Thứ Sáu, 16 tháng 2, 2018

Mùa Xuân quanh tôi





Chu Thập
09/02/18

Lâu nay tôi vẫn ao ước được đến Hạ Uy Di một lần cho biết. Lúc nhỏ, tôi thường nghe nhiều người bảo rằng chỉ có ở tiểu bang thứ 50 của Hoa Kỳ này mới có “mùa xuân bất tận”. Mà thật, có đặt chân đến Hạ Uy Di mới thấy khí hậu ở đây thật là lý tưởng: mùa hè không quá oi bức như tại những nước thuộc vùng nhiệt đới khác, bão tố lụt lội cũng ít khi xảy ra, còn mùa đông thì lại không lạnh như các nước ôn đới.
Tôi và nhà tôi đến thăm vợ chồng một người bạn “đồng hội đồng thuyền” trong chuyến vượt biên hồi năm 1981. Họ vừa mới từ đất liền ra Hạ Uy Di để an hưởng tuổi già. Cảnh nhà thật là lý tưởng. Sau nhà là núi, trước mặt là biển. Nhìn về hướng nào cũng thấy mình đang ở giữa thiên nhiên. Chỉ ở chơi có vài ngày, nhưng hầu như ngày nào tôi cũng được người con trai của vợ chồng người bạn đưa đi câu cá ngay trên mỏm đá phía trước nhà. Với riêng tôi vậy cũng đủ là đi du lịch rồi. Nhưng để thăm dân cho biết sự tình, tôi và nhà tôi được vợ chồng người bạn thuyết phục làm một vòng bờ biển phía trước nhà cho biết.
Tôi cứ tưởng ở cái xứ có “mùa xuân bất tận” này chỉ có cảnh đẹp và những hình ảnh đẹp. Nhưng ngồi trên xe chạy dọc theo bờ biển phía trước nhà và liên tục hơn 30 cây số, tôi chứng kiến một cảnh tượng khiến tôi phải ngỡ ngàng: Hạ Uy Di không chỉ có du khách từ khắp nơi trên thế giới, mà còn là nơi thường trú của những người vô gia cư. Trên thế giới này, ở đâu mà chẳng có người vô gia cư. Nhưng dọc theo con đường xa lộ song song bờ biển phía trước nhà vợ chồng người bạn của tôi ở Hạ Uy Di, người vô gia cư tập trung lại thành một ngôi làng. Họ dựng lên những túp lều lụp xụp, phần lớn bằng giấy cạt tông và những tấm bạt rách rưới bằng nhựa. Bên cạnh lều có nồi niêu xoong chảo, rác rưởi và những xác xe bị đốt, họ còn có một con chó và ngay cả một khu vườn nhỏ. Ngôi làng vô gia cư dọc bờ biển này có một sắc thái rất đặc biệt: trước hay bên cạnh bất cứ túp lều nào cũng có một chiếc xe hơi. Có vẻ như họ đã an cư lạc nghiệp ở đây từ thuở nào!
Theo giải thích của vợ chồng người bạn cũng như qua những tài liệu tôi đọc được trên các phương tiện truyền thông của địa phương, con số người vô gia cư tại Hạ Uy Di ngày càng nhiều. Theo Bộ Gia cư và Phát triển Đô thị thì với 1.4 triệu dân, Hawaii có đến 7620 người vô gia cư mà đa số “định cư” ở thành phố chính Honolulu (https://www.nytimes.com/2016/06/04/us/hawaii-homeless-criminal-law-sitting-ban.html). Chỉ trong năm qua đã có 6 em bé chào đời trong cảnh vô gia cư.
Thoạt tiên là những gia đình không trả nổi tiền thuê nhà quá cao tại tiểu bang du lịch này. Kế đó là những người dân địa phương  bị thất nghiệp, mãn hạn tù và những người mắc bệnh tâm thần. Tôi không có dịp đến gần bất cứ “ngôi làng” vô gia cư nào. Nhưng vợ chồng người bạn của tôi khẳng định rằng phần lớn dân cư của những ngôi làng vô gia cư lại là dân “da trắng” từ đất liền ra. Điều không thể tưởng tượng được là nhiều người vô gia cư cho biết rằng để giải quyết vấn đề gọi là “nhà chính phủ” (housing) trong đất liền, một số chính quyền địa phương, nhứt là tại những tiểu bang có mùa đông khắc nghiệt, đã mua vé máy bay một chiều cho người vô gia cư để họ được đi “nghỉ mát” dài hạn tại Hawaii. Dĩ nhiên, không có nơi cư trú, không tìm được việc làm, không có đủ phương tiện để sinh sống...hầu hết đều chạy ra bờ biển có “mùa xuân bất tận” của Hạ Uy Di để “lập nghiệp”.
Cũng theo giải thích của người bạn tôi, trước sự bất mãn của người dân Hawaii vì bị các chính quyền địa phương trong đất liền xem như một bãi phế thải để “đổ” người vô gia cư vào, cho nên chính quyền Tiểu bang Hawaii lại phải bỏ tiền ra để mua vé một chiều cho người vô gia cư được trở lại đất liền khi mùa lạnh trong đất liền chấm dứt. Và cái vòng lẩn quẩn đẩy người ra Hawaii rồi tống người về đất liền cứ xảy ra theo chu kỳ của khí hậu.
Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ, đất nước vĩ đại của Tổng thống Donald Trump quả là một quốc gia lạ lùng. Là miền đất hứa đối với rất nhiều người trên thế giới, cho nên quốc gia này cũng có rất nhiều điều lạ thường, nếu so với các nước phát triển khác. Một hôm, vợ bạn tôi ngã bệnh cần được đưa đi cấp cứu. Có bảo hiểm tư cho nên bạn tôi gọi xe cấp cứu đến một cách dễ dàng. Nhân viên xe cấp cứu tỏ ra rất hữu hiệu, họ làm mọi xét nghiệm, vô nước biển... ngay tại chỗ và gởi mọi chi tiết của bệnh nhân về bệnh viện ngay lập tức. Tôi mừng vì như vậy vợ bạn tôi sẽ được chăm sóc ngay khi đến bệnh viện. Nhưng rồi vợ của bạn tôi cũng phải ngồi chờ ở phòng đợi của bệnh viện đến hơn ba tiếng đồng hồ mới được bác sĩ khám bệnh qua loa, cho toa rồi cho về! Không một viên thuốc uống tạm trong đêm hôm khuya khoắt. Bạn tôi nói, phải tự mua thuốc lấy, trong nhà thương không cho thuốc uống chỉ cho toa đi mua. Tôi ngẫm nghĩ đến sự “hữu hiệu” của hệ thống bảo hiểm y tế tư mà bạn tôi đang là thành viên mà buồn cho bạn.
Hồi cuối tuần qua, dân Anh xuống đường biểu tình để ủng hộ hệ thống bảo hiểm y tế công cộng (Universal Health Care) và kêu gọi chính phủ tài trợ nhiều hơn. Chụp lấy cơ hội, Tổng thống Trump liền lên giàn Twitter của ông để phóng đi một “tuýt” qua đó ông  khẳng định rằng hệ thống bảo hiểm y tế công cộng của Anh Quốc đang phá sản và không hữu hiệu (broke and not working). Chê hệ thống bảo hiểm y tế công cộng của Anh không hữu hiệu, ông lên án Đảng Dân Chủ vì muốn tăng thuế để lấy tiền cho mọi người dân Mỹ cũng được hưởng bảo hiểm y tế công cộng như người Anh. Trong một tuyên ngôn để gọi là “đáp lễ” trước những lời chỉ trích của ông Trump, phát ngôn viên của Thủ tướng Theresa May viết rằng “thủ tướng Anh rất hãnh diện về hệ thống bảo hiểm công cộng , bởi vì nó miễn phí cho mọi người.” Phát ngôn viên của chính phủ Anh cho biết mỗi năm chính phủ trích từ ngân sách ra 2.8 bảng Anh cho bảo hiểm y tế công cộng. Và theo một cuộc thăm dò của Quỹ Commonwealth Fund, hệ thống bảo hiểm y tế công cộng của Anh được đánh giá liên tiếp 2 lần là hệ thống bảo hiểm tốt nhứt thế giới.
Tôi không biết bảo hiểm y tế công cộng của Úc Đại Lợi đứng hàng thứ mấy trên thế giới. Nhưng khi tôi giải thích rằng cũng như tại Gia Nã Đại, Anh Quốc hay nhiều nước khác ở Âu Châu, người dân Úc chúng tôi không cần phải mua bảo hiểm tư mà vẫn hưởng được mọi phúc lợi căn bản về y tế, vợ chồng  bạn  tôi tỏ ra rất ngạc nhiên về điều đó!
Tôi thích khí hậu của Hạ Uy Di. Tôi mê cảnh trí của quần đảo này. Tôi cũng bị thu hút bởi tính hiếu khách của người dân Hawaii. Rất nhiều người Việt từ đất liền ra đều chọn Hawaii làm “quê hương cuối đời” của họ. Một số thành công trong kinh doanh buôn bán. Một số cũng dư ăn đủ mặc với nghề lái taxi. Một số mua đất lập vườn. Bất cứ người Việt nào tôi gặp tại Hawaii cũng đều thỏa mãn về cuộc sống tại Hawaii. Có người còn bảo rằng bắt trở lại đất liền chẳng khác nào “xuống hỏa ngục”. Hạ Duy Di quả là thiên đàng đối với nhiều người Việt. Nhưng dĩ nhiên, thiên đàng hay hỏa ngục trên trần gian này cũng chỉ là chuyện tương đối.
Được phóng viên của một tờ báo địa phương có tên là Hawaii Affairs Magazine phỏng vấn, một người vô gia cư từ đất liền mới đến Hawaii được 6 tháng cho biết lý do tại sao ông không cần phải đi tìm việc làm: “Ồ tại sao tôi phải đi làm. Bạn có thể có một cuộc sống thoải mái và không cần phải đi làm bởi vì bạn có thể sống ngoài trời quanh năm ngày tháng. Và chúng tôi có thể có thức ăn miễn phí ngay ở góc đường”.
Hawaii quả là thiên đàng đối với người vô gia cư. Nhưng dĩ nhiên không phải tất cả mọi người vô gia cư đều có cùng một suy nghĩ. Cũng trên báo Hawaii Affairs Magazine, một người vô gia cư từ đất liền ra cho biết: ông được vợ mua cho một vé máy bay một chiều ra Hawaii. Không tiền, không việc làm và cũng chẳng có nơi nào để sống, người vô gia cư này khuyên: “Nếu bạn nghĩ rằng đây (tức Hawaii) là thiên đàng, bạn lầm. Thiên đàng là có được một ngôi nhà và một gia đình. Đừng đi đến bất cứ nơi nào nếu bạn là một người vô gia cư và không có một kế hoạch nào” (theo http://www.hawaiiaffairsmagazine.com/fearlesspen/is-hawaii-the-dumping-ground-for-mainland-homeless/).
Dù Hawaii có là thiên đàng hay không, tôi vẫn xem đây là một địa điểm du lịch đáng tìm đến. Dĩ nhiên chỉ đến như một lữ khách dừng chân tạm thời. Giọng triết lý của người vô gia cư trên đây gợi lại cho tôi câu ca dao quen thuộc của người Việt Nam: ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn. Mà thật vậy, chỉ đi chơi mới có mấy ngày tôi đã thấy nhớ nhà. Đúng hơn nhớ vườn. Nhớ “vườn địa đàng” của tôi.
Nhớ đến độ về đến nhà đã hơn 11 giờ khuya, tôi vẫn còn bật đèn lên để nhìn cho bằng được ngôi vườn của mình. Bước vào tháng Hai, khi người Việt chuẩn bị ăn Tết, thanh long trong vườn của tôi đã bắt đầu chín rộ. Những nụ hoa thanh long ra đợt cuối cũng nở rộ. Sau một tuần đi vắng, về nhà nhìn lại ngôi vườn, tôi cảm thấy lâng lâng trong người. Tôi “tự sướng”: đây chẳng là vườn địa đàng sao!
Ôn lại chuyến đi Hawaii, nơi có “mùa xuân bất tận”, tôi liên tưởng đến một câu nói của văn thi hào Pháp Victor Hugo (1802-1885). Khi về già, ông nói: “Mùa đông ở trong đầu tôi, còn mùa xuân bất tận thì ở trong trái tim tôi”. Thì ra, tuổi đời chỉ là chuyện tương đối. Nếu tôi có tinh thần trẻ trung, lạc quan, yêu đời, can đảm, thích mạo hiểm và đầy nhuệ khí, tôi sẽ mãi mãi là người trẻ trung. Trong trái tim tôi lúc nào cũng có mùa xuân. Xung quanh tôi lúc nào cũng có thiên đàng. Đi loanh quanh chi cho đời thêm mỏi mệt. Ở đâu mà chẳng có được thiên đàng nếu như lúc nào mình cũng tìm thấy được ý nghĩa của cuộc sống và nhứt là biết mang lại niềm vui sống cho người xung quanh.
Một ông bạn đã gởi cho tôi một bài viết về điều được gọi là “tần số yêu”. Theo bài viết, đây là khám phá của một chuyên gia người Anh nổi tiếng là Sir David R. Hawkins. Sau nhiều năm nghiên cứu, chuyên gia này khám phá ra rằng những người biết quan tâm đến người khác, giàu lòng từ bi, nhân ái, hướng thiện, bao dung, độ lượng...luôn làm tỏa ra một  “tần số yêu” cao. Tần số yêu này có sức tỏa lan khiến người xung quanh cũng có thể cảm nhận được. Trái lại, nơi những người hay oán trách, chỉ trích, hận thù người khác...tần số yêu sẽ thấp. Tôi không biết kết quả nghiên cứu này có đáng tin cậy không. Tôi chỉ biết rằng sự hiện diện của những người tử tế nói chung luôn mang lại cho tôi niềm vui, sự phấn khởi, tinh thần lạc quan và nhứt là niềm cảm hứng để cũng biết sống tử tế với người khác.
Mỗi dịp Tết đến, cũng như rất nhiều người Việt khác, tôi cũng gởi lời cầu chúc thịnh vượng và an vui đến bạn bè và người thân. Thật ra, đó cũng chính là những lời tự kỷ ám thị tôi muốn nói với chính bản thân. Chúc cho người khác được an vui cũng chính là quyết tâm sống an vui trước đã. Mình có vui, mình có cảm nhận được “thiên đàng” trong trái tim của mình, thì niềm vui ấy mới có thể thực sự được chia sẻ cho người khác.



Thứ Hai, 12 tháng 2, 2018

Đông Nam Á: chiếc mũ “Tin Giả” và Truyền thông


09/02/18
Kể từ khi Tổng thống Mỹ Donald Trump sáng chế ra từ “Tin Giả” (Fake News), một số nhà lãnh đạo tại Đông Nam Á cũng nối gót theo ông để mở cuộc chiến chống lại các ký giả và các cơ quan truyền thông tự do. Mặc dù tại Mỹ, truyền thông bị Tổng thống Trump lên án như “kẻ thù của nhân dân”,  cho tới nay vẫn chưa thấy có nhà báo nào bị bắt giữ và cũng chẳng có cơ quan truyền thông nào bị đóng cửa. Nhưng tại một số nước Đông Nam Á, nhiều ký giả đã bị bắt giữ và một số cơ quan truyền thông đã bị đóng cửa.
Tại Phi Luật Tân, một tờ báo mạng độc lập, vì bị Tổng thống Rodrigo Duterte tố cáo đưa “tin giả”, hiện đang bị đe dọa đóng cửa sau khi Ủy ban An ninh và Giao dịch (Securities and Exchange Commission, gọi tắt là SEC) của chính phủ ra lệnh rút giấy phép.
Tại một số nước Đông Nam Á khác như Miến Điện chẳng hạn, hai ký giả làm việc cho hãng thông tấn Reuters bị truy tố vì đã tường trình về cuộc khủng hoảng của người dân tộc thiểu số Rohingya. Tại nước láng giềng của Miến Điện là Cam Bốt, một cơ quan truyền thông được Hoa Kỳ tài trợ đã phải đóng cửa sau khi hai phóng viên bị bắt giữ.
Các nhà phân tách và quan sát viên nói rằng một số nhà lãnh đạo có khuynh hướng độc tài tại Á Châu hiện đang làm mưa làm gió vì không hề bị chính phủ của Tổng thống Trump chỉ trích về những thành tích vi phạm nhân quyền của họ.
Shawb Crispin, một đại diện của Ủy bản Bảo vệ Ký giả (Committee to Protect Journalists (CPJ) tại Đông Nam Á nói rằng “đây là một chiều hướng nguy hiểm”. Theo ông, một số nhà lãnh đạo tại Đông Nam Á đang học bài học từ một trong những quốc gia có truyền thống bảo vệ tự do báo chí là Hoa Kỳ, dĩ nhiên dưới thời Tổng thống Trump.
Cách đây hai tuần, tại Phi Luật Tân, Ủy ban An ninh và Giao dịch, trên nguyên tắc vốn là một cơ quan độc lập với chính phủ, đã loan báo rút giấy phép hoạt động của một tờ báo mạng có tên Rappier.
Theo Ủy ban này, báo mạng Rappier đã vi phạm Hiến pháp của Phi Luật Tân. Ngoài ra, Ủy ban này cũng nại đến lý do để đóng cửa tờ báo là vì nó thuộc quyền sở hữu của người ngoại quốc. Rappier đã mạnh mẽ bác bỏ những cáo buộc nói trên.
Được thành lập vào năm 2012, trong những năm gần đây, báo mạng Rappier đã theo dõi thật sát cuộc chiến chống ma túy “đẫm máu” của Tổng thống Duterte.
Bà Maria Ressa, một cựu phóng viên của Đài Truyền Hình CNN, sáng lập viên của báo mạng Rappier cho rằng sở dĩ tờ báo của bà bị đóng cửa là vì đã mạnh mẽ lên tiếng chỉ trích chiến dịch chống ma túy tàn nhẫn vô nhân đạo của Tổng thống Duterte. Nhưng phát ngôn viên của chính phủ Phi, ông Harry Roque lại nói với một phóng viên của Đài CNN rằng  văn phòng chính phủ “chẳng có ăn nhập gì với quyết định của Ủy ban An ninh và Giao dịch”.
Sau khi bị đe dọa đóng cửa, báo mạng Rappier tường thuật rằng Bộ Tư Pháp Phi và Cơ quan Điều tra Trung ương của chính phủ Phi đã gởi trát tòa yêu cầu bà Ressa phải khai hữu thệ về một bài phóng sự của tờ báo hồi năm 2012.
Theo đúng sách của Tổng thống Trump, ông Duterte hiện cũng đang mạt sát thậm tệ các cơ quan truyền thông độc lập tại Phi Luật Tân. Giáo sư Peter Greste, hiện đang giảng dạy về môn báo chí tại Đại học Queensland, Úc Đại Lợi, cho rằng kiểu nói “Tin Giả” do Tổng thống Trump sáng chế hiện đang rất thịnh hành và được ông Duterte sử dụng để chống lại báo mạng Rappier.
Giáo sư Greste, một cựu phóng viên của Đài Truyền Hình Al Jazeera, đã từng bị giam tù tại Ai Cập trên 400 ngày vì tội gọi là thông đồng với Tổ chức “Huynh Đệ Hồi Giáo” để phổ biến “tin giả” và làm nguy hại cho nền an ninh quốc gia. Theo giáo sư này, Tổng thống Duterte áp dụng triệt để “sách” của ông Trump: bất cứ tin tức nào không có lợi cho ông đều là “tin giả”. Cho tới nay, trong nước thì lúc nào Tổng thống Trump cũng hùng hổ gây chiến với các cơ quan truyền thông, nhưng lại im thin thít trước các vụ vi phạm nhân quyền của các chế độ độc tài hay có khuynh hướng độc tài.
Nhưng Tổng thống Duterte của Phi Luật Tân không chỉ là đệ tử duy nhất của ông Trump tại Đông Nam Á. Một số nhà lãnh đạo khác trong vùng cũng hùa theo một sách. Ngay cả bà Aung San Suu Kyi, người đã từng được trao Giải Nobel Hòa Bình vì cuộc tranh đấu bất bạo động cho nhân quyền tại Miến Điện và hiện đang được xem như nhà lãnh đạo thực sự của nước này, tuy không sử dụng từ “Tin Giả” của ông Trump, vẫn bác bỏ các bài tường thuật của các phóng viên về việc ngược đãi đối với sắc tộc Rohingya tại Tiểu bang Rakhine. Bà luôn gọi tin tức của truyền thông về cuộc khủng hoảng này là một “tảng băng lớn về tin thất thiệt”.
Miến Điện, dưới quyền lãnh đạo của bà Aung San Suu Kyi, hiện đang tìm cách tuy tố hai ký giả của hãng thông tấn Reuters là những người đang theo dõi và tường thuật về cuộc khủng hoảng của Sắc tộc Rohingya. Theo Luật Bí Mật Quốc gia, một luật đã có từ thời thuộc địa nhưng vẫn hiện hành tại Miến Điện, hai ký giả Wa Lone và Kyaw Soe Oo có thể bị giam tù đến 14 năm chỉ vì tường thuật về cuộc khủng hoảng của người Rohingya.
Trong một tuyên ngôn được gởi đến Đài CNN, chủ bút của hãng thông tấn Reuters, ông Steve Adler, gọi việc giam giữ các ký giả là một “cuộc tấn công trắng trợn vào tự do báo chí”.
Tại một nước Đông Nam Á khác là Cam Bốt, hai ký giả làm việc cho Đài Á Châu Tự Do là Uon Chhin và Yeang Sothearin, đã bị bắt giữ vì tội gọi là “gián điệp”. Luật sư của hai ký giả này, ông Keo Vanny khẳng định rằng hai “thân chủ của ông không hề phạm bất cứ tội nào liên quan đến những cáo buộc chống lại họ”.
Đài Á Châu Tự Do đã cho đóng của văn phòng của đài tại Cam Bốt. Trước cuộc bầu cử sẽ diễn ra vào năm tới, Thủ tướng Hun Sen đã ráo riết tấn công vào các cơ quan truyền thông độc lập tại Cam Bốt.
Cũng tại Cam Bốt, một tờ báo có nhiều uy tín là tờ Cambodia Daily cũng đã bị chế độc độc tài của Thủ tướng Hun Sen ra lệnh đóng cửa vì không đủ khả năng để trả một món tiền thuế lên đến 6.3 triệu Mỹ kim. Báo này cho rằng lệnh này hoàn toàn có tính cách chính trị.
Theo hãng thông tấn Reuters, tuy không bắt chước Tổng thống Trump để gọi các cơ quan truyền thông là “kẻ thù của nhân dân”, Thủ tướng Hun Sen nói rằng có một số cơ quan truyền thông hành động như “băng đảng Mafia” và “không tôn trọng luật pháp, không đăng ký theo luật pháp và tránh thuế”.
Báo Cambodia Daily hoàn toàn bác bỏ những cáo buộc trên đây.
Phi Luật Tân, Miến Điện, Cam Bốt...là một số quốc gia tại Đông Nam Á đang mượn oai hùm của Tổng thống Trump để đàn áp các cơ quan truyền thông độc lập và tự do báo chí nói chung. Tuy nhiên nếu so với một nước khác trong khối Đông Nam Á là Việt Nam thì ba nước nói trên chỉ là “học trò”. Theo chỉ số về Tự do Báo chí của năm 2017 (World Press Freedom Index 2017), các nước Đông Nam Á được xếp vào hạng những quốc gia có thành tích tồi tệ nhất trong việc đàn áp tự do báo chí. Đứng hạng 175, chỉ trên Trung Cộng, Syria, Turkmenistan, Eritrea và Bắc Hàn, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là nước đàn áp dã man nhất các ký giả tại Đông Nam Á. Không thể kể hết danh sách của các ký giả, nhất là những người viết báo mạng, đã và đang bị giam tù tại Việt Nam: tất cả đều bị quy cho một tội là “tuyên truyền chống chế độ”.
Trở lại với Phi Luật Tân. Tại quốc gia hải đảo này, ngay cả trước khi Chính phủ Duterte ra lệnh đóng cửa báo mạng Rappier và tung ra những lời đe dọa đối với bất cứ ký giả nào dám lên tiếng phê bình chính phủ, Phi Luật Tân cũng đã từng nổi tiếng là một trong những nơi nguy hiểm nhất trên thế giới để hành nghề ký giả. Kể từ năm 1992 đến nay, Phi Luật Tân đứng hàng thứ 3 về con số các ký giả bị sát hại trong lúc đang hành nghề. Đứng đầu danh sách là Syria và Iraq là hai nước hiện đang có xung đột vũ trang. Nhưng ngày nay với Tổng thống Duterte, mối nguy hiểm cho các ký giả hành nghề tại Phi Luật Tân ngày càng gia tăng. Cũng giống như Việt Nam, Chính phủ Duterte ũng đã cho thành lập một đội ngũ “cảm tình viên” hay “chiến sĩ mạng” chuyên lên mạng để đe dọa và tấn công các nhà báo độc lập. Những lời đe dọa và các cuộc tấn công của các “chiến sĩ mạng” này khiến cho các ký giả dễ bị tổn thương hơn. Theo ông Carlos Conde, một nhà nghiên cứu làm việc cho một chi nhánh của Tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền (Human Rights Watch) tại Phi Luật Tân, những người ủng hộ ông Duterte lúc nào cũng sẵn sàng để lên mạng và tấn công bất cứ nhà báo nào dám lên tiếng phê bình chính phủ Duterte. Nery, chủ bút của một tờ báo lớn tại Phi Luật Tân là tờ The Inquirer, nói rằng hiện nay bầu khí trên mạng tại nước này lúc nào cũng sôi sục hận thù. Ngay cả trang mạng Facebook cũng không còn được an toàn. Cứ có một bài báo hay một bài tường thuật nào có nội dung phê bình chính phủ thì tức khắc có cả một nhóm “ủng hộ viên” của chính phủ xung trận tức khắc. Các cơ quan truyền thông ngày nay đã mang lại cho các ký giả và các trang mạng xã hội nhiều không gian tự do hơn đối với sự kiểm duyệt của các chính phủ. Nhưng cũng chính những không gian ấy lại tràn ngập những trang chống lại truyền thông và tự do báo chí.
Theo bà Ressa, sáng lập viên và giám đốc điều hành của báo Rappier, các chế độ dân chủ còn non nớt như Phi Luật Tân luôn tỏ ra nghi ngờ và sợ hãi trước sự phê bình và chỉ trích của báo chí. Dạo tháng Hai năm 1986, với  cuộc cách mạng thường được mệnh danh là “Sức mạnh của quần chúng” (People’s Power), người dân Phi đã đứng lên lật đổ chế độ độc tài của Tổng thống Ferdinand Marcos. Một trong những giá trị được tái lập và đề cao trong nền dân chủ còn non nớt này là tự do báo chí. Kể từ đó cho đến tháng Sáu năm 2016, tự do báo chí tại Phi Luật Tân đã góp phần rất lớn trong việc hướng dẫn dư luận quần chúng, kiểm soát các chính phủ và đồng thời cũng nâng cao ý thức về tự do và dân chủ cho người dân. Nhưng kể từ khi ngày Tổng thống Duterte nhậm chức đến nay, tự do báo chí luôn bị đe dọa, số phận của những người làm truyền thông ngày càng bấp bênh.
Trong bài diễn văn đọc tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới được tổ chức tại Davos, Thụy Sĩ trong tháng Giêng vừa qua, Tổng thống Trump đã rêu rao rằng việc cải tổ thuế má của chính phủ ông nhằm giảm thuế cho giới doanh nghiệp và người giàu tại Hoa Kỳ không những làm hạ giảm mức thất nghiệp trong nước mà còn góp phần tạo thêm công ăn việc làm cho khắp thế giới. Không biết điều đó có thực sự diễn ra tại các nước Đông Nam Á không. Chỉ có một điều thấy rõ trước mắt là: cuộc chiến chống truyền thông của ông tại Hoa Kỳ đã tràn lan sang các nước Đông Nam Á, bóp nghẹt tự do báo chí và đe dọa mạng sống của không biết bao nhiêu ký giả.

(Nguồn:https://edition.cnn.com/2018/01/28/asia/asia-fake-news-media-repression)



Thứ Sáu, 9 tháng 2, 2018

Cây cỏ cũng biết nói!



Chu Thập
02/02/18
Mấy hôm nay, cậu chó nhà tôi làm cho tôi điên cái đầu. Không biết có phải do ăn trúng bã của Tổng thống Donald Trump không, cậu chó nhà tôi đã nhìn sang bãi cỏ nhà hàng xóm như một “hố xí” (theo đúng ngôn ngữ của tổng thống Mỹ là “Shithole” khi ông nói về các nước Phi Châu và Haiti) cho nên cứ sáng sớm hay xẩm tối, cậu lại lẻn qua bên đó để phóng uế. Con dại cái mang. Ông bà hàng xóm, vốn nổi tiếng là khó tính nhứt trong xóm, được dịp cứ sang cằn nhằn và lên lớp về những qui định của hội đồng thị xã về chuyện thả chó chạy rông. Nhà tôi và tôi bị đặt vào một tình thế thật khó xử. Nuôi thú cưng mà nhốt nó trong chuồng hay bị xích suốt ngày chẳng là một hành động vi phạm “thú quyền” sao! Mà để nó lêu lổng và làm phiền hàng xóm thì càng đáng trách hơn. Suy nghĩ mãi mà chẳng tìm được giải pháp nào. Riêng tôi có cái nhìn vụ lợi về sự hiện diện của con Trumpy trong nhà : kể từ ngày có con Trumpy trong nhà, lũ gà lôi rừng (bush turkey) không còn dám xâm phạm gia cư bất hợp pháp nữa. Tôi không còn phải suốt ngày canh chừng vườn rau xanh và nhứt là giàn thanh long đang chuẩn bị chín rộ. Nếu muốn tiếp tục làm vườn mà không phải nhức đầu vì chuyện không đâu, tôi thấy không thể không có con Trumpy. Về phần nhà tôi, vì sợ mất tình làng nghĩa xóm cho nên muốn mang con Trumpy trả lại cho người cháu nuôi của tôi. Nhưng cân nhắc lợi hại, bàn lui tính tới, cuối cùng chúng tôi thấy không thể rời xa con Trumpy. Nó đã trở thành một thành viên thân thuộc trong gia đình. Sáng thức dậy thấy nó là vui. Đi xa là thấy nhớ nó. Có chuyện bực bội hay “tư tưởng bế tắc” viết không đâu ra đâu, chỉ cần vuốt ve nó, được nó quấn quít bên người, nhìn vào mắt nó, lắng nghe nó...là thấy được giải tỏa.
Không phải ai cũng thích nuôi thú cưng, nhứt là chó. Nhưng kinh nghiệm bản thân cho tôi thấy rằng thú cưng đã thực sự giúp cho tôi làm chủ được cảm xúc của mình, đồng thời cũng mở rộng cái nhìn của tôi về thế giới xung quanh.
Tôi cứ bị ám ảnh về Tổng thống Trump. Bàn đến thú cưng, nhứt là chó, tự nhiên tôi lại nghĩ đến ông. Nghe nói ông tổng thống Mỹ này không thích nuôi chó. Ông muốn tỏ ra mình chẳng giống ông tổng thống Mỹ nào trước đó. Thật vậy, hầu hết các tổng thống Mỹ đều có rất nhiều điểm chung. Họ có những bà vợ luôn luôn nỗ lực xây dựng và bảo vệ những giá trị truyền thống của Hoa Kỳ. Vợ chồng họ sống chung dưới một mái nhà và cũng chung chăn chung gối với nhau. Những đứa con của họ được nuôi dạy nên người. Chẳng có ông tổng thống nào để cho con cái họ xen vào công việc của mình. Và chẳng có ông tổng thống Mỹ nào, vì muốn khen con gái mình, mà lại bảo sẽ ve vãn nó nếu nó không phải là con mình. Tất cả các tổng thống Mỹ đều là những người thông minh và làm việc hết mình vì đất nước...Và nhứt là, hầu hết các tổng thống Mỹ đều có một hay hai con chó cưng!
Tổng thống Trump nổi tiếng là người muốn đạp đổ mọi truyền thống để không giống ai. Thật vậy, tính từ hơn một trăm năm trở lại, ông là tổng thống Mỹ đầu tiên không có chó cưng. Dĩ nhiên, cũng có một số tổng thống Mỹ không hề có chó cưng. Như trường hợp Tổng thống William McKinney là người đã làm chủ Tòa Bạch Ốc từ năm 1897 đến năm 1901. Tuy nhiên, theo Bảo tàng viện thú cưng của các tổng thống (Presidential Pet Museum), không có chó, nhưng ông McKinney vẫn có một con két, hai con mèo và vài con gà cồ. Trước ông McKinney, Tổng thống Andrew Johnson cũng không có chó mèo nào cả. Nhưng năm 1868, khi tổng thống Johnson bị bãi nhiệm, người ta mới biết cứ đêm đến, ông lại để cho  cả một gia đình chuột bạch chạy chơi trong phòng của ông.
Riêng đương kim Tổng thống Trump không có chuột, mèo hay bất cứ con chó nào cả. Xem ra ông lại ghét cay ghét đắng loài chó. Chẳng vậy mà trong rất nhiều “tuýt” của ông, mỗi lần tấn công hay chê bai một đối thủ hay ngay cả một nguyên thủ quốc gia khác, ông đều xem họ “giống như chó” (like a dog): ông Mitt Romney, người đã từng là ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng Hòa, “ngáp như chó”; Thượng nghị sĩ Ted Cruz dùng và sa thải giám đốc truyền thông của mình “như một con chó”; Obama sa thải mục sư Wright như “một con chó”; lẽ ra Hoa Kỳ phải ủng hộ Tổng thống Mubarack (của Ai Cập), chớ đâu lại bỏ rơi ông ta như “một con chó”...(x.https://www.yahoo.com/news/donald-trump-doesn-apos-t-143500914.html).
Sau một năm trong nhiệm kỳ thứ nhứt của ông, nhiều người đã ca ngợi những thành quả vượt bực của Tổng thống Trump: kinh tế Mỹ gia tăng, thị trường chứng khoán lên vùn vụt, tỷ lệ thất nghiệp giảm chưa từng thấy...Riêng ông, tại Diễn đàn Kinh tế ở Davos mới đây, khẳng định rằng những chính sách của ông  tạo ra công ăn việc làm cho toàn thế giới. Chính vì vậy mà  khi có người nghi ngờ về tình trạng tâm lý của ông, ông liền vỗ ngực tự xưng là “một thiên tài rất ổn định” (a very stable genius).
Có lẽ vì là thiên tài chăng, xem ra Tổng thống Trump không thích thú vật. Như Giáo sư Alan M. Beck, hiện đang giảng dạy về môn sinh thái của thú vật tại trường Đại học Purdue và là Giám đốc Trung tâm Liên kết Người và Thú vật, đã nhận xét, Tổng thống Trump không thích thú vật và thiên nhiên. Hai người con trai của ông, không rõ đã được giáo dục như thế nào, xem chuyện bắn giết thú vật như một thú vui. Cả hai đều được trao tặng huy chương về săn bắn.
Theo Giáo sư Beck, các chính trị gia thường nuôi thú cưng. Giáo sư này khẳng định: “Nếu bạn có một thú cưng, bạn sẽ trở thành một người tốt hơn. Nhiều cuộc nghiên cứu cho thấy điều đó. Nhưng tôi không nghĩ rằng tổng thống (Trump) xem ra quan tâm đến điều đó” (x.https://www.nytimes.com/2017/04/15/opinion/sunday/what-kind-of-pet-should-donald-trump-get).
Dĩ nhiên không phải ai cũng cần có thú cưng và cũng không phải hễ có thú cưng thì đương nhiên trở thành người tốt hơn. Nhiều người nuôi chó dữ để canh nhà và nếu cần để tấn công người khác. Tôi đã từng bị một ông Úc kỳ thị để chó tấn công. Nhưng nói chung, theo giải thích của các chuyên gia tâm lý, thú cưng luôn gợi lên cho con người tình yêu vô vị lợi và nhiều đức tính khác. Trong một mức độ nào đó, tôi thấy không thể không cố gắng vươn lên trong việc trau dồi nhân cách mỗi khi chơi đùa hay nhìn ngắm con Trumpy. Xét cho cùng, thiên nhiên là cả một cuốn sách dạy học làm người.
Tạp chí Reader’s Digest, trong số ra tháng Hai 2018 này, có điểm qua cuốn sách có tựa đề “The Hidden Life of Trees” (Cuộc sống bí ẩn của cây cối). Tác giả của cuốn sách là ông Peter Wohlleben. Được đào tạo về lâm nghiệp, ông Wohlleben hiện đang làm giám đốc trông coi khu rừng có tên là Ruheforst (khu rừng yên nghỉ) tại Tỉnh bang Rhineland-Palatinate, Tây Nam Đức. Trước đây, trong tập truyện “Lord of the Rings” (Chủ của những chiếc nhẫn), nhà văn Anh J.R.R Tolkien (1892-1973) có tưởng tượng ra một khu rừng huyền bí đầy những cây mà ông đặt tên là Ents. Ents là một giống cây biết đi, biết nói có nhiệm vụ bảo vệ rừng. Tưởng chỉ có trong chuyện tưởng tượng, không ngờ khu rừng Ruheforst, với số tuổi 4000 năm, cũng gợi lên một câu chuyện như thế. Thật vậy, dẫn chứng các cuộc nghiên cứu của các nhà sinh vật học, tác giả Wohlleben khẳng định rằng cây cối cũng biết tính toán, ghi nhớ và học hỏi từ kinh nghiệm. Theo ông, cây cối cũng truyền sự hiểu biết của chúng cho những mầm non đang mọc lên xung quanh chúng. Những mầm tương lai cũng đón nhận “lẽ khôn ngoan” từ những cây mẹ và những cây bệnh được cả cộng đồng những cây láng giềng nâng đỡ. Từ những điều quan sát được trong khu rừng Ruheforst, ông Wohlleben tin rằng xuyên qua hệ thống rễ chằng chịt, cây cối cũng biết phân phối và chia sẻ thức ăn cho nhau.
Nhưng điều kỳ diệu hơn nữa, theo ông Wohlleben, là  cũng  xuyên qua hệ thống rễ và nấm bên dưới mặt đất, cây cối cũng biết “nói chuyện” hay thông tin liên lạc với nhau. Các nhà khoa học gọi đây là hệ thống “Wood Wide Web” cũng giống như hệ thống Internet của loài người.
Điều khó tưởng tượng hơn nữa là khi có sâu bọ tấn công và ăn lá của chúng, cây cối cũng biết dùng một loại hương mà các nhà khoa học gọi là Ethylene để bắn ra tín hiệu nhờ gió mang đi để báo động cho “bà con làng xóm” xung quanh. Nhận được tín hiệu này, cả cộng đồng rừng sẽ huy động mọi lực lượng để phòng thủ.
Trong rừng Ruheforst, có một gốc cây giẻ rất đặc biệt. Theo giải thích của ông Wohlleben, cây giẻ này đã bị đốn hạ cách đây 400 hoặc 500 năm. Không có lá để đón nhận diệp lục tố, phần trên của cây giẻ này đã hoàn toàn mục nát. Nhưng bên dưới gốc cây người ta vẫn còn thấy có rễ. Điều này có nghĩa là rễ của nó được nuôi dưỡng bằng một dung dịch đường do những cây giẻ xung quanh tiếp tế. Ông Wohlleben khẳng định: “Chính những cây khác, tức bạn bè và gia đình của nó, giữ cho nó được sống!”
Charles Darwin (1809-1882), cha đẻ của thuyết tiến hóa cho rằng thiên nhiên sống còn do luật đào thảo tự nhiên: chỉ có những thành phần khỏe mạnh mới tồn tại! Nhưng theo ông Wohlleben, trái với qui luật trên đây, nhiều chủng loại thay vì cạnh tranh và loại trừ nhau, lại hợp tác với nhau để sống còn. Rừng là một thí dụ: đó là cả một mạng xã hội trong đó mọi thành phần nương tựa và bảo vệ nhau! Ngoài ra, châm ngôn “bạo phát bạo tàn” cũng được áp dụng cho cuộc sống của rừng. Cây mẹ dùng bóng mát để che chở cho cây non. Nhờ vậy chỉ có 3 phần trăm ánh sáng chiếu xuyên qua tới đất. Chính nhờ được che chở và lớn chậm cho nên cây non có thể sống lâu; những cây lớn nhanh thường chết yểu!
Tác giả Woklleben cho rằng mình sẽ bị cho là một gã điên khi giải thích về cuộc sống bí ẩn như thế của cây cối trong rừng. Tôi không nghĩ như thế. Chiêm ngắm cảnh rừng, cây cối, súc vật và thiên nhiên nói chung, lúc nào tôi cũng học được bài học về tình liên đới và tương trợ. Sợi giây liên đới ấy không chỉ có trong thiên nhiên, mà cũng nối kết con người với thiên nhiên. Nhà bác học lừng danh của Thế kỷ 20 là Albert Einstein đã nói rằng “con người là một thành phần của một toàn thể được gọi là vũ trụ”. Theo ông, ý thức về sự tách biệt của mình khỏi vũ trụ có thể giam giữ con người trong “nhà tù của những khát vọng riêng tư và tình cảm đối với một số ít người thân”. Nhà bác học này cho rằng con người chỉ có thể thoát ra khỏi nhà tù ấy “bằng cách trải rộng sự cảm thông để ôm lấy mọi sinh vật và toàn thể thiên nhiên vì vẻ đẹp của nó”.
Ở giữa thiên nhiên, liên kết với thiên nhiên, thì dù có lẻ loi một mình, con người cũng không thể cảm thấy cô đơn. Không cô đơn, con người mới cảm nhận được sự bình an trong tâm hồn và như vậy mới được thúc đẩy để đến với tha nhân, muốn ần gũi với tha nhân và cư xử tử tế với tha nhân hơn.


Thứ Hai, 5 tháng 2, 2018

Hoa Kỳ: thân phận người nghèo trong một nước giàu!



02/02/18

Nói đến người nghèo, nhất là những cảnh nghèo nàn cùng cực, ai cũng liên tưởng trước tiên đến các nước nghèo ở Phi Châu hay Á Châu. Đệ nhất siêu cường như Hoa Kỳ làm gì có tên trong các bản phúc trình về nghèo khổ của Liên Hiệp Quốc. Nhưng mới đây, báo cáo viên đặc biệt của Liên Hiệp Quốc về tình trạng nghèo cùng và nhân quyền là ông Philip Alston đã làm một vòng nước Mỹ.
Bản phúc trình của báo cáo viên đặc biệt của Liên Hiệp Quốc về tình trạng nghèo khổ tại Hoa Kỳ cho thấy đây là một vấn đề mà đệ nhất siêu cường này không thể che giấu được nữa. Chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của báo cáo viên đặc biệt của Liên Hiệp Quốc đã diễn ra vào lúc chính phủ của Tổng thống Donald Trump đưa ra một số chính sách mới có liên quan đến tinh trạng bất bình đẳng và nghèo cùng tại Hoa Kỳ. Trong bản báo cáo được cho công bố ngày 15 tháng Mười Hai năm 2017 vừa qua, ông Alston nhận định rằng luật cải tổ thuế má mới qua đó Chính phủ Mỹ giảm thuế cho các công ty và người giàu nói chung vừa được Quốc hội Mỹ thông qua và được Tổng thống Trump ký ban hành đã biến Hoa Kỳ thành một trong những xã hội bất bình đẳng nhất trên thế giới. Hố ngăn cách giữa 1 một phần trăm những người giàu nhất và 50 phần trăm những người Mỹ nghèo nhất đã trở thành vực thẳm! Hoa Kỳ là một trong những nước giàu nhất, hùng mạnh nhất và tiến bộ nhất về mặt kỹ thuật, nhưng lại không có khả năng hoặc không muốn chấm dứt tình trạng ngày càng nghèo cùng của 40 triệu người Mỹ. Báo cáo viên đặc biệt của Liên Hiệp Quốc kể lại rằng tại Thành phố San Francisco, ông đã chứng kiến cảnh một cảnh sát viên yêu cầu một nhóm người vô gia cư phải rời bỏ nơi họ đang sống lây lất. Nhưng khi được hỏi những người vô gia cư này phải đi đâu thì viên cảnh sát không có được câu trả lời.
Trong bản phúc trình, báo cáo viên đặc biệt của Liên Hiệp Quốc đã làm một cuộc so sánh giữa Hoa Kỳ và các nước khác. Theo ông, theo nhiều chỉ số, Hoa Kỳ là một trong những nước giàu nhất thế giới. Ngân sách  quốc phòng của nước này nhiều hơn của Trung Cộng, Á Rập Saudi, Nga, Vương quốc Anh, Ấn Độ, Pháp cộng lại. Tính theo đầu người, Hoa Kỳ chi cho y tế gấp hai lần mức trung bình của các nước thuộc khối Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD. Nhưng tính theo đầu người, Hoa Kỳ lại có ít bác sĩ và số giường trong bệnh viện hơn so với các nước thuộc khối OECD. Trong năm 2013, Hoa Kỳ bị xem là nước có tử xuất của trẻ em cao nhất trong các nước phát triển. So với người dân đang sống trong bất cứ quốc gia giàu và dân chủ nào, người Mỹ có tuổi thọ thấp hơn và sức khỏe của họ cũng yếu kém hơn.
Theo bản phúc trình của báo cáo viên đặc biệt của Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ là nước có tỷ lệ người béo phì hơn cả trong thế giới phát triển. Hoa Kỳ cũng là quốc gia trong đó tỷ lệ người dân bị giam tù cao nhất thế giới, hơn cả các nước như Turkmenistan, El Salvador, Cuba, Thái Lan và Liên bang Nga. Tỷ lệ bị giam tù của người Mỹ cao gấp 5 lần so với mức trung bình của các nước trong khối OECD. Xét về tình trạng nghèo nàn và bất bình đẳng trong 37 nước thuộc khối OECD, Hoa Kỳ đứng hàng thứ 35! Theo Tổ chức “World Income Inequality Database” (Dữ liệu về bất bình đẳng), Hoa Kỳ là nước có mức bất bình đẳng Gini cao nhất trong các nước Tây Phương (x.http://www.ohchr.org/EN/NewsEvents/Pages/DisplayNews)
Trên đây chỉ là một vài con số về Hoa Kỳ được báo cáo viên đặc biệt của Liên Hiệp Quốc ghi nhận trong bản phúc trình của ông.
Theo Ngân hàng Thế giới, tính đến năm 2013, trên toàn thế giới  có 769 triệu người không kiếm được mỗi ngày 1.90 Mỹ kim để sống. 769 triệu người này được xem là những người nghèo nhất thế giới. Trong số này, có 3.2 triệu người sống tại Hoa Kỳ và 3.3 triệu khác sống tại các nước có thu nhập cao, đa số tại Ý, Nhật Bản và Tây Ban Nha.
Dĩ nhiên, trên đây chỉ là những con số. Điều đáng quan tâm là đàng sau những con số ấy là một thực tại ít được biết đến: đó là những nhu cầu căn bản của con người tại những nước giàu hoàn toàn khác với những nhu cầu căn bản của con người tại những nước nghèo. Hãy thử làm một cuộc so sánh: một người dân quê nghèo tại Ấn Độ chắc chắn không phải tốn kém nhiều cho nhà cửa, điện nước hay gởi con đi nhà trẻ cho bằng một người nghèo tại một nước giàu; một người nông dân nghèo tại vùng nhiệt đới không phải tốn nhiều tiền cho quần áo hay việc đi lại. Ngay cả bên trong Hoa Kỳ, cuộc sống của người nghèo tại Thành phố Los Angeles, Tiểu bang California nắng ấm, cũng khác với người nghèo tại một thành phố có mùa đông giá rét như New York: tại Los Angeles, có nhiều người vô gia cư ngủ ngoài đường hơn tại New York!
Mới đây, một giáo sư kinh tế tại trường đại học Oxford là ông Robert Allen cũng đã làm một phép tính: với 1.90 Mỹ kim, một người nghèo ở những nước nghèo xem ra có cuộc sống dễ thở hơn một người nghèo mỗi ngày kiếm được 4 Mỹ kim tại các nước giàu.
Nếu 4 Mỹ kim tại Hoa Kỳ tương đương với 1.90 Mỹ kim tại Ấn Độ hay tại các nước nghèo ở Phi Châu và Á Châu, thì tại Hoa Kỳ không chỉ có 3.2 triệu người nghèo. Con số này phải lên đến 5.3 triệu người. Dĩ nhiên, nếu so với Ấn Độ là quốc gia mà dân số đã vượt qua một tỷ người, thì 5.3 người nghèo tại Hoa Kỳ chỉ là một con số không đáng kể. Nhưng nếu so với một số nước nghèo khác tại Phi Châu và Á Châu thì đây quả là một con số đáng kể: Hoa Kỳ có nhiều người nghèo hơn Sierra Leone hay Nepal và cuộc sống của người nghèo tại Hoa Kỳ có khi còn tồi tệ hơn tại các nước nghèo.
Theo một thiên phóng sự do hai ký giả Mỹ Kathryn Edin và Luke Shaefer thực hiện (http://www.twodollarsaday.com/), tại một số vùng nông thôn và nhất là tại một số thành phố Mỹ, nhiều người nghèo chỉ sống với thu nhập mỗi ngày là 2 Mỹ kim. Giá sinh hoạt cao, nhất là nhà ở tại Hoa Kỳ, khiến cho nhiều người nghèo không thể có được nơi trú ngụ và thực phẩm mỗi ngày. Gia đình bà Jessica Campton là một điển hình. Gia đình gồm 4 người này không có bất cứ một thu nhập nào nếu mỗi tuần bà Campton không đến một trung tâm tại Tennessee để hiến máu. Tại Thành phố Chicago, bà Madonna Harris và đứa con gái vị thành niên của bà đã từng sống cầm hơi nhiều ngày chỉ bằng một ít sữa quá hạn.
Sau 2 thập niên nghiên cứu về người nghèo trong xã hội Mỹ, bà Kathryn Edin đã ghi nhận một điều mà bà chưa từng thấy trước đó: nhiều gia đình sống qua ngày mà hầu như không có lấy một xu trong túi! Cuộc khảo sát của bà Edin và ông Shaefer cho thấy: con số những gia đình Mỹ sống chỉ bằng 2 Mỹ kim cho mỗi đầu người đã lên đến một triểu rưỡi và sống trong những gia đình như thế có đến 3 triệu trẻ em.
Nhưng bức tranh về thực trạng của những gia đình này sẽ không đầy đủ nếu người ta không nhìn thấy nơi cư ngụ của họ, hoàn cảnh đã đẩy đưa họ vào cảnh khốn cùng và cách họ bương chải để sống còn .
Về phần mình, Giáo sư Matthew Desmond, một nhà xã hội học thuộc trường Đại họ Harvard cũng đã cung cấp một bức tranh rất sống động về tình trạng nghèo cùng của người Mỹ hiện nay. Trong cuộc khảo sát của ông, Giáo sư Desmond mô tả cuộc sống tại những khu phố nghèo nhất của Thành phố Milwaukey. Đây là thành phố lớn nhất của Tiểu bang Wisonsin. Giáo sư Desmond ghi lại câu chuyện của 8 gia đình nghèo tại một khu phố nghèo. Aileen là một bà mẹ đơn côi đang cố gắng nuôi dạy 2 đứa con trai chỉ bằng 20 Mỹ kim mỗi tháng, sau khi trang trải tiền thuê nhà. Scott là một y tá nghiện ma túy. Lamar, một người tàn tật không chân, đang sống trong một khu phố có nhiều thiếu niên mà ông phải chăm sóc, mặc dù chính ông đang phải lây lất vì nợ nần chồng chất. Vanetta là một phụ nữ đang phải thêu thùa thêm để đắp đổi qua ngày sau khi bị bớt giờ làm việc ở sở. Tất cả những người này đều có một mẫu số chung: phần lớn thu nhập của họ đều dồn vào việc trả tiền thuê nhà. Số phận của họ nằm trong tay của hai người chủ nhà: một là bà Sherrna Tarver, một cựu giáo viên hiện đang kinh doanh trong nội thành, hai là ông Tobin Charney, người đang làm chủ một một bãi đất cho đậu xe tại Milwaukee. Hai người chủ nhà này không tỏ ra một chút xót thương nào đối với những người thuê nhà. Bà Sherrena đã tìm cách tống cổ bà Arleen và 2 cậu con trai ra khỏi nhà chỉ vài ngày trước lễ Giáng Sinh.
Trước kia, bị đuổi ra khỏi nhà là điều ít khi xảy ra tại Mỹ. Nhưng ngày nay, phần lớn những gia đình nghèo phải thuê nhà phải dùng hơn một nửa thu nhập của họ để trả tiền nhà và chuyện bị đuổi ra khỏi nhà rất thường xảy ra, nhất là đối với những bà mẹ đơn chiếc. Vì bị đuổi ra khỏi nhà, nhiều gia đình bị buộc phải chạy đến các trung tâm tạm cư của các tổ chức từ thiện hoặc những khu phố không an toàn. Hiện tượng ngày cho thấy tình trạng bất bình đẳng ngày càng sâu rộng trong xã hội Mỹ.
Dĩ nhiên, ngày nay người dân của các nước giàu sống thọ hơn và khỏe mạnh hơn. Ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt, người dân tại các nước giàu nhìn chung có nguồn nước uống lành mạnh, thực phẩm an toàn để ăn cũng như hưởng được sự chăm sóc y tế đầy đủ. Tuy nhiên, tất cả những phương tiện tối thiểu này hiện vẫn còn nằm ngoài tầm tay với của rất nhiều người nghèo tại Hoa Kỳ. Ngay cả nhìn trong một bức tranh toàn cảnh, tuổi thọ của người dân Mỹ cũng không tương xứng với thu nhập tính theo đầu người tại nước này. Tại một số nơi, như vùng châu thổ sông Mississipi và rặng núi Appalachia, tuổi thọ của người dân còn thấp hơn cả người dân tại Bangladesh và Việt Nam.
Ngoài ra tình trạng sức khỏe của nhiều người Mỹ, nhất là dân Mỹ trắng chưa học xong trung học, cũng ngày càng tồi tệ. Angus Deaton, giáo sư kinh tế thuộc trường Đại học Princeton và khôi nguyên Giải Nobel về Kinh tế năm 2015, đã cùng với vợ là bà Anne Case, hiện cũng đang là một giáo sư kinh tế tại trường Đại học Princeton, đã thực hiện một cuộc khảo sát về cuộc sống của những người da trắng thất học tại Hoa Kỳ. Kết quả cuộc khảo sát cho thấy tuổi thọ của nhóm người da trắng này ngày càng giảm, tử xuất do ma túy, rượu và tự tử ngày càng cao. Đó là chưa kể đến những cái chết do những chứng bệnh về tim mạch gây ra.
Theo Giáo sư Deaton, từ nhiều năm qua, các nhu cầu của người nghèo tại Hoa Kỳ không được quan tâm bằng người nghèo tại Phi Châu và Á Châu. Giáo sư Deaton cho rằng hiện đang có hàng triệu người Mỹ vì nghèo và sức khỏe yếu kém phải đau khổ nhiều hơn so với những người nghèo tại Phi Châu và Á Châu.
Liệu đây có phải là vấn đề được Tổng thống Trump quan tâm đến khi ông tung ra khẩu hiệu “Make America Great Again” (Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại) không?


(Theo: https://www.nytimes.com/2018/01/24/opinion/poverty-united-states)

Thứ Sáu, 2 tháng 2, 2018

Bài học lịch sử



Chu Thập
26/01/18
Cách đây mấy hôm, theo dõi chương trình đố vui có thưởng “Who wants to be a millionaire” trên Đài số 9, tôi tiếc hùi hụi cho một cụ già 80 tuổi tham gia cuộc thi đấu. 80 tuổi mà đầu óc vẫn còn minh mẫn, trí nhớ vẫn còn sắc bén. Câu hỏi nào cụ cũng trả lời vanh vách. Nhưng để bỏ túi phần thưởng 100.000 Úc kim, cụ lại ú ớ trước câu hỏi cuối cùng: Ukraine giành lại độc lập năm nào? Thay vì năm 1991 là năm Liên Xô tan rã, cụ lại bấm vào năm 1989 là năm bức tường Bá Linh sụp đổ! Tôi tiếc thầm: giá cụ “thuộc” lịch sử thêm một chút nữa thì cụ đã kiếm được một số tiền lớn rồi!
Tôi không hiểu sao thời tôi còn ở bậc trung học, sử địa vẫn bị xem là một môn phụ. Nó cũng ớn như món cơm nếp “chủ nghĩa  Marxit - Leninit ” thời xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay: thày vừa ngủ vừa đọc bài, học sinh vừa ngáp vừa ghi!
Ngày nay, ở tuổi già, mỗi khi nhìn lại và điểm qua những điều mình còn hối tiếc, tôi mới thấy rằng những kiến thức quan trọng cần học hỏi và trau dồi lúc còn trẻ lẽ ra phải là những bài học về sử địa. Tôi thấy mình còn dốt về rất nhiều thứ. Nhưng tệ nhứt vẫn là những bài học về lịch sử. Sở dĩ tôi còn mang nặng mặc cảm ngu dốt về lịch sử là bởi vì ai đó đã nói một câu đáng mang ra tụng niệm và suy  gẫm suốt cả một cuộc đời: “Những ai không chịu học lịch sử sẽ bị kết án lập lại lịch sử”.
Tìm hiểu ý nghĩa của câu nói trên đây, tôi mới biết rằng tác giả của câu nói chính là văn sĩ và triết gia George Santayana (1863-1952). Chào đời tại Tây Ban Nha, nhưng ông lớn lên và theo học tại Hoa Kỳ. Năm 48 tuổi, sau một thời gian làm giáo sư triết học tại Đại học Havard, ông rời bỏ Hoa Kỳ và quay về Âu Châu để sống cho đến cuối  đời. Về bài học lịch sử, câu nói nguyên thủy được gán cho ông chính là: “Ai không thể nhớ quá khứ sẽ bị kết án lập lại quá khứ”. Với giọng trào phúng hơn, văn hào Mỹ Mark Twain (1835-1910) nói: “Lịch sử không lập lại. Nó chỉ “niêm vận” thôi” (History doesn’t repeat itself, but it does rhyme). Có lẽ văn hào này muốn nói rằng chuyện đang xảy ra trong hiện tại cũng na ná giống như đã từng xảy ra trong quá khứ.
Theo Triết gia Santayana, lịch sử lập lại. Chỉ cần nhìn lại lịch sử Âu Châu trong thời hiện đại cũng đủ để thấy rằng lịch sử thường lập lại. Các cuộc cách mạng tại Pháp và Nga, tưởng đã chấm dứt các chế độ độc tài, lại dẫn đến những chế độ độc tài còn tệ hại hơn: Nã Phá Luân của Pháp hay Stalin của Nga cũng chỉ là bản sao tồi tệ của những trang lịch sử mà người ta đã muốn xóa bỏ. Người dân ở đâu cũng dễ bị dụ dỗ bởi các chính trị gia dân túy. Hitler đã được dân chúng Đức đưa lên đỉnh cao quyền lực và hiện nguyên hình là một quái vật bằng chính lá phiếu của họ.
Không nhớ quá khứ, nhứt là quá khứ của chính mình hay chối bỏ lịch sử, con người thường lập lại những lỗi lầm của quá khứ. Chính sách di dân dưới thời đương kim tổng thống Mỹ Donald Trump có thể là một ví dụ điển hình về việc chối bỏ quá khứ. Trong nhiều giai đoạn, Hoa Kỳ đã từng bế quan tỏa cảng và chống di dân. Nhưng có lẽ chưa bao giờ người ta thấy có một ông tổng thống kỳ thị chủng tộc và chống di dân cho bằng Tổng thống Trump. Giá như ông ý thức rằng Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, như tên gọi của nước này có thể gợi lên, là một quốc gia được hình thành và xây dựng bằng sự đóng góp của nhiều tầng lớp di dân thuộc đủ mọi màu da, kể cả và nhứt là người Mỹ gốc Phi Châu, có lẽ ông đã không đưa ra một chính sách di dân đầy mầu sắc kỳ thị như hiện nay. Giá như  lúc nào ông cũng nhớ cho rằng ông nội của ông, ông Frederic Trump (1869-1918) là người đã sinh ra tại Đức, năm 16 tuổi di dân sang Hoa Kỳ và khởi công lập nghiệp bằng nghề hớt tóc, về quê hương cưới vợ và sau đó đưa gia đình qua Mỹ... thì có lẽ ông sẽ tỏ ra biết cảm thông hơn đối với 800.000 người thường được mệnh danh là “Dreamers”, tức những người đã được cha mẹ đưa vào Mỹ lúc còn nhỏ, nhưng chưa bao giờ được chính thức nhìn nhận như người Mỹ, mặc dù họ đang đóng góp rất nhiều cho nước Mỹ, kể cả xương máu khi chiến đấu trong quân đội Mỹ. Số phận của những người này hiện đang được đưa ra như một món hàng để mặc cả giữa một ông tổng thống chống di dân và đảng dân chủ. Giá như Tổng thống Trump nhớ cho rằng ông nội của ông đã tìm đến “miền đất hứa Hoa Kỳ” khi chỉ mới 16 tuổi thì biết đâu trái tim của ông đã chẳng mềm lại đôi chút để biết xót thương hơn 600.000 người El Salvador, tuy đã ở Mỹ từ rất nhiều năm qua, vẫn cứ phải ngày đêm nơm nớp lo sợ không biết sẽ bị trục xuất lúc nào. Thái độ chối bỏ quá khứ của Tổng thống Trump, như triết gia Santayana đã tiên đoán, đã khiến cho lịch sử lập lại: nếu như người Phi Châu đã từng bị người Mỹ da trắng xem như súc vật hay thương phẩm để đổi chác, thì ngày nay từ chính cửa miệng của ông Trump, người dân các nước Phi Châu đã bị khinh miệt như “hố xí” (shithole!)! Mỗi lần nghĩ đến câu nói của ông: “truyền thông là kẻ thù của nhân dân Mỹ”, tôi không thể không liên tưởng đến các chế độ độc tài, nhứt là độc tài cộng sản. Không biết Tổng thống Trump có phải là đồ đệ của Stalin không, nhưng chính đồ tể này đã từng nói rằng “truyền thông là kẻ thù của nhân dân”. Lịch sử dường như đang tái diễn trong một quốc gia được xem là có nền dân chủ kỳ cựu nhứt thế giới!
Nhìn qua Mỹ để rồi nghĩ đến chuyện của Úc Đại Lợi, quê hương thứ hai của tôi. Cũng chẳng khác Mỹ bao nhiêu, Úc Đại Lợi thiết yếu là một đất nước của người di dân. Lịch sử của đất nước này là lịch sử của di dân. Mặc dù khi thi vào quốc tịch, tôi đã không hề bị khảo hạch bằng bất cứ câu hỏi nào về lịch sử của quê hương mới của mình, nhưng là một công dân, tôi thấy mình có bổn phận phải học hỏi về lịch sử của đất nước mình. Nhất là về ngày hôm nay, 26 tháng Giêng, Quốc khánh của Úc Đại Lợi. Năm nào tôi cũng phải ôn lại bài học lịch sử về ngày lễ nghỉ đã và đang gây nhiều tranh cãi này.
Cũng như rất nhiều người Úc, tôi biết rằng ngày quốc khánh “Australia Day” thoạt tiên là ngày kỷ niệm khởi đầu cuộc định cư của người Anh tại Sydney Cove năm 1788, tức cách đây đúng 230 năm. Đó là ngày những chuyến thuyền chở các tù nhân và đợt di dân người Anh đầu tiên cập bến vào Sydney. Tên gọi “Australia Day” chắc chắn đã phản ảnh và hình thành cách hiểu cũng như thái độ của phần lớn người dân Úc đối với quá khứ và hiện tại của nước Úc. Và dĩ nhiên nó cũng gợi lên nhiều điều khác nhau với nhiều người khác nhau vào những thời điểm khác nhau trong lịch sử Úc Đại Lợi.
Với một số người Úc, Australia Day là một cơ hội tuyệt vời để ăn mừng về tất cả những thành tựu của Úc Đại Lợi ngày nay. Cựu Thủ tướng Tony Abbott có thể được xem như đại diện của những người Úc này. Trong một cuộc nói chuyện mới đây trên đài 2GB, ông Abbott khẳng định rằng “điều đã xảy ra trong ngày 26 tháng Giêng năm 1788 là một điều tốt đẹp cho mọi người, kể cả người thổ dân. Đây là một điều tốt đẹp bởi vì nó đã mang nền văn minh Tây Phương đến cho đất nước này. Nó cũng đã mang Úc Đại Lợi vào thế giới hiện đại”.
Nhưng đối lại với cái nhìn ấy, người thổ dân vẫn tiếp tục xem “Australia Day” là một ngày “Ngày xâm lăng” (Invasion Day) hay “Ngày than khóc” (Day of Mourning). Những trang lịch sử vẫn còn đó để xác nhận cái nhìn và cảm xúc của người thổ dân về ngày này. Ngày đó là khởi đầu của một cuộc diệt chủng tàn bạo: người thổ dân bị sát hại hàng loạt như súc vật, văn hóa của họ bị chà đạp, bao nhiêu gia đình bị phân tán, bao nhiêu đứa trẻ bị “đánh cắp”, đủ thứ bệnh tật từ các nước Tây Phương được truyền lây sang cho người thổ dân...Dưới cái nhìn của những người chủ đầu tiên của đất nước này, không gì chính đáng hơn để gọi ngày “Australia Day” là “Ngày xâm lăng” hay “Ngày than khóc”.
Tôi hiểu và cảm thông được nỗi đau mất nước và bị tiêu diệt của người thổ dân. Rất nhiều người Úc mà đại diện là cựu Thủ tướng Kevin Rudd cũng đã nhìn nhận những trang lịch sử buồn thảm ấy. Hai tiếng “xin lỗi” (sorry) mà Thủ tướng Rudd đã đại diện cho toàn dân Úc để ngỏ với người thổ dân cách đây 10 năm (2008) đã nói lên phần nào ý thức của người dân Úc về lịch sử đau buồn ấy. Với 2 tiếng “xin lỗi” ấy với người thổ dân, người dân Úc, dù thuộc màu da, chủng tộc hay văn hóa này, đã muốn bày tỏ cương quyết không để cho lịch sử lập lại, nghĩa là không muốn để cho thái độ kỳ thị, nhứt là miệt thị với một sắc dân nào, xảy ra trong thời đại này.
Có lẽ do ý thức ấy mà ngày “Australia Day” ngày càng tạo ra nhiều tranh cãi hơn. Nhiều hội đồng thị xã đã quyết định không xem “Australia Day” như ngày quốc khánh. Nhiều người đề nghị nên chọn một ngày khác làm ngày quốc khánh. Có người bảo rằng lịch sử đã sang trang. Muốn hay không cũng không thể thay đổi ngày ấy.
Nhưng với tôi, dù có sang trang, lịch sử vẫn còn đó. Quốc gia nào cũng có một ngày quốc khánh. Trong khi chờ đợi Úc Đại Lợi sẽ chọn được một ngày quốc khánh để cho mọi người dân Úc cùng ăn mừng, nhưng đồng thời vẫn không xúc phạm đến tình cảm của người thổ dân, mỗi năm cứ đến ngày 26 tháng Giêng, một người tỵ nạn như tôi,  được Úc Đại Lợi mở rộng vòng tay đến đón nhận, không thể không bày tỏ lòng biết ơn đối với đất nước này. Cùng với tâm tình ấy, lịch sử Úc Đại Lợi cũng nhắc nhở tôi về một trong những đức tính căn bản của một người dân đang sống trong một quốc gia đa văn hóa và đa chủng tộc. Đó là tinh thần khoan nhượng. Úc Đại Lợi ngày nay không còn là Úc Đại Lợi của duy người da trắng nữa. Đất nước này chỉ có thể phát triển và vươn lên bằng sự đóng góp của người dân thuộc mọi màu da, chủng tộc và văn hóa. Sự hài hòa của xã hội này chỉ có thể được xây dựng trên tinh thần khoan nhượng của người dân. Xét cho cùng, lịch sử Úc Đại Lợi, từ một khởi đầu đầy những trang đẫm máu, buồn thảm và đầy bất công, đã dần dần được viết lên bằng bằng các đợt di dân và tinh thần khoan nhượng.
Bài học từ lịch sử Úc Đại Lợi mà tôi thấy cần phải không ngừng  học hỏi  và trau dồi chính là tập sống tinh thần khoan nhượng, tôn trọng  và  cảm thông trước những khác biệt của người khác.