Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2016

Vì một thế giới tốt đẹp hơn



Chu Thập
07.10.16
Vào giữa thập niên 1950, bước vào tuổi gọi là “có trí khôn”, tôi bắt đầu làm quen với ánh sáng văn minh qua nghệ thuật thứ bảy. Phim cao bồi đưa trí tưởng tượng của tôi phiêu bạt sang tận Mỹ. Nhưng thích nhứt vẫn là phim Tarzan, dù là Tarzan của Tây hay của Ấn Độ. Kể từ đó, hễ có phim Tarzan là tôi phải xem cho bằng được. Mới nhứt có cuốn phim “The Legend of Tarzan” (Chuyện Tarzan) do đạo diễn David Yates thực hiện. Thật ra, già đầu rồi, tôi đâu còn tin ba cái chuyện huyễn hoặc này nữa. Có thích chăng là bởi tôi muốn để cho trí tưởng tượng của mình được phiêu bồng nơi những khu rừng già của Phi Châu cũng như cảm thông với nỗi thống khổ của những con người đã từng bị người Tây Phương đàn áp, bóc lột và nô lệ hóa. Nhân vật Tarzan do tài tử Thụy Điển Alexander Skarsgard thủ diễn có lẽ quá xa rời với thực tế của một Tarzan thứ thiệt đã từng sống như dã thú giữa chốn rừng xanh.
Nhưng mới đây, sau khi xem trên báo mạng News.com.au một số hình ảnh từ cuốn phim tài liệu do Alvaro Cerezo, sáng lập viên và giám đốc điều hành của công ty du lịch nổi tiếng Docastway, thực hiện và phổ biến, tôi mới biết rằng ở Việt Nam cũng có một Tarzan và một Tarzan thứ thiệt. Tarzan thứ thiệt của Việt Nam tên là Hồ Văn Lang, đã từng sống trong rừng như dã thú đến 40 năm. Câu chuyện của Tarzan này đã được người Việt Nam biết đến kể từ dạo tháng 8 năm 2013, sau  khi giới chức địa phương đã tiếp cận được nơi ở của anh và cha anh và đưa họ trở về làng. Theo chuyện kể, cách đây 40 năm, ông Hồ Văn Thanh (trú tại xã Trà Phong, Tây Trà, Quảng Ngãi), do chấn thương tâm lý từ một cuộc dội bom của Hoa Kỳ hồi năm 1972, đã dẫn cậu con trai một tuổi tên là Hồ Văn Lang vào rừng sâu trên đỉnh Abon (thôn Trà Kem, xã Trà Xinh, Tây Trà) và sống tách biệt với xã hội loài người.
Dạo tháng 11 năm 2015, ông Cerezo đã đến nơi tái định cư của hai cha con anh Hồ Văn Lang để tìm hiểu về quá khứ cũng như cuộc sống hiện tại của họ. Ông đã cùng với Tarzan trở lại rừng xưa chốn cũ để sống lại những gì mà người rừng này đã trải qua trong suốt 40 năm. Theo nhận xét của ông Cerezo, Tarzan Hồ Văn Lang của Việt Nam có những kỹ năng của một “siêu nhân”. Từ việc cất nhà trên cây, tự chế tạo những dụng cụ từ vỏ bom đạn đến việc chụp lấy một con dơi nhanh như chớp, Hồ Văn Lang đã chứng tỏ sức thích nghi lạ lùng của con người khi sống tách biệt giữa rừng núi. Trước sự chứng kiến của ông Cerezo, trong 5 ngày sống lại cuộc sống hoang dã, Tarzan Hồ Văn Lang đã biểu diễn nghệ thuật làm bẫy săn chuột, bắt dơi cũng như nhóm lửa nướng con mồi như thế nào.
Do sống tách biệt với thế giới cho nên Hồ Văn Lang gặp nhiều khó khăn trong việc thích nghi với xã hội: anh không thể nói được tiếng Việt, không có bất cứ ý niệm nào về thời gian. Đó là chưa nói đến sự lạc lõng của anh trước nhiều tiện nghi vật chất  của thế giới văn minh. Ngoài ra, cho đến khi được khám phá và đưa về làng, Tarzan của Việt Nam cũng không hề nghe nói đến sự hiện hữu của người khác phái. Và theo ông Cerezo, ngay cả sau hơn một năm trở về với xã hội loài người, dù đã có thể phân biệt được đàn ông và đàn bà, anh vẫn không biết được những khác biệt nền tảng giữa hai phái. Ông Cerezo khẳng định rằng Hồ Văn Lang không có bất cứ một ước muốn tính dục nào. Anh chỉ là một đứa trẻ được giam giữ trong thân xác của một người đàn ông trưởng thành. Mặc dù lúc nào cũng nở nụ cười và luôn tỏ ra hòa nhã, Tarzan Hồ Văn Lang lại không có khả năng để phân biệt thiện ác, tốt xấu. Bảo anh giết ai đó, anh sẵn sàng làm ngay không chút nghĩ ngợi.
“Nhân chi sơ tính bản thiện”. Tôi luôn tin như thế. Nhưng nếu cái bản tính thiện không được đánh thức, vun xới và đào luyện thì cái ác sẽ thắng thế. Thế giới loài người đã chứng kiến không biết bao tên sát nhân bẩm sinh (natural born killer). Nhỏ không được uốn nắn và dạy dỗ, lớn lên có đi ăn cướp, giết người thì cũng chẳng có gì phải ngạc nhiên.
KidZania là một khu giải trí và học hỏi rất đặc biệt dành cho trẻ con tại Thủ đô Mễ Tây Cơ và hiện đã mở được nhiều chi nhánh trên khắp thế giới. Tại đây, trẻ con từ 3 đến 14 tuổi có cơ hội để đóng vai người lớn trong nhiều sinh hoạt khác nhau của xã hội. Trong trung tâm, trẻ em sẽ được đi lại tự do bởi vì tại đây không có bất cứ một phương tiện giao thông nào khác ngoài hai loại xe chữa lửa và cứu thương.
Vừa bước vào trung tâm, trẻ con sẽ được trao cho một ngân phiếu 50 “KidZo” (loại tiền tệ dành riêng của trẻ con). Chúng có thể gởi vào ngân hàng và nhận được một thẻ tín dụng. Chúng cũng sẽ nhận được tiền lương do tham gia vào một số  sinh hoạt như: di chuyển nội thất, làm việc trong một giây chuyền sản xuất xe hơi hoặc chữa cháy. Với số tiền nhận được, trẻ em có thể thuê một chiếc xe điện nhỏ để di chuyển trong trung tâm.
Trung tâm KidZania cũng có một thứ ngôn ngữ riêng dành cho trẻ con. Chẳng hạn thay vì chào “Hello”, các em sẽ nói “Kai” hoặc “Z-I” để chào tạm biệt. Tại hầu hết các trung tâm chi nhánh trên khắp thế giới, trẻ con cũng sử dụng ngôn ngữ này.
Một người mẹ đưa cậu con trai 9 tuổi đến trung tâm KidZania để sinh hoạt một ngày. Bà cho biết vé vào cửa trung tâm chỉ giá khoảng 15 Mỹ kim. Sau khi trả tiền, con bà được trao cho một vé lên máy bay (boarding pass) có ghi nơi đến là KidZania kèm với ngân phiếu 50 KidZo. Hành khách vào cửa cũng bị rà soát như khi vào bất cứ phi trường nào. Bên trong là cả một thành phố được tổ chức theo kích thước của trẻ em. Đóng vai người lớn, các em sẽ tập làm đủ thứ nghề, từ chữa lửa, nhân viên cảnh sát đến y tá, bác sĩ...Cuối một ngày sinh hoạt trong trung tâm KidZania, cậu con khoe với mẹ mình một số thành tích cậu đạt được. Điều quan trọng nhứt cậu bé đã khám phá được là tự mình kiếm ra tiền! Ngoài ra, với tham vọng trở thành một phi công, cậu bé cũng được đưa vào một trung tâm dạy bay. Với chiếc mũ phi công, cậu bé được đưa vào phòng lái và đặt ngồi trước một màn ảnh truyền hình để thực hiện những thao tác của một phi công khi cất cánh cũng như lúc hạ cánh...
Ngoài những kỹ năng cần phải học để làm người lớn, trẻ em đến trung tâm KidZania cũng được nhắc nhở về những giá trị nhân bản. Người mẹ của cậu bé có tham vọng làm phi công trên đây cho biết, dọc theo các con đường trong trung tâm, bà đã nhìn thấy nhiều bức tượng bằng đồng với kích thước trẻ em và với khuôn mặt của những nhân vật lịch sử như Mahatma Gandhi, Nelson Mandela, Florence Nightingale (1820-1910: người phụ nữ  nổi tiếng về những cuộc cải cách xã hội tại Anh và người tiên phong trong ngành y tá hiện đại)...
Cách đây vài năm, người sáng lập kiêm tổng giám đốc của trung tâm KidZania là ông Xavier Lopez Ancona đã cho phổ biến một bảng quảng cáo với nội dung như sau: Vì đã chứng kiến một thế giới đầy hỗn loạn mà người lớn đã tạo ra, trẻ con đã xây dựng một đất nước riêng cho chúng. Kèm với tham vọng này, trẻ con đã cho công bố một bản “Tuyên ngôn Độc lập” với những “Quyền” của trẻ em như: Quyền được hiện hữu, Quyền được hiểu biết, Quyền được sáng tạo, Quyền được chia sẻ, Quyền được quan tâm săn sóc người khác và Quyền được chơi. Cùng với bản tuyển ngôn độc lập này, người ta cũng đọc được một khẩu hiệu: “Sẵn sàng cho một thế giới tốt đẹp hơn” (x. Rebecca Mead, When I Grow Up, Reader’s Digest, số tháng 10/2016).
Ý thức hay không, trẻ em đến trung tâm giải trí KidZania hẳn cũng   gởi đi được một thông điệp rõ ràng: người lớn cần phải để lại cho trẻ con một thế giới tốt đẹp hơn!
Ngày nay, khi nhìn vào cuộc sống của trẻ em tại những nước nghèo trên thế giới, trong đó có Việt Nam và nhứt là tại Trung Đông, thật khó để hy vọng rằng trẻ con sẽ có được một thế giới tốt đẹp hơn. Hình ảnh của những đứa trẻ như Aylan Kurdi 3 tuổi chết đuối và trôi dạt vào bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ hồi năm ngoái, của Omran Daqneesh, 5 tuổi, ướt đẫm máu me ngồi bất động trên một chiếc xe cứu thương cách đây vài tháng, và mới đây của một em bé khác không rõ tên tuổi, sau khi được cứu thoát từ những đống gạch vụn của ngôi nhà bị sụp đổ do những cuộc oanh tạc của Chính phủ Syria và Nga, đã ôm chặt lấy người nhân viên y tế...những hình ảnh như thế chỉ có thể nói lên rằng thế giới do người lớn kiến tạo chưa phải là một nơi tốt đẹp.
Sống tách biệt với thế giới loài người và không được giáo dục, Tarzan Việt Nam Hồ Văn Lang hẳn không những chỉ biết sống như dã thú mà cũng chẳng bao giờ dám mơ đến một thế giới tốt đẹp. Sinh ra và lớn lên trong tình trạng bất ổn triền miên và không có điều kiện để được sống như những con người bình thường như những em bé Syria làm sao dám nghĩ đến một thế giới tốt đẹp.
Xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn! Một thông điệp như thế nghe xa vời quá. Xóa đói giảm nghèo phải chăng không là chuyện lớn của các nhà lãnh đạo thế giới. Tìm kiếm hòa bình tại những nơi đang có xung đột đẫm máu phải chăng không là giải pháp mà chỉ có các nhà lãnh đạo thế giới, nhứt là các nhà lãnh đạo của các cường quốc mới có thể đạt được. Ai có thể làm cho tiếng súng được im tại Syria nếu không phải là Hoa Kỳ và Nga, nhứt là Nga.
Nhưng nghĩ cho cùng, xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn không hẳn chỉ  là chuyện đại sự của những kẻ quyền thế trong xã hội loài người. Với tôi, xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn là trách nhiệm của mỗi người có mặt trên trái đất này. Dù ở địa vị nào, dù đóng vai trò nào, ai cũng phải chia sẻ trách nhiệm ấy. Đến một nơi nào đó để rồi ra đi mà vẫn để lại một chỗ tốt đẹp cho người đến sau không phải là góp phần xây dựng một thế giới tốt đẹp rồi sao. Sống và cư xử như thế nào, dù ở bất cứ nơi nào, để người đến sau vẫn còn nhận ra được đó là một nơi đáng sống và tìm được niềm vui sống cũng là một cách góp phần xây dựng một thế giới tốt đẹp rồi.
Tôi thường nghĩ đến lời khuyên của ông bà ngày xưa: sống sao để để đức lại cho con cháu! Của cải vật chất, có thể con cái không cần đến. Con cái có thể phung phí tiền của cha mẹ để lại. Thậm chí, vì gia tài cha mẹ để lại mà con cái có thể mang nhau ra tòa hay xâu xé nhau. Địa vị xã hội cũng chẳng truyền lại được cho chúng. Cha mẹ có thể là bậc thông thái, nhưng chưa chắc con cái sẽ trở thành những người tài ba xuất chúng. Để đức lại cho con cái là để lại đạo lý làm người mà chính cha mẹ đã sống nhờ đó con cái có thể nên người và sống tử tế. Một cuộc sống như thế hẳn sẽ góp phần vào việc kiến tạo một thế giới tốt đẹp hơn. Mà thế giới này tốt đẹp hơn đâu chỉ nhờ cái đức của cha mẹ để lại cho con cái. Như hòn sỏi nhỏ ném vào  hồ có thể làm cho mặt nước chao động và tỏa lan vào bờ, bất cứ hành động tử tế nào mà chẳng ít hay nhiều chạm vào trái tim của một ai đó để rồi trở thành giây chuyền của liên đới nối kết nhiều người với nhau.




Thứ Tư, 12 tháng 10, 2016

“Ăn để chết”



Chu Thập
12.03.13

“Ăn để chết” là tựa đề của một bài báo trong nước về điều thường được gọi là “văn hóa ẩm thực” tại Việt Nam thời xã hội chủ nghĩa. Ngoài tựa đề ra, bài viết chẳng có gì mới mẻ. Chuyện ăn uống của người Việt nam trong nước hiện nay là một đề tài không bao giờ cạn. Thoạt đọc qua tựa đề, tôi không thể không liên tưởng đến bữa ăn cuối cùng của các tử tội trước khi bị đem đi hành quyết. Mà suy cho cùng, dường như cái lối ăn uống của nhiều người Việt Nam trong nước hiện nay chẳng khác bao nhiêu với bữa ăn cuối cùng của các tử tội.
Bài viết nói đến trường hợp của một bệnh nhân tại quận Đống Đa, Hà nội: “Bệnh nhân 54 tuổi này đã rời xa các bàn nhậu từ khoảng gần một năm nay vì bệnh tiểu đường. Trước đây, trong các cuộc nhậu của bạn bè, gần như ông không bao giờ vắng mặt. Bác sĩ trưởng khoa Tim mạch tại Bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội cho biết ông đã gặp nhiều người (nói không ngoa) chết vì ăn, chết vì uống. Ông bác sĩ này kể lại: “Một bệnh nhân mới 45 tuổi, khi còn nghèo khó thì làm việc cật lực, chí thú kiếm tiền và tiết kiệm. Đến khi có nhiều tiền, anh quay ra ăn uống nhậu nhẹt vô biên, ngày nào cũng nhậu, có ngày nhậu mấy cuộc. Ở tuổi 45, anh chết vì xơ gan sau một thời gian dài phải “đeo ba lô ngược” (bụng quá phệ).
Cũng theo bài viết, có nhiều bệnh nhân ăn uống vô độ, chỉ cao khoảng 1m63, nhưng nặng đến gần một tạ. Gia đình bệnh nhân này lại có tiền sử mấy đời cao huyết áp. Khi được bác sĩ khuyên cần phải giảm cân bằng cách giảm ăn, tăng vận động, bệnh nhân từ chối hợp tác vì nhịn ăn là chuyện không thể.
Bác sĩ trưởng khoa Tim mạch, bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội nhận định: “Nếu cứ như vậy thì anh ta không phải ăn để sống, mà là ăn để chết. Tôi thấy xã hội chúng ta giờ trọng chuyện ăn uống quá. Làm việc gì cũng phải có tiệc chiêu đãi toàn món ngon, bổ béo”.
Bác sĩ này cũng cho biết: đa số những người “ăn để chết” đều là những người giàu có và các bệnh phổ biến hơn cả vẫn là tim mạch, huyết áp, gan, thận, tiểu đường.
Dĩ nhiên, nếu có những người giàu “ăn để chết” thì cũng không thiếu người nghèo bị buộc phải ăn thực phẩm rẻ tiền, không hợp vệ sinh, không an toàn do đó cũng bị mang bản án “ăn để chết”. Tựu trung, người giàu chết vì béo phì, còn người nghèo chết vì thiếu vệ sinh.
Phải nói chẳng có nơi nào trên thế giới, người ta ăn nhậu tưng bừng như ở Việt nam. Sáng sớm, mới mở mắt đã thấy có người gánh hàng đi ngang trước nhà. Tối đến, khuya lơ khuya lắc, không chỉ các nhà hàng sang trọng, mà các hàng quán rẻ tiền cửa vẫn mở. Tiệc vui, người ta ăn nhậu đã đành, mà ma chay, người ta cũng nâng ly “dzô” tới bến.
Không biết có phải vì điếc mà người ta không sợ súng chăng? Người Pháp thường nói “bụng đói không có tai”. Đây là kinh nghiệm của cá nhân tôi.  Sau năm 1975, cái bụng đói của tôi hầu như không còn tai nữa.  Cà phê được pha chế cỡ nào, tôi cũng nốc. Thuốc lá có tẩm thuốc độc cỡ nào tôi cũng rít. Rượu thì khỏi nói. Biết người ta bỏ thêm thuốc rầy Mitox vào để tăng nồng độ rượu, tôi cũng chẳng chê. Còn thịt mỡ có thèm “nhỏ rãi” cũng chẳng có mà ăn, hơi đâu mà quan tâm đến “Cholesterol”, tức mỡ trong máu. Cũng nhờ “được” sống trong thiên đàng xã hội chủ nghĩa mà hầu như thịt gì tôi cũng nếm. Đúng là hễ con gì cựa quậy, nhúc nhích là xơi được ráo! Người Việt Nam nào đã từng sống dưới chế độ cộng sản có lẽ cũng đều đã trải qua những cảnh phải tranh đấu với thiên nhiên để sống còn chẳng khác gì Bear Gryllss trong chương trình truyền hình “Man vs Wild” (người chống chọi với thiên nhiên).
Ngày nay, sau gần nửa đời người sống ở xứ người, ý thức hơn về những đòi hỏi của phép vệ sinh, nhứt là vệ sinh trong ẩm thực, học được đôi chút về nếp sống văn minh, tôi không thể hiểu được tại sao mình đã có thời ăn uống bừa bãi như thế trong 5 năm sống dưới chế độ cộng sản.
Tôi hiểu được phần nào phản ứng, cách suy nghĩ và ngay cả phán đoán gay gắt của ông Joel Brinkley, giáo sư chuyên ngành báo chí thuộc trường đại học Stanford, Hoa kỳ, về cách ăn uống hiện nay của người Việt Nam trong nước. Theo ông giáo sư đã từng đoạt giải Pulitzer này, sở dĩ người Việt Nam “hung hăng, hiếu chiến” là vì ăn nhiều thịt.
Giáo sư Brinkley đã đưa ra nhận xét trên đây sau một chuyến du lịch 10 ngày xuyên qua nhiều nơi tại Việt Nam. Viết trên báo The Chicago Tribune, ông Brinkley cho rằng du khách đến Việt Nam hầu như chẳng còn thấy bóng dáng thú nuôi hay động vật hoang dã nữa bởi vì đa số đều đã bị người Việt Nam hiện nay săn tìm để xơi tái.
Ông viện dẫn những cuộc chiến của Việt Nam Cộng Sản với Trung Quốc và Campuchia để kết luận rằng vì thường xuyên ăn thịt cho nên người Việt Nam hung hăng hơn nhiều so với người dân các nước lâng bang.
Dĩ nhiên, bài viết của ông giáo sư của trường đại học danh tiếng Stanford trên đây đã tạo ra một làn sóng phản đối mạnh mẽ từ người Việt khắp nơi trên thế giới, khiến báo The Chicago Tribune phải chính thức lên tiếng xin lỗi.
Không phải quơ đũa cá nắm, nhưng bất cứ người Việt hải ngoại nào về thăm Việt Nam một lần cũng đều nhận thấy người Việt Nam sống dưới chế độ cộng sản hiện nay “khác” với người Việt Nam trước năm 1975. Khác nhiều thứ lắm. Khác nhứt là cách ăn uống. Như ông bác sĩ ở Bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội trên đây đã nói, nhiều người Việt Nam trong nước hiện nay “ăn để chết”. Nghe như một nghịch lý. Nhưng thực tế là như vậy. Không chết dần chết mòn trong thân xác, thì cũng chết từ từ trong nhân cách. Người Tây Phương có lý để nói rằng “we are what we eat” (tạm dịch: ăn cái gì thì người như vậy). Tính khí của người ăn chay trường chắc chắn khác với kẻ nhậu nhẹt quanh năm ngày tháng. Người ăn uống điều độ hẳn cũng có tư cách khác với kẻ ăn uống bừa bãi, vô độ.
Người Việt Nam chúng ta thường nói: “miếng ăn là miếng tồi tàn”. Kỳ thực, tự nó, miếng ăn là điều tốt. Miếng ăn nuôi thân xác, tạo sự gặp gỡ, giúp thể hiện tình liên đới và chia sẻ. Có tồi tàn chăng là trong tư cách của con người mà thôi. Chỉ biết tới cái bụng của mình, chỉ biết ăn cho sướng cái lỗ miệng mà chẳng màng đến sức khỏe, bệnh tật và những hệ lụy đối với người thân và xã hội, ăn như thế đúng là ăn để chết và chết tồi tàn.
Trong một bài viết về cái ăn, tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc cho rằng dân tộc Việt Nam bị “ám ảnh” bởi cái ăn. Chuyện gì cũng quy về cái ăn. Từ nào cũng có thể được ghép với chữ ăn.Thật ra, ông bà ta không hẳn theo triết lý hiện sinh, nhưng đã có lý để xem cái ăn như chuyện quan trọng nhứt trong đời người, cho nên mới xếp việc “học ăn” lên đầu của mọi thứ học. Cứ như “học ăn” được thì chuyện gì cũng học được hết!
Chúa Nhựt vừa qua, trong giờ Thánh lễ, tôi đã bị “thu hút” bởi cái miệng của một bé gái khoảng một tuổi, ngồi với cha mẹ ở băng ghế phía trước. Trong các nhà thờ Úc, người ta thường thiết kế một chỗ đặc biệt ở phía cuối dành riêng cho thơ nhi đi cùng cha mẹ. Ngồi trong một “lồng kiếng” như thế, trẻ con tha hồ la hét. Nhưng cũng có nhiều bậc cha mẹ phá lệ, mang trẻ thơ đến ngồi hòa đồng trong đám đông. Gặp lúc muốn nghe bài giảng của vị linh mục thì trẻ thơ, dù có dễ thương cách mấy, cũng làm cho mình khó chịu. Nhưng khi vị linh mục giảng mà mình có chăm chú cách mấy cũng chẳng hiểu gì thì trẻ thơ, dù có quậy phá cỡ nào, cũng vẫn là “thiên thần” cứu nguy khỏi cơn…ngủ gục. Vị thiên thần ở trước mặt tôi quả đã mang lại cho tôi nhiều giây phút “thoải mái” trong giờ lễ. Cô bé có cái miệng thật xinh. Có lúc cô nói bi bô. Có lúc cô quay xuống cười với vợ chồng tôi. Nhưng động tác chính của cô vẫn là cầm bất cứ món gì cũng cho vào miệng, không riêng miệng mình mà còn nhét vô miệng cha mẹ nữa một cách thật dễ thương.
Tan lễ, khi bàn đến cái miệng của cô bé thiên thần trong nhà thờ, nhà tôi nhắc lại hai điểm nổi bật trong tư tưởng của cha đẻ phân tâm học Sigmund Freud (1856-1939). Theo ông, đời người có hai giai đoạn: giai đoạn tuổi thơ tập trung vào cái miệng; cái gì cũng đưa vào miệng. Giai đoạn trưởng thành lại xoay quanh tính dục; bản năng tính dục chi phối mọi sinh hoạt của con người; động lực đàng sau mọi hoạt động của con người luôn là tính dục.
Vai trò của tính dục trong cuộc sống con người, theo quan niệm của Freud, có thể còn trong vòng tranh cãi. Nhưng về vai trò của cái miệng ở tuổi thơ và ngay cả trong tuổi trưởng thành, thì quả thật tôi thấy khó chối cãi được. Trong thân thể con người, miệng không phải là cơ phận quan trọng nhứt sao? Và trong các chức năng của miệng, ăn không phải là sinh hoạt chính sao?
Đâu phải chỉ có người Việt Nam mới xem “chuyện ăn” là điều quan trọng nhứt trong cuộc sống con người. Tôi nghĩ đến câu chuyện ông bà nguyên tổ loài người Adam và Eva bị cám dỗ trong vườn địa đàng. Cơn cám dỗ đầu tiên của hai ông bà này, dù có giải thích như thế nào đi nữa, vẫn xoay quanh chuyện ăn. Điều này cho thấy cám dỗ lớn nhứt trong đời người có lẽ vẫn là chuyện ăn uống.
Cũng trong Kinh Thánh, tôi đọc được rằng cơn cám dỗ đầu tiên mà Chúa Giêsu phải trải qua sau 40 đêm ngày chay tịnh cũng chính là về cái ăn. Ma quỉ dụ dỗ Ngài: hãy biến những hòn đá trước mặt thành bánh mà ăn!
Tôi không biết Chúa Giêsu có phải là một người thích ăn uống nhậu nhẹt không. Nhưng rất nhiều những sinh hoạt chính của Ngài được ghi lại trong Kinh Thánh lại liên quan đến chuyện ăn uống. Hẳn Ngài cũng đã nhiều lần ngồi vào bàn nhậu để chén thù chén tạc với phường thu thuế cho nên những kẻ chống đối Ngài rêu rao rằng Ngài là một tên “bợm nhậu”. Chắc chắn Chúa Giêsu phải xem chuyện ăn uống là điều quan trọng trong cuộc sống con người cho nên trong rất nhiều bài giảng, Ngài thường xử dụng hình ảnh của bữa tiệc hay tiệc cưới. Rõ ràng nhứt là trước khi chết, nghi thức mà Ngài muốn trối lại cho các môn đệ để cử hành và tưởng nhớ đến Ngài cũng chính là một bữa tiệc (thường gọi là Tiệc Ly).
Ngày nay, mỗi lần gặp nhau trong các thánh lễ Chúa Nhựt, các tín hữu Kitô cũng lập lại nghi thức “ăn uống” ấy. Đỉnh điểm của đời sống tôn giáo của họ là một bữa ăn. Họ lập lại bữa ăn ấy không chỉ để tưởng niệm Đấng Cứu Độ, mà còn để tự nhắc nhở rằng cuộc sống tự nó phải là một bàn ăn trong đó mọi người đều được mời gọi ngồi bên nhau và chia sẻ cho nhau. Cuộc sống vẫn mãi mãi là một trường dạy “học ăn”.
Trong lúc trà dư tửu hậu, khi chia sẻ với bạn bè thân quen, tôi thường nói rằng, với tôi, trong các thứ học thì học làm người là điều khó nhứt. Người, theo một định nghĩa mà tôi vẫn cho là xác đáng nhứt, là “một con vật có lý trí”. Xét dưới nhiều phương diện, con người chẳng khác con thú bao nhiêu. Có khác chăng là bởi con người có lý trí và luôn phải hành động theo lý trí. Vứt cái lý trí đi thì con người sẽ hành động chẳng khác gì thú vật. Cụ thể là chuyện ăn uống. Hãy thử tưởng tượng: khi ta tạm nghỉ chơi với lý trí để được tự do ăn uống như súc vật, chuyện gì xảy ra nếu không phải là: con người chỉ còn biết “ăn để chết”.
Có lẽ vì học làm người là chuyện khó nhứt trong cuộc sống và trong học làm người thì ăn lại là chuyện phải học suốt cả một đời, cho nên trong tôn giáo nào cũng có chuyện ăn chay. “Ăn chay” chính là “học ăn”. Ăn như thế nào để “ăn không phải để chết” mà là để sống và sống sung mãn trong nhân cách vậy.



Thứ Hai, 10 tháng 10, 2016

Ấn Độ: Trường dành cho những người đi chân không!


07.10.16
“Barefoot College” (Trường dành cho người đi chân không) là một trung tâm đào tạo kỹ thuật nổi tiếng hiện nay tại Tilonia, Tiểu bang Rajasthan, Bắc Ấn Độ. Trường đã đào tạo cho hàng ngàn chuyên viện điện gồm toàn phụ nữ thất học từ khắp nơi trên thế giới. Zafitsiha, một phụ nữ xuất thân từ một ngôi làng nghèo nàn có tên là Tsaratanana, Madagascar, là một trong số những chuyên viên điện tốt nghiệp từ trường Barefoot College này.
Từ tháng 3 cho đến tháng 10 năm 2013, bà Zafitsiha đã cùng với hai phụ nữ khác trong làng đã tham dự một khóa học về năng lượng mặt trời tại trường Barefoot College. Để tham dự khóa học, bà Zafitsiha đã phải xa hai người con và các cháu của bà. Lần đầu tiên trong đời, người phụ nữ không biết đọc biết viết này được đi máy bay. Vậy mà sau khi tốt nghiệp và trở về quê hương, bà Zafitsiha đã có thể thực hiện được một cuộc thay đổi lớn lao cho làng Tsaratanana của bà khi mang lại điện năng cho rất nhiều căn hộ trong làng.
“Trường dành cho người đi chân không” nhắm đến 3 mục tiêu. Trước hết, đưa điện mặt trời đến với những nơi xa xôi hẻo lánh nhất trên thế giới. Madagascar, đất nước của bà Zafitsiha, là nơi mà 85 phần trăm dân số không hề biết đến điện năng. Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế của Liên Hiệp Quốc, hiện trên thế giới vẫn còn 1.2 tỷ người sống trong tăm tối vì không có điện và gánh chịu không biết bao nhiêu hậu quả. Thiếu ánh sáng, người lớn không thể làm việc khi màn đêm buông xuống và trẻ con không thể làm bài tập ở nhà. Các bác sĩ bị buộc phải giải phẫu chỉ với ánh sáng từ các ngọn đèn pin và người bệnh chết vì thuốc men không có tủ lạnh để cất giữ. Không có điện thì đương nhiên cũng chẳng có Internet, truyền hình, truyền thanh hay bất cứ phương tiện điện tử nào. Thiếu điện cho nên không thể nói đến sản xuất hàng loạt và dĩ nhiên kinh tế không thể gia tăng. Các chuyên viên về phát triển mô tả hiện tượng thiếu điện như một sự nghèo nàn về năng lượng.
Cũng với mục tiêu mang điện đến cho các vùng hẻo lánh trên thế giới, “Trường dành cho người đi chân không” cũng nhắm đến việc xóa bỏ nghèo đói, đồng thời gia tăng sự tự tin cho nữ giới. Trong những ngôi làng truyền thống, thường chỉ có đàn ông mới là những người làm những quyết định quan trọng và nắm giữ túi tiền. Chính vì vậy mà “Trường dành cho người đi chân không” được thành lập chỉ để đào tạo các chuyên viên nữ. Song song với kỹ thuật, các học viên của trường cũng được huấn luyện để trở thành những con người độc lập về tài chính và mẫu mực cho các phụ nữ khác.
Mục tiêu thứ ba của trường là đề ra một hình thức viện trợ phát triển mới. Sau khi được huấn luyện, các chuyên viên năng lượng mặt trời tốt nghiệp từ trường này sẽ trở về làng của họ. Tại đây mỗi người sẽ trang bị và bảo quản 50 hệ thống năng lượng mặt trời cho một số căn hộ trong làng. Phí tổn sẽ do chính ngôi làng đài thọ.
Tính từ năm 2013 đến nay, “Trường dành cho người đi chân không” đã cung cấp điện cho hơn nửa triệu căn hộ trên khắp thế giới. Đèn chạy bằng năng lượng mặt trời do trường cung cấp đã mang lại ánh sáng cho các làng mạc hẻo lánh tại 72 quốc gia tại Phi Châu, Khối Á Rập, Á Châu và Châu Mỹ La Tinh. Dự án do trường đề ra hiện đang đạt đến giai đoạn cuối cùng: chính các chuyên viên tốt nghiệp đang huấn luyện cho các phụ nữ khác để mang điện và ánh sáng đến cho hàng chục ngôi làng khác.
Tháng 3 năm 2013, khi bà Zafitsiha rời làng để sang thụ huấn tại “Trường dành cho người đi chân không” tại Ấn Độ, cả làng của bà vẫn còn chìm ngập trong bóng tối. Về đêm, dân chúng trong làng không thể làm những công việc nặng hoặc ngay cả nhìn thấy mặt nhau. Với dân làng, ngày hoàn toàn chấm dứt khi mặt trời lặn. Khói xông ra từ những ngôi nhà tranh vách đất cũng khiến cho phổi của nhiều người bị hư hại. Bà Zafitsiha muốn chấm dứt tình trạng ấy, đồng thời cũng muốn có đồng ra đồng vào.
Suốt đời, người phụ nữ này chỉ biết làm việc nội trợ và chăm sóc con cháu. Ông Loto Raphael, người trưởng thôn, đã khuyến khích bà nên qua Ấn Độ để thụ huấn một khóa về năng lượng mặt trời. Ông nói với bà rằng một khi bà tốt nghiệp “kỹ sư năng lượng mặt trời”, làng sẽ trả lương cho bà. Nhưng cũng không thiếu người dèm pha và tìm cách ngăn cản bà tham dự khóa học. Họ nói rằng người Ấn Độ muốn dụ dỗ phụ nữ đến đất nước của mình để biến họ thành nô lệ. Nhiều người dân làng còn bảo rằng họ đã nghe kể những chuyện như người Ấn Độ lấy máu của các phụ nữ Madagascar để bán cho các bệnh viện. Nhưng bà Zafitsiha không muốn tin những chuyện nhảm nhí như thế.
Cùng đi với bà Zafitsiha còn có một phụ nữ khác và cô con gái của chính ông thôn trưởng. Ông cam kết: “Nếu 3 người phụ nữ này không trở về, quý vị có thể giết tôi”. Với một sự bảo đảm như thế, 3 người phụ nữ Madagascar đã mạnh dạn sang Ấn Độ để học hỏi về năng lượng mặt trời.
Là một người đã từng sống trong những thôn làng hẻo lánh, ông Sanjit “Bunker” Roy, sáng lập viên của “Trường dành cho người đi chân không” luôn tin tưởng rằng người nghèo và thất học thường tìm ra được những giải pháp mà nhiều người không thể hiểu được. Khóa huấn luyện về năng lượng mặt trời tại “Trường dành cho những người đi chân không” được  đặt  trên chính sức mạnh và óc sáng tạo của người nghèo và thất học. Không biết đọc biết viết, nhưng các phụ nữ nghèo có thể hiểu và lắp ráp các thiết bị của năng lượng mặt trời một cách dễ dàng.
Cách đây vài năm, ông Roy đã được cả thế giới tán thưởng về sáng kiến của ông. Năm 2010, tạp chí Time đã đặt ông vào danh sách của một 100 người có ảnh hưởng nhất trên thế giới. Khi đề cao tên tuổi của ông, tạp chí Time viết rằng ông đã “tìm ra được một cách tốt đẹp hơn để giải quyết vấn đề nghèo đói”.
Mỗi một đơn vị năng lượng mặt trời do “Trường dành cho người đi chân không” cung cấp gồm đúng 130 “bộ phận”. Chỉ sau 3 tháng theo học tại trường, bà Zafitsiha và các học viên khác đã có thể ráp nối lại trong không đầy hai tiếng đồng hồ. Cùng với hai người phụ nữ đã từng theo khóa học tại Ấn Độ, bà Zafitsiha đã tự tay ráp những bóng đèn sử dụng năng lượng mặt trời cũng như nhiều thiết bị khác. Khi mới đặt chân đến trường, bà không nghĩ rằng mình sẽ có thể làm được điều đó một cách nhuẩn nhuyễn như thế. Cùng theo học với bà còn có nhiều bà ngoại bà nội đến từ những nước như Colombia, Panama, Nicaragua, Miến Điến, Zanziba...và nhiều nước nghèo khác trên thế giới. Mặc dù không nói cùng một ngôn ngữ, lại chẳng biết bất cứ một ngoại ngữ nào ngoài tiếng mẹ đẻ, vậy mà những bà mẹ quê này vẫn có thể nói chuyện với nhau. Chỉ sau một thời gian ngắn, họ đã phát minh ra một thứ ngôn ngữ bằng dấu hiệu để liên lạc với nhau.
Ngoài các kỹ thuật về năng lượng mặt trời, họ cũng học cách làm nến, làm phấn viết cũng như dệt vải và may vá. Đây là lần đầu tiên trong đời bà Zafitsiha biết sử dụng máy may. Đây quả là một giây phút cảm động đối với bà. Khi bà được 14 tuổi, một hôm cha bà mang về cho bà một chiếc áo mới. Rất tiếc là chiếc áo rộng quá khổ do đó trong nhiều năm trời, bà chỉ biết cất giữ thật kỹ nó thật kỹ. Khi đã lớn đủ, bà mới mặc áo để đi tham dự một bữa tiệc. Từ lúc đó, bà nói với cha mình: “Con mong có được một chiếc máy may để tự tay may áo quần cho mình”. Sau khi tốt nghiệp “kỹ sư năng lượng mặt trời”, bà Zafitsiha mới dám nghĩ đến đến chuyện mua máy may cho riêng mình.
Kể từ khi năng lượng mặt trời được bà Zafitsiha và hai người đồng nghiệp của bà đưa về làng Tsaratanana, cuộc sống của dân làng đã thay đổi rất nhiều. Nhiều người đã biết thế nào là Internet, truyền thanh và truyền hình. Tuy nhiên, hiện vẫn còn nhiều người nghèo đến độ không đủ tiền để thiết lập hệ thống năng lượng mặt trời được “Trường dành cho người đi chân đất” cung cấp và được bà Zafitsiha và các đồng nghiệp của bà ráp nối. Để tạm thời giúp giải quyết vấn đề này, bà Zafitsiha và 2 đồng nghiệp của bà đã tự nguyện xin giảm lương hàng tháng của họ từ 20 xuống còn 10 Mỹ kim. Chính vì vậy mà cho tới nay bà Zafitsiha vẫn chưa đạt được giấc mơ là mua một chiếc máy may cho riêng mình.
Hiện “Trường dành cho những người đi chân không” vẫn còn ôm ấp nhiều kế hoạch đầy tham vọng. Cơ sở đào tạo kỹ thuật dành cho phụ nữ nghèo này tin tưởng rằng vào cuối năm tới sẽ mang điện và ánh sáng đến cho một triệu căn hộ nghèo trên khắp thế giới. Trong những năm kế tiếp, Trường còn hy vọng sẽ cung cấp điện cho nhiều vùng rộng lớn trên thế giới. Dĩ nhiên một chương trình rộng lớn như thế cần có sự ủng hộ và tiếp tay của các chính phủ của những nước nghèo. Nhưng cho tới nay,  giữa những hứa hẹn và hành động của các chính phủ vẫn còn có một khoảng cách quá lớn. Tại Madagascar chẳng hạn, chính phủ đã loan báo sẽ hợp tác với “Trường dành cho người đi chân không” để cung cấp diện cho 630.000 căn hộ tại 744 ngôi làng khác nhau vào năm 2030. Ngoài ra cũng có kế hoạch sẽ mở những trường tương tự như “Trường dành cho người đi chân không” tại Madagascar. Tuy nhiên, “Trường dành cho người đi chân không” cho biết cho tới nay vẫn chưa nhận được bất cứ trợ cấp nào cho những dự án như thế. Tại nhiều nước khác cũng thế, việc thương lượng với các chính phủ để thực hiện các dự án của “Trường dành cho người đi chân không” vẫn luôn diễn ra một cách chậm chạp. Nhưng có thể đây cũng là một điều tốt để dân chúng từ từ thích nghi với chương trình điện hóa nông thôn của “Trường dành cho người đi chân không” và cũng để Trường này tìm ra những giái pháp cho những hậu quả xã hội mà năng lượng mặt trời có thể tạo ra cho những ngôi làng nghèo nàn như làng Tsanatarana của bà Zafitsiha. Ánh sáng văn minh nào cũng là một con dao hai lưỡi. Nó mang lại một số tiện nghi  và cải thiện cuộc sống vật chất của con người, nhưng đồng thời cũng tạo ra một số tệ nạn xã hội. Những “kỹ sư năng lượng mặt trời” như bà Zafitsiha hẳn hiểu được hơn ai hết những tệ nạn xã hội có thể xảy ra cho việc điện hóa nông thôn, nhất là trong thời đại thông tin toàn cầu này.
Tuy nhiên, mỗi khi chiều  đến, từ nhà nhìn sang những sườn núi bên cạnh, bà Zafitsiha cảm thấy hài lòng và hãnh diện  về công việc mình đang làm. Những mái nhà tranh trong thung lũng hay trên các ngọn đồi đã được chiếu sáng. Chính bà đã góp phần mang ánh sáng về cho ngôi làng của mình như bà đã từng cam kết khi khăn gói lên đường “Trường dành cho người đi chân không” bên Ấn Độ để học hỏi về năng lượng mặt trời. Kể từ đó bà vẫn luôn tự nhủ sẽ bằng mọi giá giữ cho ngôi làng của mình được cháy sáng.


(theo: http://www.spiegel.de/international/tomorrow/development-aid-illiterate-women-trained-as-solar-technicians)

Thứ Sáu, 7 tháng 10, 2016

Cho nhau niềm cảm hứng



Chu Thập
30.09.16
 Không biết có phải  “kính lão” thì đương nhiên “đắc thọ” không, nhưng với tôi người già là cả một kho tàng vô giá cho xã hội. Nói đến người già là nói đến kinh nghiệm, sự khôn ngoan và cảm thông. Tôi luôn có cái nhìn như thế đối với những người lớn tuổi hơn mình.
Trong khu xóm của tôi hiện đang có những cụ già thật đáng kính nể. Đặc biệt là cặp vợ chồng già láng giềng của tôi. Đã quá 85,  ông vẫn còn lái xe, bà vẫn còn làm đủ mọi việc nội trợ. Không những không cần  bộ xã hội gởi người đến chăm sóc, hai ông bà hầu như ngày nào cũng tìm ra việc gì đó để làm: không nhổ từng cọng cỏ dại thì cũng quét dọn, chăm sóc vườn hoa,  lau nhà. Mang lại cho tôi nhiều cảm hứng hơn cả là nụ cười hớm hỉnh, những câu bông đùa của cụ ông.
Nhưng có một cụ ông khác mà tôi phải tôn lên bậc thày của mình. Hầu như ngày nào tôi cũng gặp cụ trong giờ chạy bộ mỗi buổi sáng. Gần 90 tuổi, cụ vẫn có những bước đi nhanh nhẹn. Có lần cụ kể cho tôi nghe về một thời oanh liệt của cụ khi mỗi năm cụ đều đoạt giải vô địch trong cuộc chạy việt dã ở cấp địa phương. Cụ bà đã mất cách đây 6 năm. Con cái cháu chắt đều đã yên bề gia thất. Cụ sống một mình và tự lo cho mình trong mọi sinh hoạt. Cụ còn cho biết mỗi tuần vẫn bỏ ra ba ngày để dạy vũ. Lúc nào gặp cụ tôi cũng chỉ biết thốt lên: “Cám ơn cụ đã mang lại cho tôi niềm cảm hứng!”
Thật vậy, những cụ già như cặp vợ chồng già hàng xóm của tôi hay như cụ ông tôi gặp mỗi ngày trong giờ chạy bộ đều mang lại cho tôi niềm cảm hứng để phấn đấu, để cố gắng vượt qua những khó khăn, để vận động cơ thể, để sống khỏe và dĩ nhiên để yêu đời. Niềm cảm hứng mà các cụ già mang lại cho tôi lại được củng cố bởi một trang về sức khỏe được đăng trên tạp chí Time số ra ngày gần đây. Theo bài báo, có nhiều lý do để tập thể dục: thể dục không những giúp cho thân thể được khỏe mạnh dẻo dai, mà còn làm cho thần kinh bớt căng thẳng, thể dục làm  giảm nguy cơ của nhiều chứng ung thư, thể dục gia tăng trí nhớ, thể dục có thể giúp kiềm chế được những cơn thèm ăn, thể dục mang lại năng lực cũng như có thể giúp ngăn ngừa được sự trầm cảm (Time 29/8/2016).
Trên đây là những lợi ích của thể dục mà các cụ già còn tràn đầy năng lực luôn gợi lên cho tôi. Nhưng đã bảo tuổi già là một kho tàng vô giá cho xã hội thì tôi cũng nghĩ rằng bất cứ một cụ già nào, nhứt là những cụ không còn khả năng hoạt động hoặc ngay cả nằm bất động trong các nhà dưỡng lão, cũng đều có thể là một niềm cảm hứng cho tôi. Các cụ chẳng ngầm nhắc bảo tôi: hiện tại của tôi là ngày mai của bạn!
Thật ra, ở tuổi nào, trong tình trạng nào, ai cũng đều có thể mang lại một niềm cảm hứng cho người khác. Có ai nghèo nàn đến độ không có gì để trao tặng cho người khác đâu. Tôi không thể không nghĩ đến tài tử Quentin Kenihan của Úc Đại Lợi. Tất cả những ai đã xem cuốn phim “Mad Max: Fury Road” (2015) do đạo diễn George Miller nổi tiếng của Úc thực hiện đều phải chú ý đến nhân vật dị tướng ngồi trên xe lăn tên là Corpus Colossus. Người thủ vai nhân vật này chính là tài tử Quentin Kenihan. Mắc chứng hoại xương từ trong lòng mẹ, vừa mới chào đời Kenihan đã gẫy đến 8 cái xương một lúc, kể cả hai tay và hai chân. Theo lời các bác sĩ, ông không thể sống quá một ngày. Vậy mà nay Kenihan đã được 41 tuổi, mặc dù đã từ từ gẫy không biết bao nhiêu xương. Một cú cựa mình trên giường cũng đủ lấy đi của anh một phần xương.
Trong một cuộc phỏng vấn dành cho chương trình Current Affair của Đài số 9 tối 23 tháng 9 vừa qua, tài tử khuyết tật này đã kể lại tuổi thơ bất hạnh của mình. Anh cho biết đã từng bị cha mẹ bỏ rơi trong bệnh viện và cũng có lúc toan tự kết liễu cuộc sống. Nhưng trong lúc đen tối như thế, anh đã nhận được một cú điện thoại của tài tử gạo cội Russell Crowe, người đã đoạt giải Oscar với vai chính trong  cuốn phim “Gladiator” (võ sĩ giác đấu). Trên điện thoại, tài tử Crowe đã khuyên Kenihan: “Hoặc là sống hoặc là chết. Và nếu bạn chết hãy chết một cách xứng đáng và hãy câm miệng lại. Đừng nghĩ đến bản thân nữa mà hãy tạo niềm cảm hứng cho người khác”. Kenihan cho biết: kể từ đó anh đã cố gắng sống và lúc nào cũng muốn mang lại niềm cảm hứng cho người khác.
Những con người đã “vượt qua số phận” như tài tử Kanihan và mang lại niềm cảm hứng cho người khác, có lẽ thế giới không bao giờ thiếu. Nhưng họ không phải là số nhiều và không chỉ có những con người như thế mới có thể mang lại niềm cảm hứng cho người khác.
Tôi vẫn cố gắng nhìn đời với đôi mắt lạc quan. Nhưng để tránh “lạc quan tếu”, tôi không cho phép mình tự ru ngủ để nhắm mắt làm ngơ trước thực tế của những bức tranh ảm đạm của thế giới quanh tôi. Ngày nay thế giới thường được mô tả như một ngôi làng. Trong một bản phúc trình, để cho dễ hiểu, Liên Hiệp Quốc đã thu gọn thế giới thành một ngôi làng với đúng 100 người được phân phối đi khắp năm châu bốn bể như sau: 57 người Á Châu, 21 người Âu Châu, 14 người Bắc Mỹ, 8 người Phi Châu, 4 người Châu Mỹ La Tinh. Tiếp tục nhận diện cư dân trong làng theo phái tính, bản phúc trình cho thấy có đến 52 phụ nữ và 48 đàn ông. Còn nếu chia theo màu da thì trong làng chỉ có 30 người da trắng. Số người da màu lên đến 70. Còn nếu phân chia theo định hướng tính dục, thì bản phúc trình đếm được 91 người dị tính dục và 9 người đồng tính.
Nhưng điều đáng chú ý nhứt trong ngôi làng 100 người này là chỉ có một người tốt nghiệp đại học. Còn nói về tài sản thì có đến 64 tài sản của làng lại nằm trong tay của chỉ 6 người và 6 người này lại toàn là dân  Mỹ. Nhưng về tiện nghi vật chất thì có đến 80 người trong ngôi làng này không có điện, nước sạch và nhà vệ sinh. Riêng về giáo dục thì có 70 người trong ngôi làng này không biết đọc biết viết và 50 người vẫn còn suy dinh dưỡng.
Thế giới như được Liên Hiệp Quốc thu gọn lại kích thước vẫn còn là ngôi làng nghèo khổ. Nếu phải làm một vòng từ đầu trên xuống xóm dưới, từ đầu ngõ vào bên trong, tôi sẽ phải chứng kiến tận mắt không biết bao nhiêu nỗi khổ đau của rất nhiều cư dân. Chỉ cần nhìn vào một góc nhỏ như Việt Nam chẳng hạn, nơi người chết trong bệnh viện vẫn còn bị bó chiếu để mang về quê tống táng, nơi học sinh vẫn còn phải ngày ngày hai lượt lội qua sông để đến trường, nơi còn biết bao nhiêu người vẫn còn chưa có đủ mỗi ngày một Mỹ kim để sống, nơi mà tự do ngôn luận vẫn còn là một điều xa xí  và bất cứ ai cũng có thể vào tù vì bày tỏ ý kiến riêng tư của mình...Còn nếu đi xa một chút sang A Phú Hãn hay Trung Đông, có lẽ ngày nào tôi cũng chỉ thấy toàn là màu đỏ của máu và nghe toàn là tiếng nổ của bom đạn.
Những cảnh tượng như thế, dù có phải nghe thấy mỗi ngày trên màn ảnh truyền hình, cũng vẫn làm cho tôi rùng mình. Đó là những góc tăm tối trong ngôi làng toàn cầu. Tôi đau buồn khi nhìn thấy những cảnh tượng ấy. Nhưng từ những cảnh tượng ấy tôi vẫn thấy dấy lên trong tôi niềm lạc quan. Lạc quan là bởi sự đau khổ của người đồng loại đã và đang khơi dậy những tình cảm tốt đẹp nhứt nơi rất nhiều người. Hình ảnh của cậu bé Syria tên là Alan Kurdi, 3 tuổi, chết đuối và trôi dạt vào một bờ biển của Thổ Nhĩ Kỳ cách đây một năm vẫn mãi mãi là một trong những hình ảnh sống động nhứt có sức khơi dậy sự đau xót, niềm cảm thông và tình liên đới của không biết bao nhiêu người trên khắp thế giới. Cũng vậy, hình ảnh của một cậu bé Syria khác tên là Omran Daqneesh, 5 tuổi, mình mẩy máu me ngồi bất động trên một chiếc xe cứu thương vẫn tiếp tục là một cơn địa chấn có sức lay động và khơi dậy những tình cảm tốt đẹp nhứt trong lòng người. Tôi thực sự không hiểu được tại sao những hình ảnh như thế đã không mảy may tạo được bất cứ một sự xúc động nào nơi nhà độc tài Bashar al Assad của Syria và tổng thống Nga Vladimir Putin. Hẳn phải khô cạn hẳn tình người họ mới có thể nhẫn tâm ra lệnh dội bom để sát hại vô tội vạ thường dân trong đó có nhiều trẻ em tại Aleppo, miền Bắc Syria.  Dửng dưng, xơ cứng trước nỗi khổ đau của đồng loại, chỉ có thú vật mới có thể lạnh lùng và vô cảm như thế mà thôi. Chính ông tổ của chủ nghĩa Marxit đã từng nói như thế.
Nghĩ đến niềm cảm hứng mà cảnh tượng khổ đau của người đồng loại có thể gợi lên, tôi không thể không liên tưởng đến lá thư mà mới đây một cậu bé người Mỹ 6 tuổi tên là Alex đã viết cho Tổng thống Barack Obama. Trong lá thư, em đã hỏi tổng thống Mỹ có còn nhớ đến Omran Daqneesh, cậu bé Syria bị thương tích ngồi trong chiếc xe cứu thương không. Với nét chữ nguệch ngoạc và lời lẽ đơn sơ và chân thành nhứt, tác giả lá thư đã xin Tổng thống Obama một ân huệ là làm cách nào để đưa Daqneesh đến nhà mình. Cậu bé người Mỹ cam kết: “Chúng cháu sẽ mang lại cho cậu bé này một gia đình và cậu sẽ là anh em của chúng cháu...”  Tổng thống Obama đã đưa lên Facebook băng hình của cậu bé Alex đang đọc lá thư và cho biết lời thỉnh cầu của cậu bé đã đánh động ông như thế nào.
Hình ảnh của một Daqneesh thương tích máu me ngồi trên xe cứu thương đã gợi lên những tình cảm tốt đẹp nhứt nơi cậu bé người Mỹ Alex. Đến lượt mình, cậu bé Alex này lại cũng gợi lên nơi Tổng thống Obama những tình cảm tốt đẹp nhứt khiến ông đã đọc nguyên văn lá thư của cậu tại Hội nghị Thượng đỉnh của Liên Hiệp Quốc về người Tỵ nạn và Di dân hôm 19 tháng 9 vừa qua. Tổng thống Obama nhắn gởi với các nhà lãnh đạo thế giới: “Tất cả chúng ta cần phải giống như cậu bé Alex. Hãy thử tưởng tượng thế giới này sẽ như thế nào nếu chúng ta có mặt ở đó (tại Aleppo). Hãy thử tưởng tượng nỗi khổ đau mà chúng ta có thể xoa dịu và những mạng sống mà chúng ta có thể cứu thoát được. Hãy lắng nghe Alex, hãy đọc lá thư của em và tôi tin rằng quý vị sẽ hiểu được tại sao tôi đã chia sẻ  lá thư này cho toàn thế giới nghe”.
Tôi đã đọc và nghe trọn lá thư của cậu bé Alex cũng như những lời nhắn gởi của Tổng thống Obama tại Hội nghị Thượng đỉnh của Liên Hiệp Quốc về người Tỵ nạn và Di dân. Tôi tin chắc rằng cuộc sống này sẽ tốt đẹp hơn, thế giới này sẽ bớt đau khổ hơn, nếu mọi người biết để cho tâm hồn lắng đọng xuống hầu  lắng nghe được niềm cảm hứng mà nỗi khổ đau của người đồng loại có thể gợi lên và nhứt là sống như thế nào để ít hay nhiều cũng có thể mang lại cảm hứng cho người khác.


Thứ Tư, 5 tháng 10, 2016

Giàu nhờ bạn




Chu Thập
05.03.13




Tuần qua, tôi có dịp đi thăm một người bạn ở cách chỗ tôi 3 giờ lái xe. Trời mưa, lái xe không tiện, xăng lại đắt, tôi chọn đi xe lửa, cũng mất ngần ấy thời gian. Đi xe lửa lại có được cái thú đọc sách, ngủ, ngắm cảnh và thả hồn “mơ mộng”. Dù không còn phun khói, với tôi, xe lửa lúc nào cũng “gợi cảm”: cảnh tiễn đưa ở sân ga lúc nào cũng làm cho tôi nhớ lại bao lần gặp gỡ, hợp tan, ly biệt trong chính cuộc đời của mình. Cuộc đời chẳng khác nào một chuyến xe lửa không có trạm cuối. Ở sân ga này, mình chào tiễn đưa một người bạn. Ở sân ga kế tiếp, mình lại chào đón một người bạn mới. Cứ thế, càng thêm tuổi đời càng giàu thêm bạn bè, thân hữu.
Có lẽ tôi thực sự biết thế nào là “bạn bè” kể từ lúc biết trốn học đi theo mấy người bạn chăn trâu. Không thể nào quên được những ngày trời mưa, chui vào những cái chòi giữa ruộng, lùi một củ khoai mì, nướng một con cá lóc, ăn một lát cơm vắt với muối hột đâm nhuyễn với ớt xiêm…Có lẽ chẳng có cao lương mỹ vị nào có thể xóa tan được hương vị của những “bữa cơm” mà tôi đã từng chia sẻ với những người bạn chăn trâu ấy. Có lẽ cũng đã hơn 50 năm rồi, tôi chưa một lần gặp lại những người bạn ấy. Nghe đâu họ vẫn còn lầm than dãi dầu mưa nắng với cảnh con trâu đi trước cái cày đi sau.
Ngoài những người bạn chăn trâu, tôi cũng có một nhóm bạn thân cùng xóm. Xóm tôi được mệnh danh là “xóm máy gạo”, vì trước nhà tôi có dựng một nhà máy xay lúa. Trong hồi ký, cố nhạc sĩ Phạm Duy dường như rất tự hào khi viết về gốc gác của mình: “Nhà tôi ở phố Hàng Dầu, số nhà 54, đứng đầu…du côn”. Tôi cũng có chút tự hào mỗi khi nhắc lại những “thành tích” phá làng phá xóm của bọn trẻ “xóm máy gạo” của tôi. Mặc cho cha mẹ, các dì phước và ông cha sở có ngăm đe, lũ trẻ chúng tôi vẫn thích “tùng tam tụ ngũ” để, nếu không ăn trộm trái cây, thì cũng bày đủ trò để chọc tức xóm làng hay người qua lại. Trong số bạn bè ấy, chỉ có tôi được may mắn “xuất ngoại”. Những “người muôn năm cũ” của tôi giờ này kẻ ra người thiên cổ, người già yếu bệnh tật, kẻ con đàn cháu đống…Nhưng nhớ đến họ, tôi vẫn giữ nguyên cái hình ảnh của những thằng nhóc “mất dạy” học ở trường thì ít học ngoài đường thì nhiều.
Kể từ bậc trung học, có lẽ do bản tính hướng nội, tôi có nhiều “bạn” hơn “bè”. Người Tây Phương thường nói: “Bạn hãy nói cho tôi biết bạn chơi với ai, tôi sẽ nói cho bạn biết bạn là ai”. Hay như người Việt Nam cũng nói: “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”. Ngay từ lúc nhỏ, tôi cũng thường được dạy dỗ “chọn bạn mà chơi”. Bạn bè xấu có thể lôi kéo mình vào con đường xấu. Đó là điều thường xảy ra trong cuộc sống xã hội. Nhưng trong cuộc đời, nhìn lại, tôi thấy dường như tôi ít tuân thủ nguyên tắc ấy và cũng chẳng có “tiêu chuẩn” nào trong chuyện “tìm bạn bốn phương”. Tôi thường tìm đến với bạn mà chẳng do bất cứ một tính toán hơn thiệt, lợi hại nào cả. Dĩ nhiên, càng dễ chia sẻ với nhau thì càng dễ thiết thân với nhau hơn. Nhưng cũng có lắm trường hợp, dù cho tính khí và ý thích hoàn toàn trái ngược nhau, tư tưởng cũng chẳng hợp nhau, vậy mà người ta vẫn có thể không những là bạn với nhau mà còn là bạn thân thiết nữa.
Thời trung học, tôi rất thích đọc tư tưởng của văn hào Pháp Michel de Montaigne (1533-1592). Trong tuyển tập “Khảo luận” (Essais), ông có dành một chương để viết về tình bạn của ông với một văn sĩ khác tên là Étienne de La Boétie. Tôi vẫn nhớ mãi một câu của ông: “Nếu người ta cứ thôi thúc tôi phải nói tại sao tôi thương ông ta, tôi cảm thấy không thể giải thích được. Tôi chỉ biết trả lời: “Vì ông ta là như thế, vì tôi là như thế”. Theo Montaigne, tình bạn giữa ông và nhà văn La Boétie được nối kết bằng một sức mạnh của định mệnh, không thể giải thích được.
Tại sao mình “chơi” với người này, mà không “chơi” với người khác, tại sao mình thân với người này mà không thân với người khác. Chỉ có trời may ra mới biết. Tình bạn cũng mầu nhiệm như tình yêu lứa đôi.
Đọc truyện Đông Chu Liệt Quốc, tôi thấy có một tình bạn rất đặc biệt. Đó là tình bạn giữa ông Quản Trọng và ông Bảo Thúc Nha.
“Quản Di Ngô, tên tự là Trọng, diện mạo khôi ngô, có tài học bác cổ thông kim, lại có tài kinh bang tế thế. Quản Trọng thường cùng với Bảo Thúc Nha buôn chung với nhau, đến lúc chia lãi, Quản Trọng lấy phần nhiều hơn. Bảo Thúc Nha cũng thuận. Người ngoài đều lấy làm bất bình. Bảo Thúc Nha nói:
“Không phải Quản Trọng tham món tiền nhỏ mọn ấy đâu, chỉ vì nhà hắn nghèo, không đủ ăn, nên ta bằng lòng nhường cho hắn đó”.
Quản Trọng đi lính, mỗi khi ra trận, cứ lùi lại sau, đến lúc thu quân về thì lại đi lên trước, ai cũng cười là người nhát. Bảo Thúc Nha nói:
“Quản Trọng có phải là người nhát đâu, vì hắn còn mẹ già, nên phải giữ gìn thân mình để phụng dưỡng mẹ.”
Quản Trọng lại nhiều khi cùng Bảo Thúc Nha mưu tính công việc, thường thường trái ý nhau. Bảo Thúc Nha nói:
“Người ta làm gì cũng phải gặp thời, giả sử Quản Di Ngô gặp thời thì chắc hẳn trăm việc hắn làm không hỏng một việc.”
Quản Trọng nghe lời Bảo Thúc Nha nói, thở dài mà than rằng: “Sinh ra ta là cha mẹ, biết ta thì chỉ có Bảo Thúc Nha mà thôi.”
Từ bấy giờ hai người kết nghĩa sinh tử với nhau.” (Phùng Mộng Long, Đông Chu Liệt Quốc, hồi thứ 15).
Đọc Kinh Thánh của Do thái và Kitô giáo, tôi cũng thấy có một tình bạn tương tự giữa vua David và Jonathan, con của vua Saulê. Saulê là ông vua luôn sống trong nghi kỵ và ghen tức. Lúc nào ông cũng sợ David tiếm ngôi. Nhiều lần vua Saulê tìm cách giết David, nhưng lần nào Jonathan cũng đều mách bảo để David trốn thoát. Về sau, cả vua Saulê và Jonathan đều ngã gục nơi chiến trường. David đã thương khóc vua Saulê như chính cha mình. Riêng với người bạn Jonathan, trong bài điếu văn, David đã nói trong tiếng khóc nức nở: “Jonathan anh hỡi, lòng tôi se lại vì anh. Tôi thương anh biết chừng nào! Tình anh đối với tôi thật diệu kỳ hơn cả tình nhi nữ.” (Samuel, quyển hai, 1, 26).
Về A-Lịch-Sơn Đại Đế (356- 323 BC), người ta cũng thường truyền tụng về tình bạn giữa ông và người bạn thân Hephaestion. Hai người đã là bạn thân thiết với nhau ngay từ lúc thiếu thời. Mối quan hệ giữa hai người thắm thiết và sâu đậm đến độ vị thày chung của hai người là nhà hiền triết Aristoteles đã mô tả như thể “một linh hồn trong hai thân xác”. Trong các cuộc viễn chinh, lúc nào hai người cũng sát cánh bên nhau. Những lúc nhàn rỗi, hai người cùng chia sẻ cho nhau những tâm tình riêng tư nhứt của mỗi người. Chính vì không muốn xa nhau mà hai người đã quyết định lấy hai công chúa của vua Darius để trở thành anh em cột chèo với nhau.
Nhưng trong các câu chuyện dân gian, đẹp nhứt có lẽ vẫn là tình bạn được người Việt Nam chúng ta đề cao trong truyện thơ nôm Lưu Bình – Dương Lễ.  Thương bạn, muốn giúp bạn trở thành người tốt đến độ sẵn sàng để cho vợ mình đến giúp đỡ bạn: chẳng có người bạn nào cao thượng như Dương Lễ!
Lúc nhỏ được nghe truyện Lưu Bình- Dương Lễ, bước vào những năm đầu của bậc Trung học lại được đọc cuốn sách “Những tâm hồn cao thượng” của nhà văn Ý Edmondo De Amicis (1846-1908), bản dịch tiếng Việt của Hà Mai Anh, có lẽ học sinh Việt Nam nào trước năm 1975 cũng đều được dạy cho biết về những đức tính nhân bản và nhứt là giá trị của tình bạn trong cuộc sống. Tôi vẫn còn nhớ mãi câu chuyện về “Lòng hào hiệp” ở chương V của cuốn sách. Nhân vật chính trong cuốn sách kể lại tấm lòng hào hiệp của một người bạn trong lớp. Một số bạn nghịch ngợm đã chọc ghẹo một học sinh tàn tật. Em này đã điên tiết lên cho nên vồ ngay lọ mực trước mắt và ném vào những kẻ trêu chọc mình. Chẳng may lọ mực lại trúng giữa ngực ông thày giáo. Ông hỏi ai đã ném lọ mực. Nhưng chẳng có ai dám hé răng. Cuối cùng vì thương bạn, một học sinh tên là Garone đã đứng lên chịu tội. Nhưng thày biết rõ không phải em. Thấy hành động cao thượng của người bạn, em học sinh tàn tật đã chịu lỗi. Cảm thấy có lỗi, những em đã khiêu khích em bị tật liền đứng lên. Thày nhân dịp này giảng giải cho cả lớp về sự tôn trọng cần phải có đối với người tàn tật và tiện thể đề cao em Garone, người mà thày bảo là “có một trái tim cao thượng”. Do gợi ý của em này, thày cũng tha cho 4 em đã có hành động xúc phạm đến em tàn tật.
Câu chuyện đơn sơ, nhưng có lẽ người học sinh Việt Nam nào trước năm 1975 cũng đều cảm kích về những nghĩa cử  và nhứt là tình bạn cao đẹp mà người ta có thể có đối với nhau.
Nhìn lại cuộc đời đã “xanh rêu”, gạn đục khơi trong, sàng lọc tất cả để chỉ giữ lại những gì là cao đẹp nhứt trong cuộc đời, tôi thấy rằng điều đáng trân quý nhứt vẫn là tình bạn. Đúng như người Việt Nam chúng ta vẫn nói “giàu nhờ bạn, sang nhờ vợ”. Chính những người bạn đã làm cho tôi được thêm giàu có hơn trong nhân cách. Chính những người bạn, cách này hay cách khác, đã dạy hay đúng hơn lúc nào cũng mời gọi tôi sống vô vị lợi hơn. Trong tình bạn đích thực, không có tính toán hơn thiệt, không có đắn đo cân nhắc lợi hại, mà chỉ có trao ban và trao ban một cách vô vị lợi mà thôi.
Tôi vẫn hằng tâm niệm về những suy tư về tình bạn mà một người bạn đã sưu tầm và chia sẻ cho tôi:
“Nếu một ngày nào đó, bạn cảm thấy thật buồn và muốn khóc…hãy gọi cho tôi! Tôi không hứa sẽ làm cho bạn cười, nhưng biết đâu tôi sẽ khóc cùng bạn!
Nếu một ngày nào đó, bạn cảm thấy vô cùng đơn độc…hãy gọi cho tôi! Tôi sẽ đến bên bạn, chỉ để im lặng không nói một lời, nhưng tôi muốn bạn biết rằng luôn có tôi bên cạnh.
Nếu một ngày nào đó, bạn phân vân trước những quyết định của mình…hãy gọi cho tôi! Tôi sẽ không quyết định thay bạn, nhưng có thể giúp bạn vững tâm hơn trước sự chọn lựa của mình.
Nếu một ngày nào đó, bạn gặp thất bại trong công việc…hãy gọi cho tôi! Tôi sẽ không đem lại cho bạn một công việc mới, nhưng tôi sẽ giúp bạn tìm thấy một cánh cửa khác của sự thành công.
Nếu một ngày nào đó, bạn vô cùng đau khổ vì phạm phải sai lầm…hãy gọi cho tôi! Tôi không thể sửa chữa sai lầm đó, nhưng tôi có thể giúp bạn nhận ra rằng những sai lầm sẽ giúp bạn trưởng thành và tự tin hơn.
Nếu một ngày nào đó, bạn lo sợ những những điều tốt đẹp sẽ qua đi…hãy gọi cho tôi! Tôi sẽ không níu giữ chúng lại, nhưng tôi giúp bạn hiểu rằng mọi việc đều có những điểm khởi đầu và kết thúc.
Nếu một ngày nào đó, bạn trở nên bế tắc và tuyệt vọng…hãy gọi cho tôi! Tôi không hứa sẽ làm bạn quên đi tất cả, nhưng tôi có thể giúp bạn tìm niềm tin trong cuộc sống.
Nhưng một ngày nào đó, bạn gọi mà không thấy tôi trả lời…hãy đến bên tôi, vì lúc đó tôi đang cần bạn!”
Tôi có rất nhiều người bạn. Bạn tuổi thơ. Bạn học. Bạn đồng nghiệp. Bạn tỵ nạn. Bạn câu cá. Bạn thể dục mỗi buổi sáng…Có những người bạn vong niên. Có những người bạn mới quen. Có những người bạn lâu ngày không gặp và có lẽ sẽ chẳng bao giờ gặp lại. Có những người bạn chỉ còn liên lạc với nhau qua “meo đàn” hay thỉnh thoảng qua điện thoại. Tôi vẫn xem là một mất mát lớn khi vì một lý do nào đó mình không thể liên lạc với bạn bè. Nhưng dù xa hay gần, dù thiết thân hay lạnh nhạt…họ vẫn mãi mãi là bạn của tôi. Họ đã làm cho tôi nên “giàu có” hơn, cho nên tôi chỉ có thể trân trọng và biết ơn tình bạn. Đau buồn nhứt cho tôi có lẽ không phải khi bị bạn “nghỉ chơi”, mà chính là lúc mình trở thành kẻ phản bạn. Đó có lẽ là lúc tôi trở nên nghèo nàn hơn cả.


Thứ Hai, 3 tháng 10, 2016

Trung Cộng: tận cùng của sự độc ác!


30.09.16

Nhìn từ bên ngoài, nhà tù trông giống như bất cứ một trung tâm nghỉ mát nào tại Trung Cộng. Nhưng ẩn nấp bên trong một trong những dãy núi hùng vĩ nhất là một trung tâm tẩy não độc ác và  tàn bạo nhất của quốc gia cộng sản này. Tại đây, chính quyền cộng sản Trung Quốc ra lệnh cho các cai tù thực hiện những cuộc tra tấn vô cùng dã man đối với các tín đồ của giáo phái Pháp Luân Công.
Pháp Luân Công, một phong trào thiền niệm đặt nền tảng trên những nguyên tắc “sự thật, cảm thông và khoan nhượng” đã bị Đảng Cộng Sản Trung Quốc xem như một giáo phái nguy hiểm và đặt ra ngoài vòng pháp luật kể từ năm 1999.
Kể từ đó, chính phủ cộng sản Trung Quốc đã tiến hành  cuộc bách hại dã man đối với các tín đồ của giáo phái này bằng những cuộc tra tấn, sát hại và giam giữ trong những nơi được gọi là “nhà tù đen”. Đây là một hệ thống gồm những trại lao động khổ sai được Đảng Cộng Sản Trung Quốc thiết lập để giam giữ các công dân mà không hề mang ra xét xử.
Khi bị bắt giữ, các tín đồ nào của Pháp Luân Công không chịu bỏ đạo đều bị đưa vào các trung tâm tẩy não thường được người cộng sản gọi bằng một mỹ từ là “trại cải tạo”. Tại đây, bên cạnh những lời tuyên truyền, các tù nhân bị tra tấn dã man về cả thể lý lẫn tâm lý cho đến khi nào họ đầu hàng và ký tên từ bỏ niềm tin tôn giáo của họ. Đây là một hệ thống được thiết lập và điều hành bí mật đến độ không ai biết nó có hiện hữu hay không. Mục đích của chủ trương tàn ác này là xóa sổ Pháp Luân Công.
Một số người đã được may mắn thoát khỏi cuộc bách hại và được cho tỵ nạn tại Úc Đại Lợi. Nhờ những người này, thế giới bên ngoài mới thấy được hệ thống tẩy não dã man đối với các tù nhân mà Trung Cộng đang đeo đuổi.
Một trong những người đó là người thanh niên tên là Jintao Liu 36 tuổi. Anh là một sinh viên theo ngành hóa học. Anh cho biết  đã bị công an bắt giữ tháng 11 năm 2006 sau khi tìm thấy một số tài liệu về Pháp Luân Công trong máy điện toán của anh. Anh đã bị đưa vào một vùng núi xa xôi mà anh chưa từng nghe nói tới.
Anh Liu kể lại với báo mạng News.com.au như sau: “ Họ (công an) đã chụp hình những cuốn sách của Pháp Luân Công để xem đó như một bằng chứng về “tội ác” của tôi và đưa tôi vào một trung tâm tẩy não”. Liu cho biết: anh không biết mình đang ở đâu, bởi vì nhìn ra ngoài, anh không thấy ánh mặt trời hay bất cứ điều gì.
Theo người tín đồ Pháp Luân Công này, khung cảnh của trung tâm tẩy não trông chẳng khác nào một nơi nghỉ mát ở thôn quê. Trung tâm tọa lạc giữa một vùng núi. Bên ngoài, chẳng ai biết được điều gì đang diễn ra trong trung tâm này. Tại đây, Liu bị buộc phải xem những băng hình có nội dung phỉ báng Pháp Luân Công cũng như các bậc tôn sư của giáo phái.
Liu cho biết anh đã bị lôi vào phòng kín và bị buộc phải xem những băng hình như thế. Bên cạnh anh lúc nào cũng có những người ngồi đó để theo dõi và nói những lời thô tục cũng như hành hạ anh.
Mỗi buổi sáng, Liu bị đánh thức thật sớm để tập thể dục và như vậy anh không  có đủ thì giờ để thiền niệm theo phương pháp của Pháp Luân Công. Nhưng Liu đã cương quyết để mình không bị tẩy não. Vì không thành công trong việc tẩy não anh, họ đã chuyển anh tới một trại lao động khổ sai. Và mặc dù không hề có bất cứ một phiên tòa nào để xét xử, Liu vẫn phải bị giam giữ trong hai năm sau đó. Nhưng sau 2 năm lao động khổ sai, Liu vẫn không được trả tự do mà trái lại bị đưa trở lại trung tâm tẩy não để tiếp tục xem những băng hình thóa mạ Pháp Luân Công. Nhưng để lại một vết thương tâm lý không bao giờ chữa lành là lần anh bị 4 cai tù lột hết quần áo, dùng loại bàn chải lau chùi nhà vệ sinh đâm vào hậu môn anh; họ nói họ muốn biến anh thành một người đồng tính. Sau đó họ dở đủ thứ trò với bộ phận sinh dục của anh.
Nơi Liu bị giam giữ và tra tấn như thế là một trong nhiều trung tâm tẩy não được Trung Cộng dựng lên trong những ngôi nhà bị bỏ hoang, những cơ sở chính phủ, những khách sạn hẻo lánh hoặc những tòa nhà mới được thiết lập chỉ để tẩy nào các tù nhân.
Theo các nhân chứng, các trung tâm này thường được trá hình thành những cơ sở như trường học, trung tâm giam giữ hoặc những tòa nhà ẩn khuất tại các vùng ngoại ô. Một số nạn nhân kể lại rằng trong tiến trình tẩy não, họ đã bị chích điện, hai tay bị trói và treo lên cao cho đến khi bị gẫy. Sau đó họ còn bị các cai tù hành hạ, đánh đập cho đến khi nào họ chịu chối đạo mới thôi.
Một tín đồ Pháp Luân Công khác là bà Xiao Chen, năm nay 43 tuổi. Người phụ nữ này đã bị giam giữ trong một trại lao động khổ sai 3 năm rưỡi. Trong thời gian này, bà được chuyển đến một trung tâm tẩy não. Tại đây, bà đã bị tra tấn dã man vì không chịu từ bỏ đạo giáo của mình. Bà Chen bị tách khỏi đứa con trai của mình và cũng không hề được mang ra xét xử.
Cũng như anh Liu, bà Chen kể lại rằng các tù nhân của giáo phái Pháp Luân Công bị hành hạ, đánh đập, tra tấn và hỏi khẩu cung liên tục cũng như bị cưỡng bách phải xem những băng hình mạ lỵ giáo phái của họ. Sau mỗi lần như thế, nếu không chịu từ bỏ giáo phái, họ sẽ bị biệt giam. Trong phòng biệt giam, không những tù nhân không thấy được ánh sáng bên ngoài, họ còn phải tiếp tục bị cưỡng bách phải xem những băng hình có nội dung thóa mạ giáo phải của họ. Ngoài ra, trong phòng biệt giam, tù nhân luôn bị đặt vào thế ngồi chồm hổm nên mất ngủ liên tục là chuyện thường. Trong nhiều ngày liên tiếp, họ cũng không được tắm rửa.
Bà Fengying Zhang, 66 tuổi, cũng trải qua những nhục hình tương tự. Bị bắt vào năm 2014 khi đang thực hành thiền niệm theo phương pháp Pháp Luân Công, bà bị đưa thẳng vào một trung tâm tẩy nào. Tại đây, bà đã phải trải qua tất cả những cuộc tra tấn dã man nhất mà các cai tù thường áp dụng cho các tín đồ Pháp Luân Công. Nhưng dù bị tra tấn cách nào, bà cũng không chối bỏ niềm tin tôn giáo của mình.
Bà Zhang cho biết vì áp lực của quốc tế, chính quyền cộng sản Trung Quốc đã đặt tên cho những trung tâm tẩy não đó thành trung tâm “cải tạo”, nhưng trong thực chất không có gì thay đổi.
Anh Liu, bà Chen và bà Zhang hiện vẫn còn mang nặng những vết thương tâm lý sau những năm tháng trải qua các nhục hình trong các trung tâm tẩy não. Nhưng dù sao họ vẫn là những người may mắn vì đã thoát được cuộc bách hại tại Trung Cộng và tái định cư tại Úc Đại Lợi. Dĩ nhiên, họ không thể nào quên được hàng ngàn đồng đạo bị tù đày và hiện vẫn còn trong nước cũng như hàng triệu triệu công dân khác đang bị chính quyền cộng sản Trung Quốc đàn áp.
Ngoài việc tra tấn, hành hạ và tẩy não, chính quyền cộng sản Trung Quốc còn cho tiến hành một hành động độc ác gấp bội phần là giải phẫu để cướp lấy cơ phận của các tù nhân. Bà Sophia Bryskine, phát ngôn viên của tổ chức DAFOH (Doctors Against Forced Organ Harvesting: Các Bác sĩ chống lại việc cưỡng chiếm cơ phận) cho biết Trung Cộng là nơi duy nhất trên thế giới thực hiện có hệ thống việc cưỡng chiếm cơ phận con người. Theo một bản phúc trình được đăng trên Báo Ghép Cơ Phận của Mỹ (American Journal of Transplantation), mỗi năm tại Trung Quốc có từ 60.000 đến 100.000 vụ ghép cơ phận. Theo bản phúc trình, phần lớn các cơ phận được ghép cho các bệnh nhân được cướp lấy từ các tù nhân bị tử hình. Chiếm phần lớn các nạn nhân này là các tín đồ của giáo phái Pháp Luân Công. Anh Liu cũng như bà Zhang đều kể lại rằng khi họ bị những trận đòn tưởng chết người, một số nhân viên y tế đã can thiệp và nói với các lý hình đừng quá mạnh tay với họ vì  cần phải bảo vệ các cơ phận của họ. Riêng bà Zhang rất ngạc nhiên khi được lệnh đi thử máu, nước tiểu, chụp quang tuyến X cũng như làm điện tâm đồ. Bà nói rằng bà ở trong nhóm 100 tù nhân được đưa lên một chiếc xe lớn và làm nhiều cuộc xét nghiệm khác. Bà tưởng bà sẽ chết trên bàn mổ. Nhưng có lẽ vì các cơ phận của bà quá yếu chăng cho nên bà đã được tha chết.
Trước áp lực của thế giới, Trung Cộng đã chính thức ngăn cấm việc cưỡng chiếm cơ phận của các tù nhân bị xử tử. Nhưng trong thực tế, chế độ cộng sản này vẫn tiếp tục thực hiện việc giết hàng loạt những người vô tội để cưỡng đoạt  cơ phận của họ. Mới đây, một số nhà tranh đấu cho nhân quyền tại Gia Nã Đại cho biết những vụ ghép cơ phận được thực hiện tại Trung Cộng cao gấp 10 lần so với con số chính thức được chính phủ công bố. Cùng với các tín đồ của giáo phái Pháp Luân Công, những người thuộc sắc tộc Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương, người Tây Tạng và các tín hữu Kitô tại gia (tức không thuộc một Giáo hội có tổ chức) cũng là điểm nhắm cho những vụ cưỡng chiếm cơ phận.
Cho đến nay, Trung Cộng vẫn là nước có nhiều vụ xử tử nhất thế giới. Trong bản phúc trình hàng năm được cho công bố dạo tháng Tư vừa qua, Tổ chức Ân Xá quốc tế nói rằng không thể có được con số chính thức của những vụ xử tử tại Trung Cộng, nhưng chắc chắn con số này không dưới vài chục ngàn.
Tẩy não, tra tấn, hành hạ một cách dã man hay giết người để cướp lấy cơ phận là phần nổi của một chế độ tướt đoạt và chà đạp mọi nhân quyền và dân quyền. Cả ba tín đồ Pháp Luân Công trên đây đều nói rằng tất cả mọi phương tiện truyền thông tại Trung cộng đều được nhà nước kiểm soát và điều khiển. Họ chỉ là những cái loa tuyên truyền của chế độ mà thôi. Anh Liu nói: “Toàn bộ nền giáo dục mà tất cả chúng tôi đã tiếp thu được từ tuổi thơ đều xoay quanh sự vĩ đại của những người cộng sản, của công an, của chính quyền Trung Cộng. Chúng tôi đã lớn lên như thế và thực sự tin như thế”.
Nhưng theo anh, chỉ sau khi “chính mình trải qua những cuộc tra tấn của công an, anh mới bắt đầu thấy được khía cạnh đen tối của những người cộng sản”. Anh nói: “Khi bị tra tấn trong nhà tù và trại lao động khổ sau, tôi mới tự hỏi tại sao những người công an lại xấu xa và độc ác như thế. Và tôi đã bắt đầu nhìn ra một khía cạnh khác của những gì đã được loan truyền trên các phương tiện truyền thông và giáo dục”. Anh giải thích thêm: “Tại Trung Quốc, dân chúng chỉ thấy được những gì chính quyền muốn họ thấy. Họ không thể đi vào các trang mạng hay Facebook. Dân chúng không biết được những sự kiện thật, bởi vì nguồn thông tin bị chận lại. Nhiều người bị đầu độc và lừa mị bởi tuyên truyền và dối trá. Và chính vì thế mà cuộc bách hại này vẫn tiếp diễn”.

Theo http://www.news.com.au/lifestyle/real-life/true-stories/the-reality-of-human-organ-harvesting-in-china/news-story