình. Dân đánh cá có lẽ đã nghĩ rằng một Á Căn Đình hùng hổ và được củng cố bởi sự có mặt của “siêu sao” Messi sẽ đè bẹp được một Băng Đảo nhỏ bé. Nhưng rốt cục, tỷ số 1-1 của trận thi đấu cho thấy một mình siêu sao Messi đã chẳng mang về cho quốc gia một chiến thắng vẻ vang nào cả.
“Siêu sao” không phải là tất cả trong bất cứ lãnh vực nào. Trong thế giới ngày càng được toàn cầu hóa hôm nay, tôi càng nhận ra sự cần thiết của tình đồng đội và liên đới.
Nếu trong túc cầu hiện có đến 2 siêu sao là Ronaldo và Messi thì trong chính trường thế giới dường như chỉ có độc một siêu sao là Tổng thống Mỹ Donald Trump. Tôi dám khẳng định như thế bởi vì hiện nay chẳng có nguyên thủ quốc gia nào “nổi” như ông và đầy quyền uy như ông. Phải công tâm nhìn nhận rằng ông là một người thông minh, tài ba, xuất chúng. Không thông minh, tài ba, xuất chúng thì làm sao một con người chưa từng có kinh nghiệm trên chính trường lại có thể đánh bại tất cả mọi đối thủ một cách dễ dàng và hiện đang nắm trong tay Đảng Cộng Hòa (GOP) là Đảng đang chiếm đa số tại lưỡng viện Quốc hội, Đảng mà nhiều người gọi là Đảng của Donald Trump (Donald Trump’s GOP)  hơn là Đảng Cộng Hòa.
Tổng thống Donald Trump quả xứng đáng với danh hiệu đệ nhứt “siêu sao” trên thế giới hiện nay. Riêng với tôi ông là một hiện tượng mà tôi dành cho một niềm “đam mê” cũng gần như Giải Túc Cầu Thế Giới. Có ngày nào mà tôi không theo dõi tin tức về ông. Nhứt cử, nhứt động và nhứt là “nhứt ngôn” của ông, tôi không bỏ sót điều nào cả. Về ngôn từ của ông, theo ghi nhận của báo The Washington Post, kể từ lúc nhậm chức tổng thống đến nay, ông đã đưa ra 3001 tuyên bố không đúng sự thật (false) hay lừa dối (misleading), nghĩa là trung bình mỗi ngày ông nói dối khoảng 6.5 lần. Thật ra có ông tổng thống Mỹ nào mà không nói dối. Người tiền nhiệm của ông là Tổng thống Barack Obama cũng nổi tiếng về nói dối. Nhưng so sánh với Tổng thống Trump, có lẽ ông Obama chưa xứng đáng để làm học trò của ông trong trò chơi nói dối.
Tôi theo dõi từng lời nói của Tổng thống Trump để đối chiếu với những hành động và cử chỉ của ông như được các cơ quan truyền thông ghi lại. Về chuyện này, tôi rất tâm đắc với câu nói quen thuộc: “Một bức hình có giá trị bằng  vạn (10 ngàn) lời nói” (One picture is worth ten thousand words). Lần đầu tiên tôi nắm bắt được đôi chút về tư cách của Tổng thống Trump khi ông đi dự hội nghị thượng đỉnh của khối Minh ước Bắc Đại tây dương NATO tại Brussels, Bỉ dạo tháng Năm năm 2017. Tại đây, khi các nguyên thủ quốc gia của khối chuẩn bị tìm chỗ đứng để chụp hình chung, ông đã kéo Thủ tướng Montenegro Dusko Markovic ra sau để lấn lên phía trước. Một siêu sao quyền lực như ông phải đứng trước và đứng giữa mọi người thôi!
“Một bức hình có giá trị bằng vạn lời nói”. Có lẽ câu nói này cũng cần phải được áp dụng vào bức hình tại hội nghị thượng đỉnh khối G7 mới đây tại Gia Nã Đại được ghi lại và được tất cả các cơ quan truyền thông các nước, chớ không riêng các cơ quan truyền thông “Tin Giả” (Fake News như Tổng thống Trump luôn miệng cáo buộc) của Hoa Kỳ, đăng tải và bình luận. Trong bức hình, tôi thấy Tổng thống Trump ngồi khoanh tay, mặt nghểnh nhìn đi đâu đó trong khi tất cả các vị nguyên thủ các nước của khối G7 đứng bao quanh ông. Không biết các vị đang nói gì, nhưng có vẻ như mọi người muốn nài nỉ, van xin Tổng thống Mỹ một ân huệ nào đó. Nói gì thì nói, trong mắt tôi, Tổng thống Trump xuất hiện như một siêu sao lẻ loi, muốn làm gì thì làm, muốn nói gi thì nói như chỗ không người!
Có một bức hình khác cũng có giá trị bằng cả vạn lời nói của Tổng thống Trump. Đó là bức hình chụp ông đưa tay chào kiểu “nhà binh” trước khi bắt tay ông tướng Bắc Hàn No Kwang Choi có mặt trong hội nghị thượng đỉnh giữa ông và lãnh tụ Bắc Hàn Kim Jong-un tại Tân Gia Ba ngày 12 tháng Sáu vừa qua. Bức hình  được cả thế giới nhìn thấy này không phải do các cơ quan truyền thông “Tin Giả” của Mỹ tung ra vì không có một phóng viên ngoại quốc nào được phép có mặt trong giây phút đó cả, mà do các cơ quan truyền thông của Bắc Hàn phổ biến. Không rõ tổng thống Trump nghĩ gì khi làm động tác đó, nhưng với Bắc Hàn thì đây là một “chúc lành” mà ông Trump muốn dành cho một chế độ độc tài khát máu nhứt trên thế giới hiện nay.
Đặt hai bức hình trên đây lại bên nhau, tôi thấy hình ảnh siêu sao của Tổng thống Trump càng rõ nét hơn . Siêu sao vì muốn chơi một mình, một chợ trên sân đấu chính trị thế giới. Thoạt tiên, ông tuyên bố rút Hoa Kỳ ra mọi hiệp ước đã ký với các nước như Hiệp ước Paris về khí hậu thay đổi, Hiệp ước NAFTA về thương mại với Gia Nã Đại và Mễ Tây Cơ, Hiệp ước đối tác thương mại TPP với các nước Á Châu-Thái Bình Dương. Gần nhứt, ông lại rút tên Hoa Kỳ ra khỏi Hiệp ước nguyên tử với Iran. Một mình một chợ, trước sự phản đối của cả thế giới, ông cho dời tòa Đại sứ Mỹ từ Tel Aviv về Jerusalem để chính thức nhìn nhận thành phố cổ này là thủ đô của Israel. Cứ theo lời tuyên bố của bà Nikky Haley, đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc, vì hành động ủng hộ những vi phạm nhân quyền của Israel bị thế giới lên án, ông sẽ cho rút Hoa Kỳ ra khỏi Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Nhưng có lẽ vị trí siêu sao của ông nổi bật hơn cả trong hội nghị thượng đỉnh khối G7. Tại đây, ông đã tấn công các đồng minh thân cận nhứt của Hoa Kỳ và sỉ vả lãnh tụ của nước chủ nhà là Thủ tướng Gia Nã Đại Justin Trudeau. Không những đề nghị đưa một tên cướp đất là Vladimir Putin trở lại câu lạc bộ khối G7, ông còn bắn nguyên một tràng đạn “tuýt” để chửi rủa Thủ tướng Trudeau và bác bỏ thông cáo chung của Khối.
Tấn công các đồng minh của khối dân chủ và tự do, ông lại dành những lời lẽ tốt đẹp nhứt để ca tụng một tên đồ tể khát máu nhứt thế giới: nào là “cá tính vĩ đại và rất thông minh”, nào là “một nhà điều hành xứng đáng” được dân chúng răm rắp tùng phục, một sự tùng phục mà ông  muốn dân Mỹ và cả thế giới cũng  phải dành cho ông !
Tôi không biết cái bắt tay của Tổng thống Trump với Chủ tịch Bắc Hàn Kim Jong-un tại Tân Gia Ba rồi đây có thực sự mang lại hòa bình cho thế giới không. Nhưng nó không khỏi làm cho một người tỵ nạn cộng sản  như tôi nhớ lại cái bắt tay lịch sử của Tổng thống Richard Nixon và đổ tể Mao Trạch Đông hồi năm 1972. Cái bắt tay ấy mang lại Giải Nobel Hòa Bình cho Ngoại trưởng Mỹ Henri Kissinger và đại diện Bắc Việt Lê Đức Thọ nhờ điều được gọi là Hiệp ước hòa bình Paris một năm sau đó. Cái bắt tay ấy dĩ nhiên cũng mở đường cho Trung Cộng ngang nhiên chiếm lấy Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974. Cái bắt tay ấy dĩ nhiên đã được đổi lấy bằng sinh mạng của cả dân tộc Việt Nam năm 1975.
Tôi không biết rồi đây điều gì sẽ xảy ra cho Nam Hàn và Nhựt Bổn. Chỉ biết rằng liền sau cái bắt tay của Tổng thông Trump với lãnh tụ Kim Jong-un, các cuộc tập trận chung thường niên giữa quân đội Mỹ và quân đội  đồng minh Nam Hàn mà tổng thống Trump dùng chính thứ ngôn ngữ tuyên truyền của Bắc Hàn để gọi là “trò chơi chiến tranh”(war games), đã được ra lệnh  phải ngưng lại! Bắc Hàn và Trung Cộng chỉ có thể ăn mừng vì lệnh này.
Tổng thống Trump đã muốn xuất hiện như vị cứu tinh duy nhứt có thể mang lại hòa bình cho Bán đảo Triều Tiên và cho cả thế giới. Và để thực hiện sứ mệnh hòa bình ấy, ông đã gạt qua một bên cả thế giới và nhứt là những nước đồng minh thân cận luôn sát cánh với Hoa Kỳ. Ông quả là một “siêu sao” trên sân đấu chính trị. Ông muốn một mình giải quyết mọi vấn đề của thế giới!
Từ sân cỏ của Giải Túc Cầu Thế Giới năm nay, tinh thần đồng đội của các tuyển thủ  nhắc nhở  tôi rằng trong cuộc sống, dù ở quy mô nào, tôi cũng cần phải có bạn và duy trì tình bạn : bạn ở mọi cấp độ, bạn học, bạn chơi,  bạn đồng nghiệp , bạn xóm giềng...Và dĩ nhiên, trong cuộc sống có lẽ không gì làm cho lương tâm tôi hổ thẹn cho bằng bắt tay với kẻ thù để phản bạn!






Thứ Hai, 25 tháng 6, 2018

Băng Đảo: Quốc gia nhỏ bé nhất tại Giải Túc Cầu Thế Giới 2018



22/06/18
Một buổi sáng sớm năm 1973, một ngọn núi lửa tại miền Đông Băng Đảo phun. Nham thạch chảy tràn xuống thành phố Vestmannaeyjar, thuộc vùng Helmaey, hòn đảo lớn nhất trong Quần đảo Westman của Băng Đảo (Iceland).
Khi biến cố xảy ra, Helmir Hallgrimsson, đương kim huấn luyện viên của đội tuyển quốc gia Băng Đảo chỉ mới được 5 tuổi. Ông đã theo gia đình lên một trong hàng trăm chiếc tàu đánh cá đang trú ẩn trong vịnh vì thời tiết xấu. Những chiếc tàu đánh cá đã vội vã chạy vào đất liền. 8 tháng sau, khi trở về làng, cậu bé 5 tuổi hầu như không còn nhận ra cảnh vật của ngôi làng thân yêu của mình nữa. Có thể Hallgrimsson không thể nhớ rõ từng chi tiết, nhưng sự tàn phá của núi lửa Eldfell để lại một vết sẹo khó tẩy xóa không những trên cảnh trí, mà còn cả trên tinh thần của dân chúng.
Ngày nay, ngồi trong vận động trường quốc gia ở Thủ đô Reykjavik, huấn luyện viên Hallgrimsson xem ra bình thản thư thái. Chỉ không đầy 3 tuần trước đây, ông đã mang về cho Băng Đảo tấm vé đầu tiên để tham dự Giải Túc Cầu Thế Giới 2018 tại Mạc Tư Khoa, Nga. Và lần đầu tiên xuất hiện trên đấu trường quốc tế, đội tuyển quốc gia Băng Đảo lại phải đụng đầu với một trong những đội tuyển hùng hậu nhất nhì thế giới là Á Căn Đình, đội tuyển nổi tiếng nhờ siêu sao Lionel Messi.
Xuất thân là một nha sĩ, huấn luyện viên Hallgrimsson xem ra quen với kềm kéo trong phòng giải phẫu hơn là nghệ thuật nhồi bóng. Tuy nhiên, cứ mỗi lần nhắc đến tên của Vestmannaeyjar, thị trấn nhỏ nơi ông chào đời, gương mặt của huấn luyện viên Hallgrimsson như sáng lên. Ông không chỉ là bộ mặt của đội tuyển quốc gia Băng Đảo, mà còn là đại sứ của hòn đảo với dân số chỉ vỏn vẹn 4.500 người, nhưng là 4.500 người từ trẻ đến già đều có một ý chí sắt đá. Huấn luyện viên đội tuyển quốc gia Băng Đảo giải thích: “Núi lửa đã làm cho sự đoàn kết của dân chúng vững mạnh thêm nhiều, nhất là khi họ liên kết với nhau để chống lại những tai họa của thiên nhiên. Đây chính là một trong những yếu tố khiến bạn ý thức được bản sắc của bạn”.
Huấn luyện viên 34 tuổi này tin rằng chính nhờ cùng nhau bắt tay vào công tác dọn dẹp kéo dài hàng nhiều năm trời mà người dân Đảo Vestmannaeyjar đã rèn luyện cho mình được một ý chí sắt đá. Nham thạch từ núi lửa đã chảy tràn xuống thị trấn trong suốt 6 tháng trời. Công việc tái thiết do đó đòi hỏi thời gian và nhất là công sức của từng người.
Hallgrimsson tin rằng mọi người dân đảo, cũng như ông, nhờ chống chọi với thiên nhiên cũng như bị cô lập cho nên cũng có ý chí kiên cường hơn người dân khác tại Băng Đảo nói chung. Ông khẳng định rằng ý chí kiên cường ấy nằm “trong máu, trong thiên nhiên và trong văn hóa” của người dân Vestmannaeyjar.
Cho tới nay chưa từng có quốc gia nào nhỏ bé như Băng Đảo lại có được tấm vé để đi tham gia các trận thi đấu tại Giải Túc Cầu Thế Giới. Hồi năm 2006, Trinidad-Tobago được xem là nước nhỏ nhất tham dự Giải Túc Cầu Thế Giới. Vào lúc đó, dân số của Trinidad-Tobago cũng đã lên đến 1.3 triệu người, trong khi hiện nay dân số Băng Đảo chỉ mới trên dưới 334.000 người.
Mặc dù Băng Đảo là một quốc gia nhỏ bé, nhưng đội tuyển quốc gia của nước này cũng đã lập được một số thành tích đáng kể. Trong Giải Túc Vô Địch Túc Cầu Âu Châu hồi năm 2016, đội tuyển Băng Đảo đã lọt được vào vòng tứ kết sau khi đã đánh bại một đội tuyển sừng sỏ nhất nhì của lục địa là Anh Quốc.
Tại Giải Túc Cầu Thế Giới năm nay, Băng Đảo phải đối đầu với những đội mạnh như Á Căn Đình, Nigeria và Croatia.
Với riêng đội Á Căn Đình, ngay từ nhỏ huấn luyện viên Hallgrimsson đã say mê một cách đặc biệt. Ông cho biết trong Giải Túc  Cầu Thế Giới năm 1978, tức năm siêu sao Diego Maradonna nổi tiếng với “Bàn tay Chúa” của ông (trong trận tứ kết giữa Á Căn Đình và Anh Quốc, ở phút thứ 51 của trận đấu, Maradona đã dùng tay đánh banh vào khung thành của Anh Quốc. Cú đánh tay lanh lẹ và kín đáo đến nỗi trọng tài không nhìn thấy. Maradona gọi cú đánh banh ăn gian đó là một món quà từ “Bàn tay của Chúa”), ông và các bạn học đã say mê đội Á Căn Đình đến độ mặc áo thun của đội này và chạy rong khắp các ngã phố. Năm nay đội tuyển Á Căn Đình vẫn còn được “chuyển lửa” cho từ bàn chân vàng của siêu sao Lionel Messi: đội tuyển quốc gia hùng mạnh nhất nhì Châu Mỹ La Tinh gặp đội tuyển của một quốc gia nhỏ bé nhất tại Giải Túc Cầu Thế Giới!
Cũng như tất mọi huấn luyện viên trên khắp thế giới, Hallgrimsson cũng đặt nhiều kỳ vọng vào đội tuyển quốc gia, mặc dù đối với hầu hết mọi người dân Băng Đảo, thắng hay thua không thành vấn đề. Với họ,  lần đầu tiên trong lịch sử  có được tấm vé để đi tham dự Giải Túc Cầu Thế Giới cũng đủ để mãn nguyện rồi. Vậy mà không ngờ, với tỷ số 1-1 trong trận đấu với Á Căn Đình, Băng Đảo đã chứng tỏ, dù chỉ là một nước nhỏ bé, họ vẫn có thể thi thố và cầm chân bất cứ nước nào!
Mùa hè năm nay quả là một mùa hè lịch sử đối với người dân Băng Đảo. Nhưng đối với riêng người dân thị trấn Vestmannaeyjar, mùa hè năm nay còn đặc biệt hơn. Thị trấn này chỉ nằm cách thủ đô Reykjavik khoảng 25 phút bằng đường hàng không hay 30 phút bằng đường thủy. Gặp biển động, có khi phải mất không dưới 3 tiếng đồng hồ.
Cũng như hầu hết các thị trấn hay thành phố khác của Băng Đảo, Vestmannaeyjar cũng có hàng quán, khách sạn và nhiều phương tiện giải trí khác. Đặc biệt vào mùa hè, du khách đổ xô đến đảo để thưởng thức liên hoan ca nhạc trên đảo. Bên cạnh các phương tiện giải trí,Vestmannaeyjar còn có rất nhiều sân thể thao: một sân Golf rộng lớn với 10 phần trăm dân số có thẻ hội viên. Với diện tích chưa tới 10 cây số vuông, Vestmannaeyjar có đến 4 sân túc cầu, rất nhiều thành viên của đội túc cầu địa phương là cầu thủ của đội tuyển quốc gia.
Thật ra, Vestmannaeyjar là một bức tranh thu nhỏ của toàn cảnh Băng Đảo. Hãy đến thử câu lạc bộ thể thao Breidablik tại một khu ngoại ô của Thủ đô Reykjavik. Tại đây, trong một ngày mùa Xuân, người ta sẽ thấy khoảng 100 thiếu niên nam nữ đang tập luyện trong một trong những sân túc cầu “trong nhà” (indoor) lớn nhất của Băng Đảo với sự hướng dẫn và theo dõi của nhiều huấn luyện viên. Hầu như thành phố nào của Băng Đảo cũng đều có những sân túc cầu “trong nhà” như thế. Nhờ vậy trẻ con lúc nào cũng có thể vận động cơ thể vào những ngày thời tiết xấu vốn thường xảy ra ở Băng Đảo. Nói chung, Băng Đảo hiện đang đầu tư rất nhiều vào sinh hoạt thể thao cho giới trẻ.
Không chỉ nhắm đến sức khỏe, Băng Đảo cũng rất chú trọng đến nghệ thuật thể thao, nhất là trong túc cầu. Cách đây 15 năm, không có một huấn luyện viên nào của Băng Đảo được Liên hiệp Túc cầu Âu Châu xếp vào hạng A hay B. Nay Băng Đảo đã có đến 716 huấn luyện viên tầm cỡ với khả năng chuyên môn và kinh nghiệm được công nhận. Bất cứ một cuộc tập dượt hay thi đấu nào của trẻ em cũng đều được một huấn luyện viên đầy kinh nghiệm hướng dẫn. Với một văn hóa “bóng đá” như thế, không lạ gì ngày nay Băng Đảo đã có được một đội tuyển có tầm cỡ tại Giải Vô Đích Túc Cầu Thế Giới 2018.
Cách đây một thập niên, Băng Đảo bị đánh bại bởi những đội tuyển của những nước nhỏ như Faroe Islands với dân số 49.000 người  và ngay cả Liechtenstein với dân số vỏn vẻn chỉ có 38.000 người. Nay sự có mặt của đội tuyển Băng Đảo tại Giải Túc Cầu Thế Giới cũng đủ nói lên một bước dài mà nước này đã làm được. Sự ủng hộ “gà nhà” của dân chúng dành cho đội tuyển quốc gia cũng là một yếu tố quan trọng. Tại Giải Vô Địch Âu Châu ở Pháp hồi năm 2016, có đến 27.000 người Băng Đảo, tức 8 phần trăm dân số, mua vé đi xem và dĩ nhiên để ủng hộ đội tuyển nhà. Danh thủ Maradona đã gọi Băng Đảo là một con “ngựa về ngược” (dark horse). Ông muốn ám chỉ đến những thành công bất ngờ của đội tuyển của quốc gia nhỏ bé nhất này. Riêng cựu danh thủ Đức Herbert Matthaus thì tiên đoán rằng đội tuyển Băng Đảo sẽ vượt qua được vòng loại khi thi đấu với các đội Á Căn Đình, Croatia và Nigeria. Thật ra chẳng ai đoán trước được kết quả của những trận đấu sắp tới. Nhưng việc Băng Đảo thủ huề được với Á Căn Đình quả là một điều ngạc nhiên lý thú!
Sự thành công và đi lên của đội tuyển quốc gia Băng Đảo đáng là một câu chuyện để dựng thành phim. Halldorsson, một nhà làm phim đã trở thành đương kim thủ môn của đội tuyển quốc gia Băng Đảo giải thích: “Chúng tôi không có những ngôi sao lớn. Chúng tôi chỉ chơi vì tình yêu đối với bóng đá và đối với quốc gia. Bạn có thể cảm nhận được niềm vui mà chúng tôi đang mang lại cho các ủng hộ viên của chúng tôi”.
Trong một cuộc phỏng vấn dành cho Tạp chí Time, đương kim Tổng thống Băng Đảo, ông Giudni Johannesson đã có lần nhận định: “Bạn cần phải cẩn thận để đừng đánh giá một xã hội dựa trên những thành công về mặt thể thao”. Tuy nhiên, ông đã tỏ ra rất tự tin khi nói về đội tuyển quốc gia của nước ông: “Đối với một nước nhỏ như Băng Đảo trên thế giới toàn cầu hóa, chúng tôi thấy cần phải tự nhủ và nói với thế giới rằng chúng tôi có thể “đấm” mạnh hơn sức nặng của chúng tôi”.
Băng Đảo đã chứng tỏ được sức mạnh của thể thao trên đấu trường thế giới. Riêng trong nước cái triết lý “tất cả vì thể thao” mà Băng Đảo đã đề ra đã mang lại một phần thưởng rất khích lệ đối với người dân trong nước. Các cuộc nghiên cứu cho thấy rằng việc tham gia của người dân vào các môn thể thao có tổ chức, vốn đã tăng gấp đôi kể từ đầu thập niên 1990, đã mang lại kết quả trong việc học hành cũng như lòng tự tin nơi trẻ em. Ngoài ra quan trọng hơn, hoạt động thể thao cũng đã làm hạ giảm đáng kể việc hút thuốc và sử dụng men rượu nơi trẻ em. Kari Jonsson, Chủ tịch ủy ban Thể thao và Giải trí của Thành phố Gardabaer giải thích: “Nếu bạn giữ cho trẻ em tích cực tham gia vào các môn thể thao có tổ chức, bạn sẽ thấy kết quả tốt đẹp đối với sức khỏe của chúng”. Theo ông, thể thao giúp cho trẻ em được khỏe mạnh không những về mặt thể lý, mà còn cả về tinh thần và xã hội nữa. Điều đó có lợi cho trẻ em và dĩ nhiên cũng có lợi cho cả cộng đồng.
Băng Đảo là một trường hợp cho thấy giá trị của câu châm ngôn của người La Mã từ ngàn xưa: “Một tinh thần lành mạnh trong một thể xác lành mạnh” (Mens sana in corpore sano).

(nguồn:
-https://edition.cnn.com/2018/06/15/football/iceland-2018-world-cup-russia-heimir-hallgrimsson-intl-spt/index.html
-The little country that could, How tiny Iceland crashed the party, Tạp chí Time June 18, 2018)

Thứ Sáu, 22 tháng 6, 2018

Nghèo hay giàu cũng đều khóc cả!


Chu Thập
15.06.18

Cả thế giới đã hồi hộp theo dõi cuộc họp thượng đỉnh lịch sử của Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Bắc Hàn Kim Jong-un. Có người gọi đây là cuộc đối đầu giữa Chí Phèo và Bá Kiến. Nhưng cái chết của 2 nhân vật nổi tiếng của Mỹ là nhà nữ thiết kế thời trang Kate Spade và nhà đầu bếp Anthony Bourdain lại gợi lên cho tôi một hình ảnh khác: đó là cuộc gặp gỡ giữa một nước cùng đinh và đệ nhứt siêu cường thế giới. Nói cho cùng, đó là sự giáp mặt giữa người nghèo và người giàu. Và trong kiếp người thì giàu nghèo gì cũng đều chia sẻ chung một thân phận: khóc cười cũng giống nhau và chết cũng giống nhau!
Cuộc quyên sinh của nhà thiết kế thời trang Spade và nhà đầu bếp Bourdain đưa tôi đi vào một trong những bức tranh buồn thảm nhứt của thế giới hiện nay là cảnh con người tự kết liễu cuộc sống. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (Who), cứ mỗi 45 giây thì ở một nơi nào đó trên thế giới có một người tự tử. Nhưng trong 25 nước được xem là có tỷ lệ tự tử cao nhứt thế giới, đứng đầu danh sách dĩ nhiên là những nước nghèo. Nghèo khổ thường đẩy con người vào chỗ tuyệt vọng và dẫn đến tự tử.
Vào giữa lúc Chủ tịch Kim Jong-un đang được cả thế giới quàng lên đầu hào quang của một lãnh tụ làm nên lịch sử thế giới khi ông ngồi đồng bàn với Tổng thống Trump và ngay cả nhởn nhơ dạo phố và chụp hình “tự sướng” trên các đường phố ở Tân Gia Ba thì trong vương quốc “kín cổng cao tường” của ông, tuyệt đại đa số dân chúng đang quằn quại trong nghèo đói và khốn khổ trăm bề. Không lạ gì thiên đàng xã hội chủ nghĩa này đứng thứ nhì trong danh sách 25 quốc gia có tỷ lệ tự tử cao nhứt thế giới. Nhân quyền bị chà đạp, sự đàn áp dã man của chế độ, tình trạng nghèo đói cùng cực và căng thẳng thần kinh là những nguyên nhân khiến cho mỗi năm có đến hơn 10.000 người dân Bắc Hàn tìm đến cái chết như lối thoát duy nhứt. Có những trường hợp nguyên cả gia đình phải quyên sinh để tránh bị chế độ tàn ác của Kim Jong-un trù dập .
Nếu như nghèo đói, áp bức, khốn khổ...là những nguyên nhân đưa Bắc Hàn lên hàng thứ hai trong danh sách 25 nước có tỷ lệ tự tử cao nhứt trên thế giới, thì tại đệ nhứt siêu cường Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ, nơi có thừa mứa của cải vật chất và chẳng hề có bất cứ một sự đàn áp nào, ngày càng lại có nhiều người tự đi tìm cái chết. Cái chết của nhà thiết kế thời trang Spade và nhà đầu bếp Bourdain khiến cho nhiều người Mỹ phải giựt mình tự hỏi không hiểu sao trong vòng 17 năm qua, tỷ lệ tự tử tại Hoa Kỳ đã tăng vọt thêm 30 phần trăm. Theo các Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật Hoa Kỳ gọi tắt là CDC (Centers for Decease Control and Prevent), trung bình cứ  trong 100.000 người Mỹ sẽ có 16 người đi tìm cái chết. Chỉ trong năm 2016, đã có gần 45.000 người Mỹ tự tử, bất luận phái tính, tuổi tác, giàu nghèo, địa vị xã hội hay chủng tộc. Tự tử không kỳ thị ai hết!
Nghèo thì ở đâu cũng có. Giàu như Hoa Kỳ nhưng cũng đầy dẫy người nghèo. Có khi khoảng cách giàu nghèo tại nước này còn rộng lớn hơn  tại nhiều nước khác. Cho nên số người nghèo ở Mỹ tự tử chết không phải là ít. Nhưng điều khiến cho các chuyên gia y tế, tâm lý và xã hội học tại siêu cường này quan tâm nhiều hơn vẫn là tỷ lệ tự tử nơi người giàu có và nổi tiếng ngày càng tăng.
Cái chết của đầu bếp Bourdain là một trường hợp điển hình. Với những chương trình du lịch ẩm thực của ông, ông nổi tiếng và được yêu mến trên khắp thế giới hơn bất cứ danh nhân tài tử hay chính trị gia nào. Không những người Việt Nam trong nước mà có lẽ cả thế giới khó quên được cảnh ông ngồi đồng bàn với Tổng thống Barack Obama, vừa thưởng thức tô bún chả vừa uống bia trong quán  Hương Liên ở Hà Nội hồi năm 2016. Theo các nhà bình luận, qua các chương trình du lịch ẩm thực, ông đã mang vào từng gia đình trên khắp thế giới không những văn hóa ẩm thực mà còn cả cuộc sống, nhứt là cuộc sống lầm than khốn khổ, khốn khổ vì nghèo đói, khốn khổ vì bị áp bức  của không biết bao nhiêu người trên thế giới. Với nụ cười thân thiện và  nhân ái luôn nở trên môi của ông, không ai nghĩ rằng trong nội tâm sâu thẳm  của nhà đầu bếp nổi tiếng này lại  là cả một bầu trời u ám được bao phủ bởi những đám mây đen của trầm cảm. Trong một chương trình truyền hình hồi năm 2016, chính ông đã thú nhận rằng ông phải chiến đấu chống lại trầm cảm và nỗi cô đơn.
Trầm cảm, cô đơn...có thể là nguyên nhân dẫn đến tự tử nơi người Mỹ nói chung. Thật ra tự tử là một hành động phức tạp và đa diện. Các chuyên gia liệt kê một số yếu tố có thể đẩy đưa con người tìm đến cái chết: 42 phần trăm những vụ tự tử liên quan đến những vấn đề về quan hệ tình ái, 29 phần trăm vì gặp khủng hoảng hay căng thẳng trong cuộc sống, 28 phần trăm vì sử dụng các chất kích thích, 22 phần trăm vì bệnh thể lý hay tâm thần, 16 phần trăm vì công ăn việc làm hay vì tài chính, 4 phần trăm vì mất nhà cửa.
(x.https://www.psychologytoday.com/au/blog/view-the-mist/201806/suicide-about-the-numbers). 
Cũng theo theo các chuyên gia, tự tử cũng chẳng khác nào một căn bệnh lây lan. Một cuộc nghiên cứu được cho công bố trên báo PLOS One mới đây cho thấy cái chết của tài tử Robin Williams, danh hài nổi tiếng mang lại tiếng cười cho cả thế giới, hồi năm 2014 đã khiến cho tỷ lệ tự tử tại Hoa Kỳ tăng thêm 10 phần trăm.
Theo các chuyên gia, mẫu số chung của các cuộc tự tử trong những xã hội dư dật thường là sự trầm cảm. Ông bà ta thường nói: “càng cao danh vọng càng dầy gian nan”. Con người cố gắng leo lên đỉnh danh vọng. Nhưng từ đỉnh cao nhìn xuống, con người lại dễ thấy mình đứng chơ vơ một mình và cô đơn. Tiền bạc, danh vọng, sự nổi tiếng...thường không phải là khiên thuẫn chống đỡ cho con người trước nỗi cô đơn. Những người nổi tiếng, dù họ có giàu có hay được mộ mến đến đâu, cũng đều chia sẻ chung một thân phận con người như tôi. Hoàn cảnh bên ngoài của họ có thể ngoại hạng và khác thường, nhưng kinh nghiệm nội tâm của họ cũng giống như mọi người: họ cũng phải chiến đấu như mọi người! Họ cũng có những cảm xúc giống như tôi. Và dù cho họ có tiền rừng bạc bể và thành công cỡ nào, họ cũng không thể trốn chạy khỏi những thực tại của cuộc sống mà một người có trí não như tôi cũng phải đương đầu. Nhưng dù có chia sẻ chung một kiếp người, mỗi người vẫn là một thế giới riêng với những mảng tối riêng mà không một thứ ánh sáng nào có thể chiếu rọi vào được. Dù có những yếu tố chung đẩy con người đến chỗ cô đơn, tuyệt vọng và tự tử, mỗi một người vẫn có một lý lẽ riêng để tự kết liễu cuộc sống của mình.
George Eastman, cha đẻ của chiếc máy ảnh Kodak nổi tiếng một thời và là một nhà từ thiện hào sảng, đã kết liễu cuộc sống một cách khó hiểu ngày 14 tháng Ba năm 1932, hưởng thọ 77 tuổi, sau nhiều năm đau đớn vì bệnh đau lưng. Trong ngày cuối cùng, người độc thân già nua này đã ký những văn kiện cuối cùng để để lại tài sản cho nhiều người. Khi những người này vừa bước xuống khỏi thang lầu của ngôi nhà nguy nga đồ sộ của ông, các luật sư của ông đã nghe một tiếng nổ vang trời. Eastman đã dùng súng bắn vào trái tim của ông.
Đây là một hành động tự vẫn cương quyết và có tính toán. Trên bàn làm việc của ông, người ta đọc được vỏn vẹn mấy chữ: “Gởi các bạn của tôi. Công việc của tôi đã hoàn tất...Tại sao phải chờ đợi?” Ông đã không chờ đợi ai trả lời. Có thể có nhiều lý do để chờ đợi, ngay cả khi chúng ta thấy mình đã làm xong công việc và ngay cả khi chúng ta đau đớn yếu nhược. Về phần cha đẻ của máy hình Kodak chẳng hạn, có thể ông đã “ngộ” ra một điều gì đó mà ông cảm thấy lớn lao hơn những phát minh mà ông đã có. Chẳng ai biết được.
Mỗi một cuộc tự tử là một hành trình bí ẩn. Hầu hết những người tìm đến cái chết đều là những bệnh nhân. Không đau đớn trong thể xác thì cũng quằn quại trong tâm hồn. Nhưng cũng không thiếu những người, nhìn từ bên ngoài, lại là những người khỏe mạnh cả thể xác lẫn tinh thần và có cuộc sống xem ra hạnh phúc hơn ai hết. Không ai biết được tại sao và lúc nào họ sẽ tự kết liễu cuộc sống.
Ở tuổi “thất thập cổ lai hy”, có lẽ tôi cũng có quyền nói rằng mình cũng đã trải qua nhiều thử thách và khổ đau trong cuộc sống.Thật ra đã là một người Việt Nam sống trong chế độ độc tài cộng sản, bị đày đọa trong chốn ngục tù và đánh đổi mạng sống để đi tìm tự do trong cuộc vượt biên cũng đủ để vỗ ngực nói rằng mình đã  trải nghiệm đủ mọi thứ yếu tố có thể dẫn đến tự tử. Có lẽ một số rất ít người Việt Nam đã tìm đến tự tử như một lối thoát. Nhưng với cá nhân tôi, cho tới giờ phút này, có lẽ vì chưa nếm đủ mùi khổ lụy chăng, ý nghĩ tự tử chưa một lần thoáng hiện lên trong đầu óc tôi. Có thể đó là lý do tại sao tôi không bao giờ hiểu thấu được tại sao người khác tự tử. Chính vì vậy mà khi đứng trước một vụ tự tử, tôi chỉ biết tự nhủ rằng chỉ có một thái độ đúng đắn nhứt là cảm thông.
Cảm thông trước cái chết vì tự tử cũng là cả một cuộc hành trình lâu dài của tôi. Tôi vẫn nhớ mãi lúc nhỏ trong xóm đạo của tôi thỉnh thoảng cũng xảy ra một vụ tự tử. Thời đó và mãi cho  tới thời gian gần đây, luật của Giáo hội Công giáo vẫn còn xem tự tử là một “tội trọng”; tự tử là tiếm quyền làm chủ sự sống của Đấng Tạo Hóa và là một hành động xúc phạm đến Ngài; người chết vì tự tử không được mang vào nhà thờ để “hưởng” những nghi thức cuối cùng và nhứt là không được chôn cất trong nghĩa trang vốn được gọi là “đất thánh”. Tôi đã biết buồn khi nhìn đám tang của một người đồng đạo mà cánh cửa thiên đàng dường như đã được khép kín để chận lại. Đám tang nào cũng buồn. Nhưng có lẽ đám tang của một người bị loại ra khỏi cộng đồng chỉ vì tự tử lại càng buồn thảm hơn.
Ngày nay khi tự tử ngày càng trở thành một trong những nguyên nhân gây tử vong tại rất nhiều nước trên thế giới, nhứt là những nước thịnh vượng giàu có, tôi thấy cần phải nuôi dưỡng lòng cảm thông. Đứng trước cái chết của một người tự tử, tôi thấy mình cần có sự kính trọng và lòng cảm thông hơn bao giờ hết. Với tôi đây chính là ý nghĩa của thành ngữ “nghĩa tử nghĩa tận”. Xét cho cùng, đâu chỉ có cái chết vì tự tử mới khó hiểu và đòi hỏi lòng cảm thông. Cõi lòng của bất cứ một con người nào cũng đều là một vũ trụ bí ẩn cần được tôn trọng và cảm thông.






Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2018

Tân Gia Ba và cuộc họp thượng đỉnh Trump-Un



15/06/18
Một số  địa điểm như Thụy Điển, Vùng Phi Quân Sự giữa Bắc Hàn và Nam Hàn, Mông Cổ và Thụy sĩ đã được đề nghị làm nơi  tổ chức cuộc họp thượng đỉnh giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Bắc Hàn Kim Jong-un, nhưng cuối cùng Tân Gia Ba đã được chọn lựa.
Thật ra nhiều người không ngạc nhiên khi Tân Gia Ba được chọn làm địa điểm của cuộc họp thượng đỉnh lịch sử này. Quốc gia hải đảo với dân số trên dưới 5 triệu người này có một đội ngũ ngoại giao cũng như an ninh và tình báo được cả thế giới trọng nể. Quốc gia này cũng đã chứng tỏ là một trong những nơi an toàn nhất để tổ chức các cuộc họp thượng đỉnh quan trọng. Thật vậy Tân Gia Ba đã đứng ra tổ chức nhiều cuộc họp thượng đỉnh cho các quốc gia của khối Đông Nam Á cũng như nhiều cuộc gặp gỡ song phương khác. Năm 2009, Tân Gia Ba đã được chọn để tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh của khối APEC (Hợp tác Kinh tế Á châu Thái bình dương). Mới nhất là cuộc gặp gỡ giữa Chủ tịch Trung Cộng Tập Cận Bình và Tổng thống Đài Loan Mã Anh Cửu hồi năm 2015.
Tân Gia Ba thường được chọn làm địa điểm của những cuộc họp thượng đỉnh vì nước này có nhiều khách sạn và trung tâm với nhiều tiện nghi cũng như được trang bị đầy đủ để bảo đảm an ninh tối đa. Ngoài ra quốc gia giàu có này cũng cho biết luôn sẵn sàng chịu các phí tổn của các cuộc họp thượng đỉnh. Đây là điều mà một nước nghèo như Mông Cổ không thể đảm nhận được.
Một trong những lý do khác khiến Tân Gia Ba được chọn làm nơi gặp gỡ giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Kim Jong-un chính là vị trí của nước này. Thật vậy, về mặt địa lý, Tân Gia Ba gần với Bắc Hàn hơn là Thụy Điển hay Thụy Sĩ. Người dân Bắc Hàn có thể đến Tân Gia Ba dễ dàng hơn là đi qua các nước Âu Châu.
Ngoài ra còn có một lý do khác quan trọng hơn: cũng như nhiều nước Đông Nam Á khác, Tân Gia Ba vẫn duy trì các mối quan hệ với Bắc Hàn, đồng thời cũng giữ liên lạc chặt chẽ với Hoa Kỳ. Tân Gia Ba đã thiết lập và duy trì quan hệ ngoại giao với Bắc Hàn từ hơn 40 năm qua và cũng như nhiều nước Đông Nam A khác, đã  từng có quan hệ ngoại thương với Bắc Hàn. Nhưng tình hình đã ít nhiều thay đổi sau khi Bắc Hàn chủ mưu ám sát ông Kim Jong-nam, người anh cùng cha khác mẹ của Chủ tịch Kim Jong-un tại Mã Lai hồi năm ngoái và nhất là kể từ khi Tổng thống Trump tung ra chiến dịch trừng phạt kinh tế Bắc Hàn.
Trước năm 2016, người dân Bắc Hàn có thể đến Tân Gia Ba mà không cần xin chiếu khán nhập cảnh. Nhờ vậy, các viên chức chính phủ Bắc Hàn có thể đến Tân Gia Ba để chữa bệnh và đi mua sắm. Một cách nào đó, đảng viên và thành phần giàu có của Bắc Hàn đã ít nhiều làm quen với cuộc sống tại Tân Gia Ba.
Trước vụ ám sát ông Kim Jong-nam và những biện pháp trừng phạt kinh tế do Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc áp đặt lên Bắc Hàn, nhiều nước Đông Nam Á vẫn muốn gia tăng các quan hệ ngoại thương với Bắc Hàn khi quốc gia cộng sản này tỏ dấu muốn cởi mở về kinh tế và mời gọi nước ngoài đầu tư.
Riêng về quan hệ với Hoa Kỳ, trên danh nghĩa Tân Gia Ba không phải là một đồng minh của Hoa Kỳ. Tuy nhiên cho tới thời điểm này, về an ninh Tân Gia Ba vẫn là một đối tác gần gũi nhất của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á. Xuyên qua nhiều thời tổng thống, các viên chức Mỹ luôn đặt nhiều tin tưởng nơi cơ quan tình báo, các nhà lãnh đạo chính trị và ngoại giao của Tân Gia Ba. Hai bên đã hợp tác với nhau trong nhiều vấn đề chiến lược.
Dưới nhiều khía cạnh Tân Gia Ba là nơi an toàn nhất để tổ chức cuộc họp thượng đỉnh Trump-Un, bởi vì quốc gia hải đảo này có những luật lệ rất khắt khe để giới hạn các cuộc biểu tình. Tại nước này, phải có giấy phép của cảnh sát mới được tổ chức những cuộc tập trung công khai. Tại trung tâm Tân Gia Ba có một công viên có tên là “Góc dành cho các diễn giả” (Speakers’ Corner). Đây là nơi duy nhất được phép biểu tình mà không cần xin phép. Tuy nhiên ngay cả tại nơi này cũng có một số giới hạn: không cần giấy phép, nhưng cũng phải có sự chuẩn thuận của chính quyền và người ngoại quốc tuyệt đối không được phép tham dự!
Khi được báo chí hỏi: liệu có phải vì Tân Gia Ba giới hạn các cuộc phản đối mà nước này được chọn làm địa điểm của cuộc gặp gỡ giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Kim Jong-un không, Tòa Bạch Ôc chỉ trả lời rằng chính phủ “đã trình bày quan điểm của chúng tôi và tin tưởng ở tự do ngôn luận”.
Là một quốc gia thịnh vượng, tân tiến được xây dựng trên một số giá trị của nền dân chủ Tây Phương, nhưng Tân Gia Ba đã bị chỉ trích nhiều vì áp dụng luật pháp và trật tự một cách độc tài với những hình phạt mà thế giới cho là quá nặng đối với một số hành vi phạm pháp như nhai kẹo cao su, khạc nhổ và vẽ bậy. Ngay cả quan hệ tính dục giữa nam đồng tính cũng bị trừng phạt. Các tổ chức bênh vực nhân quyền đã không ngừng lên tiếng chỉ trích Chính phủ Tân Gia Ba vì mỗi năm phạt đánh roi hàng trăm tù nhân. Hình phạt này được thế giới biết đến vào năm 1994 khi một thiếu niên Mỹ tên là Michael Fay bị đánh roi vì vì vẽ bậy lên xe và các nơi công cộng. Chính phủ Mỹ, kể cả đích thân Tổng thống Bill Clinton có lên tiếng xin tha, Tân Gia Ba vẫn ra lệnh dùng roi trừng phạt người thiếu niên. Phản đối là một hành động hầu như là bất hợp pháp tại Tân Gia Ba. Đây có thể là điều mà cả Tổng thống Trump lẫn chế độc độc tài Kim Jong-un đều tán thành.
Chính vì Tân Gia Ba luôn giới hạn quyền tự do phát biểu mà một người Úc đóng vai Chủ tịch  Kim Jong-un đã bị giữ lại tại phi trường và bị các giới chức an ninh thẩm vấn vì chính kiến của mình. Tuy nhiên, sau đó người đàn ông tự xưng là Howard X, với khuôn mặt, mái tóc, y phục đại cán và điệu bộ rất giống với Chủ tịch Kim, đã được nhận diện tại trung tâm Thành phố Tân Gia Ba; ông đi rảo phố, bắt tay và chụp hình với dân chúng. Nhân vật Kim Jung-un “giả” này cho biết mục đích của chuyến đi của ông là để cầu chúc cho cuộc họp thượng đỉnh Trump-Un được thành công mà thôi.
Tuy trung tâm Thành phố Tân Gia Ba là một nơi rất an toàn cho các cuộc họp thượng đỉnh, nhưng địa điểm của cuộc gặp gỡ giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Un lại là một đảo nhỏ có tên là Sentosa. Sentosa có diện tích khoảng 5 cây số vuông, nằm cách đảo chính khoảng nửa cây số. Đây là hòn đảo lớn thứ tư của Tân Gia Ba. Đảo Sentosa có 3.2 cây số đường biển gồm toàn cát trắng. Trên đảo có một khách sạn 5 sao có tên là Capella Hotel. Đây chính là nơi diễn ra cuộc họp thượng đỉnh lịch sử giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Kim Jong-un. So với cuộc sống nhộn nhịp quay cuồng ở trung tâm  Thành phố Tân Gia Ba, Sentosa là một nơi rất yên tĩnh.
Ngày nay đến Sentosa, du khách chỉ thấy bãi biển, các khách sạn sang trọng, các sòng bài và sân Golf, nhưng trong thời Đệ nhị Thế chiến đây là nơi đã từng được quân đội Nhật dùng làm chỗ để giam giữ các tù binh Anh và Úc Đại Lợi. Sentosa cũng đã từng là nơi một số người Tân Gia Ba gốc Hoa bị xử tử vì bị tình nghi hoạt động chống lại Nhật Bản.
Chỉ từ thập niên 1970, sau một cuộc thi đặt tên hòn đảo do bộ du lịch Tân Gia Ba tổ chức, hòn đảo này mới được gọi là Sentosa, theo tiếng Mã Lai có nghĩa là “an bình và thanh thản”. Sentosa bắt nguồn từ “Santosha” trong tiếng Phạn (Sancrit) có nghĩa là “hài lòng, thỏa mãn”. Trước đó, tên của đảo này là Pulau Blakang Mati, có nghĩa là “Đảo nơi Tử Thần đang chờ đợi”.
Đảo Sentosa đã trải qua nhiều lần thay tên đổi họ. Cho đến năm 1830, hòn đảo này có tên là Pulau Panjang, nghĩa “đảo dài”. Không rõ tại sao hòn đảo này lại được cải tên thành Pulau Blakang Mati.
Có người cho rằng sở dĩ hòn đảo này được đặt tên là “Đảo nơi Tử Thần đang chờ đợi” là bởi vì nó đã từng là cứ địa của bọn cướp biển và do đó cũng là nơi diễn ra các vụ cướp bóc, giết người.
Theo một giải thích khác, được gọi là “Nơi Tử Thần chờ đợi” bởi vì đây là nơi hồn các tử sĩ chọn làm nơi cư trú vĩnh viễn.
Cũng có người cho rằng sở dĩ được đặt tên là “nơi Tử Thần đang chờ đợi” bởi vì vào thập niên 1840, một cơn dịch bệnh đã bùng nổ trên đảo và quét sạch toàn bộ cư dân đầu tiên trên đảo là sắc tộc Bugi. Theo Bác sĩ Robert Little, người được giao mở cuộc điều tra về cái chết hàng loạt của người Bugi, nguyên nhân cái chết là một loại sốt được gây ra bởi một loại khói bốc lên từ lá khô pha trộn với nước bẩn trên đảo.
Giải thích hợp lý hơn có lẽ là tình trạng khô cằn, thiếu đất canh tác của hòn đảo. Nhìn từ biển khơi, cảnh trí của hòn đảo xem ra không “bắt mắt” đối với các thủy thủ.
Ngay cả cho tới thập niên 1990, Chính phủ Tân Gia Ba cho xây dựng nhiều công trình trên đảo để thu hút du khách. Nhưng Sentosa vẫn chưa đủ sức hấp dẫn đối với du khách. Nhiều người mỉa mai nói rằng Sentosa là tên viết tắt của câu “So Expensive and Nothing to See Also”, nghĩa là “Quá đắt và cũng chẳng có gì để xem”.
Trong thời Đệ nhị Thế chiến, Sentosa đã được Anh quốc biến thành một pháo đài quân sự lấy tên là Fort Siloso. Nhưng dù được trang bị tận răng, pháo đài này cũng không đủ sức chống trả trước sức tấn công của quân đội Nhật. Năm 1942 quân Đồng minh đầu hàng. Pháo đài Fort Siloso được quân đội Nhật biến thành một trại tù để giam giữ các tù binh Anh và Úc. Đây cũng là thời gian mà có đến 300 người dân gốc Hoa vì tình nghi có hoạt động chống lại Nhật Bản đã bị xử tử trên đảo này.
Năm 1943, Nhật Bản đầu hàng. Tân Gia Ba được trao trả lại cho Anh Quốc. Pháo đài Fort Siloso trên Đảo Sentosa biến thành một quân trường để huấn luyện các tân binh người địa phương trước khi gởi họ đến những đơn vị khác của quân đội Anh tại Tân Gia Ba.
Năm 1967, Anh Quốc trao trả độc lập cho Tân Gia Ba. Căn cứ quân sự trên Đảo Sentosa được giao cho quân đội Tân Gia Ba.
Vào thập niên 1970, Chính phủ Tân Gia Ba quyết định biến Đảo Sentosa thành một địa điểm du lịch cho người trong nước và du khách nước ngoài. Với mục đích này, nhiều thế hệ người dân gốc Hoa và Mã Lai đã từng sinh sống trên đảo bị chính phủ dời vào Tân Gia Ba và cho cư trú trong những căn hộ nhỏ bé, nhưng giá cao.
Đây là một quyết định gây nhiều tranh cãi. Nổi tiếng là “Đảo Tử Thần” trong thời Đệ nhị Thế chiến, Sentosa cũng được biết đến như một nơi lưu đày của một số nhà bất đồng chính kiến. Năm 1989, cựu tù nhân chính trị đã từng được đề cử lãnh giải Nobel Hòa Bình là ông Chia Thye Poh đã từng bị lưu đày tại Sentosa 3 năm rưỡi sau khi bị giam tù 23 năm.
Có phải đây là hình ảnh của một quốc gia mà một chế độ độc tài khát máu như Bắc Hàn và một ông tổng thống luôn lên tiếng ca ngợi các chế độ độc tài đã chọn để gặp nhau không?



(nguồn:
-https://www.cnbc.com/2018/06/08/why-trump-and-kim-picked-singapore-for-meeting.html
-https://en.wikipedia.org/wiki/Sentosa)