Chủ Nhật, 8 tháng 6, 2014

Gió Heo May đã Về…



                                                                    

Ở Úc, cứ bước vào tháng Ba, trong tôi lại nghe reo lên: mùa Thu đã về!
Tôi thích mùa Thu ở Úc: không nóng như mùa Hè, không lạnh như mùa Đông và cũng không có nhiều phấn hoa khiến phải “hắt xì” liên tục như mùa Xuân.
Mùa Thu đến với tôi như một “giấc mơ trở thành hiện thực”, bởi vì ở quê tôi không có mùa Thu. Cho đến khi bỏ nước ra đi, tôi chỉ biết có hai mùa mưa - nắng và nóng - lạnh. Tôi chỉ biết mùa Thu qua sách vở.Tôi chỉ cảm mùa Thu qua thi ca.Tôi chỉ thấy mùa Thu qua tranh vẽ.Tôi chỉ nghe mùa Thu qua âm nhạc. Với tôi, hình ảnh “con nai vàng ngơ ngác đạp trên lá vàng khô” hay “mưa giăng lá đổ” chỉ có trong mơ.
Mãi cho đến tháng 10 năm 1982, tôi mới thực sự “sờ sẫm” được mùa Thu. Đến Pháp lần đầu tiên khi trời bắt đầu vào Thu, tôi đã đứng ngây ngất bên bờ sông Seine, nhìn ngắm những chiếc lá vàng bay xuyên qua những giọt mưa phùn rơi lất phất. Tôi thấy như mình đang mơ. Ước mơ được “biết” thế nào là mùa Thu đã trở thành hiện thực. Nhưng mùa Thu đẹp và “quyến rũ” quá đến độ tôi cứ tưởng như mình đang mơ.
Tôi nhớ nhứt là chuyến đi từ thành phố Clermont Ferrand, thủ đô của bánh xe Michelin, đến thành phố Limoges, nơi sản xuất đồ gốm nổi tiếng của nước Pháp. Cả hai thành phố này đều nằm ở miền Trung nước Pháp. Đến một quãng đường nằm giữa hai thành phố, khi mặt trời vừa lên, một người bạn cho dừng xe lại và chỉ vào một cánh đồng trước mặt: phía sau đồng cỏ là một khu rừng rực rỡ với đủ mọi mầu sắc của mùa Thu. Người bạn giải thích rằng đây là khu rừng nổi tiếng thường được các họa sĩ tài ba của nước Pháp tìm đến để vẽ cảnh mùa Thu. Tôi thốt lên: “cảnh này còn đẹp hơn cả tranh vẽ”.
“Ghiền” cảnh mùa Thu ở nước Pháp, mỗi lần đi Mỹ hay Canada, tôi cũng thường lựa đi vào mùa Thu, cốt chỉ để được ngắm những khu rừng đủ mầu sắc của mùa Thu. Mỹ và Canada quá rộng lớn. Với tôi, chỉ nội tiểu bang Ohio của Mỹ hay tỉnh Ontario của Canada cũng đủ để là một bức họa nhỏ cho mùa Thu trên khắp thế giới.
Úc không có mùa Thu đẹp bằng các nước ôn đới khác. Gia đình họ “tràm”, thường được gọi là Gum Trees, chiếm trọn các khu rừng của Úc, khiến cho cảnh lá vàng rơi chỉ có ở một vài nơi ưu biệt. Muốn thực sự “cảm” được mùa Thu ở Úc, phải đi mãi lên thủ đô Canberra, Blue Mountains hay kẹt lắm tìm đến mấy khu nhà giàu ở vùng North Shore Sydney là nơi có trồng nhiều cây maple.
Sau nhà tôi là một lâm viên quốc gia chỉ toàn cây tràm và lác đác vài cây thông và dương liễu. Nếu không có một chút gió heo may thì khó mà thấy được mùa Thu về khi bước vào tháng Ba. Cũng may, đằng sau nhà, người chủ cũ đã trồng được vài cây maple, nên tôi có được chút “mùa Thu bonsai”. Từ phòng ngủ nhìn ra, tôi đã “cảm” được mùa Thu khi thấy lá của loại cây này đã bắt đầu “hườm hườm” chuyển sang mầu vàng và mầu đỏ tía. Không nhứt thiết phải là văn thi sĩ hay họa sĩ mới cảm được mùa Thu. Mùa Thu luôn là mùa “gợi cảm” đối với mọi người. Làm sao nhìn cảnh “lá rụng về cội” mà không nghĩ đến thân phận sớm nở tối tàn của kiếp người? Làm sao nghe một cơn “gió heo may” mà không liên tưởng đến tuổi già đang đến?
Mượn câu “Gió heo may đã về” trong một ca khúc của Trịnh Công Sơn để làm tựa, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã viết lên những suy tư của ông về cái tuổi “hườm hườm” ấy như sau: “Một sớm mai thức dậy, người uể oải, nặng nhọc, bước vào phòng tắm, nhìn vào gương soi, ngỡ ngàng như vừa gặp một người quen mà không nhớ là ai, nhìn tới nhìn lui mới nhận ra chính là ta đó. Ta mà như không ta. Ta bỡ ngỡ như ở cái tuổi mới lớn năm nào, chợt cao lên, chợt lớn lên và lạ lẫm với chính mình, chân tay lọng cọng như thừa như thiếu, mà mày thanh mắt sáng, mà muốn làm nghiêm cũng thấy như tủm tỉm cười. Còn giờ đây, cũng bỡ ngỡ lạ lẫm với chính mình mà thử nhích khóe môi tìm lại nụ cười chợt thấy khó khăn. Niềm vui thì vẫn vậy sao mắt môi như trĩu nặng. Một nếp xếp đã đậm theo vòng cung khóe miệng, những dấu chân chim đã hằn trên khóe mắt. Và kia, một vài nhánh tóc đã nhạt phai, khô quắt, mỏng tanh. Bỗng dưng thèm vẽ lại tức khắc khuôn mặt xa lạ mà thân quen trước kia khi tắm táp, để rồi mày râu nhẵn nhụi lao vào công sở hay đến giảng đường, xí nghiệp, công ty…Rồi ngắm nghía mình, nghĩ ngợi mình, rình rập mình, mới hay, đã khá lâu rồi không còn dõi theo ta nữa, đã lâu rồi phải lao vào bao nỗi lo toan, đã lãng quên cả chính mình….Chợt nhớ ra đã có lúc nào kia, phải chú ý lắng tai hơn nữa để nghe người nói, có khi phải hử hả đôi lần. Có cái gì ở tai ta vậy. Rồi một lần kia, cầm tờ báo thân quen lên đọc bỗng cứ thấy phải đẩy dần tờ báo ra xa, xa chút nữa, rồi chỉ đọc được những cái tựa, những dòng to…Rồi có lúc chợt quên mất tên một người quen, quá quen. Quên cái tên thôi còn thì nhớ tất cả. Khi cần nhớ thì quên mà khi cần quên thì nhớ. Nhớ rất kỹ những chuyện xưa cũ…Tính tình cũng đâm ra cáu gắt. Chuyện không đáng gì sao cũng quạu. Lại trách cứ. Lại giận hờn. Lại ngờ vực. Lúc nào cũng nói “tôi già rồi, tôi già rồi” như để được nghe mọi người nói “không, chưa già, vẫn trẻ”. (Đỗ Hồng Ngọc, Cành Mai Sân Trước)
Mùa Thu không chỉ gợi nhớ tuổi già, mà còn là mùa của hy vọng. Thời gian qua đi nhanh chóng và những mất mát trong cuộc đời dễ làm cho con người tìm đến những gì là bền vững để bám víu.
Mỗi lần nhìn lá mùa Thu đổi mầu hay rơi rụng, tôi thường đọc lại những suy nghĩ của một nhà lãnh đạo nổi tiếng trong Giáo hội công giáo tại Hoa kỳ là đức cố hồng y Joseph Bernadin, tổng giám mục Chicago, qua đời hồi năm 1997. Trong ba năm cuối đời, vị hồng y này vừa phải chống chọi với bệnh ung thư tụy tạng lại vừa phải đương đầu với một vụ cáo gian về lạm dụng tình dục. Vậy mà trong cuốn sách có tựa đề “The gift of peace” (món quà bình an) được ngài hoàn thành đúng hai tuần lễ trước khi qua đời, vị hồng y này khẳng quyết: “Tâm hồn tôi tràn ngập niềm vui. Tôi cảm thấy bình an”
Trong trang cuối của cuốn sách, đức cố tổng giám mục Chicago chia sẻ như sau: “Hôm nay là ngày 1 tháng 11 và mùa Thu đang nhường chỗ cho mùa Đông. Không bao lâu nữa, những chiếc lá rực rỡ sẽ rụng xuống khỏi cây và tuyết sẽ phủ đầy mặt đất. Mặt đất sẽ đóng kín và con người sẽ chạy đôn chạy đáo để tìm kiếm hơi ấm. Mùa đông ở Chicago thật khắc nghiệt. Đây là thời gian để chết.
Nhưng chúng ta biết rằng mùa xuân sẽ đến với tất cả sự sống mới và kỳ diệu của nó.
Chắc chắn tôi sẽ không còn sống trong mùa xuân tới. Nhưng tôi sẽ cảm nghiệm một sự sống mới bằng một cách khác. Cho dẫu tôi không biết mình đang chờ đợi điều gì trong cuộc sống mai hậu, nhưng tôi biết rằng Thiên Chúa đã kêu gọi tôi phục vụ Ngài bằng tất cả khả năng của tôi trong cuộc sống dương thế này. Giờ đây Ngài đang gọi tôi trở về nhà.
Nhiều người đã xin tôi nói cho họ biết về thiên đàng và cuộc sống mai hậu. Lời thỉnh cầu này đôi khi khiến tôi mỉm cười, bởi vì tôi cũng chẳng biết gì hơn…
Lần đầu tiên, khi cùng với mẹ và chị đi về quê cha đất tổ ở miền Tonadino di Primiero, bắc Ý, tôi cảm thấy như tôi đã từng ở đó rồi. Sau nhiều năm xem cuốn album hình của mẹ tôi, tôi đã làm quen với núi, với đất, với nhà cửa, với con người ở đó. Do đó, khi vừa bước vào thung lũng, tôi đã reo lên: “Chúa ôi, tôi đã biết nơi này rồi.Tôi đã về đến nhà mình”. Một cách nào đó, tôi nghĩ rằng mình cũng đang đi từ cuộc đời này vào cuộc sống vĩnh cửu như thế. Tôi sẽ về nhà.
Điều tôi muốn trối lại là cầu xin cho mỗi người trong các bạn tìm được điều mà tôi đã tìm thấy: đó là quà tặng đặc biệt của Chúa cho mỗi người chúng ta: quà tặng đó là sự bình an. Nếu chúng ta được bình an, chúng ta sẽ được tự do để sống sung mãn ngay cả trong những giờ phút đen tối nhứt” (Joseph Bernadin, The Gift of Peace )
Đọc lại “chúc thư” trên đây của vị hồng y này ở những ngày đầu Thu, rồi chợt “nhìn những mùa thu đi” qua trong cuộc đời, tôi cảm thấy khao khát “ơn bình an” vô cùng. Giữa cuộc đời qua đi như hoa sớm nở tối tàn này, làm sao có được cái tâm an bình để đứng vững trước bao sóng gió, “vật đổi sao dời” này: đó là điều tôi hằng mong ước. Chợt nhớ lại câu chuyện về một họa sĩ nọ có hai môn sinh đang theo học. Một hôm ông lấy “sự bình an” làm đề tài sáng tác cho hai người môn sinh. Một người liền vẽ ngay một bức tranh cổ điển quen thuộc với một mặt hồ Thu phẳng lặng. Anh lấy làm đắc chí: một khung cảnh tĩnh mịch như thế làm sao không gợi lên sự an bình?

Người học trò thứ hai vò đầu nát óc để rồi cuối cùng vẽ ra một bức tranh lạ thường: giữa một dòng thác đổ cuồn cuộn, anh cho mọc lên một cây lớn. Trên một cành khẳng khiu nằm vắt vẻo gần dòng thác, anh vẽ một tổ chim thật nhỏ. Ở đó, có những con chim non đang ríu rít đón nhận thức ăn được mớm từ con chim mẹ.

Người thày đã đánh giá đây là bức tranh thực sự nói lên được ý nghĩa đích thực của hai chữ bình an: bình an giữa sóng gió của cuộc đời!

Xin cám ơn luật sư Trịnh Hội đã nhắn gởi cho độc giả báo Người Việt, trong đó có tôi, một số lời khuyên mà gia đình của anh từ Úc đã gởi đến cho anh. Đây là những lời khuyên về sự “An Lạc”, được anh ghi lại trong bài viết có tựa đề “Thời Gian”  đăng trên báo Người Việt trong một số ra gần đây:
“- Hãy đừng so sánh bạn với một ai cả vì làm như thế là bạn đã tự coi thường chính mình.
- Không có một ổ khóa nào được làm ra mà không có chiếc chìa khóa để mở nó ra. Vì vậy, Tạo Hóa cũng sẽ không bao giờ mang đến bạn bất cứ một vấn đề gì mà không có cách giải quyết riêng cho nó.
- Hãy chấp nhận khi bạn mất mát. Hãy im lặng khi bạn thành công. Và hãy vui lên khi bạn chiến thắng được chính mình.
- Không ai có thể quay lại quá khứ để thay đổi những lỗi lầm của chính mình. Nhưng ta có thể bắt đầu ngay bây giờ nhận ra những lỗi lầm của mình để tránh những sai phạm trong tương lai.
- Cuộc đời vẫn mỉm cười khi bạn đang đau khổ. Và nó cũng mỉm cười khi bạn đang hạnh phúc.Vì vậy, bạn hãy mỉm cười dù có được hạnh phúc hay đang gặp đau khổ.
-Ai trong chúng ta cũng có thể không chấp nhận sự phiền não. Nhưng muốn không phiền não, bạn phải biết chấp nhận. Vì tình thương trong ta là một tài nguyên không bao giờ cạn. Và nó chỉ tăng thêm khi ta mang ra hiến tặng cho người.
-Chúng ta thường rất dễ dàng phê phán một khuyết điểm nhỏ của người khác. Nhưng lại rất khó nhận ra lỗi lầm lớn của chính chúng ta. Bởi thế, trí tuệ chỉ sẽ được hình thành từ sự nhận ra và sửa chữa lỗi lầm của chính mình.
- Hãy là tấm gương soi rọi cho chính bản thân mình. Vì chỉ khi ấy thân bạn mới an.Và tâm bạn mới lạc” (Trịnh Hội, Thời Gian, Người Việt on line 7/3/2010)

Dù mùa Xuân có lộng lẫy cách mấy, dù mùa Hạ có rực rỡ cách mấy, hay dù mùa Đông có trắng xóa cách mấy, với tôi, vẫn không thể nào sánh bằng màu sắc đẹp đẽ và hài hòa của mùa Thu. Đời người cũng vậy. Tuổi “vào Thu” là tuổi mà đa số trong chúng ta con cái đã thành đạt, công danh, nợ nần đã trang trải, gân cốt tuy không như thời trai trẻ nhưng sức khỏe vẫn còn và nhất là thì giờ thì…thoải mái. Tuổi “vào Thu” cũng là lúc mà người ta dẹp bớt mưu sinh để dấn thân vào các việc thiện nguyện, tìm ra ý nghĩa cuộc đời. Chiếc lá dù đã chuyển màu, nhưng ngày nào còn ở trên cành thì vẫn còn tận tình vui chơi với nắng mưa sương gió. Cám ơn chiếc lá vàng đã dạy cho tôi một cách tận hưởng cuộc sống để có được “ơn bình an” trong mùa Thu này.




 Chu Thập 15.3.2010

Thứ Năm, 5 tháng 6, 2014

Xác chết ở đâu diều hâu ở đó

Những ngày sống trong trại tỵ nạn, một trong những thú “tiêu khiển” của tôi là sưu tầm chuyện tiếu lâm. Đa số các câu chuyện tiếu lâm tôi nghe được trong trại tỵ nạn đều xoay quanh hai chủ đề: “cán ngố” và cái đói trong thiên đàng xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Về cái đói, tôi vẫn nhớ mãi câu chuyện về một cuộc thi quốc tế “biểu thị” cái đói qua tranh vẽ. Người đoạt giải nhứt trong cuộc thi này là một người Việt Nam. Người họa sĩ Việt Nam đoạt giải nhứt nhờ bức tranh vẽ một đứa bé trần truồng, ngồi chổng mông lên trời, mạng nhện giăng đầy hậu môn!
Tưởng chỉ có trong chuyện tiếu lâm người ta mới có thể tưởng tượng một cảnh đói đến độ lâu ngày bộ máy tiêu hóa ngưng hoạt động và mạng nhện bít đi cái lỗ bài tiết. Nhưng dạo tháng 3 năm 1993, tôi không ngờ một cảnh đói thật được nhiếp ảnh gia Kevin Carter, Nam Phi ghi lại  trông còn khủng khiếp hơn chuyện tiếu lâm hoàn toàn “hư cấu” tôi nghe được trong trại tỵ nạn. Bức ảnh đã được nhiếp ảnh gia Carter chụp  nhân một chuyến đi Nam Sudan, Phi Châu. Trong bức ảnh, người ta thấy một bé gái khoảng 2,3 tuổi, trần truồng, đói l đến độ đi không nổi đành phải ngồi gục mặt xuống đất. Cách đó không quá 3 thước, một con diều hâu đang trong tư thế chờ đợi và sẵn sàng dương móng vuốt ra để xé thịt “con mồi”. Tác giả bức ảnh cho biết cha mẹ của bé gái đang đi lãnh thực phẩm do một chiếc máy bay của Liên Hiệp Quốc chở đến. Ông đã phải chờ 20 phút để xem con diều hâu có bay đi không. Nhưng nó vẫn cứ chờ đợi. Cuối cùng, sau khi chụp được bức ảnh, ông đã đuổi con chim săn mồi đi.
Bức ảnh đã được bán cho báo The New York Times và được xem như hình ảnh sống động nhứt nói lên nạn đói khủng khiếp tại Sudan ở đầu thập niên 1990. Nghe đâu, chính nhiếp ảnh gia Carter đã bị ám ảnh bởi bức ảnh này. Vào thời đó, tại Sudan, các ký giả được lệnh không nên chạm đến các nạn nhân của nạn đói, vì có nguy cơ bị lây nhiễm. Nhưng nhiếp ảnh gia này đã bị chỉ trích nặng nề vì đã không chịu tức khắc cứu lấy đứa bé mà chỉ chú tâm vào việc “săn ảnh”. Trên bài quan điểm của một tờ báo nọ, nhiếp ảnh gia Carter đã bị lên án vì chỉ biết “điều chỉnh ống kính nhắm vào đứa bé gái đang đau khổ. Có lẽ ông cũng chỉ là một con vật săn mồi, một con diều hâu khác trong bức ảnh”. Chính do những lời chỉ trích nặng nề này mà, mặc dù được trao tặng giải Pulitzer, Carter bị ám ảnh đến ni ba tháng sau đó đã tự tử.
Bức ảnh của Carter đã lột tả một cách sống sượng cái đói mà hầu như ở bất cứ giai đoạn nào trong lịch sử nhân loại, thế giới cũng đều có thể trải qua. Nhiều cụ già Việt Nam hẳn không thể nào quên được hình ảnh của cái đói năm Ất Dậu 1945 mà Miền Bắc Việt Nam đã nếm trải. Nhưng bên cạnh những đống xác chết, nổi bật hơn cả vẫn là hình ảnh của by chim diều hâu.
Con diều hâu được chụp cận cảnh trong bức ảnh của nhiếp ảnh gia Carter, lúc nhỏ tôi rất ít thấy. Ở quê tôi, loại chim săn mồi đáng sợ nhứt thường được gọi một cách ngắn gọn là “diều”. Diều có lông cánh mầu nâu và thường bay lượn trên cao. Mỗi khi diều  thả rơi người xuống là ở dưới đất gà mẹ báo động và gà con kêu la inh ỏi. Có lẽ hầu như không có by gà con nào, dù được mẹ gà bảo bọc kỹ đến đâu, mà còn nguyên vẹn với những “phi vụ” rất chính xác của diều. Lũ trẻ con nhà quê chúng tôi rất căm thù loại diều này, nhưng không làm gì được chúng. Không những chúng bay trên cao đến độ không có loại ná “cao su” nào có thể bắn tới, mà khi đáp xuống mặt đất, chúng nó hành động nhanh đến ni không những gà mẹ mà cũng chẳng có ai trở tay kịp.
Bên cạnh loại diều “nâu” này, thỉnh thoảng đi tắm sông, tôi cũng nhìn thấy trên bãi cát một vài con “diều hâu” to đen bu quanh mấy cái xác heo chết sình. Quê tôi không gọi nó là diều hâu mà đặt cho nó một cái tên nghe cũng đã thấy bốc lên mùi thối tha  là “kên kên”. Đây mới thực sự là loại chim mà ở đâu có xác chết là có chúng.
Không hiểu sao cứ nhắc đến “kên kên” là tôi lại nghĩ đến mấy ông cộng sản Việt Nam. Sở dĩ có sự liên tưởng ấy là vì một trong bức ảnh chụp được về cảnh đấu tố tại Miền Bắc Việt Nam trong thời kỳ cải cách ruộng đất trông chẳng khác gì bức ảnh nổi tiếng của nhiếp ảnh gia Carter. Trong bức ảnh về đấu tố khiến tôi thường bị ám ảnh, người ta thấy một đám đông nông dân ngơ ngác đứng nhìn một nạn nhân đang quằn quại trên bãi đất  khô. Trong đám đông ngơ ngác ấy, có người mẹ ôm đứa con quay mặt đi chỗ khác, có người lấy tay che mặt. Duy chỉ có một anh cán bộ mặc bộ quần áo bà ba đen, đứng tách ra khỏi đám đông, tay đứng chống nạnh, bộ mặt đằng đằng sát khí. Nếu bôi xóa cái đám đông ngơ ngác kia đi thì trong bức ảnh chỉ còn lại hai hình ảnh: một bên là con người khốn khổ đã chết hoặc đang thoi thóp thở và một bên là “con kên kên” vô cảm hoặc chỉ nung nu duy nhứt trong lòng bằng sự tham tàn và hận thù.
Tôi ít tin tưởng ở ý thức hệ. Có lẽ câu nói đầu tiên mà tôi học được khi vừa bước chân vào ngưỡng cửa triết học là câu “chính những tư tưởng lèo lái thế giới” (ce sont les idées qui mènent  le monde). Nhìn lại lịch sử thế giới, tôi thấy quả thật tư tưởng đã hướng dẫn và lèo lái thế giới. Tư tưởng của các triết gia “Thời đại Ánh Sáng” (Siècle des Lumières, Age of Enlightenment) vào thế kỷ 18 ở  Âu Châu đã thực sự nêu cao vai trò của lý trí và đã khai mào cho các cuộc cách mạng. Nhân loại đã làm được một bước tiến vĩ đại nhờ phong trào trí thức này. Sang đến thế kỷ 20, tư tưởng của con người lại càng   chứng tỏ được sức mạnh phi thường của nó. Nhân loại đã chứng kiến sức mạnh của ý thức hệ qua hai thứ chủ nghĩa đồi bại nhứt trong lịch sử thế giới, một là Đức Quốc Xã hai là Chủ nghĩa Cộng sản. Bao nhiêu nạn nhân đã bị nghiền nát bởi hai ý thức hệ này. Bao nhiêu con thiêu thân đã lao mình vào lò lửa hận thù do hai ý thức hệ này đốt lên.
Thật ra không phải những ý thức hệ ấy đã lãnh đạo thế giới, mà chỉ có những người đẻ ra ý thức hệ ấy hoặc sử dụng ý thức hệ ấy để lèo lái thế giới. Ý thức hệ chẳng khác nào một thứ bánh vẽ người ta nhét vào miệng những người ngu đần, thiếu suy nghĩ hoặc không muốn suy nghĩ bằng cái đầu của mình. Nói một cách nôm na như người dân quê của tôi, ý thức hệ được những người lãnh đạo sử dụng để lèo lái thế giới chẳng khác nào “cứt gà sáp nhét vào miệng trẻ con”. Đằng sau ý thức hệ, đằng sau thiên đàng không tưởng, đàng sau đủ mọi lời lẽ hoa mỹ và bánh vẽ vẫn là ý chí thống trị của một thiểu số. Hitler chẳng tin gì ở một nước Đức chỉ có siêu nhân. Tên đồ tể này chỉ muốn làm bá chủ thiên hạ. Lenin, Stalin chẳng tin và cũng chẳng muốn xây dựng một thế giới đại đồng, bình đẳng nào cả. Họ chỉ là hai nhà độc tài đeo đuổi giấc mộng “Đại Nga” trong đó họ sẽ là một thứ Nga hoàng toàn quyền trên mọi của cải và ngay cả tử tưởng và mạng sống con người. Liệu ngày nay có ai còn tin rằng tên đồ tể Mao Trạch Đông muốn xây dựng thiên đàng trần thế không? Đằng sau thứ bánh vẽ mà ông đã nhét vào miệng của triệu triệu người Trung Hoa là gì nếu không phải là giấc mộng “Đại Hán” trong đó ông sẽ là “thiên tử” cai quản thế giới với toàn quyền sinh sát trong tay?
Hồ Chí Minh, người đã tôn các ‘bác’ Lenin, Stalin và Mao Trạch Đông lên bậc thày không bao giờ sai lầm của mình, cũng chẳng đi con đường nào khác và cũng chẳng đeo đuổi một giấc mộng nào khác hơn là “bá chủ”, dù chỉ là bá chủ trên toàn cõi Việt Nam. Người tự tôn mình lên hàng “cha già dân tộc” thật ra cũng chỉ là một “bản sao” của các “thánh” cộng sản mà lúc nào ông cũng cúc cung thần phục. Nhà thơ Chế Lan Viên (1920-1989), người về cuối đời mới chịu nhìn nhận mình đã từng ăn bánh vẽ của Hồ Chí Minh và đã xúi giục bao nhiêu thế hệ Việt Nam phải “nhai ngồm ngoàm” cái bánh vẽ ấy, đã nói lên cái chân lý “trước sau như một” và “không bao giờ sai lầm” về Hồ Chí Minh bằng hai câu thơ: “Bác Mao không ở đâu xa. Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao”.
Ngày nay, có ngây ngô lắm thì may ra có người còn tin rằng những Nguyễn Phú Trọng, những Trương Tấn Sang, những Nguyễn Tấn Dũng và 4 triệu đảng viên cộng sản đang quyết tâm  “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” lên xã hội chủ nghĩa và xây dựng thiên đàng không có cảnh người bóc lột người. Tôi không tin tưởng ở ý thức hệ này và tôi cũng tin rằng hơn cả tôi, những người Việt Nam tự vỗ ngực là “cộng sản” cũng chẳng chút mảy may tin tưởng gì ở ý thức hệ này. Đằng sau cái bánh vẽ mà chẳng còn anh họa sĩ cộng sản nào còn có đủ can đảm để vẽ cho ra hồn, xét cho cùng, là cả một lũ “kên kên” đang bám vào cái xác chết của quyền lực và tiền bạc.
Tôi hoàn toàn đồng ý với nhà văn Chu Tất Tiến khi ông bàn về những nguyên nhân tại sao chế độ Cộng sản Việt Nam chưa sụp đổ. Theo tác giả, “theo dõi những quan hệ chồng chéo của toàn bộ hệ thống hành chánh từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới, từ trung ương xuống địa phương, từ ngành này sang ngành khác, người ta sẽ thấy đây là một hệ thống gắn bó chặt chẽ, khó tách rời bởi vì chúng dựa trên một nguyên tắc rất đơn giản: TIỀN! Như câu vè mà dân gian Việt Nam đang phổ biến: Tiền là Tiên là Phật, là sức bật tuổi trẻ, là sức khỏe tuổi già, là cái đà danh vọng, là cái lọng che thân, là CÁN CÂN CÔNG LÝ, là ý nghĩa tình yêu” (x.VL 9/5/2014).
Nhớ đến hai câu thơ của Chế Lan Viên “Bác Mao không ở đâu xa. Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao”, tôi cảm thấy bi quan trước tình hình đất nước. Nếu cái lũ “kên kên” kia chỉ biết bám vào cái xác chết của quyền và Tiền thì, như mọi người Việt Nam đều thấy, “chân lý trước sau như một” đối với họ vẫn còn nguyên vẹn là “thà mất nước hơn mất Đảng”. Còn Đảng là còn quyền, còn tiền. Rồi đây, nếu đất nước có bị con Rồng đỏ Tàu Cộng nuốt chửng, thì bọn “kên kên” cũng chẳng mất gì: với vai trò “thái thú” của thời đại, họ vẫn còn quyền và tiền. Nhưng liệu một cuộc sống nô lệ, sống kiếp “kên kên” để bám vào một chút bã quyền lực và tiền bạc, có đáng sống không?
Hình ảnh của con “kên kên” đang rình đứa bé gái Nam Sudan đói lả với cái mỏ tham lam và đôi mắt vô cảm khiến tôi rùng mình. Khi trái tim con người không còn biết rung động, khi tâm hồn con người đã chai lì trước nỗi khổ của người đồng loại, liệu họ có còn là “người” nữa không?
 Chu Thập 20.5.2014


Thứ Tư, 4 tháng 6, 2014

Những Người Vỗ Tay



                                                                       

Ngồi hay nằm trước màn ảnh truyền hình để theo dõi World Cup, lúc nào tôi cũng thấy “ngứa ngáy”. Ngứa miệng cho nên cứ phải hò hét một mình. Ngứa tay đến độ cứ phải giơ lên, kéo xuống liên tục trước những màn gay cấn. Và nhứt là ngứa chân hầu như không chịu đựng được cho nên cứ “đá” lung tung vào không khí.
World Cup quả thực là cơn sốt hâm nóng lại tuổi trẻ của tôi. Cứ mỗi lần “chìm đắm” trong một trận đấu là tôi thấy như sống lại cái thời còn vẫy vùng trên sân cỏ.
Bóng tròn là một bản năng thứ hai của tôi. Tôi tin chắc là bản năng ấy đã “thức dậy” ngay từ trong lòng mẹ: có đứa bé nào mà không “đạp đá” khi còn là một thai nhi trong bụng mẹ! Tuổi thơ của tôi hẳn phải là tuổi của bóng đá. Thời ấy, đối với tôi chỗ nào cũng là sân banh. Ngoài sân trường ra, những thuở ruộng vừa gặt xong mùa tháng ba là sân chơi lý tưởng nhứt. Và bất cứ vật gì tròn tròn cũng đều có thể là banh đối với lũ trẻ nhà quê chúng tôi. Lúc đầu chúng tôi xử dụng những trái bưởi non vừa rụng xuống khỏi cây. Về sau, “phát kiến” thêm một chút, chúng tôi dùng giấy và ngay cả rơm rạ để cuộn lại: loại banh này rất hợp với hai bàn chân quanh năm không biết thế nào là giày dép của chúng tôi! Phải ở vào những năm cuối của bậc tiểu học, thỉnh thoảng có chút tiền túi, chúng tôi mới mua được một trái banh bằng cao su. Nhưng loại banh “trưởng giả” này lại không bền: cứ đụng vào hàng rào có gai là xì hơi. Hôm nào có đứa lượm được hay ăn cắp ở đâu đó một trái banh tennis cũ thì cứ như bắt được vàng. Thứ banh “nhà giàu” này đá mãi mà không mòn và cũng chẳng sợ bể!
Vào thời ấy, chưa có truyền hình, báo chí cũng còn là một thứ xa xí phẩm đối với trẻ con cho nên chúng tôi chỉ biết tin tức thể thao nhờ các bài tường thuật của phóng viên Huyền Vũ mà nhà văn Phan Lạc Phúc gọi là “nhà báo “nói” thể thao hiệt kiệt nhất” của Việt nam. (Phan Lạc Phúc, Tuyển Tập Tạp Ghi) Không cần có mặt trên khán đài, chỉ cần nghe qua giọng nói của ông, người ta cũng vẫn có thể biết được cục diện của trận đấu lúc đó như thế nào. Lũ trẻ chúng tôi cũng biết kê sát tai vào cái máy “ra dô ấp chiến lược” của thời tổng thống Ngô Đình Diệm để biết Việt nam cộng hòa lúc đó có những đội banh nổi tiếng như Cảnh Sát và AJS, cũng như thuộc tên một số danh thủ được người lớn gọi là một cách thân thương là “thằng” như thằng Rạng, thằng Quới, thằng Vinh, thằng Ngôn…Dĩ nhiên, những “thằng” ấy cũng trở thành thần tượng của lũ trẻ chúng tôi. Thằng nào bắt gôn giỏi đương nhiên phải là “thằng Rạng”, thằng nào biết lừa và sút mạnh phải là “thằng Ngôn” v.v…
Lên bậc trung học, chân cẳng bắt đầu có “cựa”, cùng với nghệ thuật nhồi banh ngày càng già dặn hơn, tôi lại thấy nẩy sinh một nhu cầu không thể thiếu của bóng tròn: đó là nhu cầu phải có khán giả. Không gì mất hứng và nhàm chán cho bằng một trận thi đấu mà không có khán giả. Hồi đó, gần sân banh tôi thường tập dượt có một trường nữ trung học. Chỉ cần thấy một bóng áo dài thấp thoáng là chúng tôi đá “chết bỏ” luôn, chứ đừng nói đến những trận đấu có đông khán giả. Gà thì hơn nhau tiếng gáy, các cầu thủ có khi hơn nhau chỉ vì tiếng cổ võ reo hò của khán giả.
Khán giả của bộ môn thể thao nào dường như không ít thì nhiều cũng “tàn nhẫn”. Năm 1985, tôi được đến thăm kinh thành “muôn thuở” Roma. Một trong những di tích gây ấn tượng mạnh nhứt nơi tôi là Hí trường cổ “Coliseum”. Đây là vết tích của thời văn minh cực thịnh của đế quốc La mã, nhưng đồng thời cũng là biểu tượng của những gì là tàn bạo, độc ác, dã man nhứt trong bản tính con người. Những ai đã xem cuốn phim “Gladiator” (Giác Đấu) do tài tử gạo cội của Úc đại lợi là Russell Crowe thủ diễn hẳn đã có một ý niệm về trung tâm “giải trí” độc ác của đế quốc La mã này. Với chiều cao khoảng 64 thước và với 80 lối ra vào, Hí trường Coliseum có thể chứa đến 45 ngàn khán giả. Phần lớn những màn trình diễn tại đây đều là những cuộc tỉ thí của các võ sĩ giác đấu. Họ là những người nô lệ, các tù nhân hay ngay cả những võ sĩ thiện nguyện. Bước vào Hí trường là bước vào cửa tử, cho nên trước khi các trận đấu khai mạc, các võ sĩ thường phải đến trình diện trước hoàng đế và nghiêng mình chào: “Ave Cesar, morituri te salutant” (Muôn tâu thánh thượng, những kẻ sắp chết kính cẩn bái chào Ngài)
Trong những thế kỷ đầu của công nguyên, ngoài các cuộc thi đấu của các võ sĩ giác đấu, các tín hữu Kitô cũng trở thành vật tế thần trong các cuộc vui: người ta  ném họ vào Hí trường để các sư tử xâu xé. Mãi cho đến thế đầu thế kỷ thứ 5, khi Kitô giáo hầu như trở thành quốc giáo trong toàn đế quốc, những cuộc thi đấu và giải trí “chết người” này mới chấm dứt.
Ngày nay, Hí trường Coliseum chỉ còn là một di tích hoang tàn, những khán giả “độc ác” vỗ tay vui cười trước cảnh máu đổ thịt rơi không còn nữa. Nhưng mỗi lần nhìn khán giả trong một trận đấu quyền Anh hay bất cứ môn võ tự do nào, tôi đều liên tưởng đến những cuộc thi đấu tại Hí trường Coliseum của thời đế quốc La mã. Vẫn còn có những khán giả “mua vui” bằng những màn đấm đá đến chết người như thế và cũng còn có những người sống nhờ bằng tiếng cổ võ reo hò của người khác như thế.
Xét cho cùng, trong thể thao, khán giả là một yếu tố then chốt. Những lúc theo dõi các trận thi đấu của World Cup, tôi thường có ý nghĩ: dù tôi chỉ ngồi đơn độc một mình trước màn ảnh truyền hình, tôi cũng góp phần quan trọng vào biến cố này. Dĩ nhiên, “không mợ thì chợ cũng đông.”  Nhưng nếu không có tôi, nếu không có hàng tỷ người trên khắp thế giới thức khuya dậy sớm, nếu không có cái đám đông những người chịu bỏ tiền ra để lặn lội sang tận bên Nam Phi, thì World Cup sẽ chẳng có ý nghĩa gì.
Xét cho cùng thì trong bất cứ bộ môn nghê thuật nào, nếu không có khách thưởng lãm thì chẳng có “ngôi sao” nào chiếu sáng được cả. Không có những người chi tiền ra để mua vé đi xem thì làm gì có những Woods, những Federer, những Nadal, những Sarapova, những Henin…Không có những đám đông “tung hô” thì làm gì có những thần tượng như Elvis Presley, như Michael Jackson. Không có những người chịu bỏ vé đi xem chiếu bóng thì làm gì có những tài tử nổi tiếng.
Người ta thường chỉ thấy các ngôi sao mà không nghĩ đến cái nền trời trong vắt xung quanh. Nó vô hình nhưng lại rất cần thiết. Một hôm, một em bé mẫu giáo hớn hở về nhà khoe với mẹ: “Mẹ ơi, hôm nay con được đóng kịch.” Người mẹ hỏi: “Con đóng vai gì trong vở kịch?” Đứa bé giải thích: “Cô giáo bảo chúng con “vỗ tay” khi các bạn trình diễn.” Vỗ tay cũng là một vai trò quan trọng trong sinh hoạt văn nghệ. Không có tiếng vỗ tay thì buổi trình diễn văn nghệ cũng nhạt nhẽo và người trình diễn cũng không tìm được hứng khởi.
Tôi thường có ý nghĩ ấy mỗi khi tham dự một buổi văn nghệ. Trong một dàn nhạc, bất cứ một nhạc khí nào cũng đều có vai trò và tầm quan trọng riêng của nó. Nhờ các thứ tiếng đệm mà tiếng Solo của những nhạc cụ chính mới nổi lên. Nhưng dĩ nhiên, cần phải có đủ sự thính tai để nhận ra tầm quan trọng của những thứ tiếng đệm ấy.
Trong cuộc sống, có khi cũng phải có một nhận thức tinh tường để thấy được những điều vốn không được hay ít được chú ý đến.
Một du khách nọ dừng chân trước một công trường xây cất. Ông đến trò chuyện với ba người công nhân. Người thứ nhứt kể lể: “Tôi phải nhọc nhằn như thế này mà vẫn không đủ tiền để nuôi sống vợ con.” Người thứ hai hằn học hơn: “Bọn công nhân chúng tôi phải quần quật suốt ngày giữa nắng nôi trong khi cái đám cai thầu thì cứ đứng khoanh tay.” Nhưng người du khách ngạc nhiên không ít khi được nghe người công nhân thứ ba hãnh diện nói: “Tôi đang góp công xây dựng một trong những bệnh viện tối tân nhứt.”
Cả ba người công nhân trên đây đều nhìn không sai về thực tại. Trong cuộc sống, chúng ta thường chỉ thấy điều chúng ta muốn thấy. Muốn vạch lá tìm sâu thì sâu chẳng bao giờ thiếu. Nhưng điều ngược lại cũng đúng. Nếu chúng ta muốn tìm điều phi thường trong cái tầm thường, chúng ta cũng sẽ dễ dàng tìm thấy nó.
Cũng một công việc, nhưng ý nghĩa và tầm quan trọng tùy ở cách nhìn của con người. Cũng một công việc, nhưng có người chỉ thấy gánh nặng và phiền toái, có kẻ nhận ra ý nghĩa và vai trò của mình. Cũng một con người, có kẻ chỉ thấy sự vô duyên bất tài, có người lại nhận ra tài năng, vẻ đẹp hay sự duyên dáng.
Một trong những điểm thu hút sự chú ý của tôi nhứt trong World Cup đó là thành phần gốc Phi Châu của một số đội tuyển như Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Hòa Lan…đó là chưa kể đến nhiều đội tuyển Châu Mỹ La tinh. Cách đây hơn 200 năm, liệu những người gốc Phi Châu này có thể được xem là những đứa con cưng đại diện cho những quốc gia có đa số người da trắng không? Trong tác phẩm “Lettres Persanes” (Thư gởi từ Ba Tư), triết gia Pháp Montesquieu vào thế kỷ thứ 18 đã phải mỉa mai viết rằng họ “đen” đến độ làm sao có thể tưởng tượng được họ có một linh hồn?  Viết như thế triết gia này chỉ muốn lên án thái độ khinh miệt của người thực dân da trắng đối với những người nô lệ da đen. Sở dĩ có những con người bị bắt phải làm nô lệ cho người khác là vì nhân phẩm của họ bị tước đoạt và bị giáng cấp thành súc vật. Phải mất hằng bao thế kỷ nhân loại mới mở mắt để nhận ra rằng dù có đần độn, nghèo cùng, thấp hèn đến đâu mọi người đều được Thượng Đế sinh ra bình đẳng như nhau.
Dù đứng “vỗ tay” từ khán đài hay chỉ âm thầm theo dõi qua màn ảnh truyền hình, tôi vẫn nhận ra rằng mình có một vai trò quan trọng trong các cuộc thi đấu. “Vỗ tay” suy ra cho cùng, đó là một hình thức công nhận và ngợi khen giá trị của người khác. Ai cũng muốn được người khác nhìn ra giá trị của mình và chính sự nhìn nhận ấy mang đến cho họ sự phấn khởi và tự tin. Tôi “vỗ tay” cho những cú banh đẹp như sao xẹt, nhưng đồng thời tôi cũng “vỗ tay” cho những người lao công phải âm thầm dọn dẹp rác rưới, chỉnh trang mọi sự sau mỗi trận đấu, sẵn sàng cho trận kế tiếp. Tôi “vỗ tay” cho những người dân nghèo Nam Phi phải hy sinh quá nhiều cho World Cup mà vẫn vui vẻ.
Sự kiện Nam Phi được chọn để tổ chức World Cup 2010 lần này chắc chắn có một ý nghĩa đặc biệt và không biểu tượng nào tại World Cup này cao cả cho bằng hình ảnh của cựu tổng thống Nelson Mandela, người đã bị giam tù 27 năm vì tranh đấu cho quyền bình đẳng của người da đen tại Nam Phi. Sự kiện này gởi đi cho thế giới một thông điệp thật rõ ràng: mọi người đều sinh ra bình đẳng và mỗi người có một phẩm giá, một chỗ đứng và vai trò độc nhứt vô nhị trong lịch sử nhân loại.
Đó là “tín điều” mà tôi cũng muốn tuyên xưng trong World Cup này.
Suy nghĩ xa hơn, tôi cũng phải nhìn nhận rằng dù có đần độn, ngu dốt, xấu xí, tàn tật, nghèo hèn đến đâu, người nào cũng có một chỗ đứng quan trọng trong “sân đấu” của cuộc đời. Có người hiện diện để cổ võ khích lệ tôi. Có người gợi lên những tình cảm tốt đẹp nhứt trong tôi. Có người thách đố sự thành thật, tính kiên nhẫn, sự tự trọng, lòng cảm thông và tha thứ của tôi. Không một người nào mà không có một cách nào đó nhắc nhở tôi phải sống cho ra người tử tế hơn.
“Tín điều” trên đây cũng mang lại niềm an ủi và lòng can đảm cho tôi. Giá trị của con người không nằm ở quyền lực, địa vị, tiền của hay danh vọng. Không phải ai cũng có thể trở thành “vĩ nhân” được mọi người biết đến. Nhưng mọi người, dù bất tài hay chẳng đạt được thành tựu vẻ vang nào trong cuộc sống, cũng đều có thể là những con người “vĩ đại” vì dám sống một cách phi thường những bổn phận âm thầm, độc điệu, vô danh, nhỏ bé và phiền  toái mỗi ngày của mình. Đó hẳn phải là “trận đấu” cam go và đồng thời cũng là “những đường banh đẹp” nhứt trong cuộc đời của họ.

 Chu Thập, World Cup 2010






Chủ Nhật, 1 tháng 6, 2014

Ve sầu kêu ve ve suốt mùa hè


                                                                           

Được sống gần một lâm viên quốc gia, tôi hưởng được nhiều cái thú. Trước hết, tôi tránh được sự ô nhiễm về âm thanh: ngoài tiếng còi hụ của xe hồng thập tự hay cảnh sát, không có tiếng động cơ nào lọt tới chỗ tôi ở. Thay vào đó, ngày nào tôi cũng thưởng thức được các bản hòa tấu từ cái dàn giao hưởng của chim chóc xung quanh nhà.Phải nói, tuy không có nhiều cây nhiệt đới, nhưng Úc đại lợi cũng vẫn là đất lành chim đậu. Ngoài “tiếng cười” ngạo mạn của loài Kookaburra, tôi còn nghe được đủ mọi giọng ca. Thích nhứt là giọng điệu triết lý của một chú chim nào đó ngày nào cũng nhắc nhở “một xây hai cất, một xây hai cất”.Và thương nhứt là tiếng kêu lanh lảnh và ẻo lả của nàng nào đó “em không lấy chồồ…ng đâu…”.Tùy tháng, tùy mùa trong năm và dĩ nhiên cũng tùy tâm trạng mà tôi có thể nghe đủ mọi tiếng nói của loài chim.Đêm đến thì đến lượt mấy chú chằng hiu trổ tài thổi kèn “thổ dân” đưa tôi vào giấc ngủ.

Ngoài ra, thú vị nhứt khi được ở gần một lâm viên quốc gia là mỗi buổi sáng có thể ra bìa rừng, “vô tư” đứng “tè” vào một gốc cây mà chẳng sợ ai thấy.

Nhưng hạnh phúc trong cuộc đời ngắn ngủi này thường không được suôn sẻ. Những cái thú nhỏ trên đây của tôi sẽ được “trọn vẹn” biết bao nếu mỗi năm đến hè, tôi không bị tra tấn bởi tiếng “ve sầu kêu ve ve suốt mùa hè.”

Lúc ở trung học, đọc bài thơ “Con Ve và Con Kiến” của nhà thơ ngụ ngôn Pháp La Fontaine, được ông Nguyễn văn Vĩnh dịch sang tiếng Việt, tôi thấy thương con ve với kiếp sống vắn vỏi, chỉ biết ca hát một thời gian ngắn rồi trở về với đất mẹ.Tôi thương con ve vì nó là sứ giả của mùa Hè: cứ nghe tiếng ve kêu là biết sắp đến mùa nghỉ “ba căng” (vacances). Mà thật, tiếng ve sầu ở Việt nam, tuy nghe buồn, nhưng được cất lên có lúc có thì trong ngày, chứ không liên tu bất tận như giống ve ở Úc này. Trước kia, tôi cứ nghĩ: ve thì ở đâu cũng giống nhau, cũng đến mùa hè thì kêu và tiếng kêu giống nhau.Nhưng mở tự điển Wikepedia, tra chữ “cicada”, tôi mới biết rằng ve là loài côn trùng “ồn ào” nhứt trên thế giới và riêng tại Úc có đến 200 loại khác nhau.Tôi cũng được biết rằng chỉ có ve đực mới “hát” và nó hát là để tìm một con cái. Nó chỉ sống đủ vài tuần của mùa Hè để “hát” và làm công việc truyền giống.

Chỉ có “hát” và để thực thi cái thiên chức cao cả ấy, mà chúng nó lại ồn ào như thế quả là “mất dậy”.Ve ở Úc mất dậy là vì chúng “hát” liên tục suốt từ sáng sớm cho đến lúc chiều tà.Trời càng nóng thì chúng không “hát” nữa mà là “ré” lên. Mà ngày mùa Hè ở Úc lại dài cho nên phải nghe bài ca bất tận ấy của ve quả là một cuộc tra tấn khủng khiếp.Trong tai tôi, tiếng kêu của ve Úc chẳng khác nào tiếng máy cưa đang xẻ gỗ liên tục. Nó xoáy vào đầu, làm nhức óc không thua gì tiếng mài dũa của mấy ông nha sĩ trên cái răng đau của mình.Và “ấn tượng” của nó thì kéo dài đến độ trong đầu tôi lúc nào cũng có tiếng ve, bất kể ngày đêm.

Nhưng tiếng cưa máy hay tiếng mài dũa của ông nha sĩ thì cũng phải có lúc dừng lại.Đằng này, tiếng ve sầu là vô cùng tận.Đây là một vấn đề không có đáp số. Nó giống như “Đức Chúa Trời ở khắp mọi nơi” mà con nít thường hiểu theo nghĩa đen vậy: không thấy nó ở đâu, không làm sao bắt nó và cũng chẳng làm sao bắt nó ngưng kêu được.

Thấy tôi cứ khốn khổ vì tiếng ve, nhà tôi dỗ dành: “Thôi 'ignore' nó, coi nó như “nơ pa” là xong chuyện!”Lời khuyên của nhà tôi làm tôi nhớ lại cái giọng đặc sệt miền Trung của một ông bạn lúc nào cũng lạc quan của tôi. Đứng trước bất cứ khó khăn hay bất bình nào, hắn ta cũng lên giọng: “nhằm nhò gì ba cái chuyện lẻ tẻ”.

Nhưng với tôi thì quả tiếng ve kêu không phải là chuyện nhỏ. Tôi nhớ lại câu nói của ông Baden Powell, ông tổ của Hướng Đạo Sinh Thế Giới, mà một giáo sư việt văn của tôi đã có lần đưa ra như một đề tài “bình giải”: “Làm đau chân bạn không phải là chông gai trên đường, mà là hạt cát nhỏ trong giày bạn”. Nhân dịp này, sau khi trả lại bài làm của chúng tôi, thày tôi mới dẫn giải cho chúng tôi nghe về những khó khăn tưởng là nhỏ trong cuộc sống, nhưng có thể dẫn đến vô số thất bại lớn trong cuộc đời hoặc có những nguyên nhân tưởng là không đáng kể nhưng lại dẫn đến đại họa cho cả nhân loại.Tôi vẫn nhớ mãi câu nói của nhà toán học kiêm triết gia Pháp Blaise Pascal: “Nếu cái mũi của hoàng hậu Cleopatra dài hơn một chút thì có lẽ bộ mặt của trái đất đã thay đổi”. Không rõ hư thực ra sao, nhưng có người cho rằng vì bị lây bệnh hoa liễu từ một cô gái điếm người Do Thái, mà nhà đồ tể Adolf Hitler đã trút hết sự thù hận lên cả dân tộc Do Thái.

Tôi nghĩ: giả thuyết ấy không hẳn là điều huyễn hoặc. Những chuyện phiền toái nhỏ trong cuộc sống thường ảnh hưởng đến cá tính và cả cuộc sống con người.

Là một tín hữu Kitô, nhưng tôi lại có lòng bái mộ cách đặc biệt đối với Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng. Nếu có một Phật sống thì ngài chính là con người ấy.Lúc nào trên môi ngài cũng nở nụ cười và truyền đi sứ điệp của nhân ái, cảm thông, kiên nhẫn và chấp nhận. Hẳn đã từng trải qua những năm tháng đày khó khăn và thử thách bên Ấn Độ, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã có lần tuyên bố: “Nếu bạn nghĩ rằng những chuyện nhỏ không đáng kể, bạn hãy thử ngủ trong một cái mùng với một con muỗi thôi”.Vị Phật sống này hẳn đã dày công tu luyện mới có thể lúc nào cũng nhận ra cái đáng quan tâm của chuyện nhỏ và lúc nào cũng tự chủ được trong chuyện nhỏ.

Quả thật, chuyện nhỏ không còn là chuyện nhỏ nếu người ta không tự chế được trong chuyện nhỏ. Trong cuốn sách có tựa đề “Don’t Sweat the Small Stuff” (Đừng quá lo về chuyện nhỏ) của tiến sĩ Richard Carlson mà đã có một thời tôi xem như sách gối đầu giường, tôi vẫn nhớ rõ những nhận xét mở đầu của tác giả: “mỗi khi  nghe một tin xấu, gặp một người khó tính hay lâm vào một hoàn cảnh phật ý nào đó, hầu hết trong chúng ta đều đi vào một số thói quen, một số phản ứng trước cuộc sống vốn không mang lại lợi ích nào cho chúng ta. Chúng ta có phản ứng quá đáng; chúng ta thổi phồng sự kiện và chỉ chú trọng đến những khía cạnh tiêu cực của cuộc sống…Khi bị những việc nhỏ làm cho bất động, chúng ta không còn nhìn thấy bức tranh toàn cảnh, mà chỉ tập trú vào cái tiêu cực và làm phiền những người vốn có thể giúp đỡ chúng ta.”

Trong phần nhập đề của cuốn sách, tác giả trích dẫn câu nói của triết gia William James như sau: “Khám phá lớn nhứt của thế hệ tôi là người ta có thể thay đổi cuộc sống bằng cách thay đổi thái độ”.

Thay đổi thái độ, theo tôi, trước tiên là biết quan tâm đến chuyện nhỏ trong cuộc sống. Mới đây, tôi có đọc một cuốn sách có tựa đề “The Power of Small” (sức mạnh của cái nhỏ) của hai tác giả Linda Kaplan Thaler và Robin Koval, do nhà xuất bản Allen&Unwin phát hành. Trong nhiều mẩu chuyện nhỏ được hai tác giả ghi lại để chứng minh “sức mạnh của cái nhỏ”, tôi thích nhứt câu chuyện sau đây:

Simone và Jake là một cặp tình nhân đã hẹn hò từ gần hai năm qua.Trong ánh mắt của cô gái, hai người rất xứng đôi vừa lứa.Cô xác tín rằng Jake là người trong mộng của cô. Nhưng người thanh niên lại không sẵn sàng để tiến tới hôn nhân. Mỗi lần cô gái nói đến chuyện hôn nhân, anh đều tìm cách lảng sang chuyện khác.
Thời gian trôi qua.Simone bắt đầu mất kiên nhẫn. Cuối cùng, cô quyết định phải nói rõ cho người yêu biết: hoặc là tiến tới hôn nhân hoặc là chia tay. Cô biết rằng chia tay là chuyện đau lòng, nhưng cô không còn chọn lựa nào khác.
Một buổi tối nọ, hai người có hẹn đi ăn với nhau.Trên đường đến tiệm ăn, họ thấy có một người đàn ông vô gia cư đang đứng rét run giữa gió lạnh của mùa Đông.
Thình lình, cô gái nói với người yêu:“Anh đứng chờ em một lát.” Nói xong, cô băng qua đường và bước vào một tiệm bán quần áo.Một lúc sau cô trở lại với một bao lớn trong đó có một chiếc áo lạnh và một ít thức ăn.Cô đến gần người đàn ông vô gia cư và trao món quà cho ông.Rồi hai người bước vào tiệm ăn. Simone xem bữa ăn tối như cơ hội cuối cùng để nói cho người yêu biết ý định của mình.

Lấy hết can đảm, cô lên tiếng: “Jake, em có điều muốn nói với anh”. Nhưng người thanh niên đã không cho cô gái nói hết lời. Anh nói: “Anh cũng có điều muốn nói với em, hãy cho anh nói trước!” Và cúi người sát bên người yêu, anh cất giọng thành  khẩn: “Anh không có mang theo nhẫn đính hôn. Anh xin lỗi em. Nhưng anh muốn hỏi em: em có muốn lấy anh không?”
Cô gái sửng sốt hỏi lại: “Tại sao anh lại ngỏ ý vào lúc này?” Chàng trai giải thích: “Lúc nãy, khi thấy em tặng cho người đàn ông vô gia cư chiếc áo ấm và thức ăn, anh nghĩ: “Làm sao tôi lại không thể sống hạnh phúc hết đời mình với một người như thế này?”
Khỏi nói, cô gái đã gật đầu ưng thuận. Hiện nay hai người đang sống hạnh phúc bên nhau với ba đứa con tuyệt vời”.

Hai tác giả của cuốn sách “Sức mạnh của cái nhỏ” giải thích: “Phản ứng của Simone đối với người đàn ông vô gia cư không phải là một phản ứng có suy tính trước. Nó chỉ là một hành động nhỏ và tự phát, nhưng có những âm hưởng lớn đối với cái nhìn của Jake. Cử chỉ tử tế tự nhiên của cô đã đánh động người yêu không khác gì một cú sét đánh: tất cả những gì anh muốn biết về 20 năm tới của anh đã hiện ra ngay trước mắt anh. Cử chỉ nhỏ ấy đã giúp anh biết về người yêu nhiều hơn cả ngàn lần họ nói chuyện với nhau.”

Những cử chỉ tử tế nhỏ không những thay đổi thái độ của một con người, mà cũng có sức làm rung chuyển cả thế giới. Như Scott Adams đã nói: “Không có cử chỉ tử tế nhỏ bé nào là hành vi nhỏ bé cả”. Như một viên đá ném xuống mặt hồ yên lặng, mỗi một hành vi đều có thể tạo ra những chấn động vô cùng tận.Với ứng dụng của thuyết tương đối của nhà bác học Albert Einstein, thế giới đã chứng kiến được sức mạnh của “nguyên tử” khi nó được tách ra.

Mỗi người sinh ra trên cõi đời này chẳng khác nào một nguyên tử nhỏ bé. Nhưng mỗi người đều có “sức mạnh” để tàn phá hay để lại một thế giới tốt đẹp hơn.

Các vị nguyên thủ của 197 quốc gia trên thế giới đang tham dự hội nghị thượng đỉnh Copenhagen để tìm kiếm một giải pháp cho những thay đổi thời tiết. Rất thường, chúng ta nghĩ rằng những thách đố toàn cầu chỉ có thể giải quyết được bởi những nhà lãnh đạo có viễn kiến, những phương thế vĩ đại và các cuộc hội nghị thượng đỉnh.Thật ra, mỗi người đều có một chỗ đứng trên trái đất này và mỗi người đều có thể và phải góp phần vào việc giải quyết những vấn đề của thế giới. Chúng ta không có đủ khả năng để đề ra những chương trình vĩ đại. Chúng ta chỉ có thể làm được mỗi một điều là: làm những cử chỉ tử tế nhỏ trong cuộc sống mỗi ngày. Đó là những sức mạnh “nguyên tử” có sức làm thay đổi bộ mặt của thế giới.

Trong bài viết có tựa để “Chuyện Chiếc Cầu”, được đăng trên nhiều trang mạng tiếng Việt, tác giả Trần Bình Nam nói đến cuộc cách mạng vĩ đại mà các thiếu nữ Ấn độ đang thực hiện: họ đòi hỏi người đàn ông nào muốn cưới họ phải xây trong nhà một “cầu tiêu”. Cầu tiêu hay nhà vệ sinh trong nhà không chỉ là một tiện nghi của văn minh, mà còn là biểu hiện của sự giải phóng mà người phụ nữ Ấn độ đang tranh đấu cho. Hiện nay người ta đang nói đến cuộc cách mạng vĩ đại mà các phụ nữ Ấn độ đang làm dấy lên. Chuyện tưởng trong nhà hay trong xó bếp đã trở thành biểu tượng của một cuộc cách mạng vĩ đại cần thiết cho đất nước này.

Trước đây, một người phụ nữ nhỏ bé tại nước này cũng đã làm được một cuộc cách mạng tuy âm thầm, những vô cùng vĩ đại. Người phụ nữ ấy là Mẹ Terexa Calcutta: công việc âm thầm nhỏ bé của Mẹ trong các khu ổ chuột của Calcutta đã giúp cho bao nhiêu người nghèo khổ tại Ấn Độ và trên khắp thế giới ngày nay được chăm sóc và được chết một cách xứng với phẩm giá con người.

Tất cả bí quyết của người nữ tu nhỏ bé này được tóm trong câu: “Trên thế giới này, chúng ta không làm được những điều vĩ đại. Chúng ta chỉ làm những việc nhỏ với một tình yêu vĩ đại mà thôi”.

Việc nhỏ mà không nhỏ: xin cám ơn những con “ve sầu kêu ve ve suốt mùa hè” đã gợi lên cho tôi chân lý ấy.
 Chu Thập14.12.2009