Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2015

Tôi mơ trúng số!


Chu Thập
4.9.15
Trong chuyến đi nghỉ vừa qua ở phía Bắc tiểu bang Queensland, tôi có một giấc mơ kỳ lạ. Không phải mơ trúng số mà là mơ về một nhân vật nổi tiếng đang sống mạnh khỏe, bỗng “chuyển sang từ trần”. Tôi kể lại giấc mơ và mọi người đều cho rằng có thể đây là một điểm báo tốt. Biết đâu thần tài chẳng muốn gõ cửa nhà mình. Anh em bèn họp lại và thảo luận một cách rất nghiêm chỉnh và cố giải mã cho bằng được giấc mơ. Cuối cùng mọi người đi đến quyết định: kết hợp mọi dữ kiện về nhân vật này để viết thành một hàng số và dựa vào đó để đánh “lô tô”. Tôi vốn không tin dị đoan. Nhưng nhìn vào những con số như một bệ phóng hay điểm tựa cho niềm hy vọng thì có mất mát gì đâu. Nghĩ vậy cho nên tôi rất hăng hái trong nhiệm vụ đi mua vé số. Vậy mà cuối cùng, nhân vật mà tôi mơ đã chết vẫn cứ sống nhăn răng và tấm vé số chúng tôi dựa vào cái chết của người này để “đánh số”...trật lất. Vui cả làng. Mọi người đều cười h hê vì một niềm hy vọng hão huyền. Riêng anh bạn tôi liên tưởng đến chuyện cầu nguyện của một nữ tu quen biết. Người nữ tu này được người nhà cho một ít tiền túi và dắt vào một Casino để thử thời vận. Rất nghiêm chỉnh và với tất cả thành tâm, trước khi “kéo máy”, bà lâm râm khấn nguyện: “Xin Chúa cho con “kéo trúng” để con lấy tiền gởi về giúp người nghèo ở Việt Nam”. Ý nguyện chân thành và chính đáng quá đi thôi. Vậy mà rốt cục, không biết Chúa có nghe lời cầu khấn của người nữ tu không, chút tiền túi của bà đều được cúng cho tỷ phú James Packer hết.
Tôi cũng đã có đôi lần cầu nguyện và mơ được giàu có để làm từ thiện như người nữ tu trên đây. Nhưng ngẫm nghĩ thấy không ổn chút nào. Tôi không tin rằng hễ bần cùng thì đương nhiên con người sinh ra đạo tặc. Tôi lại càng không nghĩ rằng  người giàu có dễ mở hầu bao hơn để trao tặng. Nghịch lý của cuộc đời mà tôi thường chứng kiến được là người nghèo có khi lại tỏ ra quảng đại hơn người giàu có. Và không cần phải triết lý vụn vặt cho mệt óc, kinh nghiệm sống thường cũng nói với tôi rằng người giàu không đương nhiên hạnh phúc hơn người nghèo.
Mới đây, đọc báo The Age, số ra ngày 31 tháng 8 vừa qua, tôi thấy một tỷ phú nọ than “cô đơn”. Tỷ phú này là ông Markus Persson, chỉ mới 36 tuổi, cha đẻ của trò chơi điện tử có tên là “Minecraft”. Mới đây ông đã bán công ty của ông cho Microsoft với giá 2.5 tỷ Mỹ kim. Vậy mà ông lại tuyên bố rằng chưa bao giờ ông cảm thấy cô đơn cho bằng lúc này. Tỷ phú người Thụy Đin này chia sẻ trên các trang mạng xã hội rằng chỉ gặp gỡ với một nhóm bạn, tiệc tùng với những người nổi tiếng, có thể làm bất cứ điều gì mình muốn...vậy mà chưa bao giờ ông cảm thấy l loi cho bằng lúc này.
Một ông tỷ phú trẻ khác là Dustin Moskovitz, đồng sáng lập viên của Facebook, dường như cũng có những cảm nghĩ tương tự. Nhà tỷ phú 31 tuổi, được tạp chí Forbes xếp vào hạng 59 trong danh sách những người giàu có nhứt Hoa Kỳ, đã cho đăng trên trang mạng “Medium.com” một bài “tự thú” trong đó anh lên án kỹ thuật ngày nay vì nó phá hủy đời sống của các chuyên viên khi bắt họ phải làm việc hơn 50 giờ mỗi tuần, khiến họ không còn sống cho mình nữa. Kèm với bài viết, Moskovitz cho đăng bức ảnh chụp chung với hai sáng lập viên khác của Facebook là Sean Parker và Mark Zuckerberg hồi năm 2006 với lời chú thích: “Đây là một năm vĩ đại đối với Facebook, nhưng lại là một trong những năm tồi tệ nhứt đối với con người tôi”. Nhà tỷ phú trẻ này thú nhận đã uống nước ngọt nhiều hơn nước lã và thường mất ngủ và “thiếu ăn”. Anh hối tiếc: “Giá như tôi có một cuộc sống khác...thì có lẽ tôi đã hạnh phúc hơn” (The Sydney Morning Herald 22/8/2015).
Những lời “tự thú” trên đây của những người giàu có là chuyện tôi nghe không biết bao nhiêu lần. Thông điệp họ muốn nhắn gởi thật rõ ràng: tiền của, các tiện nghi vật chất, cuộc sống xa hoa, danh vọng, địa vị...không đương nhiên mang lại hạnh phúc cho con người. Điều đó cũng có nghĩa là càng sống giản dị con người càng dễ hài lòng với cuộc sống và hạnh phúc hơn.
Trong các bản thẩm định về những nơi đáng sống nhứt trên thế giới này, tôi thấy Thủ đô Cophenhagen của Đan Mạch thường đứng đầu danh sách. Năm nay, Ký giả Robert Kiener của tạp chí Reader’s Digest đã đến tận nơi để tìm hiểu sự thật. Trong bài phóng sự với tựa đề “Happiness is...Copenhagen!” (Hạnh phúc là...Copenhagen), ông đã thực sự cảm nhn được điều đó. Minh họa cho bài viết là hình của ông Frank Jensen, thị trưởng thành phố Copenhagen, đang đứng bên chiếc xe đạp. Ông thị trưởng 56 tuổi này giải thích: “Hơn một nửa cư dân của Copenhagen đi xe đạp đến sở làm hay trường học mỗi ngày. Đi xe đạp lành mạnh hơn, “xanh hơn” (ít ô nhiễm hơn) và r tiền hơn đi xe hơi. Chúng tôi có nhiều xe đạp hơn cư dân và số xe đạp nhiều hơn xe hơi gp 5 lần”. Cũng theo lời ông thị trưởng, ngay cả các chính trị gia, dĩ nhiên trong đó có ông, cũng dùng xe đạp để đi làm; 63 phần trăm các dân biểu của Đan Mạch đều dùng xe đạp để đi đến Quốc Hội. Tôi không ngạc nhiên tại sao thành phố gắn liền với những chuyện thần tiên của nhà văn Hans Christians Andersens (1805-1875) thường được mệnh danh là “Đô thị đáng sống nhứt thế giới”, “Đô thị hạnh phúc nhứt thế giới”, “Đô thị “xanh” nhứt Âu Châu” v.v (Reader’s Digest số 9/2015).
Úc Đại Lợi, đặc biệt là thành phố Melbourne, cũng thường lọt vào danh sách những “nơi đáng sống nhứt trên thế giới”. Điều kiện sống, giá sinh hoạt, khí hậu...có thể là những yếu tố giúp mang lại danh dự này cho thành phố Melbourne. Nhưng tôi không nghĩ rằng ở thành phố này, người ta có đời sống giản dị như ở Copenhagen. Không giản dị là bởi cuộc sống của người dân Úc nói chung vẫn còn xa xỉ, rườm rà, thừa mứa. Theo thống kê, mỗi năm người dân miệt dưới này chi 10 tỷ Úc kim cho những thứ họ không bao giờ dùng đến. Cứ thử nhìn vào tủ quần áo, các vật dụng trong nhà bếp hay ngay cả trong phòng tắm để thấy có biết bao nhiêu thứ được mua sắm nhưng chẳng bao giờ được đụng đến. Khi các vật dụng chiếm quá nhiều không gian trong nhà thì dĩ nhiên chúng cũng khiến cho cuộc sống con người trở thành “khó thở” cả về phương diện vật chất lẫn tinh thần. Theo một cuộc nghiên cứu mới đây, đồ đạc quá tải trong nhà cũng ảnh hưởng đến hạnh phúc của con người. Kết quả của một cuộc nghiên cứu được thực hiện mới đây tại Anh Quốc cho thấy các cặp vợ chồng cãi vã nhau 32 lần mỗi năm chỉ vì đồ đạc cồng kềnh trong nhà. Tình trạng này dĩ nhiên có thể dẫn đến căng thẳng, trầm cảm và ngay cả đổ vỡ
James Wallman, tác giả của cuốn sách có nhan đề “Living More with Less” (Cuộc sống càng đơn giản càng phong phú), viết rằng “có quá nhiều, lại làm ít và sống một cuộc sống quá chú trọng đến việc thu tích của cải vật chất làm cho con người lo lắng”. Theo tác giả, thay vì cảm thấy được vật chất làm cho phong phú, con người lại bị chúng bóp ngạt.
Joshua Fields Millburn và Ryan Nicodemus là hai người Mỹ đã được một số người biết đến vì chủ trương đơn giản hóa tối đa của họ. Cách đây 5 năm, họ làm việc mỗi tuần 70 tiếng đồng hồ với sổ lương hằng năm không dưới một trăm ngàn Mỹ kim. Nhưng cuộc chạy đua thu tích của cải và tiện nghi vật chất đã khiến họ bị căng thẳng: xe hơi và các thứ xa xí phẩm  khác không làm cho cuộc sống của họ được phong phú. Do đó, họ quyết định đóng thùng tất cả đồ đạc trong nhà lại và chỉ mở ra những gì họ thực sự cần đến và khi nào họ cần đến mà thôi. Ngày đầu tiên, họ mở thùng lấy ra các vật dụng vệ sinh, một bộ đồ vest, hai chiếc quần lót, một đôi giày, một đôi vớ, một chiếc cà vạt và một giây nịt. Ngày thứ hai, họ mở thùng lấy ra một số vật dụng cần thiết khác như đĩa ăn và dao. Năm ngày sau, họ không còn phải mở bất cứ thùng đồ nào nữa. Hầu như tất cả những gì họ đã mua sắm đều còn nằm trong thùng. Họ khám phá được rằng những gì làm cho họ hạnh phúc không phải là của cải vật chất mà chính là thời giờ họ dành cho bạn bè và gia đình.
Không chỉ các vật dụng thừa thãi khiến cho cuộc sống cồng kềnh, mà một không gian quá lớn cũng làm cho cuộc sống trở thành trống rỗng. Tại Úc Đại Lợi, cách đây 30 năm, một ngôi nhà trung bình chỉ chiếm khoảng 150 thước vuông. Ngày nay, mặc dù số người trong nhà không còn nhiều như trước kia, diện tích trung bình của một ngôi nhà lại lên đến 243 thước vuông. Người Úc được xếp vào hạng có nhà lớn nhứt thế giới. Theo một số chuyên gia tâm lý và xã hội, nhà càng nhỏ, trong nhà càng ít đồ đạc thì ít tốn năng lượng và dĩ nhiên cũng ít tốn tiền hơn. Càng ít tốn kém thì đương nhiên cũng đỡ nhức đầu hơn và ít phải cãi vã vì  tốn kém. Ngoài ra, nhà nhỏ cũng giúp cho mối quan hệ trong gia đình dễ được đầm ấm hơn.  Lợi ích xã hội của những ngôi nhà nhỏ cũng đáng kể. Nhà nhỏ giúp cho các khu ngoại ô gia tăng và như vậy đẩy mạnh đời sống cộng đồng (theo  Sunday Style, News.com.au 5/7/2015).
Với tôi, cuộc sống giản dị không chỉ ít tốn kém và như vậy ít căng thẳng hơn, mà còn phải giúp tôi biết ra khỏi bản thân để sống vị tha và quảng đại hơn. Càng ít vướng bận tôi cảm thấy dễ đến với người khác hơn. Từ nhiều năm qua, một “trùm sò” như tôi, ngoài thuốc thang, chẳng còn thấy mình thiếu bất cứ điều gì trong xã hội văn minh và giàu có này: quần áo mặc cho đến chết cũng còn, giày vía mỗi tuần chỉ mang một lần cho nên lúc nào cũng trông như mới, bộ đồ lớn thì năm khi mười họa mới diện vào một lần khi có cưới hỏi. Ngay cả mái tóc, cần làm đẹp, tôi chỉ cần nhờ nhà tôi lướt qua một đường kéo là xong. Mỗi năm cũng tiết kiệm cho ngân quỹ gia đình chút đỉnh. Nói gì đến những khoản khác như thuốc lá và bia rượu. Làm thử bài tính, tôi thấy cuộc sống giản dị tối đa này cũng làm cho tôi giàu có thêm. Bởi lẽ tôi sống theo nguyên tắc của cậu con trai trong nhà: nếu không làm ra tiền thì đừng tiêu xài: đó cũng là một cách “làm giàu”. Nhưng dĩ nhiên “giàu” hơn cả chính là dùng số tiền không xài phí ấy để góp vào công cuộc từ thiện. Tôi thấy chẳng cần phải trúng số hay có tiền rừng bạc bể mới có thể làm từ thiện. Tôi cũng chẳng buộc Chúa phải làm “phép lạ” để tôi có tiền giúp người nghèo. Phép lạ tỏ tường nhứt mà tôi có thể cảm nhận được chính là số tiền nhỏ mà tôi dành dụm được từ cuộc sống giản dị để san sẻ cho những người đang túng thiếu. Một món quà được lượng giá không bằng giá trị vật chất mà chính là tấm lòng được gói ghém trong đó. Cố tài tử điện ảnh Leonard Nimoy, người đã thủ vai “Mr. Spock” trong loạt phim “Star Trek” đã nói: “Phép lạ là thế này: chúng ta càng cho đi thì chúng ta càng có nhiều hơn” (Quotable Quotes, Reader’s Digest 9/2015). Nghĩ như thế cho nên cứ mỗi lần chia sớt, dù chẳng bao nhiêu, tôi vẫn cảm thấy hạnh phúc vì cảm thấy được giàu có hơn.








Thứ Tư, 9 tháng 9, 2015

Trao tặng là chìa khóa của thành công




Chu Thập
15.11.11

Tuần qua, tôi đọc được hai lá thư gây nhiều cảm xúc.
Trước hết là lá thư gởi cho em bé thứ 7 tỷ vừa mới chào đời hôm thứ Hai 31 tháng 10 vừa qua. Tác giả của lá thư là linh mục Federico Lombardi, phát ngôn viên của Tòa thánh La mã. Đây quả là một lá thư gây nhiều ngạc nhiên lý thú. Thông thường phát ngôn viên của một chính phủ chỉ đưa ra tuyên ngôn về những chuyện đại sự. Không ngờ, linh mục Lombardi lại chú ý đến con người nhỏ bé và vô danh nhứt hành tinh này.
Lá thư mở đầu như sau: “Bé thương, ta không biết bé là trai hay gái, là người Ấn độ hay Trung quốc, sinh trong một thành phố lớn hay một làng quê hẻo lánh hoặc chào đời trong một cánh đồng hoang hay trong một căn nhà bằng tuyết, trên một hoang đảo hay trong một túp lều nơi trại tỵ nạn.”
Tác giả viết tiếp: “Ta không biết con có khỏe mạnh, đau yếu hoặc khuyết tật không. Ta không biết cha mẹ con có mặt ở đó để ôm con vào lòng không hay chỉ có mỗi một mình mẹ con. Ta không biết người ta có nói rằng con và những người cùng tuổi với con là thừa thãi hay chưa đủ không. Nhưng ta không quan tâm đến điều đó.”
Người ngỏ lời với em bé thứ 7 tỷ này nói rằng mình chỉ quan tâm cho cuộc sống của em trong thế giới ngày nay: một thế giới “hơi phức tạp và ít niềm nở đối với một số người”.
Theo linh mục Lombardi, thế giới này đã không được chuẩn bị một cách đúng đắn và người ta đang tự hỏi trong tương lai thế giới này sẽ như thế nào.
Ám chỉ đến những chuyện “đại sự” như hội nghị Thượng đỉnh vừa qua của khối G20, tức 20 quốc gia có kỹ nghệ tiến bộ nhứt thế giới, tác giả viết: “Các vị nguyên thủ của những nước giàu mạnh nhứt ngồi vào bàn hội nghị; họ vò đầu bứt tóc để tìm ra phương thế tiến bộ mà không tạo ra những tai họa khác.
Chúng tôi cầu mong rằng khi con mỉm cười thì sẽ có người cười lại với con và khi con khóc sẽ có người vỗ về con. Cầu mong cho con được cắp sách đến trường và không phải đói khát. Cầu mong cho có người biết khôn ngoan trả lời những câu hỏi của con và nâng đỡ con trong những sáng kiến của con cũng như giúp con nhận lấy trách nhiệm của mình.
Chúng tôi cũng cầu mong cho con biết yêu thương tha nhân, trưởng thành, làm việc và sống với gia đình con, cùng với bao bạn hữu, trong một dân tộc và một thế giới tự do và hòa bình. Chúng tôi cầu mong cho con có thể hiểu được rằng cuộc sống của con vẫn có ý nghĩa bên kia cái chết”.
Nhưng kết thúc lá thư, linh mục Lombardi nhắn nhủ với đứa bé thứ 7 tỷ này rằng tương lai cũng tùy thuộc vào nó, nó cũng phải phấn đấu, lao nhọc và đến lượt nó cũng hãy niềm nở đón tiếp đứa bé thứ 8 tỷ sẽ có mặt trên trái đất này. (x. Zenit 10/11/11)
Đọc lá thư trên, tôi không thể không nghĩ đến thiên tài Steve Jobs, đồng sáng lập viên, chủ tịch và giám đốc điều hành của công ty Apple, vừa qua đời hôm 5 tháng 10. Tôi nghĩ đến thiên tài này là bởi vì ông là người đã tự mình vượt qua được một tuổi thơ bất hạnh, những khó khăn chồng chất trong cuộc sống để không ngừng vươn lên, thành thân và thành nhân. Ông đã nhận lấy trách nhiệm của mình và làm chủ được định mệnh của mình.
Tôi chỉ tiếc có mỗi một điều là: trong tiểu sử của Steve Jobs, có thể vì ông là một con người quá kín đáo chăng, nên không nghe ai nhắc đến những họat động từ thiện của ông. Di sản của ông là vô số những phát minh mới trong kỹ thuật truyền thông cũng như tinh thần phấn đấu và lạc quan yêu đời. Nhưng giá như có một Sáng hội từ thiện nào đó mang tên ông như trường hợp của ông bà Bill và Melinda Gates, người đã hiến tặng đến hơn ba phần tư tài sản của mình cho các họat động từ thiện, thì chắc chắn tên tuổi của ông sẽ sáng ngời hơn.
Vượt qua được một tuổi thơ bất hạnh, nhận lãnh trách nhiệm về cuộc sống của mình, trở thành một con người hữu dụng cho xã hội: không phải đứa bé nào cũng có đủ điều kiện và nghị lực để vượt khó như Steve Jobs.Tôi nghĩ đến hàng triệu triệu trẻ em mỗi buổi tối phải đi ngủ với cái bụng trống.Tôi nghĩ đến vô số trẻ em phải lê lết hằng bao nhiêu cây số để đến một trại tỵ nạn, để sống cả tuổi thơ trong đó và để không nhìn thấy một tương lai nào bên kia hàng rào kẽm gai. Tôi nghĩ đến bao nhiêu trẻ em ở các nước nghèo không được cắp sách đến trường và bị buộc phải lao động với đôi tay còn quá bé nhỏ yếu đuối...Và dĩ nhiên, tôi cũng nghĩ đến vô số những trẻ em trên thế giới này, dẫu được sinh ra trên nhung lụa, nhưng lại chứng kiến một gia đình đổ vỡ, phải mang nhiều chấn thương đến độ khó trưởng thành một cách bình thường và thành công trong cuộc sống. Một Steve Jobs hay một Philip Roesler, đứa trẻ mồ côi Việt nam hiện là phó thủ tướng Đức, nếu có thành công, đỗ đạt và có một địa vị cao trong xã hội, không chỉ nhờ sức phấn đấu riêng của mình, mà còn nhờ sự bảo bọc của những cha mẹ nuôi tốt.
Cần có những bàn tay nhân ái để vá lại những mãnh đời vỡ vụn. Cần có những tấm lòng quảng đại để cưu mang, vỗ về và đỡ nâng những tâm hồn thơ dại. Đó là nội dung chính của lá thư từ Hội Từ Thiện “Salvation Army” (Đạo binh Cứu độ). Hằng năm, Hội Từ Thiện của Giáo hội Tin lành này vẫn gởi đến cho tôi một lá thư kêu gọi sự quảng đại đóng góp để giúp đỡ những người túng thiếu cơ cực, đói ăn và cần được giúp đỡ trên khắp thế giới.
Năm nay, lá thư kể lại câu chuyện đáng thương của Sophie. Và đây là một câu chuyện có thật. Khi Sophie vừa được vài tháng tuổi thì mẹ em qua đời. Một thời gian sau, cha em tái hôn. Chuyện mẹ ghẻ con chồng là chuyện xưa như trái đất. Sophie không có thể làm bất cứ điều gì để làm hài lòng người mẹ kế. Ồn ào cũng bị mắng. Yên lặng cũng bị hạch xách. Đi học về trễ cũng bị la rầy, mà về nhà sớm quá cũng chẳng được tha. Thêm vào đó, cha em ngày càng tỏ ra vũ phu.
Mỗi năm đến mùa Giáng sinh, mỗi khi có bạn bè hay người thân đến thăm, người mẹ ghẻ đóng kịch bằng những cử chỉ thân thiện và săn sóc đối với Sophie. Nhưng khi ai về nhà nấy, thì bức tranh của một gia đình đầm ấm cũng tan biến.
Sophie nói rằng dưới cùng một mái nhà, nhưng có đến hai gia đình: họ, tức ba em, mẹ kế và các em cùng cha khác mẹ là một gia đình; còn em là một gia đình khác. Em nói rằng em chỉ cần được “thích” thôi, chứ đừng nói đến được yêu thương.
Cuộc sống càng lúc càng nặng nề đến độ khi vừa được 15 tuổi, em quyết định bỏ nhà ra đi. Trong cuộc sống lang thang trên hè phố, Sophie tình cờ gặp một nhân viên của Hội Salvation Army. Người này có một cô con gái cùng tuổi với Sophie tên là Liz. Ngày nọ Liz hỏi Sophie: Ngày lễ Giáng Sinh tới, bạn sẽ đi đâu? Sophie buồn bã trả lời: “Chẳng đi nơi nào cả. Tôi biết đi đâu bây giờ.”
Liz liền mời Sophie về nhà mình trong Ngày Giáng Sinh. Đây là một ngày của gia đình không có bạo động, không có gấu ó, mà chỉ có tiếng cười, tình thương và niềm vui.
Liz chỉ làm một cử chỉ nhỏ, nhưng đã thực sự có sức thay đổi cuộc đời của Sophie, Hội Salvation Army cho biết: sau 18 năm chờ đợi, cuối cùng Sophie đã cảm nghiệm được sự chia sẻ niềm vui trong ngày Giáng Sinh với một gia đình thực sự yêu thương và quan tâm đến em. Người đại diện của Hội Salvation Army tại Úc đại lợi viết: “món quà lớn nhứt là món quà không thể gói hay mua được.”
Kể từ đó, Sophie đã cương quyết tìm kiếm một tương lai tốt đẹp chứ không tự giam hãm trong quá khứ. Với sự giúp đỡ của Hội Salvation Army, em đã quyết định đi học lại và hướng đến các hoạt động phục vụ giới trẻ.
Chỉ cần có một bàn tay chia sẻ, một tấm lòng quảng đại và cảm thông, thì ở đâu đó sẽ có một cuộc đời đang bị nhận chìm trong tăm tối và thất vọng được vực dậy. Thế giới không bao giờ thiếu thốn của cải. Thiếu chăng là thiếu tình thương và sự chia sẻ.
Các vị nguyên thủ quốc gia và những cái “đầu lớn” của thế giới không ngừng gặp nhau để tìm kiếm những giải pháp cho những vấn đề lớn của nhân loại trong đó nổi cộm nhứt vẫn là nghèo đói và những hậu quả của nghèo đói. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu lại khiến cho các nhã lãnh đạo thế giới gia tăng các cuộc “hội họp”. Hết hội nghị thượng đỉnh này đến hội nghị thượng đỉnh khác. Nhưng đâu lại vào đó. Dường như những “chữ bự” vẫn cứ là những “chữ chết” trong các văn kiện được ký kết. Tháng 9 năm 2000, tại “Hội nghị Thuợng đỉnh Thiên kiên kỷ”, 193 quốc gia thành viên của Liên hiệp quốc và ít nhứt 23 tổ chức quốc tế đã đặt bút ký tên vào một tuyên ngôn thường được gọi là “Các Mục tiêu của Thiên niên kỷ”. Một trong 8 mục tiêu đó là vào năm 2015, tình trạng nghèo đói cùng cực trên thế giới phải được xóa bỏ. Năm vừa qua, một Hội nghị Thượng đỉnh lại được tổ chức để nhìn lại những bước tiến trong việc thực thi các mục tiêu này và các nguyên thủ quốc gia chỉ biết nhìn nhau để thở dài và thú nhận rằng “còn lâu” mục tiêu đầu tiên trong 8 mục tiêu đó, tức xóa đói giảm nghèo, mới có thể đạt đựơc vào năm 2015: khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia ngày càng rộng mà giữa giàu nghèo trong cùng một quốc gia lại ngày càng có kích thước của vực thẳm.
Thì ra, giải pháp cho vấn đề không chỉ là chính trị, kinh tế và tài chính, mà thiết yếu là liên đới, tình thương và sự chia sẻ. Có thể, các vị nguyên thủ quốc gia, các nhà kinh tế, các chính trị gia, các nhà thảo kế hoạch...không đến nỗi “ngu” hay “đui” để không nhận ra vấn đề đâu. Nhưng nói đến tình liên đới và tình thương là đụng đến “hầu bao” của mình. Khi tỷ phú Warren Buffet, nhà tài phiệt địa ốc đã hứa trao tặng hầu hết tài sản của mình cho các công cuộc từ thiện, kêu gọi những người giàu có tại Hoa kỳ đóng thuế nhiều hơn để giúp cho người nghèo, ai cũng “giẫy nẩy” lên.
Hãy thử tưởng tượng: nếu trên thế giới này, nhứt là tại các nước nghèo như Việt nam, tất cả những người giàu có chỉ cần bỏ ra mười phần trăm tài sản của mình để giúp đỡ người nghèo, thì chắc chắn bộ mặt của thế giới sẽ thay đổi tức khắc chứ không cần phải đưa ra bất cứ “mục tiêu thiên niên kỷ” nào cả.
Tôi tin rằng tương lai của thế giới thuộc về Tình Thương, mà cụ thể là chia sẻ và trao tặng, chứ không thuộc về tiến bộ kỹ thuật hay kinh tế và tài chính, mà nhứt là lại càng không nằm trong tay của các chính trị gia.
Trong tập sách mỏng có tựa đề “Succes is in Giving” mà tôi tạm dịch là “chìa khóa của thành công nằm trong sự trao tặng”, ông Wesley Harris, một cựu Ủy viên của Hội Salvation Army, Úc đại lợi, đã khẳng định rằng “tinh thần trao tặng là chìa khóa của thành công”. Tiền bạc dĩ nhiên là thứ thiết thực nhứt để trao tặng. Nhưng trong tập sách, ông Harris cũng nói đến vô số những món quà được trao tặng mà không tốn một đồng xu như phục vụ, tôn trọng, lắng nghe, thời gian, sự quan tâm, nâng đỡ, cảm thông và nhứt là sự tha thứ...Ai cũng biết rằng chẳng có ai nghèo đến độ không có gì để trao tặng.
Phần tôi, tôi chỉ muốn gởi cho “em bé bảy tỷ”vài dòng:
“Bé yêu dấu, xin lỗi bé vì tôi lại phải dùng một con số để gọi bé. Bé sinh ra cách tôi hơn nửa thế kỷ. Tôi tin tưởng bé sẽ có một tương lai tốt đẹp hơn tôi. Bởi vì chắc chắn những gì cần thiết để sống hôm nay khác xa ngày xưa rất nhiều. Nhiều khi tôi tự hỏi làm sao những người thuộc thế hệ chúng tôi lại có thể khôn lớn thành người trong hoàn cảnh nghèo đói quê mùa lạc hậu như lúc đó. Nhưng bây giờ, tôi hiểu ra, tôi đã có đủ nghị lực để đương đầu với nghịch cảnh, với đau khổ và nhứt là với cô đơn nhờ ở những điều rất nhỏ: từ miếng bánh bẻ đôi của thằng bạn chăn trâu đến cái áo “bính” của ông anh kề, từ một người bạn chịu khó ngồi nghe tôi ca cẩm đến chai nước mắm ông bạn già khệ nệ đem cho...
Cho nên, bé ơi, đừng lo, ngày nào còn có người nghĩ đến bé thì ngày đó vẫn là ngày đẹp trời. Mà tôi chắc chắn sẽ là một trong những người đó.”





Thứ Hai, 7 tháng 9, 2015

Lào quốc: xứ sở của Cánh đồng chum và bãi mìn


 4.9.15
Để tìm một hình ảnh có thể được xem như là biểu trưng cho Lào Quốc, một trong những đất nước bị bom đạn cày xéo nhiều nhất trong lịch sử nhưng vẫn lạc quan hướng nhìn về tương lai, phóng viên T.D Allman của tạp chí “The National Geographic” dừng lại trên một con đường sầm uất tại Phonsavan, thủ phủ của tỉnh Xiangkhoang, miền trung Lào. Hai hình ảnh tương phản đập ngay vào mắt người phóng viên này là: một núi vỏ bom và một máy ATM.
Trong thời chiến tranh, trẻ con lớn lên tại tỉnh Xiangkhoang ít khi thấy được mặt trời, vì phải ẩn núp trong các hầm trú và địa đạo. Ngày nay, thành phố Phonsavan nhộn nhịp đến nỗi đèn giao thông không những được gắn khắp nơi mà còn cho biết  khách bộ hành phải đứng đợi bao lâu. Ở đâu du khách cũng có thể tìm được một ngân hàng, một tiệm ăn, một ngôi chợ bán trái cây và rau xanh, một gian hàng bán giày thể thao. Dọc theo Cánh Đồng Chum, mà cho tới nay các nhà khảo cổ vẫn chưa hiểu được nguồn gốc và ý nghĩa, du khách có thể nhìn thấy cả khối vỏ bom mà không lực Hoa Kỳ đã ném xuống trong khoảng thời gian từ năm 1964 đến năm 1973. Vỏ bom cũng được trưng bày trước văn phòng du lịch của thành phố. Tại một vài nơi, nhìn từ xa, những ngọn đồi cỏ xanh trong cánh đồng chum trông chẳng khác nào một sân Golf. Nhưng ẩn hiện trong cánh đồng là hàng triệu quả bom, một số đã phát nổ, một số vẫn còn nguyên vẹn. Đây quả là một mối đe dọa triền miên cho người dân Lào, cách riêng cho những người kiếm sống bằng cách khai thác các vỏ bom. Vỏ bom được người dân Lào tận dụng tối đa. Từ những chiếc nhẫn đeo tay cho đến chén bát, muỗng nĩa, đũa...tất cả đều được chế biến từ vỏ bom. Làng Ban Naphia ở ngoại ô thành phố Phonsavan nổi tiếng với xảo thuật chế biến này. Nhiều nhà đã có điện và rất nhiều người đã có điện thoại cầm tay.
Với dân số trên dưới 7 triệu người, mà một phần ba dưới 15 tuổi, Lào hiện có khoảng 5 triệu chiếc điện thoại di động. Tại Ban Pak-Ou, một ngôi làng ở phía Bắc nằm bên bờ sông Cửu Long, các ngư dân vẫn còn sử dụng các phương tiện đánh cá rất thô sơ. Nhưng mọi người ai cũng có một chiếc điện thoại cầm tay để vừa giăng lưới vừa trò chuyện.
Trong thời chiến tranh, để chận đường tiến quân của quân Cộng sản Bắc Việt dọc theo điều thường được gọi là Đường mòn Hồ Chí Minh,  Hoa Kỳ đã dội xuống Lào hơn 270 triệu trái bom chùm hay còn gọi là “bom bi” và 4 triệu trái bom tấn. Trọng lượng của số bom thả xuống Lào nặng gấp mấy lần trọng lượng của khoảng 2 triệu dân Lào vào thời đó. Nghĩa là tính trung bình, mỗi người dân lãnh một tấn bom. Theo ước tính, có khoảng 80 triệu trái bom bi chưa nổ và khoảng 10 phần trăm bom tấn cũng chưa nổ. Và tính trung bình, mỗi ngày Hoa Kỳ chi ra 13.3 triệu Mỹ kim cho việc ném bom xuống Lào.
Cánh đồng chum là một thắng cảnh đẹp đáng được chiêm ngắm. Một số nhà khảo cổ cho rằng cách đây 2000 năm, những cái chum khổng lồ ấy được sử dụng để giữ tro cốt của người quá cố. Nhưng Cánh đồng chum không chỉ là một thắng cảnh mà còn là nơi mà những trái bom nổ chậm có thể phát nổ bất cứ lúc nào. Nạn nhân của những vụ tháo gỡ bom hoặc vô tình dẫm lên nếu không chết thì cũng bị tàn phế.
Tổ chức có tên là “Mines Advisory Group” (Cố vấn về việc đề phòng mìn bẫy) có trụ sở tại Anh Quốc, đã có lần tổ chức những khóa học về những nguy hiểm của mìn bẫy cho người Lào. Nhiều trẻ em tham dự các khóa học đã cho xem các vết thương của các em và nói lên những thương tích về thể lý cũng như tâm lý của các em. Sau đó các em được hỏi ý kiến: các em sẽ làm gì nếu gặp lại những người đã từng ném bom xuống xứ sở của các em. Một em đã giơ tay nói: “Tôi muốn nói với họ là họ phải trả tiền cho chúng tôi”.
Năm 2014 vừa qua, Quốc Hội Hoa Kỳ đã thông qua dự án chi 12 triệu Mỹ kim để giúp tháo gỡ mìn tại Lào, trong khi đó việc xây dựng tòa đại sứ mới của Hoa Kỳ tại Lào tốn đến 145 triệu Mỹ kim. Theo phóng viên Allman, sự khác biệt về phí tổn giữa việc tháo gỡ mìn và xây dựng tòa đại sứ mới này cho thấy mối ưu tiên hiện nay của Hoa Kỳ: họ quan tâm đến an ninh của các nhà ngoại giao của mình hơn là trách nhiệm của mình trong thời chiến tranh đối với Lào, là nơi mà gần như mỗi trái bom chưa nổ đều được chế tạo tại Hoa Kỳ và do chính Hoa Kỳ ném xuống.
Người Lào nổi tiếng là một dân tộc hiếu hòa, dễ thương và cũng dễ tha thứ. Nhưng bao lâu đất nước này còn đầy dẫy bom đạn, thì không ai có thể quên được những hố bom lộ thiên ấy, bởi vì quên là chết.  Cánh đồng Chum vẫn mãi mãi hiện diện để nhắc nhở người dân Lào về mối nguy hiểm triền miên ấy. Người Lào cũng luôn tự nhắc nhở họ về mối nguy hiểm ấy bằng cách tiếp tục biến những vỏ bom cũng như bất cứ tàn tích nào của chiến tranh thành những vật kỷ niệm và ngay cả trang thiết bị hay đồ gia dụng. Trong thời chiến tranh, nhiều người đã sử dụng vỏ của những chiếc oanh tạc cơ khổng lồ B-52 để làm những chiếc ca nô. Một trong những chiếc ca nô ấy đẹp và ý nghĩa đến độ đã được Bảo tàng viện chiến tranh hoàng gia ở London mua về trưng bày.
Nhưng người dân Lào không chịu dừng lại ở quá khứ. Những vật dụng được chế biến từ các phế liệu chiến tranh cho thấy họ cũng muốn nhìn về phía trước với tinh thần lạc quan.
Vạn Tượng, thủ đô Lào Quốc, đã từng là một thành phố bẩn thỉu. Nhưng hiện nay ở đây, người ta đã có thể nhìn thấy những cao ốc 12 tầng. Trước đây, Vạn Tượng yên ắng đến độ người ta chỉ nghe tiếng mưa rơi, tiếng trẻ con khóc hay tiếng cười của người lớn. Nay, mọi thứ đều diễn ra trong tiếng ồn của những chiếc máy điều hòa không khí, tiếng máy phát điện và tiếng còi inh ỏi của đủ mọi loại xe gắn máy.
Kinh tế Lào Quốc gia tăng khoảng 8 phần trăm mỗi năm. Lá cờ của Đảng Nhân Dân Cách Mạng Lào, trên đó người ta vẫn còn thấy hình búa liềm của thời Liên Xô, bay phất phới bên cạnh cờ quốc gia. Nhưng các nhà lãnh đạo Cộng sản Lào  mà vai trò trước đây là làm tiền đồn để cho Miền Bắc Cộng Sản Việt Nam thanh toán Miền Nam Việt Nam, đang tìm kiếm một chỗ đứng mới trong Khối Đông Nam Á. Mục tiêu mà nước này đang nhắm tới là cố gắng thoát khỏi danh sách những nước nghèo nhất thế giới vào năm 2020.
Một trong những biểu tượng lớn của Lào Quốc dĩ nhiên vẫn là sông Cửu Long. Hiện nay hai bên bờ sông đã có lối đi bằng xi măng dành cho người đi bộ, có bãi đậu xe, có nhiều công viên để chiều chiều người dân đến đó hóng gió, nghe nhạc, hẹn hò hoặc theo những lớp ca vũ. Hàn Quốc là quốc gia đã tài trợ cho công trình làm đẹp bờ sông này.
Trong suốt thời kỳ Pháp đô hộ và kế đó với sự hiện diện của Hoa Kỳ, không có bất cứ nước nào đã giúp bắc một chiếc cầu nào qua sông Cửu Long. Ngày nay có đến 6 chiếc cầu lớn được bắc qua dòng sông này. Một trong những chiếc cầu này nằm ở thị trấn Thakhek, là nơi chỉ cách Thái Lan và Việt Nam khoảng 150 cây số. Từ Thakhek, du khách có thể nhìn thấy Thái Lan và xem chương trình truyền hình được phát đi từ Việt Nam. Lào đã trở thành một thứ ngã tư quốc tế đối với nhiều nước Á Châu. Hàng hóa tràn ngập thị trường Lào hiện nay là các sản phẩm từ các nước tư bản, chứ không phải là những chiếc xe tăng thời Cộng Sản Liên Xô nữa.  Một kỷ nguyên hòa bình và nối kết đã mở ra cho Lào. Bay từ Savannakhet dọc theo sông Cửu Long, du khách có thể nhìn thấy những chiếc cầu bắc qua dòng sông này. Trên đó người dân di chuyển hàng hóa ra cũng như vô Lào. Ở đầu nguồn dòng sông, người ta cũng có thể thấy nhà máy thủy điện vĩ đại sản xuất dư điện để Lào có thể xuất cảng sang các nước dọc theo bờ sông. Trước đây, nhìn xuống Louangprabang, người ta chỉ thấy những hố bom. Nay thế cho những lỗ bom đó là những bãi cát dành cho những sân Golf do Nam Hàn xây dựng.
Lào quốc hay còn có tên chính thức là Cộng hòa Dân chủ Lào là một quốc gia nằm giữa khối Đông Nam Á, giáp giới với Miến Điện và Trung Quốc về phía Tây Bắc, với Việt Nam về hướng Đông, với Cao Miên về hướng Nam và với Thái Lan về hướng Tây. Kể từ năm 1975, quốc gia này bị Đảng Cộng Sản Lào cai trị.
Lịch sử của Lào quốc có thể bắt nguồn từ thời Vương quốc Lan Xang, xuất hiện từ thế kỷ thứ 14 đến thế kỷ 18 và sau đó bị chia thành ba vương quốc nhỏ là Luang Prabang, Vạn Tượng và Champak. Năm 1893, ba vương quốc này được thống nhất và đặt dưới sự bảo hộ của Pháp Quốc. Năm 1945, sau khi Nhật Bản đầu hàng và Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc, cũng như Việt Nam, Lào giành được độc lập. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, Pháp trở lại và mãi cho đến năm 1949 mới được tự trị. Năm 1953, Lào được độc lập và trở thành một vương quốc dưới quyền cai trị của Quốc vương Sisavang Vong. Nhưng không bao lâu sau đó, nội chiến bùng nổ, chế độ quân chủ cáo chung. Cũng như số phận của Miền Nam Việt Nam, chế độ dân chủ non nớt của Lào không thể tồn tại trước sự quậy phá của Đảng Cộng Sản thường được gọi là Pathet Lào. Năm 1975, cùng với Việt Nam, Lào rơi vào tay Cộng Sản. Cũng như Việt Nam, Lào Cộng cũng tự xưng là “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa”. Và dĩ nhiên,  “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”  vẫn tiếp tục có ảnh hưởng lớn đối với Lào.
Kinh tế  của Lào hiện nay tập trung vào việc xuất cảng điện  năng được sản xuất từ những nhà máy thủy điện đặt ở các dòng sông của mình, cách riêng sông Cửu Long. Ngoài ra, kinh tế nước này cũng gia tăng nhanh nhờ xuất cảng kim loại.
Thuộc khối Liên hiệp Đông Nam Á (ASEAN), Lào cũng là thành viên của Hiệp ước Mậu dịch Á Châu Thái Bình Dương (APTA). Lào đã làm đơn gia nhập Tổ chức Mậu dịch Thế giới từ năm 1997 và năm 2013, đã chính thức trở thành hội viên của tổ chức.
Theo Tổ chức “Minh Bạch Thế Giới” (Transparency International), Lào vẫn còn là một trong những nước tham nhũng nhất thế giới. Chính vì vậy mà đầu tư ngoại quốc bị cản trở và việc áp dụng pháp quyền gặp nhiều khó khăn. Hiện một phần ba dân số “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Lào” vẫn còn sống dưới mức nghèo khó theo tiêu chuẩn quốc tế, nghĩa là mỗi ngày chỉ sống với không quá 1.25 Mỹ kim. Lào vẫn còn bị xem là một trong những quốc gia có thu nhập hàng năm thấp nhất thế giới. Tính cho đến năm 2013, theo chỉ số phát triển (Human Development Index), Lào bị xếp vào hạng 138. Còn theo chỉ số đói nghèo (Global Hunger Index), Lào đứng thứ 25 trong danh sách của 56 nước lâm vào tình trạng đói nghèo nhất thế giới và dĩ nhiên cho tới nay, Lào vẫn bị xem là một trong những quốc gia có thành tích vi phạm nhân quyền tồi tệ nhất thế giới. Đó là hệ quả của chủ nghĩa cộng sản mà Lào đã đi theo từ năm 1975 đến nay.
(Theo Wikipedia và  tạp chí The National Geographic 8/2015)





Thứ Tư, 2 tháng 9, 2015

Tự do: phần thưởng của trao tặng



Chu Thập
27.11.11

Mấy hôm nay, cư dân mạng xôn xao về một câu chuyện xảy ra tại Trung quốc. Bạn tôi xác định câu chuyện đã xảy ra hồi năm 2008 và đã được hai đài truyền hình nổi tiếng là BBC của Anh quốc và CNN của Hoa kỳ nhắc đến:
Có một chuyến xe buýt chở đầy hành khách đang chạy trên một đường đồi. Giữa đường, ba tên du đãng có võ trang dở trò đồi bại với người tài xế vốn là một cô gái xinh đẹp. Cô gái đã kêu cứu, nhưng tất cả hành khách trên xe chỉ đáp lại bằng sự thinh lặng. Chỉ có một người đàn ông trung niên trông yếu ớt đã lên tiếng yêu cầu ba tên du đãng dừng tay. Và dĩ nhiên, người đàn ông đã bị chúng hành hung. Ông kêu gọi mọi hành khách có mặt trên xe tiếp tay để ngăn chận hành động man rợ của ba tên du đãng, nhưng chẳng có ai hưởng ứng, cho nên đến một khúc đường vắng, cô gái đã bị ba tên côn đồ lôi vào một bụi rậm để thỏa mãn thú tính. Một giờ sau, ba tên bất lương cùng với người nữ tài xế trở lại chiếc xe buýt.
Lạ lùng quá, vừa bước lên xe, cô gái đã thét vào mặt người đàn ông đã tìm cách cứu mình: “Này ông kia, ông xuống khỏi xe tức khắc”.
Sững sờ trước thái độ bất thường của cô gái, người đàn ông thắc mắc: “Cô làm sao thế? Tôi đã tìm cách cứu cô mà...”
Trong nước mắt, cô gái vặn lại: “Cứu tôi ư?  Ông đã làm gì để gọi là cứu tôi chứ?”
Trước phản ứng của cô gái, mọi hành khách trên xe thản nhiên cười. Người đàn ông trả lời một cách cương quyết: “Tôi đã mua vé, tôi có quyền ở lại trên xe”. Cô gái lại dọa: “Nếu ông không xuống, xe sẽ không chạy”.
Điều bất ngờ là mọi hành khách, vốn thinh lặng trước hành động đồi bại của ba tên du đãng, nay lại nhao nhao đòi người đàn ông phải xuống khỏi xe. Một số người còn dùng đến võ lực. Ba tên du đãng cười đắc thắng...Người đàn ông đành xuống xe và chiếc xe từ từ lăn bánh.
Ngày hôm sau, báo chí Trung Quốc đưa tin: một tai nạn bi thảm xảy ra tại một vùng có tên là “Phục Hồ Sơn”: một chiếc xe buýt cỡ trung đã rơi xuống vực; người tài xế và tất cả 13 hành khách đều thiệt mạng.
Không ai biết chuyện gì đã xảy ra, ngoại trừ người đàn ông đã tìm cách cứu cô gái và đã được cô mời xuống khỏi xe trước khi chiếc xe chuẩn bị lên đèo.
Tôi không rõ câu chuyện có thực không. Nhưng trong một đất nước mà sự “vô cảm” đã hầu như trở thành luật sống, thì chuyện xảy ra trên chuyến xe buýt trên đây xem ra chẳng gây ngạc nhiên bằng câu chuyện của bé gái tên là Duyệt Duyệt được truyền đi trên mọi phương tiện truyền thông trên thế giới hồi tháng trước: 18 người khách bộ hành đã có thể nhắm mắt làm ngơ trước cảnh em bé này bị xe tung nằm dở sống dở chết bên lề đường!
Ngoài thái độ vô cảm của con người trong xã hội cộng sản như Trung Quốc hay Việt nam, câu chuyện trên chuyến xe buýt trên đây còn gợi lên trong tôi một câu hỏi: liệu con người có bị “trừng phạt” vì thái độ “vô cảm” của mình không?  Rõ ràng là người đàn ông tìm cách cứu cô gái đã được đền ơn và ba tên du đãng gian ác cũng như những người hành khách vô cảm đã bị trừng phạt! Câu chuyện quả có hậu: Những kẻ gian ác phải đền tội! Đó là đòi hỏi thông thường của công lý.
Lúc nhỏ, dù tôi có lêu lổng đến đâu, cha mẹ tôi cũng nhét được vào đầu óc tôi bài học về “quả báo nhãn tiền”. Những người ăn ở gian ác, bất lương luôn bị trừng phạt. Nếu chính họ không bị trừng phạt thì con cái cháu chắt họ cũng bị quả báo. Lúc nhỏ tôi thường nhìn những người bị tai nạn giao thông, chết bất đắc kỳ tử và nhứt là bị “sét đánh” như những kẻ gian ác. Con “nhà đạo” chúng tôi lại còn bị đe dọa: “ăn ở thất đức thế nào cũng chết tươi ăn năn tội chẳng kịp” và như vậy chỉ có thể “sa hỏa ngục” mà thôi! Trong ánh mắt tôi, không biết bao nhiêu người gian ác đã phải “chết dữ” và “sa hỏa ngục”.
Tuy nhiên, thêm một chút tuổi đời, biết quan sát và suy nghĩ, tôi nhận thấy cái lưới trời, tuy có lồng lộng đó, những đôi khi cũng để tuột mất những con cá thật lớn. Thời nào cũng có những “tên gian ác” vẫn sống phây phây, con cháu lại còn được “chúc phúc”. Dĩ nhiên, lịch sử gần đây cho thấy hầu hết những nhà độc tài tham lam và gian ác đều bị “quả báo nhãn tiền”. Không bị treo cổ xử bắn, không ở tù mục xương thì cũng phải đi lưu đày. Không tán gia bại sản thì gia đình con cái cũng phải bị liên lụy. Nhưng dường như cái định luật  “quả báo nhãn tiền” ấy vẫn có luật trừ, mà trừ hơi nhiều nữa. Cứ nhìn vào các chế độ độc tài cộng sản ở Trung Quốc, Cuba, Bắc Hàn hay Việt nam cũng đủ thấy cái “lỗ hổng” trong định luật ấy. Những kẻ  “cướp” từ chính quyền cho đến tiền bạc của cải , những người cố tình tạo ra cái xã hội “vô cảm” vẫn cứ phây phây ngồi trên quyền lực và đống của cải bất công họ thu tóm được. Con cái họ vẫn được gởi đi học ở các nước tư bản và tiếp tục củng cố gia sản họ để lại. Không thiếu những kẻ gian ác vẫn cứ “trường thọ” và an nhàn. Tôi cứ thắc mắc: “Trời cao có con mắt” không mà lại để xảy ra cái cảnh tréo cẳng ngỗng ấy: kẻ gian ác thì vẫn sung túc giàu sang và hưởng mọi thứ lợi lộc trên trần gian này, còn người lương thiện thì không ngóc đầu dậy nổi. Cứ nhìn vào xã hội Việt nam để thấy rõ điều đó: người lương thiện không thể có đất sống trong một xã hội mà ý niệm “lương thiện” hầu như cũng đã biến mất khỏi ý thức của nhiều người.
Thực ra, trong một xã hội “vô cảm”, sống lương thiện đã là điều khó, mà có ý thức về lương thiện xem ra cũng không phải là điều dễ đối với nhiều người.
Trong bài viết có tựa đề “chân dung một cô gái Việt nam”, tác giả  Tâm Thanh  kể lại trên báo điện tử Đàn Chim Việt một câu chuyện thật cảm động. Một thiếu nữ gốc Việt nam tên là Diễm được cảnh sát Na Uy mời làm thông dịch cho một cô gái Việt nam bị tạm giữ vì nhập cư bất hợp pháp. Tất cả mọi câu hỏi của viên cảnh sát đều được cô gái chính hiệu “Hà lam linh” trả lời bằng một chữ “không” dứt khoát: không cha, không mẹ, không giấy tờ, không sổ thông hành, không thẻ căn cước, kể cả “không biết” bằng cách nào mà mình đã lọt vào Na uy cũng như “không nhớ” mình đã rời Việt nam lúc nào và đã đi qua những thành phố nào trước khi đến Na uy. Với cô gái, cái gì cũng “không nhớ, không biết”. Ngay cả tác giả của bào thai cô đang mang trong người, cô cũng nói là “không biết” luôn.
Số phận của cô gái cầm chắc trong tay là sẽ bị trục xuất về Việt nam.
Tác giả của bài báo ghi lại cảm xúc của người thiếu nữ thông dịch viên như sau: “Diễm cảm thấy xót xa trong lòng. Cảm giác gờm nhớm từ bốn tháng nay biến thành một cảm giác ân hận. Diễm nghĩ đến thân phận chính mình-sở dĩ mình sống nhởn nhơ được, buổi sáng đứng bán nhà thuốc tây, buổi chiều đi nhảy Aerobic, lâu lâu đi thông dịch lấy ngoại tài mua son phấn không cần ăn cắp...là vì cha mẹ mình đã chọn được con đường đúng ý nguyện: tới một nơi có thể lương thiện mà sống được. Không, không phải cha mẹ chọn. Đó là Trời ban. Ba chục năm nay, bây giờ “Kho Trời” đã khóa. Nếu cha mẹ nàng chậm chân, không chừng giờ này Diễm cũng là một người mở miệng bằng câu “không biết” và không từ làm bất cứ việc gì để sinh tồn.
Lợi dụng lúc cô cảnh sát nói chuyện với bà gác tù, Diễm phá chút qui củ thông dịch, đưa tay bắt bàn tay mềm và ấm của Vân, chúc may mắn và an ủi vài câu. Vân tỏ ra cảm động. Cuối cùng, nghĩ tới mai mốt Vân lên máy bay về Việt nam, Diễm ái ngại hỏi:
“Liệu người lương thiện có sống được ở Việt nam không?”
Cô gái hỏi lại:“Nương thiện nà cái gì?” (Đàn Chim Việt.info, 24/11/11)
“Lương thiện là cái gì?” trong một chế độ mà mọi quyền cơ bản đều bị chà đạp, nhiều người đã mất hết mọi sự, ngay cả một chút lương thiện cũng không còn. Với họ, nguyên tắc đạo lý nền tảng “ở hiền gặp lành” mà người xưa truyền lại cũng chẳng còn có giá trị. Trong một xã hội vô cảm, càng ở hiền, tức càng cố gắng sống lương thiện, thì lại càng bị thua thiệt và mất mát. Đó là kinh nghiệm đau xót nhứt mà có lẽ nhiều người Việt nam ngày nay đang nếm trải. Có lẽ vì ở hiền mà chẳng gặp lành cho nên nhiều người cũng đành sống theo phương châm của một triết gia hiện sinh nào đó: “Trong một thế giới gian lận, ai không gian lận là đồ chó má.” Dại gì phải làm người lương thiện để chỉ chuốc lấy nghèo khổ và ngay cả tù đày.
Vậy thì sống lương thiện để được gì?
Tôi nhớ lại câu chuyện đã nghe từ thuở nhỏ: “Trong một chuyến vi hành, một ông vua nọ cho đặt một tảng đá lớn giữa đường và nấp vào một bụi cây bên đường để xem ai sẽ chuyển tảng đá đi hầu giúp cho sự đi lại của người khác không bị cản trở. Suốt cả buổi sáng, rất nhiều người qua lại trên con đường, nhưng tất cả đều tìm cách né tránh tảng đá để tiếp tục cuộc hành trình riêng của mình. Chẳng có ai nghĩ đến chuyện đẩy tảng đá sang bên lề để người đi sau không gặp chướng ngại.
Mãi đến trưa mới có một người dừng lại. Đó là một người nông dân đang vác trên vai một gánh nặng. Trông thấy tảng đá cản đường, ông lẳng lặng đặt gánh xuống và ra sức đẩy tảng đá sang một bên. Và người nông dân hết sức ngạc nhiên khi nhìn thấy bên dưới tảng đá có một cái túi. Mở túi ra, ông thấy cái túi đựng toàn những đồng tiền vàng và một mảnh giấy trên đó có giòng chữ: “Túi tiền vàng này là phần thưởng dành cho những ai dẹp được tảng đá này, vì đó là người nghĩ đến lợi ích chung.” (Francis Xavier, the World’s Best Inspiring Stories, Jaico Publishing house 2009)
Bài học đơn giản nhứt thường được thày cô của tôi rút ra là: bất cứ nghĩa cử nào cũng đều được một phần thưởng và dĩ nhiên, ai cũng được khuyến khích để làm nghĩa cử hầu được thưởng, “không được đời này thì cũng đời sau”. Tựu trung, những bài học rút ra từ câu chuyện đã không giúp tôi thoát khỏi cái ý niệm thông thường về sự công bằng được cô động trong nguyên tắc: “Tôi cho bạn là để bạn cho lại”. Người Việt nam diễn tả lẽ công bằng ấy bằng câu: “Có qua có lại mới toại lòng nhau”. Ở một mức độ nào đó, khi nguyên tắc này được triệt để áp dụng, thì nhân loại cũng đã được xem là tiến bộ lắm rồi. Trong nhiều trường hợp, quan hệ giữa các quốc gia cũng như giữa người với người có khi vẫn chưa thỏa mãn được đòi hỏi “có qua có lại” ấy. Xem mọi phục vụ như điều đương nhiên mà người khác phải làm cho mình hoặc chẳng bao giờ thấy được mình mang ơn người khác không phải là một thái độ hiếm có.Trong cuộc sống, không những chúng ta gặp nhiều kẻ vô ơn, ăn cháo đá bát hoặc có khi phải rơi vào một xã hội trong đó hai tiếng “cám ơn” đã trở thành một thứ “tử ngữ” mà lắm khi còn phải ngậm đắng nuối cay vì cái cảnh “làm ơn mà bị báo oán”. Việt nam mình đã chẳng nói một cách mỉa mai: “Cứu nhân nhân oán, cứu vật vật ơn” sao!
Nhân ngày Lễ Tạ Ơn của người Mỹ dạo cuối tháng 11 vừa qua, tôi đã làm một cuộc “xét mình” và nhận thấy mình đã “vô ơn” với rất nhiều người. Nghĩ như thế cho nên tôi cũng chẳng thấy mình có quyền trách móc ai về sự bội bạc của họ. Với tôi, “tình đời đen bạc” thường là một thách đố cho sự trưởng thành nhân cách. Tôi chỉ thực sự thấy mình là “người” hơn khi làm điều thiện, khi trao tặng “mà không để cho tay trái biết việc tay phải làm”. Tôi chỉ thực sự thấy mình lớn thêm trong nhân cách khi làm việc thiện một cách vô vị lợi, nghĩa là không “nhắm” đến mục đích lợi lộc cho đời này hay đời sau, cũng không vì sợ một sự “trừng phạt” nào ngoài tòa án của lương tâm và không chờ đợi một phần thưởng nào khác là thấy mình được tự do hơn: tự do khỏi tiền bạc, quyền lực và mọi thứ bã danh vọng hão huyền trong cuộc đời này.
“Thi ân bất cầu báo” có lẽ là một thách đố mới cho tôi để tôi luôn thức tỉnh hầu tránh xa nạn dịch “vô cảm”.















Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2015

Những viên đá quý



Chu Thập
22.8.15

Tiền Úc xuống giá thê thảm, cho nên  giấc mơ được làm một chuyến du lịch ở những nơi mình chỉ biết tên trên bản đồ như Phi Châu, Châu Mỹ La Tinh...ngày càng trở thành chuyện viễn vông đối với tôi. Chính vì vậy mà năm nay, tôi quyết định làm một chuyến du lịch “bụi” trong nước. Úc Đại Lợi mênh mông. Có bỏ hết những năm tháng cuối đời để làm một vòng cũng không xong. Tôi đành khoanh vùng nhỏ lại để có thể nhìn ngắm và thưởng thức những gì trước đây mình chỉ nghe người khác kể lại. Đó là lý do tại sao tôi đã chọn một số thành phố của phía Bắc của tiểu bang Queensland.
Từ Sydney chúng tôi lấy xe lửa lên Brisbane để từ đó thuê xe trực chỉ hướng Bắc. Cùng đi “bụi” với chúng tôi lần này là một cặp vợ chồng Việt Nam rất “sính” chuyện sưu tầm đá quý. Chính vì vậy mà một trong những địa điểm chúng tôi nhắm đến là thành phố Emerald, thủ phủ của Trung nguyên Queensland. Hai bên đoạn đường dài từ Brisbane dẫn đến thành phố này toàn là những những cánh đồng nắng cháy khô cằn, báo hiệu những kho tàng quý giá nằm trong lòng đất mà có lẽ chỉ có những người ham làm giàu một cách nhanh chóng hoặc những người sành điệu mới hăm hở tìm đến. Sau bốn giờ lái xe từ thành phố biển Rockhampton, chúng tôi đến Emerald và từ đây, Paul, một người Úc địa phương, bạn của gia đình vợ chồng người bạn của chúng tôi đã tình nguyện làm hướng dẫn viên để đưa chúng tôi đi thăm Hội Chợ Đá Quý, một số địa danh đã từng có những hầm mỏ khai thác đá quý và nhứt là Bảo Tàng Viện tại thành phố Rubyvale. Chúng tôi được đưa vào lòng đất sâu đến vài chục thước để hiểu được đá quý đã được hình thành như thế nào và cách đây 200 năm, người ta đã khai thác đá quý như thế nào.
Đây quả là một khám phá lý thú đối với tôi. Úc Đại Lợi là một mảnh đất phì nhiêu. Phì nhiêu không những cho nông nghiệp, mà còn trù phú đến độ chỉ cần “đào lên bán mà ăn”.  Sắt, đồng, chì, kẽm, than đá, bauxit, khí đốt, dầu hỏa, uranium và các thứ đá quý như vàng, kim cương, các thứ Opal (mà tiếng Việt ngày nay gọi là “đá mắt mèo”)...thứ gì cũng có trong lòng đất Úc và có nhiều nữa. Đi đâu cũng thấy những chuyến xe lửa chất đầy quặng mỏ để chở đến các nhà máy thanh luyện hoặc đến các hải cảng. Đi đâu cũng thấy những cột khói cao từ các nhà máy chạy bằng than đá.
Tôi cảm thấy sung sướng và hãnh diện về đất nước mình đã chọn làm quê hương thứ hai. Nhưng niềm vui của vợ chồng người bạn “sính” đá quý thì thú thật tôi chưa có được. Họ ngây ngất trước đủ loại đá quý được trưng bày trong các gian hàng của Ngày Hội Chợ và các cửa tiệm mỹ phẩm. Riêng người chồng còn thử thời vận bằng cách mua một bao cát đá vụn với hy vọng về nhà đãi được một viên đá quý.
Hai ngày “thăm thú” tại vùng mỏ đá quý nổi tiếng tại miền Trung nguyên Queensland không những đã mang lại cho tôi một số kiến thức sơ đẳng về kỹ nghệ đá quý của Úc Đại Lợi mà còn giúp tôi thấm thía những cơ cực, nguy hiểm mà người ta đã đánh đổi để có thể mang lên mặt đất những viên đá quý. Có lẽ vì suốt đời chưa một lần đeo trên người bất cứ một thứ đá hay kim loại quý hiếm nào, ngoại trừ chiếc nhẫn cưới rẻ tiền, tôi thấy mình không được “bình thường” cho lắm bởi vì vẫn tỏ ra dửng dưng trước sức hấp dẫn của các loại đá quý.
Nếu có một thứ đá quý mà tôi thực sự trân quý thì đó là tấm lòng quảng đại và tử tế của những người mà tôi đã gặp gỡ trong chuyến đi. Trước hết phải nói đến Paul, người đã bỏ ra suốt một ngày để đưa chúng tôi đi thăm vùng Emerald. Người đàn ông trung niên này hiện đang làm chủ một nông trại rộng 2000 mẫu tây chuyên trồng lúa mì và canh tác theo lối hữu cơ, nghĩa là không sử dụng bất cứ loai phân hóa học hoặc thuốc trừ sâu nào. Chính vì vậy mà trước cửa nông trại, anh cho đề tấm bảng ghi hàng chữ “L’Organic”. Ngoài việc tự tay canh tác nông trại, mỗi năm Paul còn đi Việt Nam, đặc biệt là Ban Mê Thuột để cùng với người con gái của vợ chồng người bạn của tôi, thực hiện một dự án giúp cải tạo đất, bởi vì theo lời anh, lâu nay người Việt Nam đã hủy hoại môi trường do việc lạm dụng các loại phân hóa học và thuốc trừ sâu. Nhìn cung cách nhã nhặn, từ tốn, nhiệt thành, quảng đại của Paul, tôi nghĩ đến một nhà  “trí thức đội lớp nông dân” mà sự tôn trọng và yêu thương đối với môi trường sống cũng được trải dài đến người khác qua tấm lòng tử tế, vị tha.
Paul cũng làm cho tôi nhớ lại một “viên đá quý” khác mà chúng tôi đã có được ngay từ ngay đầu tiên của chuyến đi “bụi”. “Bụi” mà tôi hiểu ở đây là từ bỏ nếp sống tiện nghi có sẵn để đón nhận những điều kiện sống đơn giản, có khi thiếu thốn, bất tiện và theo chủ trương “tay làm hàm nhai”, một cách cụ thể tự câu cá lấy mà ăn, bởi vì đây là sở trường của tôi. Do đó, trong ngày đầu tiên, trước khi đến thành phố Gympie, cách Brisbane về hướng Tây Bắc khoảng 200 cây số, chúng tôi dừng lại bên một dòng sông để thả câu. Tôi tin chắc đây là một nơi câu cá lý tưởng, bởi vì cách chỗ chúng tôi đang cấm cần không xa, có một “ngư dân” đang quăng chài. Sau hơn một tiếng đồng hồ miệt mài làm việc, chúng tôi mất không biết bao nhiêu chì và lưỡi câu mà chẳng bắt được con cá nào. Chiều mùa đông cũng xuống sớm. Thôi đành ăn mì gói vậy. Tôi nghĩ bụng như thế. Nhưng vừa lúc chúng tôi thu dọn cần câu để ra xe, người ngư dân quăng chào tiến đến chào hỏi và mời tôi đến xem chiến lợi phẩm của anh: ba con cá chai và một con cá cam (trevally) không dưới một ký!  Tôi trầm trồ và hỏi bí quyết. Anh cho biết mình đang sống bên cạnh bờ sông và cá con anh quăng chài bắt được là để làm mồi câu cá lớn. Nghĩ đến buổi tối sẽ phải ăn mì gói cầm hơi, tôi ngỏ ý với nhà tôi nên thử tài ngoại giao đến gạ gẫm người ngư dân để xem anh có chịu bán bớt cho mình một ít cá không. Không ngờ nhà tôi đã chinh phục được người ngư dân quăng chài: không những anh biếu không hai con cá chai mà còn vào nhà lấy từ trong tủ lạnh ra hai con cua lớn đã được luộc chín và đông lạnh. Nhưng lòng quảng đại của người ngư dân không dừng lại ở đó. Thấy chúng tôi có bốn người, sợ hai con cá chai và hai con cua không đủ cho bữa ăn tối, anh lại biếu thêm một con cá chai lớn nữa. Chưa bao giờ chúng tôi có được một bữa ăn tối với đồ biển thịnh soạn như thế. Và dĩ nhiên, trong suốt những ngày rong chơi còn lại, không có ngày nào chúng tôi không nhắc đến tấm lòng tử tế và quảng đại của một người mà chúng tôi chỉ thoáng quen bên một bờ sông.
Hình ảnh của Paul và người ngư dân bên dòng sông ở Gympie đã in đậm trong ký ức của tôi. Con sông uốn khúc, đồng ruộng mênh mông...tôi tin rằng cuộc sống thôn dã đã ảnh hưởng đến tâm tánh của con người: bầu không khí tĩnh mịch không những mang lại an bình mà còn thúc đẩy con người sống quảng đại, tử tế với người đồng loại hơn.
Không biết suy nghĩ của tôi có đúng không, nhưng tôi nhận thấy những đứa trẻ lớn lên ở đồng quê dường như cũng cư xử lương thiện và tử tế hơn với người khác. Đó là trường hợp của cậu bé khoảng 10 tuổi mà chúng tôi đã có dịp tiếp xúc tại một vùng quê gần bãi biển Airlie Beach, cách thành phố Prosepine không xa.
Lâu nay tôi cứ tưởng tại miền Bắc Queensland, trái cây nhiệt đới được bày bán khắp nơi. Nhưng vào các siêu thị, tìm được trái cây nhiệt đới đã khó, giá cả lại còn đắt hơn ở Sydney. Tìm cho được một tiệm tạp hóa có bán đủ hàng hóa và nhứt là trái cây nhiệt đới là chuyện trần ai. Đem theo một ít bò khô, chúng tôi cứ tưởng đến miền Bắc Queensland sẽ tha hồ được ăn gỏi đu đủ. Ai dè đi suốt mấy ngày, chẳng thấy bóng dáng cây đu đủ ở đâu cả. Chính vì vậy mà khi đi ngang qua một ngôi vườn gần bãi biển Airlie Beach, chúng tôi mừng hết lớn khi nhìn thấy một cây đu đủ. Chúng tôi lại dở cái trò “ngoại giao” cũ. Nhưng ghé vào ngôi vườn có cây đu đủ, chúng tôi chẳng thấy bóng dáng người lớn nào cả mà chỉ có một cậu bé và đứa em gái nhỏ đang đạp xe đạp trên con đường đất phía trước nhà. Sau vài câu chào hỏi và gợi ý của chúng tôi, không ngờ cậu bé đã sốt sắng vào vườn hái cho chúng tôi hai trái đu đủ xanh và cho biết đây là vườn của bà nội cậu. Cậu còn tỏ ra rất tự tin để cho biết sẽ “nói lại” với bà nội và thế nào bà cũng hài lòng vì trao tặng “món quà” này.
Lại thêm một “viên đá quý” nữa tỏa sáng lên trong bữa gỏi khô bò của chúng tôi ngay buổi chiều hôm đó. Câu chuyện của chúng tôi trong suốt bữa ăn hôm đó dĩ nhiên xoay quanh tấm lòng tử tế của cậu bé ấy. Và cho tới nay, khi tôi ngồi ghi lại những dòng này, hình ảnh của cậu bé ấy lại hiện ra để nhắc nhở tôi rằng, cho dầu thế giới này vẫn còn đầy dẫy những kẻ bất lương, những người gian ác, tàn bạo...nhưng tấm lòng tử tế vẫn còn hiện hữu. Hình ảnh của cậu bé cũng cho tôi thấy được ý nghĩa đích thực của lòng quảng đại.
Tôi tin rằng cũng giống như sự vận động cơ thể, cách ăn uống lành mạnh và “gen” di truyền tốt, lòng quảng đại giúp cho con người sống khỏe và gia tăng tuổi thọ. Đây là kết quả của một cuộc nghiên cứu do trường đại học Michigan, Hoa Kỳ thực hiện hồi năm 2003. Cuộc nghiên cứu đã cho thấy lòng quảng đại gia tăng sức khỏe thể lý và tinh thần cũng như kéo dài tuổi thọ của con người. Lý do thật đơn giản: lòng quảng đại hạ giảm sự căng thẳng, củng cố hệ thống miễn nhiễm và giúp mang lại ý nghĩa và mục đích cho cuộc sống.
Các chuyên gia tâm lý cũng cho tôi biết rằng lòng quảng đại cũng giúp cho con người biết ra khỏi bản thân, biết “quên mình” để  thoát ra khỏi xiềng xích của những tình cảm tiêu cực như cay đắng, muộn phiền và nhứt là hận thù.
Các chuyên gia tâm lý còn bảo rằng lòng quảng đại mang lại sự tự tin cho con người. Khi chúng ta biết sống quảng đại, nghĩa là biết quan tâm và sống cho người khác, chúng ta cũng sẽ tỏ ra nhạy cảm hơn đối với bản thân và nhận ra giá trị của mình (PsychologyToday online, Generosity-What’s in it for you 24/11/2010).
Đi một ngày đàng học một sàng khôn. Chuyến đi nào cũng giúp tôi nghỉ ngơi, thư giãn. Chuyến đi nào cũng để lại trong ký ức tôi những kỷ niệm đẹp. Về phong cảnh đã đành, nhưng về tình người nhiều hơn. Nếu có những bài học quý giá hay những viên đá quý cần được cất giữ thì tôi nghĩ đó là tấm lòng quảng đại và tử tế của những người mà tôi đã gặp gỡ trong chuyến đi. Chuyến đi nào cũng làm cho tôi được giàu có hơn. Giàu có không phải vì bỏ tiền ra mua được những viên đá quý mà nhiều người đã bỏ ra bao nhiêu mồ hôi nước mắt để tìm kiếm, chắt lọc, mài dũa mới có được. Tôi cảm thấy giàu có hơn vì tấm lòng quảng đại và tử tế của những người tôi gặp gỡ trong chuyến đi đã thúc đẩy tôi cũng phải cố gắng sống quảng đại và tử tế hơn với người khác. Tôi cảm thấy giàu có hơn vì đã được mở mắt để thấy được đâu là những viên đá quý thực sự trong cuộc sống.




Thứ Hai, 24 tháng 8, 2015

Bắc Hàn nhìn từ vệ tinh


22.8.15

Dù chúng ta đang đứng ở đâu, trên trái đất này không có bất cứ đất nước nào cách xa chúng ta cho bằng Bắc Hàn. Những hình ảnh chụp được từ vệ tinh vào lúc ban đêm cho thấy quốc gia cộng sản bưng bít nhứt hành tinh này hoàn toàn chìm ngập trong tăm tối bên cạnh hai lân bang sáng chói là Trung Cộng và Nam Hàn.
Thiên đàng cộng sản này thiếu ánh sáng vì thiếu điện. Bên ngoài thủ đô Bình Nhưỡng, hầu như về đêm, quốc gia cộng sản này không còn hiện hữu với thế giới bên ngoài nữa. Đây là hình ảnh cho thấy thiên đàng cộng sản Bắc Hàn hoàn toàn bị hoặc tự cắt đứt với toàn thế giới. Trong thời đại mà chúng ta có thể thấy hầu như mọi góc cạnh của trái đất, khi chúng ta có thể thông tin và liên lạc  hầu như với mọi người, khi nguồn thông tin trở thành hầu như vô tận, thì Bắc Hàn vẫn còn là một “lỗ đen”. Đó là một “lỗ đen” mà không một thứ gì và không một người dân nào có thể thoát ra được.
Kể từ năm 1953, khi Bán đảo Triều Tiên bị chia đôi thành  Nam Hàn Quốc Gia  và Bắc Hàn Cộng Sản, đã có hàng ngàn người liều mạng sống để thoát ra khỏi cái “lỗ đen” ấy. Hầu hết đều đến Trung Quốc. May lắm thì được đặt chân vào Nam Hàn. Một số đã rời bỏ thiên đàng cộng sản Bắc Hàn để trốn thoát khỏi cuộc bách hại chính trị dã man vốn đã trở thành chuyện cơm bữa trong cuộc sống của người dân trong chế độ độc tài chuyên chính mà lãnh tụ Kim Nhật Thành đã thiết lập và được “cha truyền con nối” trước hết cho người con trai của ông là Kim Chính Nhất và nay cho người cháu nội của ông là Kim Chính Vân.
Ngoài lý do chính trị, nhiều người dân Bắc Hàn cũng tìm cách trốn thoát khỏi thiên đàng cộng sản vì nạn đói kém đã bắt đầu từ thập niên 1990 và tiếp tục cho tới ngày nay. Ở lại thì chết đói, mà ra đi thì hiểm nguy khôn lường. Nhưng thà chết vì ra đi hơn ở lại để chết đói.
Đã từng trốn thoát khỏi chế độ, tác giả Joseph Kim đã viết trong hồi ký “Under the Same Sky:From Starvation in North Korea to Salvation in America” (Dưới cùng một bầu trời: từ chết đói ở Bắc Hàn đến tự do ở Hoa Kỳ), rằng “Nạn đói xảy  đến, mọi sự đều từ từ biến mất như thể bị bốc hơi”.
Hồi ký trên đây của tác giả Kim được xem là một trong ba cuốn sách hay nhất về Bắc Hàn được phát hành trong mùa hè này tại Hoa Kỳ.
Tác giả thứ hai là cô Hyeonseo Lee với hồi ký có tựa đề “ The Girl With Seven Names: A North Korean Defector’s Story” (Người con gái với 7 tên: câu chuyện của một người trốn thoát khỏi Bắc Hàn).
Cuốn sách thứ ba có tựa đề “A Thousand Miles to Freedom: My Escape from North Korea” (Vượt qua hàng ngàn dậm để đi tìm tự do: cuộc đào thoát khỏi Bắc Hàn của tôi). Đây là tác phẩm của cũng của một nữ tác giả là cô Eunsun Kim.
Ngoài ba cuốn hồi ký trên đây, các cuộc đào thoát khỏi thiên đàng cộng sản Bắc Hàn cũng là đề tài cho nhiều hồi ký khác sẽ ra mắt độc giả Mỹ vào mùa Thu tới đây. Trước đây, độc giả Mỹ cũng đã có trong tay một số quyển hồi ký được xếp vào loại bán chạy nhất như hai cuốn “The Aquariums of Pyongyang” (Những hồ nuôi cá kiểng của Bình Nhưỡng) và “Escape From Camp 14” (Đào thoát khỏi Trại 14). Đây là những câu chuyện ly kỳ về những hòn đảo “Gulag” ở Bắc Hàn. Về “Vương Quốc” hoàn toàn bưng bít với thế giới bên ngoài này, bất cứ câu chuyện nào cũng đều hấp dẫn. Chính vì vậy mà ngay cả những chuyện hư cấu có tựa đề “The Orphan Master’s Son” (Người con trai của ông chủ mồ côi) do tác giả Adam Johnson sáng tác cũng thu hút độc giả không kém và đã mang về cho tác giả giải thưởng cao quý “Pulitzer Prize”.
Riêng hai tác giả Joseph Kim và Hyeonseo Lee đã có một chỗ đứng đặc biệt trong lòng độc giả Mỹ.
Những câu chuyện về sự sống sót trong các ngục tù cộng sản không phải là điều mới mẻ. Văn hào Nga Aleksandr Solzhenitsyn đã từng được trao tặng Giải Nobel Văn Chương hồi năm 1970 nhờ tác phẩm “Quần đảo Gulag” viết về hệ thống tù ngục của Chế độ Cộng sản Liên Xô. Riêng tác giả Lưu Hiểu Ba, người Trung Quốc hiện đang ngồi tù, cũng đã được trao tặng Giải Nobel Hòa Bình năm 2010 vì đã phơi trần được bộ mặt độc ác dã man của Chế độ Cộng sản Trung Quốc.
Nhưng ngay cả những chế độ độc tài cộng sản, ở vào giai đoạn tồi tệ nhất của chúng, như Liên Xô, Trung Quốc, Khờ me Đỏ ở Cam Bốt, cũng vẫn không bí hiểm như Bắc Hàn hiện nay. Ngoài bộ mặt mà bộ máy tuyên truyền của Bắc Hàn cố gắng tô vẽ và trưng bày trước thế giới, chỉ có những người đào thoát khỏi thiên đàng cộng sản này mới có thể cung cấp cho người bên ngoài những thông tin đích thực về cuộc sống tại đây. Họ là nguồn ánh sáng duy nhất có thể soi rọi vào cái “lỗ đen” Bắc Hàn.
Các tác giả viết hồi ký về Bắc Hàn đều thuộc giới trẻ. Khác với những người Bắc Hàn đã từng viết hồi ký trước đó, họ không trực tiếp là nạn nhân của chế độ. Những năm đầu đời của họ, nếu không đầy đủ tiện nghi, thì ít nhất cũng an toàn; gia đình họ không bị bách hại; họ được cho ăn mặc đầy đủ. Họ được vào rạp chiếu bóng để xem xi nê hoặc ngồi ở nhà để theo dõi  những phim truyện truyền hình được sản xuất trong nước và mỗi ngày chỉ  được “phát sóng” vào đúng vào 8:45 phút tối. Tác giả Joseph Kim mỉa mai: “Nếu bạn muốn xâm chiếm Bắc Hàn, thì đây là lúc thuận tiện nhất để làm, bởi vì một nửa dân số Bắc Hàn đang tụ tập tại nhà của một người hàng xóm nào đó để chờ xem một chương trình truyền hình”. Dân chúng hít thở sự tuyên truyền của dòng họ Kim cũng như hít thở không khí xung quanh họ.
Về phần mình, nữ tác giả Hyeonseo Lee kể lại chuyện người dượng ghẻ của cô đã liều mạng sống để bảo vệ chân dung của hai cha con lãnh tụ Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhất được treo trong nhà khỏi ngọn lửa khi xảy ra cháy nhà. Theo cô, “đây là một hành động anh hùng để một công dân có thể được tuyên dương”.
Riêng cô Eunsun Kim thuật lại cơn lên đồng thập thể của dân chúng giữa cơn mưa gió ngày 8 tháng Bảy năm 1994, khi lãnh tụ vĩ đại Kim Chính Nhất qua đời. Trên đài truyền hình, những người đọc tin loan báo rằng ngày hôm đó bầu trời cũng khóc thương cái chết của Lãnh tụ Vĩ đại. Cô viết: “Tôi đã thực sự tin điều đó”.
Nhưng cuộc sống và một niềm tin như thế đã chấm dứt khi nạn đói xảy ra. Cũng như với bất cứ điều gì xảy ra tại Bắc Hàn, chẳng ai biết được chính xác những con số liên quan đến nạn đói trong thập niên 1990. Nhưng việc Liên Xô ngưng viện trợ sau Chiến Tranh Lạnh và một loạt những thiên tai, bão lụt cũng như sự bất lực hoàn toàn của chính phủ, đã khiến cho nền nông nghiệp vốn yếu kém của Bắc Hàn hoàn toàn bị phá sản. Các chuyên gia quốc tế ước tính có đến hàng trăm ngàn hoặc hàng triệu người chết đói trong nạn đói này.
Giá trị thực sự của những hồi ký trên đây chính là lột tả được cuộc sống của người dân Bắc Hàn trong một trong những thảm họa khủng khiếp nhất mà thế giới chưa từng biết tới và đó cũng là một trong những thảm họa bí mật nhất. Mỗi một tác giả trên đây đều đã từng biết thế nào là đói. Mỗi người đều đã chứng kiến những người thân trong gia đình của họ chết đói. Như nhân vật Oliver Twist trong một truyện của văn hào Anh Charles Dickens (1812- 1870), để sống còn, có người đã phải gia nhập vào một băng đảng thiếu niên để đi trộm cắp, mặc dù biết rằng một hành động nhỏ như ăn cắp một nắp đậy ống cống cũng đủ để bị kết án tử hình.
Trong một thế giới trong đó vẫn còn có đến 800 triệu người mỗi buổi tối đi ngủ với cái bụng đói, thì đói vẫn còn được xem là chuyện thường tình. Nhưng đối với người dân Bắc Hàn là những người thực sự tin rằng các nhà lãnh đạo của họ luôn luôn bảo vệ họ, thì nạn đói quả là một thảm họa vừa tâm lý vừa thể lý. Khi nạn đói xảy ra, Chính phủ Bắc Hàn đã tung ra khẩu hiệu: “Mỗi ngày chỉ nên ăn hai bữa”, trong khi đó thì giới lãnh đạo vẫn uống rượu Cognac với tôm hùm. Nhiều người đã mở mắt ra nhờ hình ảnh ấy.
Năm 1996, cậu bé Joseph Kim đã lén lên xe lửa  để trốn sang Trung Quốc. Tại đây cậu được các tín hữu Kitô đón tiếp trước khi được nhận sang tỵ nạn tại Hoa Kỳ. Về phần mình, hai tác giả Eunsun Kim và Hyeonseo Lee cũng trốn sang Trung Quốc và được Nam Hàn đón nhận. Eunsun Kim đã phải trải qua một cuộc hành trình kéo dài 9 năm trước khi tìm được tự do tại Nam Hàn. Hyeonseo Lee vượt thoát khỏi Bắc Hàn năm cô 17 tuổi. Nhiều năm sau, cô đã liều lĩnh làm một cuộc trở về đầy nguy hiểm để tìm kiếm và gặp lại gia đình hiện vẫn còn sống tại  Bắc Hàn. Hiện cô đang sống tại thủ đô Seoul, Nam Hàn.
Joseph Kim không được may mắn như hai nữ tác giả này. Toàn bộ gia đình anh đã chết trong nạn đói. Là một người sống sót từ nạn đói, anh viết: “Tâm hồn bạn được nhào nặn bằng những cách thế mà bạn chỉ biết được nhiều năm sau này”.
Hơn 60 năm kể từ khi cuộc chiến tranh Triều Tiên chấm dứt, 25 triệu người dân Bắc Hàn vẫn còn sống trong một chế độ có toàn quyền trên họ nhưng chẳng làm cho họ được no cơm ấm áo, không bảo đảm cho họ được an ninh và cũng chẳng mang lại cho họ bất cứ hy vọng nào về thay đổi.
Kể từ khi thay cha lên cầm quyền, cậu ấm Kim Chính Vân có làm một số thay đổi. Trong khi ông nội và cha cậu chẳng bao giờ cho ai thấy bóng dáng hiền thê hoặc thê thiếp của họ, thì Kim Chính Vân đã không ngần ngại “trình diện” cô vợ Ri Sol-ju của cậu. Hầu như lúc nào người đàn bà này cũng có mặt bên cạnh chồng mình trong những chuyến công cán của ông.
Ông vua đời thứ ba của triều đại Kim này cũng có một thay đổi “ngoạn mục” khác là mời một số danh thủ Bóng Rổ nổi tiếng như Dennis Rodman đến thăm Bắc Hàn. Nhưng đáng chú ý hơn cả vẫn là việc Kim Chính Vân gia tăng cường độ tàn ác trong việc thanh trừng nội bộ. Về chuyện này, cậu đã hoàn toàn qua mặt ông nội và cha cậu. Cậu cũng cho gia tăng kiểm soát biên giới kỹ hơn để người dân không thể đào thoát ra sang các nước láng giềng. Dạo tháng 6 năm 2013, một nhóm người gồm 9 người, trong đó có một thiếu niên 13 tuổi, đã bị bắt tại biên giới Lào. Họ đã được mang trả về Bắc Hàn. Họ đã được cho xuất hiện trên đài truyền hình nhà nước để “bày tỏ” niềm hân hoan được trở về tổ quốc. Nhưng sau đó cả 9 người đều bị mang ra hành quyết.
“Vua” Kim của “Vương Quốc” bí mật nhất thế giới này đã không làm bất cứ thay đổi nào như người dân Bắc Hàn mong đợi.
Dạo tháng 6 vừa qua, người đứng đầu Tổ chức Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc công bố một bản báo cáo theo đó Bắc Hàn một lần nữa đang đứng bên vực thẳm của hạn hán và nạn đói.
Bóng tối chẳng có biên giới trong thiên đàng cộng sản này.

(Theo  Bryan Walsh “The Long Journey from North Korea to Freedom”, Time 17/8/2015)