Thứ Tư, 11 tháng 4, 2018

Chùm khế ngọt



Chu Thập
30.04.13



Trong “quê hương bỏ túi” đằng sau nhà, tôi có trồng một cây khế ngọt. Đúng như nhà thơ Đỗ Trung Quân trong nước đã viết trong bài thơ Quê hương nổi tiếng của ông, trong các thứ cây nhiệt đới, có lẽ cây khế là hình ảnh gợi nhớ quê hương nhiều nhứt, nhứt là những cái bông lấm chấm. Khế ở Việt Nam ra trái quanh năm. Khế ở Úc này có lẽ cảm thông được với tâm trạng buồn nhớ quê hương của người Việt tỵ nạn chăng, cho nên chỉ ra trái vào mùa Thu, mùa có “tháng tư đen”. Trái chín không đậm đà như ở quê nhà, nhưng cũng đủ ngọt để người thưởng thức vẫn nhớ mãi quê hương và biết rằng dù ở đâu hay có mất tất cả, họ vẫn ôm ấp mãi quê hương trong lòng.
Thật ra, với tôi, quê hương không thu gọn trong “chùm khế ngọt trong vườn, con diều thả trên cánh đồng, con đò nhỏ khua nước trên sông, chiếc cầu tre nhỏ bắc qua con mương, giàn hoa bí, giậu mồng tơi, hàng rào dâm bụt …” Dĩ nhiên, nói đến quê hương người ta dễ nhớ đến những kỷ niệm của thời thơ ấu. Nhiều lắm, kể không xiết. Nhưng  quê hương cũng chưa hẳn là những kỷ niệm, những nơi mình đã sống. Có lẽ mỗi người đều giữ cho mình một hình ảnh quê hương của riêng mình. Theo ý nghĩa ấy, người nước nào cũng có một quê hương để ôm ấp. Tôi nghĩ đến trước tiên những người Úc mà tôi đang sống với.
Lối vào nhà tôi hiện nay được chia thành hai con đường cụt nối liền với nhau theo hình chữ T. Có một hiện tượng cứ khiến tôi phải suy nghĩ mãi là: chỉ nội trong 5 năm vừa qua, trong khoảng trên dưới 30 ngôi nhà, đã có hơn một nửa được bán đi. Ngoại trừ vài cặp vợ chồng già, đa số cư dân mới trong xóm của tôi đều là những người mới đến. Người Úc quả không quyến luyến với ngôi nhà họ đang ở. Thích thì ở, không thích thì dọn đi nơi khác. Nhưng có phải vì vậy mà họ không có quê hương sao?
Ở quê tôi, ít có ai bỏ xóm làng để đi phương xa lập nghiệp. Có đói khổ cách mấy, người ta cũng cố bám vào quê cha đất tổ mà sống. Như trường hợp mấy đứa cháu con của bà chị cả của tôi chẳng hạn: mảnh đất của chị để lại rộng không hơn một ngàn thước vuông, vậy mà có đến 5 đứa con của chị chia nhau mỗi người một mảng để cất nhà túm rụm bên nhau.
Kể từ khi ra khỏi Việt Nam, tôi mới nhận thấy rằng quê hương không còn giới hạn trong một mảnh đất hay những kỷ niệm của thời thơ ấu nữa. Vì nhu cầu của cuộc sống, vì đòi hỏi của những tiện nghi vật chất, vì sự cần thiết phải thích ứng với những tiến bộ của kỹ thuật và nhất là vì công ăn việc làm, con người thời đại xem mọi thứ trong cuộc đời này là tạm bợ. Chẳng có nơi nào là nơi chôn nhau cắt rún, chẳng có ngôi nhà nào là nhà của tổ tiên. Nếu cần, nhứt là để thay đổi cuộc sống, người ta có thể bỏ lại tất cả để ra đi.
Trước kia, nhứt là ở thôn quê, giữa con người và sự vật luôn có một quan hệ mật thiết. Thi sĩ Alphonse de Lamartine của Pháp (1790-1869) đã diễn tả đúng sợi giây liên kết giữa con người và sự vật qua câu thơ nổi tiếng: “Hỡi những vật vô tri giác, các ngươi có linh hồn không mà lại quyến luyến với linh hồn của chúng ta và buộc chúng ta phải yêu thương?” (Objets inanimés, avez –vous donc une âme qui s’ attache à nôtre âme et la force d’aimer?). Tôi hiểu được cái thói quen khác thường của cô con gái con của người bạn chí cốt của tôi bên Mỹ. Năm nay đã sắp ra trường đại học, nhưng cô không thể nào ngủ mà không có tấm chăn đã hầu như rách nát mà cha cô đã mua tặng cho mẹ cô khi hai người mới yêu nhau và được dùng để đắp cho cô khi cô còn đỏ hỏn. Giữa con người và sự vật quả có một mối liên kết mật thiết khó giải thích được.
Nhưng trong xã hội tiêu thụ ngày nay, xem chừng mối quan hệ ấy ngày càng lỏng lẻo. Hầu như chẳng có thứ gì mật thiết đến độ khiến con người thời đại phải bám víu vào suốt đời nữa. Từ miếng giấy lau tay, lau mặt thế cho chiếc khăn “mù soa” cho đến chiếc xe hơi, thứ gì cũng có thể dùng rồi vứt đi (disposable) hay bán lại. Văn hóa tiêu thụ cũng đồng nghĩa với văn hóa “vứt bỏ”. Chỉ trong một xóm nhỏ như nơi tôi ở, tháng nào tôi cũng thấy có gia đình mang đồ cũ ra bỏ trước nhà để được hội đồng thành phố cho người đến hốt đi. Thỉnh thoảng, bắt chước người Úc, tôi cũng “ngang nhiên” đi bới rác. Đôi khi, trong cái đống rác nhà giàu này, tôi cũng lượm được khối đồ vật còn tốt chán. Tôi cứ nghĩ: cũ người mà mới ta. Có sao đâu! Nếu có mang chút mặc cảm thì có lẽ không phải vì lượm đồ cũ cho bằng cảm thấy như mình không đóng góp hết mình cho sự chuyển vận của bánh xe kinh tế. Kinh tế nước nào mà cũng gặp toàn dân “trùm sò” như tôi, nghĩa là không thích mua sắm mà chỉ thích xài đồ cũ thì chắc phải sập tiệm thôi!
Kinh tế và kỹ thuật tân tiến ngày nay cứ bắt con người phải chạy theo hàng mới đến bở hơi tai. Có những thứ máy móc như điện thoại hay máy vi tính cầm tay tôi chưa dám đụng tới, vậy mà chỉ trong một thời gian ngắn đã trở thành lỗi thời. Thứ gì cũng trở thành tạm bợ và nhứt thời đối với người tiêu dùng ngày nay. Hãy nói đến số phận của chiếc xe tại Hoa Kỳ chẳng hạn. Ai cũng thích xe. Ai cũng thích nói về xe. Nhưng “tình cảm” của con người đối với chiếc xe không đủ mãnh liệt để khiến họ phải giữ mãi một chiếc xe. Trung bình, người dân Mỹ chỉ xử dụng một chiếc xe 3 năm rưỡi. Chính vì thời gian xử dụng một chiếc xe không quá lâu mà kỹ nghệ bán xe cũ mới thịnh đạt. Chính kỹ nghệ xe hơi tại Hoa Kỳ đã thành công trong việc đánh đổ cái quan niệm truyền thống cho rằng đã mua sắm cái gì thì phải xử dụng nó cho đến cùng. Ngày nay, “ăn chắc mặc bền” có thể là một quan niệm đi ngược lại với sự phát triển của kinh tế. Nói đến kinh tế là phải nói đến sản xuất và tiêu thụ. Có tiêu thụ nhiều, nghĩa là có xài rồi vứt bỏ thì mới có sản xuất và như vậy kinh tế mới phát triển.
Song song với việc thay đổi xe nhanh chóng như thế, có một hiện tượng khác phát sinh từ Hoa Kỳ và lan rộng đến hầu hết mọi nơi trên thế giới: đó là việc thuê xe! Ngày nay, nhứt là trong những thành phố lớn, nơi mà chỗ đậu xe cũng đắt gần như mua một chiếc xe mới, ngày càng có nhiều người thay vì mua xe đã chọn giải pháp thuê xe. Đi đâu cũng thuê xe được. Ở đâu cũng có chỗ cho thuê xe. Vừa tiện lợi, vừa ít tốn tiền, vừa không phải đóng bảo hiểm và thuế đường hàng năm.
Mà đâu chỉ có xe hơi. Hiện nay, bất cứ vật dụng gì cũng đều có thể thuê mướn được. Nhiều người ngày nay có lẽ cũng thích mướn nhà hơn mua nhà. Trong thời kỳ Đại khủng hoảng kinh tế hồi thập niên 1930 của thế kỷ trước, khi có đến hàng triệu người thất nghiệp và lâm cảnh “vô gia cư” thì có được một ngôi nhà riêng của mình là một mơ ước cả đời người và đồng thời cũng là động lực thúc đẩy kinh tế trong các xã hội tư bản. Ngay nay, ở đâu cũng thế, ước muốn có được một ngôi nhà riêng của mình vẫn luôn mạnh. Tuy nhiên, tại Hoa Kỳ chẳng hạn, kể từ sau Đệ nhị thế chiến, tỷ lệ của những căn phòng được cất lên để cho thuê ngày càng gia tăng. Cuối năm 1955, tỷ lệ này chỉ có khoảng 8 phần trăm số nhà ở. Đầu thập niên 1960, tỷ lệ này lên đến 24 phần trăm. Hiện nay, nhứt là trong những thành phố lớn, số người ở nhà thuê ngày càng gia tăng. Vì tình trạng tài chính của gia đình cũng có, vì công ăn việc làm cũng có mà vì sở thích cũng có. Người ở nhà thuê luôn có cái cảm giác được tự do. Họ có thể thay đổi chỗ ở bất cứ lúc nào. Giữa đô thị, con người thời đại vẫn có thể sống kiếp “du mục” nay đây mai đó.
Hãy thử tưởng tượng nhịp sống của một viên giám đốc công ty tại Wall Street chẳng hạn.  4.30 chiều mỗi thứ sáu, ông xếp lại giấy tờ và cho vào một chiếc cặp xách tay. Từ tầng lầu thứ 29 của một cao ốc, ông đi thang máy xuống tầng trệt và mất 10 phút để chen chúc trong đám đông mới có thể đến một bãi đậu dành cho trực thăng. 6 phút sau, ông ra đến phi trường J.F Kennedy. Một giờ sau, ông đến phi trường Colombus, tiểu bang Ohio. Từ đây, ông mất khoảng 30 phút để lái xe về nhà.
Mỗi tuần, ông ngủ bốn đêm trong một khách sạn ở Manhattan. 3 đêm còn lại, ông dành cho vợ con tại Columbus. Trung bình, mỗi năm, ông đi đi về về như thế gần một trăm ngàn cây số.
Chuyện đi lại của viên giám đốc trên đây không phải là một trường hợp cá biệt. Tại tiểu bang California, mỗi sáng những chủ nông trại giàu có đều lái máy bay khoảng hai trăm cây số từ nhà của họ ở vùng duyên hải Thái bình dương đến thung lũng San Bernadino Valley để thăm các nông trại và ở lại đó cho đến chiều tối.
Ngày nay, với những phương tiện di chuyển ngày càng tối tân, con người ngày càng đi lại nhiều hơn. Thời đệ Nhứt thế chiến, trung bình một người Mỹ mỗi năm chỉ di chuyển tối đa gần 3 ngàn cây số. Ngày nay, tại Hoa Kỳ cũng như tại Úc Đại Lợi này, những người có xe riêng mỗi năm có thể di chuyển đến 20 ngàn cây số (x. Alvin Toffler, Future Shock, Pan Books, London 1971).
Không quyến luyến với sự vật mình đang xử dụng, không gắn bó với ngôi nhà mình đang ở, phải chăng con người thời đại ở các nước văn minh không có một “quê hương” để nhớ? “Trông người lại nghĩ đến ta”, phải chăng bỏ nước ra đi như tôi là mất quê hương? Tôi còn nhớ, trong những ngày đầu tiên khi từ trại tỵ nạn mới đến Pháp, giấy chứng nhận là người tỵ nạn tôi nhận được có ghi rõ tình trạng của tôi: “vô tổ quốc”, nghĩa là không phải là công dân của một quốc gia nào. “Vô tổ quốc” nhưng không phải là “vô quê hương”. Điều đó có nghĩa là dù có ăn nhờ ở đậu ở đâu, ai cũng còn có một quê hương. Và ngay cả không thể trở về quê hương, họ cũng vẫn mang theo một quê hương trong lòng.
Nghĩ như thế cho nên kể từ lúc bỏ nước ra đi, dù sống ở chân trời góc bể nào, tôi cũng vẫn luôn thấy mình vẫn còn có một quê hương. Người ta có lý để gọi đất nước mình chọn lựa để dung thân là quê hương thứ hai. Quê hương thứ hai không chỉ là lãnh thổ của một đất nước, ngôi nhà mới mình đang cư ngụ, cảnh vườn mới xung quanh nhà, mà còn là hình ảnh của quê hương cũ được mình cố gắng tái hiện bằng nhiều cách. Chính trong ý nghĩ đó mà tôi cố gắng tạo dựng một “quê hương bỏ túi” trong ngôi vườn đàng sau nhà.
Tôi đã có dịp trở lại thăm “quê nhà”. Nhớ quê hương, yêu mến quê hương thì lúc nào tôi cũng có. Nhưng trở về sống ở quê hương bây giờ thì dứt khoát không. Bởi cái quê hương của “riêng” tôi không còn nữa. Không phải vì khung cảnh cũ không còn mà chính là vì cái chất “keo” thiêng liêng của an bình, của đầm ấm giữa xóm làng, giữa người với thiên nhiên trong cái nhìn của tôi không còn nữa. Cũng mảnh đất quê hương ấy, cũng những con người ấy, nhưng cái chất “keo” kia ra vẻ không còn nữa. Nhìn nhau thật sâu nhưng sao không tìm thấy mình trong đáy mắt của người kia. Ngồi cách nhau một mặt bàn mà xa nhau hơn nửa vòng trái đất. Tôi sợ mình sẽ trở thành người xa lạ ngay chính trên quê hương của mình. Nhưng mãi mãi không gì có thể làm cho nguôi ngoai nỗi nhớ quê hương trong tôi.
“Quê hương là chùm khế ngọt”. Đúng vậy, tôi không thể thưởng thức trái khế ngọt trong “quê hương bỏ túi” đàng sau nhà mà không cảm thấy như mình đang sống ở quê hương. Thật ra đâu chỉ có chùm khế ngọt. Một khung cảnh thanh bình, một môi trường lành mạnh, những mối quan hệ tốt đẹp với người lối xóm…ở đâu tôi cảm thấy an bình thì ở đó chính là quê hương của tôi vậy.






Thứ Hai, 9 tháng 4, 2018

Tây Tạng: 60 năm tỵ nạn tại Ấn Độ



06/04/18
Kể từ ngày thứ Bảy 31 tháng Ba vừa qua, người Tây Tạng tại Ấn Độ đã khởi sự một năm gọi là “Cám Ơn Ấn Độ” để đánh dấu 60 năm tỵ nạn tại Ấn Độ và bày tỏ lòng tri ân đối với chính phủ và nhân dân nước này.
Năm 1949, Đảng Cộng Sản cướp chính quyền tại Trung Hoa Lục Địa. Sau khi thu tóm quyền lực trong tay , Mao Trạch Đông tuyên bố rằng Tây Tạng là một phần của lãnh thổ Trung Hoa và nhân dân Tây Tạng đang kêu gào để được “giải phóng” khỏi các đế quốc và khỏi “chế độ phong kiến phản động” tại Lhasa. Ngày 7 tháng Mười năm 1950, khoảng 40.000 bộ đội thuộc Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Cộng đã vượt qua thượng lưu sông Dương Tử, tràn vào miền đông Tây Tạng và chiếm Thành phố Chamdo. Hơn phân nửa của một quân đội chỉ có khoảng 10.000 binh sĩ  của Tây Tạng đã bị Trung Cộng bắt làm tù binh. Khi tiến vào Thủ đô Lhasa, bộ đội Trung Cộng đã giương hình lãnh tụ Mao Trạch Đông lên cao và gọi đây là một cuộc “giải phóng ôn hòa”.
Vào thời đó, Tây Tạng còn là một nước nghèo và cô lập. Tuổi thọ của người dân chỉ có khoảng 36 năm. Chỉ có 5 phần trăm dân số biết đọc biết viết. 95 phần trăm còn lại đều phải sống kiếp nô lệ cha truyền con nối. Tham nhũng và tội ác là hai thứ tệ nạn hầu như không có thuốc chữa. Không có hệ thống trường học, ngân hàng và tiền tệ. Người dân vẫn còn giao dịch bằng sự trao đổi nông sản và thực phẩm. Giai cấp quý tộc trong các tu viện sống nhờ vào lao động và thuế của các nông dân nghèo. Giai cấp thống trị luôn sử dụng bạo động để khước từ mọi cuộc cải cách.
Tuy nhiên, dù Tây Tạng là một nước nghèo và bị cô lập, người dân vẫn luôn ý thức rằng đất nước họ là một quốc gia độc lập. Đứng trước cuộc xâm lăng tàn bạo của Trung Cộng, Chính phủ Tây Tạng liền đưa một thiếu niên mới 16 tuổi vào vị trí lãnh đạo của quốc gia. Người thiếu niên này chính là Đức Đạt Lai Lạt Ma, Bang thiền Lạt Ma thứ 14. Dân chúng Tây Tạng tuôn ra các ngã đường để ăn mừng. Nhưng mặc cho dân chúng Tây Tạng có vui mừng nhảy múa và mặc cho Liên Hiệp Quốc có lên tiếng phản đối, Trung Cộng vẫn tiến hành cuộc xâm lăng của họ.
Nhớ lại biến cố này, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã viết trên tạp chí Time: “Tôi còn rất trẻ khi lần đầu tiên nghe nói đến hai chữ “cộng sản”...Một số vị sư đang dạy kèm cho tôi...đã nói đến sự hủy diệt sau khi người Cộng Sản xâm chiếm Mông Cổ. Chúng tôi không biết gì về ý thức hệ Mar xít. Nhưng tất cả chúng tôi đều lo sợ trước sự hủy diệt và đều khiếp hãi khi nghĩ đến Cộng Sản”.
Sau khi được đưa lên cầm quyền tại Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã được mời sang Trung Cộng để học hỏi về chủ nghĩa Mác xít. Nhà lãnh đạo trẻ rất cảm kích trước những cải tổ tại Trung Hoa. Ngài còn làm thơ để ca ngợi Chủ tịch Mao Trạch Đông. Vị Phật sống chia sẻ: “Chỉ khi được đến Trung Hoa trong hai năm 1954 và 1955 tôi mới thực sự nghiên cứu về ý thức hệ Mác xít và tìm hiểu về cuộc cách mạng ở Trung Hoa. Một khi đã hiểu được chủ nghĩa Mác xít, tôi đã hoàn toàn thay đổi thái độ. Tôi bị lôi cuốn bởi chủ nghĩa Mác xít đến độ đã bày tỏ mong ước được trở thành một đảng viên Cộng Sản”.
Trong suốt thập niên 1950, mặc dù bị đặt dưới sự cai trị của Trung Cộng, phần lớn người Tây Tạng vẫn còn có chút tự do để kinh doanh và Đức Đạt Lai Lạt Ma vẫn tiếp tục sống tại Thủ đô Lhasa. Trung Cộng đã thực hiện một số cải tổ tích cực như xây dựng đường sá, trường học, bệnh viện cũng như để cho người Tây Tạng được tự do thực hành đạo và sống theo tập tục của họ. Tuy nhiên, dần dà Trung Cộng đã thò cánh tay đế quốc của họ ra. Họ sáp nhập hai vùng Kham và Amdo của Tây Tạng vào hai tỉnh của họ là Tứ Xuyên và Thanh Hải. Các tu viện bắt đầu bị cướp bóc và đất đai của giới quý tộc Tây Tạng bị tịch thu.
Sau chuyến đi Bắc Kinh của Đức Đạt Lai Lạt Ma, tình hình trở nên tồi tệ hơn. Mao Trạch Đông đã không ngần ngại nói thẳng với nhà lãnh đạo Tây Tạng rằng “tôn giáo là thuốc độc”. Đây là tiếng súng lệnh để người Cộng Sản tàn phá các tu viện. Hàng ngàn nhà sư và ni cô bị bứng ra khỏi các tu viện. Người Cộng Sản ngày càng để lộ móng vuốt thô bạo của họ.
Năm 1956, trước sự áp bức của Trung Cộng, người dân tại vùng Kham, miền Đông Tây Tạng, đã nổi dậy. Trong hai năm sau đó, cuộc nổi dậy có vũ trang đã lan rộng  đến miền Trung Tây Tạng và nhiều cuộc biểu tình đã diển ra tại Thủ đô Lhasa.
Nhưng biến cố chính trong cuộc nổi dậy của Tây Tạng chỉ thực sự xảy ra vào dịp Năm Mới 1959 của Tây Tạng. Có tin cho biết Đức Đạt Lai Lạt Ma được chính quyền Trung Cộng mời tham dự một buổi trình diễn của một đoàn ca múa của họ. Ngài sẽ tham dự buổi trình diễn văn nghệ mà không có các vệ binh hộ tống. Dân chúng cho rằng Trung Cộng dàn dựng chuyện này để bắt cóc Ngài, cho nên đã kéo nhau đến trước dinh thự mùa hè Norbulinka của Ngài và cương quyết bảo vệ Ngài cho đến cùng. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tuyên bố sẽ không đến tham dự buổi trình diễn. Chính quyền Trung Cộng liền hủy bỏ thỏa hiệp đã được ký kết với Tây Tạng theo đó nước này được tiếp tục hưởng quyền tự trị. Không muốn thấy bạo động và đổ máu, Đức Đạt Lat Lạt Ma đã tình nguyện đến nạp mình. Nhưng Trung Cộng lại cho nã trọng pháo vào dinh thự mùa hè của Ngài.
Ngày 10 tháng Ba năm 1959, Đức Đạt Lai Lạt Ma lại được chính quyền Trung Cộng mời viếng thăm một căn cứ quân sự của họ. Sợ đây có thể là một âm mưu để bắt cóc Ngài, một đám đông lên tới 30.000 người đã tập trung trước dinh thự mùa hè, làm thành một biển người để bảo vệ Ngài. Hai ngày sau, một đám đông gồm khoảng 5.000 người phụ nữ Tây Tạng đã tuần hành qua các đường phố thủ đô. Họ mang theo những biểu ngữ có nội dụng đòi hỏi “Tây Tạng là của người Tây Tạng” và hô lớn khẩu hiệu “Kể từ hôm nay, Tây Tạng là một nước độc lập”. Trung Cộng đưa lính tới bao vây dinh thự, đồng thời cho nã trọng pháo vào dinh thự. Chính thái độ khiêu khích hung hãn này của Trung Cộng đã khiến Đức Đạt Lai Lạt Ma quyết định bỏ nước ra đi. Trong đêm 17 tháng Ba, Ngài đã cải trang thành một binh sĩ và cùng với 52 tu sĩ khác cũng cải trang thành binh sĩ trốn ra khỏi dinh thự mùa hè. Bằng nhiều phương tiện khác nhau và sau nhiều ngày gian khổ, Ngài đã đặt chân đến Ấn Độ ngày 31 tháng Ba năm 1959. Ba ngày sau, Thủ tướng Nehru của Ấn Độ tuyên bố trước Quốc Hội rằng Chính phủ Ấn đã dành cho Đức Đạt Lai Lạt Ma quyền tỵ nạn.
Cùng một lúc với Ngài và sau đó, có khoảng trên dưới 100.000 người Tây Tạng cũng đã trốn khỏi đất nước để xin tỵ nạn tại Ấn Độ. Một trại tỵ nạn lớn đã được thành lập tại Darjeling, gần Dharamsala, nơi Đức Đạt Lai Lạt Ma đặt trụ sở cho chính phủ lưu vong của Ngài. Phần lớn người Tây Tạng đã xin tỵ nạn tại Ấn Độ. Một số khác xin đến Nepal hay một số nước Tây Phương.
Hai ngày sau khi Đức Đạt Lai Lạt Ma trốn thoát, Trung Cộng cho đóng cửa Chính phủ Tây Tạng, xâm chiếm đất đai và bắn phá dinh Potala cũng như đóng cửa tất cả mọi tu viện. Hàng ngàn tu sĩ bị bắt giam tù và đày vào các trại lao động khổ sai. Sau khi Tây Tạng hoàn toàn rơi vào tay mình, Mao Trạch Đông tuyên bố: “Chỉ nội trong 3 tháng nữa, họ sẽ tin vào chủ nghĩa Cộng sản”.
Trong 60 năm qua, Ấn Độ không ngừng xem Đức Đạt Lai Lạt Ma là “người khách được tôn quý nhất của Ấn Độ”. Nhưng với Trung Cộng, vị Phật sống này chỉ là “một con sói đội lốt nhà tu”. Quốc gia cộng sản khổng lồ này không ngừng tố cáo ngài  lãnh đạo “các hoạt động ly khai và chống phá Trung Quốc dưới chiếc áo của tôn giáo với mục đích tách lìa Tây Tạng khỏi Trung Quốc”.
Do áp lực của Trung Cộng chăng, gần đây Ấn Độ xem ra đã không còn tỏ ra mặn mà với Tây Tạng và Đức Đạt Lai Lạt Ma nữa. Đầu tháng Ba vừa qua, Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ đã lên tiếng khuyến cáo Chính phủ Ấn không nên tham dự các cuộc lễ do những người Tây Tạng lưu vong tổ chức để đánh dấu 60 năm tỵ nạn tại Ấn Độ. Bộ Ngoại giao Ấn Độ cho rằng các cuộc lễ do cộng đồng Tây Tạng tỵ nạn tổ chức diễn ra “trong một bối cảnh rất “nhạy cảm” của mối bang giao giữa Ấn Độ và Tây Tạng”.
Lúc đầu, Chính phủ Lưu vong Tây Tạng định tổ chức một buổi lễ tưởng niệm tại Thủ đô New Delhi trong đó Đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ đến đọc diễn văn. Nhưng trước khuyến cáo của Bộ Ngoại giao Ấn Độ, các buổi lễ của người Tây Tạng chỉ diễn ra tại Dharamsala là nơi có trụ sở của Chính phủ Lưu vong Tây Tạng. Dù vậy, Quốc hội Lưu vong Tây Tạng và ban tổ chức các cuộc lễ đánh dấu 60 năm tỵ nạn không đưa ra lý do nào để giải thích tại sao các buổi lễ không được cử hành tại thủ đô Ấn Độ.
Theo các số thống kê mới nhất của Chính phủ Lưu vong Tây Tạng, hiện có trên 128.000 người Tây Tạng đang sống ở nước ngoài. Trong số này có 94.000 người đang tỵ nạn tại Ấn Độ. Khoảng 10.6 phần trăm sống tại Nepal. Phần còn lại sống rải rác tại hơn 30 quốc gia trên thế giới.
Kể từ năm 1974, Đức Đạt Lai Lạt Ma tuyên bố rằng ngài không hề đòi hỏi độc lập cho xứ sở, mà chỉ xin cho Tây Tạng được hưởng một nền “tự trị có ý nghĩa” qua đó Tây Tạng được bảo tồn văn hóa và di sản của mình.
Ấn Độ vẫn luôn giữ lập trường theo đó người Tây Tạng tại Ấn Độ không được “hoạt động chính trị trên đất Ấn Độ”.
Các bản tuyên cáo mới đây của Trung Cộng và Ấn Độ cho thấy chính phủ hai nước có đông dân số nhất thế giới này đang muốn hàn gắn các mối quan hệ sau một năm đầy sóng gió.
Hồi năm ngoái, quân đội của hai nước đã đối mặt nhau trong nhiều tháng trời tại Doklam là một địa điểm nằm dọc theo biên giới của 2 nước, dưới chân dãy Hi Mã Lạp Sơn và gần Bhutan.
Tháng Năm năm ngoái, Ấn Độ đã tẩy chay một cuộc họp thượng đỉnh do Trung Cộng tổ chức tại Bắc Kinh để giới thiệu sáng kiến “Nhất Đới Nhất Lộ” của họ. Ngoài ra, hồi tháng Hai vừa qua,  chuyến viếng thăm của Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Tỉnh bang Arunachal Pradesh, đông bắc Ấn Độ, mà Trung Cộng luôn xem là lãnh thổ của họ, cũng đã tạo ra nhiều căng thẳng ngoại giao giữa Bắc Kinh và New Delhi.
Nay thì xem ra hai quốc gia khổng lồ này muốn cải thiện mối bang giao giữa hai bên. Trong một cuộc họp báo hồi tháng trước, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Cộng, ông Vương Nghị cho biết lãnh đạo của hai nước “đã mở ra một cái nhìn chiến lược về tương lai của mối quan hệ của chúng ta: “Con rồng” Trung Quốc và “Con voi” Ấn Độ không nên đánh nhau, mà phải cùng nhảy múa với nhau”.
Với thiện chí muốn cải thiện mối quan hệ giữa hai bên, tháng Hai vừa qua, Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ, ông Vijay Gokkhale đã sang Bắc Kinh. Ông nói rằng hai bên đã ghi nhận nhu cầu “phải giải quyết những khác biệt dựa trên sự tương kính và nhạy cảm đối với các mối quan tâm, quyền lợi và khát vọng của hai nước”.
Theo dự trù, tháng Sáu tới đây, Thủ tướng Ấn Narendra Modi và Chủ tịch Tập Cận Bình của Trung Cộng sẽ gặp nhau bên lề Hội nghị Thượng đỉnh về Hợp tác tại Thượng Hải.
Dù cho quan hệ giữa Ấn Độ và Trung Cộng có xoay chiều đổi hướng như thế nào đi nữa, Ấn Độ vẫn là một nước dân chủ. Và dù cho tình thế có biến đổi đến đâu, một thực tế mà lịch sử thế giới không thể chối cãi được là: Trung Cộng đã ngang nhiên xâm chiếm một quốc gia độc lập là Tây Tạng và người dân Tây Tạng cùng với nhà lãnh đạo tinh thần của mình là Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tỵ nạn tại Ấn Độ từ 60 năm nay.

(nguồn:
-https://www.historytoday.com/richard-cavendish/chinese-invade-tibet.
-https://edition.cnn.com/2018/03/30/asia/india-tibet-china-dalai-lama )

Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2018

Hòa giải trong sự thật


Chu Thập
Phục sinh 2014
Hôm thứ Hai 7 tháng 4 năm 2014 vùa qua, Cộng hòa Rwanda, một quốc gia nằm ở miền Trung Đông Phi Châu, đã tổ chức tưởng niệm 20 năm cuộc  diệt chủng được xem là khủng khiếp nhứt trong lịch sử nhân loại. Khủng khiếp đến độ, tôi nhớ có đọc một bài tường thuật của một nhà truyền giáo, vốn đã chứng kiến cái cảnh trung bình cứ 10 giây có một người bị tàn sát một cách dã man, đã phải thốt lên: “Có lẽ quỷ dữ đã thoát ra khỏi hỏa ngục!” Chỉ trong 100 ngày, từ ngày 7 tháng Tư đến giữa tháng 7 năm 1994, đã có từ 500 ngàn đến một triệu người, mà phần lớn là người thuộc sắc tộc Tutsi, bị người Hutu sát hại. 20 năm sau, những nỗ lực tái thiết của quốc gia này được thực hiện song song với quyết tâm hòa giải và tha thứ. Một vài hình ảnh về hòa giải và tha thứ được trình chiếu trên Đài SBS trong chương trình tối thứ Ba 8 tháng 4 vừa qua, đã tạo ra trong tôi những cảm xúc thật mãnh liệt. Một phụ nữ Tutsi đã ôm chầm người thanh niên đã từng tấn công cô và tha thứ cho anh, sau khi người thanh niên này bị giam tù 8 năm. Câu chuyện của một người đàn ông khác còn cảm động hơn: anh đã thương và cưới con gái của một người đàn ông Hutu, người đã từng cộng tác vào việc sát hại gần 30 người thân trong gia đình của anh. Cả người phụ nữ lẫn người đàn ông thuộc sắc tộc Tutsi trên đây đều nói rằng họ không thể làm gì khác hơn là hòa giải với và tha thứ cho kẻ thù của mình. Nhưng dĩ nhiên, trên qui mô quốc gia, hòa giải và tha thứ chỉ có thể thực hiện được khi sự thật được nhìn nhận và phơi bày. Tưởng niệm cuộc diệt chủng đối với người dân Rwanda hiện nay chính là nhìn nhận rằng trong lịch sử đất nước đã từng có một cuộc diệt chủng dã man và những người đã từng chủ mưu hay nhúng tay vào tội ác đều phải nhận lãnh trách nhiệm và trả lại công lý cho các nạn nhân. Cũng như sự thật lịch sử về cuộc diệt chủng người Do Thái do Đức quốc xã chủ xướng, sự thật về bất cứ cuộc diệt chủng nào cũng đều phải được nhìn nhận như nền tảng để thực thi hòa giải.
Tại Nam Phi, tuy không có một cuộc diệt chủng trong suốt thời gian cai trị với chính sách phân biệt chủng tộc của thiểu số người da trắng, nhưng liền sau khi người tù của thế kỷ 20 là Nelson Mandela được trả tự do và trở thành người da đen đầu tiên được bầu làm tổng thống của quốc gia này, một Ủy ban có tên là “Sự Thật và Hòa Giải” đã được thiết lập. Mục đích của Ủy ban là kêu gọi tất cả những ai đã từng là nạn nhân của chế độ phân biệt chủng tộc ra làm chứng về tội ác của chế độ. Bên cạnh họ, những người đã từng tham gia vào tội ác trong chế độ này cũng được mời ra cung khai và nhìn nhận trách nhiệm của mình. Nam Phi hiện chưa phải là một nền dân chủ hoàn hảo, nhưng ít ra nền dân chủ này đã đặt nền móng trên sự thật. Không thể nói đến hòa giải và tha thứ khi sự thật không được tôn trọng và cũng không thể có dân chủ thật sự nếu nó không được xây dựng trên sự thật.
Nghe chuyện hòa giải dân tộc diễn ra đó đây trên thế giới, tôi cũng mong sao một ngày nào đó điều này cũng sẽ trở thành sự thật trên quê hương tôi. Tôi mừng thầm khi mới thoáng đọc được lời kêu gọi “lấy chân thành xóa hố sâu thù hận” của thứ trưởng ngoại giao Việt Nam, ông Nguyễn Thanh Sơn. Ông này đã tổ chức được hai chuyến viếng thăm quần đảo Trường Sa dành riêng cho “kiều bào” Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài. Trong lần thứ ba sắp tới, ông loan báo sẽ có lễ cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã tử trận để bảo vệ Hoàng Sa và các thuyền nhân tử nạn. Nghe cảm động muốn rơi nước mắt! Nhưng đọc kỹ bài phỏng vấn ông dành cho báo Tuổi Trẻ hôm 4 tháng Tư vừa qua (x. Đàn Chim Việt.Info 7/4/14), tôi hoàn toàn thất vọng, nếu không muốn nói “nổi giận” là khác.
Trong bài phỏng vấn, ông Nguyễn Thanh Sơn cho biết có mời “một số nhà báo, một số người xưa nay vẫn chống đối rất cực đoan”. Ngoài ra, còn có đại diện của 6 tôn giáo lớn tham dự. Thứ trưởng ngoại giao Việt Nam còn cho biết lễ cầu siêu không chỉ dành riêng cho các anh hùng liệt sĩ của Quân đội nhân dân Việt Nam đã hy sinh trong quá trình bảo vệ biển đảo cũng như “ghi nhận sự hi sinh của những người lính Việt Nam Cộng Hòa trong lực lượng hải quân đã bảo vệ Hoàng Sa năm 1974”. Không gì cảm động bằng khi nghe ông cũng nhắc đến việc “tưởng nhớ và thương tiếc những người dân Việt Nam vô tội đã ra đi và bị chết trong cuối thập kỷ 1970, đầu thập kỷ 1980”. Nhưng cái bộ mặt đểu giả của một tên Việt Cộng chính cống đã hiện nguyên hình khi ông giải thích: “Chúng tôi coi những thuyền nhân tử nạn là nạn nhân chiến tranh, ra đi vì bị tuyên truyền, kích động bởi thông tin một chiều, bởi khó khăn về  đời sống kinh tế và nhiều nguyên nhân khác”.
Một người tỵ nạn cộng sản như tôi không thể không cảm thấy bị xúc phạm khi bị xem như một thành phần bỏ nước ra đi vì “bị tuyên truyền, kích động bởi thông tin một chiều hoặc bởi khó khăn vì kinh tế” chớ không phải vì trốn chạy chế độ cộng sản độc tài khát máu. Tôi lại càng cảm thấy bị xúc phạm hơn nữa khi ông Nguyễn Thanh Sơn bảo rằng trong “rất nhiều năm qua, một số bà con cô bác chúng ta ở bên ngoài nghe thông tin một chiều, hiểu không đúng về tình hình đất nước, đặc biệt là chủ quyền biển đảo”.
Thì ra, ở đâu đó trên thế giới, hòa giải dân tộc là chuyện có thực. Còn tại Việt Nam ngày nay, dưới những khẩu hiệu hoa mỹ như “lấy chân thành xóa hố sâu hận thù”, hòa giải dân tộc chỉ là trò giả nhân giả nghĩa mà thôi. Tôi không tin có một người cộng sản nào dám nói và sống cho sự thật. Đã nói và sống cho sự thật thì còn gì là “cộng sản” nữa. Xét về lý thuyết, tôi chẳng hiểu hoặc chỉ hiểu lơ tơ mơ về ý thức hệ cộng sản. Nhưng nếu có ai định nghĩa “cộng sản” thiết yếu, nghĩa là tự bản chất, là “dối trá” thì tôi tin như kinh tin kính.
Theo tôi, để thực sự có hòa giải dân tộc thì trước tiên những người cộng sản phải nhìn nhận và tôn trọng sự thật đã. Trước hết là sự thật về con người của ông Hồ Chí Minh. Cho tới nay, đàng sau cái lớp phấn sáp bao phủ cái xác ướp thối tha đang được đặt trong lăng Ba Đình, là cả một trời “dối trá”: dối trá do chính ông Hồ tự dựng lên về mình để tự đưa mình lên chín tầng trời của tài năng và đức độ, dối trá do cả một chế độ độc tài đã “phịa” ra từ gần 70 năm nay.
Sau sự thật về con người của ông Hồ Chí Minh, những người cộng sản cũng phải nhìn nhận sự thật về không biết bao nhiêu tội ác mà ông Hồ đã gây ra cho các thành viên của các Đảng phái bên ngoài cộng sản, những người đã góp phần cho ông đưa cộng sản lên nắm chính quyền. Lịch sử vẫn còn đó. Người Việt Nam trong nước, vì chỉ biết thông tin một chiều, có thể không biết hoặc không màng đến sự thật ấy. Nhưng ở nước ngoài, nhứt là trong thời đại thông tin toàn cầu và sau khi chủ nghĩa cộng sản Liên Xô đã cáo chung và các chế độ cộng sản Đông Âu đã sụp đổ, người Việt tỵ nạn đang sống trong những nước dân chủ và tự do không hề bị thông tin một chiều lung lạc! Sự thật lịch sử đều đã được phơi bày rành rành ra đó.
Làm sao chối cãi được sự thật về cuộc Cải cách ruộng đất “long trời lở đất” khiến cho bao nhiêu người vô tội đã bị sát hại bằng những phương pháp tàn bạo chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại. Phủ nhận sao được sự thật về những cuộc đấu tố dã man đối với các văn nghệ sĩ Miền Bắc trong thời Nhân Văn Giai Phẩm. Nhắm mắt làm ngơ sao được trước biến cố Mậu Thân ở Huế, trong đó có cả hàng ngàn người bị hành quyết hoặc chôn sống một cách dã man. Còn có chút lương tri liệu có thể không nhìn nhận thảm cảnh của “triệu triệu (chớ không phải chỉ có một triệu như cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói) người buồn” trong khi chỉ có “một triệu người vui” vì cuộc chiến phi lý dã man do những người cộng sản chủ xướng không? Và có lẽ phải đui mù, điếc lác cả thể lý và tinh thần thì may ra mới không nhìn nhận rằng bao nhiêu quân cán chính của Việt Nam Cộng Hòa đã bị đày đọa và hành hạ cho đến chết trong những trại khổ sai được ngụy tạo dưới danh nghĩa “trại cải tạo”.
Và ngày nay, liệu có phải là chuyện thông tin một chiều không khi người dân trong nước cũng như ở hải ngoại cứ phải chứng kiến và nghe những vụ cướp ngày diễn ra như cơm bữa hoặc bao nhiêu người thiện chí cứ mở miệng góp ý, phê bình là bị tù, có khi cho đến chết như trường hợp mới nhứt là thày giáo Đinh Đăng Định. Nói gì đến những tệ nạn xã hội và thảm kịch của người phụ nữ Việt Nam phải bị bán đi làm vợ cho tứ phương thiên hạ. Nói gì đến chuyện người Việt Nam đi đến đâu cũng đều bị các nước láng giềng kêu gọi đề cao cảnh giác vì thói ăn cắp vặt hoặc chẳng có chút tư cách nào trong việc ăn uống trong các nhà hàng. Đó không phải là sự thật sao?
Xét cho cùng, chỉ có một sự thật mà người cộng sản phải nhìn nhận nếu muốn thực thi hòa giải: kể từ khi chủ nghĩa cộng sản bị áp đặt xuống Miền Bắc và kể từ khi Miền Nam Việt Nam bị “cướp” theo đúng nghĩa, cả dân tộc Việt Nam đã và đang  bị đọa đày trong lầm than, khốn khổ, nô lệ và chết chóc.
Là một tín hữu Ki-tô, trong những ngày này, khi thế giới Ki-tô giáo đang chuẩn bị mừng Lễ Phục Sinh, tôi thường suy nghĩ về hai chữ “hòa giải”. Các tín hữu được khuyến khích “hòa giải” với tha nhân xuyên qua việc xưng thú tội lỗi của mình. Sự việc diễn ra một cách kín đáo, chẳng ai biết được người tín hữu “xưng thú” điều gì khi họ đến gặp linh mục. Chỉ có điều chắc chắn là để được hòa giải với tha nhân, họ cần phải nhìn nhận những lỗi phạm và bất công cách này hay cách khác mình đã gây ra cho tha nhân. Niềm vui lớn nhứt mà có lẽ người tín hữu cảm nhận được khi hòa giải với tha nhân chính là cảm thấy mình được “giải thoát”: giải thoát khỏi xiềng xích của ích kỷ, hận thù và nhứt là dối trá.
Suy nghĩ về hai chữ “hòa giải”, tôi không thể không nhớ lại lời dạy của Chúa Giêsu: “Sự thật sẽ giải phóng anh em” (Ga 8,32).
Kể từ khi Miền Nam Việt Nam bị cộng sản “cướp”, ý nghĩa của hai chữ “giải phóng” đã hoàn toàn bị đảo lộn. Kẻ nô lệ tự cho mình là người giải phóng.  Ít ra có một người, vốn chỉ biết thông tin một chiều, là nhà báo Huy Đức cuối cùng đã “ngộ” ra rằng không phải bên “thắng cuộc” là người cộng sản mới là người giải phóng, mà chính người dân Miền Nam mới thực sự là người giải phóng, bởi lẽ chính họ mới mở mắt cho người miền Bắc biết được thế nào là dối trá, thế nào là sự thật và thế nào là tự do. Bao lâu vẫn còn bị trói buộc trong xiềng xích của hận thù và dối trá, nghĩa là không chịu nhìn nhận tội ác mình đã và đang gây ra cho dân tộc, thì xin chớ nói đến “giải phóng” và nhứt là hòa giải, bởi lẽ hòa giải chỉ có trong sự thật mà thôi.
Mà Sự Thật liệu có còn tồn tại ở Việt Nam sau gần bảy thập niên qua hay không?











Thứ Năm, 5 tháng 4, 2018

Tài sản quý giá nhứt của một con người


Chu Thập
06/04/18
Tôi thích đọc Phạm Tín An Ninh. Có những truyện tôi đọc đến ba bốn lần. Truyện nào của ông cũng là chuyện người thật việc thật.  Lý do tôi thích đọc nhà văn này thật đơn giản: tôi là dân Khánh Hòa. Tôi đọc truyện của nhà văn này để sống lại tuổi thơ ở nhà quê, nhìn lại những thôn làng trong tỉnh tôi đã từng đặt chân đến, đi lại những con đường quen thuộc ở Nha Trang trước năm 1975 hay ngay cả gặp lại một người mình đã từng quen biết.
Bên cạnh lý do “thấy sang bắt quàng làm quen” ấy, tôi “mê” Phạm Tín An Ninh là vì truyện nào của ông, nếu không đầy ắp tình người thì lúc nào cũng thôi thúc người đọc đi tìm những giá trị mà tiền bạc, danh vọng, chức quyền không thể mang lại.
Mới đây tôi đọc lại truyện “Nguồn Cội Xa Xăm” trong tuyển tập “Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân”, tuyển tập thứ hai của nhà văn Phạm Tín An Ninh, được tái bản tại Úc Châu hồi năm 2011. Cũng là chuyện người thật việc thật. Trong truyện, ông kể lại chuyện tình của một người bạn mà ông đã quen trong quân trường Thủ Đức. Đẹp trai, hào hoa, phong nhã và thông minh, sau khi ra trường ông bạn người Vĩnh Long này lên như diều gặp gió trong quan lộ cũng như trong tình trường. Sau một thời gian làm việc tại một quân trường ở Nha Trang, ông bạn này báo tin cho nhà văn Phạm Tín An Ninh rằng mình sắp cưới vợ và vợ ông là ái nữ của một nhà thầu giàu có ở Nha Trang. Phạm Tín An Ninh được  dành cho vinh dự làm phù rể trong lễ cưới. Nhưng đám cưới đã không thành. Ông bạn người Vĩnh Long cho biết sắp đến ngày cưới, bà già vợ tương lai của ông bất thần tuyên bố từ chối cuộc hôn nhân. Lý do bà đưa ra rất cụ thể: tiền! “Bà hỏi ông già tao: Ông hỏi con trai ông là lương tháng của cậu ta có đủ cho con gái tôi mua phấn son cho nó hay không mà đòi cưới với hỏi”.
Nhưng người bạn này đã không bỏ cuộc. Áp dụng chiến thuật “tiền pháo hậu xung” được nhà văn gợi ý, cuối cùng bạn ông cũng đã làm cho bà già vợ xiêu lòng và đành phải chấp nhận đám cưới.
Lanh lợi, xông xáo trong mọi tình huống cho nên khi Sài Gòn thất thủ, người bạn của Phạm Tín An Ninh cũng thành công trong việc đưa cả vợ con sang Mỹ. Tại đây chỉ sau một thời gian ngắn ông đã trở thành một  doanh gia giàu có.
Giàu có, nhưng ông không cảm thấy hài lòng với cuộc sống gia đình. Về con cái, ông tâm sự với nhà văn: “Tụi nó lấy vợ Mỹ, chồng Mỹ. Bây giờ tụi nó thành Mỹ hết. Cả năm nay tao chưa gặp tụi nó. Còn bọn nó đâu có rảnh. Có vacation là tụi nó đưa vợ con nó đi đó đi đây. Lâu lâu tụi nó gọi phône hỏi thăm tao vài câu. Còn bà vợ tao nói tiếng Anh giọng Hà Nội, nên mỗi lần nhớ cháu, mới nói một hai câu là tụi nó nói không hiểu, rồi cúp phône luôn. Nghĩ lại, “lỗi tại ta mọi đàng”. Sang đây vợ chồng tao cứ lo làm giàu. Tao nghĩ ở Việt Nam, vì gia đình tao nghèo nên bị người ta khinh rẻ. Mặc dù tao cũng có chức có tước như ai. Tao nghĩ có tiền là có tất cả. Tao nhất định phải rửa cái hận nghèo. Vì vậy mà đâu có còn thì giờ để gần gũi con cái, cứ bắt tụi nó phải học, cho nó ở hẳn trong “dorm” (nội trú), không cho nó kết bè kết bạn với đám nhỏ Việt Nam, để cho tụi nó sớm thành Mỹ, mà phải là Mỹ thượng lưu, trí thức. Bây giờ nó đã thành Mỹ thiệt rồi, thì càng lúc tao thấy càng cách xa tụi nó, có khi mất luôn. Tính ra con cháu cũng cả đàn đó chứ, vậy mà bây giờ nhìn trước nhìn sau cũng chẳng có ai. Không biết về già vợ chồng tao sẽ sống ra sao đây, vào viện dưỡng lão thì chán chết”.
Riêng về quan hệ với bà già vợ, người bạn của nhà văn Phạm Tín An Ninh cho biết: sang Mỹ, ông đã mua cho ông bà già vợ một ngôi nhà cả triệu đô và giúp cho đám em vợ học hành đến nơi đến chốn. Ông giải thích: “Tao làm cho bà ấy thấy tiền bạc có nghĩa gì đâu, mà ngày xưa bả khinh rẻ gia đình tao, làm cho ba tao buồn đến phải bệnh luôn. Cả đời này tao sẽ còn hận bà”. Hận đến độ chỉ có vợ ông lâu lâu về thăm bà, còn ông thì không bao giờ muốn gặp lại bà, bởi vì “mỗi lần gặp lại bà tao lại nghĩ đến nỗi hận của ba tao”.
Thông điệp mà nhà văn Phạm Tín An Ninh muốn nhắn gởi thật rõ ràng: “Tiền bạc có nghĩa gì đâu”. Tiền bạc, nhứt là tiền bạc phi nghĩa và bất chính, không bao giờ là thước để đo giá trị của một con người. Ngay cả sự thịnh vượng của một quốc gia cũng không tự nó đủ  nói lên sự vĩ đại của một đất nước. Còn có những giá trị khác mà tiền bạc và sự giàu có không thể mang lại.
Trong quan hệ giữa người với người, tôi thấy mình dễ bị đánh động và thu hút bởi một người giàu về những đức tính nhân bản và đạo đức hơn là giàu của cải vật chất hay ngay cả giàu về trí thông minh. Nói chung, những giá trị đạo đức là yếu tố quan trọng nhứt để chúng ta đánh giá về một người khác. Một cách cụ thể, tôi tôn trọng và thích người nào biết sống tử tế, biết cảm thông và có lòng yêu người hơn là một người giàu có, thông minh mà tráo trở. Sở dĩ những giá trị đạo đức và nhân bản có một tầm quan trọng đặc biệt để tôi thẩm định về giá trị của người khác là bởi vì một cách nào đó những giá trị ấy mang lại cho tôi sự tin tưởng. Khi tôi biết ai đó là một người lương thiện, có lòng thương người và biết cảm thông, thì tự nhiên tôi cảm thấy an toàn khi giao dịch và ngay cả “làm ăn” với người đó. Ở bất cứ quy mô nào và trong bất cứ lãnh vực nào cũng thế, sự tin tưởng chỉ có thể đặt trên những giá trị đạo đức.
Gần đây, ở Úc đã nổ ra vụ tai tiếng về gian lận trong vụ thi đấu Cricket tại Nam Phi. Đã hơn 2 tuần nay, hầu như ngày nào các cơ quan truyền thông ở Úc cũng đều đưa vấn đề ra mổ xẻ. Trong các bộ môn thể thao, tôi hoàn toàn mù tịt về Cricket. Có lẽ do tuổi già chăng, được giải thích cặn kẽ không biết bao nhiêu lần, tôi cũng chẳng hiểu và thưởng thức được nghệ thuật của bộ môn thể thao này. Thành ra, cứ mỗi lần có tin liên quan đến Cricket, tôi đều lướt qua hay phớt lờ. Nhưng mấy ngày vừa qua, tôi bị bắt buộc phải theo dõi tin tức về môn thể thao này là bởi vì sự gian lận của thủ quân của đội tuyển Úc bị bắt quả tang và sự gian lận này lại có liên quan đến một số cầu thủ khác cũng như giới lãnh đạo của đội tuyển. Sự gian lận trầm trọng đến độ chính Thủ tướng Malcolm Turnbull cũng phải lên tiếng.
Gian lận là một hành động thuộc phạm trù đạo đức. Dù cho kỹ thuật gian lận có tinh vi đến đâu, nó vẫn là một hành vi vô đạo đức và chẳng có ai tán thành hay ca ngợi một hành vi vô đạo đức cả. Sự gian lận đã làm cho sự nghiệp thể thao của không biết bao nhiêu tuyển thủ tan thành mây khói.
Trong sinh hoạt chính trị cũng thế thôi. Đặc biệt ở Mỹ, dường như người ta xem trọng các giá trị đạo đức trong sinh hoạt chính trị. Trăng hoa nham nhở một chút mà bị khám phá là tiêu tan sự nghiệp. Lỡ có thành tích hành hung vợ cũ thôi một ông phụ tá của Tổng thống Donald Trump phải từ chức. Chuyện lùm xùm của ông Trump với một cô người mẫu hay một nữ tài tử đóng phim khiêu dâm cũng bị bới móc và đàm tiếu. Nhiều người nhớ lại chuyện tai tiếng tình dục khiến Tổng thống Bill Clinton suýt bị bãi nhiệm. Nói chung, khác với các nước Tây Phương, như Pháp chẳng hạn là nơi mà xem ra người dân vẫn tỏ ra tỉnh bơ trước việc một ông tổng thống có vợ bé hay một ông tổng thống đêm đêm cải trang và leo lên xe mô tô để đi thăm bồ, người dân Mỹ nói chung xem trọng những giá trị đạo đức mà những người cầm cân nẩy mực luôn được đòi hỏi phải tôn trọng, thực thi và xiển dương. Người ta không chỉ đánh giá một nguyên thủ quốc gia dựa trên tài kinh bang tế thế, mà còn trên những giá trị đạo đức nữa. Xét cho cùng sức mạnh của một quốc gia không chỉ được thể hiện qua một quân đội hùng mạnh, những vũ khí tối tân, một nền kinh tế mạnh hay mức thất nghiệp thấp, mà còn qua những phúc lợi tinh thần nữa. Xét cho cùng, cũng như trong việc đánh giá một cá nhân, các giá trị đạo đức cũng là một yếu tố quan trọng hàng đầu để thẩm định về sức khỏe của một đất nước. Dân giàu nước mạnh đâu chỉ là chuyện súng đạn và cơm bánh, mà còn ở những giá trị đạo đức và nhân bản làm nên con người.
Trong các cộng tác viên của Tổng thống Trump bị ông sa thải hay tự ý từ chức, tôi thấy “thích” cựu Bộ trưởng Ngoại giao Rex Tillerson. Cựu chủ tịch và giám đốc điều hành của công ty ExxonMobil này nổi tiếng là một nhà thương thuyết tài ba. Nhưng với vai trò ngoại trưởng Mỹ trong 13 tháng vừa qua, theo nhận định của nhiều cơ quan truyền thông, ông đã chẳng lập được thành tích đáng kể nào. Đặc biệt trong cuộc khủng hoảng ở Bán đảo Triều Tiên, theo một lời tuyên bố của Tổng thống Trump, người chỉ muốn tiêu diệt một quốc gia Bắc Hàn côn đồ bằng “nộ khí và lửa”, thì Ngoại trưởng Tillerson chỉ làm “mất giờ” vô ích mà thôi. Không biết có phải vì làm “mất giờ” hay vì dám gọi Tổng thống Trump là một kẻ “ngu đần” (moron) không mà Ngoại trưởng Tillerson đã bị sa thải chỉ bằng một cái “tuýt” của Tổng thống Trump.
Có thể tôi chủ quan, nhưng sở dĩ tôi “thích” ông là vì dựa vào  những tiêu chuẩn thông thường mà tôi thường có để đánh giá về người khác. Tôi thấy có thể đặt tin tưởng nơi một mẫu người như ông. Trong suốt 13 tháng làm ngoại trưởng, ông Tillerson đã chẳng để lại một câu nói nào đáng ghi nhớ. Nhưng trong bài diễn văn từ giã đọc trước toàn thể nhân viên của Bộ Ngoại giao hôm thứ Năm 22 tháng Ba vừa qua, ông đã biểu lộ một nhân cách đáng kính phục. Tôi ghi nhận được một lời khuyên nổi bật trong bài diễn văn của ông: “Đừng bao giờ xem thường tài sản quý giá nhất mà các bạn đang có: đó là danh dự của quý vị!  Chẳng có ai trong các bạn được ban tặng cho điều đó. Các bạn được sinh ra cùng với nó. Nó thuộc về các bạn và mãi mãi thuộc về các bạn và chỉ một mình các bạn mà thôi. Chỉ có các bạn mới rời bỏ nó hay cho phép nó bị cướp mất vì thỏa hiệp. Nếu các bạn để cho điều đó xảy ra, thì rất khó mà lấy lại nó. Các bạn hãy gìn giữ nó như tài sản quý giá nhất mà các bạn đang có”
(http://abcnews.go.com/Politics/spirited-town-tillersons-goodbye).
Có thể ông Tillerson đã thất bại trong vai trò ngoại trưởng. Nhưng với tôi, ông đã thực sự thành công và thành công lớn nhứt của ông chính là trong một môi trường chính trị xôi thịt, bát nháo, ông  đã bảo tồn được tài sản quý giá nhứt của một con người mà tiền bạc và địa vị không thể cướp mất được. Tài sản đó chính là danh dự!



Thứ Tư, 4 tháng 4, 2018

“Thú Người”


Chu Thập
Phục sinh 2013

Mỗi năm, cứ dịp lễ Phục Sinh của Kitô giáo, tôi lại được nhắc nhở về cuộc chiến triền miên trong con người. Ngôn ngữ nhà đạo gọi đó là cuộc song đấu giữa Ân sủng và Tội lỗi, giữa sự Sống và sự Chết. Nhưng dù không là tín đồ của một tôn giáo nào, có lẽ ai cũng cảm nghiệm được trong bản thân một cuộc chiến cam go diễn ra từng phút từng giây giữa thiện và ác. Có lẽ gợi hình hơn nếu gọi đó là cuộc chiến giữa “con thú” và “con người” trong cùng một cá nhân. Hình ảnh này phù hợp với định nghĩa quen thuộc: con người là “một con vật có lý trí”. Tiếng “Con Người” trong ngôn ngữ Việt Nam có lẽ diễn tả đầy đủ hơn cả bản tính con người. Trong con người vừa có “con” (tức con thú), vừa có “người” (tức nhân tính). Khi con người biết vận dụng lý trí trong cách cư xử thì con thú được chế ngự. Trái lại, khi con thú được thả lỏng và lên ngôi thì con người bị đè bẹp, có khi nhỏ lại và biến mất.
Tôi đã có những suy nghĩ trên đây khi đọc được một số bài bình luận về quyển tiểu thuyết có tựa đề “Thú Người” của nữ văn sĩ Herta Muller (x.Nguyễn Mạnh Trinh, Thú người và Herta Muller, VL 22/3/2013; Trịnh Bình An, đọc “Thú Người” của Herta Muller, ĐCV Online.net 27/3/2013).
Herta Muller là một nhà văn Rumani gốc Đức. Là một người đã trải qua những năm tháng nghẹt thở dưới chế độc cộng sản độc tài và độc ác tại Rumani, cho nên tất cả các tác phẩm của bà là một bản án tố cáo tội ác của chế độ cộng sản tại Rumani nói riêng và trong tất cả các chế độ cộng sản nói chung. Bà đã nhận được rất nhiều giải thưởng về văn học. Nhưng danh giá hơn cả là Giải Nobel Văn Chương mà bà đã được trao tặng hồi năm 2009. Chính vì các tác phẩm của bà là một lời tố cáo về sự độc ác dã man của các chế độ cộng sản, mà năm 2009, khi Giải Nobel Văn Chương được công bố, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã cấm dịch, in và phổ biến các tác phẩm của bà.
Trong các tác phẩm của bà Herta Muller, được nhắc đến nhiều nhất là quyển tiểu thuyết có tựa đề bằng tiếng Đức “Herztier”, với bản dịch Anh Ngữ là “The Land of Green Plums” (Đất nước của những trái mận xanh) và được tác giả Dương Hoàng Dung dịch sang tiếng Việt một cách sát nghĩa và chính xác là “Thú Người”. Tựa đề tiếng Đức “Herztier” gồm có hai từ: “Hert” là trái tim (ám chỉ con người) và “Tier”, tức con thú. Do đó, “Herztier” có nghĩa là trái tim thú.
Tác giả Trịnh Bình An đã giải thích như sau: “Bản tính con người gồm có hai phần: nhân tính và thú tính, với thú tính là bản năng sinh tồn. Dưới chế độ cộng sản, khi nhân tính bị sỉ nhục và bị bóp nát thì con người chỉ còn lại thú tính”.
Với những người chưa từng sống dưới chế độ cộng sản thì quả thật các tác phẩm của nhà văn Muller là một khai sáng. Nhưng với những ai đã từng nếm trải sự độc ác của chế độ cộng sản, dù chỉ 5 năm ở thập niên 70,80 như tôi hoặc hiện nay, chỉ sau một lần về thăm quê hương, thì những chuyện kể trong các tác phẩm của bà Muller có lẽ cũng chỉ nói lên một phần nhỏ của những gì đang diễn ra trong các chế độ cộng sản.
Khi Miền Nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản, nhiều người đã có lý khi mỉa mai rằng “thú vật lên làm người, người xuống hàng súc vật”. Thật ra, không phải thú vật lên làm người cho bằng con người bị đày đọa đến độ đánh mất nhân tính và cư xử với nhau chẳng khác nào súc vật.
Trong lời tự bạch cho cuốn tiểu thuyết có tựa đề “Dạ Tiệc Quỷ”, nhà văn Võ Thị Hảo, hiện còn sống trong nước, đã viết như sau: “Tôi sinh ra cùng một món nợ của người khác.
Bắt đầu bằng Cải Cách Ruộng Đất ở Miền Bắc. Người bước vào cuộc ấy ở cửa này, khi bước ra cửa sau đã biến dạng.
Và còn nhiều cuộc bước ra bước vào nữa.
Chẳng còn ai có thể sống như cũ nữa.
Từ đó nhiều người lấy sự phản trắc và cướp bóc cùng dối trá để được sống, được hơn người, lấy sự giả mù, sự câm sự  điếc làm gậy dò đường.
Những rường mối gia đình, xã hội bỗng bở nát như bị mối xông. Con tố cha, vợ đổ oan cho chồng, bội phản ân nhân, đó là cách tồn tại khốn khổ của những người nô lệ không có nơi nào để đi, không có gì để bấu víu, thôi đành vô cùng tự mãn về cách hành xử của mình”.
Lúc nhỏ, đọc chuyện thần tiên, xem những cuốn phim về “người hóa thú”, tôi tin là chuyện có thật. Ngày nay, cách riêng trong các chế độ cộng sản, tôi thấy chuyện người hóa thú là thường. Con thú mà con người bị bắt buộc phải hóa thân thành không nhứt thiết phải có lông, có cánh, có sừng, có móng vuốt, có răng nanh...Nó vẫn ăn mặc như con người hay có khi còn sang trọng hơn con người, nhưng nó lại múa may quay cuồng trông chẳng khác nào con thú. Hãy thử nhìn cái đám đông người Bắc Hàn khóc lóc, tru khéo trước cái chết của lãnh tụ Kim Jong Il hay hung hăng reo hò sẵn sàng ăn thua đủ với Nam Hàn và đồng minh Hoa Kỳ. Nhìn cái đông khóc lóc hay reo hò một cách rập ràng như máy ấy, tôi thấy chẳng khác nào một bầy thú đã được thuần hóa và tập luyện một cách nhuần nhuyễn để làm theo lệnh của những người huấn luyện thú trong các gánh xiếc. Các chế độ cộng sản vốn là những bậc thầy trong việc áp dụng khám phá của Pavlov để tạo ra những phản xạ có điều kiện. Trong chế độ cộng sản, hầu như mọi hành xử của con người đều là những phản xạ có điều kiện, trong đó đói và sợ là hai cái roi tàn độc nhứt.
Trong chế độ cộng sản, có những người bị bắt buộc phải hóa thú, nhưng cũng không thiếu những người tự hóa thú để có được bộ da bóng mượt hơn người khác.
Trong một bài viết có tựa đề “Bóng Đè”, được đăng trên báo mạng Calitoday 29/3/2013 vừa qua, tác giả ký tên Huỳnh Văn Úc nói đến một sự hóa thú tiêu biểu trong chế độ cộng sản Việt Nam.  Nhân vật hóa thú này có bằng tiến sĩ, làm giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tại thành phố. Vợ có bằng Đại học chuyên về Anh ngữ, hiện làm việc cho một tờ báo bằng Anh ngữ. Con gái lớn cũng có bằng đại học. Cậu con trai út đang theo học Luật tại Đại học Bolton, bên Vương quốc Anh. Sau khi cậu lấy xong bằng cử nhân luật, hắn sẽ cung cấp để cậu ở lại dọn tiến sĩ. Mỗi tháng cậu được tiếp tế đến 5 ngàn đô la.
Gia đình của “đại trí thức” này sống trong một ngôi biệt thự ba tầng. Một buổi tối nọ, trên màn ảnh truyền hình, họ lắng nghe ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang “giải trình”: “So với mục tiêu ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tham nhũng thì chúng ta chưa làm tới. Trước đây chỉ có một con sâu làm rầu nồi canh, nay thì nhiều con sâu lắm. Nghe mà thấy xấu hổ, không nhẽ cứ để hoài như vậy. Mai kia, người ta nói một bầy sâu, tất cả là sâu hết thì chết cái đất nước này, đâu có được…”
Đêm đó, khi lên giường, mắt vừa khép lại, nhà “đại trí thức” rơi vào một giấc mơ hãi hùng. Hắn thấy mình biến thành một con sâu. “Con sâu có chiều dài một mét bảy, đúng bằng chiều cao của hắn. Đôi mắt lồi ti hí và gian giảo, đôi râu con cong ngọ ngoạy. Lông màu nâu pha những sọc đen che phủ khắp người. Chân tay hắn biến mất. Mười ngón tay và mười ngón chân còn lại bây giờ bám vào hai bên thành bụng tạo điều kiện cho hắn di chuyển. Hắn bò ra phòng khách, trèo lên ghế salon. Vợ hắn đang ngồi uống trà ở đấy thất thanh hét lên: “Ôi con sâu!” Hắn bực mình đáp lại, bây giờ hắn bực và cáu lắm nên chẳng anh với lại em, chẳng mình với ta gì sất. “Ừ thì tao là sâu đấy! Tao không là sâu thì lấy đâu ra cái cơ ngơi đồ sộ này. Lấy đâu ra mỗi lần đi Phú Quý mua vàng, đếm dăm ba dây bọc chất dẻo mỗi dây chục cây? Lấy đâu ra tiền gửi cho con trai ăn học?” Vợ hắn gọi con gái về. Gọi cả con trai đang du học Anh Quốc. Con trai hắn tức tốc bay về. Hai đứa con thấy hắn thành sâu thì vừa ghê tởm, vừa thương hại, nước mắt rơi lã chã. Hắn quát lên: “Thôi đừng khóc lóc nữa! Khốn nạn thay là sự thương hại của các người!”  Hắn quát to lắm. Cái thân hình sâu của hắn gồng lên rồi lại chùng xuống. Đã đau đớn khó chịu như thế mà lại còn có người đập vào lưng. Đập mạnh lắm. Mạnh đến mức hắn ú ớ câu gì đó không rõ rồi vùng mình chồm dậy. Ôi nhẹ nhõm quá! Thoát được kiếp con sâu! Còn vợ hắn thì lầu bầu: “Em đã bảo với mình bao nhiêu lần rồi là khi ngủ đừng nằm nghiêng bên trái. Nằm như thế tim bị sức ép của cơ thể gây ra bóng đè. Khiếp! thét to quá đi thôi!” (Huỳnh Văn Úc, Bóng Đè, Calitoday 29/3/2013)
Bị ác mộng mới thấy mình biến thành sâu bọ tức là còn có chút lương tâm để nhận ra sự hóa thú đáng kinh tởm mà chính mình đã chọn lựa. Giấc mơ hãi hùng ấy có thể là cuộc chiến vốn không thể tránh né được mà nhiều người vì quyền lực, địa vị, tiền của, danh vọng…đành thối lui, bỏ cuộc, chạy trốn để được yên thân. Nhưng một khi cuộc chiến bắt buộc phải xảy ra ngay trong chính bản thân, thì liệu con người có thể ở yên được không? Một khi đã lên ngôi, thì cái bóng của con thú sẽ đè bẹp cho đến khi con người phải ngộp thở mà thôi!
Cuộc chiến giữa thiện và ác, giữa sự thật và dối trá, giữa thiên thần và ác quỷ, giữa con thú và con người…là điều tất yếu đang diễn ra trong từng mỗi cá nhân, bất kể đang sống ở xã hội nào. Chỉ có thắng hoặc thua chứ không có hưu chiến.
“Thú người” của nhà văn Herta Muller cũng là một tác phẩm tự thuật, qua đó tác giả kể lại chính cuộc “nội chiến” và biểu lộ nhân cách của mình. Như tác giả Trịnh Bình An đã ghi nhận: “Đó là nhân cách của một người quyết liệt trong đấu tranh nhưng đầy lòng thương cảm trong sáng tác. Rất nhiều sự kiện trong truyện là tự sự của chính Herta Muller: cha bà từng là sĩ quan SS. Khi còn là sinh viên, bà đã tham gia “Aktionsgruppe Banat”, tức tổ chức các nhà văn đấu tranh cho tự do ngôn luận dưới chế độ độc tài Ceaucescu. Khi đến làm việc trong xí nghiệp, bà từ chối cộng tác với mật vụ nên thường bị thẩm vấn, đe dọa. Cả cuộc đời nhà văn là một tấm gương bất khuất trước bạo quyền”.
Thật ra, nếu so sánh cuộc chiến của bà Muller với vô số người Việt Nam đã và đang sống dưới chế độ cộng sản, có lẽ gương kiên cường bất khuất của họ còn sáng ngời hơn nhiều. Làm sao có thể so sánh với một thi sĩ Nguyễn Chí Thiện, với một nhà thơ Nguyễn Hữu Loan, với nhà trí thức Nguyễn Mạnh Tường hay với linh mục Nguyễn Văn Lý và biết bao nhiêu người đã và đang bị giam tù chỉ vì muốn được tự do tỏ bày tư tưởng của mình và nhất là được sống như những con người. Họ thực sự là những kẻ chiến thắng, bởi vì họ không chấp nhận để cho chế độ cộng sản biến họ thành con sâu, cái kiến hay bất cứ một loài thú nào.
Tôi không có cơ hội để tham gia vào cuộc chiến ấy. Thật ra, tôi cũng không biết mình có đủ can đảm, ý chí bất khuất và sự kiên cường để không bị hóa thú trong chế độ cộng sản không. Nhưng gương sáng của không biết bao nhiêu người, vì không chấp nhận trở thành sâu bọ trong chế độ cộng sản, đã dám hy sinh tất cả không thể không là nguồn cảm hứng cho tôi trong Mùa Phục Sinh này. Không cần phải sống trong chế độ cộng sản để bị cưỡng bách phải hóa thú, cuộc sống mỗi ngày cũng luôn đòi hỏi tôi phải chiến đấu không ngừng. Trong một xã hội thịnh vượng và tự do dân chủ, cuộc “nội chiến” của mỗi con người lại còn khốc liệt hơn. Bởi nó đòi hỏi một sự tự nguyện dấn thân, tự nguyện chia sẻ và tranh đấu vì lợi ích của người khác chứ không phải vì bị thiếu thốn hay áp bức. Trong cuộc chiến ấy, tôi biết rằng cứ mỗi lần tôi để cho cái tôi lớn lên bằng cách thả lỏng những tính toán ích kỷ, những khuynh hướng thấp hèn thắng thế là mỗi lần tôi cảm thấy phần “người” trong tôi nhỏ lại và phần “con thú” lại lớn lên.
Khi tính sổ cuối ngày tôi thường thấy ra một điều: hễ hôm nào tôi bận bịu gặp gỡ, chia sẻ những thân ái vụn vặt trong ngày với người khác mà quên đi cái “thằng tôi” thì phần “người” lại lớn lên. Phần “người” trong tôi chỉ có thể “sống mạnh sống hùng” nếu tôi sống cùng và sống với những người khác và cho người khác.






Thứ Hai, 2 tháng 4, 2018

Nga: Thiên Đàng của tội phạm có tổ chức!




30/03/18
Khoảng năm 1974, một thi thể trần truồng trôi dạt vào bờ biển Strelna, ở mạn tây nam Thành phố Leningrad, nay được trả lại tên cũ là St Peterburg. Trước đó, xác chết này đã nổi lềnh bềnh nhiều tuần lễ trong vịnh Phần Lan. Trên bụng của thi thể, người ta nhận ra một loạt những vết dao đâm. Đây là vết tích đầu tiên cho thấy nguyên nhân của cái chết. Tuy nhiên, vì không có dấu tay cũng như quần áo, gương mặt lại hoàn toàn biến dị cho nên không có một phương pháp nhận diện thông thường nào có thể tìm ra tông tích của người chết. Ngoài ra cũng chẳng có thông báo nào về trường hợp mất tích của đương sự. Dù vậy, chỉ hai ngày sau, người ta đã biết được người này là ai. Lý do thật đơn giản: thân thể của nạn nhân đầy những hình xâm. Những hình xâm trên thân thể cho thấy đương sự là một “vor”, tiếng Nga có nghĩa là “kẻ trộm”. Nhưng “vor” cũng là một từ chung được dùng để chỉ một thành viên của xã hội đen ở Liên Xô. Hầu hết những hình xâm trên thi thể nạn nhân đều vẫn còn nhận diện được và một chuyên gia về hình xâm đã được mời đến để giải thích.
Chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ, các hình xâm trên thi thể nạn nhân đã được giải mã. Trước hết, hình một con bò xâm trên ngực cho biết người chết đã từng bị giam tại những trại lao động khổ sai ở miền Bắc Liên Xô. Hình con dao trên cánh tay phải của đương sự ư? Đó là dấu hiệu của một người đã tấn công người khác lúc ở trong tù. Ba hình thập tự xâm trên ba đốt ngón tay là bằng chứng của 3 lần bị giam tù. Nhưng nổi bật và ý nghĩa nhất là hình chiếc neo được xâm trên phần trên của cánh tay; chiếc neo lại được cuộn tròn bằng một vòng giây thép gai: đây là dấu hiệu cho biết đương sự đã từng là một thủy thủ và người thủy thủ này đã từng bị kết án tù vì một tội đã phạm trong lúc phục vụ trong quân đội.
Với tất cả những chi tiết trên đây, người chết được các nhà điều tra nhận diện được có tên là Matvei Lodochnik hay “Matvei thủy thủ”. Đây là một viên chuẩn úy hải quân cách đây 20 năm đã đánh gần chết một tân binh hải quân. Sau khi ra tù, Matvei đã trở thành một tay anh chị trong xã hội đen tại Thành phố Vologda. Cảnh sát đã không bao giờ hiểu được tại sao Matvei đến Leningrad hay tại sao ông ta chết. Nhưng sở dĩ Matvei đã được nhanh chóng nhận diện chính là nhờ thứ ngôn ngữ được ghi lại qua các hình xâm trên thi thể của ông.
Xâm mình là một thứ ngôn ngữ riêng của giới tội phạm. Tội phạm có tổ chức tại Nga không chỉ mới phát sinh dưới thời Liên Xô mà đã có từ thời Nga hoàng và được củng cố và “tái tổ chức” trong những “Quần đảo Gulag” dưới thời Stalin giữa hai thập niên 1930 và 1950. Thoạt tiên, các phạm nhân chối bỏ trật tự xã hội hiện hữu cũng như  chính quyền và luật pháp. Họ xâm mình là để tỏ rõ thái độ muốn đứng riêng ra bên lề như thế. Họ có lãnh tụ, ngôn ngữ và lề thói riêng của họ. Tổ chức có thể yếu đi, nhưng họ không hề bị tiêu diệt.
Trong nước Nga thời hậu Liên Xô, các tổ chức tội phạm đã bắt tay với chính quyền và giai cấp giàu mới trong xã hội. Tập tục xâm mình có thể đã biến mất hoặc kín đáo hơn: giới tội phạm có tổ chức đã hòa nhập vào giới doanh nghiệp Nga.
Thập niên 1990, tại Nga bất cứ điều gì cũng có thể “cướp” được. Giới tội phạm có tổ chức hoạt động công khai như chỗ không người. Tài sản quốc gia được tư hữu hóa, giới doanh nghiệp bị buộc phải đóng tiền để được bảo kê và khi bức màn sắt đã sụp đổ, các băng đảng tội phạm của Nga tung hoành ra khắp thế giới. Giới tội phạm có tổ chức phản ảnh những thay đổi mà Nga đã trải qua trong Thế kỷ 20 vừa qua. Kể từ khi Tổng thống Vladimir thu tóm quyền lực trong tay, giới tội phạm Nga lại thích nghi với xã hội mới. Họ ít xuất đầu lộ diện hơn để dễ bắt tay với chính quyền.
Tội phạm có tổ chức hiện đang là một thách đố khủng khiếp, không những cho Nga mà còn cho cả thế giới. Trên khắp thế giới, họ buôn bán ma túy và ngay cả buôn người. Họ vũ trang cho các phiến quân và các băng đảng. Họ đứng đàng sau bất cứ một “dịch vụ” tội ác nào, từ việc rửa tiền cho đến tin tặc và ngay cả lèo lái các cuộc bầu cử tại các nước tự do và dân chủ.
Phải chăng giới tội phạm có tổ chức đang cai trị nước Nga? Dĩ nhiên là không. Trong một nước Nga tham nhũng và thối nát dưới thời Tổng thống Putin, vẫn còn có những viên chức cảnh sát và thẩm quán tìm cách chống lại họ. Tuy nhiên, nhiều doanh nhân và chính trị gia Nga hiện nay đang sử dụng chính những phương pháp của giới tội phạm có tổ chức. Chính quyền Nga đang sử dụng các tin tặc và các băng đảng có vũ trang như các “chiến sĩ” trong các cuộc chiến tranh của họ. Chính phủ Anh có lẽ đã không lầm lẫn khi nêu đích danh các “chiến sĩ” này trong vụ mưu sát cựu điệp viên Sergei Skripal và con gái ông tại Salisbury hồi tháng trước. Trong nước Nga ngày nay, người ta có thể nghe các bài hát và thứ tiếng lóng của chính giới tội phạm có tổ chức trên các đường phố. Ngay cả ông Putin cũng thỉnh thoảng sử dụng các bài hát và thứ ngôn ngữ ấy. Một cách nào đó, ngôn ngữ và lề thói của giới tội phạm có tổ chức đã hình thành nước Nga của thời hiện đại.
Nhiều ký giả và nhà bình luận đã không ngần ngại gọi Nga dưới thời Putin là một “quốc gia Mafia”. Theo một biện lý người Tây Ban Nha là ông José Grinda Gonzalez, người đang truy đuổi các băng đảng tội phạm Nga tại Tây Ban Nha,  nước Nga hiện nay là một “quốc gia Mafia” là bởi vì chính Điện Cẩm Linh hay ít ra bộ máy an ninh của Chính phủ Nga, cho dẫu không bị các tổ chức tội phạm điều khiển thì cũng là người đứng đàng sau để giựt giây họ. Điện Cẩm Linh không bị các tổ chức tội phạm nắm đầu, nhưng cũng chẳng kiểm soát được họ. Đúng hơn, các tổ chức tội phạm tại Nga ăn nên làm ra dưới thời Putin, bởi vì chính phủ của ông đang bắt tay với họ.
Thời nào cũng vậy, tham nhũng là mảnh đất phì nhiêu của tội phạm có tổ chức. Không chỉ có các tên cướp chuyên nghiệp mới khai thác các cơ hội do thứ tư bản xôi thịt của Nga cung cấp, mà chính các cơ quan chính phủ cũng khai thác các cơ hội này một cách có hệ thống. Năm 2016, cảnh sát đã khám xét căn hộ của trung tá Dmitry Zakharchenko, quyền giám đốc của một phân bộ cảnh sát chống tham nhũng. Họ đã tìm thấy 123 triệu Mỹ kim tiền mặt. Dĩ nhiên, đây không phải là khối tiền riêng của viên trung tá này. Ông chỉ là thủ quỹ của một băng đảng có tổ chức nằm ngay trong giới cao cấp của cảnh sát.
Thỉnh thoảng Tổng thống Putin cũng công khai nhìn nhận rằng nạn tham nhũng đang tràn lan trong cả nước. Tuy nhiên, sau 18 năm cai trị bằng bàn tay sắt của ông, chuyện ông công khai thừa nhận nạn tham nhũng hay bày tỏ quyết tâm bài trừ tham nhũng cũng chỉ là một màn trình diễn lố bịch và một số viên chức tham nhũng bị trừng phạt cũng chỉ là những con dê tế thần mà thôi.
Mối quan hệ giữa giới tài phiệt đang cầm quyền và các băng đảng thường được xây dựng trên nguyên tắc có qua có lại, nghĩa là trong đó hai bên đều hưởng lợi. Nhưng sự liên kết ấy cũng rất mong manh. Đây là trường hợp đã xảy ra cho ông Said Amirov. Kể từ năm 1998, Amirov là người cai trị Makhachkala, thủ thủ của Cộng hòa Dagestan, miền Bắc Caucasus. Makhachkala là thành phố vô luật pháp nhất của Cộng hòa Dagestan và Dagestan cũng là cộng hòa vô luật pháp nhất trong Liên bang Nga. Amirov cứ tưởng mình sẽ đứng vững như trụ đồng. Ông vẫn đứng vững sau gần một chục cuộc mưu sát, kể cả vụ mưu sát xảy ra hồi năm 1993 trong đó một viên đạn đã xuyên thủng qua cột sống của ông. Năm 1998, một cuộc tấn công bằng hỏa tiễn đã làm hư hại nặng nề tòa hành chính, nhưng ông vẫn không hề hấn gì. Mặc dù bị tố cáo tham nhũng  và thông đồng với các tổ chức tội phạm, Amirov vẫn đứng vững.
Trong 15 năm liên tiếp, Điện Cẩm Linh vẫn để cho Amirov xây dựng “đế chế” của ông, bởi vì ông duy trì được sự ổn định tại Makhachkala và nhất là không để lộ bất cứ một thách thức nào đối với chính quyền trung ương. Năm 2013, khi chính quyền Cộng hòa Dagestan quyết định ra tay với Amirov, họ đã phải cân nhắc trước sự ủng hộ mà dân chúng ở địa phương dành cho ông. Cuối cùng, Amirov đã bị bắt giữ. An ninh Liên bang FSB đã phải dùng đến xe tăng, trực thăng vũ trang đến Cộng hòa Dagestan. Amirov đã được trực thăng vận cùng với 10 nghi phạm khác về Mạc Tư Khoa.
Sở dĩ Amirov đã bị Putin loại trừ vì ông đã dám đụng đến Ủy ban Điều tra Trung ương khi tham gia vào việc mưu sát một viên chức của ủy ban này. Đây là Ủy ban mà ông Putin dùng để truy tố và đàn áp các đối thủ của ông. Amirov đã bị kết án 10 năm tù và bị tước đoạt tất cả mọi thứ bằng khen thưởng.
Nga dưới thời Putin chẳng khác nào một mạng lưới băng đảng chằng chịt. Ủy ban Điều tra là một trong những băng đảng quyền lực nhất trong chính phủ. Việc bắt giữ Amirov là một khuyến cáo cho các băng đảng tội phạm: họ phải nhớ rằng chính quyền, dù ở cấp nào, cũng là một băng đảng!
Từ 18 năm qua, nước Nga được đặt dưới quyền cai trị của một chính phủ hoạt động chẳng khác nào một băng đảng và thông đồng với các tổ chức tội phạm. Kết quả cuộc bầu cử hôm Chủ nhật 18 tháng Ba vừa qua cho thấy trên 70 phần trăm dân Nga vẫn tiếp tục tín nhiệm ở thứ chính phủ băng đảng này. Không cần phải được Quốc Hội bù nhìn thông qua luật cho phép ông được cầm quyền mãn đời như Chủ tịch Tập Cận Bình của Trung Cộng, ông Putin vẫn sẽ mãi yên vị trên ngai vàng như một nga hoàng của thời đại.
Trước ngày bầu cử, trên màn ảnh truyền hình “nhà nước”, một màn quảng cáo được chiếu đi chiếu lại: buổi tối trước ngày bầu cử, khi lên giường ngủ một người đàn ông nói với vợ rằng ông sẽ không đi bỏ phiếu. Thức dậy, ông ngỡ ngàng khi nhìn thấy một nước Nga hoàn toàn thay đổi. Trước cửa nhà ông xuất hiện một người lính da đen cầm súng đang tìm cách bắt ông phải đi thi hành quân dịch. Đứa con trai nhỏ của ông thì lại mang khăn quàng đỏ của thời Liên Xô. Nhìn xuống nhà bếp, ông thấy có một người đàn ông đồng tính mà chính quyền gởi đến bắt ông phải cho ở trong nhà.
Dĩ nhiên, đây chỉ là một cơn ác mộng. Tỉnh giấc, người đàn ông liền bật dậy khỏi giường và chạy thẳng đến phòng phiếu để dồn phiếu cho ông Putin. Ông đã hiểu được rằng chỉ có Tổng thống Putin mới mang lại sự ổn định cho nước Nga.
Không phải 99 phẩy 9 phần trăm dân Nga đều bỏ phiếu cho ông Putin. Vẫn có những cuộc biểu tình phản đối. Vẫn có những tiếng thét từ đám đông: “Putin là một tên cướp”. Nhưng tất cả mọi sự phản đối và mọi tiếng nói đối lập đều bị dập tắt. Putin đã độc diễn và dĩ nhiên, ông đã tái cử! Nước Nga lại tiếp tục con đường “ổn định” trong sự toa rập giữa một chính phủ băng đảng và các tổ chức tội phạm.


(nguồn:-https://www.theguardian.com/news/2018/mar/23/how-organised-crime-took-over-russia-vory-super-mafia-http://www.spiegel.de/international/europe/the-vladimir-putin-system-russia-and-its-eternal-president)