Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

Syria: bát quái trận đồ!


20/04/18
Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đã tuyên bố “sứ mệnh đã hoàn thành” (Mission accomplished) sau khi Hoa Kỳ, Anh và Pháp đã dội bom xuống các kho vũ khí hóa học của Syria. Mặc dù quân đội Nga không phải là mục tiêu của cuộc dội bom, Nga đã tuyên bố  sẽ có trả đũa mạnh.
Liền sau cuộc dội bom, Tổng thống Trump đã nêu đích danh 2 đồng minh thiết thân của Syria là Nga và Iran mà ông cho là đang “trang bị và tài trợ cho chế độ tội đồ Assad”. Tổng thống Mỹ chất vấn 2 nước này: “Xin hỏi Iran và Nga: quý vị là loại quốc gia nào mà lại liên kết với tên giết người hàng loạt nhắm vào những người đàn ông, đàn bà và trẻ con vô tội”. Rồi ông cảnh cáo: “Về lâu về dài không có quốc gia nào có thể thành công bằng cách che chở cho các chế độ độc tài, những tên bạo chúa độc ác và những nhà độc tài khát máu”.
Cuộc nội chiến hay đúng hơn chiến tranh đại diện tại Syria đã bước vào năm thứ tám. Tính đến nay đã có khoảng 350.000 người thiệt mạng. Nga và Iran phải chịu trách nhiệm về máu của vô số người vô tội đã đổ ra. Nhưng bên cạnh 2 nước này, còn phải kể đến rất nhiều nước khác trong đó có Hoa Kỳ và Israel cũng như các lực lượng kình chống nhau tại Syria.
Trong các tác nhân chính trong cuộc chiến tại Syria, dĩ nhiên trước tiên phải nói đến nhà độc tài Assad và Nga. Cuộc xung đột tại Syria đã bắt đầu bằng một cuộc nổi dậy của người dân Syria chống lại chế độ độc tài của Tổng thống Bashar al- Assad. Trong những năm đầu của cuộc xung đột, tức cuộc nội chiến giữa chính phủ và phe nổi dây, các lực lượng của Chính phủ Assad đã chịu nhiều tổn thất và tưởng như sắp sụp đổ.
Tuy nhiên, Nga, quốc gia đồng minh lâu đời của Syira đã nhảy vào cuộc chiến: các lực lượng của Chính phủ Syria được Nga yểm trợ tối đa. Bằng sự hiện diện quân sự và hàng tỷ Mỹ kim rót vào Chính phủ Assad, Nga đã giúp quân đội Syria đè bẹp phe nổi dậy cũng như các nhóm Hồi giáo chống chính phủ.
Yểm trợ cho chế độ độc tài Assad, Nga đã để lộ tham vọng bành trướng tại Trung Đông. Nga xem Syria như một cửa ngõ dẫn vào Địa Trung Hải và là bàn đạp để thò bàn tay lông lá vào Trung Đông. Chính vì vậy mà Nga luôn tìm cách nuôi dưỡng Chế độ Assad. Tổng thống Trump đã vạch rõ điều đó: “Năm 2013, Tổng thống Putin và chính phủ của ông đã cam kết với thế giới rằng họ sẽ bảo đảm sẽ loại trừ các vũ khí hóa học của Syria.” Nhưng cuộc tấn công bằng vũ khí hóa học mới đây của đồ tể Assad cho thấy Nga đã không giữ lời hứa. Ông Trump lên giọng dỗ dành: “Nga cần phải quyết định liệu có nên tiếp tục con đường đen tối ấy không hay phải liên kết với các nước văn minh như một lực lượng bảo đảm ổn định và hòa bình. Hy vọng rằng có ngày chúng ta sẽ bắt tay với Nga và ngay cả với Iran”.
Lâu nay, với Nga, cách riêng với Tổng thống Putin, Tổng thống Trump luôn bày tỏ hy vọng sẽ xích lại gần hơn. Nhưng với Iran, Chính phủ Trump đã tỏ ra dứt khoát: không thể tin tưởng ở thiện chí của Iran muốn chấm dứt việc chế tạo vũ khí nguyên tử. Chính vì vậy mà ông luôn chống lại Thỏa ước về hạt nhân đã đạt được dưới thời Tổng thống Barack Obama và được Liên Hiệp Quốc giám sát.
Cộng hòa Iran là một nước Hồi giáo trong đó phần lớn dân số theo Hồi giáo thuộc hệ phái Shi’ite. Syria cũng là một nước có đông dân số theo Hồi giáo, nhưng lại theo Hệ phái Sunni. Trong suốt lịch sử của Hồi giáo, Shi’ite và Sunni là hai hệ phái luôn kình chống nhau. Riêng Tổng thống Assad là người thuộc hệ phái Alawite, vốn là một chi nhánh của hệ phái Shi’ite. Chính vì mối giây liên kết huynh đệ giữa Alawite và Shi’ite cho nên Iran lúc nào cũng ủng hộ nhà độc tài Assad.
Cũng như Nga, trong cuộc chiến hiện nay Iran đang bỏ ra hàng tỷ Mỹ kim để yểm trợ cho Syria. Theo một ước tính của Liên Hiệp Quốc, mỗi năm Iran tài trợ cho Syria tới 6 tỷ Mỹ kim. Ngoài viện trợ, Iran cũng gởi quân sang chiến đấu bên cạnh quân đội Syria. Người đứng đầu Sáng hội Tuẫn đạo (Martyrs Foundation) của Iran nhìn nhận rằng đã có trên 2000 binh sĩ Iran tử trận tại Syria. Trong số này có cả một số tướng tá thuộc binh đoàn Vệ binh Cách mạng Hồi giáo.
Sau cuộc tấn công của Hoa Kỳ, Anh và Pháp tối thứ Bảy 14 tháng Tư vừa qua, Tổng thống Iran Hassan Rouhani đã gọi điện thoại cho Tổng thống Assad để tái khẳng định rằng Iran luôn đứng đàng sau Syria. Ông Rouhani nói với nhà độc tài Assad rằng cuộc tấn công do Mỹ lãnh đạo sẽ không làm suy yếu quyết tâm của nhân dân Syria.
Với quyết tâm bảo vệ “đồng đạo”, trong nhiều năm qua, Iran đã dùng Syria như một trung gian để gởi khí giới và tài trợ đến tổ chức Hezbollah tại Liban. Hezbollah là một tổ chức Hồi giáo cực đoan thuộc hệ phái Shi’ite. Năm 1983, một cuộc đánh bom do nhóm này thực hiện nhắm vào một căn cứ quân sự của Mỹ tại Liban đã làm cho 241 binh sĩ Mỹ thiệt mạng.
Vì sợ rằng cuộc nội chiến tại Syria có thể gây trở ngại cho việc viện trợ cho Hezbollah cho nên Iran đã tích cực yểm trợ Chế độ Assad và dĩ nhiên cũng lôi kéo vệ tinh Hezbollah vào vòng chiến. Hiện nay, có cả ngàn chiến binh Hezbollah đang chiến đấu bên cạnh quân đội Syria.
Tình hình Syria ngày càng trở nên rối rắm hơn, bởi vì một khi kẻ thù không đội trời chung của Israel là Iran đứng về phía Syria, thì đương nhiên Israel không thể đứng nhìn như khách bàng quan.
Dưới mắt Israel, Iran hiện là mối đe dọa lớn nhất. Kể từ năm 2015, khi Nga can thiệp vào Syria, ảnh hưởng của Iran và Hezbollah tại Syria cũng ngày càng lớn và dĩ nhiên mối đe dọa đối với Israel cũng ngày càng gia tăng. Chính vì vậy mà tháng Chín năm 2017, Israel quyết định bảo vệ quyền lợi của mình bằng một loạt không tạc vào lãnh thổ Syria, nhất là nơi nào có quân Iran và Hezbollah trú đóng.
Liền sau cuộc tấn công bằng hơi ngạt của Syria tại Douma, cứ địa cuối cùng của phe nổi dây, Israel cũng đã đáp trả bằng một loạt không kích nhắm vào phi trường quân sự T-4 của Syria. Điều này chứng tỏ Israel muốn đơn phương tấn công Syria mà không cần có sự ưng thuận hay hậu thuẫn của Hoa Kỳ và các nước đồng minh của Hoa Kỳ.
Nga, Iran, Israel, Hezbollah, Hoa Kỳ và ngay cả một số đồng minh của Hoa Kỳ là những phe ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp can dự vào cuộc chiến tại Syria. Tình hình Syria lại càng phức tạp hơn vì bên cạnh các tác nhân chính trên đây, tổ chức khủng bố Hồi giáo “Quốc gia Hồi giáo” (ISIS) hiện đang là một lực lượng khiến cho các mối tương quan tại Syria trở nên rối rắm hơn. Năm 2014, lợi dụng tình trạng xáo trộn do cuộc nội chiến tại Syria tạo ra, tổ chức khủng bố này đã chiếm được một số lãnh thổ và tuyên bố thành lập “quốc gia” lấy Raqqa ở phía Bắc Syria làm thủ đô. Nhưng ảnh hưởng của tổ chức này đã suy yếu khi phải đối đầu cùng một lúc với Liên minh Toàn cầu chống khủng bố do Hoa Kỳ lãnh đạo và liên minh của Chính phủ Assad. “Quốc gia Hồi giáo” chỉ còn giữ được một phần nhỏ của lãnh thổ họ đã chiếm được hồi năm 2014.
Bên cạnh “Quốc gia Hồi giáo”, còn phải kể đến một tổ chức khủng bố Hồi giáo khác là Al-Qaeda. Tuy không đáng kể, nhưng tổ chức khủng bố này cũng dự phần vào cuộc nội chiến và làm cho tình hình Syria thêm rối ren. Lúc đầu tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” nổi lên như một chi nhánh của tổ chức Al-Qaeda. Nhưng đầu năm 2013, do khác biệt về ý thức hệ, hai nhóm đã tách rời nhau. Nhưng sau khi hai nhóm này chia tay, người ta lại thấy xuất hiện một tổ chức khác lấy tên là Mặt trận Al-Nushra. Al-Nushra tự nhận là một bản sao của Al-Qaeda. Một thời gian sau, Al-Nushra lại thay hình đổi dạng để trở thành Tahrir Al-Sham, mặc dù vẫn giữ cái cốt của Al-Qaeda. Nhưng dù là “Quốc gia Hồi giáo”, Al-Qaeda, Al-Nushra hay Tahrir Al-Sham tất cả các nhóm khủng bố này đều là mục tiêu của những cuộc không kích của Hoa Kỳ.
Nhưng Syria có lẽ sẽ không bao giờ rơi vào nội chiến nếu không có các lực lượng đối lập tranh đấu cho tự do. Trong các lực lượng đối lập, trước hết phải kể đến Ahra Al-Sham. Đây là tổ chức ô dù của nhóm chiến binh đòi thay thế Chế độ Assad bằng một chính phủ Hồi giáo. Mặc dù ít hay nhiều có chủ trương khủng bố, nhóm này lại cũng chống lại “Quốc gia Hồi giáo” và tổ chức Tahrir Al-Sham. Bên cạnh các Lực tượng Tự do (FSA), tất cả các tổ chức khủng bố Hồi giáo hay các lực lượng Hồi giáo chống chính phủ trên đây đều ở tuyến đầu trong cuộc nội chiến tại Syria. Nhiều nhóm được Vương quốc Á rập Saudi và các nước Á Rập khác như Jordan và các quốc gia Vùng Vịnh bí mật yểm trợ.
Đối với Chế độ Assad, tất cả các nhóm trên đây, ngay cả các lực lượng tự do đều là những tổ chức khủng bố và các nước Tây Phương hay Liên minh Á rập nào ủng hộ họ cũng đều là những nước ủng hộ khủng bố. Riêng Nga xem Ahra Al-Sham là một phe đối lập ôn hòa cho nên mời tham dự các cuộc thương thuyết về ngưng bắn do Syria, Thổ Nhĩ Kỳ và Nga đứng ra tổ chức. Nhưng tổ chức này đã từ chối không tham dự.
Cuối cùng, một tác nhân quan trọng không kém cần phải kể tới khi bàn về cuộc chiến tại Syria chính là Thổ Nhĩ Kỳ, quốc gia láng giềng của Syria ở phía Bắc. Là thành viên của Khối NATO và dĩ nhiên cũng là đồng minh của Hoa Kỳ, nhưng Thổ Nhĩ Kỳ vẫn tìm cách giữ vị trí độc lập trong sự can thiệp  vào Syria.
Dạo tháng Tám năm ngoái, Thổ Nhĩ Kỳ đã đưa quân đội, xe tăng và máy bay đến biên giới để gọi là đẩy lui “Quốc gia Hồi giáo”. Cuộc hành quân này đã giúp giải phóng được một số thành phố chính như Jarabulus và Manbij.
Dạo tháng Năm năm 2017, khi Tổng thống Trump thông qua một kế hoạch quân sự nhằm trang bị cho các chiến binh YPG của người Kurd để lấy lại Raqqa khỏi tay “Quốc gia Hồi giáo”, Thổ Nhĩ Kỳ đã bày tỏ sự giận dữ. Kurd là một nhóm sắc tộc thiểu số đã gia nhập vào Liên minh Toàn cầu chống lại “Quốc gia Hồi giáo”. Sau khi “Quốc gia Hồi giáo” bị đánh bại, người Kurd tiếp tục kiểm soát một số vùng, thành lập chính quyền địa phương, nhất là tại những thành phố Afrin và Manbij, ở phía Bắc Syria.
Mặc dù được Hoa Kỳ trang bị và yểm trợ trong cuộc chiến chống khủng bố, nhưng chính người Kurd lại bị Thổ Nhĩ Kỳ xem như một cánh tay nối dài của Đảng PKK (Đảng Lao động Kurdistan). Trong nhiều thập niên qua, Đảng này đã tổ chức nhiều cuộc nổi dậy tại Thổ Nhĩ Kỳ và đã từng bị Hoa Kỳ đưa vào danh sách những tổ chức khủng bố.
Trong nỗ lực bứng người Kurd khỏi một số vùng nằm ở biên giới Syria và Thổ Nhĩ Kỳ, các lực lượng Thổ đã xâm nhập vào Syria hồi tháng Giêng vừa qua. Hành động này khiến cho cho Thổ Nhĩ Kỳ và người Kurd, vốn  đều là đồng minh của Hoa Kỳ trong cuộc chiến chống lại “Quốc gia Hồi giáo”, phải đối đầu nhau.
Với nhiều phe phái đang lâm chiến như thế, Syria quả là một bát quái trận đồ mà những cuộc không kích của Hoa Kỳ, Anh và Pháp, dù có là “sứ mệnh đã hoàn thành” đi nữa, cũng chẳng mở ra được một lối thoát nào.

(Nguồn:http://abcnews.go.com/International/major-players-syrian-war/story)





Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2018

Tôi là một con người!




Chu Thập
13/04/18
Hôm thứ Bảy 7 tháng Tư 2018 vừa qua, cuộc tấn công bằng hơi ngạt của quân đội Chính phủ Syria nhắm vào một cứ địa ở Douma do Lực lượng Tự do kiểm soát đã làm cho 70 người bị thiệt mạng và trên 500 thường dân mà phần lớn là phụ nữ và trẻ em bị thương. Thế giới đã có phản ứng mạnh mẽ trước tội ác này. Riêng tổng thống Mỹ Donald Trump đã gọi nhà độc tài Bashar al-Assad là một “con thú” (animal).
Dường như không có hình dung từ nào chính xác hơn để diễn tả và lên án một hành động tội ác cho bằng “quái vật”, “dã thú” hay đơn thuần là “thú vật”. Ngay cả các chế độ độc tài, để tuyên truyền chống lại bất cứ kẻ thù bên ngoài nào, cũng đều gọi họ là “thú vật”. Điển hình là vương quốc bưng bít Bắc Hàn.
Hyeonseo Lee là tác giả của một cuốn hồi ký nổi tiếng “Người con gái với 7 tên gọi” (The Girl With Seven Names) xuất bản tại Nam Hàn hồi cuối thập niên 1990. Trong cuốn hồi ký, Lee kể lại rằng năm cô lên 13 tuổi, nhà trường bắt buộc các học sinh phải làm một cuộc hành hương đến Đài tưởng niệm Sinchon để biết thế nào là “tội ác chiến tranh” của Mỹ. Tại Đài tưởng niệm, Lee và các bạn học của cô được cho biết khi xảy ra cuộc chiến Triều Tiên năm 1950, đã có 35.000 thường dân Bắc Hàn bị quân đội Mỹ tàn sát. Lee còn được cho thấy cảnh 100 bà mẹ Bắc Hàn bị cách ly với những đứa con của họ khi chúng kêu khóc đòi bú. Nhưng khủng khiếp hơn cả, Lee đã được dẫn đến một căn phòng đặc biệt trong đó những người Mỹ  vô tâm đến độ đã lấy dầu cặn đổ vào miệng các thơ nhi.
Lee đã ghi lại trong hồi ký rằng lúc đó “tôi không hề nghĩ rằng người Mỹ là những con người. Tôi cho rằng họ là những “con thú” mà chúng tôi phải giết cho bằng được”. Người phụ nữ đã trốn thoát khỏi thiên đàng cộng sản kết luận: “Trẻ con bị tẩy não ngay từ lúc lên bốn”.
Không cần phải bị tẩy não như Lee Hyeonseo mới có thể gọi kẻ thù của mình là những “con thú”. Đứng trước bất cứ một cuộc tàn sát hay một hành động giết người man rợ nào, phản ứng bình thường của tôi vẫn là xem đó như một sự thể hiện của “thú tính” nơi con người. Chỉ có súc vật mới đối xử tàn bạo như thế đối với đồng loại của mình.
Kỳ thực, nghĩ lại, tôi thấy mình hơi bất công đối với thú vật. Thú vật quả có cắn xé và ăn tươi nuốt sống đồng loại đó, nhưng chúng đâu có phạm tội ác, bởi vì chúng không hề biết phân biệt phải trái, tốt xấu hay thiện ác. Xét cho cùng, nơi thú vật, dù có là “thú dữ” như sư tử và cọp đi nữa, không hề có sự độc ác. Thú vật có cắn xé là chỉ để tự vệ hay vì bản năng sinh tồn mà thôi. Hầu như chúng không giết  con thú khác như một trò chơi hay như một hành động không có chủ đích. Chúng không tàn ác và khát máu như loài người.
Chỉ có con người mới tỏ ra độc ác và tàn bạo đối với người đồng loại của mình. Chỉ có con người mới bỏ thì giờ, công sức để nghĩ ra vô số những trò độc ác để làm hại người khác. Từ lò hơi ngạt, tra tấn, quăng cho thú dữ vờn đến hành hạ hay kéo dài cơn hấp hối của tử tội...Đó chỉ là những đơn cử về sự tàn bạo về thể lý. Nếu kể cả về mặt tâm lý thì sự liệt kê có thể trở nên vô tận. Và nếu nhìn cho kỹ thì “tội tổ tông” từ đó bắt nguồn mọi thứ tội ác của loài người chính là cái nhìn miệt thị của con người đối với người đồng loại của mình.
Mùng 4 tháng Tư vừa qua là ngày tưởng niệm  đúng 50 năm ngày cố mục sư Martin Luther King bị thảm sát. Ngày hôm đó, vị mục sư da đen này đã đến Thành phố Memphis, Tiểu bang Tennessee, để lãnh đạo một cuộc đình công và tuần hành do các nhân viên vệ sinh da đen trong thành phố tổ chức để yêu cầu được hưởng một đồng lương công bình và cải thiện những điều tiện làm việc của họ. Thời đó, điều kiện làm việc của các nhân viên vệ sinh tại Hoa Kỳ vẫn còn tồi tệ và với riêng các nhân viên người Mỹ da đen, tình trạng lại càng bi thảm hơn. Ngày hôm đó, những người tham gia cuộc biểu tình đã đeo trước ngực một tấm bảng trên đó có viết hàng chữ “Tôi là một con người” (I am a man).
Cái chết của cố mục sư King, qua đó quyền bình đẳng của người da đen tại Hoa Kỳ được nhìn nhận và tôn trọng, là đỉnh điểm của một cuộc tranh đấu dai dẳng của người da đen. Cách đó 13 năm, thế giới đã nhắc đến gương tranh đấu anh dũng của một người da đen khác là bà Rosa Parks. Vào thời điểm đó, sự kỳ thị đối với người da đen vẫn còn tàn bạo và lộ liễu. Trên xe buýt chẳng hạn, người da đen không được ngồi ở những chiếc ghế dành cho người da trắng ở hàng đầu và khi người da trắng lên xe mà không còn chỗ, người đa đen phải nhường chỗ cho họ. Những quy định như thế là “luật” tại Tiểu bang Alabama. Nhưng ngày 1 tháng Mười Hai năm 1955, người thợ may 44 tuổi tên là Rosa Parks đã làm nên lịch sử: bà đã ngồi vào ghế dành cho người da trắng. Bà đã bị cảnh sát còng tay. Nhưng chính hành động can đảm của bà đã khai mào cho phong trào tranh đấu cho quyền bình đẳng của người da đen tại Hoa Kỳ.
Khi những nhân viên vệ sinh người da đen tại Thành phố Memphis đeo tấm bảng “Tôi là một con người” trước ngực, họ không những muốn khẳng định sự bình đẳng như được ghi trong Hiến pháp của Hoa Kỳ, dường như họ cũng muốn nhắc lại lịch sử đau thương của một chủng tộc bị nô lệ hóa và đối xử chẳng khác nào thú vật chỉ vì màu da của mình.
Lịch của đất nước Hoa Kỳ “vĩ đại” không chỉ là lịch sử của hàng hàng lớp lớp di dân, mà còn là lịch sử bi thảm của cộng đồng người gốc Phi Châu. Hơn hai trăm năm lập quốc và xây dựng đất nước của Hoa Kỳ cũng chính là lịch sử đầy nước mắt của cộng đồng người da đen. Hitler và Đức Quốc Xã đã nhân danh chủng tộc da trắng ưu việt để xem người Do Thái như súc vật và tàn sát họ một cách còn tàn bạo dã man hơn cả đối với súc vật. Nhưng Đức Quốc Xã chỉ gây ra tội ác đối với người Do Thái và cuộc diệt chủng chỉ kéo dài trong một thời gian ngắn. Trong khi đó lịch sử nô lệ hóa, tàn sát, bóc lột và miệt thị người da đen tại Hoa Kỳ đã kéo dài hằng bao thế kỷ và có khi vẫn còn âm ỉ cho tới ngày nay.
Ngày nay, khi cho xem lại những tấm bảng có viết câu “Tôi là một con người” trên ngực của các nhân viên vệ sinh tại thành phố Memphis hồi năm 1968, những người tổ chức tưởng niệm cố mục sư Martin Luther King có lẽ không còn phải khẳng định vể phẩm giá của người đa đen trong xã hội Hoa Kỳ nữa. Với riêng tôi, khẩu hiệu ấy dường như muốn nhắc nhở tôi về một cuộc hành trình gay go hơn: đó là hành trình làm người. “Tôi là một con người” nghĩa là tôi phải cố gắng sống cho ra người hơn. “Thú vật” mà tôi thường đồng hóa với tội ác và sự dã man có lẽ không ngừng tra vấn tôi về tư cách con người của tôi.
Một nhà sinh vật học người Mỹ đến khu rừng già Amazon ở Ba Tây để làm một cuộc nghiên cứu. Trong một cú điện thoại gọi về cho một người bạn, ông kể lại rằng một ngày nọ, vào lúc hừng đông, ông đến ngồi bên một bờ suối giữa rừng. Đó là giây phút mà mọi sinh vật đều thức giấc. Bất cứ một góc nào trong khu rừng, sự sống cũng đều bừng dậy: không khí tràn ngập mùi hương của đủ mọi loại hoa; ếch nhái, chim chóc, khỉ, nói chung đủ mọi loại thú trong rừng già đểu bắt đầu sinh hoạt. Chúng ăn uống, la hát, “cười đùa” và “giao du” với nhau. Vậy mà cả khu rừng vẫn chìm ngập trong một bầu khí tĩnh mịch khó tả. Nhà sinh vật học gọi đây là một bức tranh sống động của họa sĩ Claude Monet (1840-1926) tại vùng nhiệt đới.
Thình lình, sự thinh lặng của khu rừng như bị phá vỡ: một con bò mộng xuất hiện. Những bước chân của nó đạp lên những cành cây và chồi non, tạo ra một âm thanh khác thường. Nhà sinh vật học tưởng rằng bức tranh của khu rừng sẽ thay đổi, sự yên tĩnh sẽ bị phá vỡ và mọi con thú khác sẽ tháo chạy vì sợ hãi. Nhưng trước sự ngạc nhiên của ông, ngay cả khi con bò tiến sát đến bờ suối để uống nước, tất cả những con vật khác vẫn tỏ ra bình thản. Chúng vẫn tiếp tục sinh hoạt bình thường của chúng mà không màng đến sự hiện diện của kẻ lạ mặt.
Nhà sinh vật học buồn bã kết luận: “Tôi nhận ra rằng nếu không phải là con bò, mà chính tôi mới là người đột ngột xuất hiện trong khu rừng thì có lẽ mọi con vật khác sẽ bỏ chạy vì sợ hãi. Lúc đó, tôi cảm thấy cô đơn hơn bất cứ lúc nào hết” (x.www.psychologytoday.com/us/blog/bear-in-mind/201403/the-price-being-human).
Ai đó đã nói rằng khi ở giữa thiên nhiên và hòa hợp với thiên nhiên con người không còn cảm thấy cô đơn. Có cô đơn chăng là khi con người phá hủy sinh thái, miệt thị thiên nhiên. Đó là một thứ tội ác mới của thời đại thường ít được con người nhận ra. Khi các công ty đến khai thác vô tội vạ các khu rừng già ở Amazon, không chỉ có cuộc sống của các bộ lạc bị xáo trộn, mạng sống của họ bị đe dọa, mà buồng phổi của cả một lúc địa cũng bị đục ruỗng, sinh thái bị hủy hoại, các sinh vật nếu không bỏ đi thì cũng bị tiêu diệt. Và dĩ nhiên, khi sinh thái bị hủy hoại thì chính cuộc sống của con người cũng bị đe dọa. Con người độc ác với thiên nhiên. Họ cũng độc ác với người đồng loại của mình. Và dĩ nhiên, khi miệt thị, xúc phạm và chà đạp phẩm giá của người đồng loại, con người cũng làm hạ giảm “tính người” của chính mình.
Khẩu hiệu “Tôi là một con người” cũng không ngừng nhắc nhở tôi rằng sống là một chuỗi những cố gắng để vươn lên, để sống xứng với phẩm giá con người, để làm một người tốt hơn. Có khi trèo lên tới đỉnh cao rồi lại rơi xuống hố sâu, nhưng sai lầm và thất bại vốn là thuộc tính của con người cho nên tôi lại bắt đầu làm lại.
Trong thần thoại Hy Lạp, Sisyphus  là một nhân vật bị thiên hoàng Zeus trừng phạt rất nặng nề: ông phải mang trên vai một tảng đá lớn và leo lên một đỉnh núi cao; nhưng vừa lên đến đỉnh, ông lại tụt xuống. Trèo lên rồi lại tụt xuống mà không bao giờ chấm dứt cuộc hành trình. Văn hào Pháp Albert Camus(1913-1960) đã mượn câu chuyện này để viết “Huyền thoại Sisyphus” qua đó ông nói lên sự hiện hữu phi lý của con người. Nhưng riêng tôi,  tôi lại xem Sisyphus như hình ảnh của chính cuộc hành trình “làm người” và “nên người” của tôi.  Con người có thể già đi, nhưng chẳng có ai dám vỗ ngực tự xưng mình đã hoàn tất tiến trình trưởng thành, chẳng có ai trưởng thành đến độ không còn phải cố gắng để vươn lên trong tư cách con người nữa. Còn sống là còn “trở thành”, là con vươn lên, là còn cố gắng làm cho mình mỗi ngày một thêm mới. Mới để những bản năng thấp hèn được chế ngự, để  nhân cách mỗi ngày bớt thui chột  và phần “người” ngày càng lớn lên.




Thứ Tư, 18 tháng 4, 2018

Tháng Tư Đen, nghĩ về lòng biết ơn



Chu Thập
02/04/14
Tối thứ Hai 31 tháng 3, 2014 vừa qua, Đài Truyền Hình SBS có chiếu một phóng sự ngắn về việc một số người tỵ nạn Việt Nam từ Melbourne đã bày tỏ lòng biết ơn với một vị thuyền trưởng Hòa Lan mà họ gọi là vị cứu tinh của mình.
Với tựa đề “Món quà của Lòng Biết ơn” (Gift of gratitude), bài phóng sự kể lại rằng dạo tháng 2 năm 1982, một chiếc tàu chở hàng của Hòa Lan đã vớt được một nhóm thuyền nhân Việt Nam. Những thuyền nhân này đã lênh đênh trên biển trong nhiều ngày do tàu chết máy và lương thực cũng như nước dự trữ đã cạn. Alisha Fernando là thuyền nhân trẻ nhứt trên chiếc tàu vượt biên. Cô bé chỉ mới được hai tuổi.
Cô nói với phóng viên của Đài SBS rằng nếu không được tàu Hòa Lan vớt, có lẽ tất cả các thuyền nhân đều sẽ chết chìm dưới biển.
Đêm đó, thuyền trưởng Willem Christ của chiếc tàu Hòa Lan và thủy thủ đoàn của ông đã vớt được 168 người, trong đó có Alisha, cha mẹ và chú của cô. Họ được đưa vào trại tỵ nạn Pulau Bidong, Mã Lai và sau đó được định cư tại Úc Đại Lợi.
Vừa đặt chân đến quê hương mới, mẹ cô Alisha đã tìm cách liên lạc với thuyền trưởng Christ. Và ngày nay, 30 năm sau, bà và người con gái của bà đã lên đường đến Amsterdam để gặp gỡ với người mà lúc nào họ cũng gọi là vị cứu tinh của mình. Cô Alisha nói: “Thật là một món quà kỳ diệu khi cuối cùng tôi đã có được cơ hội gặp lại người đã cứu sống tôi. Ông là người đã giúp tôi và cha mẹ tôi có được cuộc sống như ngày hôm nay. (Nếu không) biết đâu tôi lại chẳng là một người ăn xin trên đường phố ở Việt Nam hoặc là một con số trong những thống kê về chiến tranh”.
Sự may mắn mà cô Alisha, gia đình cô và những thuyền nhân  được viên thuyền trưởng Hòa Lan cứu sống, cũng chính là sự may mắn mà tôi và hàng triệu người Việt Nam khác đã có được trong cuộc vượt thoát khỏi thiên đường cộng sản sau năm 1975. Chúng tôi quả là những người Việt Nam may mắn. Bởi lẽ, như cô Alisha đã nói, nếu không thoát khỏi Việt Nam thì ngày nay chúng tôi sẽ như thế nào. Ăn xin trên đường phố quả là một điều tủi nhục. Nhưng chúng ta sẽ nghĩ gì về nỗi tủi nhục của những cô gái Việt Nam bị bán đi làm vợ cho tứ phương thiên hạ, từ Trung Quốc, Đại Hàn, Đài Loan...đến cả Phi Châu. Bên cạnh nỗi tủi nhục riêng tư ấy, còn có nỗi tủi nhục “quốc thể” khi những bộ mặt biểu tượng của đất nước là các cô chiêu đãi viên hàng không xinh đẹp lại bị bắt quả tang “ăn cắp” tại Nhựt Bổn. Nhục hơn nữa khi tại Thái Lan, Đài Loan, Đại Hàn, Nhựt Bổn, người ta phải viết những câu bằng ngôn ngữ của đất nước tôi để giải thích về tính phạm pháp của hành vi ăn cắp trong các siêu thị. Dường như ở Á Châu, chỉ có một thành phần trộm cắp cần được cảnh cáo và đề cao cảnh giác là người Việt Nam. Và có lẽ cũng chỉ có một thành phần tham ăn cần được hướng dẫn để không ăn uống một cách phí phạm. Tôi nghĩ rằng người ta có quyền quơ đũa cả nắm khi nói về người Việt Nam, bất luận là người Việt Nam mang quốc tịch của cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hay người Việt Nam đang là công dân của những quốc gia tự do, dân chủ và văn minh. Không cần phải mang thông hành xã hội chủ nghĩa Việt Nam để đi đâu cũng bị “soi xét” như Đức Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt đã từng phàn nàn. Nhiều lần ở các phi trường, tôi đã bị các nhân viên hải quan gọi riêng ra để “làm việc”, vì là người Việt Nam, tôi biết mình bị tình nghi có mang theo ma túy hay đồ quốc cấm nào đó. Tôi không  trách người ta có thái độ kỳ thị chủng tộc đối với mình, bởi vì cứ nghe nói đến chuyện “trồng cỏ” ở đâu đó tại Úc Đại Lợi, tại Anh Quốc hay Gia Nã Đại...thì những cái tên “Đinh Lê Lý Trần” Nguyễn...quen thuộc của dân tộc tôi lại hiện ra trước tiên.
Nghĩ đến những thiếu nữ Việt Nam bị bán làm vợ cho tứ phương thiên hạ, tôi vừa cảm thấy nhục nhã vừa thương cảm. Họ chỉ là nạn nhân của một chế độ bất nhân và vô cảm. Nghĩ đến những cô chiêu đãi viên hàng không “ăn cắp” hàng từ nước ngoài mang về nước bán, tôi cũng chỉ biết thương cảm. Họ cũng chỉ là nạn nhân của một chế độ không chỉ cướp lấy quyền sống của con người, mà cũng cướp luôn những giá trị nhân bản tốt đẹp nhứt của dân tộc tôi. Nghĩ đến tất cả những người Việt Nam không có được một sự lựa chọn nào khác hơn là phải làm thân phận của “cột đèn” bị chôn chặt trong thiên đường cộng sản, tôi chỉ thấy uất hận và buồn chán: cả một dân tộc phải bị đọa đày trong ngục tù cộng sản!
Giả như không thoát khỏi xã hội cộng sản, biết đâu tôi chẳng có được vinh dự được làm một nhà bất đồng chính kiến đang ngồi tù rục xương, mà chỉ là một tên đầu trộm đuôi cướp hoặc một gã chán đời suốt ngày la cà trong các quán rượu hoặc cà phê vỉa hè để mà than thân trách phận.
Mỗi dạo Tháng Tư Đen trở về, bên cạnh vô số những phiền muộn của một người ly hương, tôi lại thấy mình là một người may mắn. May mắn được hít thở không khí tự do. May mắn có được một cuộc sống xứng với phẩm giá con người. Nhưng may mắn nhứt là được quyền sống như một người lương thiện. Và theo tôi, một trong những nét nổi bật nhứt trong cung cách của một người lương thiện, chính là được nhắc nhở để luôn biết bày tỏ lòng biết ơn. Xã hội tôi đang sống chưa phải là một xã hội hoàn hảo. Tệ nạn xã hội vẫn còn đầy dẫy. Nhưng ít ra, hàng ngày tôi vẫn còn nghe được hai tiếng “cám ơn” trên đầu môi của hầu hết mọi người tôi gặp gỡ. Họ không ngừng nhắc nhở tôi rằng sống là đi vào quan hệ tương thuộc với người khác và sống cho thực sự ra người là phải biết mình mang ơn mọi người cách này hay cách khác.
Tôi không cho là phóng đại hoặc tổng quát hóa một cách quá chủ quan khi bảo rằng hai tiếng “cám ơn” đã trở thành quý hiếm trong xã hội Việt Nam hiện nay. Bất cứ ai một lần về thăm quê hương cũng đều nhận ra điều đó. Hai tiếng ấy đã hầu như trở thành một phản xạ tự nhiên của người Việt (chớ không phải Việt Kiều như thường bị gọi) đang là công dân tại các nước nơi họ đã định cư. Nói theo kiểu nói của tác giả Nguyễn Khắp Nơi, “Người Việt tôi là thế đấy”. Từ ngàn xưa, người Việt tôi đã biết trọng lễ nghĩa, xem lòng biết ơn như cốt lõi của nhân cách con người. Nhưng  đối với người Việt trong nước hiện nay, nếu hai tiếng cám ơn có trở thành quý hiếm là bởi nó đã bị xóa bỏ khỏi tự điển của người cộng sản và lòng biết ơn dường như cũng đã trở thành một thứ xa xí của chủ nghĩa tư bản cần phải tẩy trừ.
Những người cộng sản lúc nào cũng vỗ ngực tự xưng là vô thần. Thật ra, trước khi là vô thần, họ đã là đồ “vô ơn”. Tôi không cần phải nhắc lại chuyện những người cộng sản đã mang không biết bao nhiêu “ân nhân”, những người đã từng bao che họ ra đấu tố trong thời Cải cách ruộng đất hoặc ép buộc cha mẹ, vợ chồng con cái bôi mặt nhau để mà sỉ vả nhau. Tôi cũng không cần phải nhắc lại chuyện những người cộng sản đã quay lưng lại với chính những người mà họ gọi là “mẹ chiến sĩ”, những người đã từng nhịn ăn nhịn mặc, bảo vệ họ ngay trong “đất địch” để họ có chiến thắng hôm nay. Chỉ cần đọc  khẩu hiệu: “Yêu tổ quốc là yêu xã hội chủ nghĩa” là tôi đã thấy ngay bộ mặt vô ơn của họ. Phải yêu xã hội chủ nghĩa mới yêu tổ quốc, nói như thế là chối bỏ công ơn dựng nước giữ nước của các bậc tiền nhân của dân tộc. Họ có biết mặt mũi của xã hội chủ nghĩa như thế nào đâu mà yêu với thương. Thế chẳng lẽ những tiền nhân, vì không biết và không yêu xã hội chủ nghĩa, nên họ là người “phản quốc”?  Thật là đồ “vô ơn” khi bảo rằng các bậc tiền nhân của dân tộc không yêu tổ quốc.
Một khẩu hiệu khác cũng nói lên bộ mặt vô ơn của người cộng sản. Tưởng nhớ các bậc anh hùng liệt sĩ, những người đã hy sinh cho tổ quốc, người cộng sản không “ghi ơn” hay “nhớ ơn” như dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, mà chỉ có “ghi công”. “Công” thì được ghi, nhưng “ơn” thì không cần phải nhớ. Tôi không phải mất giờ để mà vạch lá tìm sâu về thái độ vô ơn của người cộng sản. Một dân tộc vốn trọng lễ nghĩa, lấy lòng biết ơn làm nền móng của tòa nhà nhân cách, nay lại trở nên “xa lạ” với lòng biết ơn. Ai đã làm cho dân tộc tôi nên nỗi này?
Chuyện cô Alisha cùng mẹ lên đường đi Hòa Lan để bày tỏ lòng biết ơn với vị ân nhân của mình, như Đài Truyền Hình SBS trình chiếu, không phải là một “biến cố” trong cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản. Các cơ quan truyền thông Việt ngữ ở hải ngoại đã ghi lại không biết bao nhiêu cuộc “hành trình” của lòng biết ơn ấy nơi người Việt tỵ nạn. Họ không chỉ hít thở không khí tự do. Họ không chỉ có đủ mọi quyền làm người. Để sống xứng với phẩm giá con người và sống cho ra người, lúc nào họ cũng được nhắc nhở để tỏ lòng biết ơn.
Mỗi dạo Tháng Tư Đen trở về, tôi không chỉ thấy dấy lên trong tâm tư nỗi buồn và lòng thương cảm khi nghĩ đến cả dân tộc đang bị đọa đày trong ngục tù cộng sản và không có điều kiện để phát huy những giá trị nhân bản cao quý của dân tộc, tôi cũng được mời gọi để không ngừng tri ơn tất cả những ai đã góp phần cho tôi có được cuộc sống như ngày hôm nay. Trước hết là những người đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi vượt thoát khỏi thiên đường cộng sản. Kế đó là viên thuyền trưởng, các thủy thủ và nhân viên trên chiếc tàu khoan dầu trong vùng biển Nam Dương đã cứu vớt chúng tôi và đưa về trại tỵ nạn. Rồi sau đó, làm sao quên được đất nước tạm dung, nơi tôi thực sự nếm trải được thế nào là tự do và tình người. Nhưng dĩ nhiên, tôi không biết bao giờ mình mới trả ơn cho hết đối với đất nước đã được tôi chọn làm quê hương thứ hai. Thật ra đất nước này sẽ chẳng là gì nếu không có những con người tôi đang sống với hay gặp gỡ mỗi ngày. Cách này hay cách khác, tất cả đều là ân nhân của tôi. Và mỗi một ngày qua đi đều thêm một ân tình tôi phải trả với người khác. Người Việt chúng ta thường nói: “Hữu sự vái tứ phương, vô sự đồng hương không mất”. Con người dễ vô ơn. Tôi nhận thấy theo thói thường, người ta chỉ muốn nhận chớ không muốn cho đi. Nếu nhận được một ân huệ nào của người khác thì dễ quên đối với vị ân nhân, còn khi mình làm ơn thì lại nhớ rất dai và muốn người ta phải thể hiện lòng biết ơn đó. Tôi vẫn nhớ giai thoại về kịch tác gia nổi tiếng người Anh, ông George Bernard Shaw (1856-1950). Ngày nọ, ông đi dạo qua những tiệm bán sách cũ. Tình cờ ông thấy có một tuyển tập những vở kịch của ông. Tuyển tập này đã từng được đề tặng cho một người bạn. Ở trang đầu của tuyển tập, ông có đề tặng: “Mến tặng bạn hiền. Thân mến. George Bernard Shaw”. Ông liền mua lại tuyền tập đó và ghi lại lời đề tặng mới: “Lại mến tặng bạn hiền. Thân mến. George Bernard Shaw”.
Cứ tưởng tượng một ngày nào đó, có ai cũng nhắc nhở tôi như thế về lòng vô ơn của tôi, chắc chắn đó phải là ngày buồn nhứt trong đời tôi.
Tháng tư là tháng để tôi nhớ mãi bản sắc tỵ nạn cộng sản của mình. Tôi có mặt trên quê hương mới này bởi vì tôi là một người “chống cộng”. Nhưng với tôi, tháng tư cũng nhắc nhở tôi phải không ngừng cố gắng để sống cho ra người hơn và một trong những đức tính mà bao lâu còn sống tôi còn phải trau dồi là lòng biết ơn. Tôi sẽ thôi là người “chống cộng” nếu tôi trở thành người vô ơn.





Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2018

Hung Gia Lợi: đường dẫn về Nga!



13/04/18
Tháng Giêng năm 2015, bốn ngày sau khi xảy ra cuộc tấn công khủng bố nhắm vào Charlie Hebdo, tuần báo biếm họa nổi tiếng của Pháp, một đám đông khoảng 1.5 triệu người đã tuần hành xuyên qua các đường phố ở Thủ đô Paris.
Viktor Orban, thủ tướng Hung Gia Lợi  (Hungary) là một trong 40 nguyên thủ quốc gia có mặt trong đám đông. Ông tham dự cuộc tuần hành là để chống lại khủng bố và kêu gọi bảo vệ một trong những cột trụ của dân chủ là tự do phát biểu.
Cuộc tấn công bạo động nhắm vào tuần báo Charlie Hebdo dĩ nhiên là một cuộc tấn công khủng bố. Nhưng nhận định về cuộc khủng bố không phải là đơn giản. Mỗi nước có một cái nhìn khác nhau về cuộc khủng bố. Riêng  Thủ tướng Orban ngay từ đầu đã tỏ ra rất rõ ràng và dứt khoát: thủ phạm của cuộc khủng bố chính là người di dân!Sống trong một gia đình đầy xáo trộn, lớn lên trong cảnh mồ côi, thất nghiệp, bị đẩy ra bên lề xã hội, bị cực đoan hóa...đó có thể là những yếu tố cần được xem xét để thẩm định về những động lực đưa đẩy con người đến hành vi khủng bố. Nhưng đương kim Thủ tướng Hung Gia Lợi không màng đến những yếu tố đó. Với ông, chỉ có một yếu tố duy nhất khiến con người đi vào con đường khủng bố: họ là di dân!
Lên tiếng trên đài truyền hình Hung Gia Lợi, ông Orban tuyên bố: “Chúng tôi sẽ không bao giờ để cho Hung Gia Lợi trở thành một mục tiêu của người di dân. Chúng tôi không muốn thấy những cộng đồng thiểu số đông người với những khác biệt về văn hóa ở giữa chúng tôi. Chúng tôi muốn giữ cho Hung Gia Lợi thuần Hung Gia Lợi”.
Đây là giọng điệu quen thuộc của Thủ tướng Orban và nó đã giúp ông thú hút được nhiều lá phiếu của cử tri Hung Gia Lợi.
Trong hai năm 2015 và 2016, cùng với một loạt những cuộc tấn công khủng bố, Âu Châu còn phải đương đầu với một thách đố khác: đó là làn sóng người di dân và tỵ nạn đổ xô vào lục địa.
Với việc đồng hóa người di dân với người tỵ nạn, Thủ tướng Orban đã đưa ra một giải pháp đơn giản và giải pháp này lại được người dân Hung Gia Lợi ủng hộ. Ông giải thích: hầu hết những người tìm đến Âu Châu không phải là người tỵ nạn chạy trốn chiến tranh và bách hại ở quê nhà, mà là những di dân kinh tế đi tìm một cuộc sống tốt đẹp hơn tại Tây Âu. Một lối giải thích như thế dĩ nhiên đã gãi đúng chỗ ngứa của nhiều người Hung Gia Lợi.
Dạo tháng Mười năm 2016, Thủ tướng Orban đã tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý để hỏi liệu có nên để cho Liên Âu buộc Hung Gia Lợi phải nhận người di dân không. Gần 60 phần trăm cử tri đã chống lại việc đón nhận người di dân. Thủ tướng Orban đã dựa vào kết quả của cuộc trưng cầu dân ý để đẩy mạnh chính sách bài di dân của ông. Thủ tướng Hung Gia Lợi không màng đến sự sút giảm dân số hiện đang là một vấn nạn lớn cho đất nước.
Tính đến tháng Tư này, dân số Hung Gia Lợi hiện có khoảng trên dưới 9 triệu rưỡi người. Trung bình mỗi năm dân số Hung Gia Lợi sút giảm khoảng 30.000 người, tương đương với dân số của một thành phố nhỏ. Thủ tướng Orban cho rằng giải pháp cho sự sút giảm dân số không phải là đón nhận thêm người di dân mà là khuyến khích dân chúng gia tăng sinh sản.
Để xem chính sách bài di dân của Chính phủ Hung có thành công hay không, thiết tưởng nên nhìn lại lịch sử của đất nước này.
So sánh với nhiều nước khác, người ta thấy không có tới 2 phần trăm dân số hiện nay của Hung Gia Lợi sinh ra ở nước ngoại. Và người Hung có lẽ không thể nào quên được những cuộc xâm lăng của ngoại bang trong suốt dòng lịch sử của họ. Năm 1920, sau Đệ nhất Thế chiến, Đế quốc Áo-Hung sụp đổ, Hiệp ước Trianon đã vẽ lại ranh giới mới của Hung Gia Lợi. Quốc gia này đã mất 72 phần trăm lãnh thổ của mình và 31 phần trăm sắc dân Hung thấy mình trở thành thiểu số tại một số nước khác như Lỗ Ma Ni, Tiệp Khắc và Nam Tư. Và dĩ nhiên, Hung Gia Lợi cũng đã mất đi tính đa văn hóa của mình. Trước kia, nhiều sắc dân như Lỗ Ma Ni, Slovak, Serb, Croat và Ruthenia đã từng sống bên cạnh người Hung Gia Lợi.
Trong thời Đệ nhị Thế chiến, phần lớn cộng đồng Do Thái tại Hung Gia Lợi đã bị tàn sát trong các trại tập trung của Đức Quốc Xã. Sau Đệ nhị Thế chiến, những người Đức đã từng sinh sống tại Hung Gia Lợi từ thế kỷ 18 cũng bị trục xuất. Nhìn chung, trên toàn cõi Hung Gia Lợi chỉ còn lại người Hung.
“Nguyệt thực” là một tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Hung Geza Gardonyl (1863-1922). Cũng như mọi đứa trẻ Hung, Thủ tướng Orban rất thích tác phẩm này. Theo câu chuyện, vào năm 1552, lâu đài Eger ở miền Bắc Hung Gia Lợi bị quân đội của Đế quốc Thổ vây hãm. Viên sĩ quan chỉ huy trong lâu đài là đại úy Istvan Dobo đã sai một chuyên viên chất nổ chế ra một trái bom và ngụy trang thành một món quà để gởi đến quân đội Thổ. Nhờ phát minh này, quân đội Hung đã chiến thắng. Lâu đài được giải vây. Nhiều lâu đài khác của Hung Gia Lợi cũng đã từng rơi vào tay quân Thổ trong nhiều thập niên, nhưng cuối cùng đều được giải vây. Chính nhờ sự chiến đấu anh dũng của quân đội Hung mà đế quốc Thổ không thể tiến sâu vào Âu Châu.
Dạo tháng Chín năm 2015, tại Tu viện Banz thuộc Tỉnh bang Bavaria, khi nói chuyện với những người thuộc phong trào hữu khuynh tại Đức, Thủ tướng Orban đã đề cao gương chiến đấu của quân đội Hung và tự ví mình với viên chỉ huy của quân đội Hung tại lâu đài Eger, người đã chiến thắng quân thù Hồi giáo và đẩy lui họ khỏi một Âu Châu Kitô Giáo.
Năm 2017, tại Lỗ Ma Ni, ông cũng lập lại cùng một sứ điệp: Hung Gia Lợi phải là Hung Gia Lợi và Âu Châu phải là Âu Châu, nghĩa là một Hung Gia Lợi thuần Kitô Giáo và một Âu Châu thuần Kitô Giáo. Theo ông, mối đe dọa lớn nhất đối với Âu Châu chính là để cho lục địa trở thành tạp chủng và đánh mất căn tính Kitô Giáo.
Tư tưởng của đương kim Thủ tướng Hung Gia Lợi đã biến chuyển theo từng giai đoạn. Chào đời năm 1963 tại một thành phố nhỏ cách Thủ đô Budapest 60 cây số, mặc dù cha ông là một đảng viên Cộng sản, nhưng Orban rất thù ghét chủ nghĩa này. Năm 1982, ông lên thủ đô để học luật và chính trị học. Cùng với một số bạn thân, ông đã thành lập một nhóm lấy tên là Fidesz có chủ trương sống tự do và chống lại tổ chức đoàn đội của Đảng.
Tháng Sáu năm 1989, những người chống cộng và những người cộng sản có khuynh hướng cải tổ đã đồng ý với nhau về việc cải táng cố Thủ tướng Imre Nagy và các cộng sự viên của ông, vốn đã bị Đảng Cộng sản Hung thủ tiêu hồi năm 1958. Hàng ngàn người tham dự cuộc cải táng. Trước đám đông, Orban đã dõng dạc yêu cầu quân đội Nga rút ra khỏi Hung Gia Lợi. Nhưng mãi cho đến tháng Sáu năm 1991, khi Chủ nghĩa Cộng sản chính thức cáo chung tại Nga, người lính Liên Xô cuối cùng mới rút ra khỏi Hung Gia Lợi. Phong trào Fidesz do Orban sáng lập đã biến thành một đảng chính trị.
Vào giữa thập niên 1990, khi những người thuộc Đảng Xã hội liên minh với cánh Tự do lên cầm quyền tại Hung Gia Lợi, Orban lèo lái Đảng Fidesz của ông đi vào con đường bảo thủ. Năm 1991, khi Giáo hoàng Gioan Phaolô II viếng thăm Hung Gia Lợi, ông đã kêu gọi dân chúng Hung tẩy chay chuyến viếng thăm. Ông cũng lên tiếng chế nhạo sự hiện diện của Đảng Dân chủ Kitô Giáo trong Quốc Hội. Nhưng dần dà, bắt mạch được lòng dân, ông thấy không còn một chọn lựa nào hơn là phải trở thành một tín hữu Kitô. Lớn lên trong chế độ cộng sản, Orban luôn tự nhận mình là một người vô thần. Nhưng năm 1996, ông đã đưa vợ đến một nhà thờ Kitô Giáo để xin hợp thức hóa cuộc hôn nhân và cho 5 đứa con được rửa tội.
Thập niên 1990, Hung Gia Lợi thay da đổi thịt. Đầu tư ngoại quốc ào ạt rót vào đất nước. Các xí nghiệp cổ lỗ dưới thời cộng sản bị dẹp bỏ. Nhiều nhân công bị sa thải. Có cả triệu người bị thất nghiệp.
Năm 1998, Đảng Fidesz chiến thắng, Orban lên làm thủ tướng. Ông vận động cho Hung Gia Lợi được gia nhập vào khối Liên Âu. Nhưng năm 2002, Orban thất cử. Mãi cho đến năm 2010, được hai phần ba cử tri Hung ủng hộ, Đảng Fidesz trở lại cầm quyền và Orban liên tục đắc cử thêm hai nhiệm kỳ nữa.
Cuộc sống của người dân Hung ngày càng tốt đẹp hơn. Mức lương đã tăng thêm 10 phần trăm. Kinh tế gia tăng hơn 4 phần trăm và thất nghiệp nằm dưới  mức 4 phần trăm. Tuy nhiên, một trong những vấn đề lớn của Hung Gia Lợi vẫn là sự thiếu hụt tay nghề. Hơn 600.000 người Hung di dân sang các nước khác trong khối Liên Âu để tìm kiếm một đồng lương cao hơn. Các hãng điện tử không thể đáp ứng các đơn đặt hàng vì thiếu kỹ sư. Các bệnh viện thì thiếu bác sĩ và y tá. Các loa phóng thanh đặt ở các nhà ga xe lửa kêu gọi thêm nhiều tài xế. Ngay cả các tiệm ăn cũng rao báo tìm thêm nhân viên phục vụ.
Trong khi Thủ tướng Orban ra rả chống lại di dân thì chính người dân Hung lại lo ngại vì làn sóng bỏ nước ra đi tìm việc làm ở nước ngoài ngày càng gia tăng.
Bên cạnh vấn đề di dân, Thủ tướng Orban còn phải đối phó với nhiều cáo buộc về tham nhũng. Người con rể của ông cũng như nhiều bộ tưởng và doanh gia thân cận với Đảng Fidesz của ông đều bị tố cáo bòn rút công quỹ.
Trong khi đó thì Thủ tướng Orban ngày càng tỏ ra thân thiện với Nga, mặc dù Hung Gia Lợi hiện đang là thành viên của NATO và khối Liên Âu. Ông luôn ngưỡng mộ hệ thống chính trị của Nga. Ông mô tả Hung Gia Lợi như một chế độ “dân chủ không tự do”. Kiểu nói này cũng tương tự với chế độ “dân chủ tối thượng” của Nga. Cả hai đều được hiểu như một lối cai trị độc tài. Cũng như Tổng thống Nga Vladimir Putin, Thủ tướng Orban sử dụng toàn những doanh gia giàu có và quyền lực trong chính phủ của ông. Trong hai thập niên trước, ông nổi tiếng là người chống Nga. Nhưng nay, ông hành động theo cùng một “sách” của ông Putin. Năm ngoái, Hung Gia Lợi đã thông qua luật để áp đặt nhiều hạn chế lên các tổ chức không chính phủ nào nhận tiền tài trợ từ nước ngoài. Cũng giống như luật về Nhân viên Nước ngoài của Nga, luật này được sử dụng để đàn áp những tiếng nói đối lập và các phương tiện truyền thông độc lập.
Cuộc khủng hoảng tài chính hồi năm 2008 đã khiến cho nhiều cơ quan truyền thông độc lập phá sản và được chính phủ mua lại. Hiện nay có tới 90 phần trăm các phương tiện truyền thông trực tiếp hay gián tiếp bị Đảng Fidesz kiểm soát.
Nga có lẽ không cần phải sử dụng các tin tặc để tung ra các tin giả và xen vào cuộc bầu cử tại Hung Gia Lợi, bởi vì Thủ tướng Orban và chính phủ của ông đã ngả vào vòng tay của ông Putin và hiện đang dẫn đầu trong các thăm dò dư luận cũng như các cuộc bầu cử. Hung Gia Lợi đang đi vào quỹ đạo của Nga, nhất là sau khi ông Orban đã chiến thắng trong cuộc bầu cử hôm Chủ nhật 8 tháng Tư vừa qua để làm thủ tướng thêm một nhiệm kỳ nữa.



(nguồn:
-http://www.bbc.co.uk/news/resources/idt-sh/Viktor_Orban
-https://edition.cnn.com/2018/04/06/europe/hungary-elections-russia-orban)

Thứ Tư, 11 tháng 4, 2018

Chùm khế ngọt



Chu Thập
30.04.13



Trong “quê hương bỏ túi” đằng sau nhà, tôi có trồng một cây khế ngọt. Đúng như nhà thơ Đỗ Trung Quân trong nước đã viết trong bài thơ Quê hương nổi tiếng của ông, trong các thứ cây nhiệt đới, có lẽ cây khế là hình ảnh gợi nhớ quê hương nhiều nhứt, nhứt là những cái bông lấm chấm. Khế ở Việt Nam ra trái quanh năm. Khế ở Úc này có lẽ cảm thông được với tâm trạng buồn nhớ quê hương của người Việt tỵ nạn chăng, cho nên chỉ ra trái vào mùa Thu, mùa có “tháng tư đen”. Trái chín không đậm đà như ở quê nhà, nhưng cũng đủ ngọt để người thưởng thức vẫn nhớ mãi quê hương và biết rằng dù ở đâu hay có mất tất cả, họ vẫn ôm ấp mãi quê hương trong lòng.
Thật ra, với tôi, quê hương không thu gọn trong “chùm khế ngọt trong vườn, con diều thả trên cánh đồng, con đò nhỏ khua nước trên sông, chiếc cầu tre nhỏ bắc qua con mương, giàn hoa bí, giậu mồng tơi, hàng rào dâm bụt …” Dĩ nhiên, nói đến quê hương người ta dễ nhớ đến những kỷ niệm của thời thơ ấu. Nhiều lắm, kể không xiết. Nhưng  quê hương cũng chưa hẳn là những kỷ niệm, những nơi mình đã sống. Có lẽ mỗi người đều giữ cho mình một hình ảnh quê hương của riêng mình. Theo ý nghĩa ấy, người nước nào cũng có một quê hương để ôm ấp. Tôi nghĩ đến trước tiên những người Úc mà tôi đang sống với.
Lối vào nhà tôi hiện nay được chia thành hai con đường cụt nối liền với nhau theo hình chữ T. Có một hiện tượng cứ khiến tôi phải suy nghĩ mãi là: chỉ nội trong 5 năm vừa qua, trong khoảng trên dưới 30 ngôi nhà, đã có hơn một nửa được bán đi. Ngoại trừ vài cặp vợ chồng già, đa số cư dân mới trong xóm của tôi đều là những người mới đến. Người Úc quả không quyến luyến với ngôi nhà họ đang ở. Thích thì ở, không thích thì dọn đi nơi khác. Nhưng có phải vì vậy mà họ không có quê hương sao?
Ở quê tôi, ít có ai bỏ xóm làng để đi phương xa lập nghiệp. Có đói khổ cách mấy, người ta cũng cố bám vào quê cha đất tổ mà sống. Như trường hợp mấy đứa cháu con của bà chị cả của tôi chẳng hạn: mảnh đất của chị để lại rộng không hơn một ngàn thước vuông, vậy mà có đến 5 đứa con của chị chia nhau mỗi người một mảng để cất nhà túm rụm bên nhau.
Kể từ khi ra khỏi Việt Nam, tôi mới nhận thấy rằng quê hương không còn giới hạn trong một mảnh đất hay những kỷ niệm của thời thơ ấu nữa. Vì nhu cầu của cuộc sống, vì đòi hỏi của những tiện nghi vật chất, vì sự cần thiết phải thích ứng với những tiến bộ của kỹ thuật và nhất là vì công ăn việc làm, con người thời đại xem mọi thứ trong cuộc đời này là tạm bợ. Chẳng có nơi nào là nơi chôn nhau cắt rún, chẳng có ngôi nhà nào là nhà của tổ tiên. Nếu cần, nhứt là để thay đổi cuộc sống, người ta có thể bỏ lại tất cả để ra đi.
Trước kia, nhứt là ở thôn quê, giữa con người và sự vật luôn có một quan hệ mật thiết. Thi sĩ Alphonse de Lamartine của Pháp (1790-1869) đã diễn tả đúng sợi giây liên kết giữa con người và sự vật qua câu thơ nổi tiếng: “Hỡi những vật vô tri giác, các ngươi có linh hồn không mà lại quyến luyến với linh hồn của chúng ta và buộc chúng ta phải yêu thương?” (Objets inanimés, avez –vous donc une âme qui s’ attache à nôtre âme et la force d’aimer?). Tôi hiểu được cái thói quen khác thường của cô con gái con của người bạn chí cốt của tôi bên Mỹ. Năm nay đã sắp ra trường đại học, nhưng cô không thể nào ngủ mà không có tấm chăn đã hầu như rách nát mà cha cô đã mua tặng cho mẹ cô khi hai người mới yêu nhau và được dùng để đắp cho cô khi cô còn đỏ hỏn. Giữa con người và sự vật quả có một mối liên kết mật thiết khó giải thích được.
Nhưng trong xã hội tiêu thụ ngày nay, xem chừng mối quan hệ ấy ngày càng lỏng lẻo. Hầu như chẳng có thứ gì mật thiết đến độ khiến con người thời đại phải bám víu vào suốt đời nữa. Từ miếng giấy lau tay, lau mặt thế cho chiếc khăn “mù soa” cho đến chiếc xe hơi, thứ gì cũng có thể dùng rồi vứt đi (disposable) hay bán lại. Văn hóa tiêu thụ cũng đồng nghĩa với văn hóa “vứt bỏ”. Chỉ trong một xóm nhỏ như nơi tôi ở, tháng nào tôi cũng thấy có gia đình mang đồ cũ ra bỏ trước nhà để được hội đồng thành phố cho người đến hốt đi. Thỉnh thoảng, bắt chước người Úc, tôi cũng “ngang nhiên” đi bới rác. Đôi khi, trong cái đống rác nhà giàu này, tôi cũng lượm được khối đồ vật còn tốt chán. Tôi cứ nghĩ: cũ người mà mới ta. Có sao đâu! Nếu có mang chút mặc cảm thì có lẽ không phải vì lượm đồ cũ cho bằng cảm thấy như mình không đóng góp hết mình cho sự chuyển vận của bánh xe kinh tế. Kinh tế nước nào mà cũng gặp toàn dân “trùm sò” như tôi, nghĩa là không thích mua sắm mà chỉ thích xài đồ cũ thì chắc phải sập tiệm thôi!
Kinh tế và kỹ thuật tân tiến ngày nay cứ bắt con người phải chạy theo hàng mới đến bở hơi tai. Có những thứ máy móc như điện thoại hay máy vi tính cầm tay tôi chưa dám đụng tới, vậy mà chỉ trong một thời gian ngắn đã trở thành lỗi thời. Thứ gì cũng trở thành tạm bợ và nhứt thời đối với người tiêu dùng ngày nay. Hãy nói đến số phận của chiếc xe tại Hoa Kỳ chẳng hạn. Ai cũng thích xe. Ai cũng thích nói về xe. Nhưng “tình cảm” của con người đối với chiếc xe không đủ mãnh liệt để khiến họ phải giữ mãi một chiếc xe. Trung bình, người dân Mỹ chỉ xử dụng một chiếc xe 3 năm rưỡi. Chính vì thời gian xử dụng một chiếc xe không quá lâu mà kỹ nghệ bán xe cũ mới thịnh đạt. Chính kỹ nghệ xe hơi tại Hoa Kỳ đã thành công trong việc đánh đổ cái quan niệm truyền thống cho rằng đã mua sắm cái gì thì phải xử dụng nó cho đến cùng. Ngày nay, “ăn chắc mặc bền” có thể là một quan niệm đi ngược lại với sự phát triển của kinh tế. Nói đến kinh tế là phải nói đến sản xuất và tiêu thụ. Có tiêu thụ nhiều, nghĩa là có xài rồi vứt bỏ thì mới có sản xuất và như vậy kinh tế mới phát triển.
Song song với việc thay đổi xe nhanh chóng như thế, có một hiện tượng khác phát sinh từ Hoa Kỳ và lan rộng đến hầu hết mọi nơi trên thế giới: đó là việc thuê xe! Ngày nay, nhứt là trong những thành phố lớn, nơi mà chỗ đậu xe cũng đắt gần như mua một chiếc xe mới, ngày càng có nhiều người thay vì mua xe đã chọn giải pháp thuê xe. Đi đâu cũng thuê xe được. Ở đâu cũng có chỗ cho thuê xe. Vừa tiện lợi, vừa ít tốn tiền, vừa không phải đóng bảo hiểm và thuế đường hàng năm.
Mà đâu chỉ có xe hơi. Hiện nay, bất cứ vật dụng gì cũng đều có thể thuê mướn được. Nhiều người ngày nay có lẽ cũng thích mướn nhà hơn mua nhà. Trong thời kỳ Đại khủng hoảng kinh tế hồi thập niên 1930 của thế kỷ trước, khi có đến hàng triệu người thất nghiệp và lâm cảnh “vô gia cư” thì có được một ngôi nhà riêng của mình là một mơ ước cả đời người và đồng thời cũng là động lực thúc đẩy kinh tế trong các xã hội tư bản. Ngay nay, ở đâu cũng thế, ước muốn có được một ngôi nhà riêng của mình vẫn luôn mạnh. Tuy nhiên, tại Hoa Kỳ chẳng hạn, kể từ sau Đệ nhị thế chiến, tỷ lệ của những căn phòng được cất lên để cho thuê ngày càng gia tăng. Cuối năm 1955, tỷ lệ này chỉ có khoảng 8 phần trăm số nhà ở. Đầu thập niên 1960, tỷ lệ này lên đến 24 phần trăm. Hiện nay, nhứt là trong những thành phố lớn, số người ở nhà thuê ngày càng gia tăng. Vì tình trạng tài chính của gia đình cũng có, vì công ăn việc làm cũng có mà vì sở thích cũng có. Người ở nhà thuê luôn có cái cảm giác được tự do. Họ có thể thay đổi chỗ ở bất cứ lúc nào. Giữa đô thị, con người thời đại vẫn có thể sống kiếp “du mục” nay đây mai đó.
Hãy thử tưởng tượng nhịp sống của một viên giám đốc công ty tại Wall Street chẳng hạn.  4.30 chiều mỗi thứ sáu, ông xếp lại giấy tờ và cho vào một chiếc cặp xách tay. Từ tầng lầu thứ 29 của một cao ốc, ông đi thang máy xuống tầng trệt và mất 10 phút để chen chúc trong đám đông mới có thể đến một bãi đậu dành cho trực thăng. 6 phút sau, ông ra đến phi trường J.F Kennedy. Một giờ sau, ông đến phi trường Colombus, tiểu bang Ohio. Từ đây, ông mất khoảng 30 phút để lái xe về nhà.
Mỗi tuần, ông ngủ bốn đêm trong một khách sạn ở Manhattan. 3 đêm còn lại, ông dành cho vợ con tại Columbus. Trung bình, mỗi năm, ông đi đi về về như thế gần một trăm ngàn cây số.
Chuyện đi lại của viên giám đốc trên đây không phải là một trường hợp cá biệt. Tại tiểu bang California, mỗi sáng những chủ nông trại giàu có đều lái máy bay khoảng hai trăm cây số từ nhà của họ ở vùng duyên hải Thái bình dương đến thung lũng San Bernadino Valley để thăm các nông trại và ở lại đó cho đến chiều tối.
Ngày nay, với những phương tiện di chuyển ngày càng tối tân, con người ngày càng đi lại nhiều hơn. Thời đệ Nhứt thế chiến, trung bình một người Mỹ mỗi năm chỉ di chuyển tối đa gần 3 ngàn cây số. Ngày nay, tại Hoa Kỳ cũng như tại Úc Đại Lợi này, những người có xe riêng mỗi năm có thể di chuyển đến 20 ngàn cây số (x. Alvin Toffler, Future Shock, Pan Books, London 1971).
Không quyến luyến với sự vật mình đang xử dụng, không gắn bó với ngôi nhà mình đang ở, phải chăng con người thời đại ở các nước văn minh không có một “quê hương” để nhớ? “Trông người lại nghĩ đến ta”, phải chăng bỏ nước ra đi như tôi là mất quê hương? Tôi còn nhớ, trong những ngày đầu tiên khi từ trại tỵ nạn mới đến Pháp, giấy chứng nhận là người tỵ nạn tôi nhận được có ghi rõ tình trạng của tôi: “vô tổ quốc”, nghĩa là không phải là công dân của một quốc gia nào. “Vô tổ quốc” nhưng không phải là “vô quê hương”. Điều đó có nghĩa là dù có ăn nhờ ở đậu ở đâu, ai cũng còn có một quê hương. Và ngay cả không thể trở về quê hương, họ cũng vẫn mang theo một quê hương trong lòng.
Nghĩ như thế cho nên kể từ lúc bỏ nước ra đi, dù sống ở chân trời góc bể nào, tôi cũng vẫn luôn thấy mình vẫn còn có một quê hương. Người ta có lý để gọi đất nước mình chọn lựa để dung thân là quê hương thứ hai. Quê hương thứ hai không chỉ là lãnh thổ của một đất nước, ngôi nhà mới mình đang cư ngụ, cảnh vườn mới xung quanh nhà, mà còn là hình ảnh của quê hương cũ được mình cố gắng tái hiện bằng nhiều cách. Chính trong ý nghĩ đó mà tôi cố gắng tạo dựng một “quê hương bỏ túi” trong ngôi vườn đàng sau nhà.
Tôi đã có dịp trở lại thăm “quê nhà”. Nhớ quê hương, yêu mến quê hương thì lúc nào tôi cũng có. Nhưng trở về sống ở quê hương bây giờ thì dứt khoát không. Bởi cái quê hương của “riêng” tôi không còn nữa. Không phải vì khung cảnh cũ không còn mà chính là vì cái chất “keo” thiêng liêng của an bình, của đầm ấm giữa xóm làng, giữa người với thiên nhiên trong cái nhìn của tôi không còn nữa. Cũng mảnh đất quê hương ấy, cũng những con người ấy, nhưng cái chất “keo” kia ra vẻ không còn nữa. Nhìn nhau thật sâu nhưng sao không tìm thấy mình trong đáy mắt của người kia. Ngồi cách nhau một mặt bàn mà xa nhau hơn nửa vòng trái đất. Tôi sợ mình sẽ trở thành người xa lạ ngay chính trên quê hương của mình. Nhưng mãi mãi không gì có thể làm cho nguôi ngoai nỗi nhớ quê hương trong tôi.
“Quê hương là chùm khế ngọt”. Đúng vậy, tôi không thể thưởng thức trái khế ngọt trong “quê hương bỏ túi” đàng sau nhà mà không cảm thấy như mình đang sống ở quê hương. Thật ra đâu chỉ có chùm khế ngọt. Một khung cảnh thanh bình, một môi trường lành mạnh, những mối quan hệ tốt đẹp với người lối xóm…ở đâu tôi cảm thấy an bình thì ở đó chính là quê hương của tôi vậy.