Thứ Sáu, 8 tháng 6, 2018

Chỉ cần lòng bác ái và kính trọng



Chu Thập
01/06/18
Tôi không thuộc phe bảo hoàng. Nhưng cũng như nhiều “thần dân” Úc, tôi đã háo hức chờ đợi và say mê theo dõi đám cưới của hoàng tử Harry và cô Meghan Markle.
Đám cưới vương giả nào cũng “hoành tráng”. Nghi thức nào cũng trang trọng. Khách mời nào cũng đều là những nhân vật nổi tiếng. Nhưng tôi lại thích những chi tiết nhỏ ít được chú ý đến hơn. Chẳng hạn như sự hiện diện của một người thanh niên Nam Phi được chính hoàng tử Harry mời đến tham dự lễ cưới của mình.
Năm 2004, Harry đã đến Nam Phi để làm việc thiện nguyện trong một cô nhi viện để gây ý thức về dịch bệnh Sida, tình trạng nghèo đói và nạn hạn hán mà Thành phố Lesotho đang phải đối diện. Chính tại đây mà Harry đã gặp cậu bé 4 tuổi tên là Mutsu. Họ đã trở thành đôi bạn luôn có mặt bên nhau trong những hoạt động từ thiện của Harry.
14 năm sau, nay đã là một thanh niên 18 tuổi, Mutsu đã được vinh dự có mặt trong ngôi vườn bên cạnh nguyện đường St George để chào đón hoàng tử Harry và tân nương.
Vào giữa lúc trào lưu chống di dân và kỳ thị chủng tộc tại Anh Quốc và một số nước Âu Châu đang lớn mạnh, tôi đoán chừng hoàng tử Harry muốn gởi đi một thông điệp khi mời người thanh niên Nam Phi tham dự lễ cưới của mình. Thông điệp của hoàng tử Harry lại càng rõ nét hơn qua chính con người của cô dâu. Hậu duệ của người nô lệ da đen tại Hoa Kỳ không những ngồi đồng bàn với con cháu của các chủ nhân da trắng, mà còn trở thành công nương của Hoàng gia Anh.
Một người da đen khác mà tôi cho là “cái đinh” của đám cưới chính là bà Doria Ragland, mẹ của cô dâu. Bà là thân nhân duy nhứt của cô dâu có mặt trong đám cưới. Sự sang trọng và quý phái của hoàng gia Anh  dường như đã lu mờ trước làn da đen nổi bật của bà. Nhưng có lẽ cái tâm của người phụ nữ da đen 61 tuổi này mới là điều đáng được chú ý hơn. Cô dâu Meghan vẫn thường được mẹ gọi là “Flower”. Nụ cười khả ái và nhân ái của cô chính là một “đóa hoa” xuất phát  từ tấm lòng của người mẹ. Viết về mẹ mình, Meghan kể lại rằng bà thường “mua gà tây gởi đến các trung tâm dành cho người vô gia cư vào những dịp lễ Tạ ơn, mang thức ăn đến cho các bệnh nhân trong các nhà thương dành cho người nghèo, mở ví để san sẻ với những người túng thiếu và âm thầm thực thi những cử chỉ tử tế như trao một cái hôn, một nụ cười hay một cái vỗ vai để an ủi và nâng đỡ tinh thần những người cần được giúp đỡ”.
Khi ông bà Markle chia tay, Meghan chỉ mới 6 tuổi. Cô đã hoàn toàn sống với  mẹ từ ngày ấy. Lòng nhân ái của bà Ragland đã ảnh hưởng rất nhiều đến những hoạt động từ thiện của Meghan, nhờ đó cô đã chiếm được trái tim của hoàng tử Harry. Cô chia sẻ về ảnh hưởng của người mẹ: “Càng lớn tôi càng nhìn thấy điều đó. Chính điều đó biến tôi thành một thiếu nữ có ý thức về (những vấn đề) xã hội, để làm những gì mình có thể làm hay ít nhứt, dám lên tiếng khi thấy có điều sai trái”.
Là “cái đinh” trong hôn lễ, nhưng bà Ragland hoàn toàn giữ thinh lặng. Nhưng tôi cho rằng tất cả những gì bà Ragland muốn nhắn gởi, bà đã nói qua Giám mục Michael Curry, một người da đen hiện đang lãnh đạo Giáo hội Anh Giáo Episcopal tại Hoa Kỳ. Được mời thuyết giảng trong lễ cưới, Giám mục Curry đã mở đầu bằng một câu nói của cố Mục sư Martin Luther King: “Chúng ta cần phải khám phá ra sức mạnh của tình yêu. Đó là sức mạnh cứu rỗi của tình yêu. Và khi chúng ta yêu thương, chúng ta sẽ làm cho thế giới này thành một thế giới mới. Tình yêu là con đường duy nhứt”. Không những nhắc đến tên của vị mục sư da đen nổi tiếng đã bị sát hại vì tranh đấu cho quyền bình đẳng của người da đen tại Hoa Kỳ, Giám mục Curry cũng gợi lại cả một lịch sử đen tối của người nô lệ Phi Châu.
Với sự hiện diện của bà Ragland trong lễ cưới, dường như nguyện đường St George đã tràn ngập màu đen của cả một lục địa đã từng bị cướp bóc, chiếm đoạt và bắt làm nô lệ. Ca khúc “Stand by me” (Hãy đứng bên tôi) được một ca đoàn gồm toàn người da đen cất hát trong lễ cưới có lẽ cũng muốn gợi lại những trang sử đen tối ấy. Cuối cùng, ở cuối buổi lễ, khi người nhạc sĩ đại hồ cầm  da đen 19 tuổi tên là Sheku Kanneh-Mason trình diễn, tôi nghe như tiếng kêu gào của người nô lệ da đen trong quá khứ và niềm đau của hậu duệ của họ, những người cho tới nay vẫn tiếp tục bị kỳ thị và đẩy ra bên lề xã hội.
Như Ký giả Afua Hirsch đã viết về đám cưới của Harry và Meghan trong Tạp chí Time số ra ngày 4 tháng Sáu này, “đối với một số người Anh da đen, đây là một điều đáng hãnh diện vì có một người phụ nữ da màu gia nhập vào hoàng gia. Nhưng đối với một số người khác, cuộc hôn phối này cũng gợi lên cả một thành kiến lâu đời về giai cấp”.
Thật ra, như Ký giả Hirsch đã ghi nhận, cũng như rất nhiều nước khác trên thế giới, Anh quốc cũng đã từng là đất nước của người di dân. Nhiều người Anh quên rằng những nhóm người da trắng được xem là dân “bản địa” chính cống như người Anglo hay người Saxon, cũng đã từng là người di dân từ Đức hay các nước Bắc Âu. Trước họ, ngay từ thời Anh Quốc bị Đế quốc La Mã cai trị, người da đen cũng đã có mặt trên đất nước này.
Nói chung, con người ta dễ quên lịch sử và gốc gác của họ. Chính vì quên lãng lịch sử và gốc gác của mình mà họ dễ có thái độ kỳ thị, khinh miệt và loại trừ người di dân. Trong một bài viết được đăng trên Việt Báo, Giáo sư Nguyễn Thanh Việt, tác giả của quyển tiểu thuyết “The Sympathizer” (cảm tình viên) được trao giải Pulitzer năm 2016, đã phân tách thái độ ấy khi nhận định về một câu nói của ông John Kelly, đương kim Chánh Văn Phòng Tòa Bạch Ốc. Khi mô tả những người di dân bất hợp pháp đến từ Châu Mỹ La Tinh, ông Kelly nói rằng “họ hầu hết là dân quê mùa. Họ đến từ những xứ mà bình thường trình độ học vấn chỉ đến lớp bốn, năm hoặc sáu. Họ không nói được tiếng Anh. Họ khó mà hội nhập được. Họ đâu có kỹ năng chuyên môn nào” (x. Nguyễn Thanh Việt, Tiền bối của John Kelly cũng không thể hội nhập, Việt Báo on line 23/5/2018).
Ông Kelly nhìn nhận rằng người di dân có lý do để tìm đến Hoa Kỳ. Ông thông cảm với họ. Nhưng theo ông “luật là luật”. Dù sao, giọng điệu của ông Kelly nghe chưa đến nỗi hằn học và miệt thị như Tổng thống Donald Trump. Ông Trump đã từng gọi các nước Phi Châu là “những nước hố xí” (Shithole countries) và mới cách đây hai tuần, như Giáo sư Việt ghi nhận, ông đã gọi một số di dân bất hợp pháp là “đồ súc vật”.
Không riêng những người kỳ thị chủng tộc và chống di dân ra mặt, theo Giáo sư Việt, “ngay cả một số bạn bè Việt-Mỹ của tôi, những người mà, dù đã đến đất nước này dưới dạng di tản tỵ nạn chiến tranh, cũng cho rằng Hoa Kỳ không nên nhận thêm bất cứ người tỵ nạn nào nữa, nhất là những người từ các nơi như Syria. Một vài người, như ông thị trưởng Mỹ gốc Việt của Thành phố Westminser, California, nơi đông đảo dân Việt hải ngoại cư ngụ nhất, còn kêu lên rằng Hoa Kỳ không nên nhận thêm bất cứ người di dân trái phép nào nữa, vì trong bọn họ có cả “bọn tội phạm”. Chúng ta là những người tỵ nạn lương thiện, họ lập luận như vậy. Còn dân mới đến là những người tỵ nạn xấu”.
Thật ra, như Giáo sư Việt ghi nhận, “trong những thập niên 1970 và 1980, tôi có thể chứng nhận rằng đã có rất nhiều người tỵ nạn xấu trong chúng ta. Gian lận phúc lợi. Lừa gạt bảo hiểm. Hối lộ. Bạo lực băng đảng, với biệt tài riêng đột nhập tư gia”.
Cộng đồng người Việt hải ngoại nhìn chung đã hội nhập một cách thành công vào các xã hội Tây Phương. Nhưng ở khởi đầu, khi mới chân ướt chân ráo đặt chân đến một đất nước xa lạ, hầu hết đều là những người có trình độ thấp, không nói được ngôn ngữ của đất nước đón nhận mình. Giáo sư Việt kể lại rằng “mẹ ông đã vươn lên từ cảnh quê mùa nghèo khổ để trở thành một thương gia thành công qua những quyết định rất liều lĩnh, trong đó quyết định đầu tiên là rời miền Bắc di cư vào Nam năm 1954”, rồi di tản qua Mỹ năm 1975. Bà không thạo tiếng Anh, nhưng trong công việc bà đã giỏi đủ để đóng góp tiền thuế nhiều hơn nhiều người Mỹ. Giáo sư Việt còn kể lại rằng “nhiều người Mỹ coi bà chỉ là một kẻ ngoại cuộc, kể cả cái người đã treo bảng trên cửa sổ một tiệm gần tiệm thực phẩm của bố mẹ tôi tại San  José: “Thêm một người Mỹ mất kế sinh nhai vì dân Việt”.
Giáo sư Việt là một người đã thành công trong xã hội Mỹ. Nhưng ông vẫn tự nhận mình là một trong những người Mỹ gốc Việt đã không hề quên mình, biết  đồng hành với những người di dân và tỵ nạn, với người nghèo khổ và bị bỏ rơi, những người với hoàn cảnh rất giống mẹ ông.
Mới đây, một người di dân bất hợp pháp gốc Mali, Phi Châu tên là Mamoudou Gassama,  đã được tổng thống Pháp vinh danh như một anh hùng và được cấp quyền công dân sau khi anh đã leo lên nhiều tầng lầu để cứu một đứa bé 2 tuổi đang đánh đu trên một lan can. Thước phim quay lại cảnh người thanh niên đã liều mạng để cứu sống đứa bé đã được nhanh chóng truyền đi khắp thế giới. Anh được tặng cho danh hiệu “Spider-Man” (người nhện). Người di dân bất hợp pháp này xứng đáng để được tuyên dương như một anh hùng và được trao quyền công dân.  Không phải người di dân bất hợp pháp nào tại Pháp, Hoa Kỳ hay bất cứ quốc gia Tây Phương  nào cũng đều là “anh hùng” cả. Phần lớn, như Chánh Văn Phòng Tòa Bạch Ốc đã nói, có thể chỉ có trình độ tiểu học. Nhưng cũng như bà mẹ của Giáo sư Việt và vô số ông bà tổ tiên của người di dân và tỵ nạn, trong đó có tiền bối của ông Kelly và ngay cả ông nội của Tổng thống Trump, dù ở bước đầu không thành thạo ngôn ngữ của quê hương mới, họ vẫn cố gắng vươn lên, tạo cho mình một cuộc sống xứng với phẩm giá con người, đóng góp cho đất nước, chuẩn bị và gầy dựng nên những thế hệ tương lai tốt đẹp.
Viết về mẹ mình và những cố gắng hội nhập của mẹ mình trong xã hội mới, Giáo sư Việt kết luận: “Bà có cần đâu lòng thương hại hay sự hổ thẹn của tôi. Chỉ cần lòng bác ái và sự kính trọng”.
Người di dân, tỵ nạn hay bất cứ một thành phần nào bị kỳ thị và đẩy ra bên lề xã hội...không cần lòng thương hại hay sự hổ thẹn của tôi. Họ “chỉ cần lòng bác ái và kính trọng”. Đó là thông điệp mà tôi nghe được  từ đám cưới của hoàng tử Harry và cô Meghan Markle.







Thứ Hai, 4 tháng 6, 2018

Anh Ngữ trong thời đại toàn cầu hóa



01/06/18
Trong nhiều màn quảng cáo trên đài truyền hình cho Giải Túc Cầu Thế Giới sẽ khai mạc tại Nga vào ngày 12 tháng Sáu tới đây, người ta thường thấy câu “We all speak Football”. Nếu thế câu này bằng “We all speak English” (Tất cả chúng ta đều nói tiếng Anh) thì cũng chẳng sai chút nào. Ngày nay Anh ngữ là ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất thế giới.
Nhưng điều đáng ngạc nhiên hơn cả là nếu hỏi nước nào có nhiều người nói tiếng Anh nhất hay có nhiều người học Anh ngữ nhất, câu trả lời sẽ là:Trung Cộng!
Theo một cuộc nghiên cứu được nhà xuất bản Cambridge University Press cho công bố, hiện có trên 350 triệu người dân Trung Cộng có ít hay nhiều kiến thức về Anh ngữ. Còn riêng tại Ấn Độ, con số này cũng lên đến cả trăm triệu.
Tại Trung Cộng, có lẽ có nhiều người nói tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai hơn số người Mỹ sử dụng nó như tiếng mẹ đẻ. Tại Hoa Kỳ, có khoảng một phần năm dân số sử dụng một ngôn ngữ khác với Anh ngữ.
Nhưng hiện nay vấn đề đang được đặt ra cho Anh ngữ là: ngôn ngữ này có còn là tiếng nói được ưa chuộng nhất thế giới nữa không? Theo tổ chức Diễn đàn Kinh tế Thế giới, hiện có khoảng 1.5 tỷ người trên thế giới đang sử dụng Anh ngữ. Nhưng trong số này không có tới 400 triệu sử dụng nó như ngôn ngữ chính của họ.
Dĩ nhiên, không chỉ có một thứ Anh ngữ thuần nhất. Ngay cả tại Anh. Tại thành phố cảng Portsmouth chẳng hạn, người dân vẫn còn sử dụng thổ ngữ “Pompey” riêng của họ.
Anh ngữ hiện vẫn còn là ngôn ngữ được ưa chuộng và sử dụng nhiều nhất, nhất là khi 2 người đối thoại không nói cùng một ngôn ngữ. Hãy thử tưởng tượng một cuộc nói chuyện giữa một người Trung Hoa không biết tiếng Pháp và một người Pháp không biết tiếng Trung Hoa. Nếu có một thứ tiếng chung mà họ có thể sử dụng để giao thiệp với nhau thì tiếng đó thường là Anh ngữ.
Cách đây 5 năm, đó là hoạt cảnh thường xảy ra. Nhưng nay thì không. Nhờ những tiến bộ của việc dịch thuật bằng máy điện toán  và kỹ thuật nhận diện tiếng nói, hai bên có thể giao dịch với nhau bằng tiếng mẹ đẻ của mình mà vẫn nghe và hiểu được người đối diện của mình.
Như vậy, Anh ngữ ngày càng không còn là ngôn ngữ toàn cầu nữa. Gặp một bản văn Anh ngữ trên máy vi tính, chỉ cần ấn nút để chuyển ngữ, người ta đã có thể đọc được bằng một thứ tiếng khác. Nếu máy vi tính có thể làm được công việc chuyển ngữ, vậy thì cần gì phải nhọc công để học Anh ngữ nữa?
Hiện tại nếu bạn muốn giao dịch làm ăn trên quy mô thế giới hay chơi các trò chơi điện tử mới nhất hoặc nghe những bản nhạc kích động mới nhất...có thể bạn sẽ gặp khó khăn nếu bạn không nói được Anh ngữ. Nhưng mọi sự đã thay đổi và thay đổi nhanh chóng.
Tại trường Đại học Stanford, Tiểu bang California, Hoa Kỳ, Giáo sư Wonkyum Lee, một chuyên gia điện toán hiện đang giúp phát triển kỹ thuật phiên dịch và nhận diện tiếng nói. Kỹ thuật này tiến bộ đến độ khi nói chuyện điện thoại với một trung tâm giao dịch, bạn sẽ không biết mình đang nói chuyện với một người thật hay với một máy điện toán.
Christoper Manning, một giáo sư về ngữ học và điện toán cũng thuộc Đại học Stanford, tin rằng trong tương lai việc dịch thuật trên máy điện toán nếu không tốt hơn thì chí ít cũng bằng việc thông ngôn của người thật.
Nhưng đây không chỉ là thách đố duy nhất mà Anh ngữ đang phải đối diện. Bởi vì ngày càng    nhiều người nói tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai hay thứ  ba của họ, cho nên Anh ngữ cũng ngày càng bị pha trộn với ngôn ngữ địa phương. Chỉ riêng tại Ấn Độ, ngoài  giọng nói đặc trưng của mỗi miền, người ta còn nghe nhiều thứ Anh ngữ pha trộn với tiếng địa phương như Hinglish, Benglish và Tanglish. Bên Phi Luật Tân cũng vậy, người dân vẫn thích nói thứ tiêng Anh mà họ gọi là Taglish. Đây là thứ Anh ngữ được pha trộn với ngôn ngữ chính của người Phi  là Tagalog.  Ngay cả tại Hoa Kỳ, nhiều người Mỹ gốc Châu Mỹ La Tinh, khi nói tiếng Anh cũng pha trộn nó với ngôn ngữ của cha ông họ. Họ gọi thứ ngôn ngữ được pha trộn với tiếng Tây Ban Nha ấy là Spanglish.
Ngôn ngữ không chỉ là một phương tiện để thông tin và truyền đạt. Nó còn là thể hiện của bản sắc của con người. Ngôn ngữ nói lên ý thức về bản sắc của mỗi người. Thi sĩ Josiah Luis Alderete, vốn sinh trưởng  tại Thành phố San Francisco, Tiểu bang California, thích làm thơ bằng tiếng Spanglish. Ông gọi đây là ngôn ngữ của phản kháng. Theo ông,  đây là cách thế người Mỹ gốc Tây Ban Nha bày tỏ sự gắn bó và niềm kiêu hãnh của họ đối với di sản văn hóa của họ, ngay cả khi họ sinh trưởng và lớn lên tại Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ.
Sở dĩ Anh ngữ đã “thống trị” thế giới là nhờ hai cường quốc mạnh nhất thế giới là Hoa Kỳ và Anh Quốc. Ở khởi đầu, Anh ngữ chỉ là một thổ ngữ được nói nhiều tại miền tây Đức. Từ giữa thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ thứ 7 sau Công nguyện, thổ ngữ này được người Anglo Saxon mang theo khi đi định cư tại Anh. Vào thế kỷ thứ 8 và thứ 9, một phần lãnh thổ Anh bị người Bắc Âu và người Norman từ Pháp chinh phục. Được pha trộn với thổ ngữ của những giống dân này, ngữ vựng và văn phạm Anh ngữ  đã trở nên phong phú hơn. Nhưng phải đợi đến khoảng năm 1500, Anh ngữ được văn hào William Shakespeare sử dụng mới được trau chuốt hơn, nhờ vay mượn từ tiếng La Tinh và cổ ngữ Hy Lạp cũng như nhiều ngôn ngữ Âu Châu khác như tiếng Pháp, tiếng Đức và tiếng Hòa Lan. Cách phát âm cũng chịu nhiều thay đổi trong thời kỳ này. Nhưng phải đợi sang thế kỷ 17 Anh ngữ mới thực sư thay da đổi thịt để trở thành Anh ngữ hiện đại như ngày nay. Đây là thứ Anh ngữ đã được Đế quốc Anh xuất cảng sang các nước thuộc địa và trở thành ngôn ngữ chính tại Anh và Ái Nhĩ Lan, Hoa Kỳ và Gia Nã Đại, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan và nhiều nước cựu thuộc địa khác. Với thế lực của Hoa Kỳ, Anh ngữ đã trở thành ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất trên thế giới trong hậu bán Thế kỷ 20. Ngay tại Âu Châu là nơi trước đây Pháp ngữ và La Tinh được xem như ngôn ngữ ngoại giao và kinh doanh, nay đành phải nhường ngôi lại cho Anh ngữ. Ngoài ảnh hưởng của Anh quốc và Hoa Kỳ, các nhà truyền giáo Anh thoại của các Giáo hội Kitô cũng góp phần rất lớn trong việc quảng bá Anh ngữ. Ngày nay, thế giới toàn cầu hóa lại càng làm cho chỗ đứng ưu biệt của Anh ngữ ngày càng nổi bật hơn.
Nhưng nay, nhất là với sự vươn lên của Trung Cộng như đệ nhị  siêu cường kinh tế, địa vị thống trị của Anh ngữ xem ra ngày càng bị lung lay.
Nếu bạn là một người trẻ sinh ra và lớn lên tại vùng Hạ Sahara, bên Phi Châu, có lẽ bạn nên học tiếng Quan Thoại và tìm việc làm tại Trung Cộng hơn là bám vào Anh ngữ chỉ mới ở trình độ trung học và hy vọng tìm được việc làm ở Hoa Kỳ hay Anh Quốc.
Ngay cả tại Hoa Kỳ, học tiếng Quan Thoại hiện cũng đang là thời thượng. Năm 2015, theo thống kê, con số học sinh trung học học tiếng Trung Hoa đã tăng gấp đôi trong vòng 2 năm. Ở cấp đại học, trong thập niên vừa qua, số sinh viên học tiếng Trung Hoa cũng đã tăng gấp đôi.
Tuy nhiên, tại Uganda, Phi Châu, mọi môn học trong tất cả các trường trung học đều phải được dạy bằng Anh Ngữ và một số phụ huynh dạy Anh ngữ cho con cái họ như tiếng mẹ đẻ của chúng. Trong một cuộc nghiên cứu do Cơ quan Ngữ học Thế Giới thực hiện,  Uganda được xếp vào hạng nhất trong các nước nói tiếng Anh hay nhất tại Phi Châu. Sau Uganda là các nước Nam Phi, Nigeria, Kenya và Namibia. Mặc dù nói tiếng Anh theo giọng đặc trưng của họ, người dân Nigeria được xem là những người nói tiếng Anh chuẩn nhất nếu xét về văn phạm và cách đặt câu. Tổng cộng tại Phi Châu. Lục địa Phi Châu có tất cả 54 quốc gia, trong số này có 24 nước nói tiếng Anh. Một số nước cựu thuộc địa của Pháp cũng muốn chuyển sang Anh ngữ. Như trường hợp Rwanda chẳng hạn: trong một cuộc thi hoa hậu thế giới, hoa hậu nước này đã phải vất vả để nói tiếng Anh; đây là lý do khiến nước này quyết định chuyển từ Pháp thoại sang Anh thoại.  
Không riêng Phi Châu, tại nhiều vùng khác trên thế giới, Anh ngữ vẫn còn được xem như một thứ “hộ chiếu” dẫn đến thành công. Việt Nam không là một ngoại lệ. Người Việt trong nước hiện nay rất “sính” tiếng Anh. Thời Pháp thuộc, nhiều người Việt ,trong khi nói chuyện, tuy chưa bao giờ học tiếng Pháp, vẫn thích đệm vài câu, vài chữ tiếng Pháp vào tiếng Việt. Ngày nay cũng vậy, trong văn từ hay trong đàm thoại, nhiều người cũng thích “xổ” tiếng Anh, mặc dù có thể không nắm vững ý nghĩa của những chữ ấy. Nói chung, người Việt trong nước hiện đua nhau học Anh ngữ. Các trung tâm dạy Anh ngữ mọc lên như nấm. Học tiếng Anh không chỉ để chuẩn bị xuất ngoại, đi du học, tìm việc làm ở nước ngoài, nhiều người học để giao dịch và làm ăn ngay trong nước. Như báo Thanh niên đã có lần ghi nhận: “Có những người chưa từng được học qua bất kỳ trường lớp ngoại ngữ nào, cũng chưa từng đi nước ngoài. Vậy mà họ vẫn có thể tiếp và “bắn” tiếng Anh “như gió”. Có thể bạn không tin, nhưng đó là câu chuyện  “mưu sinh” có thật của những chú xe ôm, nhưng tiểu thương hay thậm chí chỉ là những người bán hàng rong quanh khu chợ Bến Thành.” Theo báo Thanh niên, tại Chợ Bến Thành vào một ngày cuối tuần, cảnh tượng đầu tiên đập vào mắt là lượng khách nước ngoài đông đến...nghẹt thở. Từ hàng quần áo, giày dép cho đến hàng quà lưu niệm, khu hàng ẩm thực...đâu đâu cũng thấy khách Tây nhiều hơn khách ta. Do đó, cần phải biết “chút” tiếng Anh để giao dịch với người ngoại quốc. Một bà chủ tiệm quần áo giải thích rằng nói tiếng Anh là chuyện bình thường của người buôn bán. Theo bà, buôn bán với khách đa quốc tịch thì người bán cũng phải lận lưng vài ngôn ngữ làm vốn. Nhiều người còn biết cả tiếng Thái, tiếng Pháp, tiếng Hàn nữa. Nhưng hầu như ai cũng rành tiếng Anh vì nói tiếng Anh thì khách nào cũng biết; họ nghe mình chào hàng bằng tiếng Anh thì lại càng thích mua hàng của mình nhiều hơn.
Nhìn chung, với hiện tượng toàn cầu hóa hiện nay, Anh ngữ vẫn tiếp tục là ngôn ngữ “thống trị” trên thế giới. Kỹ thuật thông dịch trên máy điện toán, các ngôn ngữ “lai căng” ngày càng được quảng bá, thế vươn lên của Trung Cộng...có thể đó là những thách đố mà Anh ngữ đang phải đương đầu. Cũng như mọi ngôn ngữ, Anh ngữ cần phải không ngừng thay đổi và thích nghi với những nhu cầu mới. Nhưng nó vẫn còn là ngôn ngữ được ưa thích và sử dụng nhiều nhất trên thế giới hiện nay.


(nguồn:
-http://www.bbc.com/news/world-
-https://africa-facts.org/english-speaking-countries-in-africa/
-https://en.wikipedia.org/wiki/History_of_English)

Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2018

Đứng về phía con người



Chu Thập
Tuần qua, tôi có dịp đi thăm một người dì trong một viện dưỡng lão. Dì tôi được cho ở trong một căn phòng riêng tương đối yên tĩnh, nhờ đó, như dì khoe, dì có điều kiện để chú tâm vào việc đọc kinh và cầu nguyện suốt ngày. Nhưng trong suốt buổi nói chuyện với dì tôi không cảm thấy thoải mái. Cứ năm ba phút dì lại xem đồng hồ đeo tay, nhìn lên bức chân dung khá lớn của Chúa Giêsu trên tường. Dì cho biết: ngày nào cũng như ngày nào, cứ đúng 3 giờ chiều là giờ Chúa Giêsu trút hơi thở cuối cùng trên thập giá, dì quỳ xuống và giang tay cầu nguyện, nhứt là cầu nguyện cho những người không chịu hay không biết cầu nguyện. Không nói ra nhưng có lẽ dì cũng cho tôi vào danh sách những người “nguội lạnh” ấy.  Gần đây, dì cầu nguyện nhiều hơn vì theo dì, “tận thế” sắp tới nơi rồi; loạn lạc, chiến tranh và đủ thứ tai họa cũng như sa đọa của con người là những điềm báo về ngày “tận thế”.
Tôi không ngạc nhiên vì sao dì tôi nhìn mọi biến cố đang xảy ra trên thế giới dưới lăng kính của ngày tận thế. Mỗi ngày chúa nhựt, khi đến nhà thờ, người tín hữu Kitô nào mà chẳng tuyên xưng rằng “ngày sau hết”, tức ngày tận thế, Chúa Giêsu sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét người đang sống cũng như kẻ đã chết. Nhưng chẳng ai biết được khi nào ngày tận thế sẽ đến. Lúc nhỏ, tôi thường nghe người lớn nói rằng ngày tận thế sẽ xảy ra vào năm 2000. “Con bọ Y2K” hồi năm 2000 đã khiến cho nhiều người lo sốt vó. Vậy mà cuối cùng ngày tận thế có đến đâu!
Ở tuổi ngoài 80, dì tôi vẫn còn tỏ ra “ngang tầm thời đại”. Chỉ vào màn ảnh truyền hình treo trên tường, dì cho biết chuyện gì xảy ra trên thế giới, dì cũng đều biết cả. Không biết khi theo dõi thời cuộc, dì tôi có biết chuyện hôm 14 tháng Năm vừa qua, Tổng thống Trump đã cho dời tòa Đại sứ Mỹ từ Tel Aviv về Jerusalem không. Với quyết định này, dù cho cả thế giới có chống đối cỡ nào, tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ vẫn ngang nhiên nhìn nhận cổ thành này là thủ đô của Israel. Nếu biết chuyện chắc dì tôi sẽ rất tâm đắc, bởi vì việc dời tòa đại sứ Mỹ về Jerusalem và chính thức nhìn nhận cổ thành này như thủ đô của Israel là một ứng nghiệm của một lời tiên tri trong Kinh Thánh của Do Thái và Kitô Giáo theo đó, khi người Do Thái tản mác khắp nơi trở về Jerusalem thì ngày đó chính là  ngày “thế tận” (Armageddon), ngày Chúa trở lại, ngày “con cái Chúa” được cứu thoát và dân “ngoại đạo” sẽ bị trừng phạt.
Tôi không tin rằng Tổng thống Trump “đạo đức” đến độ quyết định cho dời tòa Đại sứ Mỹ về Jerusalem để làm cho ngày “thế tận” mau xảy đến và “con cái Chúa” chóng được giải thoát. Với Tổng thống Trump, dời tòa Đại sứ Mỹ về Jerusalem là chỉ  để thực thi một lời hứa trong chiến dịch bầu cử mà ông đã cam kết với các “nhóm lợi ích” ủng hộ Israel và nhứt là những thành phần cơ bản dồn phiếu cho ông là các tín hữu Tin Lành bảo thủ. Theo các cuộc thăm dò, có đến 80 phần trăm các tín hữu Tin Lành bảo thủ đã dồn phiếu cho ứng cử viên Trump và hiện nay vẫn tiếp tục “sống chết” cho ông. Họ tin rằng ông là vị cứu tinh được Chúa gởi đến. Ông là khí cụ được Chúa sử dụng để thực hiện lời hứa của Ngài về ngày “thế tận”.
Cá nhân Tổng thống Trump có thể không phải là một tín hữu Tin Lành mẫu mực. Ông ít khi đến nhà thờ. Ông có 2 lần ly dị và 3 lần cưới vợ. Ông dính vào nhiều vụ bê bối tình dục. Ông mở nhiều sòng bạc. Ông lại khoe khoang và nhứt là nói dối như cuội. Ông cũng từng tuyên bố rằng ông chẳng bao giờ xin Chúa tha thứ cho mình. Nhưng các tín hữu Tin lành bảo thủ không màng đến tư cách của ông. Đối với họ chỉ có một điều quan trọng: ông là người được Thiên Chúa “tuyển chọn” để thực hiện kế hoạch của Ngài. Họ lý luận rằng trước bầu cử ai cũng nghĩ ứng cử viên Trump sẽ không bao giờ có thể đắc cử, nhưng ông đã chiến thắng một cách vẻ vang. Điều đó chứng tỏ rằng chẳng có Nga hay thế lực ngoại bang nào can thiệp vào cuộc bầu cử cả. Theo họ, Thiên Chúa đã làm phép lạ. Thiên Chúa đã  tuyển chọn ông. Cách đây 2500 năm, người Do Thái đã từng bị đày sang Babylone. Theo Kinh Thánh, chính vua Ba Tư là Cyrus đã ra lệnh chấm dứt cuộc lưu đày, đưa họ trở về Palestine và truyền lệnh cho tái thiết Đền thờ Jerusalem. Kinh Thánh xem vua Cyrus như một người được Thiên Chúa tuyển chọn để giải thoát người Do Thái khỏi cảnh lưu đày và đưa họ trở về quê cha đất tổ. Không riêng người Do Thái mà các tín hữu Tin Lành bảo thủ ngày nay cũng xem Tổng thống Trump như một vua Cyrus của thời đại được Thiên Chúa tuyển chọn để đưa dân Do Thái trở về Palestine. Tại Trung tâm Giáo dục “The Mikdash Educational Center” ở Israel, người ta thấy có một bức phù điêu trên đó chân dung của Tổng thống Trump và vua Cyrus chập vào nhau như bóng với hình. Chính Thủ tướng Israel, ông Benjamin Netanyahu cũng đã so sánh Tổng thống Trump với vua Cyrus và nói rằng với quyết định dời tòa Đại sứ Mỹ về Jerusalem, Tổng thống Trump “sẽ được dân tộc chúng tôi (Do Thái) muôn đời tưởng nhớ”.
Có lẽ Tổng thống Trump không đơn phương quyết định dời tòa Đại sứ Mỹ về Jerusalem. Xung quanh ông toàn là những người  được tác động bởi một niềm tin vững chắc vào ngày “thế tận” và ngày “thế tận” chỉ có thể xảy ra bằng lò lửa chiến tranh tại Trung Đông. Với những người này, chiến tranh tại Trung Đông có bùng nổ thì “thế tận” mới đến. Một trong những người ấy là Phó tổng thống Mike Pence. Không cần phải úp mở, ông là người đã từng tuyên bố thẳng thừng rằng chiến tranh tại Trung Đông là do “thánh ý” của Thiên Chúa, rằng Thiên Chúa muốn vùng đất Palestine phải được trao trả lại cho dân tộc Do Thái và ngày “thế tận” (Armageddon) là một phần trong kế hoạch của Thiên Chúa. Theo ông, dời tòa Đại sứ Mỹ về Jerusalem và nhìn nhận Jerusalem là thủ đô của người Do Thái chính là góp phần thực hiện kế họach của Thiên Chúa.
Nhân vật thứ hai cũng được tác động bởi cùng một niềm tin như Phó tổng thống Pence không ai khác hơn là ông Steve Bannon, người đã từng là cố vấn thân cận và đáng tin tưởng nhứt của Tổng thống Trump. Ông này đã công khai tuyên bố rằng ông là thành viên của một nhóm tin lành bảo thủ tự xưng là “Phong trào Sion Kitô”, tức những người tin tưởng rằng ủng hộ Israel là thực thi kế hoạch của Thiên Chúa.
Nói chung tất cả các tín hữu Tin lành bảo thủ đều đặt niềm tin của họ vào lời hứa của Thiên Chúa với Tổ phụ Abraham của người Do Thái: “Ta chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi và ai nguyền rủa ngươi, ta sẽ nguyền rủa nó; và tất cả mọi dân tộc trên mặt đất đều sẽ được chúc phúc xuyên qua ngươi” (sách Sáng Thế Ký 12,3). Hiểu một cách đơn giản, lời hứa này có nghĩa là: “ngươi sẽ không làm điều gì xấu xa trước mặt Thiên Chúa nếu ngươi ủng hộ Israel”. Nói cách khác, đứng về phía Israel là đứng về phía Thiên Chúa. Suy rộng ra, Tổng thống Trump là người đứng về phía Israel, vậy Tổng thống Trump đứng về phía Thiên Chúa. Và vì là người luôn đứng về phía Thiên Chúa cho nên Tổng thống Trump được Thiên Chúa trao cho quyền muốn làm bất cứ điều gì ông muốn.
Một trong những nhà lãnh đạo tinh thần được Tổng thống Trump tin tưởng nhứt là Mục sư Robert Jeffress, người đang cai quản một đại thánh đường tại Dallas, Tiểu bang Texas. Trong một cuốn sách được ấn hành hồi năm 2014, vị mục sư này viết rằng Tổng thống Barack Obama là người dọn đường do “Quỷ vương” ra đời. Là người đã tích cực vận động cho ứng cử viên Trump trong cuộc bầu cử hồi năm 2016, Mục sư Jeffress  đã được Tổng thống Trump mời đến hướng dẫn một buổi cầu nguyện riêng trong gia đình ông vào buổi sáng ngày 20 tháng Giêng năm 2017, tức ngày ông tuyên thệ nhậm chức tổng thống. Trong rất nhiều bài giảng, vị mục sư này luôn to tiếng kết án tất cả mọi tôn giáo khác. Với ông, tất cả mọi tôn giáo khác làm cho con người xa lánh Thiên Chúa chân thật và dẫn đưa con người xuống hỏa ngục. Riêng Công giáo, ông khẳng định rằng đây là một Giáo hội do quỷ Satan lãnh đạo.
Phải là người đóng một vai trò quan trọng trong các quyết định sinh tử của Tổng thống Trump cho nên Mục sư Jeffress  mới được mời đến cầu nguyện trong buổi lễ khai trương tòa Đại sứ Mỹ tại Jerusalem. Trong lời cầu nguyện, ông cảm tạ Thiên Chúa vì đã ban tặng cho Israel, Hoa Kỳ và thế giới một món quà cao quý là Tổng thống Trump, người luôn đứng về phía Thiên Chúa bởi vì đứng về phía Israel.
Dì tôi đã có lý để cầu nguyện mỗi ngày vì nghĩ đến ngày “tận thế”. Ngay chính ngày Tổng thống Trump đứng về phía Thiên Chúa và Israel để dời tòa đại sứ Mỹ về Jerusalem, bạo động đã bùng nổ tại Palestine, nhiều người Palestine đã chết dưới bàn tay thô bạo của quân đội Israel. Có phải vì muốn cho người Do Thái được trở về Jerusalem mà Thiên Chúa đã phải mượn tay của Tổng thống Trump để gây ra đau thương tang tóc cho một số người và tạo ra căng thẳng và bạo động tại Trung Đông không?
Mỗi khi nghĩ đến “thánh ý” của Thiên Chúa hay kiểu nói “đứng về phía Thiên Chúa”, tôi không thể không nghĩ đến câu nói nổi tiếng của Tổng thống Abraham Lincoln (1809-1865) trong thời nội chiến tại Hoa Kỳ. Vị tổng thống này nói: “Điều tôi quan tâm không phải là Thiên Chúa có đứng về phía chúng ta không. Mối quan tâm lớn nhứt của tôi là tôi phải đứng về phía Thiên Chúa, bởi vì Thiên Chúa luôn luôn đúng”. Dĩ nhiên, Thiên Chúa luôn luôn đúng. Nhưng Thiên Chúa nào? Thiên Chúa của ai? Lịch sử thế giới đã chẳng cho thấy  có quá nhiều “Thiên Chúa” đó sao?
“Thiên Chúa” của người Do Thái đã tuyển chọn họ làm dân riêng và ra lệnh cho họ tiêu diệt mọi dân tộc khác. Khi giải phóng họ khỏi kiếp nô lệ bên Ai Cập, Thiên Chúa này đã ra lệnh cho họ giết  tất cả những đứa con trai đầu lòng của người Ai Cập. Như đã hứa với Tổ phụ Abraham của họ, Thiên Chúa này “nguyền rủa tất cả những ai nguyền rủa họ”.
Vào thế kỷ thứ 4 sau Công nguyên, khi Kitô Giáo trở thành quốc giáo trong Đế quốc La Mã, nhân danh Thiên Chúa, người ta cũng đã bách hại và tiêu diệt những ai không tin Thiên Chúa của mình. Cũng nhân danh Thiên Chúa ấy, người ta mở các cuộc thập tự viễn chinh để chống lại người Hồi giáo. Cũng nhân danh Thiên Chúa ấy, các hệ phái của Kitô Giáo tàn sát lẫn nhau và cũng nhân danh Thiên Chúa ấy, người ta đi khắp nơi để chiếm đất đai của những dân tộc khác và xóa sạch những truyền thống văn hóa nghìn đời của họ.
Ngày nay, cũng nhân danh Thiên Chúa của mình, các tổ chức khủng bố Hồi giáo tha hồ muốn giết ai thì giết. Tại nhiều nước Hồi giáo, người ta cũng nhân danh Thiên Chúa để cấm đoán, loại trừ và bách hại tất cả những ai không tin Thiên Chúa của mình.
Ngay từ trang đầu tiên, Kinh Thánh viết rằng “Thiên Chúa đã tạo thành con người”. Nhưng lịch sử nhân loại xem ra đã đảo lộn chân lý ấy thành “con người đã tạo thành Thiên Chúa” và đã o ép để bắt Thiên Chúa đứng về phía mình hơn là “đứng về phía Thiên Chúa” như Tổng thống Lincoln đã cam kết.
Có lẽ 2 di sản đáng ghi nhớ nhứt trong sự nghiệp chính trị của Tổng thống Lincoln chính là tranh đấu để giải phóng người nô lệ Phi Châu và kiến tạo sự hòa giải sau cuộc nội chiến tại Hoa Kỳ. Ông đã chứng tỏ mình muốn “đứng về phía Thiên Chúa” bằng hai nỗ lực cụ thể ấy.
Có thể tôi chối bỏ những “kiểu mẫu” Thiên Chúa mà người ta nặn ra, nhưng tôi tin rằng chính lúc tôi đứng về phía con người, nhứt là những con người không đủ khả năng để bảo vệ cho chính mình...đó là lúc tôi đứng về phía Thiên Chúa, một Thiên Chúa, như Chúa Giêsu dạy, là “Đấng cho mặt trời mọc lên soi sáng cho người xấu cũng như kẻ tốt và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất lương” (Mt 5,45). Có thể tôi không đến nhà thờ hay một nơi thờ phượng nào, nhưng khi tôi vẫn còn thấy mình có thể mềm lòng khi nhìn thấy người khác bị đối xử bất công, đói khổ, có thể rơi lệ khi thấy trẻ con mình mẩy đầy thương tích vẫn phải cố chạy thoát thân trong bom đạn, hay vẫn còn có thể phẫn nộ và đau khổ khi thấy mình không làm được gì cho những người bị đẩy ra bên lề...lương tâm tôi mách bảo tôi rằng tôi đang đứng về phía Thiên Chúa.
Tôi tin như vậy! Bởi vì qua họ, tôi thấy mình nhìn thấy gương mặt sống động của Thiên Chúa.








Thứ Hai, 28 tháng 5, 2018

Palestine và Ngày Thảm Họa



25/05/18
Việc Hoa Kỳ khai trương tòa đại sứ tại Jerusalem và xem Jerusalem như Thủ đô của Israel đã tạo ra một đợt sóng bạo động mới tại Gaza, Palestine. Các lực lượng Israel đã tấn công vào đám đông những người biểu tình tại Gaza khiến cho trên 60 người bị thiệt mạng và hàng trăm người bị thương. Hầu như cả thế giới đều lên án hành động bắn giết bừa bãi của Israel. Tuy nhiên “quan thày” của Israel là Hoa Kỳ vẫn cố tình để yên cho Israel ra tay tàn sát người Palestine. Khi cho dời tòa đại sứ từ Tel Aviv về Cổ thành Jerusalem, Tổng thống Trump muốn gởi đi một tín hiệu cho biết Chính phủ Hoa Kỳ hoàn toàn đứng về phía Israel trong cuộc xung đột triền miên giữa Israel và Palestine. Với hành động này, Tổng thống Trump đã được dân Israel tung hô như một anh hùng và ân nhân. Một công trường gần tòa đại sứ mới của Hoa Kỳ đã được đặt tên lại là công trường Trump để vinh danh ông. Một đội túc cầu của Jerusalem là “Beitar Jerusalem” đã đệm thêm tên ông vào tên của đội thành ra “Beitar “Trump” Jerusalem”. Nhưng Tổng thống Trump càng nở mặt thì người dân Palestine càng đau buồn.
Hoa Kỳ đã chọn ngày 14 tháng Năm vừa qua để khai trương tòa đại sứ tại Jerusalem bởi vì đây là ngày kỷ niệm Israel tuyên bố lập quốc. Thật vậy, ngày 14 tháng Năm vừa qua đánh dấu đúng 70 năm Israel tuyên bố độc lập. Nhưng với người Palestine, đây là một ngày thảm họa. Nếu người Việt tỵ nạn xem ngày 30 tháng Tư hàng năm là ngày “Quốc hận”, thì kể từ năm 1948, với người Palestine, ngày 15 tháng Năm hàng năm là ngày Nakba, tức Ngày Thảm Họa. Trong ngày này, người Palestine tưởng nhớ cảnh làng mạc của họ bị đốt phá, đất đai ruộng vườn của họ bị chiếm đóng và hàng trăm ngàn người bị đuổi ra khỏi nhà. Kể từ đó người Palestine đã trở thành người tỵ nạn ngay chính trên quê hương mà họ đã cư ngụ từ hai ngàn năm qua.
Có lẽ phải đặt mình vào địa vị của người Palestine để hiểu được tại sao Palestine đã trở thành một vùng đất của bạo động và xô xát triền miên giữa người Palestine và người Israel. Hàng năm cứ đến Ngày Thảm  họa Nakba, dù trong tuyệt vọng, người Palestine vẫn cứ ào ạt tham gia cuộc tuần hành thường được mệnh danh là “Cuộc Tuần hành Vĩ đại trở về quê hương”. Vẫn biết sẽ bị quân đội Israel đàn áp dã man, hàng ngàn thanh niên Palestine vẫn hiên ngang lên đường đi đến những nơi đã từng là quê cha đất tổ của họ.
Ngày 15 tháng Năm hàng năm quả là một Ngày Đại Họa đối với người Palestine, bởi vì chỉ trong một sớm một chiều, nguyên một lãnh thổ trong đó cả một dân tộc với một truyền thống lâu đời đã bị chiếm đóng, nguyên một xã hội bị xóa sạch, cả một dân tộc biến thành người tỵ nạn ngay chính trên quê hương của mình.
Lịch sử vẫn còn in đậm nét để người Palestine không thể nào quên được Ngày Đại Họa của họ. Sau Đệ nhất Thế chiến, Hội Quốc Liên, tiền thân của Liên Hiệp Quốc, đã phân chia Đế quốc Thổ thành nhiều lãnh thổ và trao cho các cường quốc thực dân. Vùng đất ngày nay được xem là lãnh thổ của Israel và những vùng đất của người Palestine bị chiếm đóng được trao cho Anh Quốc cai trị. Anh Quốc là nước đã từng yểm trợ cho phong trào Sion của người Do Thái, tức phong trào kêu gọi người Do Thái tản mác khắp nơi trở về Palestine. Anh Quốc được trao cho sứ mệnh giúp tìm một nơi cho người Do Thái trở về được định cư. Nhưng sứ mệnh này không hề nói đến việc thành lập một “quốc gia Israel”.
Khi trao phó cho Anh Quốc sứ mệnh bảo đảm cho người Do Thái hồi cư có được “ngôi nhà” để ở, Hội Quốc Liên nhấn mạnh rằng cần phải mưu cầu “phúc lợi và sự phát triển” cho những dân tộc đang sinh sống ở Palestine. Vào năm 1922, khi Hội Quốc Liên giao phó sứ mệnh cho Anh Quốc thì tại Palestine, có đến gần 90 phần trăm cư dân là người Á Rập theo Hồi giáo và Kitô Giáo, trong khi đó người Do Thái chỉ chiếm khoảng 11 phần trăm dân số.
Sau Đệ nhị Thế chiến, cán cân dân số tại Palestine hoàn toàn thay đổi: với làn sóng người Do Thái ồ ạt trở về, dân số Á Rập tại đây chỉ còn chiếm khoảng 68 phần trăm và dân số Do Thái lại tăng lên đến 32 phần trăm, trong số này có hai phần ba sinh tại ngoại quốc.
Ngày 29 tháng Mười Một năm 1947, chỉ gần một năm sau khi ra đời, Liên Hiệp Quốc đã thông qua một nghị quyết kêu gọi chia đôi Palestine, một nửa thuộc về người Á Rập và một nửa thuộc về người Do Thái. Nghị quyết cũng cho phép thành lập quốc gia Israel.
Kể từ năm 1917, Palestine được đặt dưới quyền kiểm soát của Anh Quốc là quốc gia ủng hộ việc thiết lập một quốc gia Israel tại Palestine. Vì cuộc diệt chủng đối với người Do Thái do Đức quốc xã chủ xướng trong thời Đệ nhị Thế chiến, bên cạnh Anh Quốc, hầu như tất cả các nước Tây Phương đều tỏ bày thiện cảm với người Do Thái và khát vọng thành lập quốc gia của họ.
Theo kế hoạch của Liên Hiệp Quốc, Palestine được chia thành ba vùng thuộc về người Do Thái, bốn vùng thuộc về người Á Rập. Riêng Cổ thành Jerusalem được trao cho Liên Hiệp Quốc và từ đó trở thành một đô thị quốc tế. Ngoại trừ các nước Á Rập, các nước Tây Phương cũng như Liên Xô đều tán thành kế hoạch của Liên Hiệp Quốc.
Ngày 14 tháng Năm năm 1948, tức sáu tháng sau khi Liên Hiệp Quốc thông qua nghị quyết phân chia lãnh thổ Palestine và cho phép Israel lập quốc, nước này đã chính thức tuyên bố độc lập. Quân đội Anh rút ra khỏi Palestine. Thế nhưng Nghị quyết của Liên Hiệp Quốc không được tôn trọng. Israel ngang nhiên lấn chiếm thêm lãnh thổ, hàng ngàn người Palestine phải rời bỏ quê cha đất tổ của họ. Nại lý do bênh vực người Palestine, các nước Á Rập xung quanh cũng đưa quân sang lấn chiếm những vùng đất đã được phân chia cho người Do Thái. Năm 1967, chiến tranh giữa Israel và các nước Á Rập bùng nổ. Quân đội các nước Á Rập bị Israel đè bẹp. Israel chiếm đóng thêm một số vùng khác của Palestine và các nước Á Rập.
Cuộc xuất hành của người Palestine đã bắt đầu ngay từ tháng Giêng năm 1948, tức trước cả khi Israel tuyên bố lập quốc. Đã có trên 100.000 người Palestine, phần lớn thuộc giai cấp thượng lưu và trung lưu, rời bỏ các thành phố và thị trấn là những nơi thường diễn ra các cuộc xung đột bạo động. Cho tới thời điểm đó, các cuộc trục xuất vẫn chưa xảy ra nhiều. Nhưng kể từ tháng Tư năm 1948, các lực lượng Do Thái đã mở các chiến dịch tàn sát người Palestine và cưỡng  bách họ phải ra đi. Đẫm máu nhất trong chiến dịch khủng bố của Israel là cuộc thảm sát tại làng Deir Yassin ngày 9 tháng Tư năm 1948. Đã có khoảng 100 người Palestine bị tàn sát dã man. Hành động khủng bố này đã gieo rắc kinh hoàng nơi người Palestine, khiến họ không còn chọn lựa nào khác hơn là phải ra đi. Những người chọn lựa ở lại cũng không được ở yên. Các dân quân Do Thái tìm đủ cách để bứng họ ra khỏi nhà cửa, ruộng vườn của họ.
Kể từ đầu tháng Tư năm 1948, Israel đã tung ra chiến dịch quân sự lấy tên là “Kế hoạch Dalet”. Một trong những mục tiêu của chiến dịch này là tiến hành thanh lọc chủng tộc đối với hầu hết những người Á Rập đang sinh sống trong những vùng nằm trong lãnh thổ của Israel. Trong quyển hồi ký của ông, cựu Thủ tướng Israel Yitzhak Rabin, người đã được trao tặng Giải Nobel Hòa Bình năm 1994 và bị một người Do Thái cực đoạn ám sát năm 1995, có kể lại rằng lúc còn là một sĩ quan trẻ, ông đã được thủ tướng tiên khởi của Israel là ông David Ben Gurionra ra lệnh phải “tống cổ” 50.000 người Palestine ra khỏi hai thành phố Lydda và Ramla.
Trong chiến dịch thanh lọc chủng tộc của Israel, có từ 700.000 đến 800.000 người Palestine hoặc phải ra đi hoặc bị trục xuất ra khỏi các thành phố của họ. Số người còn ở lại trong vùng đất được xem là lãnh thổ của Israel chiếm khoảng 18 phần trăm dân số của Israel. Nhưng trong 20 năm sau đó, dù sống trên đất Israel, họ vẫn không được nhìn nhận như công dân Israel, mà phải luôn sống dưới sự kiểm soát theo thiết quân luật. Xã hội mà người Palestine đã tạo thành từ hằng bao thế kỷ qua, hầu như đã hoàn toàn bị xóa sạch. Các đô thị và làng mạc của họ nếu không bị đổi tên thì cũng bị san bằng. Israel ban hành đủ thứ luật để truất hữu đất đai của hàng loạt người Palestine. Nhưng đau buồn hơn cả cho dân tộc Palestine là những ai đã bỏ ra đi hoặc bị trục xuất đều không được phép hồi hương. Trong hai năm 1947 và 1948, hầu hết những người Palestine nào bỏ nhà cửa để ra đi cũng đều hy vọng rằng hết chiến tranh và xung đột họ sẽ được trở về nhà mình. Nhưng đó chỉ ảo vọng. Với Israel, càng có nhiều người Palestine bỏ trốn hay bị trục xuất, lãnh thổ của họ càng được mở mang và quốc gia của họ càng hùng mạnh.
Nakba hay Ngày Thảm Họa mà hàng năm người Palestine tưởng niệm vào ngày 15 tháng Năm chính là sự sụp đổ và biến mất của nguyên một xã hội đã có từ hàng ngàn năm qua, nhưng về chính trị, quân sự và văn hóa chưa được sẵn sàng để đối đầu với thực dân, với phong trào trở về Sion của người Do Thái và chiến tranh. Họ đã mất xã hội của họ và bị kết án phải sống cảnh lưu đày và vô tổ quốc dưới sự cai trị của ngoại bang. Vương quốc Israel đã sụp đổ sau khi Hoàng đế Titus của Đế quốc La Mã đem quân sang bình địa Jerusalem vào năm 72 sau Công nguyên. Sau gần 2000 năm bỏ nước ra đi, người Do Thái đã có thể trở về và lập quốc. Nhưng thân phận của người Palestine thì hoàn toàn khác hẳn. Họ bị lưu đày ngay chính trên quê hương của mình và ngày trở về thì hoàn toàn mờ mịt.
Nakka hay Ngày Thảm Họa không chỉ xảy ra ngày 15 tháng Năm năm 1948, mà vẫn tiếp tục diễn ra trong cuộc sống mỗi ngày của người Palestine. Đây là cảnh tượng mà thế giới có thể chứng kiến hầu như mỗi ngày tại Gaza, vùng đất của người Palestine đã bị Israel chiếm đóng từ năm 1967. Gaza chẳng khác nào một thứ nhà tù “mở” trong đó gần 2 triệu người Palestine đang bị giam giữ. Tình trạng bị giam giữ của gần 2 triệu người như thế dĩ nhiên chỉ có thể tạo ra một cuộc khủng hoảng nhân đạo triền miên mà ngay cả các viên chức an ninh của Israel cũng đành phải gọi là một trái bom nổ chậm của sự khốn khổ của con người. Đó là một trái bom trước sau gì cũng sẽ nổ tung.
Nakba hay Ngày Thảm Họa không còn là một tưởng niệm về một biến cố lịch sử đối với hầu hết người Palestine, mà là một kinh nghiệm sống xảy ra mỗi ngày. Kinh nghiệm ấy có thể sẽ còn thê thảm hơn sau khi Tổng thống Trump cho dời tòa Đại sứ Mỹ về cổ thành Jerusalem.

(nguồn: https://www.theatlantic.com/international/archive/2018/05/the-meaning-of-nakba-israel-palestine-1948-gaza)


Thứ Sáu, 25 tháng 5, 2018

Can đảm để sống


Chu Thập
18/05/18
Những ngày cuối thu năm nay, nhứt là những ngày có mưa phùn lất phất, thường làm cho tôi nghĩ về cái chết. Đặc biệt trong những ngày vừa qua, có những cái chết đã gợi lên trong tôi nhiều cảm xúc ngổn ngang. Sự ra đi của cụ ông David Goodall chẳng hạn đã đánh động tôi rất nhiều. Ở tuổi 104, nhà khoa học Úc này vẫn còn  mẫn cảm và  sáng suốt. Nhưng cảm thấy đã sống một cuộc sống có ý nghĩa và sung mãn, cụ quyết định ra đi. Luật pháp Úc không nhìn nhận “nan y tử quyền”, cụ sang Thụy Sĩ là nơi cho phép người già và những người mắc bệnh nan y được trợ tử. Trước khi đi vào cõi chết, cụ đã họp báo để bênh vực cho “tử quyền” của mình, đi thăm viếng một vài thắng cảnh ở Thụy Sĩ, ăn bữa ăn cuối cùng với những món khoái khẩu nhứt, rồi thanh thản ra đi. Tôi không biết cụ đi đâu, nhưng đây quả là một chuyến đi thanh thản, nhẹ nhàng. Bên kia niềm tin tôn giáo và luật pháp, tôi cho đây là một chuyến đi ý nghĩa, bởi vì nó gợi lên cho tôi sự can đảm và bình thản của con người khi đứng trước điều khủng khiếp nhứt trong cuộc sống mà ai cũng phải một lần trải qua.
Nếu sự ra đi của cụ ông Goodall gợi lên trong tôi sự can đảm và bình thản trước cái chết thì thảm kịch vừa mới xảy ra tại Margaret River, Tiểu bang Tây Úc, lại mang đến cho tôi một cảm xúc buồn đau khó tả. Cũng là người tự chọn cho mình cái chết, nhưng người chồng, người cha và người ông trong thảm kịch này lại muốn kéo theo người vợ, người con gái và 4 đứa cháu ngoại của mình cùng ra đi với mình và ra đi bằng một cái chết thảm thương. Thảm kịch nằm ở chỗ đó: có những người vẫn còn muốn sống nhưng lại phải ra đi!
Tôi là người ham sống và sợ chết. Tôi bắt đầu sợ chết khi bước vào tuổi có trí khôn. Ở  tuổi này, tôi đã học biết gần như đầy đủ những điều căn bản trong “Đạo” của tôi và một trong những điều căn bản đó chính là cuộc sống mai hậu, trong đó con người bị đày xuống hỏa ngục “đời đời kiếp kiếp chẳng cùng” hay được lên thiên đàng để “hằng xem thấy mặt Đức Chúa Trời sáng láng vui vẻ vô cùng” tùy theo công đức của mình trong cuộc sống tại thế này. “Mặt Đức Chúa Trời sáng láng” cỡ nào thì ngay cả trí tưởng tượng vô cùng phong phú của tuổi thơ của tôi cũng chẳng vẽ ra được. Nhưng cái hỏa ngục “đời đời kiếp kiếp chẳng cùng” thì, với sự mô tả như đã từng mắt thấy tai nghe của bà mẹ “đạo đức” của tôi,  quả là khủng khiếp. Tôi sợ hỏa ngục đến độ cứ có chuyện quan trọng cần thề thốt, tôi cứ lấy hỏa ngục ra mà thề.  Vì sợ xuống hỏa ngục cho nên tôi sợ chết. Thật ra đâu chỉ có Kitô Giáo của tôi mới nói đến cuộc sống mai hậu. Tôn giáo nào mà chẳng hứa hẹn phần thưởng và cảnh báo về sự trừng phạt trong cuộc sống mai hậu.
Sợ bị trừng phạt hơn là trông mong phần thưởng trong cuộc sống mai hậu cho nên tôi sợ chết là phải. Sợ quá cho nên nhiều lúc tôi đành tự trấn an mình với sự cá cược của nhà vật lý,  toán học kiêm triết gia Pháp Blaise Pascal (1623-1662). Về sự trừng phạt và phần thưởng trong cuộc sống mai hậu, triết gia này khuyên nên làm một cuộc đánh cá: nếu Thiên Chúa không hiện hữu và như vậy cũng chẳng có thưởng phạt ở đời sau, thì nếu có thua cuộc, sự mất mát trong cuộc sống tại thế của người có niềm tin tôn giáo cũng chẳng là bao. Trái lại, nếu Thiên Chúa hiện hữu và phần thưởng và sự trừng phạt trong cuộc sống mai hậu là vô biên, thì sự mất mát của kẻ vô thần sẽ là vô tận và khủng khiếp!
Thật ra đâu cần phải mang sự hiện hữu của Thiên Chúa ra để cá cược. Cách đây hơn 2000 năm, để xua đuổi nỗi ám ảnh của sự chết, triết gia Hy Lạp Epicurus đã lập luận rằng chết không phải là điều đáng quan tâm, bởi vì bao lâu con người hiện hữu thì bấy lâu không có sự chết và nếu sự chết xảy đến thì con người cũng chẳng còn hiện hữu nữa. Theo ông, con người chỉ là một sự kết hợp của một mớ vật chất cho nên chẳng có linh hồn và cũng chẳng có cuộc sống mai hậu. Đã chết rồi thì không còn cái Tôi và không còn cái Tôi thì cũng chẳng còn khoái lạc hay đau buồn, nghĩa là cũng chẳng còn sợ hãi nữa!
Tên của nhà hiền triết này thường gắn liền với chủ nghĩa “khoái lạc”. Thật ra, với ông, khoái lạc đích thực không hề đồng nghĩa với dục vọng hay đam mê cuồng loạn, mà chính là vui hưởng những thú vui lành mạnh trong cuộc sống. Để có được thứ khoái lạc ấy con người cần phải có sự thanh thản trong tâm hồn và vượt qua mọi nỗi sợ hãi. Xét cho cùng, cũng như triết lý nhà Phật, Epicurus kêu gọi con người chế ngự dục vọng để có được thân tâm an lạc.
Vài thế kỷ sau, một đệ tử của Epicurus là thi sĩ La Mã Quintus Horatius (65-8 trước Công nguyên) đã tóm gọn minh triết của ông trong một câu ngắn gọn: “Hãy bắt lấy ngày hôm nay” (carpe diem), nghĩa là hãy tận hưởng giây phút hiện tại. Horatius giải thích: “Bởi vì cuộc sống ngắn ngủi, hãy dẹp bỏ những niềm hy vọng xa xôi! Ngay cả khi chúng ta vừa mới mở miệng nói thì Thời gian cũng đã trôi qua”.
Phải chăng khi biết tận hưởng giây phút hiện tại, bằng lòng với những gì mình đang có, con người xua đuổi được hay ít ra giảm thiểu được nỗi sợ hãi đối với cái chết?
Mới đây, một nữ nhiếp ảnh gia người Mỹ  là bà Nancy Borwick có tổ chức tại Sydney một cuộc triển lãm về một số bức ảnh mà bà đã ghi lại được về những năm tháng cuối đời của cha mẹ bà. Năm được 28 tuổi, bà Borwick đã phải đối diện với một sự thật khủng khiếp: cả cha lẫn mẹ của bà đều bị ung thư vào giai đoạn cuối. Chỉ trong 17 năm, mẹ bà phải bị ung thư ngực đến 3 lần, trong khi cha bà được chẩn đoán bị ung thư tuyến tụy vào giai đoạn cuối. Điều đó có nghĩa là hầu như cha mẹ bà không có chút hy vọng sống còn nào. Tuy nhiên, bà Borwick không thể biết được chính xác cha mẹ mình sẽ còn sống được bao lâu. Bà liền quyết định dùng máy ảnh để ghi lại cuộc hành trình cuối cùng của cha mẹ mình. Để được gần gũi với cha mẹ mình hơn, nhưng cũng để hiểu hơn con người thật của hai ông bà.
Để có được những kỷ niệm đẹp về cha mẹ mình, bà Borwick đã cho tổ chức sớm hơn dự định đám cưới của mình. Bà cho đặt máy ảnh trên một cây cao, rồi nhờ một người bạn bấm nút tự động khi hai ông bà cầm tay bà dắt lên trao cho chú rể.
Bà Borwick giải thích rằng thoạt tiên căn bệnh ung thư mà cha mẹ bà đang trải qua trong giai đoạn cuối là lý do khiến bà ghi lại những hình ảnh cuối đời của hai ông bà. Nhưng dần dà bà nhận ra rằng câu chuyện bà muốn ghi lại qua một số hình ảnh không phải là ung thư và bệnh tật nữa, mà là sự sống và cách sống. Bà cho biết khi hóa trị làm cho tóc của mẹ bà rụng thì cha bà cũng tự tay cạo đi chỏm tóc còn sót lại trên đầu ông. Bà Borwick kể lại rằng mẹ bà nhặt lấy chùm tóc đen của chồng rồi áp lên đôi chân mày của bà. Một phút sau, con chó cũng được tặng cho một ít tóc để đeo lên mắt nó. Cả nhà đều cười ngả nghiêng!
Nhưng cũng có những giây phút nghẹt thở mà gia đình phải trải qua. Một trong những giây phút đầy căng thẳng đó là cú điện thoại của vị bác sĩ chuyên khoa đang chữa trị cho hai ông bà. Ông gọi đến để  báo cho hai ông bà biết kết quả của việc hóa trị.  Hai ông bà đã vào phòng vệ sinh để nghe cú điện thoại. Bà Borwick đã đùa với 2 ông bà: “Ai lại đi nghe một cú điện thoại quan trọng như thế trong nhà vệ sinh?” Bà Borwick cảm thấy như mình đã nói hớ một điều gì đó. Bà nghĩ: nếu như kết quả cho thấy có dấu hiệu khả quan cho người này, nhưng lại không mấy tốt đẹp cho người kia thì sao?
Cuối cùng, tháng Mười Hai năm 2013, cha bà là người ra đi trước và mẹ bà trút hơi thở cuối cùng một năm sau đó.
Những hình ảnh bà Borwick ghi lại được trong những ngày tháng cuối đời của cha mẹ bà đã mang về cho bà hạng nhì của Giải “World Press Photography Awards” (Giải thưởng hình ảnh báo chí) năm 2016 tại Hoa Kỳ. Cùng với những hình ảnh này, bà Borwick cũng đã viết một cuốn sách trong đó bà muốn đề cao di sản mà cha mẹ bà đã để lại là: sống một cách sung mãn cho tới giây phút cuối đời!
(x.http://www.abc.net.au/news/health/2018-05-12/nancy-borowick-photo-exhibition-captures-parents-cancer-stories/).
Câu chuyện của cha mẹ bà Borwick không khỏi làm tôi nhớ đến một người bạn học đã ra đi cách đây 3 năm. Hoàn toàn suy thận và phải đi lọc máu mỗi tuần ba lần, nhưng lần nào gặp nhau, anh cũng đều lập lại câu nói đã hầu như trở thành “danh ngôn” của anh: “Sống cho tới chết!”. Hai tuần trước khi ra đi, sau khi lọc máu, anh lái xe thẳng lên nhà tôi, mang theo một chiếc xuồng có gắn máy và lên “kế hoạch” về những cuộc vui sắp tới. Anh nói năng và hành động như thể mình là một người hoàn toàn khỏe mạnh. Anh sống như không bao giờ sẽ chết. Đúng hơn, anh sống một cách trọn vẹn từng giây phút hiện tại. Anh quả là một người không sợ chết!
Phải can đảm lắm người ta mới không sợ chết. Cách đây vài năm, khi cậu con trai nhà tôi vừa mới ra trường, nộp đơn khắp nơi mà chẳng có nơi nào nhận, cậu đành  phải đi làm “cu li” một thời gian. Có lúc chán nản, người thanh niên 24 tuổi tâm sự: không có đủ can đảm để chết mà cũng chẳng có đủ can đảm để sống!
Khoa học gia David Goodall quả là một người can đảm: ông đã chọn lấy cái chết và ra đi với tất cả bình thản và thanh thản. Đứng trước cái chết, tôi là một thứ gà chết nhát. Dẫu biết chết là một phần của cuộc sống và chẳng có ai tránh khỏi một lần phải vĩnh viễn ra đi, nhưng tôi vẫn cảm thấy sợ. Những người không sợ chết quả là những người đáng khâm phục. Nhưng nghĩ lại tôi thấy đáng  nể phục hơn vẫn là những người, dù phải chiến đấu với bệnh tật và bao nhiêu nghịch cảnh, vẫn có đủ can đảm để sống và sống một cách mạnh mẽ. Trong nhiều thứ can đảm, tôi cho rằng can đảm để sống vẫn là thứ can đảm cần được đề cao hơn cả. Và can đảm để sống chính là hài lòng với những gì mình đang có, tìm cho ra ý nghĩa trong những công việc và trách nhiệm được giao phó cho mình, tận hưởng từng giây phút hiện tại, xây dựng và duy trì mối quan hệ tốt đẹp với mọi người xung quanh. Phải chăng đó không là bí quyết để có được một cuộc sống thực sự hạnh phúc trên dương thế này?
Một khi có đủ can đảm để sống, sống hết mình và sống cho đến cùng thì lúc đó, chết chóc có lẽ chỉ còn là...chuyện nhỏ!