Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2015

Nụ cười chân thật



Chu Thập
1.10.15
Mới đây, các nhà khảo cổ Ý cho biết đã tìm thấy xương của bà Mona Lisa La Gioconda, người phụ nữ đã từng làm người mẫu để danh họa Leonardo Da Vinci (1452-1519) vẽ bức chân dung nổi tiếng “La Gioconda” hiện được trưng bày tại bảo tàng viện Louvre ở Paris, Pháp Quốc. Sau nhiều năm nghiên cứu về một số bộ xương được tìm thấy tại Tuscania, họ chỉ có được một mnh xương đùi mà họ tin là của bà Mona Lisa.
Sinh năm 1479, Mona Lisa có tên là Lisa Gherardini. Bà là vợ của một nhà buôn tơ lụa tên là Francesco del Giocondo. Chính người đàn ông này đã nhờ danh họa Da Vinci vẽ bức chân dung cho vợ mình năm 1503. Sau khi chồng chết, bà Gheradini đã sống những năm cuối đời trong một tu viện tại Fiorenza và qua đời tại đó năm 1542. Nếu quả thực mnh xương vừa mới được tìm thấy đã được xác nhận là của bà Mona Lisa, nó sẽ góp phần soi sáng cho bí ẩn của nụ cười của bà trong bức chân dung.
Thế giới vẫn tiếp tục bị thu hút bởi nụ cười của bà Mona Lisa. Riêng tôi thì lại bị ám ảnh bởi một nụ cười thoạt nhìn cũng chẳng khác nụ cười của bà Mona Lisa bao nhiêu: đó là nụ cười của đương kim Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Năm 2012, khi ông mới “lên ngôi” trong đế quốc đỏ Trung Cộng, nhìn ông cười, tôi cứ liên tưởng đến nụ cười bí ẩn, nhưng hiền hậu của bà Mona Lisa. Nhưng nay, với tôi, mọi sự đều sáng tỏ: nụ cười của ông chỉ là một nụ cười đểu giả!
Tuần qua,  khắp nước Mỹ, đi đâu ông cũng biểu diễn nụ cười ấy. Nhưng có lẽ thế giới không còn dễ bị dụ dỗ vì nụ cười ấy nữa. Người ta đã thấy được bộ mặt thật của ông trong cuộc diễu võ dương oai dạo đầu tháng 9 vừa qua khi Đảng cộng sản Trung Quốc cướp công của cố Tổng thống Tưởng Giới Thạch (1887-1975) để tổ chức mừng kỷ niệm 70 năm chiến thắng quân phiệt Nhựt Bổn. Trong bộ áo đại cán, đứng trên cao  nhìn xuống Quảng trường Thiên An Môn, nơi đã từng có hàng ngàn người dân vô tội bị quân đội tàn sát ngày 4 tháng 6 năm 1989 hoặc đứng trên xe để đi duyệt binh, ông Tập Cận Bình đã xuất hiện với một mặt bộ lạnh như tiền. Ông muốn cho người dân trong nước và cả thế giới thấy được sức mạnh của một quân đội hùng mạnh và kho võ khí ông đang có trong tay. Với khuôn mặt lạnh lùng ấy, ông muốn cho thế giới, nhứt là Việt Nam, thấy được nanh vuốt ông đã giương ra ở Biển Đông. Đây là điều mà ông đã ngang nhiên tái khẳng định trong một cuộc phỏng vấn tại Mỹ. Giọng điệu của ông phải thật đểu giả và gian dối một cách trắng trợn khi ông tuyên bố với phóng viên của báo The Wall Street Journal: “Từ thời xa xưa (ancient times) Nam Sa (tức Trường Sa của Việt Nam) đã thuộc địa phận Trung Quốc, theo các bằng chứng lịch sử và pháp lý”.  Năm 1974, quân đội Trung Quốc đã tấn công và đánh chiếm Hoàng Sa và năm 1988, nuốt luôn đảo Gạc Ma: đây là bằng chứng lịch sử rõ ràng nhứt cho thấy Trường Sa không bao giờ thuộc địa phận Trung Quốc, mà đã bị nước này “ăn cướp” của Việt Nam. Còn bằng chứng pháp lý ư? Ông Tập Cận Bình quên mất rằng sau ĐNhị thế chiến, thủ tướng chính phủ Việt Nam lúc đó là ông Trần Văn Hữu đã tuyên bố rằng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam mà không gặp phản đối của bất cứ một quốc gia.
Có lẽ chỉ có người Việt Nam mới thực sự thấy được sự đểu giả trong nụ cười của ông Tập Cận Bình. Đằng sau nụ cười “Mona Lisa” của ông là cả một trời tham vọng bá quyền, mưu mô, đểu giả và độc ác mà câu nói bất hủ của cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu “đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm” đã lột trần.
Sở dĩ tôi nhắc đến nụ cười đểu giả của ông Tập Cận Bình là bởi vì trong tuần qua, cùng với ông, Hoa Kỳ cũng đã đón tiếp một vị thượng khách mà nhân cách hoàn toàn được gói trọn trong nụ cười: Đức giáo hoàng Phanxicô! Người dân Mỹ có thể không nhớ hoặc cũng chẳng cần phải nhớ những gì vị giáo hoàng này đã nói. Nhưng chắc chắc họ không thể quên được nụ cười và cử chỉ khiêm tốn, nhân ái, đôn hậu và cảm thông của ngài trong suốt tuần lễ qua. Đó là sức mạnh đích thực của một nhà lãnh đạo tinh thần.
Nụ cười đôn hậu và chân thật của vị giáo hoàng này không thể không làm tôi liên tưởng đến một câu nói trịch thượng của đồ tể Stalin (1878-1953). Trong hồi ký của ông, người thông dịch của Stalin là ông Valentin Berezhkov, có kể lại rằng năm 1944, trong một cuộc gặp gỡ với Stalin, thủ tướng Anh, ông Winston Churchill (1874-1965) có đề cập đến tầm quan trọng của tình hữu nghị giữa Ba Lan và Liên Xô. Ông cũng nhắc lại rằng Ba Lan là một quốc gia toàn tòng công giáo. Ông cho biết Anh Quốc cảm thấy có trách nhiệm tinh thần đối với dân tộc Ba Lan và những giá trị tinh thần của họ. Có lẽ Thủ tướng Churchill chỉ muốn khuyên Stalin đừng chèn ép Ba Lan để tránh không làm cho các mối quan hệ với tòa thánh Vatican trở nên rắc rối. Nhưng bất thần Stalin ngắt lời thủ tướng Anh và hỏi: “Giáo hoàng Roma có bao nhiêu sư đoàn?” Thủ tướng Churchill bị cụt hứng. Ông không bao giờ chờ đợi một câu hỏi trịch thượng như thế. Ông chỉ muốn nhấn mạnh đến ảnh hưởng tinh thần của nhà lãnh đạo công giáo đối với thế giới mà thôi. Nhưng Stalin thì trái lại chỉ biết có mỗi một sức mạnh: đó là sức mạnh của lò thuốc súng như đồ tể Mao Trạch Đông cũng đã từng khẳng định.
Quả thật, nhà lãnh đạo công giáo hoàn vũ không có trong tay bất kỳ vũ khí nào. Vài ba anh vệ binh Thụy Sĩ đứng làm cảnh trong tòa thánh Vatican và trong những lễ nghi của giáo triều cũng chẳng có trong tay một khẩu súng hay một viên đạn. Nhưng thế giới không thể phủ nhận ảnh hưởng tinh thần của vị giáo hoàng. Năm 1978, hai nước láng giềng Chile và Argentina ở Châu Mỹ La Tinh đã đứng bên bờ vực của chiến tranh vì tranh chấp biên giới. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolo II đã cử một vị đại diện đến làm trung gian hòa giải giữa hai nước. Hai nước đã đồng ý ký thỏa ước và từ bỏ việc sử dụng võ khí. Mới đây, khi Cuba và Hoa Kỳ tái lập quan hệ ngoại giao sau hơn 50 năm đoạn tuyệt, người ta cũng đã nói nhiều đến hoạt động trung gian của tòa thánh Vatican, cách riêng của Đức Phanxicô
Đứng trước xung đột có thể dẫn đến chiến tranh, thế giới vẫn có thể có được hòa bình nhờ đối thoại và hòa giải mà không cần phải sử dụng khí giới. Đó là điều mà các nhà lãnh đạo tinh thần của Giáo hội Công giáo không ngừng lập lại. Trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ hồi tuần trước, thông điệp mà Đức Phanxicô đã nhắn gởi cho người Mỹ và toàn thế giới xem ra cũng chẳng có gì mới m. Kêu gọi bảo vệ môi sinh, giảm bớt khoảng cách giữa giàu nghèo bằng sự chia sẻ, tôn trọng những thành phần yếu đuối dễ bị tổn thương nhứt trong xã hội, mở rộng vòng tay đón nhận người tỵ nạn, hoặc bảo tồn định chế hôn nhân truyền thống...ngài cũng chỉ lập lại những điều căn bản trong Tin Mừng của Chúa Giê Su mà thôi.
Theo dõi chuyến viếng thăm Hoa Kỳ vừa qua của Đức Phanxicô, tôi có nghe nói ngài đã được chính ông chủ tịch Hạ Viện Mỹ John Boehner mời đến đọc diễn văn tại Quốc Hội. Đây là lần đầu tiên một vị giáo hoàng được dành cho vinh dự này. Tôi cũng biết ngài đã đọc diễn văn trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Đó là những biến cố quan trọng nói lên vị trí và ảnh hưởng tinh thần của ngài trong thế giới ngày nay. Nhưng thú thật, tôi chưa nghe trọn một bài diễn văn nào của ngài. Điều đập vào mắt tôi nhiều nhứt chính là hình ảnh của chiếc xe Fiat nhỏ bé và khiêm tốn trên đó ngài đã di chuyển trong những ngày vừa qua. Chắc chắn đây chỉ có thể là một quyết định riêng của ngài. Cuộc sống khiêm tốn từ thời còn làm tổng giám mục ở Buenos Aires bên Argentina vẫn được ngài tiếp tục sống ngay cả khi được ngồi trên điều mà người ta thường gọi là “ngai tòa” giáo hoàng ở Roma. Hình ảnh của chiếc xe nhỏ bé và nhứt là nụ cười, những cử chỉ thân ái và nhân ái của ngài là những gì đã đánh động tôi nhứt trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ vừa qua của ngài.
Rõ ràng là Đức Phanxicô không “giảng” bằng lời nói, mà bằng cả cuộc sống của ngài. Với tựa đề “Pope Francis remakes the Vatican” (Giáo hoàng Phanxicô cải tổ tòa thánh Vatican), nguyệt san “National Geographic”, số ra tháng 8 vừa qua, đã nhấn mạnh đến cuộc sống khiêm tốn, bình dị và nhân ái của ngài.
Tuần báo Time trong hai số ra ngày 28 tháng 9 và 5 tháng 10 cũng đã in hình của ngài ở trang bìa và dành trang chủ để nói về ảnh hưởng của ngài trên thế giới ngày nay. “Giáo hoàng Roma có bao nhiêu sư đoàn?” Ngày nay nếu có đội mồ sống lại để đặt lại câu hỏi này, có lẽ đồ tể Stalin sẽ có được câu trả lời. Đức Phanxicô chẳng có quân đội. Ngay cả “âm binh”, ngài cũng chẳng có. Có chăng là nụ cười đôn hậu, cuộc sống khiêm tốn và những cử chỉ thân ái và nhân ái của ngài.
Xét cho cùng, những vị giáo hoàng được thế giới, chớ không riêng gì người công giáo kính trọng và yêu mến nhiều nhứt, không hẳn là những vị tài cao học rộng, mà là những vị có cuộc sống khiêm tốn và nhứt là nụ cười nhân ái như Đức Gioan 23, như Đức Gioan Phaolô I và hiện nay Đức Phanxicô.
Tuần báo Newsweek số ra ngày 10 tháng 9 nêu lên ở trang bìa một câu hỏi ngộ nghĩnh: “Is the Pope Catholic?” (Giáo hoàng có phải là người công giáo không?)  Không là công giáo thì là gì? Cũng như hầu hết các vị tiền nhiệm của ngài, Đức Phanxicô, về mặt giáo lý, cũng được nhiều nhà quan sát xếp vào hạng “bảo thủ”. Có khác chăng là ngài đã dám đi ra ngoài “khuôn phép” để sống cho đến cùng niềm xác tín của ngài là để sống triệt để như một người công giáo, cần phải khiêm tốn, nhân hậu, cảm thông.
“Giáo hoàng có phải  là người  công giáo không?” đặt câu hỏi như thế cũng có nghĩa là trở về với cốt lõi của Tin Mừng của Chúa Giê Su. Cốt lõi đó chính là khiêm tốn, yêu thương, phục vụ, cảm thông và quên mình.
Qua nụ cười và cuộc sống của ngài, Đức Phanxicô có lẽ cũng muốn nhắn gởi với thế giới cùng một thông điệp mà nhà lãnh đạo tinh thần Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma, người cũng “thuyết pháp” bằng nụ cười và cuộc sống hơn là bằng lời nói, đã từng truyền đạt: đạo của tôi là đạo tử tế!
Ai đó đã nói: nụ cười là khoảng cách ngắn nhứt giữa hai trái tim. Người ta có thể đố kỵ và ngay cả thù nghịch nhau vì chính kiến và nhứt là vì tôn giáo. Nhưng một khi nụ cười đôn hậu, thân ái và nhân ái đã nở ra trên môi thì chắc chắn khoảng cách nào cũng có thể được rút ngắn và ngay cả xóa bỏ. Đó là “tín điều” quan trọng nhứt của tôi. Chỉ khi nào tín điều ấy được tuyên xưng qua cuộc sống hàng ngày của tôi thì lúc đó tôi mới dám tự nhận mình là người “có đạo” và “đi đạo”.




Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

Ung dung ta nói điều ta nghĩ...



Chu Thập
17.1.12



Một trong những điều đáng nói về cái vùng tôi ở là sự say mê thể thao của dân chúng. Đâu đâu cũng có thể nhìn thấy những bãi cỏ xanh tươi chờ đợi những buổi tập dượt và các trận tranh tài. Không riêng môn bóng bầu dục “đặc trưng” của người Úc như Football hay Rugby League mà ngay cả túc cầu, cricket, võ thuật, bơi lội, chèo thuyền... cũng được bà con Aussie say mê. Cảnh cha mẹ ngồi quanh sân cỏ cổ võ cho những cầu thủ bé tý 5,6 tuổi, bước đi còn “chập chững” trong bộ đồng phục hẳn hoi, là hình ảnh tôi thường thấy nhứt mỗi chiều đi dạo. Tôi khâm phục tinh thần yêu thể thao và sự hỗ trợ của phụ huynh trong việc đào luyện một giới trẻ khỏe mạnh và tráng kiện. Khác với vùng có đông lớp người di dân và tỵ nạn vất vả ở ngoại ô Sydney, sau giờ bãi trường, trẻ nhỏ và thanh thiếu niên ở đây hầu hết theo cha mẹ túa ra sân cỏ, chơi banh, tập dợt hò hét vang cả bầu trời cho đến tận chiều tối. Sân vận động Bluetongue hầu như luôn bận rộn cho các trận tranh tài nảy lửa. Những lúc đó, già trẻ lớn bé, con trai con gái, đàn bà trẻ con đều hớn hở khoác lên màu cờ sắc áo của đội mình, lũ lượt kéo nhau đi coi, ủng hộ và hò hét. Nhờ vậy mà các quán trọ và cảnh sát ở đây mới có những ngày bận rộn căng thẳng. Và có lẽ cũng nhờ vậy mà báo chí địa phương mới có chuyện để làm thầy bàn và dĩ nhiên, tôi cũng có chuyện để mà suy nghĩ “lung tung”.
Một chiều thứ Bảy gần đây, sân Bluetongue lại một lần nữa sôi động. Nhưng lần này mức độ sôi động kéo dài ra khỏi sân cỏ đến tận ga xe lửa. Lý do là vì sau 13 trận thắng liên tiếp, “đội túc cầu nhà” Central Coast Mariners đã phải thủ hòa 1-1 với đội New Castle United Jets. Chuyện “nhỏ như con thỏ” vậy mà cũng đủ làm cho đám ủng hộ đội New Castle vui mừng đến điên cuồng và nhóm ủng hộ “đội nhà” Central Coast rưng rưng đau khổ. Trong khi chờ xe điện, “phe địch” đã la hét vui mừng và nhứt là chọc quê nhóm ủng hộ “đội nhà” bằng đủ mọi cử chỉ và lời nói khiếm nhã. Hiếm khi nào ga Gosford lại tràn ngập cảnh sát như vậy. Họ đã phải huy động thật nhiều và mau chóng cô lập nhóm này với nhóm khác. Vài tay quá khích bị cảnh sát lôi ra ngoài. Dù các nhóm đã  bị cô lập nhưng không khí điên cuồng vẫn không giảm.
Ngồi chờ chuyến xe lửa lên Sydney, tôi bất đắc dĩ phải làm “khán giả” của một trận đấu trên sân ga có khi còn sôi nổi và gay cấn hơn cả trận đấu trên sân cỏ, bởi lẽ trên sân cỏ chỉ cần một trọng tài chính và hai trọng tài biên là đủ sức để chế ngự các cầu thủ cho dẫu họ có hung hãn đến đâu. Còn trên sân ga, không khí ăn thua đủ sôi sục đến độ hơn hai chục cảnh sát đã phải ra tay. Nếu không có nhân viên công lực đứng ra làm trọng tài thì tôi e rằng hai đội đấu võ mồm hôm ấy đã đánh giáp lá cà và cảnh đổ máu là điều khó tránh khỏi.
Tuy là dân Central Coast, nhưng về thể thao thì tôi thấy mình chẳng thuộc về phe nào. Giữ được một khoảng cách để có thể quan sát, tôi mới thấy rõ cái “bản tính xã hội” của con người. Nói nôm na, không riêng chuyện này, tôi thấy ở đâu con người ta cũng thích “hùa” theo đám đông. Bình thường, mỗi ngày có biết bao nhiêu người trong cái đám đông ủng hộ gà nhà ấy ngồi đợi xe lửa chung trên một sân ga, ngồi chung với nhau trong cùng một toa xe và rất có thể cũng đã từng trao đổi với nhau một tiếng chào hay một cử chỉ thân thiện. Vậy mà chỉ cần bị kích động, người ta đã có thể ăn thua đủ với nhau. “Hùa” theo đám đông, con người dễ bị “vong thân”, nghĩa là chẳng còn suy nghĩ bằng cái đầu của mình và hành động theo lý trí của mình nữa. Tệ hơn nữa, có khi chẳng khác nào một chiếc máy vi tính, con người chỉ làm theo “lệnh truyền” của một người khác.
Tôi có ý nghĩ ấy khi nhìn cái đám đông người dân Bắc Hàn “thương khóc”  “lãnh tụ kính yêu” Kim Chính Nhất hồi tháng 12 vừa qua.  Phải nhìn nhận rằng trong cái đám đông khóc lóc vật vã ấy, không thiếu những người “thành tâm”, thật sự thương tiếc lãnh tụ của mình. Họ là một số nhỏ được hưởng ơn mưa móc của lãnh tụ và chế độ. Nhưng trong đám tang của cái gọi là lãnh tụ kính yêu ấy, phần lớn, có khi đến hơn cả triệu người, nếu không “khóc mướn” thì cũng chỉ “khóc theo” mà thôi. Người ta khóc bởi vì thấy người khác khóc. Ngoài ra, trong một chế độ độc tài toàn trị trong đó nhứt cử nhứt động của mỗi người đều bị mọi người theo dõi, thì không khóc lãnh tụ kính yêu cũng là một cái tội, không bị tru di tam tộc thì cũng đáng bị đầy vào trại lao động khổ sai.
Trong các chế độ độc tài, đám đông thường bị lợi dụng tối đa để tô điểm, đánh bóng cho chế độ. Nhưng tức nước vỡ bờ. Đám đông là một con dao hai lưỡi. Cũng cái đám đông hôm nay hoan hô, ngày mai lại trở cờ đả đảo. Cũng cái đám đông hôm nay khóc sướt mướt lãnh tụ kính yêu, ngày mai sẽ đứng lên đào mồ chửi bới. Chuyện ấy đã thường xuyên xảy ra kể từ sau cuộc cách mạng thường được mệnh danh là “sức mạnh quần chúng” tại Phi luật tân dạo tháng 2 năm 1986, khi có đến 2 triệu người dân nước này tuốn ra các ngã đường ở thủ đô Manila để lật đổ nhà độc tài Ferdinand Marcos. Năm vừa qua, thế giới cũng đã chứng kiến được sức mạnh ấy trong cuộc cách mạng “Mùa Xuân Á Rập” diễn ra tại một số quốc gia trong khối Á rập. Một khi đám đông đã phẫn nộ và nổi điên, nó chẳng khác nào một cơn lũ mà không một đê điều nào có thể cản ngăn được.
Quả thật, đám đông có một sức mạnh lạ thường. Nhưng điều được gọi là “quần chúng tự phát” xem ra không bao giờ có. Đám đông chỉ có thể trở thành một sức mạnh nhờ được thúc đẩy, lôi kéo và lèo lái. Cuộc cách mạng “sức mạnh  quần chúng” tại Phi luật tân có lẽ khó xảy ra nếu không có một hồng y Jaime Sin, tổng giám mục Manila, lên Đài phát thanh hiệu triệu và kêu gọi xuống đường. Mùa Xuân Á rập có lẽ cũng không xảy ra nếu ở một tỉnh lẻ nào đó bên Tunisia không có một thanh niên tên là Mohammed Bouazizi đã tự thiêu để phản đối bất công. Tạp chí Time số ra cuối năm vừa qua đã có lý để chọn “The Protesters” (Kẻ Phản Đối) làm người của Năm. Bất luận ở đâu, họ là những người dám đứng lên giương cao ngọn cờ và khích động đám đông đi theo mình để chống lại bất công. Hiện nay thế giới đang chú ý đến người thanh niên Nga tên là Alexei Navalny. Người thanh niên 35 tuổi này chưa từng đảm nhiệm một chức vụ công quyền nào và cũng chẳng gia nhập bất cứ đảng phái chính trị nào. Anh cũng không phải là một người giàu có, nổi tiếng hay có “thớ”. Anh cũng chưa từng xuất hiện trên bất cứ một màn ảnh truyền hình nào trong nước. Nhưng hiện anh đang có trong tay một thứ khí giới mà chế độ độc tài của thủ tướng Vladimir Putin phải sợ: có đến trên một triệu rưỡi người đang đọc các bài anh viết trên Blog riêng của anh. Đầu tháng 12 vừa qua, chính phủ Nga đã bắt giữ anh. Nhưng hành động này lại trở thành một thứ “quảng cáo” không công cho anh: dân chúng kéo nhau đến trước khám đường và tổ chức những đêm canh thức. Chỉ trong một tuần, các cuộc phản kháng đã lan tràn đến trên 70 thành phố trên tòan nước Nga và riêng ngày 10/12/2011, đã có trên 50 ngàn người tập trung tại thủ đô Moscow. Trước các cuộc phản kháng, chính phủ đành phải trả tự do cho Navalny. Nhưng liền sau đó, cuộc phản kháng đã qui tụ được một đám đông trên 100 ngàn người. Đây là cuộc biểu tình lớn nhứt kể từ khi Liên Xô sụp đổ. Mọi giai tầng xã hội Nga đều có mặt trong cuộc biểu tình đòi cải tổ dân chủ. Nhìn biển người biểu tình hô lớn khẩu hiệu “Một nước Nga không có Putin”, người ta không thể không tự hỏi: trong suốt thời gian qua, họ ở đâu? (theo tạp chí Time, số ra ngày 23/1/2012). Thật ra cái đám đông âm thầm ấy vẫn có đó. Chỉ cần có một tiếng nói đủ mạnh để đánh thức họ dậy và lôi kéo họ đi theo.
Mùa nghỉ lễ vừa qua, tôi đã được xem cuốn phim có tựa đề “War Horse” (chiến mã) do nhà đạo diễn nổi tiếng Steven Spielberg thực hiện. Đặc điểm của cuốn phim là ngoài vai “con ngựa” được 14 con ngựa khác nhau thủ diễn, chẳng có nhân vật nào là chính cả. Nhưng dưới sự đạo diễn của Spielberg, tất cả mọi “ nhân vật” đều sắm vai của mình một cách hoàn hảo đến độ người xem có cảm tưởng như nhân vật nào cũng đều là “chính” cả. Câu chuyện nói về một con ngựa tuyệt đẹp và thông minh đến độ, những ai có dịp gần gũi đều yêu mến nó đến độ có thể đánh đổi tất cả những gì họ có, kể cả mạng sống cho sự an nguy của nó. Trong cảnh chiến tranh tàn bạo, con ngựa vẫn có thể làm tan chảy bao trái tim trong cái đám đông không ngừng chém giết nhau. Rồi cũng vì con ngựa, mà cuối cùng, đám đông thù hận đã có những phút hưu chiến tuyệt vời. Gây xúc động nhứt đối với tôi có lẽ là cảnh một người lính Anh đơn phương cầm cờ trắng tiến về phía quân Đức để cứu con “chiến mã” đang bị quấn chặt trong các vòng giây kẽm gai. Khán giả đã có thể cười ra nước mắt khi nhìn cảnh người lính vừa tiến bước trong run sợ vừa hát Thánh vịnh 22 quen thuộc của Kitô giáo: “Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi...Dù bước đi trong vũng tối, tôi không lo sợ”. Mà quả thật, sự tin tưởng và lòng can đảm đã giúp anh thắng vượt được mọi nỗi lo sợ để có thể tiến về phía quân thù và dàn xếp được một cuộc ngưng chiến để cứu con ngựa. Trước đó không bao lâu, tiếng nói duy nhứt mà hai bên có thể trao đổi với nhau chỉ là tiếng súng đạn. Vậy mà giờ đây, dẹp qua mọi thù hận, người lính Anh và người lính Đức đã có thể bắt tay nhau để cứu lấy con vật. Giữa hai bên không còn cái đám đông “vô danh” sẵn sàng ăn tươi nuốt sống nhau, mà chỉ còn lại những tình cảm cao đẹp nhứt trong tâm hồn con người. Đẹp và cảm động nhứt có lẽ là cảnh khi người lính Anh lên tiếng cần kìm cắt thì những người lính Đức, từ giao thông hào, ném tặng anh không chỉ một cái mà là một trận mưa những chiếc kìm cắt kẽm gai với nhãn hiệu đầy tự hào “made in Germany”.
Cảnh tượng trên đây cũng như cảnh cuối có hậu của cuốn phim “War Horse” gợi lên trong tôi niềm lạc quan và tin tưởng vào cái tính “bản thiện” nơi con người. Ở một mình, trở về nội tâm sâu thẳm của mình, con người thường hướng thiện.
Tôi không hẳn là người “dị ứng với đám đông”. Trong nhiều trường hợp, cần có đám đông để làm nên sức mạnh. Cuộc cách mạng ôn hòa nào cũng là cuộc cách mạng của đám đông. Nhưng cũng lắm khi con người dễ đánh mất chính mình giữa đám đông, nếu không muốn nói là bị hay tự mình làm vật hy sinh cho đám đông.
Về điểm này, tôi rất tâm đắc với bài phân tách của tác giả Nguyễn Gia Kiểng “Vài ghi chú về chủ nghĩa cá nhân” được đăng trên báo điện tử Thông Luận dạo tháng 8 năm 2010. Theo tác giả, chủ nghĩa cá nhân thường bị hiểu sai và đồng hóa với chủ nghĩa vị kỷ. Tác giả giải thích: “Trong khi chủ nghĩa tập thể coi xã hội là cứu cánh, cá nhân là phương tiện” thì “chủ nghĩa cá nhân coi mục đích của tổ chức xã hội, trong đó quan trọng nhất là chính quyền, là tạo điều kiện để mỗi cá nhân xây dựng hạnh phúc của mình. Nói cách khác, cá nhân là cứu cánh, mọi tổ chức trong xã hội kể cả nhà nước chỉ là phương tiện”.
Nếu hiểu “chủ nghĩa cá nhân” như thế, thì tôi thấy chẳng có lý do gì để mà không tuyên xưng và sống theo một chủ nghĩa như thế, bởi vì tôi tin rằng dù có ngu dốt đần độn, nghèo nàn và thấp cổ bé miệng đến đâu, tôi vẫn thấy mình có tự do để suy nghĩ bằng cái đầu của mình và sống theo ý mình và cho hạnh phúc của mình chứ không sống và làm theo ý và lệnh truyền của người khác.
Ngồi theo dõi  “chiến trận” của cái đám đông ủng hộ thể thao trên sân ga, tự dưng tôi lại nghĩ đến lời nói khẳng khái của cụ Nguyễn Trãi: “Ung dung ta nói điều ta nghĩ, cúi ngửa theo người quyết chẳng theo.”











Niềm Vui Nhỏ



Chu Thập
28.2.12


Sáng chúa nhựt vừa rồi, trên đường đi lễ, ghé đổ xăng, tôi có được một niềm vui nhỏ. Sau khi tính tiền, người đàn bà thu ngân nhoẻn miệng cười thật tươi và chúc “một ngày vui” (Have a nice day!).
Trong một xã hội văn minh như Úc đại lợi, những cử chỉ máy móc và những công thức chào hỏi sáo ngữ nhiều đến độ khiến người ta dửng dưng. Nhưng cứ tưởng tượng một ngày nào đó, quan hệ giữa người với người không còn được tô điểm bằng những cử chỉ và công thức ấy thì cuộc sống sẽ nặng nề biết chừng nào.
Người Việt nam thường bị ám ảnh bởi những kiêng kỵ. Sáng sớm ra ngõ gặp đàn bà bị xem là xui. Vậy mà chúa nhựt vừa qua, cử chỉ thân thiện của người người phụ nữ ở trạm xăng đã thực sự mang lại cho tôi một ngày thật vui và đương nhiên là không hề xui. Ở tiệm bán trái cây “Fresco” ở Hornsby, trong lúc đứng sắp hàng để trả tiền, tôi theo dõi những người đang lựa trái cây chưng đầy ở phía bên kia lối đi, vốn cũng thuộc về cửa hàng này. Người đi qua kẻ đi lại nườm nượp. Vậy mà cửa hàng không cần phải cắt cử một nhân viên nào để theo dõi, bởi vì người ta tin tưởng chẳng có khách hàng nào muốn “chôm chĩa” cả. Ở nhà quê như chỗ tôi ở chẳng hạn, thỉnh thoảng đi dọc đường tôi cũng thấy những người nông dân bày một cái sạp nhỏ trước cổng nhà để bán lẻ các nông sản như trái cây, trứng gà, mật ong. Tuyệt nhiên chẳng thấy có ai đứng bán hay trông chừng hàng.  Nhưng nhìn kỹ, người mua hàng sẽ thấy có một cái hộp nhỏ gọi là “honesty box” được đặt ngay trên sạp. Người mua hàng nào cũng hiểu rằng mình cứ tự động lấy hàng và bỏ tiền vào trong cái hộp đó theo giá được ghi trên mỗi món hàng. Tiền giấy, tiền cắc nằm trong cái lọ nhỏ, nếu cần “thối” thì khách hàng cũng tự mà làm. Ngoài con mắt lương tâm của chính mình đang theo dõi, chẳng ai biết mình có trả tiền và muốn sống lương thiện hay không.
Nhìn cảnh tượng mua bán “tự biên tự diễn” kiểu đó, tôi cảm thấy vui. Vui vì không những mình được sống trong một đất nước “may mắn” như Úc đại lợi, mà còn cảm nhận được sự tử tế, lương thiện và tin tưởng của con người đối với nhau.
Vui ở xứ người, nhưng cũng cảm thấy buồn mỗi khi nghĩ về quê hương. Chuyện lường gạt, dối trá thì đầy dẫy trên các trang báo hàng ngày trong nước. Chuyện khách du lịch ngoại quốc đến Việt nam một lần rồi tuyên bố sẽ không bao giờ trở lại vì bị trấn lột cũng không phải là chuyện bịa đặt của những “thế lực thù địch”. Dạo tháng 9 năm vừa qua, về thăm lại quê hương trong tinh thần luôn “đề cao cảnh giác”, vậy mà tôi cũng không tránh khỏi không biết bao nhiêu “sự cố”. Không nói đến chuyện mua hớ trong hàng chợ, không kể đến chuyện “treo đầu dê bán thịt chó”..., mỗi sáng đi vào chợ lỡ trả giá hay chỉ đứng xớ rớ mà không mua mở hàng thì cũng lãnh đủ những câu nói, cử chỉ khiếm nhã khiến phải bị ám ảnh suốt cả ngày. Tôi không trách những người đồng bào ruột thịt của tôi. Sống trong một xã hội mà sự chụp giựt, dối trá, lừa đảo, “móc ngoặc”...đã hầu như trở thành luật sống, thì lội ngược dòng đời không phải là điều dễ làm. Họ cũng chỉ là nạn nhân của một chế độ xây dựng trên dối trá mà thôi.
Thế giới có lý để lo sợ và đề phòng trước sự bành trướng của Trung Quốc. Trong khi lo sợ trước sức mạnh kinh tế và quân sự ngày càng lớn của Trung cộng, thế giới cũng cảm thấy bị đe dọa trước làn sóng những lề thói hạ cấp và cách hành xử “vô đạo” của người dân và xã hội mà “nhân lễ nghĩa trí tín” luôn từng được dùng như thước đo phẩm giá.
Mới đây, đài Truyền Hình Al Jazeera, ấn bản Anh ngữ, đã thực hiện một thiên phóng sự về điều được gọi là sự đụng độ về “văn hóa” giữa Trung hoa lục địa và Hong Kong. Cũng cùng một dòng máu và một ngôn ngữ, nhưng rõ ràng là Trung Hoa cộng sản và Hong Kong hiện có hai nền văn hóa khác biệt và xung đột nhau. Cuộc đụng độ giữa hai bên lên đến đỉnh điểm sau khi những người xử dụng mạng lưới Internet tại Hong Kong đã quyên góp trên 100 ngàn Dollard Hong Kong chỉ trong một tuần lễ để tài trợ cho một bảng quảng cáo gọi là “chống nạn châu chấu”. Bảng quảng cáo được đăng trên báo “Apple Daily” vẽ hình của vô số châu chấu đang xâm lấn Hong Kong. Nếu “châu chấu” là biểu tượng của nạn dịch phá hoại mùa màng, thì hiện nay người Hong Kong cũng so sánh người Trung Hoa lục địa với một thứ nạn châu chấu. Họ tràn ngập cựu nhượng địa Anh quốc này và làm xói mòn những giá trị mà Hong Kong đã bồi đắp được trong suốt 150 năm sống dưới quyền cai trị của người Anh. Ngoài những quyền cơ bản như tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do phát biểu, tự do hiệp hội...và những giá trị dân chủ, Hong Kong còn giữ được những giá trị truyền thống của Khổng Giáo mà cuộc cách mạng văn hóa của Mao Trạch Đông đã quét sạch ở Lục địa.
Theo thống kê, mỗi năm có đến 15 triệu người Trung hoa lục địa viếng thăm và tìm cách ở lại Hong Kong, đặc biệt các phụ nữ trong thời kỳ thai nghén, để hưởng những quyền lợi về y tế, xã hội tại Hong Kong. Đây là điều mà người dân Hong Kong còn có thể chấp nhận được. Nhưng có những điều mà họ cho là người Trung Hoa lục địa đã vượt quá làn ranh. Một cách cụ thể, người dân Hong Kong không còn chịu đựng nổi trước cảnh tượng của vô số người Trung Hoa lục địa đến đất nước của họ mà vẫn “vô tư” sống như ở nhà mình. Chuyện leo lên Taxi đi cho đã mà vẫn tỉnh bơ không chịu trả tiền là chuyện mà chỉ có người dân Trung Hoa lục địa dám làm ở Hong Kong. Các máy thu hình ở các nơi công cộng ở Hong Kong cũng quay được cảnh những thiếu phụ “vô tư” cho con tiểu tiện bên lề đường. Cách hành xử này cũng chỉ có ở Trung Hoa Lục địa mà thôi. Dân cư Hong Kong cũng cảm thấy khó chịu không ít khi phải chứng kiến cảnh người ta tỉnh bơ ngồi ăn uống trong xe điện ngầm. Nếu bị bắt gặp đang khạc nhổ, hút thuốc lá, tiểu tiện, xả rác nơi công cộng thì một trăm phần trăm người đó chỉ có thể là người dân cộng hòa nhân dân Trung quốc.
Sự khác biệt trong cách sống và cư xử của người dân Hong Kong và Trung Hoa lục địa dĩ nhiên chỉ có thể xuất phát từ hai cách cai trị khác nhau: một bên là tự do dân chủ, một bên là độc tài ý thức hệ. Khác biệt cuối cùng vẫn là khác biệt trong ý thức về đạo đức. Ý thức về đạo đức, về nhân cách, về cách hành xử nhân bản khác nhau một trời một vực giữa hai xã hội.
Khác nhau về sự phát triển kinh tế, nhưng người dân của hai nước cộng sản anh em “Cộng hòa nhân dân Trung Quốc” và “cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam” đều chia sẻ một mẫu số chung là: cứ “vô tư” sống mà không màng đến những chuẩn mực đạo đức nền tảng nhứt mà xã hội nào cũng cần phải có để tồn tại. Nói chung, một chế độ được xây dựng trên dối trá không thể nào tạo được một xã hội có đạo đức, trừ phi là “đạo đức cách mạng”, tức thứ “đạo đức” giả hiệu đề cao sự dối trá, lươn lẹo. Chuyện Hồ Chí Minh có lối sống dối trá và luơn lẹo như thế nào thì ngày càng sáng tỏ. Có tốn bao nhiêu bút mực cũng không diễn tả hết những hành động lừa đảo, ngang ngược, trơ trẽn và vô liêm sỉ của những người cộng sản Việt nam. Xét cho cùng, cộng sản cũng đồng nghĩa với “vô đạo”.
Thước đo sức khỏe của một xã hội không phải là sự phát triển kinh tế, lại càng không phải là quân sự, mà thiết yếu là những giá trị đạo đức. Công ích không chỉ là văn minh kỹ thuật hay an sinh xã hội, mà còn bao hàm cả những giá trị đạo đức. Cho dẫu có mức sống thấp, nhưng nhờ những giá trị đạo đức mà người dân biết sống lương thiện và đối xử tử tế tới nhau, một xã hội như thế mới thực sự có có công ích cao.
Dĩ nhiên, những kẻ “vô đạo”, đầu trộm đuôi cướp, sống mà không màng đến những chuẩn mực đạo đức thông thường thì xã hội nào cũng có. Nhưng ít ra, trong một chế độ có tự do, người dân còn biết phân biệt được thiện ác và nhứt là còn có quyền phê phán cách hành xử vô đạo của nhà cầm quyền. Trong các xã hội tự do, công ích luôn bao gồm cả những giá trị đạo đức. Một chính trị gia, dù có tài ba đến đâu, nhưng hành xử mà không màng đến những giá trị đạo đức, thì khó có thể đứng vững trên quyền lực của mình. Xã hội Mỹ là một điển hình. Các giá trị đạo đức thường vẫn nằm trong chiến dịch vận động bầu của các ứng cử viên, dù ở địa phương, tiểu bang hay liên bang. Trong khi tranh cử mà lỡ “léng phéng” hay “lem nhem” về tiền bạc hay tình ái thì đừng mong ra làm “đầy tớ nhân dân” theo đúng nghĩa (civil servant). Trong khi tại chức mà lỡ “đèo bồng” và nhứt là dối trá hay bội thề, thì số phận lại càng long đong. Một tổng thống tài ba như Bill Clinton đã liểng xiểng và suýt bị Quốc hội bãi nhiệm vì hành động “bội thề”, tức quanh co dối trá.
Cuộc khủng hoảng về quyền lực chính trị tại Úc đại lợi hiện nay, xét cho cùng, cũng là một cuộc khủng hoảng về đạo đức. Mới đây, trong một cuộc thăm dò trên mạng Internet, khi được hỏi nếu chỉ dùng một tiếng để mô tả thủ tướng Julia Gillard và ngoại trưởng Kevin Rudd, trong nhiều “đặc tính” được gán cho bà Gillard, người ta thấy nổi cộm nhứt là những tĩnh từ “Dối Trá” (Liar) và “Không lương thiện” (Dishonest). Về phần ông Rudd, thì nổi bật nhứt là hai tiếng “Ích kỷ” (Egoistical). Tất cả những danh xưng trên đây đều nằm trong phạm trù “đạo đức”.
Nếu chỉ xét riêng bà Gillard, có lẽ cái tính “dối trá” và “không lương thiện” của bà đã khiến cho uy tín của bà tụt dốc thê thảm trong các cuộc thăm dò dư luận. Kể từ nay cho đến cuộc bầu cử liên bang vào năm 2013 tới, dù bà có đạt được bao nhiêu thành tựu về chính trị và kinh tế đến đâu đi nữa, bản thân bà và cùng với bà, Lao động khó có thể lấy lại uy tín. Dù có thờ ơ với chính trị đến đâu, có lẽ đa số người dân Úc vẫn không chấp nhận một nhà lãnh đạo nói đó rồi lại chối đó, hứa hẹn đó rồi lại phủi tay đó, cam kết đó rồi lại phản bội đó để bằng mọi giá yên vị trên chiếc ghế quyền lực của mình.
Tôi vui vì thấy người dân Úc vẫn còn trọng chữ tín và trân quý những giá trị đạo đức trong chính trị. Muốn hay không, trong một thể chế tự do, người dân không chấp nhận chính trị phi đạo đức.
Là một tín hữu Kitô, tôi đang cố gắng sống tinh thần Mùa Chay như Giáo hội của tôi dạy bảo. Trong thánh lễ Chúa Nhựt thứ nhứt Mùa Chay, tôi nghe linh mục chủ tế khuyên nên làm một cuộc “thay đổi”: thay đổi từ ác sang thiện, từ hận thù sang yêu thương, từ ích kỷ sang vị tha và dĩ nhiên từ dối trá sang sự thật...Chay tịnh thì luật Giáo hội bảo rằng tôi đã quá tuổi ăn chay. Còn kiêng khem thì tôi lại kiêng khem theo cách thế của tôi. Tôi thích ăn cá hơn thịt. Dĩ nhiên cá do tôi câu. Do đó, trong mỗi ngày thứ sáu của Mùa Chay, thay vì kiêng thịt như Giáo hội khuyên, tôi lại ăn thịt như một “hy sinh”. Tôi thấy có nhiều thứ để tôi hy sinh hơn là thịt hay cá. Mà hy sinh và chiến đấu là chuyện cả đời chớ không chỉ có 40 ngày Mùa Chay. Nghĩ cho cùng, về chuyện chay tịnh, tôi thấy lời khuyên của ông bà mình thật chí lý: “Thà ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói dối”.

Sống Đạo cốt lõi là sống với người khác và vì người khác. Tình cảm giữa người với người nhiều khi nảy sinh từ những chuyện rất nhỏ. Tôi thấy yêu xã hội và con người ở Úc hơn không hẳn vì những ân huệ to lớn đã nhận từ xứ sở này mà có lẽ chỉ vì cái cách bán hàng “tự biên tự diễn” trên các con đường quê. Cũng vậy, về thăm lại quê hương, tôi ray rứt buồn bực vì biết bao chuyện nhỏ. Cùng là chuyện nhỏ nhưng chúng phản ánh sự “quan tâm” đến người khác hay không. Cùng là chuyện nhỏ nhưng lại chứa đựng vấn nạn lớn: Đạo và Vô Đạo. Phải chăng yêu thương dẫn đến Đạo và Đạo cũng chỉ qui về một mối Yêu Thương?

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2015

Libya: trạm dừng của người tầm trú Phi Châu


2.10.15

Trong làn sóng người tầm trú ồ ạt đổ vào Âu Châu, không chỉ có người Syria, mà còn có rất nhiều người đến từ Iraq, Iran và một số nước Á Châu như Afghanistan, Pakistan, Bangladesh, Miến Điện. Ngoài ra cũng phải kể đến một lượng rất lớn người Phi Châu. Đối với những người tầm trú Phi Châu, kể từ khi Lybia rơi vào hn loạn sau cuộc nổi loạn lật đổ nhà độc tài Muammar Gaddafi, đất nước này đã trở thành trạm dừng chân của họ trước khi tiếp tục cuộc hành trình tiến về đất hứa Âu Châu.
Hàng chục ngàn năm trước, loài người đã từ vùng Hạ Sahara, Phi Châu tiến về Âu Á xuyên qua một hành lang chạy dọc theo Bắc Phi. Về sau con đường xuyên qua Sa mạc Sahara đã trở thành một tuyến đường thương mại. Từ những bờ biển của Địa Trung Hải, rượu và dầu ô liu đã chảy tràn xuống phía nam, trong khi các loại đá quý và vàng lại được chuyển lên phía bắc. Con người cũng được vận chuyển xuyên qua con đường này: các đoàn du mục đã chở không biết bao nhiêu người nô lệ vào Âu Châu
Ngày nay, tuyến đường này nối liền miền Bắc Niger tại Trung Phi với vùng sa mạc Fezzan ở miền tây nam Libya. Nhưng hiện nay, sau cuộc ni loạn lật đổ nhà độc tài Muammar Gaddafi hồi năm 2011, những đường ranh trên bản đồ đã tr thành lu mờ. Sa mạc Fezzan đã trở thành một vùng tự trị, trong đó những người buôn lậu tự do buôn bán súng ống và ma túy, các bộ lạc gây chiến với nhau và các nhóm cực đoan tha hồ hoành hành. Tuy nhiên, chỉ có một điều không thay đổi: vùng này vẫn còn là con đường được những người di dân và tầm trú sử dụng để xâm nhập vào Âu Châu.
Miền tây nam Libya là sào huyệt của buôn lậu ngay cả trong suốt 40 năm dưới chế độ độc tài của Đại tá Gaddafi. Các băng đảng tội phạm lợi dụng tình trạng ranh giới mập mờ với một số quốc gia đang có xáo trộn như Niger và Chad ở phía nam và Algeria ở phía Tây để vận chuyển ma túy và khí giới lên miền bắc, rồi từ miền bắc lấy hàng xuống phía nam để bán với giá cắt cổ. Nhưng vùng Sa mạc Fezzan tương đối ổn định dưới thời ông Gaddafi. Nhà độc tài này vẫn cho xây dựng hệ thống dẫn thủy nhập điền và hạ tầng cơ sở tại những vùng có đông dân. Những bộ lạc lớn trong vùng như người Tuareg và kẻ thù không đội trờ chung của họ là người Tebu, đều đã ủng hộ ông Gaddafi cho tới khi diễn ra cuộc nổi dậy năm 2011.
Nhưng tình trạng tương đối ổn định ở vùng Fezzan đã chấm dứt cùng với chế độ độc tài Gaddafi. Hiện nay tại Libya có nhiều  tổ chức kình chống nhau đang tìm cách kiểm soát nước này. Trước hết là chính phủ của Hội đồng Dân cử được tuyển chọn một cách dân chủ năm 2014, hiện đang có trụ sở tại thành phố Tobrub cho nên cũng được gọi là “Chính phủ Tobrub” hay Chính phủ Libya. Đây là chính phủ đã được thế giới công nhận. Chính phủ này có quân đội dưới quyền lãnh đạo của tướng Khalifa Haftar và được một số nước như Ai Cập và Vương quốc Á rập Thống Nhất hậu thuẫn.
Tổ chức thứ hai là chính phủ Hồi giáo có tên là “Tân Quốc Hội” đặt trụ sở tại thủ đô Tripoli, do tổ chức “Huynh Đệ Hồi Giáo” lãnh đạo. Đứng đàng sau chính phủ này là một số quốc gia Hồi giáo như Thổ Nhĩ Kỳ, Qatar và Sudan.
Tổ chức thứ ba có tên là “Cộng đồng Cách mạng Hồi giáo Shura”. Tổ chức này được chính phủ “Tân Quốc Hội” có trụ sở tại Tripoli yểm trợ, vì cho rằng đây là một tổ chức Hồi giáo “đơn sơ, cao đẹp và thân thiện” cũng như tích cực trong công cuộc “truyền đạo”.
Cuối cùng là “Quốc gia Hồi giáo” ISIS. Tổ chức này đang tìm cách kiểm soát một số tỉnh. Ngoài ra cũng phải kể các dân quân Tuareg hiện đang kiểm soát những vùng sa mạc tại phía tây nam Libya.
Trong thực tế hai tổ chức chính vẫn là Chính phủ Tobruk và Chính phủ Tripoli. Cả hai đều tìm cách lôi kéo các nhóm dân quân. Hai chính phủ này hiện đang tranh giành để kiểm soát miền bắc Libya. Trong khi đó, các bộ lạc kình chống nhau thì lại giao chiến với nhau để tranh giành đất đai và các tài nguyên của vùng Fezzan. Tại thành phố Ubari, vốn trước đây là một căn cứ quân sự, đã có hàng trăm người bị giết chết khi các chiến binh thuộc bộ lạc Tebu được Chính phủ Tobruk hậu thuẫn đã đụng độ với binh sĩ của bộ lạc Tuareg được chính phủ do các dân quân hồi giáo ủng hộ. Những người thuộc bộ lạc Tebu nói rằng các chiến binh Tuareg là các “thánh chiến quân”. Nhưng bộ lạc Tuareg lại khẳng định rằng họ chỉ cố gắng bảo vệ nhà cửa và các cộng đồng của họ mà thôi.
Tình trạng hn loạn tại Fezzan nói riêng và cuộc tranh giành giữa hai chính phủ tại Libya nói chung đã lôi kéo vào đất nước này các tổ chức Hồi giáo cực đoan như al-Qaeda tại Magreb. Đây là chi nhánh al-Qaeda tại Bắc Phi. Nhưng mối đe dọa lớn nhất cho sự ổn định toàn cầu chính là tệ nạn buôn người tại vùng Fezzan. Cũng như cuộc chiến tại Syria đã khiến cho mỗi ngày hàng ngàn người Syria trốn sang Âu Châu xuyên qua cửa ngõ Hy Lạp và Hung Gia Lợi, sự sụp đổ của Libya và tình trạng hn loạn hiện nay đã mở rộng biên giới cho một đợt di dân mới tràn vào đất nước này. Các dân quân thuộc bộ lạc Tebu đã liên kết với các nhóm tội phạm để đưa người từ nước láng giềng Niger vào Libya. Tổ chức Di dân Quốc tế (The International Organization for Migrants, gọi tắt là IOM) tiên đoán rằng trong năm nay sẽ có khoảng 120 ngàn người vượt qua biên giới phía bắc của Niger để trốn chạy khỏi những quốc gia đang rơi vào hỗn loạn cũng như để tránh cảnh nghèo đói tại miền Tây Phi Châu. Nhiều người sẽ dùng những chiếc tàu mong manh dọc theo bờ biển phía bắc của Libya để vượt qua biển Địa Trung Hải tiến về Âu Châu. Chỉ trong năm nay đã có hơn 460 ngàn người vượt biên theo con đường này. Nhiều người đã được các toán tuần duyên của các nước Âu Châu cứu vớt. Nhưng cũng có một số chết chìm trong đại dương. Chỉ trong năm nay đã có trên 2.800 người bỏ mạng trên biển cả.
Hiện nay các nhà lãnh đạo Tây Phương vẫn chưa tìm được một giải pháp để ngăn chặn làn sóng người di dân từ một vùng hỗn loạn của một đất nước ngày càng hỗn loạn đang tràn vào lục địa của mình. Ngày 14 tháng 9 vừa qua, Liên Âu đã cho phép có hành động quân sự để chống lại những tổ chức buôn người trong biển Địa Trung Hải, kể cả tịch thu và phá hủy những chiếc tàu hoạt động bất hợp pháp tại Libya. Nhưng những nỗ lực này vẫn chưa đủ để phá vỡ hay giới hạn những mạng lưới buôn người đang hoạt động trên đất liền cũng như ngăn cản hàng ngàn người tại miền Tây Phi Châu rời bỏ nhà cửa để tiến về phía Bắc. Nói chung, tình trạng nghèo đói cùng cực vẫn là một trong những động lực chính thúc đẩy người di dân ra đi.
Trong khi đó thì tình trạng hỗn loạn tại Ubari vẫn tiếp tục đẩy hai bộ lạc Tuareg và Tebu vào cuộc chiến đẫm máu để tranh giành lãnh thổ tại vùng Sa mạc Fezzan. Tình trạng hỗn loạn này tạo điều kiện cho các tổ chức buôn người nới rộng mạng lưới của họ cũng như các “thánh chiến quân” Hồi giáo cực đoan có đủ lý do để chiêu mộ giới trẻ thiếu giáo dục đang thất nghiệp. Tình trạng hỗn loạn và vô chính phủ do những căng thẳng giữa các sắc tộc tạo ra cộng với một ý thức hệ cực đoan:  đây là những yếu tố đã biến vùng Sa mạc Fezzan của Libya thành một cửa ngõ để làn sóng người tầm trú từ các nước giáp giới với nước này tìm đường sang Âu Châu.
Libya là một trong những nước Bắc Phi đã từng trải qua nhiều xáo trộn hơn cả. Thời xa xưa, nước này bị người Ba Tư, Ai Cập cai trị và sau đó trở thành một phần của đế quốc La Mã. Đã từng là một trung tâm của Kitô Giáo, Libya đã bị Hồi giáo hóa sau khi đế quốc La Mã sụp đổ. Vào thế kỷ thứ 16, Đế quốc Tây Ban Nha xâm chiếm Libya, nhưng sau đó phải nhường lại cho Đế quốc Thổ. Sau cuộc chiến tranh Ý Thổ (1911-1912) Libya rơi vào tay Ý. Nước này đã biến Libya thành “Bắc Phi của Ý”. Đã có khoảng 150 ngàn người Ý sang định cư tại Libya và như vậy chiếm đến gần 20 phần trăm dân số nước này.
Năm 1934, thuộc địa “Bắc Phi của Ý” đã được chính thức đặt tên là “Libya”. Trước đó 3 năm, một nhà ái quốc Libya tên là Omar Mukhtar đã lãnh đạo một cuộc nổi dậy chống lại chính quyền thực dân Ý. Sau khi ông này đã bị bắt và  bị xử tử, nhiều nhà ái quốc khác đã xuất hiện để tranh đấu cho độc lập. Trong suốt cuộc kháng chiến diễn ra trong hai thế chiến, chính quyền thực dân Ý đã giết khoảng 50 ngàn người Libya.
Tháng 6 năm 1940, Ý liên kết với Đức trong ĐNhị thế chiến. Libya đã trở thành một bãi chiến trường quyết liệt: năm 1943, Liên minh Ý Đức bại trận. Từ năm 1943 đến năm 1951, Libya nằm dưới sự bảo trợ của quân đội Đồng minh. Ngày 24 tháng 12 năm 1951, Libya tuyên bố độc lập và lấy tên “Vương quốc Libya Thống nhất” đặt dưới quyền cai trị của quốc vương Idris.
Năm 1959, những giếng dầu tại Libya được khám phá. Từ một trong những nước nghèo nhất thế giới, Libya đã trở thành một quốc gia giàu có. Nhưng tài sản của quốc gia lại tập trung vào tay Quốc vương Idiris. Dân chúng ngày càng bất mãn. Ngày 1 tháng 9 năm 1969, một sĩ quan 27 tuổi tên là Muammar Gaddafi đã lãnh đạo một cuộc đảo chính để lật đổ Quốc vương Idris, chấm dứt chế độ quân chủ và thiết lập một chế độ độc tài còn tồi tệ hơn.
Song song với chế độ độc tài trong nước, ông Gaddafi cũng can thiệp vào nội tình của một số nước xung quanh và tài trợ cho nhiều tổ chức khủng bố trên thế giới.
Từ năm 1977 trở đi, Libya được xem như một trong những nước giàu mạnh trên thế giới. Lợi tức trung bình mỗi năm của người dân lên đến hơn 11 ngàn Mỹ kim. Đây là mức lợi tức cao thứ 5 tại Phi Châu. Còn tính theo Chỉ số Phát triển Nhân bản (Human Development Index), Libya được xếp đứng đầu tại Phi Châu, cao hơn cả Á Rập Saudi. Libya đã đạt được mức phát triển này mà không cần phải vay mượn từ nước ngoài. Hệ thống kinh đào cũng đưa nước ngọt đến hầu hết mọi vùng trên lãnh thổ.
Nhưng bên cạnh sự phát triển này, nhà độc tài Gaddafi lại dùng phần lớn thu nhập từ dầu hỏa để trang bị cho quân đội và tài trợ cho không biết bao nhiêu tổ chức khủng bố trên khắp thế giới. Năm 1986, dưới thời cố tổng thống Ronald Reagan (1911-2004), người đã từng gọi ông Gadddfi là “con chó điên”, Chính phủ Hoa Kỳ đã ra lệnh oanh tạc để giết ông. Nhưng chiến dịch đã không thành công. Cuối cùng, sau khi Gaddafi ra lệnh đặt bom trên chuyến bay thương mại của hãng hàng không Pan Am khiến cho 270 người bị thiệt mạng, Liên Hiệp Quốc đã thông qua nghị quyết cấm vận  Libya. Vậy mà   ngày 27 tháng 8 năm 2008, trên 200 quốc vương Phi Châu đã tụ tập tại thành phố Benghazi để trao tặng cho Đại tá Gaddafi tước hiệu “Vua các vua Phi Châu”. Có lẽ tước hiệu này đã tạo ra nơi nhà độc tài này ảo tưởng về một chế độ độc tài vĩnh viễn. Nhưng chế độ độc tài kéo dài 40 năm của ông cũng chính là con đường dẫn đến cái chết thê thảm của ông, đến sự phá sản của Libya và sự bất ổn toàn cầu hiện nay do làn sóng di dân xuất phát từ đất nước này tạo ra.




Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2015

Cám ơn đất nước đã cho tôi được sống tự do


Chu Thập
25.9.15

Có lần, trong lúc trà dư tửu hậu, vợ chồng một người bạn đã thăm dò “chính kiến” của tôi. Họ hỏi tôi ủng hộ Đảng nào ở Úc Đại Lợi này. Chính trị vốn là một đề tài dễ gây tranh cãi và ngay cả chia rẽ. Trong gia đình hay quan hệ bạn bè, chỉ vì khác chính kiến mà người ta có thể phùng mang trợn mắt để ăn thua đủ với nhau. Biết như vậy, cho nên khi được hỏi về quan điểm của mình đối với chính trường Úc, tôi đã chọn thái độ “ba phải” và trả lời hàng hai: “chính phủ nào biết lo cho dân thì tôi ủng hộ”.
Thật ra, kể từ lúc được làm công dân Úc, tôi thấy mình chẳng dứt khoát đứng về bên nào cả. Là một người tỵ nạn cộng sản, tôi chỉ có một chọn lựa: không đội trời chung với cộng sản! Nhưng trong thế giới tự do, như ở Úc Đại Lợi này, ranh giới trong sinh hoạt chính trị, đối với cá nhân tôi, lúc nào cũng lu mờ. Đang đứng bên này, tôi bước sang bên kia lúc nào không hay biết. Chẳng hạn, dưới thời ông Kevin Rudd làm thủ tướng, được ổng tặng không 14 ngàn khi mua căn nhà đầu tiên, được ổng khuyến khích gắn hệ thống năng lượng mặt trời  để không những tiêu dùng mà còn dư để bán lại cho nhà nước, được ổng tặng không cho một bình chứa nước mưa thật lớn để tiết kiệm nước, được xài nước nóng thả cửa cũng nhờ năng lượng mặt trời...một người không có những suy nghĩ sâu xa về chính trị như tôi làm sao không bỏ phiếu cho Lao Động.
Nhưng sau khi bà Julia Gillard đâm sau lưng ông Kevin Rudd, rồi ông Rudd trở lại “chém” bà Gillard, trước cảnh bát nháo  của Lao Động, tôi đã trở cờ để ủng hộ Liên Đảng. Vậy mà liền sau đó, khi Chính phủ Tony Abbott công bố Ngân sách đầu tiên với đủ thứ cắt giảm, tôi cảm thấy thất vọng về chính phủ này. Nay sau khi ông Malcolm Turnbull lật đổ ông Tony Abbott, tình hình chính trị và kinh tế của Úc xem ra khả quan hơn, đồng Úc kim có nhích lên một chút, tôi thấy “niềm tin” mà tôi đã đặt nơi chính phủ Liên Đảng cũng có phần đi lên. Nhưng từ nay cho đến ngày bầu cử liên bang vào tháng 9 năm tới, ngọn gió chính trị trong tôi biết đâu lại chẳng đổi chiều. Nhiều lần, vào giờ phút cuối, khi bước vào phòng phiếu, đứng một mình với lá phiếu trên tay, ngẩn ngơ một lúc, tôi đã xoay 180 độ lúc nào không hay biết!
Hầu như chính trị gia nào cũng đều nhìn nhận rằng chính trị là một trò chơi và là một trò chơi tàn bạo. Cứ nhìn cảnh bà Gillard đâm sau lưng ông Rudd thì rõ. Cứ nhìn cảnh bà đương kim bộ trưởng ngoại giao Julie Bishop đánh đu từ giây này sang giây khác để bám trụ mãi vào chức phó “thống soái” của Đảng Tự Do thì rõ. Cứ nghe giọng điệu đắng cay chua xót của ông Abbott khi nói về sự phản thùng của ông Scott Morrison thì rõ.
Tuy không gia nhập đảng phái nào và cũng chẳng bao giờ có tham vọng làm chính trị, nhưng tôi cũng thấy mình đang “làm chính trị” và cũng xem chính trị như một trò chơi. Dĩ nhiên, một trò chơi thú vị. Bởi lẽ, tôi đang cầm lá phiếu trong tay và tôi biết rằng chính trường Úc tùy thuộc vào lá phiếu của tôi. Những năm sống dưới chế độ cộng sản, vì không có chứng minh nhân dân cho nên tôi được “miễn” đi bầu. Vượt biên là một cách bỏ phiếu và không cầm lá phiếu trong tay cũng là một cách bỏ phiếu. Lá phiếu vô hình của tôi cũng có giá trị của một lời tố cáo về một chế độ không có tự do bầu cử, không có tự do bày tỏ lập trường chính trị của mình.
Ở Úc Đại Lợi này, sự kiện tôi thay đổi như chong chóng khi sử dụng lá phiếu của mình cho thấy tôi là một công dân có tự do. Và tự do đối với một người tỵ nạn như tôi chính là lẽ sống. Làn sóng người tầm trú từ Trung Đông và Phi Châu ồ ạt đổ vào Âu Châu hiện nay không thể không gợi lại thảm trạng của người Việt tỵ nạn sau năm 1975. Ra đi để có một cuộc sống tốt đẹp hơn đã đành, người Việt tỵ nạn nào cũng liều mạng sống mình vì hai chữ “tự do”. Có tự do là có tất cả. Nhìn lại cảm xúc của mình khi được vớt lên giàn khoan dầu trong biển Nam Dương và nhứt là khi đặt chân vào trại tỵ nạn, vốn chỉ mới là “ngưỡng cửa của tự do”, tôi thấy mình đã thực sự tìm được một quê hương mới. Dĩ nhiên, quê hương Việt Nam, người Việt tỵ nạn nào cũng mang theo và trân trọng cất giữ trong lòng. Nhưng tự do cũng đã mở ra cho họ một quê hương mới. Tôi hiểu được tâm trạng của Blogger Tạ Phong Tần khi vừa  đặt chân đến Hoa Kỳ. Sau 4 năm bị giam tù vì đã đồng sáng lập “Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do” để tranh đấu cho tự do báo chí, bà Tạ Phong Tần đã được chính phủ Mỹ can thiệp để được rời khỏi Việt Nam và định cư tại Hoa Kỳ. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho báo Người Việt, bà nói: “Tôi cảm thấy nơi đây là nhà của mình” (Người Việt online 22/9/2015).
Tôi không biết khi nói đến “nhà của mình”, bà Tạ Phong Tần có liên tưởng đến chữ “home” trong Anh Ngữ không. Ở Úc này, vào một nhà nào, được chủ nhà mời hãy “cảm thấy như nhà mình” (feel at home), điều đó có nghĩa là mình có quyền cảm thấy thoải mái như ở nhà mình. Thoải mái hay bình an đó là cảm xúc đầu tiên mà “nhà của mình” luôn gợi lên. Ai đó đã có lý để định nghĩa “lòng mình ở đâu thì nhà mình ở đó” ( home is where the heart is). Và dĩ nhiên, không đâu mình thích cho bằng ngôi nhà của mình, bởi vì ở đó mình mới thực sự cảm thấy thoải mái và tự do. Chính vì vậy mà bất cứ nơi nào mình cảm thấy thoải mái và tự do thì đó là “nhà của mình”. Không chỉ các tù nhân, cách riêng các tù nhân lương tâm, mà bất cứ người Việt nào khao khát tự do cũng đều không thể cảm thấy thực sự thoải mái ở Việt Nam dưới chế độ cộng sản ngày nay. Nhà cửa đất đai có thể bị cướp bất cứ lúc nào. Ở đâu cũng có thể bị theo dõi và bị công an hay công an đội lớp côn đồ hành hung. Làm gì, nói gì cũng đều có thể bị đưa từ khám đường lớn vào nhà tù nhỏ. Sống như thế, dù có nhà cao cửa rộng và đầy đủ tiện nghi vật chất, không thể gọi là sống thoải mái và tự do. Giờ đây tôi mới hiểu được tại sao khi mở chiến dịch tranh đấu cho tự do tôn giáo và các quyền tự do căn bản của con người, linh mục Nguyễn Văn Lý đã cho trương lên biểu ngữ: “Tự do hay là chết”. Đối với vị linh mục này, sống mà không có tự do cũng đồng nghĩa với chết. Hình ảnh ông bị công an dùng tay khóa cổ, bịt miệng ngay trong tòa án cũng đủ nói lên tại sao sống mà không có tự do thì chẳng khác nào chết.
Cái cảm giác được ở trong “nhà của mình” mà bà Tạ Phong Tần vừa có được khi đặt chân lên đất Mỹ, tôi cũng đã từng có được khi đặt chân đến đất nước đã đón nhận mình, nhứt là Úc Đại Lợi này. Đây là quê hương thứ hai của tôi. Đây là “nhà của tôi”. Đây là ngôi nhà lúc nào cũng mang lại cho tôi sự thoải mái và tự do. Đó là điều quý giá nhứt mà tôi đã liều mạng sống để đi tìm cho bằng được. Đó cũng là điều phải luôn luôn gợi lên cho tôi lòng biết ơn đối với đất nước này.
Mới đây, ông bạn hiền của tôi có chuyển cho tôi một câu chuyện để nghiền ngẫm về kiếp sống tỵ nạn. Đó là câu chuyện của một cặp vợ chồng già đã làm di chúc để lại toàn bộ gia tài trị giá trên 800 triệu Mỹ kim của mình cho chính phủ Hoa Kỳ. Hai ông bà là những người Do Thái mà thân nhân đều bị Đức Quốc Xã sát hại trong thời ĐNhị Thế chiến. Theo câu chuyện, ông Peter Petrasek sinh năm 1920 tại Tiệp Khắc. Khi quân đội Đức xâm lăng nước này ông chỉ mới 12 tuổi. Chị của ông chết vì trúng đạn pháo kích. Cha của ông bị bắt đưa vào trại tập trung và bị giết chết tại đây. Mẹ của ông thì bị lưu lạc mất tích. Sống sót nhờ khỏe mạnh, cậu thiếu niên được tuyển chọn vào một trại thiếu nhi để phục vụ cho quân đội Đức. Khi quân đội Mỹ giải phóng trại tập trung, ông được hưởng qui chế tỵ nạn và được đưa sang Mỹ. Tại đây, ông được một gia đình người Mỹ nhận làm con nuôi. Vợ ông, bà Joan, cũng là người Do Thái đến từ Ái Nhĩ Lan. Họ đã gặp nhau và làm đám cưới tại Gia Nã Đại. Sau đó, bà theo ông về Mỹ. Năm 1998, bà bị ung thư. Biết bà không qua khỏi, hai vợ chồng mới bàn đến việc làm di chúc. Trong di chúc, hai ông bà đã cám ơn nước Mỹ vì đã cho họ cơ hội được sống một cuộc sống bình an và tự do. Đây là điều mà họ biết không thể có được nếu sống trong một quốc gia độc tài như Phát Xít hay Cộng Sản. Sau khi ông Peter qua đời, chính phủ đã cử đại diện đến văn phòng luật sư của hai ông bà để nhận tấm ngân phiếu và chuyển vào ngân khố quốc gia.
Câu chuyện trên đây quả thực đáng được mang ra nghiền ngẫm. Nó làm cho tôi nhớ lại bài diễn văn nhậm chức của cố Tổng thống John F. Kennedy dạo tháng Giêng năm 1961. Ông đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của nghĩa vụ công dân như sau: “Đừng hỏi đất nước của bạn có thể làm gì cho bạn, mà hãy tự hỏi bạn có thể làm gì cho đất nước của bạn”. Lời kêu gọi này không chỉ nhắm đến công dân Mỹ, mà còn có giá trị cho bất cứ công dân của một nước nào trên thế giới này. Với người tỵ nạn là người đã được một đất nước tự do mở rộng vòng tay để đón nhận và cho được hưởng tự do, lời kêu gọi này lại càng có giá trị hơn.
Tự do là món quà cao quý nhứt mà đất nước tự do đã dành cho người tỵ nạn. Nhưng nói đến tự do là nói đến trách nhiệm. Tri ân đất nước đã cưu mang mình là một trong những tâm tình phải đạo hơn cả. Và một trong những thể hiện của lòng biết ơn chính là sống như một người công dân có trách nhiệm. Trách nhiệm trong việc sử dụng lá phiếu của mình vài năm một lần đã đành. Nhưng quan trọng hơn cả chính là biết tôn trọng luật pháp và góp phần xây dựng công ích trong cuộc sống hàng ngày.
Sau hơn nửa đời người sống kiếp tỵ nạn, có một bài học “làm người” mà tôi cho là cần thiết hơn cả, đó là cố gắng vượt qua được não trạng xem mọi sự như “của chùa” hoặc “cha chung không ai khóc”. Trước một viện dưỡng lão ở Hornsby, Bắc Sydney, hầu như sáng Chúa nhựt nào tôi cũng thấy có một cụ bà âm thầm đi nhặt rác trên những lối đi xung quanh viện dưỡng lão. Lúc nào tôi cũng đến nhà thờ với hình ảnh ấy và tự nhủ: đây mới thực sự là “đi đạo”. Nghĩ đến lợi ích chung, âm thầm làm những việc không ai màng tới, cũng chẳng ai biết tới...không phải là thực thi trách nhiệm công dân và nhứt là “đi đạo” thì còn gì?


Thứ Năm, 1 tháng 10, 2015

Thiền bên tổ ong



Chu Thập
6.3.12


Bạn tôi có tài thuyết phục, nhứt là trong chuyện làm ăn lặt vặt. Không học về tiếp thị và cũng chẳng kinh doanh buôn bán, nhưng hễ bạn tôi mở miệng “thuyết giảng”,  thì lạ quá, cái gì tôi cũng tin. Bà Gillard nổi tiếng là dẻo mồm dẻo miệng và lúc nào cũng có thể uốn cong lưỡi để thương thuyết, thỏa hiệp và ngay cả nuốt lời, nhưng lại thất bại trong chuyện “bán” (sell) các chính sách của mình. Bạn tôi thì trái lại, nói ra nghe “ngọt như mật ong”, cho nên tôi dễ bị khuyến dụ. Chẳng hạn như mới đây, bạn tôi thao thao bất tuyệt về lợi nhuận kinh tế, hiệu năng chữa bệnh của mật ong và ngay cả nọc ong, nhứt là đối với bệnh phong thấp. Có triệu chứng phong thấp, lại nghe người ta đồn về “sữa ong chúa Kỳ Duyên”, cho nên tôi răm rắp tin lời của bạn tôi và đi rước về một tổ ong được nuôi trong một thùng gỗ hai tầng,  với các “cầu ong” được thiết kế theo đúng tiêu chuẩn. Người Úc mà. Đã không làm thì thôi, làm cái gì họ cũng làm có bài bản.
Sau khi đặt tổ ong vào một vị trí theo đúng sách vở chỉ dẫn, tôi mới tìm hiểu thêm về việc nuôi ong. Thì ra, nuôi ong mới xem ra dễ như trở bàn tay; chẳng cần phải chăm sóc mỗi ngày như các thứ gia cầm khác. Nhưng đi sâu vào thấy cũng nhiêu khê lắm. Bây giờ tôi mới biết rằng muốn nuôi ong, dù chỉ có đúng một tổ thôi, cũng phải làm đơn lên Phòng kỹ nghệ và đầu tư của Tiểu bang New South Wales...để xin giấy phép; mất 40 Úc kim ngay tức khắc. Đã hết đâu. Tôi còn phải gia nhập vào một Câu Lạc Bộ những người nuôi ong “tài tử” trong vùng tôi ở để học hỏi và nhứt là mua bảo hiểm “công cộng” (public liability insurance) . Phải mua bảo hiểm là để đề phòng chuyện ong của tôi có thể lang thang qua nhà hàng xóm kiếm ăn và nhằm ngày người ta có BBQ tiệc tùng mà đốt bậy đốt bạ thì tôi lãnh đủ.
Chuyện thâu lợi nhuận như bạn tôi “nổ” thì trước mắt tôi chưa thấy gì cả. Còn chọc cho ong chích để chữa bệnh phong thấp thì tôi chưa dám mạo hiểm lắm. Cách đây mấy hôm, đang làm cỏ xung quanh mấy bụi sả gần bên tổ ong, bị chích ngay ót một phát sưng vù lên, tôi không biết mình có đủ can đảm để cho ong làm thày thuốc chữa bệnh không, nhứt là những nơi cần được chăm sóc thẩm mỹ như mặt mũi môi miệng.
Thật ra, tôi không trông chờ ở lợi nhuận kinh tế của việc nuôi ong cho lắm. Dĩ nhiên, mỗi thứ một ít, từ mấy chị gà đẻ trứng, bầy vịt xiêm nuôi để lấy thịt, mấy con cá chẽm chữa cháy trong mùa đông khi đi câu vác cần về không, cho đến các thứ rau cỏ trong vườn...mùa nào thức ấy, tất cả đều góp phần làm nhẹ bớt cái gánh nặng kinh tế gia đình. Hơn nữa, tôi thích lúc nào trong nhà cũng có ít “quà” nhà quê để nếu bạn bè thành phố đến thăm, tôi có ngay để biếu. Nhưng với tôi, quan trọng hơn cả chính là cái niềm vui được “tự túc tự cường” mà gia cầm, vườn tược có thể mang lại. Ngoài ra, kiến tạo được một khung cảnh thiên nhiên vừa có sức sống, vừa đủ yên ắng và tĩnh lặng để “thiền niệm” mỗi ngày là điều tôi hằng mong ước. Bước vào cái tuổi đã nhận thức được “đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”, suốt ngày tôi chỉ còn biết lẩn quẩn trong vườn mà không bao giờ biết chán. Ngồi thiền thì tôi không làm được, vì chân cẳng đã quá cứng và nhức mỏi. Tôi chỉ còn biết “đi thiền” hay “đứng thiền”. Và cái tổ ong là nơi tôi thường dừng lại để “thiền” nhứt.
Sinh hoạt trong xã hội loài ong quả là một huyền nhiệm không lý giải được, mà chỉ để chiêm ngắm và ngây ngất mà thôi. Ý tưởng trước tiên thường đến với tôi mỗi khi đứng chiêm ngắm cái tổ ong là tinh thần lạc quan. Ong thợ làm việc suốt ngày. Không đi hút mật nhặt phấn thì cũng ở nhà dùng cánh quét dọn và làm máy điều hòa không khí để giữ cho nhiệt độ trong tổ luôn được điều hòa. Có tốp chỉ chuyên đứng canh gác trước cửa. Lạ nhứt vẫn là chuyện hút mật. Lúc nhỏ ở nhà quê, có những ngày đói lả, tôi cũng đã từng hút mật trong một số hoa như hoa nho rừng, hoa dủ dẻ...Nhưng ong mật thì dường như không trừ một loại hoa nào. Ở đâu có hoa là ở đó có ong mật. Trong hoa thì dĩ nhiên không chỉ có mật ngọt, mà còn có đủ mọi thành tố đắng cay, hôi thối và ngay cả độc hại khác. Vậy mà ong mật luôn biết chắt lọc để chỉ lấy mật mà thôi.
Ngẫm nghĩ chuyện này, tôi mới thấy đây là bí quyết thành công của xã hội loài ong. Từ mọi thứ vàng thau lẫn lộn trong cánh hoa, ong chỉ hút lấy mật ngọt. Loài người sở dĩ khốn khổ là bởi không biết chắt lọc cho mình điều tốt đẹp từ những đắng cay của cuộc đời mà thôi. Cuộc sống có đủ mọi mùi vị. Đón nhận cuộc sống ấy một cách bình thản và tìm cách “hút” được mật ngọt từ những cay đắng: đó là thông điệp mà loài ong mật luôn muốn nhắn gởi cho tôi.
Trong thánh lễ Mùa Chay, các linh mục có lẽ cũng nhắn nhủ các tín hữu điều đó khi dẫn giải về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Khổ đau là điều tất yếu trong cuộc sống. Chúa Giêsu không đến để cất lấy gánh nặng khổ đau khỏi cuộc sống. Nhưng khi đưa vai đón nhận khổ đau, Ngài đã biến nó thành khởi nguồn của sự sống, niềm vui và hạnh phúc. Khổ đau cũng là vấn đề cốt lõi trong giáo lý Phật Giáo. Đức Thích Ca không nói rõ nguồn gốc của khổ đau. Trái lại, Ngài chỉ ra con đường để khắc phục khổ đau hầu được giải thoát.  
Ngoài bài học lạc quan, yêu đời, ong còn dạy cho tôi biết sống trung thực. Mật ong có một mùi thơm đặc biệt. Người ta có thể ngửi mùi thơm của mật mà đoán được loại hoa mà ong hút mật. Nhà bạn tôi có trồng nhiều thanh long cho nên nghe nói mật ong của bạn tôi cũng có mùi thanh long. Nhưng dù xuất phát từ loại hoa nào đi nữa, mật ong lúc nào cũng thơm và mùi thơm tỏa trong không khí và lan đi khá xa. Đi dạo trong vườn, từ vài chục bước, tôi vẫn có thể ngửi được mùi thơm của mật ong. Tôi chưa từng nếm mật ong ở Việt nam dạo gần đây nhưng nghe kể lại là có mùi...đường tán! Không lẽ ong Việt Nam lấy mật từ bông mía? Chắc ai cũng biết câu trả lời.
Mùi thơm từ tổ ong lan tỏa ra trong vườn khiến tôi liên tưởng đến chuyện Đông Chu Liệt Quốc của Phùng Mộng Long. Chuyện kể rằng Việt vương Câu Tiễn đã nếm phải phân của Ngô Phù Sai. Khi trở lại ngôi vua, Câu Tiễn mắc chứng hôi miệng. Quân sư của ông là Phạm Lãi liền ra lệnh cho cả triều đình phải nhai một thứ lá cây hái trên núi gọi là “lá trấp”. Tưởng là để chữa hay phòng bệnh thối miệng. Té ra phát kiến của ông quân sư Phạm Lãi là bắt tất cả mọi cái mồm miệng trong triều đình đều phải thối như vua của mình: tất cả mọi người đều phải thở ra một cái mùi hôi thối giống như cái mùi phát ra từ miệng của đấng quân vương.
Trong bài tựa cho Đông Chu Liệt Quốc lần xuất bản năm 2009, bản dịch của Nguyễn Đỗ Mục được Cao Xuân Huy hiệu đính, nhà văn Phạm Lưu Vũ đã bình như sau: “Thật là một hình ảnh tượng trưng thiên tài. Cái chuyện cam tâm thở ra một thứ thối tha để cùng a dua với đấng chí tôn của mình như thế, thì chẳng riêng gì kẻ sĩ, quý tộc thượng đẳng cha mẹ dân thủa xưa, kể cả những đời sau này, đời nào mà chẳng có. Thậm chí cho đến tận bây giờ, “truyền thống” ấy hình như vẫn còn hiện hữu đâu đây...”
Đâu đây” mà vì ở trong nước nhà văn Phạm Lưu Vũ không dám nói rõ ra, ai cũng hiểu được là Việt nam cộng hòa xã hội chủ nghĩa ngày nay. Chuyện ông trời con Hồ chí Minh không những thối cả miệng, mà còn thối cả người vì bao nhiêu chuyện gian dâm, lừa đảo, trí trá...ai mà chẳng biết, lại được những người cộng sản Việt nam “a dua” hà hơi thở dốc ra đủ thứ mùi thối tha để che đậy. Lớp phấn sáp được tô đắp lên mặt mũi người ngợm thối tha của ông không thể nào có đủ sức khỏa lấp được bao nhiêu mùi hôi thối từ cuộc đời đày tội ác của ông.
Thời trung học, tôi thường được giáo sư Pháp văn giải thích rằng “ngay thẳng, thành thật” trong tiếng Việt có một từ tương đương trong tiếng Pháp là “sincère”. Mà từ “Sincère” lại được cấu thành bởi hai từ Latinh là “Sine” (không) và “Cera” (phấn sáp). Cho nên người “ngay thẳng thành thật” là người không tô sơn trét phấn lên mặt, lên người. Tổ ong thì có thừa phấn sáp, nhưng loài ong thì chẳng bao giờ lấy sáp mà trét lên người. Mùi thơm của mật thì tự nhiên mà tỏa lan ra bên ngoài. Người nuôi ong nào cũng biết rằng cả cái tổ ong chỉ có một mùi duy nhứt là mùi mật.
Xã hội loài người có khi cũng có mùi thơm, nhưng thường là thứ mùi thơm giả tạo để khỏa lấp bao nhiêu những thứ thối tha từ bên trong. Và dĩ nhiên, cuộc sống càng giả tạo thì càng khiến con người đánh mất chính mình và không còn tìm thấy đâu là ý nghĩa của cuộc sống.
Tổ ong có thể gợi lên bao điều để thiền niệm về cuộc sống. Về mặt tổ chức xã hội, tổ ong quả là một “mô phạm”. Nếu trên trần gian này có một thứ xã hội “xã hội chủ nghĩa” theo đúng nghĩa thì xã hội đó chỉ có thể là xã hội loài ong. Trong xã hội ấy, mỗi thành phần đều có vai trò của mình. Ong chúa có nhiệm vụ điều khiển đàn ong. Mỗi ngày ong chúa đẻ khoảng 800 cái trứng đã được thụ tinh vào các lỗ cầu ong. Những cái trứng này sẽ nở ra ong thợ. Ong chúa cũng đẻ ra những trứng không được giao phối và các trứng này lại nở ra những chú ong đực. Ong chúa thu hút ong thợ xung quanh mình, ngăn cản không cho ong thợ xây mũ chúa một cách tùy tiện, kích thích ong thợ xây tầng lỗ để có nơi đẻ trứng.
Riêng cái đám ong đực chỉ có một nhiệm vụ duy nhứt là giao phối với ong chúa. Trong đàn, ong đực chẳng làm gì cả. Đôi khi chúng bay đi chơi quanh tổ hoặc đuổi theo các ong chúa để giao phối. Rỗi việc như thế, nhưng không thể có tổ ong nếu không có ong đực.
Kỳ diệu nhứt hẳn phải là nhiệm vụ của ong thợ. Dù chỉ sống từ 30 đến 50 ngày, ong thợ dành toàn bộ cuộc đời ngắn ngủi này để làm việc cho sự tồn tại và phát triển của tổ ong. Hầu như mọi công việc trong tổ đều do ong thợ đảm nhiệm. Sau khi nở được 3 ngày là chúng bắt đầu làm việc cho đến khi tự đi tìm chỗ để chết ngoài tổ ong. Hàng ngày, ong thợ từ 3 đến 5 ngày tuổi phải lo cho ấu trùng lớn ăn; lớp ong thợ từ 6 đến 10 ngày tuổi thì lo cho ấu trùng nhỏ. Người ta tính: trong 6 ngày, ong thợ tới thăm và chăm nom ấu trùng đến 8000 lần. Từ 8 đến 16 ngày tuổi, chúng phải chuyên lo chế biến mật. Từ 12 đến 18 ngày, chúng phải lo tiết sáp xây tầng. Trên 18 ngày tuổi, ong thợ đi làm ngoài tổ và chăm lo công việc trong tổ bằng cách phân thành những nhóm như sau: nhóm đi lấy mật, nước đem về tổ; nhóm bảo vệ ở cửa tổ; nhóm làm vệ sinh trong tổ; nhóm đập cánh điều hòa nhiệt độ trong tổ; nhóm đi trinh sát tìm nguồn hoa...(x.Phan đắc Nghiệm, 100 câu giải đáp Nuôi ong lấy mật, nhà xuất bản khoa học tự nhiên và công nghệ, Hà nội, 2010).
Mỗi người một việc, mỗi người chỉ biết sống cho sự phát triển và tồn tại của xã hội: đó là lý tưởng mà xã hội loài ong gợi lên cho tôi. Trong các nước xã hội chủ nghĩa, lúc nào người ta cũng rêu rao khẩu hiệu: mình vì mọi người, mọi người vì mình. Ngày nay, nhìn vào cách sống của mấy ông đầy tớ nhân dân ở Việt nam, câu nói trên chỉ còn lại vế dưới (mọi người vì mình). Đúng là “Đồ Đểu”! Miệng ông thì ra rả cái lý tưởng cao đẹp ấy, nhưng tay chân của ông và bụng dạ ông thì chỉ biết thu tóm, vơ vét và hưởng thụ cho vinh thân phì gia.
Không ai có thể đứng quan sát hay thiền niệm bên một tổ ong mà không nhận ra rằng chỉ có sự hiến thân vô vị lợi mới cho con người tìm gặp lại bản thân và góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp. Tôi thích đứng “thiền” bên tổ ong là thế!