Thứ Hai, 24 tháng 7, 2017

Hoa Kỳ: văn hóa súng đạn!


28/07/17
Một buối tối tuần vừa qua, một người phụ nữ Úc đang sống tại Hoa Kỳ đã gọi số 911 để báo tin cho cảnh sát về một hành động khả nghi đang xảy ra trong khu vực bà đang ở. Một viên cảnh sát đã đến và nã súng vào người phụ này. Nguyên nhân của vụ nổ súng khiến người phụ nữ thiệt mạng hiện vẫn chưa được làm sáng tỏ.
Người phụ nữ Úc tên là Justine Ruszczyk đã định cư tại Minnesota từ năm 2014. Bà đã đính hôn với một người Mỹ. Cái chết của bà đã trở thành một trong những tin hàng đầu tại Mỹ và Úc trong những ngày vừa qua và làm nóng lên cuộc tranh luận vốn đã sôi nỗi về việc mang súng của nhân viên công lực cũng như của thường dân tại Hoa Kỳ.
Theo một bản phúc trình của Cơ quan Điều tra Liên bang FBI của Hoa Kỳ hồi năm 2014, nước này hiện đang có khoảng 900.000 nhân viên công lực.
Nước nào mà chẳng có nhân viên công lực. Nhưng trên thế giới hiện nay chỉ có 19 nước, trong đó có Anh quốc, Ái Nhĩ Lan, Băng Đảo và Na Uy, không  để cho các nhân viên công lực của họ phải mang khí giới. Ba phần tư các nước tại các đảo ở Nam Thái Bình Dương cũng không trao khí giới vào tay các cảnh sát viên. Vậy mà tại những nước trong đó cảnh sát không mang khí giới tỷ lệ giết người bằng súng ống thấp hơn rất nhiều so với những nước trang bị khí giới cho cảnh sát. Có lẽ đây là lý do tại sao, mặc dù phần lớn các nước trên thế giới trang bị khí giới cho nhân viên công lực, một số lại chọn không để cho cảnh sát của họ mang khí giới.
Tại Hoa Kỳ, theo các số liệu của Cơ quan FBI, trong năm 2015 vừa qua, đã có 41 cảnh sát viên bị giết chết trong lúc thi hành công vụ. Với Chương trình “Báo cáo về tội ác của nhân viên công lực”, FBI cũng cho biết thường dân bị cảnh sát giết chết được xếp vào loại “sát nhân có thể biện minh được”.
Theo Chương trình nói trên, từ năm 2008 đến năm 2012, mỗi năm tại Hoa Kỳ có khoảng 400 người bị cảnh sát giết chết. Nhưng nhiều tổ chức bênh vực nhân quyền nói rằng con số này có thể cao hơn. Các tổ chức này nói rằng sở dĩ con số nạn nhân bị cảnh sát giết chết thấp là vì các bản báo cáo của cảnh sát thiếu minh bạch. Theo báo the Washington Post, chỉ tính đến tháng 7 năm nay thôi, con số thường dân bị cảnh sát giết chết đã lên đến 547 người. Tuy nhiên, hầu như cảnh sát viên nào dính líu đến những vụ bắn giết như thế cũng đều được trắng án. Trong năm 2017 này, tính đến nay cũng đã có 3 vụ cảnh sát bắn chết thường dân. Các cảnh sát viên cho biết họ đã phải rút súng và bóp cò vì sợ cho tính mạng của họ. Các cuộn băng ghi lại những gì đã diễn ra tại hiện trường đã được các luật sư trình ra trước tòa án và bồi thẩm đoàn. Nhưng trong cả ba trường hợp, tất cả các cảnh sát viên đều được trắng án.
Con số thường dân tại Hoa Kỳ bị cảnh sát giết chết không chỉ đặt vấn đề về việc cảnh sát Mỹ mang khí giới trong lúc thi hành công vụ mà con nói lên một thực trạng đáng lo ngại là con số thường dân Mỹ có trang bị súng ống. Văn hóa súng ống vẫn mãi mãi là một vấn đề không có giải pháp tại Hoa Kỳ.
Theo một bản phúc trình của Viện Công lý Quốc gia (NIJ: National Institute of Justice) được công bố năm 2009, con số súng ống mà thường dân Mỹ đang sở hữu lên đến 310 triệu. Trên toàn thế giới hiện có khoảng 650 triệu súng ống nằm trong tay thường dân. Điều này có nghĩa là người Mỹ chiếm đến gần một nửa số khí giới  của tư nhân trên toàn thế giới. Đứng hạng nhì thế giới về khí giới của tư nhân, Ấn Độ cũng chỉ có khoảng 46 triệu súng ống hiện nằm trong tay thường dân. Nhìn chung, theo một cuộc thăm dò được tổ chức “Thăm dò về vũ khí nhẹ” (Small Arms Survey) có trụ sở tại Thụy Sĩ thực hiện, kể từ năm 2007, con số khí giới do thường dân sở hữu đã gia tăng. Đây là cơ hội để các công ty sản xuất khí giới ăn nên làm ra!
Theo tổ chức “Thăm dò về vũ khí nhẹ”, rất khó biết được con số khí giới nhẹ hiện có trong tay thường dân trên toàn thế giới: rất nhiều khí giới không được khai báo, các tổ chức buôn bán khí giới bất hợp pháp cũng che đậy và nhất là tại những vùng có xung đột vũ trang, việc kiểm soát và thăm dò lại càng khó khăn hơn.
Nhưng theo các số liệu có thể tin tưởng được, Hoa Kỳ vẫn luôn chiếm giải quán quân về số khí giới của thường dân tính theo đầu người. Theo một cuộc nghiên cứu của Trung tâm Thăm dò Pew Center, cứ 10 người Mỹ thì có 4 người cho biết hoặc là đang  có một cây súng trong tay  hoặc là đang sống trong một ngôi nhà có súng. Cũng theo cuộc thăm dò này, 48 phần trăm người Mỹ nói rằng họ đã lớn lên trong một gia đình có trang bị súng ống.
Cuộc thăm dò nói trên cũng cho biết: 66 phần trăm những người đang có khí giới tiết lộ rằng họ có nhiều loại khí giới khác nhau. Gần ba phần tư những người đang có khí giới trong tay nói rằng họ không thể tưởng tượng được tại sao không sở hữu khí giới.
Yemen, một quốc gia nghèo nàn lạc hậu bên Trung Đông và hiện đang trải qua một cuộc nội chiến tàn khốc từ hơn 2 năm qua,   đứng hàng thứ hai trên thế giới về tỷ lệ sở hữu khí giới tính theo đầu người.  Nhưng nếu so với Hoa Kỳ thì số người thực sự có khí giới cũng chẳng là bao.
Dĩ nhiên, chơi gươm thì chết vì gươm. Theo Tổ chức Y tế Thế giới Who (World Health Organization) Hoa Kỳ là một trong những nước phát triển trên thế giới có tỷ lệ chết vì súng ống cao nhất. Các số liệu của năm 2010 cho thấy con số người Mỹ chết vì súng ống cao gấp 51 lần so với Vương quốc Anh. Theo một cuộc nghiên cứu được cho công bố trên báo the Journal Pediatrics (báo khoa nhi đồng) hồi tháng trước, chỉ riêng trẻ con thôi, con số trẻ em Mỹ chết vì thương tích do súng ống gây ra mỗi năm lên đến trên 1.200 em.
Có đến hai phần ba những người Mỹ đang có súng ống trong tay nói rằng lý do chính khiến họ mua súng là để tự vệ. Tuy nhiên, cuộc thăm dò của Trung tâm Pew Center lại cho thấy phần lớn những cái chết gắn liền với súng ống đều là những vụ “mình tự bắn mình” mà thôi! Những vụ tự tử bằng súng ống tại Hoa Kỳ cao gắp 8 lần so với các nước phát triển khác.
Dĩ nhiên  tỷ lệ sát nhân bằng súng ống tại Mỹ thấp hơn nhiều nước Châu Mỹ La Tinh. Theo cuộc thăm dò của tổ chức “Thăm dò về vũ khí nhẹ”, El Salvador hiện là nước Nam Mỹ có tỷ lệ sát nhân bằng súng ống cao nhất thế giới. Tại nước này, cứ 100.000 dân thì có hơn 90 người chết vì súng ống.
Từ năm 2010 đến năm 2015, một quốc gia khác tại Nam Mỹ là Honduras cũng có tỷ lệ sát nhân bằng súng ống rất cao: cứ trong 100.000 dân thì có khoảng 67 người bị giết chết bằng súng ống.
Venezuela cũng có một tỷ lệ rất cao về những vụ giết người bằng súng ống như thế.
Tuy nhiên nếu xét về những vụ thảm sát, tức những vụ bắn giết gây thiệt mạng cho nhiều người một lúc, thì chẳng có nước nào qua mặt được Hoa Kỳ. Hoa Kỳ vẫn đứng đầu thế giới về những vụ bắn giết tập thể và ở nơi công cộng.
Cuộc tấn công tại Orlando, Tiểu bang Florida hồi năm 2016 đã làm cho 49 người thiệt mạng. Đây là cuộc tàn sát có đông nạn nhân nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Năm 2012, tại Newtown, tiểu bang Connecticut, một thanh niên 20 tuổi tên là Adam Lanza, sau khi giết mẹ, đã cầm súng đến một trường tiểu học và bắn giết 26 em học sinh và một số giáo viên của trường. Năm 2007, 32 người đã bị giết chết trong một vụ thảm sát tại Trường đại học Kỹ thuật Virginia Tech. Trước đó, khủng khiếp hơn nữa, vào năm 1999, một học sinh đã xách súng bắn xối xả vào trường trung học Columbine, Tiểu bang Collorado. Cuộc thảm sát đã làm thiệt mạng 13 người và gây thương thích cho 20 người khác. Đó là những cuộc bắn giết làm thiệt mạng nhiều người. Còn chuyện bắn giết lẻ tẻ xảy ra như cơm bữa thì có lẽ kể ra không xuể.
Những cuộc bắn giết như thế luôn làm nóng dậy những cuộc tranh cãi về việc kiểm soát súng ống tại Hoa Kỳ. Nhưng oái oăm thay, cứ sau một cuộc thảm sát, số người đòi hỏi phải có súng riêng để tự vệ  lại cũng nhiều hơn. Và dĩ nhiên, luật lệ kiểm soát và hạn chế việc bán súng cũng trở nên lỏng lẻo hơn.
Dạo tháng Hai vừa qua, đương kim Tổng thống Donald Trump đã ban hành một biện pháp nhằm xóa bỏ những luật hạn chế việc tư nhân chiếm hữu và sử dụng súng ống dưới thời Tổng thống Barack Obama. Khi đưa ra những hạn chế này, Tổng thống Obama đặc biệt nhắm đến những người mắc bệnh tâm thần. Những người ủng hộ luật kiểm soát súng ống của Tổng thống Obama tin rằng luật này giúp ngăn ngừa được một số vụ tự tử và những cái chết do tai nạn vì súng ống gây ra. Tuy nhiên kể từ khi ông Donald Trump nhậm chức tổng thống và Đảng Cộng Hòa kiểm soát cả Hạ Viện lẫn Thượng Viện, luật kiểm soát súng ống của Tổng thống Obama đã bị đảo ngược. Đặc biệt Hiệp hội Súng Toàn quốc (National Rifle Association) và Liên hiệp các Quyền Tự do Dân sự Mỹ (American Civil Liberties Union) đã kịch liệt chống lại luật kiểm soát súng dưới thời Tổng thống Obama. Liên hiệp các Quyền Tự do Dân sự Mỹ cho rằng không nên gắn liền bạo động với tâm thần. Trong một lá thư gởi cho Quốc hội, Liên hiệp này lập luận rằng không có bất cứ bằng chứng nào cho thấy có sự liên hệ giữa bệnh tâm thần và bạo động, mà trái lại chính những người mắc bệnh tâm thần mới là nạn nhân của bạo động.
Như vậy, phe bảo vệ nền văn hóa súng ống tại Hoa Kỳ lúc nào cũng thắng thế!
Có lẽ Hoa Kỳ vẫn không chịu học bài học về việc kiểm soát và hạn chế súng ống của tư nhân tại nhiều nước trên thế giới. Nhìn chung, bất cứ nơi nào có hạn chế súng ống tư nhân, nơi đó người ta đều thấy các vụ thảm sát giảm hẳn.
Úc Đại Lợi là một trường hợp điển hình. Tại quốc gia miệt dưới này, từ năm 1987 đến năm 1996 đã xảy ra tất cả 4 vụ thảm sát bằng súng ống. Dĩ nhiên so với Hoa Kỳ, con số này chẳng thấm vào đâu. Hơn nữa dân số Úc không bằng một phần mười dân số Mỹ.
Được nhắc đến nhiều nhất là vụ thảm sát xảy ra tại Port Arthur, Tiểu bang Tasmania  dạo tháng Tư năm 1996. Liền sau cuộc thảm sát này, người dân Úc đã kịch liệt  chống lại việc cho phép tư nhân mang súng ống. Trước áp lực của dân chúng, Quốc Hội Úc dưới thời Thủ tướng John Howard đã thông qua những biện pháp nhằm kiểm soát chặt chẽ việc cho phép tư nhân sử dụng súng ống. Kể từ đó đến nay, không còn một vụ thảm sát nào xảy ra tại Úc Đại Lợi nữa.

(Nguồn:http://edition.cnn.com/2017/07/19/world/us-gun-crime-police-shooting-statistics/index.html?sr=homepage-australia)





















Nga: bất đồng chính kiến và bệnh viện tâm thần.


21/07/17
Ilmi Umerov là một nhà tranh đấu thuộc sắc dân Tatar tại Crimea. Tháng Tám năm vừa qua, khi ông đang điều trị về bệnh tim tại một bệnh viện thì một toán lực lượng đặc biệt của Nga đã đến áp tải ông vào một bệnh viện tâm thần.
Ông Umerov đã bị giữ tại bệnh viện tâm thần 21 ngày. Trong suốt thời gian này, nhà tranh đấu 59 tuổi này, mặc dù bị tiểu đường lẫn Parkinson, vẫn không được cho sử dụng thuốc thang đầy đủ. Kết quả là bệnh trạng của ông ngày càng trầm trọng.
Người con gái của ông là cô Ayshe Umerov đã nói với một phóng viên của Đài Al-Jazeera rằng sang ngày thứ tư sau khi bị đưa vào bệnh viện tâm thần, ông đã ngất xỉu. Dù vậy các y sĩ làm việc trong bệnh viện vẫn không chịu chữa trị cho ông. Sau khi được trả tự do, ông Umerov phải mất nhiều tuần lễ mới hồi phục.
Ông Umerov đã bị giam giữ trong một phòng cùng với khoảng 20 bệnh nhân khác, tất cả đều là những người bị rối loạn tâm thần nặng. Ông cho biết: các chuyên gia tâm lý trị liệu bảo ông rằng ông phải nhìn nhận rằng mình đã làm sai và như vậy mọi người sẽ để yên cho ông.
Một trong những luật sư của ông Umerov là ông Emil Kurbedinov còn cho biết thêm là trong các bệnh viện tâm thần, bệnh nhân thường không được cho phép đi tắm và phải chờ đợi cả 17 tiếng đồng hồ mới được cho ăn uống. Cô Ayshe Umerov cũng nói rằng cô và các luật sư của cha cô không được phép vào thăm ông trong tuần lễ đầu tiên khi ông bị giam trong bệnh viện tâm thần.
Theo ông Robert van Voren, giám đốc của Liên minh Sáng kiến Toàn cầu về Tâm lý Trị liệu (Federation Global Initiative on Psychiatry), một tổ chức chuyên theo dõi những vụ vi phạm nhân quyền trong các bệnh viện tâm thần và một số nhà tranh đấu cho nhân quyền, trường hợp của ông Umerov và hàng chục người khác cho thấy Nga hiện đang tái lập việc sử dụng các bệnh viện tâm thần của thời Liên Xô để loại trừ những nhà bất đồng chính kiến .
Vài tháng trước khi giam giữ ông Umerov vào bệnh viện tâm thần, các lực lượng an ninh của Nga đã mở một cuộc điều tra về những hoạt động ly khai của ông.
Đã từng là  quận trưởng tại Bakhchisaray của Crimea, ông Umerov đã lên tiếng phê bình gay gắt việc Nga xâm chiếm Crimea dạo tháng Ba năm 2014.
Ông Rustem Umerov, cha của ông Umerov, là một trong những người sống sót sau lệnh cưỡng bách của Stalin buộc người Tatar phải rời bỏ Crimea hồi năm 1944. Trong cuộc hành trình dài từ Crimea sang Trung Á, chỉ có khoảng 46 phần trăm những người bị lưu đày còn sống sót.
Ông Umerov đã chào đời tại Jizzakh, Uzbekistan. Năm 16 tuổi, lần đầu tiên ông bị mật vụ Nga KGB theo dõi vì đang rải truyền đơn kêu gọi người dân Tatar “lên tiếng” về cuộc lưu đày. Nhưng cũng kể từ đó ông đã từ từ leo lên các bậc thang trong sự nghiệp chính trị mà cao điểm là chức vụ phó thủ tướng Crimea từ năm 1994 đến năm 1997.
Việc chính quyền Nga bắt giữ ông Umerov đã tạo ra một làn sóng phẫn nộ trong cộng đồng thế giới. Mạng lưới Theo dõi Nhân quyền đã gọi đây là một “hành động nhục nhã khi sử dụng bệnh viện tâm thần để buộc ông phải câm miệng và làm hoen ố thanh danh của ông”.
Cùng với ông cũng đã có nhiều nhà bất đồng chính kiến khác phải bị đưa vào các bệnh viện tâm thần như thế. Một bản phúc trình được tổ chức Liên minh Sáng kiến Toàn cầu về Tâm thần cho công bố dạo tháng Tư vừa qua cho biết kể từ năm 2012 đến tháng Tư năm 2017 đã có trên 30 nhà bất đồng chính kiến và các ký giả  bị đưa vào các bệnh viện tâm thần. Có người bị giam giữ đến cả 10 năm.
Hầu hết các trường hợp trên đây xảy ra tại Nga và Crimea, kể từ khi Nga xâm chiếm vùng này. Ngoài ra, tại Uzbekistan và Kazakhstan cũng đã xảy ra những trường hợp tương tự. Theo ông Van Voren, có lẽ con số những trường hợp như thế còn cao hơn nhiều so với những gì đã được chính thức nêu lên trong bản phúc trình.
Theo các tài liệu lịch sử, khi các phương pháp “hợp pháp” để trừng trị một nhà bất đồng chính kiến không còn hiệu quả nữa, chính quyền Nga liền sử dụng các bệnh viện tâm thần để đàn áp các thành phần đối lập.
Dưới thời Liên Xô, vào thập niên 1960, các bệnh viện tâm thần được sử dụng để giam giữ hàng trăm ngàn nhà bất đồng chính kiến. Trong giai đoạn đó, bên kia “Bức Màn Sắt”, thế giới bên ngoài không hề biết có một phương pháp đàn áp dã man như thế.
Theo ông Van Voren, chỉ sau khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, thế giới mới nhìn thấy được những bằng chứng hiển nhiên theo đó, Giám đốc KGB lúc bấy giờ là ông Yuri Andropov và một nhóm phụ tá đặc biệt của ông đã sử dụng các bệnh viện tâm thần như một hệ thống để đàn áp những nhà bất đồng chính kiến. Các văn phòng của KGB tại các cộng hòa khác như Ukraine, đã nhận được các chỉ thị với đầy đủ chi tiết từ Trung ương để sử dụng các bệnh viện tâm thần như một biện pháp phòng ngừa hay để loại trừ những “phần tử phản động” ra khỏi xã hội.
Sử dụng các bệnh viện tâm thần để trừng phạt là một phương pháp rất thuận lợi, bởi vì không như trong các nhà tù, việc giam giữ trong các bệnh viện tâm thần là vô thời hạn. Tù nhân chỉ có thể được thả nếu chịu nhận hành động “sai trái” của mình. Bằng cách đó, các bệnh viện tâm thần có thể giúp các chế độ cộng sản thực hiện “giấc mơ” xây dựng một xã hội đồng bộ về mọi mặt.
Dưới thời Liên Xô, sức khỏe tinh thần phải lệ thuộc vào  ý thức hệ cộng sản. Chủ trương này đã được Chủ tịch Nikita Khrushchev đề ra trong một bài diễn văn hồi năm 1959. Ông nói rằng “có những người đang chống lại chủ nghĩa cộng sản...Rõ ràng là tâm thần của những người như thế không được bình thường”. Một người có sức khỏe tinh thần bình thường phải là một người đi theo chủ nghĩa cộng sản. Vào thập niên 1960, trên toàn lãnh thổ Liên Xô, chỉ có một thứ bệnh duy nhất mà các triệu chứng nhìn thấy được là “có tư tưởng chống Liên Xô”, “ ảo tưởng về cải tổ” và “ấu trĩ”. Tóm lại, đó là thứ bệnh mà chỉ có việc giam giữ trong các bệnh viện tâm thần mới có thể chữa trị được mà thôi!
Với một chủ trương như thế, hầu như bất cứ hành động, tư tưởng hay lời nói nào gợi lên việc chống đối chế độ cũng đều bị gán cho nhãn hiệu “tâm thần”. Dưới thời Liên Xô, đã có không biết bao nhiêu người bị chẩn đoán mắc bệnh tâm thần và bị đưa vào các bệnh viện tâm thần chỉ vì họ có những quan điểm chính trị khác với chế độ. Một khi bị đưa vào bệnh viện tâm thần, bệnh nhân bị cho chích điện mà không cần thuốc tê mê hoặc phải dùng một lượng lớn về thuốc an thần và insulin. Sau chiến tranh lạnh, một ủy ban điều tra tại Moscow đã ghi được tên tuổi của  khoảng 2000 tù nhân chính trị chỉ riêng tại 5 bệnh viện ở Nga.
Khoảng cuối thập niên 1980, khi Bức màn sắt bắt đầu sụp đổ trên toàn Đông Âu, việc sử dụng các bệnh viện tâm thần để loại trừ những nhà bất đồng chính kiến đã được phơi bày; Nga đã bị loại ra khỏi Hiệp hội Tâm lý Trị liệu của thế giới.
Việc sử dụng các bệnh viện tâm thần để giam giữ các nhà bất đồng chính kiến chỉ chấm dứt vào thập niên 1990. Nhưng kể từ khi ông Vladimir Putin lên làm tổng thống Nga từ năm 2000 đến nay, việc sử dụng các bệnh viện tâm thần để loại trừ các nhà bất đồng chính kiến lại được tái lập. Dù đã có nhiều bằng chứng được trưng dẫn, các chuyên gia tâm lý trị liệu của Nga vẫn chối cãi. Trước kia, họ bảo là vì chống Liên Xô mà thế giới mới bịa đặt những chuyện như thế. Nay họ lại cho rằng vì chống Nga của ông Vladimir Putin mà thế giới cũng phịa ra những chuyện như thế! Trong một cuộc phỏng vấn dành cho Nhật báo Nga Novye Izvestiia hồi năm 2015, chuyên gia tâm lý Mikhail Vinogradov nói rằng sử dụng các bệnh viện tâm thần để đàn áp những nhà bất đồng chính kiến là “chuyện tưởng tượng”. Theo ông, phần lớn các cuộc chẩn đoán đều cho thấy nhiều người thực sự mắc bệnh tâm thần chứ không phải vì chính phủ muốn loại trừ hay đàn áp họ.
Ngày nay, cũng như dưới thời Liên Xô, các nhóm tranh đấu cho nhân quyền và các chuyên gia đều khẳng định rằng giam giữ các nhà bất đồng chính kiến vào các bệnh viện tâm thần là một biện pháp phòng ngừa chứ không chỉ là trừng phạt. Nói cách khác, để ngăn ngừa mầm mống “phản động, chính phủ Nga dưới thời Liên Xô và Chính phủ Vladimir Putin cho rằng tốt nhất là nên đưa những kẻ bị tình nghi “phản động” vào các bệnh viện tâm thần.
Giáo sư Gerhard Mangott, hiện đang giảng dạy tại phân khoa chính trị học của Đại học Innsbruck, Áo Quốc, nói rằng dùng các bệnh viện tâm thần để trừng phạt người bất đồng chính kiến là một tín hiệu để cảnh cáo các công dân rằng họ liệu hồn đừng có chỉ trích chính phủ.
Ông Sergei Kovalev, một nhà tranh đấu cho nhân quyền đã từng làm cố vấn về nhân quyền cho Tổng thống Nga Boris Yeltsin nói rằng sử dụng các bệnh viện tâm thần để trừng phạt là chủ trương của Chính phủ Nga nhằm xây dựng một chế độ không có đối lập.
Theo ông Umerov, hiện chính quyền Nga tại Crimea cũng đeo đuổi một chủ trương như thế.
Trong một cuộc phỏng vấn dành cho Báo Hromadske của Ukraine dạo tháng Năm vừa qua, tức một thời gian ngắn trước khi bị bắt giữ, ông Umerov nói rằng điều mà chính quyền Nga mong muốn nhất là dân chúng phải tỏ ra “trung thành” (theo kiểu “trung với đảng hiếu với dân” của mấy ông cộng sản Việt Nam). Sở dĩ chính quyền Nga tại Crimea đòi hỏi như thế là bởi vì hiện nay dân chúng Crimea nói chung vẫn không nhìn nhận quyền của Nga tại Crimea hay chính quyền mà Nga đã dựng lên tại vùng này.
Theo ông Kurbedinov, luật sư của ông Umerov, sau khi ông bị bắt giữ hồi tháng Tám năm ngoái, cũng đã có thêm 10 người Tatar khác bị đưa vào một bệnh viện tâm thần tại Crimea.
Theo ông van Voren, “việc tái lập biện pháp sử dụng bệnh viện tâm thần để đàn áp phe đối lập gắn liền với tình trạng nhân quyền ngày càng tồi tệ tại Crimea và nhất là do việc chính quyền địa phương tại đây cảm thấy có nhiều tự do hơn để đàn áp phe đối lập hơn là trước kia. Tại Crimea kể từ khi bị Nga xâm chiếm năm 2014, pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi độc tài.
Tatar là một nhóm sắc dân Thổ đã di cư đến Crimea từ giữa Thế kỷ 13 đến Thế kỷ 17 sau Công nguyên. Mãi cho đến giữa Thế kỷ 20, họ là sắc dân chính chiếm đa số tại đảo này. Nhưng tháng Năm năm 1944, Stalin ra lệnh trục xuất toàn bộ dân Tatar ra khỏi Crimea, ngay cả những gia đình của các quân nhân đã từng phục vụ trong quân đội Liên Xô. Hầu hết đã bị đày sang Trung Á, nhất là Uzkekistan. Mãi cho đến năm 1967, một số mới được phép trở về Crimea. Hiện nay người Tatar chỉ còn chiếm khoảng 12 phần trăm dân số Crimea. Crimea đã bị “nga hóa” và với lý do này, Vladimir Putin đã đem quân sang xâm chiếm Crimea để gọi là giải phóng người Nga khỏi Ukraine!

Nguồn:
-         https://en.wikipedia.org/wiki/Crimean_Tatars


Thứ Sáu, 21 tháng 7, 2017

Văn minh và khoan nhượng


Chu Thập
14/07/17

Carlos Downell là một người vô gia cư nổi tiếng tại Hoa Kỳ. Thật ra tên tuổi của ông chỉ được nhắc đến sau khi ông qua đời. Ông chết ngày 18 tháng Bảy năm 2012, khi được 58 tuổi. Sau khi ông ra đi người ta đã thu thập được những suy tư vụn vặt của ông và cho xuất bản dưới tựa đề: “Lạc lõng trên nước Mỹ: những suy tư về cuộc sống không nhà” (Lost in America: Essays on Homelessness). Phần lớn những suy tư này được ông Downell viết trong nhà tù, thường là trên những mảnh giấy vệ sinh hay giấy lau mặt. Qua những suy tư ấy, ông Downell đã giải bày một cuộc sống vô cùng khốn khổ. Và nỗi đau mà ông đã nói lên được cũng chẳng khác bao nhiêu so với số phận của hàng trăm ngàn người mỗi đêm phải ngủ bờ ngủ bụi hay trên hè phố tại Hoa Kỳ hay bất cứ ở đâu.
Cô đơn có lẽ là điều khủng khiếp nhứt đối với người không nhà không cửa. Downell tâm sự: “Đôi khi tôi phải khóc. Để khóc tôi phải trùm mền, thu mình lại, nhắm mắt và khóc. Trong thinh lặng, tôi khóc với chính mình. Lúc nhỏ tôi đã học được cách khóc không ra tiếng. Tôi học khóc như thế vì khi tôi còn nhỏ, nếu bà tôi nghe tôi khóc trong phòng, bà sẽ la lên: “Mày có nín không hay là tao sẽ vào phòng mày để làm cho mày nín khóc”. Tôi đã không được phép khóc. Chính vì vậy mà, cũng như tôi đã học được nhiều điều khác, tôi cũng đã học khóc trong thinh lặng, với chính mình”.
Con đường dẫn đến cuộc sống vô gia cư và tù tội của Downell có lẽ cũng giống như những hoàn cảnh đã đẩy đưa không biết bao nhiêu người vào cuộc sống không nhà. Bỏ nhà ra đi, ăn cắp vặt trong các cửa tiệm, tập uống rượu, lạm dụng thuốc ho sirô và cuối cùng là cần sa và ma túy...tưởng đó là những thứ giúp mình thoát khỏi cô đơn, nhưng càng nghiện ngập và lún sâu vào cuộc sống vô gia cư, Downell  càng cảm thấy  cô đơn và tuyệt vọng.
Trong một đoạn khác, ông viết: “Đôi khi tôi khóc và không hiểu tại sao tôi khóc. Đôi khi tôi hiểu. Đôi khi tôi chỉ chơi đàn tây ban cầm. Đây là đường giây trực tuyến của tôi với Thượng Đế. Đây là điện thoại “nguyên tử” của tôi. Tôi đã lạc mất trong sa mạc quá lâu. Tôi đã ở trong sa mạc suốt cuộc đời tôi. Xin hãy đem mưa đến cho tôi” (x.www.psychologytoday.com/blog/the-existential-shrink/201707/lost-in-america).
“Mưa” mà con người khốn khổ này nói đến là những giọt nước mắt của chính mình mà ông cho là có sức thanh tẩy và chữa trị. Nhưng “mưa” mà sa mạc cõi lòng của ông cần đến có lẽ cũng là sự cảm thông của người đồng loại.
Có lẽ hơn bất cứ một sự giúp đỡ nào, điều mà những người vô gia cư như ông Downell cần đến nhiều nhứt chính là thái độ khoan nhượng và cảm thông. Cái nhìn thông thường của nhiều người đối với những người vô gia cư thường là khinh miệt và lên án. Ngày ngày xách cập đi làm, chạm trán với những người ngồi trên hè phố van xin một đồng xu nhỏ để sống qua ngày, người ta chẳng nghĩ trong bụng rằng đó là hạng người lười biếng, chỉ biết hút xách và sống dựa vào người khác đó sao. Có ai hiểu được nỗi cô đơn đang gậm nhấm tâm hồn của những kẻ mà hoàn cảnh đã đưa đẩy vào con đường cùng như thế không?
Nhiều lúc tôi cũng có cái nhìn đầy thành kiến và miệt thị như thế đối với những người vô gia cư và những người nghiện ngập. Những lúc một cái nhìn như thế lóe lên trong ánh mắt của tôi, tôi cảm thấy như nhân cách của mình bị thui chột đi một phần nào. Với tôi, không gì hạ giảm nhân cách cho bằng thành kiến, thái độ bất khoan nhượng và thiếu cảm thông.
Hôm nay 14 tháng Bảy (quen gọi bằng tiếng Pháp là Quatorze Juillet) là ngày Quốc khánh của Pháp quốc. Tôi không thể quên ngày này vì Pháp là trạm dừng chân đầu tiên của tôi trong bước đường tỵ nạn. Tôi đã chọn Pháp làm nơi để đặt chân đến trước tiên trong thế giới tự do bởi vì muốn hay không, ít hay nhiều, tôi cũng đã thấm nhuần văn hóa Pháp. Từ cách suy nghĩ, diễn tả và ngay cả trong việc tuyên xưng và thực hành niềm tin tôn giáo của mình, cho tới giờ phút này tôi thấy mình vẫn không thể nào ra khỏi cái khung của văn hóa Pháp. “Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu” đã nhào nặn tôi với những “nhân nghĩa lễ trí tín” của Khổng giáo. Nhưng “một trăm năm đô hộ giặc Tây” cũng đã để lại một dấn ấn khó tẩy xóa trong bản sắc của tôi.
Chế độ thực dân của Pháp và bao nhiêu nếp hằn trên dân tộc tôi đã trở thành lịch sử. Tôi không thể ngồi đó mà nguyền rủa quá khứ. Ngày hôm nay tôi nhớ đến nước Pháp và bày tỏ lòng biết ơn với đất nước này vì đã mở rộng vòng tay để đón nhận tôi, cho tôi được hít thở không khí tự do và nhứt là tập cho tôi biết sống tinh thần khoan nhượng và cảm thông.
Cuộc Cách mạng ngày 14 tháng Bảy năm 1789 không chỉ là ngày phá ngục Bastille, không chỉ gợi lên một thời kinh hoàng tiếp theo sau đó, mà thiết yếu là hô lớn 3 chữ :Tự do, Bình đẳng và Huynh đệ. Cuộc cách mạng ấy cũng không bùng nổ một cách tự phát mà đã âm ỉ từ nhiều thập niên trước với phong trào thường được gọi là “Thế kỷ Ánh sáng” (Siècle des Lumières hay gọi bằng Anh ngữ là Age of Enlightment). Một trong những nhà tư tưởng nổi bật nhứt trong thời kỳ khai sáng này là Francois Marie Arouet (1697-1778) thường được biết đến dưới bút hiệu Voltaire. Ông đã hai lần bị giam vào ngục Bastille chỉ vì tranh đấu cho quyền tự do tư tưởng và ngôn luận của con người. Ông được gán cho một câu nói thời danh: “Tôi không tán thành điều bạn nói, nhưng tôi sẽ tranh đấu cho tới chết  để bảo vệ quyền được nói điều đó của bạn”. Đây chính là tư tưởng cốt lõi của Phong trào “Thế kỷ Ánh sáng”. Các triết gia của thời kỳ này đứng lên chống lại chế độ quân chủ độc tài cũng như tinh thần bất khoan nhượng của Giáo hội Công giáo vào thời đó.
Cuộc Cách mạng năm 1789, một cách nào đó, cũng là cuộc cách mạng của tự do và tinh thần khoan nhượng. Pháp đã tặng cho Hoa Kỳ bức tượng Nữ thần Tự Do để khẳng định tinh thần khoan nhượng ấy, bởi vì Nữ thần Tự Do là biểu tượng của Tự do, Công lý và Dân chủ. Những ý niệm nền tảng ấy không thể đứng vững được nếu không có tinh thần khoan nhượng.
Ngày 14 tháng Bảy hằng năm, tôi thấy mình phải biết ơn nước Pháp. Dù chỉ là một trạm dừng chân ngắn ngủi của tôi trong đời tỵ nạn, Pháp quốc đã mở ra cho tôi cánh cửa của tự do và khơi dậy nơi tôi tinh thần khoan nhượng và cảm thông. Bỏ nước ra đi, người Việt tỵ nạn chẳng tìm đến Trung Cộng, chẳng gõ cửa Liên Xô hay Nga hoặc bất cứ quốc gia Hồi Giáo nào. Chúng ta tìm đến các nước Tây Phương. Ngày nay, làn sóng tỵ nạn từ nhiều nước Trung Đông hay Phi Châu, Afghanistan, Miến Điện...cũng chỉ muốn được định cư tại một nước Tây Phương. Dĩ nhiên, tại các nước Tây Phương, người tỵ nạn sẽ có được một cuộc sống ấm no, đẩy đủ đã đành, họ cũng hưởng được không khí tự do và cũng như tôi, họ cảm nhận được thế nào là khoan nhượng và cảm thông.
Văn minh Tây Phương cũng chính là văn minh của khoan nhượng và cảm thông. Nền văn minh ấy sẽ chết nếu khoan nhượng và cảm thông không còn là hơi thở của các nước Tây Phương. Bảo tồn nền văn minh Tây Phương cũng chính là đề cao và bảo vệ những giá trị ấy.
Trong chuyến đi Âu Châu vừa qua để tham dự Hội nghị Thượng đỉnh khối G20 của các nước có nền kinh tế mạnh nhứt thế giới hiện nay, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã chọn Ba Lan làm trạm dừng chân đầu tiên của ông. Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã. Tôi hiểu lý do tại sao tổng thống Mỹ chọn Ba Lan làm bãi đáp đầu tiên ở Âu Châu. Trong Liên Âu, Ba Lan, một quốc gia toàn tòng công giáo,  hiện đang đi ngược lại đường lối chung của khối để không nhận người tỵ nạn. Đương kim Tổng thống Ba Lan, ông Andrzej Duda, cũng bài ngoại, chống di dân, nhứt là người Hồi giáo như Tổng thống Trump. Trong bài diễn văn đọc tại Ba Lan, Tổng thống Trump đã nhắc đến hai chữ “Tây Phương” 10 lần và “văn minh của chúng ta”, tức văn minh Tây Phương 5 lần. Ông đặt câu hỏi: “Vấn đề căn bản của thời đại chúng ta là liệu Tây Phương có còn ý chí để sống còn không. Chúng ta có tin tưởng vào những giá trị của chúng ta để bằng mọi giá phải bảo vệ chúng không? Chúng ta có tôn trọng đủ các công dân của chúng ta để bảo vệ biên giới của chúng ta không? Chúng ta có ước muốn và can đảm để bảo tồn nền văn minh của chúng ta trước những kẻ muốn đảo lộn và phá hủy nó không?”
Với tôi, văn minh Tây Phương không chỉ là Kitô Giáo, là những ngôi thánh đường nguy nga, là nhạc cổ điển và nhứt là không chỉ là kỹ thuật và khoa học. Văn minh Tây Phương ngày nay có lẽ cũng chẳng còn là văn minh của riêng người da trắng. Một nước Tây Phương như Hoa Kỳ có lẽ cũng chẳng còn là một nước của riêng người da trắng. Ở mãi miệt dưới như Úc Đại Lợi, dù có được xem như một nước Tây Phương đi nữa, người da trắng cũng không còn là đa số  và Kitô Giáo cũng chẳng còn là tôn giáo nổi trội nữa. Nhưng những giá trị nền tảng làm nên một nước Úc Đại Lợi đa văn hóa và bảo tồn nền văn minh Tây Phương vẫn còn đó. Và cốt lõi của những giá trị đó chính là tinh thần khoan nhượng.
Với tôi, không có khoan nhượng thì cũng chẳng có văn minh. Tôi nghĩ một cách đơn giản như thế khi nghĩ đến mấy ông bà cộng sản Việt Nam. Miệng họ lúc nào cũng ra rả kêu gọi xây dựng “nếp sống văn minh”. Ra khỏi bưng biền rừng rú, họ cũng biết chưng diện như người Tây Phương. Các lãnh đạo của họ cũng có mặt trong các Hội nghị Thượng đỉnh của thế giới. Nhưng họ có thực sự “ngang tầm thời đại” về văn minh chưa? 
Mới đây, Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, người đồng hương Nha Trang của tôi bị những người cộng sản Việt Nam kết án 10 năm tù chỉ vì  thực hiện một trong những tự do căn bản nhứt là quyền được bày tỏ ý kiến của mình. Tôi cho đó là một hành động thiếu văn minh. Bởi lẽ chỉ có những người xài luật rừng mới cư xử với người đồng loại của mình như thế. Xét cho cùng, tất cả mọi chế độ độc tài đều là những chế độ thiếu văn minh.
Tôi không ủng hộ những cuộc biểu tình bạo động chống lại các hội nghị thượng đỉnh của các nhà lãnh đạo quốc gia. Nhưng nhìn vào một số những gương mặt đại diện cho các nước thuộc câu lạc bộ của khối G20  và một số người được mời tham dự Hội nghị Thượng đỉnh vừa qua ở Hamburg, Đức, tôi chỉ thấy xót xa. Không hiểu sao  sự hiện diện của Thủ tướng cộng sản Nguyễn Xuân Phúc, của Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip và nhứt là Chủ tịch Tập Cận Bình của Trung Cộng và của Tổng thống Nga Vladimir Putin...chỉ gợi lên trong tôi  hình ảnh của dùi cui, báng súng, nhà tù và bao nhiêu nhà bất đồng chính kiến đang bị giam giữ.
Với tôi, “thực hiện nếp sống văn minh” trước tiên là phải biết chấp nhận và tôn trọng những khác biệt của người khác và nhứt là biết cảm thông đối với những người khốn khổ xung quanh mình. Người văn minh thực sự thiết yếu phải là người biết sống khoan nhượng và cảm thông.
Và tận cùng của cảm thông và khoan nhượng chính là tôn trọng và bảo vệ Quyền của mỗi một con người được sống như một Con Người.




Thứ Tư, 19 tháng 7, 2017

Già trẻ là chuyện của cái đầu!

Chu Thập
05/02/14
Đầu năm con ngựa, tôi lại mất thêm một cái răng. Răng khôn thì không biết đã mọc ra chưa, nhưng “răng dại” thì cứ từ từ rụng hết. Nằm ngửa người, hả miệng thật lớn cho ông nha sĩ hành hạ, tôi nhắm mắt lại và suy nghĩ về tuổi già. Nếu quả thực “cái răng cái tóc là gốc con người” thì “cái gốc” của con người tôi đã bắt đầu lung lay kể từ khi tôi nhận ra tóc của tôi càng ngày càng thưa và bạc, còn răng của tôi không cánh mà cứ từ từ bay đi hết. Tôi thấy tôi già và tôi cũng tin chắc rằng người khác cũng nhận ra tôi đã già. Đó là một thực tế không thể chối cãi được. Nhưng nơi tôi lại bắt đầu diễn ra một cuộc “đấu tranh tư tưởng” triền miên: “thằng người” tôi nhìn thấy trong gương mỗi ngày cứ mách bảo rằng tôi thực sự đã già, nhưng cũng có một con người khác lại nhắc nhở tôi rằng tôi vẫn còn trẻ. Tôi chợt nghĩ đến điều người ta vẫn thường nói: già trẻ hay không là tùy ở cái đầu của mình!
Theo kết quả của một cuộc nghiên cứu mới đây, người ta già hay không là tùy ở cảm nhận của mình chớ không phải ở tuổi tác. Cuộc nghiên cứu cho thấy rằng những người nào cảm thấy mình già yếu đương nhiên sẽ từ bỏ sự vận động, chấm dứt các sinh hoạt xã hội và như vậy lại càng già mau hơn. Trái lại, những người có thái độ tích cực lại tiếp tục vận động, nhờ đó duy trì sức khỏe thể lý và cũng giữ cho tinh thần được lành mạnh.
Giáo sư Krystal Warmoth, thuộc trường đại học Exeter, Anh Quốc, tin rằng những người già nào tự xem mình là người già yếu đương nhiên sẽ cư xử và hành động như người già yếu. Điều ấy chẳng đáng gây ngạc nhiên, bởi vì tư tưởng lúc nào cũng có sức hướng dẫn hành động con người. Tôi vẫn tin ở sức mạnh của sự tự kỷ ám thị.
Giáo sư Warmoth đã phỏng vấn 29 người già tại miền Tây Nam Anh Quốc và được họ chia sẻ những cảm nghiệm về sự già yếu. Nữ giáo sư này khám phá ra rằng thái độ của một người già có thể khiến cho họ đánh mất sự ham muốn để tham gia vào các sinh hoạt xã hội và hoạt động thể lý để rồi từ đó dẫn đến sức khỏe yếu kém và hạ giảm phẩm chất của cuộc sống. Một người được phỏng vấn đã tóm tắt như sau: “Nếu người ta cứ nghĩ rằng mình già yếu thì họ sẽ hành động như người già yếu”.
Nắm bắt được tác động của những yếu tố tâm lý, tức sức mạnh của tư tưởng, nhiều người già đã không chấp nhận buông xuôi bỏ cuộc cho nên vẫn duy trì được các hoạt động thể lý, tham gia các sinh hoạt xã hội, nhờ đó gia tăng phẩm chất của cuộc sống. Một cuộc nghiên cứu do Cơ quan Bảo vệ Sức khỏe (Health Protection Agency) tại Anh quốc thực hiện hồi năm 2010 cho thấy con số những người tuổi từ 50 đến 80 có quan hệ tình dục với những người bạn tình mới gia tăng. Nói chung, theo các cuộc nghiên cứu, gia tăng tuổi thọ, trẻ mãi không già không tùy thuộc ở thứ thuốc trường sinh nào cả, mà phần lớn là do cái đầu, tức sự suy nghĩ của con người (ninemsn, Mail Online 3/2/2014).
Kết quả của những cuộc nghiên cứu trên đây làm cho tôi nhớ lại một giai thoại đáng suy nghĩ. Đức Phật có một người môn đệ đã đi theo ngài trong nhiều năm. Một hôm Đức Phật hỏi người môn đệ này: “Này tì kheo, năm nay ngươi được bao nhiêu tuổi rồi?” Người tì kheo đáp: “Thưa Đức Phật, con được 5 tuổi”. Ngạc nhiên vô cùng, Đức Phật liền hỏi tiếp: “Chỉ năm tuổi thôi ư? Ta nghĩ ít nhứt ngươi cũng phải 70 tuổi. Sao ngươi lại nói như vậy?” Người môn đệ liền giải thích: “Thưa Đức Phật, con chỉ bắt đầu thiền định cách đây 5 năm. Chỉ từ lúc đó, con mới nhận ra giá trị thực của cuộc đời cũng như của bản thân con. Vì vậy, thưa Đức Phật, năm nay con chỉ mới có 5 tuổi thôi” (x.Francis Xavier, Bài học Vô giá từ những điều Bình dị, nxb tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, trg 145).
Tôi không phải là một tín đồ của Phật Giáo, nghĩa là tôi chẳng bao giờ đến chùa và cũng chẳng  biết thế nào là “cúng dường” nhưng tôi lại thích thiền niệm, dĩ nhiên theo cách thế của tôi. Mới đây, tôi đọc được bài phóng sự về nghệ thuật thiền niệm của ký giả Kate Pickett, đăng trên tạp chí Time số ra ngày 3 tháng 2 vừa qua. Tác giả của bài báo kể lại kinh nghiệm của bà về một lớp thiền niệm kéo dài 8 tuần lễ. Đây là một khóa học hẳn hoi có tên là “Mindfullness Based Stress Reduction” (MBSR) (chánh niệm để hạ giảm sự căng thẳng). Đây là một môn học do một nhà khoa học tốt nghiệp từ đại học MIT nổi tiếng của Hoa Kỳ là ông Jon Kabat Zinn sáng lập. Ông Zinn, năm nay 69 tuổi, đã tốt nghiệp tiến sĩ về sinh vật học. Đầu thập niên 1970, ông tham dự một khóa thiền niệm do một thiền sư hướng dẫn. Ông cho biết kể từ đó ông bắt đầu thiền niệm. Càng thiền niệm ông càng nhận thấy khoa học như thiếu một cái gì đó để giúp cho con người sống như con người. Ngày nọ, ông cảm nhận được một “thần khải”. Ông tự hỏi: liệu có thể sử dụng thiền niệm của Phật Giáo để giúp các bệnh nhân đương đầu với những căn bệnh kinh niên không? Ông cho rằng thực tập chánh niệm có thể giúp các bệnh nhân tập trung sự chú ý và như vậy có thể thay đổi được cách họ đương đầu với cơn đau và hạ giảm được sự đau đớn nói chung. Chính niềm xác tín này đã thúc đẩy ông Jon Kabat Zinn mở các khóa học về thiền niệm. Dĩ nhiên, theo ông,  thực hành chánh niệm không đương nhiên chữa lành được mọi bệnh tật, nhưng có thể giúp con người sống mà không hạ giảm phẩm chất của cuộc sống .
Kể từ khi tiến sĩ Jon Zabat Zinn mở các khóa học về thiền niệm với mục đích giúp hạ giảm sự căng thẳng trong cuộc sống, các khoa học gia đã có thể chứng minh được rằng thiền niệm và thực tập chánh niệm có thể hạ giảm Cortisol trong máu và huyết áp, củng cố hệ thống miễn nhiễm của cơ thể. Các cuộc nghiên cứu khoa học cũng cho thấy rằng thiền niệm có thể tác động trên chính cơ cấu của não bộ. Theo một cuộc nghiên cứu do giáo sư Richard Davidson, sáng lập viên và chủ tịch của Trung tâm Nghiên cứu về Sức khỏe Tinh thần thuộc đại học Wisconsin, Hoa Kỳ thực hiện, những nhà sư phật giáo nào đã thiền niệm trên 10 ngàn giờ đều có một não bộ “tinh nhậy” hơn những người mới tập sự. Dĩ nhiên, không phải ai cũng có thể đạt được trình độ thiền niệm ấy của các nhà sư, nhưng các nhà khoa học cho rằng bất cứ ai thiền niệm cũng đều gia tăng trí nhớ và khả năng tập trung.
Hiện có khoảng 1000 “giảng viên” chuyên dạy về những kỹ thuật chánh niệm có mặt tại hầu hết các tiểu bang của nước Mỹ và tại trên 30 quốc gia. Ký giả Pickett kể lại một trong những bài thực tập đầu tiên của khóa học là ăn một trái nho với tất cả ý thức, nghĩa là chỉ chú tâm vào trái nho và hành động “ăn” nó. Theo tác giả bài báo, bài thực tập này “nhắc  cho chúng ta biết rằng tập trung suy nghĩ vào một điều duy nhứt không phải là việc dễ dàng”. Kỹ thuật tân tiến ngày nay mang lại cho con người khả năng có thể làm nhiều việc một lúc. “Chúng ta có thể vừa theo dõi một trận bóng đá của đứa con mà vẫn có thể trả lời những câu hỏi của một đồng nghiệp. Chúng ta có thể trả tiền nhiều “hóa đơn” một lúc trong khi đang xem truyền hình. Chúng ta vẫn có thể  đặt mua hàng tạp hóa khi bị kẹt xe. Trong thời đại mà xem ra chẳng có ai có đủ thời giờ, các dụng cụ lại cho phép chúng ta được “có mặt” tại nhiều nơi trong cùng một lúc, nhưng với cái giá phải trả là chúng ta chẳng bao giờ hiện diện đầy đủ ở nơi chúng ta đang muốn ở.”
Nói chung, bị “phân tâm” là tình trạng chung của con người thời đại. Càng bị phân tâm, con người càng làm việc một cách máy móc và càng làm việc một cách máy móc, con người càng giảm hiệu năng. Các cuộc nghiên cứu mới đây cho thấy làm nhiều việc một lúc làm giảm hiệu năng. Sinh viên và công nhân thay đổi công việc liên tục ít có khả năng để sàn lọc thông tin và như vậy dễ phạm nhiều sai lầm. Nhưng hậu quả đáng sợ nhứt của tình trạng “phân tâm” chính là sự căng thẳng thần kinh.
Ký giả Kate Pickert kết thúc bài phóng sự bằng một kinh nghiệm bản thân. Sau khi tham dự khóa học, bà không thường xuyên thiền niệm. Nhưng bà cho biết khóa học đã tạo được một thay đổi quan trọng nơi bà: bà bắt đầu mang đồng hồ, nhờ đó bà giảm được hơn một nửa số lần phải mở iPhone để xem giờ và như vậy không bị cuốn hút vào việc đọc email hay lang thang trên mạng. Bà đã có thể chống cự được với cơn cám dỗ phải thường xuyên vào Facebook. Thay vào đó, bà thích ngồi ngắm kẻ qua người lại và lắng nghe từng tiếng động trong thành phố. Bà kết luận: “Âm thanh và nhịp điệu dĩ nhiên vẫn như cũ. Nhưng ngày nay chúng xem ra phong phú và quan trọng hơn.” (x.Time 3/2/2014).
Thiền niệm là để chăm chú lắng nghe cuộc sống nhiều hơn. Lắng nghe từng âm thanh, hơi thở của cuộc sống xung quanh mình để yêu đời, yêu người nhiều hơn. Có lẽ đó là điều mà tôi cũng đã từng cảm nhận được trong cuộc chạy bộ hàng ngày của tôi. Trong từng bước chân, trong từng hơi thở, tôi cố gắng cảm nhận được sự bình an mà cảnh vật xung quanh và những người tôi gặp gỡ có thể mang lại cho tôi.
Tôi chưa một lần ngồi thiền trong tư thế “kiết già”. Tôi cũng chưa từng tập Yoga. Nhưng tôi tin rằng chính những giây phút tôi tập trung sự chú ý để lắng nghe từng tiếng chim hót, nhìn thẳng vào mặt người đối diện để cố gắng chia sẻ niềm vui hay cảm thông với nỗi khổ của người ấy hay chỉ chiêm ngắm một cánh hoa dại thôi...là lúc tôi cũng thiền niệm. Lúc đó tôi thực sự thấy mình yêu đời và yêu người. Tôi tin rằng nuôi dưỡng được tinh thần lạc quan, nếu tôi không đạt được niềm mơ ước “trẻ mãi không già” thì ít ra tôi cũng hạ giảm được nhiều căng thẳng mà cuộc sống hiện đại có thể tạo ra trong tôi.
Như người tỳ kheo môn đệ của Đức Phật, có lẽ năm nay tôi cũng nói rằng tôi chỉ mới được 4 tuổi. Đó là khoảng thời gian tôi đã bắt đầu chạy bộ mỗi ngày để chiến đấu chống lại các bệnh tiểu đường và tim mạch. Tôi không biết tôi sẽ chiến đấu cho tới ngày nào. Dĩ nhiên, 4 năm cũng đủ để tôi bước một bước thật dài tiến tới tuổi già. Nhưng “cái đầu” của tôi lại cứ bảo tôi rằng bao lâu tôi chưa chịu đầu hàng và buông xuôi để ngồi một chỗ mà than thở hay than thân trách phận, tôi vẫn có thể giữ được một tinh thần tươi trẻ và yêu đời. Thật ra cũng chẳng phải vì cái đầu của tôi bướng bỉnh, mà chính là nhờ vận động, tôi thường quên ‘phứt’ đi cái thực tế tuổi già của mình.
Đây là kinh nghiệm mà tôi chỉ muốn chia sẻ với một vài ông “bạn già” của tôi  để, như một lời cầu chúc đầu năm, nhứt là trong năm Con Ngựa đang “phi đường xa” này, họ cũng bắt tay vào việc tập thể dục hằng ngày hầu được thực sự khỏe mạnh và khang an.





Thứ Hai, 17 tháng 7, 2017

Boko Haram: cơn ác mộng triền miên của các nạn nhân!




14/07/17
Tổ chức khủng bố Boko Haram, Nigeria, đã bắt giữ bé gái Fatima của bà Fatsuma. Nhưng sau một năm bị giam giữ, em đã trốn thoát và hiện đã đoàn tụ với gia đình tại một trại tỵ nạn dành cho những người phải di tản vì cuộc chiến chống lại tổ chức khủng bố này. Người mẹ nói rằng đứa con gái 14 tuổi của bà đã không còn một chút tin tưởng nào nơi bà nữa. Suốt ngày nạn nhân của Boko Haram ngồi im thin thít. Nếu có phá vỡ sự thinh lặng thì cũng chỉ để bày tỏ sự giận dữ mà thôi. Với bà Fatsuma, con gái bà đã hoàn toàn thay đổi. Bà tin rằng chính vì bị Boko Haram buộc phải chứng kiến cảnh họ giết anh trước mặt mình nhưng không được khóc mà trái tim của Fatima đã hoàn toàn bị chai cứng. Điều đáng lo ngại nhất là để khuây khỏa, Fatima lại hát những bài ca của Boko Haram.
Boko Haram là một tổ chức hồi giáo cực đoan được thành lập tại Maiduguri, đông  bắc Nigeria, Phi Châu năm 2002. Giải thích Kinh Coran của Hồi giáo một cách cực đoan và chống lại văn minh Tây Phương, Boko Haram đã biến thành một lực lượng quân sự năm 2009, kiểm soát được một vùng rộng lớn hơn cả nước Bỉ và cũng tự xưng là một “quốc gia Hồi giáo”. Nhưng năm 2016, trước sự phản công của một liên minh quân sự, Boko Haram đã mất dần lãnh thổ. Cuộc chiến do Boko Haram gây ra đã làm cho trên 20.000 người thiệt mạng. Nhưng vết thương do tổ chức khủng bố Hồi giáo này tạo ra vẫn không bao giờ được chữa lành.
Vì không có những dữ liệu chính thức, hiện vẫn chưa biết được có bao nhiêu đứa trẻ như Fatima đã trốn thoát khỏi sự giam giữ của Boko Haram. Các tổ chức nhân đạo ước tính có đến hàng chục ngàn nạn nhân đã và đang chịu khổ đau trong thân xác cũng như tinh thần vì bị bắt cóc, đầu độc và đối xử dã man. Có những đứa trẻ chỉ mới 3 tuổi bị kéo ra khỏi giường ngủ và ném vào  bao bố; những em 6 tuổi đã bị cưỡng bách phải chứng kiến cảnh cha mẹ bị hành hạ và giết chết. Còn các thiếu niên thì lại bị bắt phải cầm súng chiến đấu trong một cuộc chiến mà chúng hoàn toàn không hiểu là gì.
Thế giới chỉ thật sự biết đến Boko Haram và tội ác của tổ chức này vào đêm 14 tháng Tư năm 2014. Trong đêm đó, các chiến binh của Boko Haram đã tấn công vào phòng ngủ tại một ký túc xá  của một trường trung học ở Chibok và bắt đi 276 nữ sinh. Cuộc bắt cóc này đã làm phát sinh phong trào “Hãy đưa con gái chúng tôi về” (Bring Back Our Girls), nhờ đó gây được ý thức trong cộng đồng thế giới về số phận của những các nạn nhân của Boko Haram.
Ngày 6 tháng Năm vừa qua, sau 3 năm bị giam giữ, 82 trong 276 nữ sinh bị bắt cóc đã được Boko Haram trả tự do để đổi lấy 5 lãnh tụ của họ bị Chính phủ Nigeria giam tù. Được về đoàn tụ với gia đình trong trại tỵ nạn hay tại quê nhà, các em này vẫn không bao giờ có được cuộc sống bình thường. Đây là tình trạng chung của tất cả những thiếu nữ nào đã từng bị Boko Haram bắt cóc. Đón nhận các em trở về nhưng các cộng đồng vẫn chưa chuẩn bị đủ để đối phó với những vết thương hầu như không thể chữa lành của các em. Hầu hết đều đã bị đánh đập, bỏ đói và bị cưỡng bách phải tham gia vào các cuộc tàn sát diễn ra như những nghi thức. Rất nhiều em bị hãm hiếp. Fatima vẫn sống mãi với những  cơn ác mộng về những ngày em bị cưỡng bách phải ném đá một cặp vợ chồng vì phạm tội ngoại tình. Em nói: “Tôi không muốn làm điều đó. Nhưng nếu chúng tôi không ném đá, họ sẽ giết chúng tôi. Ngay cả khi bạn khóc, họ cũng sẽ dùng báng súng để tống vào hông bạn”.
Hiện Chính phủ Nigeria đang dồn mọi nỗ lực vào việc ổn định vùng đã từng bị Boko Haram kiểm soát và bảo đảm an ninh để 2 triệu người phải di tản vì cuộc chiến có thể trở về nhà. Nhưng đối với những người đã từng bị Boko Haram bắt cóc, nhà chưa hẳn là một mái ấm. Các cộng đồng của họ nhìn họ bằng nửa con mắt vì xem họ như những cảm tình viên của Boko Haram hoặc ruồng bỏ họ vì cho rằng trong thời gian bị giam giữ họ đã bị tẩy não. Bạn bè, hàng xóm và ngay cả gia đình cũng chế nhạo họ như những “annoba”, tức cùi hủi. Đây là từ thường được dùng để chỉ vi khuẩn Ebola vốn có thể lây lan cho bất cứ ai đến gần các nạn nhân. Không được chữa trị, các nạn nhân bị Boko Haram bắt cóc sẽ không bao giờ có thể tái hội nhập vào xã hội. Và dĩ nhiên nếu không cảm thông với nỗi khổ đau họ đã trải qua, các cộng đồng cũng không bao giờ có thể đón nhận họ.
Một số chuyên gia tâm lý làm việc với những đứa trẻ đã từng bị Boko Haram bắt cóc cho biết nhiều em hầu như trở thành câm điếc. Nhưng khi họ mang đồ chơi đến thì các em bất thần có một phản ứng bạo động: các em vặn cổ các con búp bê, còn các chiến xe nhựa thì các em đập nát. Sau vài tuần lễ làm việc, các chuyên gia tâm lý mới hiểu rằng trong thời gian giam giữ các em, Boko Haram đã đánh đập các em mỗi lần các em gây tiếng động. Các chiến binh của tổ chức khủng bố này dạy các em sử dụng đồ chơi (dĩ nhiên của Tây Phương) là một điều xấu. Bất cứ em nào bị bắt gặp đang cầm đồ chơi trong tay đều bị đánh đập tàn nhẫn.
Một bé trai 12 tuổi bị giam giữ hơn 2 năm cho biết: tất cả các em bị bắt cóc đều bị buộc phải học thuộc lòng Kinh Coran. Chỉ cần đọc sai một chữ, các em cũng có thể bị đánh đập. Những lúc không phải học Kinh Coran, các trẻ em trai phải đi do thám hoặc tải vũ khí. Còn các trẻ em gái thì phải đi lấy nước, củi cũng như giặt quần áo.
Mỗi ngày các em phải tham dự các lớp học về các hình phạt: từ trộm cắp đến phạm thượng, ngoại tình và bất tuân phục. Hầu như ngày nào các em cũng phải chứng kiến 5, 6 lần xử tử. Một bé gái tên là Yakura đã bị bắt cóc khi chỉ mới được 4 tuổi. Hai năm sau, em đã trốn thoát được. Yakura nói rằng em không bao giờ có thể xóa bỏ khỏi trí óc hình ảnh của những cuộc xử tử. Theo các chuyên gia tâm lý, ngày nào cũng phải chứng kiến những hình ảnh hãi hùng như thế, trẻ con trở thành vô cảm trước bạo động và như vậy cũng thường dễ trở thành bạo động; chỉ cần một cuộc cãi vã nhỏ nhặt cũng có thể đưa các em tới chỗ bạo động. Các chiến bình Boko Haram thường buộc trẻ con phải giết chính cha mẹ mình nếu họ bị tình nghi ủng hộ chính phủ. Một đứa trẻ có thể giết được cha mẹ mình thì đương nhiên cũng có thể làm bất cứ điều gì.
Đại diện của Quỹ Nhi Đồng của Liên Hiệp Quốc UNICEF tại Maiduguri cho biết nhiều trẻ em trai bị buộc phải cầm súng chiến đấu cho Boko Haram. Bị tẩy não hay bị cưỡng bách, các em đành phải cầm súng tấn công vào chính làng mạc và dân chúng. Ngay các trẻ em gái, một khi bị tẩy não, cũng trở thành chiến binh của Boko Haram. Fatima G, một bé gái đã từng bị bắt cóc cùng một lúc với Fatima, vẫn còn bị ám ảnh về việc nhiều người bạn của em đã bị Boko Haram biến thành những người ôm bom tự sát. Thông thường những em này được đối xử một cách đặc biệt và được đầu độc bởi hào quang sáng chói của “từ đạo”. Một số được cho dùng ma túy. Fatima G chỉ biết được số phận của những người bạn của mình khi nghe nói có những cuộc đánh bom tự sát và khi các chiến binh Boko Haram mở tiệc ăn mừng. Nhưng cứ mỗi lần xảy ra một vụ tấn công tự sát do các bạn của mình thực hiện, Fatima G chỉ biết thinh lặng cầu xin Thượng Đế cứu các bạn của mình và các nạn nhân của họ. Em cho biết ít nhất 15 em trong số các bạn của mình đã chết vì đánh bom tự sát. Theo lời khai của 82 nữ sinh Chibok được trả tự do dạo tháng Năm vừa qua, có 11 em trong số 276 em bị Boko Haram bắt cóc đã bị biến thành những trái bom tự sát. Tối ngày 25 tháng Sáu 2017 vừa qua, 6 thiếu nữ đánh bom tự sát đã tấn công vào nhiều mục tiêu tại Maiduguri. 15 người thiệt mạng kể cả các thiếu nữ đánh bom tự sát. Kể từ năm 2014 đến nay, Boko Haram đã sử dụng ít nhất 117 thiếu nhi để thực hiện những cuộc đánh bom tự sát. Có trên 80 phần trăm những em này là bé gái. Nhiều em chỉ mới 6 tuổi. Sở dĩ các bé gái được Boko Haram dùng để đánh bom tự sát là bởi vì xã hội thường xem các em là những thành phần vô hại cho nên ít khi chận lại để xét hỏi.
Sống dưới trướng của Boko Haram thì bị hành hạ, sử dụng để đánh bom tự sát và nhất là bị hãm hiếp, nhưng trốn thoát hay được trả tự do để về đoàn tụ với gia đình và hội nhập vào cộng đồng cũng không yên. Đó là số phận bi thảm của các bé gái bị Boko Haram bắt cóc.  Tất cả những bé gái hay thiếu nữ nào bị hãm hiếp hay bị cưỡng bách phải lấy các chiến binh của Boko Haram đều bị gọi một cách khinh bỉ là “vợ của Boko”. Các cộng đồng nơi họ trở về tái hội nhập thường ruồng rẫy họ vì cho là họ đã ăn nằm với kẻ thù. Trở lại trường học thì mang mặc cảm, lập gia đình cũng không xong, mà làm ăn trong làng cũng bị tẩy chay. Những đứa trẻ mang giọt máu của các chiến binh  Boko Haram lại càng bị khinh bỉ hơn: cộng đồng và gia đình xem chúng như những đứa trẻ nguy hiểm và bị phù thủy ám hại. Nhiều đứa trẻ chào đời trong một hoàn cảnh bất hạnh như thế thường bị cộng đồng  và đôi khi ngay cả gia đình tìm cách sát hại.
Dada là một bé gái ở làng Banki, đông bắc Nigeria. Khi bị Boko Haram bắt cóc em chỉ mới được 11 tuổi. Em đã bị cưỡng bách phải lấy một chiến binh Boko Haram. Lúc đó em chưa hề có bất cứ một ý niệm nào về việc mang thai. Em chỉ biết rằng chỉ vài tháng sau khi bị ép làm vợ người chiến binh này, bụng em đã bắt đầu lớn dần. Em đã trốn thoát được khi bào thai đã được 8 tháng. Trên đường chạy trốn, em đã sinh đứa bé và sau đó được đoàn tụ với gia đình tại Maiduguri. Dada ôm con trong lòng chẳng khác nào một người chị gái ôm đứa em. Em không dám trở về làng, vì sợ bị ruồng rẫy cũng như lo cho số phận của đứa con. Giấc mơ trở thành cô giáo của em cũng tan thành mây khói. Em chỉ còn lại một chút hy vọng là con mình được cắp sách đến trường. Em hứa với lòng là sẽ không bao giờ tiết lộ cho đứa bé cha nó là ai.
Nhưng muốn hay không, cũng như Fatima và bao nhiêu nạn nhân khác của Boko Haram, Dada sẽ chẳng bao giờ quên được cơn ác mộng về tổ chức khủng bố Hồi giáo cực đoan này.

(theo Aryn Baker,  Boko Haram’s Other Victims, Time July 10/July 17, 2017)