Thứ Sáu, 19 tháng 5, 2017

Không ai nghèo hơn vì trao tặng


Chu Thập
12/05/17

Gần đây, mỗi tuần đôi ba lần, trên con đường chạy bộ hàng ngày, tôi thấy có 3 người phụ nữ tiếp tục làm công tác của “Ngày làm sạch Úc Đại Lợi” (Clean up Australia Day). Một tay cầm một cây gậy nhỏ có chiếc móc nhọn, một tay cầm một chiếc bị ni lông, họ vừa đi vừa nhặt rác rưởi, đồ phế thải vứt bừa bãi dọc đường. Điều quan trọng tôi đặc biệt chú ý đến 3 người phụ nữ này là: lúc nào họ cũng tươi cười và chào hỏi mọi người.
Tôi lại nghĩ đến đứa cháu ngoại 3 tuổi  của bà chị tôi. Thấy người lớn làm bất cứ chuyện gì nó cũng xáp tới đề nghị: “con muốn giúp đỡ” (I want to help, I am happy to help). Tôi nghĩ: tự bản chất có lẽ ai cũng cảm thấy vui khi biết mình còn hữu dụng!
Đây là tư tưởng của Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng mà tôi đã  đọc được trên báo Reader’s Digest số ra tháng Năm 2017 này (x.The Dalai Lama and Arthur C. Brooks,  Behind Our Anxiety, the Fear of Being Unneeded, Reader’s Digest, May 2017)
Nhận định về tình hình thế giới ngày nay, nhà lãnh đạo Phật Giáo Tây Tạng nói rằng bạo động vẫn còn xảy ra tại nhiều nơi trên thế giới và rất nhiều người vẫn còn sống dưới nanh vuốt của các chế độ độc tài. Và mặc dù tất cả mọi tôn giáo lớn trên thế giới đều dạy phải sống yêu thương, cảm thông và khoan nhượng, nhưng  thật không thể tượng được là người ta lại nhân danh tôn giáo để gây bạo động.
Thế giới ngày nay có ít người nghèo hơn, có ít người đói khổ hơn, có ít trẻ con chết hơn và ngày càng có nhiều người biết đọc biết viết hơn. Tại nhiều nước, nhìn nhận quyền và phẩm giá người phụ nữ cũng như quyền của các nhóm thiểu số đã trở thành luật pháp. Tuy nhiên, điều kỳ lạ là tại một số quốc gia giàu có, con người lại dễ chiều theo cơn phẫn nộ và thái độ  bất mãn. Tại Hoa Kỳ, Anh Quốc và trải dài trên khắp lục địa Âu Châu, dân chúng bất mãn với nhà cầm quyền và lo lắng cho tương lai. Trong khi người tỵ nạn và di dân chỉ mong có cơ hội được sống trong những xứ sở an toàn và thịnh vượng này thì chính những người đang sống trong những vùng đất hứa ấy  lại tỏ ra bất mãn và gần như thất vọng về tương lai của họ.
Đức Đạt Lai Lạt Ma tự hỏi “tại sao?” và ngài đã dựa vào một số cuộc nghiên cứu khoa học để mang lại cho chúng ta câu trả lời. Theo ngài, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng những người công dân lớn tuổi mà không cảm thấy hữu dụng cho người khác đều có nguy cơ chết sớm gần như cao gấp 2 lần so với  những người  còn cảm thấy mình  là người hữu dụng. Đức Đạt Lai Lạt Ma kết luận: “Điều này nói lên một sự thật căn bản về con người: tất cả chúng ta đều cảm thấy muốn được hữu dụng”, nghĩa là cảm thấy hạnh phúc và nhận ra ý nghĩa của cuộc đời khi thấy mình còn hữu dụng cho người khác.
Vị Ban thiền Lạt Ma thứ 14 giải thích rằng cảm thấy hữu dụng không có nghĩa là ích kỷ, tự kiêu hay tìm kiếm sự tán thưởng của người khác mà trái lại là một nhu cầu tự nhiên muốn phục vụ người đồng loại. Ngài trích dẫn câu nói của  một nhà hiền triết Phật Giáo ở  Thế kỷ 13: “Nhóm lên một ngọn lửa cho người khác cũng chính là soi đường cho chính mình”.
Tất cả mọi tôn giáo lớn trên thế giới đều dạy rằng phục vụ người khác là điều cao quý nhứt trong bản tính con người và như vậy cũng mang lại hạnh phúc cho con người. Các cuộc thăm dò và nghiên cứu khoa học cũng chứng minh điều đó. Những người Mỹ nào đặt việc phục vụ người khác lên hàng ưu tiên đều cho biết họ rất hài lòng về cuộc sống của mình. Tại Đức, những người tìm cách phục vụ xã hội cũng nói rằng họ hạnh phúc. Tỷ lệ của những người được hạnh phúc như thế cao gấp 5 lần những người không xem trọng việc phục vụ. Phục vụ vô vị lợi và niềm vui luôn đan xen với nhau. Càng cảm thấy gần gũi với người khác, chúng ta càng cảm thấy hạnh phúc hơn.
Theo Đức Đạt Lai Lạt Ma, đây chính là lý do tại sao đau khổ và giận dữ là điều rất phổ biến trong các nước giàu có hiện nay. Vấn đề không phải là vì họ thiếu thốn của cải vật chất, mà chính là cảm thấy mình không còn hữu dụng cho xã hội nữa.
Tại Hoa Kỳ ngày nay, so với 50 năm trước, số người không có công ăn việc làm ngày càng gia tăng. Dĩ nhiên, tình trạng này không chỉ xảy ra tại các nước phát triển và hậu quả không chỉ ảnh hưởng đến kinh tế. Cảm thấy mình thừa thãi vô dụng là một chấn thương nặng đối với con người. Cảm giác này đưa con người đến chỗ cô đơn và tạo điều kiện cho những cảm xúc tiêu cực phát sinh.
Làm gì để vượt qua tình trạng này? Đức Đạt Lai Lạt Ma cho rằng câu trả lời hoàn toàn có tính cách cá nhân. Mỗi người, ai cũng có một giá trị để chia sẻ. Mỗi người cần phải bắt đầu mỗi ngày bằng cách tự hỏi: “Hôm nay tôi có thể làm gì để đón nhận những món quà mà người khác trao tặng cho tôi?”  Tình huynh đệ đại đồng không phải là một ý tưởng trừu tượng, mà phải là một cam kết mà mỗi người cần phải làm mỗi ngày. Mỗi người chúng ta có trách nhiệm phải thực hiện cam kết đó cho đến khi nó trở thành một thói quen. Nhưng dĩ nhiên những người đang có trách nhiệm đặc biệt trong xã hội cần phải xây dựng những xã hội trong đó tất cả mọi người đều có một chỗ đứng và cảm thấy mình là người hữu dụng. Các nhà lãnh đạo cần phải nhìn nhận rằng một xã hội biết cảm thông phải tạo ra vô số cơ hội cho những công việc có ý nghĩa để mỗi người còn có khả năng đóng góp đều có thể làm được.
Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng “một xã hội biết cảm thông phải cung cấp cho trẻ con một nền giáo dục và một sự đào luyện làm cho cuộc sống của chúng được phong phú cả về những kỹ năng thực tế cũng như sự hiểu biết về những giá trị đạo đức. Chỉ có như thế chúng mới cảm thấy an toàn về đời sống kinh tế và có được an bình nội tâm. Một xã hội biết cảm thông phải bảo vệ những thành phần dễ bị tổn thương bằng cách đề ra những chính sách không lừa con người vào khốn khổ và lệ thuộc”.
Dĩ nhiên xây dựng được một xã hội như thế không phải là điều dễ dàng. Không có ý thức hệ hay đảng phái chính trị nào nắm giữ mọi  giải pháp. Thật ra, con người vẫn có thể kết bạn với nhau và hợp tác với nhau mà không nhứt thiết phải có cùng quan điểm chính trị hay ngay cả cùng một tôn giáo. Chỉ cần biết cảm thông, chấp nhận phẩm giá con người, nhận ra sự hữu ích nội tại của mỗi một con người cũng đủ để xây dựng một thế giới tốt đẹp và có ý nghĩa hơn.
Với cái nhìn lúc nào cũng lạc quan, Đức Đạt Lai Lạt Ma cho rằng ngọn lửa của bất mãn và giận dữ đang quét qua các xã hội đã từng được xem là an toàn và thịnh vượng cho thấy con người thời đại không hài lòng với của cải vật chất họ đang có. Họ muốn nói lên rằng họ đang đói khát một của ăn tinh thần sâu xa hơn: đó là muốn được hữu dụng cho người khác!
Đức Đạt Lai Lạt Ma kêu gọi: “Chúng ta hãy bắt tay nhau xây dựng một xã hội biết nuôi dưỡng sự khao khát  ấy”.
Có lẽ Đức Đạt Lai Lạt Ma đã đưa ra lời kêu gọi trên đây trong bối cảnh của phong trào dân túy đang lên cao tại nhiều nước Tây Phương hiện nay. Từ Brexit bên Anh đến hiện tượng Donald Trump bên Mỹ và cơn sốt Marine Le Pen tại Pháp, người ta thấy một mẫu số chung: chính trị gia dân túy nào cũng gãi đúng chỗ ngứa của phẫn nộ, bất mãn và bài ngoại của nhiều người dân.
Riêng tại Hoa Kỳ, tinh thần bài ngoại và chống di dân không chỉ mới xuất hiện với Tổng thống Donald Trump. Cách đây hơn 70 năm, một người tỵ nạn nổi tiếng tên là Anne Frank (1929-1945) cũng đã từng bị từ chối vào nước Mỹ chỉ vì thành kiến và những nỗi sợ hãi vô lý của người dân. Theo những tài liệu mới được tìm thấy năm 2012, cha của Anne Frank, ông Otto Frank đã  gởi nhiều lá thư đến các viên chức Mỹ để xin phép được cùng với gia đình di cư sang Hoa Kỳ. Đây là những lá thư mà ông Frank đã gởi đi giữa  tháng 4 và tháng 12 năm 1941, nghĩa là chỉ vài tháng sau khi Đức Quốc Xã xâm chiếm Hòa Lan, nơi mà gia đình của ông đã  từ Đức trốn sang để tá túc.
Cuối năm 1941, sau khi lời kêu cứu  bị từ chối, gia đình ông Frank đã phải đi lẩn trốn trong vòng hai năm cho đến khi họ bị khám phá và đưa đến trại tập trung Auschwitz, Ba Lan. Năm 1945, Anne  và người chị Margot đã chết vì bệnh thương hàn trong tại trại tập trung Bergen-Belsen.
Theo tài liệu, khoảng 10.000 trẻ em tỵ nạn Đức, đa phần là Do Thái, đã cùng chia sẻ số phận với Anne Frank. Được biết ngay từ tháng Giêng năm 1939, đã có đề nghị Hoa Kỳ nên đón tiếp số trẻ em này. Nhưng kết quả của một cuộc thăm dò ý kiến cho thấy có đến 61 phần trăm dân số Mỹ chống lại đề nghị, với lý do sợ Đức Quốc Xã cài gián điệp vào, nhưng lý do chính vẫn là sợ những trẻ em này sẽ mang mầm mống tội phạm vào nước Mỹ. Dĩ nhiên, đàng sau những lý do đó vẫn là óc bài ngoại và kỳ thị chủng tộc.
Với quyển nhựt ký đã được dịch ra hầu hết các thứ tiếng trên thế giới, Anne Frank, dù chỉ là một cô gái vị thành niên, đã trở thành một bậc thày nổi tiếng về nhân bản. Ai đó đã nói: “Không ai nghèo đến độ không có gì để trao tặng và cũng chẳng có ai giàu có đến độ không còn gì để nhận lãnh”. Riêng Anne Frank đã để lại một câu mà tôi cho là có thể tóm lược toàn bộ tư tưởng nhân bản của cô. Anne Frank viết trong nhựt ký: “Chẳng bao giờ có ai nghèo hơn vì trao tặng” (no one has ever become poor by giving).
Tính cho đến năm 2015, quyển nhựt ký của Anne Frank đã được dịch sang tất cả 60 thứ tiếng trên thế giới. Chính cái nhìn sâu sắc và lạc quan của cô gái 15 tuổi này đã thu hút được độc giả ở mọi nơi và mọi thời đại. Trong 2 năm lẩn trốn Đức Quốc Xã, bị hoàn toàn cách ly với thế giới bên ngoài, vậy mà cô gái bắt đầu viết nhựt ký khi chỉ mới 13 tuổi này đã ghi lại trong nhựt ký của mình: “Dù cho điều gì có xảy ra đi nữa, tôi vẫn còn tin rằng con người tự bản chất thật sự tốt”.
Cái nhìn lạc quan của Anne Frank về tính “bản thiện” của con người nhắc nhở tôi về những chân lý nền tảng trong cuộc sống: chẳng có ai nghèo đến độ không có gì để trao tặng cho người khác và sự giàu có đích thực của con người không hệ tại ở của cải vật chất, quyền thế và danh vọng. Nhưng thiết yếu hơn cả, con người chỉ thực sự cảm thấy hạnh phúc khi họ biết mở rộng trái tim và bàn tay để trao tặng.






Thứ Tư, 17 tháng 5, 2017

Kẻ không nhà


Chu Thập
15.10.13
Tôi thường đi câu vào lúc hoàng hôn và buổi sáng sớm. “Nhứt chạng vạng, nhì rạng đông”. Đây là bài học vỡ lòng tôi đã học được từ lúc mới có trí khôn. Đây là lúc cá ở đâu cũng thích cắn câu. Đặc biệt là cá ở vùng tôi ở. Chúng nó “ăn” theo giờ hành chính: sáng thì từ 5 đến 7 giờ, chiều cũng từ 5 đến 7 giờ. Bên ngoài thời khóa biểu này, phải kiên nhẫn lắm may ra mới được chúng chiếu cố.
“Chạng vạng và rạng đông” cũng là những khoảnh khắc đẹp nhứt trong ngày. Đi câu nhằm lúc cá “đi nghỉ hè”, biến đi đâu hết, thì bỏ cần đứng ngắm cảnh hoàng hôn hay mặt trời lên, nhìn mây trôi lãng đãng hay nghe chim gọi nhau về tổ hoặc cất tiếng chào bình minh…cũng đủ gỡ lại vốn! Những lúc như thế, tôi thường nghêu ngao bản nhạc tiền chiến “Con Đường vui” mà tôi thường hát khi còn học tiểu học: “Đoàn người tưng bừng về trong sương gió. Hồn như đám mây trắng lững lờ. Giang hồ không bờ không bến, đẹp như kiếp “Bô Ê Miên”. Kiếp “Bô Ê Miên” (Bohemien) thì mãi sau này khi đến Pháp tôi mới biết nó như thế nào: xuất thân từ miền Bohemie ở Đông Âu, những người mà dân Pháp gọi là Gitan, Tsigane hay người Anh gọi là Gipsy đã chọn lối sống du mục ngay trong lòng thành phố. Họ không định cư ở một nơi nhứt định, cũng chẳng chịu ở trong một ngôi nhà an toàn có đầy đủ tiện nghi mà lại lang thang nay đây mai đó và làm đủ mọi thứ nghề để kiếm sống. Tôi không biết một nếp sống như thế có “đẹp” không. Nhưng không biết tại sao cứ mỗi lần nhìn mây bay trong buổi chiều tà hay sáng sớm, tôi lại nghĩ đến cuộc sống lãng mạn ấy.
Thiên nhiên ở lúc đầu ngày hay cuối ngày đẹp đã đành mà dường như tâm cảnh trong con người cũng đẹp. Đó là thời khắc tôi cảm thấy tâm hồn bình an và lắng đọng nhứt. Những lúc như thế tôi thấy mình đâm ra dễ tính một cách lạ thường: có bị người khác làm phiền cách mấy tôi cũng chẳng chấp nê hay tức giận.
Đây là cảm nhận mà tôi đã có được vào một buổi sáng cách đây không lâu. Tôi vừa móc mồi quăng cần chưa được năm phút thì một thanh niên mặc chiếc áo thun ba lỗ lù lù xuất hiện.Trời vừa đủ sáng để tôi nhận ra rất nhiều khoen bạc lủng lẳng trên hai vành tai, cánh mũi phải và ngay cả ở núm vú trên một bộ ngực nở nang. Nhưng trông dữ dằn nhứt vẫn là mấy bức hình xâm trên hai cánh tay. Anh mở miệng chào trước. Nhưng tôi vẫn khựng lại trong tư thế tự vệ. Có lẽ mấy cái hình xâm đã tạo ra chút ngại ngùng và hốt hoảng nơi tôi. Nếu gặp một người Miến Điện thì chắc chắn phản ứng của tôi sẽ khác ngay. Hồi còn làm việc bên Phi Luật Tân, tôi có quen với một số người Miến Điện. Tôi nhận thấy đàn ông Miến Điện nào, kể cả các linh mục, cũng đều xâm mình. Tôi cứ tưởng anh Miến Điện nào cũng là “dân chơi” thứ thiệt. Hỏi ra mới biết rằng ở cái xứ “ngọc bích” này, khi đến tuổi trưởng thành, thanh niên nào cũng phải xâm mình để chứng tỏ “nam tính” của mình. Nhiều anh hiền như cục đất mà trên hai cánh tay vẫn đầy hình xâm. Ở Úc Đại Lợi hay các nước Tây Phương thì trái lại, cứ thấy ai đó có xâm mình thì tôi không thể không liên tưởng đến dân “Bikie”.
Thoạt tiên, khi người thanh niên xâm mình tiến đến bên cạnh, dù cho cái tâm có an bình cách mấy, phản ứng tự nhiên của tôi cũng vẫn là thủ thế và dĩ nhiên, nếu tình huống tồi tệ nhứt xảy ra, là “đào vi thượng sách”. Nhờ chạy bộ mỗi ngày, tôi tin chắc rằng nhiều thanh niên Úc chưa chắc đã đuổi kịp tôi! Nhưng “kịch bản” ấy đã không diễn ra. Anh ta vừa nở nụ cười thật tươi đủ để xóa tan mọi nghi ngờ của tôi vừa đưa tay chỉ vào nhà vệ sinh bên cạnh bờ hồ và tự giới thiệu là một người “vô gia cư” (homeless). Thỉnh thoảng tôi có thấy một vài người vô gia cư đến trú ngụ ở cái vỉa hè của mặt sau nhà vệ sinh này. Nay mùa hè vừa trở lại, dân số vô gia cư có phần gia tăng. Gặp họ, lúc nào tôi cũng chào hỏi xã giao, nhưng nói chuyện đủ lâu để làm bạn với nhau thì chưa.
Người thanh niên xâm mình tìm đến với tôi buổi sáng hôm đó thật là một ngoại lệ. Nếu không phải là một người vô gia cư, cứ nghe anh thao thao bất tuyệt về đủ mọi chuyện trên trời dưới đất thì nghề tốt nhứt dành cho anh phải là quảng cáo, tiếp thị hay rao hàng. Còn nói về kinh nghiệm câu cá thì xem ra anh cũng đâu có thua gì tôi: 7 tuổi đã đi câu rồi mà! Trong 2 tiếng đồng hồ, chúng tôi trao đổi đủ thứ chuyện, kể cả đề tài tôn giáo. Có lẽ cá cũng đến hóng chuyện của chúng tôi cho nên sáng hôm đó tôi quăng cần cho giãn gân giãn cốt hơn là kéo cá. Thế là tôi đành vác cần về không và hẹn với anh ta rằng buổi chiều tôi sẽ trở lại.
Đến hẹn lại lên. Có lẽ nôn nóng muốn gặp lại tôi chăng mà khi tôi vừa xuất hiện ở bãi câu, anh đã có mặt ở đó rồi. Lần này, anh mang theo một cần câu mới toanh mà anh nói đã mua trong Kmart với giá chỉ 10 đô. Nhìn kỹ, tôi thấy đó là loại cần câu để con nít vui chơi có lẽ chỉ đúng một mùa hè. Tôi nghĩ: khả năng tài chính không cho phép anh rớ tới cần câu dành cho dân chuyên nghiệp! Lần này, chúng tôi ít nói chuyện hơn để chỉ tập trung vào cuộc “tí thỉ”. Và may mắn đã thuộc về tôi. Tôi kéo một lúc đươc ba con cá hồng, vừa đủ kích cỡ theo luật qui định, nhưng cả ba đều mắc kẹt trong bờ đá và lần nào người bạn câu của tôi cũng xông xáo lội xuống nước để đưa cá vào bờ. Một phần vì công của anh, một phần vì không thích ăn cá hồng cho nên tôi trao cả 3 con cá cho anh. Anh nói sẽ có một bữa ăn tối thịnh soạn. Nhưng một lúc sau, anh có một cử chỉ làm tôi xúc động: anh rẽ vào một ngôi nhà trước bờ hồ và chia tặng cho gia chủ một con.
Tối hôm đó tôi lại về không và thuật lại cho nhà tôi nghe cuộc gặp gỡ của mình. Nhà tôi nói rằng trong buổi câu cá chiều nay có 3 người vui: người thanh niên vô gia cư, người được anh tặng một con cá và người thứ ba là tôi. Dĩ nhiên, vui nhứt là chính tôi, bởi vì tôi có thêm một người bạn và nhứt làm quen với thế giới của những người vô gia cư.
Mấy hôm nay, trở lại bãi câu, tôi không còn thấy người bạn vô gia cư của tôi nữa. Không biết anh đã di chuyển đi đâu. Nhưng dù có “dọn” đi đâu thì anh cũng vẫn còn là người của thế giới của những người vô gia cư, một thế giới vẫn còn là huyền bí đối với tôi.
Mới đây, tôi có đọc được ở đâu đó một mẩu tin ngộ nghĩnh bên Mỹ: ai đó đã có sáng kiến tổ chức những chuyến đi vào thế giới của những người vô gia cư. Chuyến đi chỉ kéo dài đúng 3 ngày. Ai muốn có kinh nghiệm về cuộc sống của những người vô gia cư phải đóng 2 ngàn Mỹ kim. Những người tham gia vào cuộc thử nghiệm này sẽ phải cởi bỏ quần áo, khoác vào bộ y phục bẩn thỉu rách rưới của những người vô gia cư, được phát cho một “hành lý” vô gia cư và được chở thẳng đến một nơi có người vô gia cư để hòa mình vào cuộc sống đó. Chắc chắn mục đích của chuyến đi không chỉ là để tìm hiểu mà để cảm thông nhiều hơn. Trong cuộc sống, có những điều không chỉ để hiểu biết bằng lý trí mà để cảm thông bằng con tim.
Bên Anh, một chương trình truyền hình có tựa đề “Famous, Rich and Homeless” (những người nổi tiếng, giàu có và người vô gia cư) cũng muốn mang lại một kinh nghiệm như thế cho giới giàu có và nổi tiếng. Trong một chương trình, có 5 người nổi tiếng và giàu có như danh thủ Tennis, tài tử, ký giả và văn sĩ, đã tình nguyện sống 10 ngày và 10 đêm cùng với dân vô gia cư trên các đường phố ở London. Những người giàu có và nổi tiếng này được “trấn lột” hoàn toàn và bỏ vào những địa điểm khác nhau trong thành phố. Không một đồng xu dính túi và đương nhiên biết thế nào là đói, họ đã phải lăn xả vào những sinh hoạt thường ngày mà hàng ngàn người vô gia cư tại London đang trải qua, trong đó chính là “xin ăn” theo đúng nghĩa. Nhờ vậy mà những người giàu có và nổi tiếng này mới hiểu được những lý do và hoàn cảnh nào đã đưa đẩy con người vào tình trạng không nhà không cửa. Hiểu dĩ nhiên để thay đổi cái nhìn và cảm thông hơn với những người phải lâm vào hoàn cảnh tuyệt vọng.
Về sinh hoạt của người vô gia cư tại Mỹ hay tại Anh thì tôi chỉ mới biết qua phim ảnh, chớ chưa một lần đi tiếp xúc. Đầu thập niên 1980, lần đầu tiên bước chân xuống Metro (xe lửa ngầm dưới lòng thành phố Paris), tôi gặp vô số kể những người vô gia cư. Metro là nơi “cư trú” an toàn nhứt cho họ. Họ nằm la liệt trên các chiếc ghế dọc theo các trạm xe lửa. Hầu hết, nếu không nằm ngủ thì cũng đang giải sầu với men rượu. Không hiểu tại sao lúc đó tôi thấy mấy người vô gia cư ở Pháp trông thật dễ thương: nhìn cảnh họ cầm chai rươu để “tu” cho quên đời tôi cứ nghĩ đến các thơ nhi đang ôm bình sữa! Tôi vẫn thắc mắc: không biết có phải vì muốn sống lại cái thời hồn nhiên, vô lo của tuổi thơ hay mơ kiếp sống “Bô Ê Miên” mà nhiều người đã chọn lối sống không nhà không cửa chăng?
Tôi tin rằng gặp gỡ người vô gia cư không là kinh nghiệm của riêng tôi. Tony Birch, một cây viết thuộc tổ chức truyền thông vô vụ lợi có tên Right Now (http://rightnow.org.au/), kể về một người vô gia cư sống trên chiếc xe hơi cũ ngay cạnh nhà ông. Người vô gia cư này đã phải sinh hoạt một cách thật “gọn gàng” trong chiếc xe như là một cái nhà. Anh ta cũng phải dời xe mỗi 3 tiếng để tránh bị phạt. Theo Tony Birch, anh ta đại diện cho 60% người vô gia cư nằm trong lứa tuổi dưới 35 đang lang thang trên đất nước “giàu có” này. Thống kê ABS 2011cũng cho thấy 17% “thành viên” vô gia cư dưới 10 tuổi và gần phân nửa (44%) là phụ nữ. Và đương nhiên nghèo đói, túng quẫn, gia đình đổ vỡ, thất học nghiện ngập…vẫn là những yếu tố chính đưa đến vô gia cư. Cuối bài viết, tác giả Birch nhắc nhở chúng ta: “Không ai muốn chọn cảnh vô gia cư cả.”
Có thể nói đằng sau một người vô gia cư là cả một số phận đưa đẩy. Số phận ở đây không nên hiểu theo nghĩa “trời định” mà theo Tony Birch: “Ai cũng cần có một người tốt bên cạnh.” Người vô gia cư đã không may mắn có được điều đó.
Người thanh niên vô gia cư bạn tôi chưa hề chia sẻ cho tôi lý do tại sao anh sống đời vô gia cư. Nghe lối nói chuyện của anh, duyệt lại những kiến thức anh có, tôi nghĩ anh không phải là một người thất học. Nhưng thất nghiệp là cái chắc! Còn tại sao thất nghiệp thì tôi không biết. Người Úc vừa được “chấm” là dân giàu nhứt thế giới, với tài sản trung bình là trên 220 ngàn Úc kim. Dĩ nhiên với điều kiện là những nhà tỷ phú như bà Gina Rinehart chia đều tài sản của mình cho mỗi người dân. Ngoài những lý do khác khiến người ta phải bỏ nhà ra đi và sống kiếp vô gia cư, sở dĩ trong một đất nước mà người dân được xem là giàu nhứt thế giới này vẫn còn có những người vô gia cư vì nghèo đói, là bởi vì những người giàu có không chịu san sẻ tài sản của mình.
Được cho 3 con cá nhưng lại trao tặng một con cho một người giàu có hơn mình, tôi thấy người bạn vô gia cư của tôi thật là người quảng đại. Qua anh, không những tôi học được bài học về cảm thông để không dựa trên bề ngoài mà đánh giá về một con người, tôi cũng được mời gọi để biết sống quảng đại và chia sẻ hơn.
Vô gia cư vẫn mãi mãi là một thế giới huyền bí đối với tôi. Nhưng tôi thấy không cần phải bỏ ra một số tiền để mua cái kinh nghiệm xa xí là được sống với họ vài ngày. Mỗi một người vô gia cư, cũng như bất cứ người nào tôi gặp gỡ mỗi ngày, cũng đều có những điều đáng cho tôi ngưỡng phục, tôn trọng, cảm thông và tiếp nhận những giá trị mà bản thân tôi không có.





Thứ Hai, 15 tháng 5, 2017

Phi Châu và những người mắc chứng bạch tạng


12/05/17
Bạch tạng (Anh ngữ gọi là Albinism, từ nguyên ngữ La Tinh Albus, có nghĩa là trắng) là một chứng rối loạn di truyền không tạo đủ  kích thích tố melanin trong máu. Melanin là kích thích tố giúp cho da, tóc và mắt con người có màu sắc.
Hiện trên thế giới, cứ 20.000 người thì có một người mắc chứng bạch tạng. Nhưng tại vùng Hạ Sa mạc Sahara, Phi Châu, tỷ lệ này cao hơn: cứ 5000 người có một người bị bạch tạng. Nhiều nhất là tại những nước Mozambique, Tanzania, Burundi, Kenya, Zimbabwe, Nam Phi, Malawi. Riêng tại Malawi với dân số 16.5 triệu người, có từ 7000 đến 10000 người sinh ra với chứng rối loạn di truyền này.
Cho tới nay, tại sao vùng Hạ Sa mạc Sahara, Phi Châu là nơi có nhiều người mắc chứng bạch tạng nhất, người ta vẫn chưa tìm được câu trả lời.
Bạch tạng không chỉ ảnh hưởng đến màu da. Thiếu melanin cũng thường dẫn đến khiếm thị. Trong thực tế, nhiều người mắc chứng bạch tạng cũng bị mù lòa. Vì da của họ rất nhạy cảm với các tia hồng ngoại tím của mặt trời cho nên người bị bạch tạng cũng dễ bị ung thư da và lở lói.Theo một cuộc nghiên cứu được thực hiện hồi năm 2014, những người bị bạch tạng tại Phi Châu có nguy cơ bị ung thư da cao gấp cả ngàn lần so với người khác.
Nhưng số phận của họ không chỉ là liên quan đến y tế. Tại Phi Châu, do huyền thoại và dị đoan, người bị bạch tạng thường là đối tượng của kỳ thị. Theo Tổ chức Ân xá Quốc tế, người bị bạch tạng hiện đang bị kỳ thị tại 23 nước Phi Châu. Đối với nhiều người, kỳ thị còn dẫn đến bạo động: trẻ con bị tàn sát, người lớn bị giết chết và ngay cả bị chôn sống.
Trong thập niên vừa qua, con số người bị bạch tạng tại Phi Châu bị tấn công ngày càng gia tăng vì nội tạng, xương cốt và một số cơ phận khác của họ được xem là một món hàng béo bở trong chợ đen. Sở dĩ cơ phận của người bạch tạng được xem là một món hàng đắt giá vì nhiều người cho rằng xương của họ được cấu tạo từ quặng vàng. Ngoài ra cũng không thiếu người tin rằng cơ phận của người bạch tạng có thể chế biến thành một thứ thuốc thần diệu. Theo một số nguồn tin chưa được kiểm chứng, giá chợ đen của một bộ xương người bạch tạng có thể lên đến 75.000 Mỹ kim. Tuy nhiên, một phát ngôn viên của Liên Hiệp Quốc nói rằng vẫn không có bằng chứng nào về một thứ chợ đen như thế.
Phần lớn những vụ tấn công được ghi nhận diễn ra tại vùng Đại Hồ, miền Đông Phi Châu, cách riêng tại Tanzania và Burundi. Theo một số bài phóng sự, kể từ năm 2000, tại Tanzania đã xảy ra khoảng 180 vụ tấn công, kể cả giết người. 35 phần trăm những vụ giết người xảy ra trong năm 2015.
Chỉ trong vòng 8 tháng sau khi được Liên Hiệp Quốc bổ nhiệm làm chuyên gia nghiên cứu về bạch tạng dạo tháng Sáu năm 2015, bà Ikponwosa, một người mắc chứng bạch tạng, đã ghi nhận 40 vụ tấn công tại 8 quốc gia. Kỳ thị đối với người bị bạch tạng đã có từ lâu trong lịch sử của một số nước Phi Châu. Nhưng theo bà Ikponwosa, chỉ mới gần đây người ta mới thấy hiện tượng chôn sống người bị bạch tạng.
Emily Chiumia, một viên chức chính phủ tại Zomba, miền Nam Malawi, hiện đang là một người tranh đấu cho người bị bạch tạng. Cô đã từng là phó chủ tịch của Hiệp hội những người bị bạch tạng. Là một người bị bạch tạng, Emily cho biết cứ mỗi khi ra đường, cô đều bị đám đông gọi bằng một cái tên có nghĩa là “Triệu, triệu” đồng. Cô nói rằng người ta cứ tưởng cô là vàng! Kể từ khi nổ ra các cuộc tấn công nhắm vào người bị bạch tạng, Emily và Hiệp hội của cô đã lập hồ sơ theo dõi những vụ tấn công nhắm vào người bị bạch tạng. Theo cô, phần lớn thủ phạm của những vụ tấn công đều là thân nhân, hàng xóm hay chính những người mà các nạn nhân đã từng xem là bạn bè. Emily nói rằng trước kia cùng lắm người ta chỉ nói rằng “nếu bạn ngủ với một người mắc chứng bạch tạng, da của bạn sẽ biến thành trắng”. Nhưng nay người ta không chỉ dè bỉu, mà còn tấn công và hành hung người bị bạch tạng. Cô cho biết: ban đêm cô không dám đi ra ngoài, cô cũng không còn ăn ngon ngủ yên, ngay cả trong nhà, bởi vì cô không biết điều gì sẽ xảy ra cho mình.
Nhiều người sợ lây bệnh từ người bị bạch tạng, nhưng cũng không thiếu người tin rằng người bị bạch tạng có thể chữa bệnh cho họ.  Ian Sambota là một người bị bạch tạng hiện đang làm  xướng ngôn viên cho một đài phát thanh. Anh kể lại rằng năm 2012, có một phụ nữ “lớn tuổi và có học” đến gạ gẫm anh và hứa tặng cho anh một số tiền trị giá khoảng 700 Mỹ kim nếu anh bằng lòng ngủ với bà. Anh giải thích: người phụ nữ này nhiễm HIV (liệt kháng); bà nghĩ rằng nếu bà ăn nằm với một người bị bạch tạng, bà sẽ khỏi bệnh.
Ian Sambota nói rằng 700 Mỹ kim quả là một số tiền lớn, có thể giúp anh mua thuốc cho mẹ anh. Nhưng anh đã từ chối lời đề nghị của người phụ nữ.
Steven Burgess là một người đàn ông bị bạch tạng khoảng 40 tuổi. Anh cho biết ngay từ nhỏ người ta đã gọi anh là một “con thú vật trắng”, nhưng chưa đến nỗi bị tấn công vì màu da của mình. Nay, nhìn vào các cuộc tấn công nhắm vào người bị bạch tạng ngày càng gia tăng, anh nói rằng đây quả là “một thời kỳ khủng hoảng”.
Một người đàn ông bị bạch tạng khác tên là Bazirio Kaudzu, 46 tuổi, cho biết anh cảm thấy bị đe dọa đến nỗi anh dám đến bệnh viện ở Thủ đô Lilongwe để xin thuốc trị bệnh lở lói nếu không có người cháu đi kèm. Đối với một người nông dân chuyên trồng cà chua như anh, mỗi chuyến đi về thủ đô như thế rất tốn kém. Vậy mà hàng tháng anh vẫn phải thuê taxi để cậu cháu cùng đi với nhau cho an toàn.
Chính phủ Malawi đã nhìn nhận rằng những gì đang xảy ra cho người bị bạch tạng quả là một vấn đề . Theo ông Neverson Chisiza, một luật sư làm việc trong Bộ Tư Pháp chuyên về Hiến pháp,  Bộ ghi nhận kể từ năm 2014 đã có ít nhất 85 trường hợp người bị bạch tạng bị tấn công. Trong số này, có những vụ giết người, bắt cóc, buôn người và ngay cả đào huyệt để cướp của. Có ít nhất 20 người bị giết chết.
Cô Ikponwosa nói rằng nếu chính phủ không có biện pháp để chận đứng những vụ tấn công, sẽ không còn một người mắc chứng bạch tạng nào tại Malawi nữa.
Chính phủ Malawi cho rằng những vụ bố ráp tại nước láng giềng Tanzania đã khiến cho tệ nạn buôn cơ phận người mắc bạch tạng được chuyển qua Malawi. Kawinga, một viên chức chính quyền địa phương tại quận Machinga, Malawi, nơi xảy ra hầu hết các vụ tấn công nhắm vào người bị bạch tạng, nói với phóng viên của Đài Aljazeera rằng ông có nghe nói đến chợ đen buôn bán cơ phận người bị bạch tạng tại nước láng giềng Mozambique.
Nói chung, tại vùng Hạ Sa mạc Sahara, nước nào cũng muốn xem nước láng giềng của mình là đầu mối của vấn đề.
Dạo tháng 6 năm 2016, 150 viên chức chính phủ, các nhà nghiên cứu và tranh đấu từ 26 quốc gia đã gặp nhau tại Dar es Salaam, Tanzania để tham dự diễn đàn đầu tiên về chứng bạch tạng tại Phi Châu. Mục đích của diễn đàn là để thảo ra một kế hoạch hầu chận đứng những cuộc tấn công nhắm vào người bị bạch tạng. Hội nghị đã yêu cầu các chính phủ phải dành ra một ngân sách và tổ chức một ủy ban đặc nhiệm để thực hiện kế hoạch.
Thật ra, chấm dứt được những cuộc tấn công nhắm vào những người bị bạch tạng tại Phi Châu, cách riêng tại Malawi không phải là điều dễ dàng. Theo ông Edge Kanyongolo, một giáo sư luật tại trường Đại học Malawi ở Zomba, “những vụ tấn công vào người mắc chứng bạch tạng là biểu hiện của một vấn đề rộng lớn hơn”. Theo ông, bên ngoài, sở dĩ người ta tấn công những người bị bạch tạng là vì dị đoan và hoạt động phù thủy. Trong thực tế, đàng sau những vụ tấn công chính là tâm trạng thất vọng vì cuộc sống khó khăn.
Kể từ năm 2012, Malawi phải trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Thuốc lá là nguồn xuất cảng lớn nhất của nước này. Nhưng năm 2010, giá thuốc lá đã sụt giảm hơn 50 phần trăm. Năm 2012, dưới sự hướng dẫn của Quỹ Tiền Tệ Thế Giới, Tổng thống Joyce Banda đã áp đặt một loạt những cuộc cải tổ tạo ra những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế mà những người phải hứng chịu nhiều nhất chính là dân nghèo. Đồng tiền đã bị phá giá gần 50 phần trăm và lạm phát tăng hơn 20 phần trăm.
Năm 2015, dựa theo thu nhập đầu người, Ngân Hàng Thế Giới đã xem Malawi là nước nghèo nhất thế giới. Cứ 5 người đến tuổi đi làm, có 2 người thất nghiệp. Theo Tổ chức Lao Động Thế Giới, cứ 4 người trẻ đi làm, thì có 3 người không có việc làm thường xuyên. Có ít nhất 61 phần trăm dân Malawi không kiếm  được 1.25 Mỹ kim để sống mỗi ngày và 2.3 triệu người phải sống với thực phẩm không an toàn.
Theo Giáo sư Kanyongolo, “người dân Malawi không có bất cứ chọn lựa nào trong sinh kế”. Và đây chính là nguyên nhân khiến họ rơi vào tâm trạng thất vọng đến độ nghĩ rằng ăn cắp xác của một người nào đó để bán là cách duy nhất để kiếm tiền và làm giàu.
Nhưng một cảnh sát trưởng tại Mangochi là ông Elijah Kachikuwo lại không đồng ý với giáo sư Kanyongolo. Theo viên cảnh sát này, nghèo đói không hẳn là nguyên nhân khiến người ta tấn công hay tìm kiếm cơ phận của người bị bạch tạng để bán. Viên cảnh sát này nói rằng đây không phải là lần đầu tiên Malawi phải đối diện với nghèo đói.
Nghèo đói có thể là nguyên nhân của những vụ tấn công hay buôn bán cơ phận của người bị bạch tạng, nhưng có thể không phải là nguyên nhân duy nhất. Thành kiến do dốt nát và dị đoan vẫn còn sâu đậm nơi người nghèo. Họ là những người dễ bị lợi dụng và khai thác bởi các phù thủy và giới lang băm.
Dạo tháng 6 năm 2016, nhằm mục đích dẹp bỏ tệ nạn buôn cơ phận và xương của người mắc chứng bạch tạng, Tòa án Tối cao của Malawi đã ra lệnh tẩy chay những hạng người như “phù thủy chữa bệnh, y sĩ chữa bệnh theo phương pháp cổ truyền, thày bói và pháp sư”.
Theo Hiệp hội các Y sĩ Cổ truyền, có đến 97 phần trăm dân số Malawi chữa bệnh theo phương pháp cổ truyền, nhất là tại miền quê.
Malawi là một trong những nước có hệ thống y tế tồi tàn nhất thế giới . Theo thống kê trung bình 100.000 dân mới có 2 bác sĩ và 59 y tá. Chính vì vậy mà dân chúng vẫn cần các y sĩ chữa bệnh theo phương pháp cổ truyền và dĩ nhiên cũng dễ làm mồi cho những lạm dụng và hành động mê tín dị đoan.
Nạn nhân  của thành kiến và mê tín dị đoan, những người bị bạch tạng tại Malawi cũng như tại vùng Hạ Sa mạc Sahara nói chung cũng như mọi người dân khác, thường cũng không được trợ giúp về mặt pháp lý. Theo thống kê, phải có 38.500 người mới có một luật sư. Trên 90 phần trăm dân chúng Malawi không được trợ giúp về pháp lý. Tình trạng này khiến cho thân phận của người bị bạch tạng tại Malawi và những nước ngheo trong vùng Hạ Sa mạc Sahara càng bi đát hơn.



Thứ Sáu, 12 tháng 5, 2017

Tôi không đi qua tôi, tôi để lại gì?


Chu Thập
05/05/17
Cầm trên tay Tạp chí Time số kép ra ngày 1/5 và 8/5 này, nhà tôi chỉ vào hình của ông Jeff Bezos in trên trang bìa của tạp chí và hỏi tôi có biết ông này là ai không. Tôi lắc đầu. Lật từng trang của tờ tạp chí dày gần 100 trang này, tôi mới biết ông Jeff Bezos là người sáng lập, chủ tịch và giám đốc điều hành của Amazon.com, công ty bán lẻ trên mạng lớn nhứt thế giới hiện nay. Ông Bezos được Tạp chí Time đưa vào danh sách của 100 nhân vật được xem là có ảnh hưởng lớn nhứt trên thế giới trong năm nay. Vậy mà tôi chưa từng nghe nói đến tên của ông! Thì ra tại vì tôi “dốt” chớ không phải tại ông Bezos không nổi tiếng.
Thật ra, trong số 100 nhân vật nổi tiếng trên thế giới hiện nay như được Tạp chí Time giới thiệu, số người mà tôi có nghe nói tới và ít nhiều có ảnh hưởng trên suy nghĩ và cuộc sống của tôi, chỉ đếm được trên đầu ngón tay.
Với tôi, người có “ảnh hưởng” lớn nhứt đối với tôi hiện nay không ai khác hơn là đương kim tổng thống Hoa Kỳ, Donald Trump. Tôi nghĩ đến ông nhiều hơn cả Đức Chúa Trời của tôi. Ngày nào cũng vậy, vừa thức dậy và lên mạng để theo dõi tin tức, tôi phải tìm đọc cho bằng được ông nghĩ gì, tuyên bố điều gì, Tweet đi  câu nói nào   và sẽ làm gì. Đọc những lời tuyên bố giựt gân và nẩy lửa của ông để cười thầm trong bụng cũng có mà để “đề cao cảnh giác” cũng có. Kể từ ngày ông ra tranh cử và nhậm chức tổng thống Mỹ tới nay, tôi thấy mình lúc nào cũng nghĩ đến hai chữ “sự thật” và thái độ cần phải có đối với sự thật. Nhưng ảnh hưởng lớn nhứt của ông Trump đối với tôi chính là đã tạo ra nơi tôi tâm trạng lo sợ. Với một nhà lãnh đạo thế giới có tính khí bất thường, nói trước chối sau lại đeo đuổi chủ trương sử dụng vũ lực để giải quyết các xung đột trên thế giới, tôi thấy sợ là phải. Chỉ cần trong một phút bốc đồng, ông đưa tay bấm vào mật mã của kho vũ khí nguyên tử, Hoa kỳ có thể tiêu diệt được nhiều kẻ thù đó, nhưng có dở toán cỡ nào đi nữa, ai cũng có thể dự đoán được vô số những thiệt hại về đủ mọi phương diện cho thế giới.
Tạo ra nơi tôi một ảnh hưởng cũng ngang tầm cỡ với Tổng thống Trump dĩ nhiên chỉ có thể là con bài trùng của ông là chủ tịch Bắc Triều Tiên Kim Jong-un, người mà cứ mỗi lần nhìn thấy tôi đểu nghĩ đến nhân vật “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao. Với tính khí bất thường, khó dự đoán lại hung hăng, họ Kim và ông Trump  giống nhau như đúc. Vậy mà vận mạng thế giới lại nằm trong tay họ. Có khi tôi thấy họ cũng có nụ cười giống nhau. Riêng lãnh tụ Bắc Hàn lại còn tỏ ra khôi hài trong trò chơi giết chóc không gớm tay của mình. Chuyện ông cho xử tử người dượng Jang Song-thaek bằng súng cà nông cũng đã là một trò cười đầy nước mắt. Gần đây, có lẽ ông còn muốn đẩy mạnh tới cùng óc khôi hài độc ác của mình khi ra lệnh cho hai người phụ nữ có nhiệm vụ  ám sát ông Kim Jong-nam, người anh cùng cha khác mẹ của mình, phải mặc trên người chiếc áo thun có in ba chữ viết tắt  “LOL”, có nghĩa là “cười lớn tiếng” (Laughing out loud). Tôi bị ám ảnh bởi một nụ cười như thế.
Nhẹ nhàng, kín đáo và lịch sự hơn, nhưng tôi vẫn thấy sợ nụ cười không hở miệng của Chủ tịch Tập Cận Bình của Trung Cộng. Tạp chí Time đã có lý để năm nào cũng đưa ông vào danh sách 100 người có ảnh hưởng lớn nhứt thế giới. Nghĩ đến hai ông Trump và Kim Jong-un, tôi không thể không liên tưởng đến Chủ tịch Tập Cận Bình, bởi lẽ làm sao giải quyết được cuộc xung đột hiện nay giữa Hoa Kỳ và Bắc Hàn cũng như mối đe dọa của Bắc Hàn đối với an ninh thế giới nếu không nhờ đến bàn tay lông lá của Trung Cộng đàng sau Bắc Hàn. Miệng người cộng sản khổng lồ này lúc nào cũng nở nụ cười hiền hậu và kêu gọi một giải pháp hòa bình cho cuộc xung đột ở bán bản Triều Tiên, nhưng đàng sau nụ cười hiền hậu và lời kêu gọi hòa bình ấy có khi là cả một hầm chông sắc bén. Cứ nhìn vào tình hình Biển Đông hiện nay cũng đủ để thấy rõ điệu nhảy hòa bình của người cộng sản!
Cũng được tạp chí Time tiếp tục đưa vào danh sách 100 người có ảnh hưởng lớn nhứt hiện nay, Tổng thống Nga Vladimir Putin cũng thích vũ điệu hòa bình rất quen thuộc của Liên Xô, vốn trước kia được Trung Cộng và đàn em cộng sản Việt Nam lập lại như những con rối. Cũng một giọng điệu như Chủ tịch Tập Cận Bình, ông Putin cũng kêu gọi giải quyết cuộc xung đột ở bán đảo Triều Tiên bằng đường lối đối thoại ôn hòa. Nhưng tôi không tin đó là “thiện chí” của một người yêu chuộng hòa bình. Nếu ông là một người yêu chuộng hòa bình thật sự thì Crimea của Ukraine đã không bị nuốt trửng  bởi quân đội Nga và máy bay, xe tăng và quân đội của Nga cũng  không yểm trợ cho nhà độc tài Bashar al Assad tàn sát người  dân Syria của mình.
Vậy mà bàn tay sắt bọc nhung óng ánh ấy lại có sức hấp dẫn lạ lùng đối với nhiều người chớ không riêng gì người Nga. Trước khi nhậm chức, Tổng thống Trump đã chẳng hết lời ca ngợi “người hùng” Putin đó sao?  Mới đây, Tổng thống Trump có nhả ý mời Tổng thống Phi Luật Tân ông Rodrigo Duterte, đến thăm Hoa Kỳ. Nhưng người được mệnh danh là “Kẻ trừng phạt” (the Punisher) của Phi Luật Tân và “Trump của Á Đông” lại muốn dành ưu tiên cho ông Putin hơn ông Trump. Năm nay, tôi không ngạc nhiên tại sao Tạp chí Time đã đưa ông Duterte vào danh sách 100 nhân vật có ảnh hưởng nhứt thế giới. “Người hùng” giết người không gớm tay này đã có lần tuyên bố: “Hitler đã tàn sát 3 triệu người Do Thái (thật ra trong số 11 triệu nạn nhân của Hitler, có đến 6 triệu người Do Thái). Hiện đang có 3 triệu người nghiện ma túy (tại Phi Luật Tân). Tôi rất sung sướng để “làm thịt” họ.” Kể từ khi ông Duterte nhậm chức tổng thống Phi hồi năm ngoái cho đến nay đã có khoảng 7.000 người bị giết chết trong chiến dịch bài trừ ma túy của ông. Được Tạp chí Time mời viết vài hàng về ông Duterte, cựu tổng thống Colombia từ năm 1990 đến năm 1994, ông César Gaviria, đã kể lại kinh nghiệm bài trừ ma túy của ông: sau khi chi ra hàng tỷ Mỹ kim, ông mới nhận thấy rằng cuộc chiến chống ma túy là một cuộc chiến không thể thắng được và những thiệt hại về nhân mạng là vô số; bài thuốc còn tệ hại gấp nghìn lần so với cơn bệnh. Theo ông Gaviria, dù có giết hại bao nhiêu nạn nhân của ma túy đi nữa, ông Duterte cũng vẫn không nhận ra được  bài học ấy!
Donald Trump, Kim Jong-un, Tập Cận Binh, Vladimir Putin và Rodrigo Duterte...đó là những nhân vật hiện đang có “ảnh hưởng” đến suy nghĩ và cuộc sống của tôi. Mãi mãi là người tỵ nạn cộng sản, tôi thấy diễn tiến trong suy nghĩ và cuộc sống của tôi thường quy về chế độ cộng sản ở Việt Nam. Một cách nào đó, tôi bị ám ảnh bởi sự độc ác của người cộng sản. Và một cách gián tiếp, chế độ cộng sản đã buộc tôi phải cố gắng sống cho ra người tử tế hơn để không tự trói buộc vào vòng nô lệ của tính vô nhân đạo và sự độc ác. Một cách tương tự, mỗi khi nghĩ đến những gương mặt lãnh đạo thế giới trên đây, tôi cũng luôn tự nhắc nhở để không rơi vào cái bẫy của đam mê quyền lực đến độ chối bỏ và chà đạp những giá trị nhân bản đích thực trong cuộc sống con người.
Nếu những nhà lãnh đạo như Donald Trump, Kim Jong-un, Tập Cận Bình, Vladimir Putin và Rodrigo Duterte xuất hiện trong tâm trí tôi như những rào cản để tôi “đề cao cảnh giác” hầu khỏi sa đà vào sự độc ác và dối trá vốn tiềm ẩn trong tôi, thì một nhân vật có thế giá khác lại tạo ra trong tôi một ảnh hưởng tích cực hơn. Trong 100 nhân vật có ảnh hưởng lớn nhứt trên thế giới hiện nay được Tạp chí Time giới thiệu, tôi đặc biệt chú ý đến nhà lãnh đạo của Giáo hội Công giáo, Đức Phanxicô. Trong vài hàng giới thiệu về nhà lãnh đạo tôn giáo này, Đức Hồng Y Blase  J. Cupich, Tổng giám mục Chicago, Hoa Kỳ có nhắc lại một cuộc phỏng vấn đầu tiên mà Đức Phanxicô đã dành cho báo chí sau khi được bầu lên lãnh đạo Giáo hội Công giáo. Trong cuộc phỏng vấn, Ngài nói về mình bằng một câu ngắn gọn: “Tôi là một người tội lỗi!”  Những người “có đạo” như tôi hiểu được tức khắc ý nghĩa của hai chữ “tội lỗi”. Có lẽ cũng “có đạo” như tôi cho nên khi bị buộc công khai hóa mối quan hệ bất chính của mình với người nữ tập sự viên trong Tòa Bạch Ốc là cô Monica Lewinsky hồi giữa thập niên 1990, cựu Tổng thống Bill Clinton đã thú nhận rằng mình đã “phạm tội” (x. Huston Smith, Why religion matters, HarperCollins, 2001, trg 255). “Tội lỗi” hay “phạm tội” là một phạm trù nhà đạo vừa nói lên mối quan hệ của con người với Thượng Đế và tha nhân, vừa bày tỏ sự yếu đuối nội tại của con người. Có ý thức được thân phận bất toàn, yếu đuổi và dễ lầm lỡ của mình con người mới biết cảm thông với người khác. Nhận mình là “người tội lỗi” cho nên có lần khi được hỏi về lập trường của ngài đối với những người đồng tính, Đức Phanxicô đã nói: “Tôi là ai để đoán xét họ!”  Cũng như Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo của Phật Giáo Tây Tạng mà không rõ vì một lý do nào đó, năm nay tạp chí Time đã không kể tên vào danh sách những người có ảnh hưởng lớn nhứt thế giới, Đức Phanxicô đã cho tôi thấy được cái cốt lõi của Kitô Giáo cũng như của bất cứ tôn giáo nào. Cốt lõi đó là sự cảm thông. Sống đạo là sống cảm thông. Trong ý nghĩa đó, Đức Phanxicô là người có ảnh hưởng lớn nhứt trong cách suy nghĩ và cuộc sống của tôi.
Với tôi, cảm thông hay khoan nhượng là thách đố lớn nhứt của thời đại toàn cầu hóa ngày nay. Thế giới ngày càng thu hẹp thành một ngôi làng nhỏ và chính vì thế giới ngày càng thu hẹp lại mà con người càng nhận ra tính đa diện và dị biệt của nhân loại. Nếu không có sự cảm thông và tinh thần khoan nhượng, con người dễ rơi vào thái độ cực đoan để chối bỏ những người không có cùng màu da, ngôn ngữ, văn hóa và tôn giáo của mình. Khủng bố và bạo động, dưới mọi hình thức, trong lời nói cũng như hành động, đều phản ảnh thái độ thiếu cảm thông và khoan nhượng ấy. Chế độ độc tài nào, dù ý thức hệ, toàn trị  hay cá nhân, cũng đều xuất phát và xây dựng trên thái độ cực đoan ấy.
Kinh nghiệm bản thân luôn cho tôi thấy cảm thông và khoan nhượng không phải là điều tự nhiên mà có, mà trái lại đòi hỏi phải cố gắng không ngừng để ra khỏi và vượt qua cái tôi của mình.
Mỗi lần nghĩ đến ảnh hưởng và liên đới trong cuộc sống, tôi thường nhớ lại mấy câu thơ của cố Nhạc sĩ Văn Cao: “Con thuyền đi qua để lại sóng. Đoàn tàu đi qua để lại tiếng. Đoàn người đi qua để lại bóng. Tôi không đi qua tôi, tôi để lại gì?”





Thứ Tư, 10 tháng 5, 2017

Đa thọ đa nhục


Chu Thập
11.10.13
Tôi đã bước vào cái tuổi nhìn lui nhiều hơn ngó tới. Thích ôn lại những kỷ niệm đẹp của tuổi thơ đã đành, mà cũng hối tiếc không ít về những thất bại và thiếu sót trong cuộc sống. Có những điều lẽ ra phải làm mà không làm. Có những phí phạm thời giờ và ngay cả sức khỏe có thể tránh được mà vẫn cứ lao vào. Có những kiến thức có thể và phải học hỏi nhưng lại bỏ qua. Có những tình bạn và quan hệ cần được duy trì và vun xới thì lại phớt lờ…Có biết bao nhiêu điều mà khi bước vào tuổi già, người ta thường chỉ biết ngồi đó mà ngẩn ngơ hối tiếc và than thở: “Giả như thế này, giả như thế kia…!”
Nhưng bên cạnh những hối tiếc, tôi lại thấy mình bị dằn vặt nhiều hơn vì những hối hận. Hối hận vì biết bao nhiêu lần trong cuộc sống mình đã không sống tử tế và đối xử tốt với nhiều người. Cướp của giết người hay hà hiếp thì chưa, nhưng làm tổn thương người khác bằng thái độ ích kỷ, bằng hành động và nhứt là bằng lời nói thì vô số kể. Hối hận là bởi vì thái độ sống ích kỷ và những hành vi xúc phạm đối với người khác đã trở thành một thứ định mệnh vẫn còn đó để khuấy động niềm an bình nội tâm của mình. Một chút gió của ích kỷ, tham lam, hận thù mình đã gieo có khi đã biến thành một cơn bão ngầm đang dằn xóc tâm tư. Tôi vẫn thắc mắc: liệu có người nào bước vào tuổi già mà không có gì để hối hận không?
Tôi nghĩ đến đại tướng Võ Nguyên Giáp, người vừa qua đời hôm 4 tháng 10 vừa qua. Dù có thù ghét ông đến đâu đi nữa, thế giới Tây Phương vẫn không hết lời ca ngợi ông như một thiên tài quân sự, một “Nã Phá Luân Đỏ”, một người đã chẳng cần được đào tạo tại một trường võ bị nào mà vẫn chỉ huy thành công những trận đánh lẫy lừng nhứt trong quân sử thế giới. Dù có xem ông như kẻ thù không đội trời chung, tôi cũng đành phải cố gắng tỏ ra khách quan hết sức để nhìn nhận tài điều binh khiển tướng của ông.
Nhắc đến ông là nhớ đến điều được gọi là chiến thắng Điện Biên Phủ tháng 5 năm 1954. Để đạt được chiến thắng này và để được thế giới ca tụng như một viên tướng “huyền thoại”, ông đã nướng hơn 15 ngàn thanh niên Việt Nam. Tên tuổi và huyền thoại của ông cũng gắn liền với “Cuộc tổng tấn công và tổng nổi dậy Mậu Thân 1968”. Chính ông là tổng chỉ huy của chiến dịch “nướng” thanh niên thiếu nữ miền Bắc và sát hại không biết bao nhiêu đồng bào ruột thịt miền Nam. Và như tác giả Nguyễn Thu Trâm đã ghi nhận trong bài viết “Võ Nguyên Giáp: nhất tướng công thành vạn cốt khô”, “để có được cái gọi là “Đại Thắng Mùa Xuân 1975”, chính Giáp cũng là tổng chỉ huy của chiến dịch xua quân xâm lược miền Nam từ Xuân-Hè 1972 bằng những vi phạm trắng trợn hiệp định Geneva, tấn công vào vùng phi quân sự rồi nã pháo nghiền nát hàng chục ngàn đồng bào Quảng Trị trên Đại Lộ Kinh Hoàng, khi họ đang trên đường lánh nạn cộng sản vào mùa Hè đỏ lửa 1972. Rồi từ đó, với khẩu lệnh “Thần Tc, Thần Tốc Hơn Nữa - Táo Bạo, Táo Bạo Hơn Nữa…” chính Giáp cũng đã xua quân cưỡng chiếm toàn miền Nam, mang hiểm họa cộng sản với bất công, đói nghèo và phi dân chủ, phi nhân quyền cho đồng bào cả nước…để từ đó nước Việt Nam thụt lùi hàng thế kỷ so với các nước láng giềng, dân tộc Việt Nam mất nhuệ khí quật cường vốn được ông cha lưu truyền qua nhiều ngàn năm dựng, giữ nước và chống ngoại xâm, để đến nỗi cả nhân sỹ trí thức cũng đều phải trở thành nô lệ tự nguyện, phải khom lung, cúi đầu và câm nín trước mọi hành vi bạo ngược của chế độ cộng sản, để nhìn đất đai, biển đảo của tổ quốc mất dần vào tay Tàu cộng và để đợi chờ một đại họa mất nước và cả dân tộc sẽ bị Hán hóa vào một ngày thật gần. Vậy xin được hỏi nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam rằng tướng Giáp là một công thần hay là một tội đồ của dân tộc?”
“Công thần” hay “tội đồ” thì có lẽ chỉ có người dân Việt Nam hiện nay mới có thể phán quyết. Nhưng riêng bản thân ông, có bao giờ con người xây dựng đài danh vọng của mình trên xương máu của không biết bao nhiêu đồng bào vô tội, đã một lần dừng lại để, cũng như bao nhiêu “đồng chí” cộng sản khác, hối hận vì mình đã chọn lầm lý tưởng và nhứt là đã gây ra đau thương tang tóc cho dân tộc chưa?
Trong một cuộc phỏng vấn dành cho hãng thông tấn AP hồi năm 2005, nhân dịp kỷ niệm 30 năm Sài Gòn sụp đổ, ông Giáp đã nhìn nhận rằng “không có cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc nào khốc liệt và gây ra nhiều tổn thất như cuộc chiến tranh này”. Nhưng lập lại câu nói nổi tiếng của ông Hồ Chí Minh, ông Giáp vẫn khẳng định: “Chúng tôi vẫn chiến đấu cho Việt Nam, không có gì quý hơn độc lập tự do”.
Nhìn nhận sự tổn thất nặng nề về nhân mạng do tính hiếu chiến tàn bạo của mình gây ra, nhưng tướng Giáp chưa một lần tỏ ra hối hận về sự độc ác của mình. Trong bài nhận định có tựa đề “chỉ huy nhưng không lãnh đạo”, nhà báo Ngô Nhân Dụng đã viết trên báo Người Việt: “Một độc giả báo Người Việt mới góp ý kiến sau khi nghe tin ông Võ Nguyên Giáo qua đời. Bạn đọc này viết: “Tôi thấy dường như cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay, ông Võ Nguyên Giáp không một lần tỏ ra ân hận về những việc của ông làm trong thời gian tại chức. Bằng chứng là khi trả lời phỏng vấn của một phóng viên ngoại quốc hỏi:“Général Giáp, regrettez-vous de quatre millions de Vietnamiens…morts dans la guerre du Vietnam?” (Thưa đại tướng, ông có hối tiếc gì về việc bốn triệu người Việt đã chết trong chiến tranh Việt Nam không?), ông Giáp đã không đắn đo trả lời ngay: “Non, je ne regrette rien. NON, PAS DU TOUT!” (Không, tôi không hề hối tiếc. Không một mảy may nào).
Tôi nghe câu trả lời trên đây mà thấy rụng rời tay chân. Về sự độc ác, lâu nay người ta thường chỉ liên tưởng đến những tên tuổi như Tần Thủy Hoàng, Nero, Hitler, Stalin, Mao Trạch Đông, Polpot…Một con người đã có thể tế sát đến 4 triệu đồng bào ruột thịt của mình để, đàng sau chiêu bài độc lập giải phóng, leo lên đến đỉnh điểm của các bậc thang trong quân hàm và đạt danh hiệu “đại tướng huyền thoại”, cho tới lúc chết vẫn không “một mảy may hối hận” vì tang tóc mình đã gây ra…một con người như thế quả có một tuổi thọ đặc biệt! Đặc biệt không phải vì con số kỷ lục của năm tháng để sống so với số đông người Việt Nam, mà vì vẫn có thể trơ lì trước nỗi khốn khổ của người đồng loại do chính tay mình gây ra. Tại sao trên thế giới lại có những con người như thế?
Trong một lá thư gởi cho ông Phó chủ tịch Tỉnh Nghệ An, nhân vụ đàn áp giáo dân ở giáo xứ Mỹ Yên, giám mục Hoàng Đức Oanh, giám mục Kontum, đã trích dẫn một số câu nói thời danh về chủ nghĩa cộng sản của chính những người đã từng đi theo chủ nghĩa này. Như cựu lãnh tụ Đảng Cộng Sản Nam Tư, Milovan Djilas, tuyên bố: “20 tuổi mà không đi theo cộng sản là không có trái tim. 40 tuổi mà không từ bỏ cộng sản là không có cái đầu”. Hoặc ngay cả đương kim tổng thống Liên bang Nga, ông Vladimir Putin, người đã từng đứng đầu cơ quan tình báo KGB của Liên Xô, cũng nhìn nhận: “Ai tin cộng sản là không có cái đầu. Ai làm theo lời của cộng sản là không có trái tim”. Ở tuổi thanh niên, có thể vì “có trái tim” mà người giáo viên sử địa Võ Nguyên Giáp đã đi theo lý tưởng cộng sản. Nhưng dường như chủ nghĩa này không những đã chặt cái đầu, mà còn móc lấy cả trái tim của ông để đến ni ở cái tuổi lẽ ra phải ngộ được điều ngay lẽ trái, điều thiện điều ác, ông vẫn có thể tỏ ra chai lì trước nỗi khổ đau của người đồng bào của mình.
Quả thật, chủ nghĩa cộng sản, một thứ chủ nghĩa mà một vị giáo hoàng của Giáo hội công giáo đã cho là “đồi bại xấu xa từ trong bản chất”, đã cướp đi cái đầu và trái tim của con người đ biến họ thành những người máy. Người máy không biết hối hận bởi vì người máy không có khả năng xấu hổ. Tôi không sợ bị kết án “cường điệu” hay hàm hồ khi định nghĩa rằng cộng sản là người không biết xấu hổ. Đã biết xấu hổ thì chẳng ai còn dám vỗ ngực tự xưng mình là người cộng sản!
Mới đây, tôi lại phục lăn ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Dạo cuối tháng 9 vừa qua, “cũng như người ta”, ông cũng lên diễn đàn của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ở New York để đọc một bài diễn văn, dĩ nhiên đã được ai đó soạn sẵn với những công thức cũ rích có sẵn. Có cả hàng trăm nguyên thủ quốc gia tham dự Đại hội, cho nên ông có nói hưu nói vượn bằng tiếng Việt, thì cho dù có dịch sang các ngôn ngữ chính, chẳng có ma nào chú ý. Ngay cả tại Pháp trước đó, chẳng có cơ quan truyền thông nào bỏ giờ ra để theo dõi cuộc họp báo của ông với thủ tướng có cái tên mà anh cựu du kích vô bưng năm 11 tuổi, chẳng bao giờ được học một chữ tiếng Tây tiếng u nào cho nên mới đọc thành “Giăng Mắc Ê rô” (Jean Marc Ayrault). Chỉ có mỗi một Đài Truyền hình của Pháp là Canal + bỏ giờ ra theo dõi, nhưng cuối cùng lại mang cử chỉ và giọng điệu ngu ngốc, ngớ ngẩn của ông thủ tướng của một quốc gia ra để chế diễu. Chẳng hạn như trong lời chào mừng thủ tướng Pháp, ông thủ tướng xuất thân từ trường “đại học bưng biền” muốn dạy cho cử tọa và cả nước Pháp biết rằng nước Pháp “ở Âu Châu và trên thế giới”. Tôi không biết trên thế giới này còn có một ông thủ tướng nào trơ trn đến độ bộc lộ sự ngu ngốc không thể tha thứ được mà vẫn tnh bơ không!
Không “mảy may hối hận” và cũng chẳng biết xấu hổ: chủ nghĩa cộng sản đã “tôi thế đấy”! Năm 2005, khi trả lời cuộc phỏng vấn qua đó ông Võ Nguyên Giáp vẫn trước sau như một không tỏ ra “một mảy may” hối hận nào vì đã tế sát 4 triệu người Việt Nam trên bàn thờ cộng sản, ông tướng “công thành vạn cốt khô” đã 94 tuổi. Bước vào tuổi này thì nhiều cụ ông cụ bà người Việt Nam thường thốt lên “đa thọ đa nhục”. Do bệnh tật hành hạ, nhiều người già đâm ra chán đời. Có cụ, do tính nết bất thường, khiến cho nhiều người, ngay cả con cháu cũng muốn xa lánh. Có người thấy mình vô dụng lại bị bỏ rơi hoặc lâm cảnh cùng cực, lại càng thấy sống lâu là một gánh nặng. Đó là chưa nói đến sự ngược đãi của người đời hay những “tủi nhục” mà người già cho là con cháu gây ra cho mình, cứ như bao nhiêu “nhục nhã” mình đang gánh chịu là do người khác tạo ra.
Ở cái tuổi thích nhìn lại hơn ngó tới, tôi cũng biết sợ chết và chỉ mong được sống lâu. Tôi chưa cảm nhận được thế nào là “đa thọ đa nhục”. Thật ra, tôi vẫn luôn nghĩ rằng nhục hay không là do mình, bởi lẽ chẳng có ai có thể xúc phạm hay tước đoạt danh dự và phẩm giá của mình. Nếu tôi không bán đứng danh dự của tôi thì chẳng có ma nào làm tôi cảm thấy nhục nhã cả. Bị lột quần áo và treo trên thập giá, người La mã cho đó là một thứ “nhục hình” tột cùng. Nhưng tôi tin chắc rằng Chúa Giêsu chẳng hề cảm thấy đó là một ô nhục. Nhục hay không chính là cái đám đông ngày hôm trước tung hô Ngài, ngày hôm sau hò hét đòi đóng đinh Ngài vào thập giá. Người bị “làm nhục” và bị xúc phạm không đương nhiên là người phải xấu hổ cho bằng chính những kẻ hành hạ và làm tổn thương người khác. Tôi chỉ mong mình còn biết hối hận và xấu hổ vì đã xúc phạm đến người khác. Có còn biết hối hận và xấu hổ như thế tôi mới biết mình vẫn còn là “người” và cố gắng sống cho ra người hơn.
Khi nghĩ rằng vì còn biết xấu hổ nên tôi vẫn còn là “người”, vậy chẳng lẽ những ai tự xưng là người cộng sản không còn là “người” nữa sao?