Thứ Năm, 28 tháng 5, 2020

Tôn giáo thời Cô Vi



29/5/20

Thời đại dịch, mọi thứ đều thay đổi. Kể cả sinh hoạt tôn giáo. Từ vài tháng nay, mấy ông bạn già công giáo của tôi không cần phải tới nhà thờ vào mỗi cuối tuần nữa: ngồi nhà chú mục vào màn ảnh truyền hình, vừa rung đùi vừa “xem lễ” mà vẫn thấy tham dự đầy đủ vào “các phép” trong đạo!
Sinh hoạt tôn giáo là một nhu cầu thiết yếu của người có niềm tin tôn giáo. Bỏ nước ra đi, các tín đồ Việt Nam thường tìm đến định cư ở những nơi nào có chùa chiền, đền thờ, thánh thất, giáo đường và nhứt là có đông người đồng hương để tham dự các sinh hoạt tôn giáo. Đến nơi thờ phượng không chỉ để thỏa mãn nhu cầm tâm linh, mà còn để có được chút hơi ấm của tình đồng hương, bảo tồn ngôn ngữ, văn hóa và những giá trị truyền thống của dân tộc. Có người còn tìm đến các sinh hoạt tôn giáo với một mục đích thầm kín khác. Một ông bạn người Úc của tôi tâm sự rằng lúc nhỏ ông đã được nuôi dạy trong một môi trường thuần công giáo: học trường công giáo, đi lễ mỗi ngày chúa nhựt. Nhưng ông thú nhận rằng ở tuổi đôi mươi, ông háo hức đến nhà thờ mỗi ngày chúa nhựt là chỉ để nhìn ngắm đàn bà con gái!
Nhưng sinh hoạt tôn giáo không chỉ là một nhu cầu, mà còn là một nghĩa vụ. Ngay từ thuở nhỏ, tôi đã được uốn nắn để lúc nào cũng xem sinh hoạt tôn giáo trước hết như một nghĩa vụ. Một cách cụ thể, tôi đã được dạy rằng thánh lễ chúa nhựt là một “lễ buộc”. Bà mẹ đạo đức của tôi luôn đe dọa rằng bỏ “lễ buộc” là phạm tội trọng và hễ phạm tội trọng mà lỡ chết tươi ăn năn tội chẳng kịp thì sẽ sa hỏa ngục đời đời kiếp kiếp chẳng cùng! Nghe khiếp quá cho nên có lười biếng và ham chơi cỡ nào, tôi cũng không bao giờ dám bỏ lễ chúa nhựt.
Cùng với lời đe dọa của mẹ tôi, tôi còn phải chịu sự rình mò theo dõi của các “công an tôn giáo” là các bà xơ và ông cha sở. Đây là những ông kẹ bà chằng lúc nào cũng giám sát chặt chẽ các sinh hoạt tôn giáo của tôi. Lúc nhỏ tôi đã chịu không biết bao nhiêu trận đòn chí tử trước mặt những đứa trẻ khác chỉ vì cái tội bỏ học giáo lý và trốn tránh các sinh hoạt tôn giáo khác ở nhà thờ. Bị đòn giữa nhà thờ, có lúc tôi cũng ngước mắt nhìn lên Chúa, nhưng dung mạo của Chúa mà tôi thấy được qua dòng nước mắt lại được phản ảnh qua hình ảnh hung bạo của ông cha sở và các bà xơ. Trong trí tưởng tượng của tôi, Chúa là một ông già râu tóc bạc phơ, trên tay lúc nào cũng cầm cây gậy và ánh mắt dữ dằn lúc nào cũng rình rập săm soi mọi sự “trong ngoài” của tôi để trừng phạt hơn là yêu thương. Nói cho cùng, tôi đã “giữ đạo” vì sợ hơn vì mến. Sách Châm Ngôn trong Kinh Thánh của Do Thái và Kitô Giáo đã chẳng dạy rằng “kính sợ Thiên Chúa là khởi đầu của sự khôn ngoan” (Châm Ngôn 9,10) đó sao?
Trong những suy tư về niềm tin tôn giáo của mình, tôi thường tự hỏi: niềm kính sợ Thiên Chúa đã được người lớn nhồi nhét vào  đầu óc thơ dại của tôi hay nó đã có sẵn trong máu của tôi?
Những cuộc nghiên cứu trong một số lãnh vực như khảo cổ học, xã hội học, nhân chủng học...về cuộc sống của những người sống vào thời hái lượm cho thấy rằng các tổ tiên tiền sử của loài người không hề có tôn giáo. Họ cũng tin có những thần linh vô hình đàng sau những sức mạnh của thiên nhiên. Nhưng ý niệm về một Đấng trên đầu trên cổ luôn có mặt để theo dõi và xét xử con người thì hoàn toàn xa lạ với họ. Họ không cần có một niềm tin vào Thiên Chúa hay một Đấng Tối Cao nào đó để theo dõi họ. Trong những bộ lạc nhỏ bé của họ, mọi người đều biết nhau; chẳng có gì là bí ẩn đối với nhau. Nói cách khác, họ không cần có một Đấng từ trên trời cao nhìn xuống  để theo dõi, giám sát và điều hợp thói ăn nết ở của họ.
Chỉ cách đây khoảng 10.000 năm, khi nông nghiệp xuất hiện thì các tôn giáo có tổ chức mới phát sinh. Biết canh tác cũng có nghĩa là có dư thừa thực phẩm có thể nuôi sống nhiều người một lúc. Làng mạc và đô thị càng phát triển thì con người càng trở thành xa lạ với nhau và cũng dễ có khuynh hướng vì tư lợi mà hãm hại người khác. Đó là định nghĩa dễ hiểu nhứt về thế nào là sự dữ và điều ác. Cảnh sát không phải lúc nào cũng có mặt khắp nơi để giữ gìn an ninh và trật tự trong xã hội. Chỉ còn mong đợi có một Đấng Toàn Năng và Toàn Tri may ra mới có thể làm điều đó. Chính vì vậy mà các nền văn minh của nhân loại mới “phát minh” ra các thần linh hay một Đấng Tối Cao để khuyến khích hay buộc con người phải biết ăn ngay ở lành, làm điều thiện và tránh điều ác và nhờ vậy mới bảo đảm được trật tự xã hội.
Ngay từ Thế kỷ 18, triết gia Pháp Voltaire đã muốn giải thích về nguồn gốc của tôn giáo khi ông nói: “Nếu Thiên Chúa không hiện hữu, thì  cần phải tạo ra Thiên Chúa” (1).
Theo Kinh Thánh, “Thiên Chúa đã tạo dựng con người” (Sáng Thế Ký 1, 26). Nhưng lịch sử nhân loại dường như lại nói với tôi rằng chính con người mới tạo dựng Thiên Chúa và vẽ cho Ngài một dung mạo với đủ mọi hình thái có khi hoàn toàn đối nghịch nhau. Thiên Chúa của dân tộc này ra lệnh tàn sát dân tộc của một Thiên Chúa khác.
Cứ mỗi lần xảy ra ôn dịch hay đại dịch, tôi cũng thường nghĩ đến Thiên Chúa do con người tạo ra. Oberammergau là một trong những thị trấn nổi tiếng nhứt của Đức. Nổi tiếng nhờ vở tuồng “Cuộc Tử Nạn của Chúa Giêsu” do chính người dân thị trấn đồng diễn xuất cứ 10 năm một lần và là cơ hội để thu hút du khách từ khắp nơi trên thế giới. Lẽ ra năm 2020 này là năm thị trấn Oberammergau trình diễn vở tuồng này, nhưng vì đại dịch Covid-19 vở tuồng được dời vào năm 2022. Vở tuồng huy động đến 3000 diễn viên vốn là người dân của thị trấn. Những diễn viên chính trong vở tuồng sẽ phải tập dượt và nhập vai trong suốt 10 năm ròng rã!
Theo truyền tụng, vào năm 1633, một trận dịch đã càn quét làng Oberammergau. Chỉ trong 33 ngày, đã có 81 người, tức một nửa dân số trong làng, bị thiệt mạng. Những người còn sống sót liền bày tỏ cam kết với Thiên Chúa rằng nếu Ngài tha mạng cho họ thì cứ mỗi 10 năm kế tiếp, họ sẽ diễn lại cuộc tử nạn của Chúa Giêsu. Sau khi dân chúng dâng lên Thiên Chúa lời khấn nguyện đó, Thần Chết đã không còn bắt thêm một người nào nữa và đúng như cam kết, năm sau người dân làng Oberammergau đã trình diễn vở tuồng ấy. Từ đó cho đến nay, vì hoàn cảnh hoặc vì lý do bất khả kháng, vở tuồng đã bị đình hoãn nhiều lần, nhưng thị trấn Oberammergau vẫn cố gắng giữ truyền thống và lời cam kết của họ với Thiên Chúa, một Thiên Chúa mà người ta luôn tin là có vai chủ động trong  ôn dịch hay chiến tranh của con người (2).
Trong đại dịch Covid-19 hiện nay, tôi cũng nhớ lại quyển tiểu thuyết “Dịch Hạch” (La Peste) nổi tiếng của nhà văn Pháp Albert Camus (1913-1960) mà tôi đã có dịp đọc trong những năm cuối của thập niên 1960 khi tập tễnh làm quen với trào lưu triết học hiện sinh. Theo một trong những nhân vật chính của quyển tiểu thuyết là linh mục Paneloux, ôn dịch là một sự trừng phạt của Thiên Chúa đối với những kẻ cứng lòng tin nơi Ngài. Chứng kiến cái chết của một đứa trẻ, vị linh mục tuyên bố rằng đây là ý Chúa. Ông kêu gọi giáo dân hãy chấp nhận điều đó. Bị lây nhiễm, thay vì gọi bác sĩ đến, ông đặt niềm tin tưởng nơi Thiên Chúa và nằm chờ Ngài đến cứu chữa. Và ông đã chết trong niềm tin tưởng ấy!
Tôi không biết có nên so sánh niềm tin của linh mục Paneloux trong quyền tiểu thuyết “Dịch Hạch” với thái độ thách thức của một số nhà lãnh đạo tinh thần ở Mỹ trong thời đại dịch hiện nay không. Một trong các nhà lãnh đạo Tin lành nổi tiếng ở Mỹ trong thời đại dịch này là mục sư Ralph Drollinger. Theo ông, đại dịch đang hoành hành tại Mỹ hiện nay là biểu hiện của “cơn thịnh nộ của Thiên Chúa”. Trong một lần thuyết giảng cho các nhân viên Tòa Bạch Ốc, ông quy trách cơn đại dịch cho những người đồng tính, những người tranh đấu để bảo vệ môi sinh cũng như những người mà ông gọi là “có đầu óc bại hoại”. Theo một cuộc thăm dò mới đây do hãng thông tấn AP thực hiện, có đến hai phần ba tín hữu Kitô, phần lớn là Tin Lành, tin lời của vị mục sư này. Trong số này, không thiếu người cho rằng thuốc chủng ngừa Covid-19 có thể là một cuộc tấn công nhắm vào Kitô Giáo.
Bất chấp lệnh đóng cửa tại nhiều tiểu bang, một số vị mục sư đã mở cửa nhà thờ để tổ chức việc thờ phượng. Người ta dựa vào Thánh Vịnh 91 trong Kinh Thánh để bày tỏ niềm tin tưởng vào Thiên Chúa: “Bạn không sợ cảnh hãi hùng đêm vắng hay mũi tên bay giữa ban ngày, cả dịch khí hoành hành trong đêm tối, cả ôn thần sát hại lúc ban trưa. Dù tả hữu có ngàn người quỵ ngã, dù hai bên có chết vạn người, riêng phần bạn, tuyệt nhiên không hề hấn”. Với niềm tin tưởng ấy, tại Tiểu bang Virginia, một vị giám mục Tin Lành đã tuyên bố: “Thiên Chúa vĩ đại hơn con siêu vi”. Và ông sẵn sàng đi tù hay vào nhà thương chớ không chấp nhận bị cấm cố trong thời đại dịch. Ngày 15 tháng Ba, ông đã công khai tổ chức một buổi thờ phượng với sự tham dự của khoảng 200 giáo dân. Một tháng sau đó, ông qua đời vì Covid-19. Tại Mỹ, đã có hàng tá nhà lãnh đạo tôn giáo chết vì không chấp nhận lệnh cấm cố trong thời đại dịch (3). Mới đây, ở Đức, tin tức cho biết cũng có nhiều người bị lây nhiễm vì tham dự các buổi thờ phượng bất chấp lệnh cấm cố.
Theo dõi cung cách thể hiện niềm tin tôn giáo trên đây, tôi không thể không nghĩ đến câu nói của nhà bác học lừng danh của Thế kỷ 20 là Albert Einstein: “Tôn giáo không có khoa học là tôn giáo mù quáng”.
Là người có niềm tin tôn giáo, tôi thường lấy câu chuyện sau đây ra nghiền ngẫm: “Một tín đồ nọ tin tưởng rằng Thiên Chúa luôn che chở và cứu thoát mình khỏi mọi nguy biến. Một trận lũ lụt xảy đến. Trong khi mọi người di tản thì ông lại leo lên mái nhà để chờ đợi Thiên Chúa đến cứu thoát. Nhiều đoàn cứu thương đã đi rảo qua khắp làng để tìm kiếm những người cuối cùng. Ngay cả một chiếc trực thăng cũng bay lượn mấy vòng. Nhưng mặc cho lời kêu gọi di tản, người tín đồ cứ ngồi chờ trên nóc nhà. Nước lũ ngày càng dâng cao và cuối cùng nhận chìm ông trong dòng nước. Ra trình diện trước mặt Thiên Chúa, người tín đồ trách móc tại sao Thiên Chúa đã không đích thân đến cứu thoát một người đặt niềm tin tuyệt đối vào Ngài như ông. Thiên Chúa mới trả lời: Ta đã cho mấy đoàn cứu thương đến tìm người. Ta cũng đã cho cả một chiếc trực thăng đến nài nỉ ngươi. Vậy mà ngươi có chịu lắng nghe lời Ta đâu!”





1.                                                  https://www.psychologytoday.com/us/blog/talking-apes/202005/when-god-is-watching-you-in-the-bedroom
2.                                                    https://en.wikipedia.org/wiki/Oberammergau_Passion_Play











Thứ Hai, 18 tháng 5, 2020

Tự do của tôi thời Cô Vi





Trong cố gắng tự túc và chạy theo cao trào “hữu cơ”, ngoài cây trái nhiệt đới và rau xanh đủ để có “mùa nào thức ấy”, tôi còn nuôi 5 chị gà mái. Nói theo ngôn ngữ nhà đạo của tôi, mấy chị gà mái này tuy đẻ trứng liên tục, nhưng vẫn thuộc loại “trọn đời đồng trinh sạch sẽ”.  Không biết từ thuở nào, cái thiên chức làm mẹ của mấy chị đã bị tước đoạt. Hội đồng thị xã của tôi lại cấm nuôi gà trống. Nhưng thỉnh thoảng tôi cũng xé rào thả một chú gà trống vào vui chơi với mấy chị một thời gian ngắn. Chị nào cũng hí ha hí hửng. Có chị hễ thấy chú gà trống xáp lại là nằm rạp xuống trong tư thế hiến dâng trọn vẹn. Trông thật  tội nghiệp! Nhưng dù sao, mấy chị gà mái của tôi vẫn có đủ một không gian thông thoáng vừa đủ để đi bộ và bới móc. So với cậu chó nhà tôi, các chị gà mái dường như vẫn tỏ ra bằng lòng với số phận làm gà “đi bộ” của mình hơn!
Cậu chó nhà tôi, vốn là thú cưng cho nên được cưng tới bến. Đồ ăn thức uống lúc nào cũng đầy đủ. Mỗi tuần nhà tôi tắm cho cậu một lần. Thỉnh thoảng cậu còn được đưa đến “viện thẩm mỹ” để được làm đẹp. Phía sau nhà tôi là cả một khu rừng vắng. Mỗi ngày cậu được tự do leo đồi xuống núi để săn đuổi  mấy con gà lôi rừng (bush turkey) mắc dịch chuyên phá hoại vườn tược của tôi. Mỗi buổi chiều cậu còn được nhà tôi dẫn đi dạo một vòng. Đây là lúc tôi thấy thương cậu chó nhà tôi nhứt: dù có được săn sóc và cưng chiều cỡ nào, cậu vẫn cảm thấy cô đơn. Mỗi ngày cậu ngồi buồn bã trong căn nhà nhỏ của cậu và trông ngóng từng  giây từng phút để được có người đến hỏi chuyện hay dắt đi chơi. Mà đi chơi thì có được tự do đâu: cậu phải bị tròng vào cổ một sợi giây và đi theo chủ! Tôi tin chắc là cậu rất buồn khi phải làm kiếp thú cưng, thui thủi một mình suốt ngày. Ngoài ra, đáng thương hơn cả là cậu chó nhà tôi không được sống trọn vẹn cái kiếp chó của mình. Không rõ từ lúc lên mấy tháng tuổi, cậu đã bị người chủ cũ bắt phải làm “hoạn quan” suốt đời. Nếu so với giống chó cỏ được nuôi ở quê tôi, thì quả thật, cậu chó cưng nhà tôi khốn khổ hơn nhiều. Chó ở nhà quê tôi được thả chạy rong, đi dạo chơi  suốt ngày từ nhà này sang nhà khác để “giao lưu” với bạn bè hàng xóm. Mỗi tháng Bảy về thì khỏi nói: các cô cậu chó trong xóm tôi họp quần lại để liên hoan thâu đêm suốt sáng và nhờ vậy dòng dõi nhà chó mới được truyền tử lưu tôn. Dù không được nuôi dưỡng đầy đủ, các cô cậu chó ở quê tôi xem ra có một cuộc sống xứng với “phẩm giá” của chó hơn!
Tôi không ghi danh vào bất cứ hội tranh đấu cho thú quyền nào cả. Nhưng cứ nhìn theo quan điểm của những nhà tranh đấu cho thú quyền thì quả thật việc tôi cướp đoạt thiên chức làm mẹ của mấy chị gà mái và nhứt là cưỡng bách cậu chó nhà tôi phải suốt đời sống cô đơn và độc thân thì đây hẳn phải là một hành động vi phạm thú quyền. Với tôi, nếu đi cho đến tận cùng của lý luận thì vừa tranh đấu cho thú quyền vừa nuôi thú cưng là một hành động đầy mâu thuẫn!
Thú vật mà còn được tranh đấu cho để được tôn trọng trong thú quyền thì huống chi là con người. Trong các quyền con người thì dĩ nhiên quyền sống là căn bản và quan trọng nhứt. Ngày nay tại một số nước Tây Phương, nhứt là tại Hoa Kỳ, tranh đấu cho quyền sống và chống phá thai đã trở thành một lá bài ăn khách trong sinh hoạt chính trị. Chính trị gia nào hô hào tranh đấu cho quyền sống và chống phá thai có nhiều may mắn để kiếm phiếu từ những cử tri có tôn giáo và bảo thủ hơn các chính trị gia khác.
Theo dõi các cuộc xuống đường đòi hỏi chính quyền của một số tiểu bang ở Mỹ  phải hủy bỏ lệnh đóng cửa trong thời đại dịch, tôi thấy rùng mình khi nhìn thấy hình ảnh của súng ống và một số khẩu hiệu vốn dễ làm cho một người tỵ nạn công sản như tôi bị dị ứng. Có nơi người ta giơ cao hiệu lệnh “Hãy giải phóng” (Liberate) của Tổng thống Donald Trump. Đã nếm mùi “giải phóng” của mấy ông cộng sản Việt Nam, hễ nghe nói đến “giải phóng” là tôi run. Có nơi, đoàn người biểu tình còn giương cao khẩu hiệu bằng tiếng Đức “Arbeit macht frei” nghĩa là “Lao động giải phóng” được Đức Quôc Xã cho treo lên ở cổng của các trại tập trung. Thế giới vừa kỷ niệm 75 năm Đệ nhị Thế chiến kết thúc. Thảm kịch của 6 triệu người Do Thái và vô số nạn nhân khác bị Đức Quốc Xã tàn sát không thể không hiện về trong ký ức tập thể của nhân loại. Với riêng tôi, khẩu hiệu “Lao động giải phóng” còn gợi lại câu thần chú “Lao động là vinh quang” mà mấy ông bà cộng sản Việt Nam đã tụng niệm để đẩy bao nhiêu người lên vùng kinh tế mới cho chết dần chết mòn với đói khát và đủ mọi thứ bệnh tật.
Khẩu hiệu “Lao động giải phóng” được giương cao trong các cuộc biểu tình đòi hỏi phải mở cửa kinh tế bằng mọi giá ở Mỹ không thể không gợi lại cho tôi chủ trương độc ác vô nhân đạo và giả nhân giả nghĩa của Đức Quốc Xã là: tiêu diệt những thành phần yếu kém và dễ bị tổn thương nhứt trong xã hội!  Với những người biểu tình đòi mở cửa kinh tế bằng mọi giá ở Mỹ, khẩu hiệu ấy có nghĩa là: phải hy sinh một số thành phần yếu kém trong xã hội để cho người khỏe mạnh được sống! Vô tình hay hữu ý, người ta lập lại câu nói nổi tiếng trong quyển tiểu thuyết giả tưởng “Trại súc vật” (Animal Farm) của nhà văn Anh George Orwell: “Tất cả mọi thú vật đều bình đẳng, nhưng có một số thú vật bình đẳng hơn”.
Trong các chính trị gia Mỹ đứng đàng sau những cuộc biểu tình đòi hỏi phải mở cửa kinh tế bằng mọi giá, ngoài Tổng thống Trump, tôi đặc biệt chú ý đến dân biểu Trey Hollingsworth, đại diện cho một đơn vị ở  Tiểu bang Indiana. Ông dân biểu này nổi tiếng là người tranh đấu cho quyền sống và chống phá thai. Năm 2017, ông đã tuyên bố rằng thai nhi là “quà tặng của Thượng Đế” và cam kết bẳng mọi giá “sẽ tiếp tục tranh đấu cho sự thánh thiêng của sự sống con người”. Nhưng trong các cuộc biểu tình đòi hỏi phải mở cửa kinh tế bằng mọi giá thì ông lại chủ trương vì kinh tế của đất nước và vì lợi ích của phần lớn người Mỹ, cần phải hy sinh những thành phần yếu kém và dễ bị tổn thương nhứt trong xã hội. Chủ trương như thế thì đâu có khác gì vừa tranh đấu cho thú quyền vừa nuôi thú cưng! (1)
Sự sống của con người là thánh thiêng. Tôi luôn tin như thế. Thánh thiêng từ lúc xuất hiện trong lòng mẹ cho đến lúc chết tự nhiên. Sự sống của thai nhi trong lòng mẹ thánh thiêng bao nhiêu thì sự sống của những thành phần yếu kém và dễ bị tổn thương nhứt  trong xã hội cũng thánh thiêng bấy nhiêu.
Trong thời đại dịch này, tôi đặc biệt nghĩ đến sự sống của những người nghèo khổ và cách riêng những người già cả trong các viện dưỡng lão. Trên toàn nước Úc, tính đến nay con số người bị nhiễm Covid-19 chỉ trên dưới 7000 người. Trong số này có đến 90 phần trăm đã bình phục và số người thiệt mạng cũng chỉ suýt soát 100 người. Chính phủ Úc có đủ lý do để hãnh diện vì đã thành công trong việc đối phó với cơn đại dịch. Nhưng cho tới nay tôi chưa thấy có nhà lãnh đạo nào trong chính phủ Úc khoe khoang về thành tích này. Riêng Thủ tướng Scott Morrison cũng chẳng phải họp báo mỗi ngày để khoe mẻ. Duy có một lần ông làm cho cả nước xúc động khi nói rằng ông không cầm được nước mắt khi chứng kiến cảnh người dân Úc không được đến gần người thân trong những giây phút cuối đời và tiễn đưa họ đến nơi an nghỉ cuối cùng. Tôi chưa từng nghe thấy một giọt nước mắt nào như thế nơi Tổng thống Trump. Báo The Washington Post đã phân tích hơn 13 giờ họp báo của ông về đại dịch Covid-19 tại Mỹ.  Ông chỉ bỏ ra một phần trăm của thời lượng ấy để chia buồn với các nạn nhân của đại dịch. Toàn bộ các cuộc họp báo, ông dành để khoe thành tích và vận động bầu cử (2).
Thủ tướng Morrison không phải là một nhà lãnh đạo được đa số dân Úc ủng hộ. Nhưng ít ra nơi ông tôi vẫn còn nhìn thấy được một trong những đức tính quan trọng nhứt của một nhà lãnh đạo. Đức tính đó là sự đồng cảm. Trong thời đại dịch, mỗi cái chết là một thảm kịch chớ không phải là một con số để đo lường sự thành công của một chính phủ. Trong thời đại dịch, cái chết nào cũng là một thảm kịch và thảm kịch lại càng đau đớn hơn khi đó là cái chết của một người nghèo khổ vô phương tự vệ, nhứt là những người già trong các viện dưỡng lão, những người đã đóng góp cả một đời cho xã hội. Họ xứng đáng hưởng một cuối đời an bình và thanh thản.
Với tôi, sự đồng cảm phải là căn cước của một nhà lãnh đạo. Nhưng không riêng các nhà lãnh đạo quốc gia hay trong bất cứ lãnh vực nào, sự đồng cảm cũng phải là nền móng để xây dựng nhân cách của mỗi người, bất luận họ chiếm giữ địa vị nào trong xã hội. Thiếu sự đồng cảm con người khó có thể sống cho ra người tử tế.
Đồng cảm, nhứt là trong thời đại dịch này, có nghĩa là biết ra khỏi vỏ ốc ích kỷ của mình để cảm thông với những người đang đau khổ. Đồng cảm là biết tự khước từ, bởi lẽ, như tác giả Nguyễn Thế Tuyền đã ghi nhận một cách chỉ lý trong một bài viết trên báo mạng ethongluan.org: “Người biết tự khước từ là người tử tế, khôn ngoan” (3).
Đồng cảm cũng có nghĩa là biết hy sinh những thứ mà mình cho là quyền và tự do của mình, bởi lẽ chẳng có quyền và tự do nào là tuyệt đối. Ai đó đã nói một cách chí lý: quyền tự do của bạn chấm dứt khi nó chạm đến mũi của tôi.
Chu Văn
18/5/2020



Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2020

Minh triết cho thời Cô Vi







2/5/2020
Năm 1975, tôi trải qua một cơn bệnh thập tử nhứt sinh. Sau ngày Miền Nam rơi vào tay cộng sản, mấy ông bà du kích và bộ đội từ trong bưng và trên núi ùa về các thành phố, mang theo đủ thứ bệnh như lác đồng tiền, ghẻ hòm, hắc lào...và nhứt là sốt rét. Tháng Mười năm đó, lần đầu tiên trong đời, tôi cảm nghiệm được thế nào là sốt và rét: mỗi ngày, đều đặn và đúng giờ, cứ sáng một cữ sốt, tối một cữ rét. Đã rét thì có trùm một chục cái mền cũng vẫn thấy lạnh và run cầm cập. Còn nóng thì cả khối nước đá đắp lên người cũng chẳng ăn thua gì. Đây đích thị là bệnh sốt rét do  mấy ông bà việt cộng lây cho tôi chớ chẳng còn ai khác nữa! Một ông y tá chuyên đi chích thuốc dạo, vốn là người thân của tôi, đã chuẩn đoán như thế. Đến một vài phòng mạch còn sót lại trong thành phố, tôi cũng được cho biết như vậy. May quá, ông y tá người thân của tôi còn trữ được một số thuốc chống sốt rét. Mỗi ngày ông đến chích cho tôi một mũi Quinimax. Ngoài ra, tôi còn được cho uống cả Fansida. Đây là loại thuốc được xem là hữu hiệu nhứt trong việc trị  bệnh sốt rét. Nhưng trong 2 tuần lễ, bệnh tình của tôi vẫn không thuyên giảm, các triệu chứng nóng lạnh vẫn còn nguyên. Ngoài ra, tôi còn phải hứng chịu thêm một số biến chứng như bí tiểu, nấc cục và đứng tim. Ai cũng nghĩ “ngày giờ của tôi” đã đến. Nhưng còn chút nước còn tát, tôi được đưa vào bệnh viện để cấp cứu. Tại đây, một viên bác sĩ trẻ mà tôi mang ơn suốt đời, đã chuẩn đoán ngay rằng tôi bị thương hàn, chớ không phải sốt rét. Ông kê toa cho người nhà của tôi đi mua thuốc typhomycine về chữa trị. Như một phép lạ: chỉ trong một ngày triệu chứng sốt và rét biến mất. Sau 3 ngày nằm trong một bệnh viện trong đó cứ 3 người nằm chung một giường và nhà vệ sinh còn dơ hơn cả một chuồng súc vật, hoảng quá tôi xin được về nhà đề tiếp tục điều trị bệnh thương hàn.
Mỗi lần nghĩ lại cơn bệnh thập tử nhứt sinh ấy, tôi nghiệm ra một điều: vì thiếu hiểu biết mà kê toa không đúng thuốc, người ta có thể nếu không giết người thì cũng gây nguy hại cho sức khỏe với những hệ lụy có khi kéo dài suốt đời. Đây là điều đã xảy ra sau năm 75. Chợ trời mọc lên như nấm. Ở đâu cũng có các “quầy” thuốc Tây  và không cần phải là bác sĩ hay dược sĩ, ai cũng có thể kê toa cho thuốc. Cho đến nay, cái lối chữa bệnh không cần chuyên viên y tế ấy vẫn còn thịnh hành ở Việt Nam. Cứ có một chút nhức đầu hay sổ mũi, người ta liền đi mua Amoxycillin về uống. Người ta đâu có biết rằng đây là một thứ thuốc trụ sinh. Nó giết vi trùng độc hại mà cũng tiêu diệt luôn cả những vi trùng tốt trong người, gây xáo trộn cho bộ máy tiêu hóa và cũng làm cho hệ thống miễn nhiễm của con người ra yếu nhược.
Nhìn về cách chữa bệnh mà không cần chuyên viên y tế ở Việt Nam, tôi không thể không nghĩ đến Tổng thống Mỹ Donald Trump. Dù có là thiên tài, thông minh và thông biết mọi sự đi nữa, Tổng thống Trump chưa bao giờ là một chuyên viên y tế. Vậy mà ổng vẫn ngang nhiên “kê toa” cho người ta chữa trị Covid-19 bằng thuốc Chloroquine, tức thuốc trị bệnh sốt rét. Tôi thấy lạnh cả người khi nghĩ lại hai tuần lễ trị bệnh thương hàn bằng thuốc sốt rét! Rồi mới đây, ông còn khuyên nên thử dùng thuốc sát trùng ngoài da bơm thẳng vào phổi để tiêu diệt Covid-19.
Nghe hãi hùng quá! Không biết sao cứ mỗi lần nghe tổng thống Trump làm “thày lang” kê toa cho thuốc, tôi lại nghĩ đến cảnh lên đồng trong làng tôi lúc tôi còn nhỏ. Cứ giữa trưa đứng bóng, nghe ở đâu có lên đồng là lũ trẻ chúng tôi kéo nhau đi xem. Gọi là đi xem, nhưng phải đứng thật xa, vừa theo dõi vừa run. Tuy đứng ở xa nhìn vào bên trong nhà có lên đồng, tôi vẫn thấy được một pháp sư trùm đầu bằng một chiếc khăn đỏ. Sau một hồi đọc thần chú hay tru tréo bằng một thứ ngôn ngữ không phải là tiếng Việt, thày đồng bắt đầu đổi giọng. Ai đó từ “cõi âm” nhập vào ông và truyền cho người nhà phải đi kiếm một thứ rễ cây hay pha một thứ nước gì đó để cho người bệnh uống. Dĩ nhiên, tiền mất tật mang. Chẳng có thần dược nào cả. Chỉ có người ngu dốt bị những kẻ lưu manh lường gạt mà thôi!
Tổng thống Trump có lẽ chưa bao giờ chứng kiến một cảnh lên đồng như tôi lúc nhỏ đâu. Nhưng rõ ràng ông thường hay “bốc đồng”. Hễ cứ “linh cảm” điều gì ông liền phán ngay điều đó. Mà hầu hết những điều ông “linh cảm” đều sai sự thật và phản khoa học. Vậy mà rất nhiều “tín đồ” của ông vẫn tin và làm theo. Về hậu quả phụ của việc dùng thuốc Chloroquine để trị Covid-19, các chuyên gia y tế vẫn còn bàn cãi. Nhưng việc bơm thuốc sát trùng vào phổi thì có lẽ bất cứ học sinh tiểu học nào ở đâu cũng đều thấy được sự độc hại giết người của nó. Vậy mà khi “thày lang” Trump đề nghị  cho thử bơm thuốc sát trùng vào phổi, vẫn có khối người đã làm theo. Thống đốc Tiểu bang Maryland, ông Larry Hogan, cho biết các đường giây nóng trong tiểu bang tràn ngập những cú điện thoại gọi đến để hỏi về việc sử dụng thuốc sát trùng để chữa trị Covid-19. Thống đốc Tiểu bang Michigan, bà Gretchen Whitmer cũng ghi nhận một hiện tượng tương tự. Riêng  phòng y tế của thành phố New York cho biết: chỉ trong 18 tiếng đồng hồ sau khi Tổng thống Trump nói đến việc thử bom thuốc sát trùng vào phổi để tiêu diệt siêu vi Corona, đã có ít nhứt 30 người gọi đến để hỏi về công hiệu của thuốc sát trùng Lysol và các thứ thuốc tẩy khác (1).
Dĩ nhiên, Tổng thống Trump bảo: “Tôi không thể tưởng tượng lại có chuyện như thế”. Nhưng với tôi, chẳng có gì khó hiểu cả. Bất cứ  lời nào thốt ra từ miệng  ông cũng đều được những người sùng bái ông tin như kinh “kinh Tin kính” của Kitô Giáo. Ông bảo rằng ông không có bất cứ trách nhiệm nào trong việc để cho đại dịch Covid-19 lan tràn khắp nước Mỹ, các “ tín đồ” của ông tin đó là sự thật. Ông quy trách nhiệm và chửi Trung Cộng, Tổ chức Y tế Thế giới, Truyền thông, Đảng Dân Chủ, người ta cũng hùa chửi theo...Dù ông có nói dối như cuội, có bóp méo sự thật cỡ nào, có dựng lên bao nhiêu thuyết âm mưu, có nói trước chối sau đến đâu, có tuyên bố những điều ngớ ngẩn và phản khoa học nhứt...lúc nào cũng có người tung hê và phục lụy!

Thời đại dịch, được “ngồi yên” một chỗ nhiều hơn, tôi cố gắng động não để suy nghĩ bằng cái đầu và để cho lòng lắng dịu xuống hầu lắng nghe những lời minh triết và lẽ khôn ngoan của các bậc cao kiến. Đức Đạt Đai Lạt Ma khuyên tôi:  trong thời đại dịch này hãy cố gắng thực thi sự cảm thông đối với mọi người. Không riêng những nhà lãnh đạo tinh thần, mà một số nhà lãnh đạo trên thế giới cũng dạy cho tôi những bài học xử thế đáng mang ra thực hành trong thời đại dịch này.
Tôi vẫn thắc mắc không hiểu tại sao những nước có tỷ lệ số người bị nhiễm và chết vì Covid-19 thấp nhứt thế giới đều là những nước được lãnh đạo bởi nhũng người phụ nữ như Thủ tướng Jacinda Ardern của Tân Tây Lan, Tổng thống Thái Anh Văn của Đài Loan, Thủ tướng Đan Mạch Mette Frederiksen, Thủ tướng Na Uy Erna Solberg, Thủ tướng Băng Đảo Katrin Jakobsdottir’s, Thủ tướng Phần Lan Sanna Marin và nhứt là Thủ tướng Đức Angela Merkel...Những người phụ nữ lãnh đạo quốc gia này đã thành công trong cuộc chiến chống lại Covid-19 vì họ luôn được dân chúng lắng nghe.
Theo tôi có lẽ mẫu số chung của sự thành công nơi những người phụ nữ lãnh đạo quốc gia này được làm nổi bật qua hình ảnh của bà Angela Merkel. Ngay từ lúc đại dịch bùng phát, bà dám nói lên sự thật khi cảnh cáo rằng sẽ có đến 70 phần trăm người dân Đức có nguy cơ nhiễm Covid-19. Khi ban hành những biện pháp nghiêm nhặt trong đó có việc hạn chế tự do đi lại, bà nhắc đến kinh nghiệm của những năm sống dưới chế độ cộng sản ở Đông Đức. Bà giải thích rằng bà rất trân quý tự do đi lại, nhưng vì sức khỏe và sự sống của mỗi người, mọi người đều có thể tạm thời hy sinh tự do ấy. Với bà, mỗi một cái chết trong thời đại dịch không phải là một con số vô hồn, mà là của “một người cha hay ông nội ngoại, một người mẹ hay bà nội ngoại, một người bạn tình...”
Là tiến sĩ hóa học lượng tử, nhưng Thủ tướng Merlel đã không dành sân lấn đất hay cướp micro của các chuyên viên y tế. Bà lãnh đạo đất nước trong thời khủng hoảng không chỉ bằng cái đầu thông thái của một nhà khoa học, mà còn bằng trái tim của một hiền mẫu. Người dân Đức đã có lý để gọi bà bằng tiếng gọi thân thương nhứt trong ngôn ngữ loài người là “mutti”, nghĩa  là“Mẹ”. Người Mẹ nào mà chẳng xem sự sống của mỗi đứa con là quan trọng.
Xét cho cùng, xem mỗi một người có mặt trên “sân khấu cuộc đời” của trái đất này là quan trọng, tôi cho đó là minh triết thâm sâu nhứt trong thời đại dịch này. Tôi nghe được minh triết ấy từ miệng của một danh hài Mỹ là ông Stephen Colbert. Trong một lần trở về thăm trường cũ nhân ngày lễ mãn khóa hồi năm 2011, ông nói: “Một trong những điều mà tôi đã được dạy từ lúc còn nhỏ là: bạn không phải là người quan trọng nhứt trên sân khấu. Bất cứ người nào khác mới là người quan trọng. Và nếu họ là những người quan trọng nhứt trên sân khấu, thì dĩ nhiên bạn phải chú ý đến họ và phục vụ họ. Nhưng điều đáng mừng là bạn cũng có mặt trên sân khấu. Vậy thì đối với họ, bạn cũng là người quan trọng nhứt và họ sẽ phục vụ bạn” (2)






Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2020

Số học thời Cô Vi



Chu Thập
19/4/20
Thời đại dịch, một “cụ ông” như tôi dành một thời lượng khá lớn cho việc xem truyền hình: theo dõi tin tức chán chuyển qua du lịch, nấu ăn, đố vui để học...Vậy mà vẫn còn thừa cả khối thời gian. Chẳng còn biết làm gì, tôi mới mò vào đài SBS World Movies, thường được người Việt gọi là Đài sắc tộc ở Úc Đại Lợi. Phim nào có phụ đề còn thưởng thức được. Gặp phim không có phụ đề, tôi chỉ còn biết ngồi xem như vịt nghe sấm. Cũng may mới đây, có một cuốn phim đã khiến cho cái đầu cằn cỗi của tôi phải động não và trái tim tưởng như khô cằn của tôi cũng phải thổn thức. Đó là cuốn phim có tựa đề “Eye in the Sky” (Con Mắt trên Trời). Ông Google cho biết: cuốn phim do đạo diễn Anh Gavin Hood thực hiện hồi năm 2015; vốn liếng bỏ ra chỉ có khoảng 13 triệu Mỹ kim, nhưng thu về được trên 50 triệu Mỹ kim, cuốn phim được đánh giá là tương đối thành công.
“Eye in the Sky” xoay quanh những thách thức về mặt đạo đức của  việc sử dụng máy bay không người lái trong chiến tranh. Cuốn phim được mở màn với cảnh một bé gái người Kenya, Phi Châu, đang chơi Hula Hoop trong vườn sau nhà ở Thủ đô Nairobi. Bên kia bờ đại dương, nữ Đại tá Anh Catherine Powell vừa  thức giấc và nhận được tin một nhân viên tình báo người Kenya đã bị tổ chức khủng bố Al-Shabaab sát hại. Bà Powell vừa nhận được lệnh phải bắt sống hay giết 3 trong số 10 lãnh tụ cao cấp của tổ chức khủng bố này. Tổng hành dinh của họ là một ngôi nhà an toàn tại Nairobi.
Nhờ máy bay không người lái cũng như sự hợp tác của các nhân viên tình báo địa phương, từ tổng hành dinh của mình, Đại tá Powell có thể theo dõi nhứt cử nhứt động của toán lãnh đạo của nhóm khủng bố. Kế hoạch của Đại tá Powell lại được giám sát chặt chẽ bởi một ủy ban đặc nhiệm gồm có một trung tướng, hai bộ trưởng và một thứ trưởng. Sau khi cân nhắc mọi dữ kiện và nhứt là biết rõ nhóm khủng bố đang chuẩn bị cho nổ bom tự sát tại một khu chợ đông người ở Thủ đô Nairobi, Đại tá Powell quyết định cho ném bom tiêu diệt bọn khủng bố. Việc ném bom từ một chiếc máy bay không người lái được giao cho hai viên sĩ quan, một nam một nữ, đang ngày đêm theo dõi kế hoạch từ một căn cứ không quân ở Tiểu bang Nevada.
Những pha gay cấn và hồi hộp nhứt của cuốn phim lại xoay quanh cô bé gái ở thủ đô Kenya. Cứ mỗi lần 2 viên sĩ quan chuẩn bị bấm nút để ném bom từ chiếc máy bay không người lái, thì bé gái lại được mẹ sai mang bánh mì ra bán tại một vệ đường sát bên cạnh tổng hành dinh của nhóm khủng bố. Đại tá Powell và ủy ban đặc nhiệm giám sát cuộc hành quân đã phải cân nhắc sự thiệt hại của việc ném bom tiêu diệt nhóm khủng bố: con số nạn nhân bị vụ nổ bom tự sát của nhóm khủng bố tàn sát sẽ rất cao, nhưng mạng sống của cô bé bán bánh mì cũng quan trọng không kém. Cả cuốn phim là những hồi tranh luận sôi nổi giữa Đại tá Powell và ủy ban đặc nhiệm giám sát kế hoạch. Cuối cùng, được bảo đảm rằng nguy cơ thiệt mạng cho cô bé gái chỉ có khoảng từ 45 đến 60 phần trăm, Đại tá Powell đã ra lệnh cho 2 viên sĩ quan thi hành kế hoạch bấm nút thả bom. Kết quả của cuộc ném bom: toàn bộ nhóm khủng bố bị tiêu diệt, cô bé bán bánh mì bị thương. Được cha mẹ em chạy đến kịp để đưa vào bệnh viện, nhưng cô bé đã không qua khỏi. Cuốn phim kết thúc với cảnh: những giọt nước đã trào ra từ khóe mắt của 2 viên sĩ quan!
Từ lâu dường như tuyến nước mắt trong người tôi không còn hoạt động nữa. Nhưng cuốn phim “Eye in the Sky” đã khiến tôi bồi hồi xúc động nhứt là trong thời đại dịch này. Kể từ khi cơn đại dịch bùng phát, ngày nào tôi cũng lượng giá tình hình bằng những con số được các cơ quan truyền thông cung cấp. Ngày nào tôi cũng được cập nhựt về con số người bị nhiễm trên toàn thế giới và số người chết tại mỗi quốc gia. Thét rồi đại dịch đối với tôi chỉ còn là những con số và mỗi một nạn nhân của Covid-19 chỉ còn là một con số gần như vô hồn và vô nghĩa. Tôi rùng mình nghĩ đến những con số mà Đức Quốc Xã đã cho xâm lên người của các tù nhân: từ lúc bước vào các trại tập trung cho đến lúc bị lùa vào các lò sát sinh, mỗi một người trong số 6 triệu người Do Thái chỉ còn là một con số!
Có lúc tôi cũng rùng mình nghĩ đến những con số người bị nhiễm và chết vì Covid-19 tại Hoa Kỳ. Ở cái đất nước “vĩ đại” này, cái gì cũng nhứt hết, kể cả nhứt về con số người bị nhiễm và chết. Vì có lẽ các nạn nhân chỉ là những con số, cho nên một số chính trị gia, nhứt là Tổng thống Donald Trump, vẫn thường dựa vào đó để đo lường sự “thành công” của mình trong việc đối phó với cơn đại dịch. Trong một cuộc họp báo ngày 30 tháng Ba vừa qua, tổng thống Trump nói rằng nếu chính phủ của ông giữ cho con số người chết vì Covid-19 ở Mỹ ở mức  100.000 người, thì như vậy cũng đã là “làm được một việc rất tốt” rồi.
Trước đó, vào đầu tháng Ba, khi bị chất vấn về việc đối phó với cơn đại dịch, ông cũng đã tự cho điểm 10 trên 10.
Vì vô hồn và vô nghĩa cho nên những con số dễ làm cho con người trở thành dửng dưng và vô cảm. Cách đây không lâu, Nha Lộ Vận RTA (Road and Traffic Authority) ở Tiểu bang NSW nơi tôi ở có cho quảng cáo một lời kêu gọi rất có ý nghĩa. Trong thước phim quảng cáo, một người đàn ông trung niên được một nhân viên cảnh sát cho biết trong năm 2017 đã có 347 người chết vì tai nạn giao thông rồi hỏi: ông muốn con số được giảm xuống còn bao nhiêu? Người đàn ông ngập ngừng một lúc rồi trả lời: “70! 70 là điều có thể chấp nhận được!” Liền sau đó, thước phim quảng cáo cho xuất hiện 70 người đang tiến tới. Nhận ra cả đám đông là bà con gia đình thân thuộc của mình, người đàn ông thốt lên: “Đây là gia đình của tôi!”. Khi được hỏi lại: mỗi năm con số người chết vì tai nạn giao thông bao nhiêu thì có thể chấp nhận được. Lần này ông trả lời dứt khoát: “phải là số không!”
Nếu trong số 70 nạn nhân ở Úc hay trên 35 ngàn người Mỹ có ít nhứt một người bà con thân thuộc của tôi thì chắc tôi phải buồn lắm. Tôi vô cảm là bởi vì tôi chỉ nghĩ đến các nạn nhân như những con số không hơn không kém, mà quên rằng mỗi một người, ngay cả một em bé gái trong cuốn phim “Eye in the Sky”, đều là một nhân vị độc nhứt vô nhị và dù có nghèo hèn mạt rệp đến đâu, cũng đều có một giá trị vô song vượt lên trên mọi giá trị và thước đo trên trần gian này. Cùng với mỗi một nạn nhân là cả gia đình, người thân và cộng đồng của họ. Cùng với gia đình, người thân và cộng đồng của họ lại có biết bao nhiêu thứ có liên hệ với nhau. Nỗi đau và sự mất mát của một người cũng là nỗi đau và sự mất mát của không biết bao nhiêu người. Thật ra, nếu tôi nhận ra mỗi một tha nhân như một phần của nhân loại và nhứt là như người anh em của tôi, thì nỗi đau và sự mất mát của họ cũng phải là của chính tôi. Có rất nhiều thứ mất mát, tiền của không bao giờ có thể chuộc lại được. Vĩnh viễn, không bao giờ!
Thời đại dịch, hơn bao giờ hết, có lẽ “nhân đức” cần trau dồi hơn cả phải là sự cảm thông. Elie Wiesel (1928- 2016), một người sống sót từ trại tập trung của Đức Quốc Xã và được trao tặng giải Nobel Hòa Bình năm 1986, có nói rằng nghịch nghĩa của tình yêu không phải là hận thù mà là sự dửng dưng. Ông cho rằng “dửng dưng là hiện thân của cái Ác” (Indifference, to me, is the epitome of evil).
Thời đại dịch, được “ngồi yên” một chỗ nhiều hơn bao giờ hết, tôi thường đem lời khuyên của Đức Đạt Đai Lạt Ma ra nghiền ngẫm: “Chúng ta cũng cần phải nhớ rằng không ai thoát khỏi đau khổ. Chúng ta cần đưa tay ra cho người khác là những người mất nhà cửa, nguồn lợi hay không có gia đình để bảo vệ họ. Cuộc khủng hoảng này cho chúng ta thấy rằng chúng ta không tách biệt nhau, ngay cả khi chúng ta sống xa nhau. Do đó, tất cả chúng ta phải có trách nhiệm thực thi sự cảm thông và giúp đỡ”



Thứ Năm, 9 tháng 4, 2020

Nỗi buồn tháng Tư thời Cô Vi




Thời đại dịch, đang bị cấm cố, nghe ông Chỉ huy trưởng cảnh sát Tiểu bang New South Wales, Úc Đại Lợi  tuyên bố: câu cá cũng là một thứ “thể dục thụ động” (passive exercise) được phép làm,  dân ghiền câu cá như tôi cảm thấy như mở cờ trong bụng. Cứ như tin vui giữa giờ tuyệt vọng!  Với tôi, “cần câu là đầu câu chuyện”. Đi câu cá không chỉ để quăng cần cho giãn gân giãn cốt, ngắm cảnh, giải trí và dĩ nhiên để kiếm cá ăn, mà còn để giao lưu với các bạn “đồng nghiệp”. Theo nhận xét của nhiều người, tôi là người hướng nội, rụt rè và vụng về trong giao tiếp xã hội. Nhưng như một phép lạ: cứ ra bãi câu là tôi thấy mình trở thành một người linh hoạt và hoạt bát ngay. “Chẳng còn sợ thằng Tây” nào nữa! Gặp bất cứ ai, tôi cũng xáp tới hỏi chuyện. Mà cũng lạ. Tôi không phải là người có tài gợi chuyện. Vậy mà bất cứ người nào tôi lân la đến gần để chào hỏi và làm quen cũng đều cởi mở tấm lòng để góp chuyện. Cần câu và con cá dẫn đến đủ mọi thứ chuyện trên trời dưới đất. Nhiều tình bạn đã nẩy nở từ bãi câu. Nhưng cái bản mặt da vàng mũi tẹt và mắt hí của tôi dường như lúc nào cũng làm bật lên nơi người đối diện câu hỏi: “Ông là người nước nào?” (Where are you from?). Đây là cơ hội để tôi “nổ” về lý do tại sao tôi có mặt ở Úc, về quê hương và văn hóa của tôi, về cuộc chiến trong đó có sự tham gia của người Úc...
Bình thường tôi hãnh diện để nói về mình và đất nước của mình. Tuy nhiên, trong thời đại dịch này, dường như câu hỏi: “ông là người nước nào?” thốt lên từ miệng một người Úc da trắng khiến tôi khựng lại. Mới đây, ở bãi câu tôi gặp một ông Úc trắng tốt bụng. Đứng cách ông không phải chỉ một thước rưỡi như quy định mà đến cả 5,7 thước, tôi cũng tránh cả việc chào hỏi. Vậy mà ổng gọi tôi lại gần, tặng cho một con cá đối để làm mồi, rồi hỏi: “ông là người nước nào?”  Không biết có phải do có tật giật mình không, tôi nghe thấy trong câu hỏi ấy không những thái độ dò xét, điều tra mà còn cả sự nghi kỵ và kỳ thị nữa. Sở dĩ tôi có một phản ứng như thế là bởi vì kể từ khi đại dịch từ Vũ Hán, Trung Cộng bùng phát và lây lan đi khắp thế giới, người Á Châu nói chung đã trở thành điểm nhắm của những hành vi kỳ thị của người da trắng, vốn xảy ra tại rất nhiều nước Tây Phương. Cuối tháng Ba vừa qua, báo The Bulletin ở Úc đưa tin:  một cô gái Á Châu tên là Sophie Do  (Đỗ là một họ đặc thù của Việt Nam) cùng với cô em gái đang đi bộ trên một con đường tại Marrickville, một khu ngoại ô của Sydney, thì một thiếu nữ da trắng xáp tới rủa sả bằng những lời lẽ thô tục như “Đồ chó Á Châu” , “chúng mày đã mang Coronavirus đến đây”. Ngoài những lời lẽ thô tục, người thiếu nữ da trắng còn tìm cách đá vào người em gái của cô Sophie. (https://www.themorningbulletin.com.au/news/asian-dog-young-women-spat-on-in-street/3985339/)
Theo tường thuật của Đài CNN,  khi cơn đại dịch vừa mới tấn công vào Vương quốc Anh, một sinh viên người Tân Gia Ba gốc Hoa đã bị đánh đến vỡ một xương trên mặt ngay giữa thành phố London. The báo The Atlantic, đầu tháng Giêng vừa qua, khi tin tức về đại dịch từ Vũ Hán bắt đầu được lan truyền đi khắp thế giới, một cô gái người Mỹ gốc Hoa ở New York liền đeo khẩu trang mỗi khi ra đường. Thế rồi, trong những tuần lễ sau đó, cái khẩu trang ấy đã thu hút sự chú ý của nhiều người cho nên cô đã liên tục bị tấn công bằng những lời lẽ và thái độ kỳ thị ...
Đó là những mẩu tin tôi đọc được trên báo. Còn tận tai nghe được thì tôi có chứng từ của một ông Úc rặc có vợ người Phi Luật Tân. Một hôm khi đến giúp tôi lấy mật từ những tổ ong trong vườn sau nhà, ổng than phiền: người vợ Phi của ổng bị kỳ thị ra mặt mỗi khi lên xe lửa để đi làm!
Trong các phương tiện di chuyển công cộng, trên đường phố, người Á Châu bị kỳ thị đã đành, mà với tôi điều đáng buồn hơn cả là khi Tổng thống Mỹ Donald Trump đã chuẩn y và công khai hóa thái độ kỳ thị của nhiều người khi gọi đích danh siêu vi Corona là “Siêu vi Tàu” (China virus). Trong một cuộc họp báo hồi tháng trước, lời tuyên bố được soạn sẵn cho ông đọc gọi tên siêu vi là “Coronavirus” , nhưng ông đã lấy bút xóa tên này và thay vào bằng  chữ “siêu vi Tàu”. Kể từ đó, con số người Mỹ gốc Á bị những người kỳ thị chủng tộc tấn công nhiều hơn.
Và cũng kể từ đó, dường như nhiều người đồng bào Việt Nam của tôi cũng không tiếc lời để rủa sả người Hoa bằng những tên gọi miệt thị như “Dịch Tàu” “Cúm Chệt”. Chế độ độc tài cộng sản ở Trung Quốc đáng bị lên án vì sự bưng bít của họ đã  khiến cho cơn đại dịch Covid-19  lan truyền đi khắp thế giới. Người Việt Nam nào cũng có đủ lý do để thù ghét cái chế độ đã cướp biển đảo của Việt Nam trên Biển Đông. Nhưng người Hoa nói chung, tự họ không phải là kẻ thù của tôi. Tôi không biết mình có máu Tàu không, nhưng hồi mới đến Pháp, tôi vẫn bị gọi một cách thân mật là “Tàu” (Le chinois). Đầu thập niên 1980, tôi rất hãnh diện khi nghe nói đến một viên thanh tra cảnh sát rất nổi tiếng ở Marseille, miền Nam nước Pháp, tên là Georges Nguyễn Văn Lộc. Do thành tích trừ gian diệt tặc trong thành phố, ông được người Pháp tặng cho danh hiệu “Robin des Bois” (Robin Hood). Nhưng dù tôi có cải chính cách mấy, một người Việt Nam với tên họ rành rành là Việt Nam như ông Lộc vẫn được người Pháp gọi là “Le Chinois” (ông Tàu, ông Chệt hay ông Ba Tàu gì đó nếu dịch sang tiếng Việt). Có lẽ dưới mắt người Tây Phương, người Á Châu nào cũng đều là Tàu, là Hoa cả. Thành ra trong thời đại dịch này, kỳ thị không chỉ nhắm vào người Hoa mà là người Á Châu nói chung.
Thời đại dịch, vào giữa lúc cần có tình liên đới nhân loại để đối đầu với siêu vi Covid-19, thật đáng  buồn vì có một ông tổng thống Mỹ kỳ thị ra mặt. Nhưng tôi buồn hơn vì có một số người Việt của tôi có khi còn có máu kỳ thị hơn cả những người thượng tôn da trắng. Trên “meo đàn” của những người đồng môn thời trung học của tôi, không thiếu những người bạn của tôi gọi cựu Tổng thống Barack Obama là “thằng mọi đen”. Mùa hè cách đây 2 năm, tôi có ghé thăm một người bạn thời tỵ nạn hiện đang ở Orange County. Hai vợ chồng là những người công giáo thuần thành. Tôi ghé thăm họ vào một buổi chiều Chúa nhựt khi họ vừa đi lễ về. Trong câu chuyện, khi nhắc đến các cộng đồng thiểu số ở Mỹ, người vợ tuyên bố: dứt khoát không bao giờ để cho con cái chơi với “đám Mỹ đen”. Còn về người Mễ vốn nhan nhản và đóng góp không ít cho nền kinh tế “tiểu thương” ở Little Sai Gon, một người bạn tỵ nạn khác của tôi lập lại y chang lời của Tổng thống Trump: đó là bọn hiếp dâm, buôn bán ma túy và lười biếng!
Tổng thống Trump quả có một sức thu hút phi thường đối với người đồng bào Việt Nam của tôi. Qua các cuộc thăm dò cũng như qua những phản ứng tôi nghe được, có đến hai phần ba người Việt ở Mỹ ủng hộ Tổng thống Trump. Không những ủng hộ mà còn sẵn sàng sống chết, đỡ đạn cho ông. Đụng đến ông là đụng đến “tổng thống của chúng tôi”!  Người ta đã thấy được sự tôn sùng lãnh tụ ấy qua phản ứng của một số người Việt ở Mỹ đối với Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh. Trong một đất nước có tôn trọng tự do ngôn luận như Hoa Kỳ, Mẹ Nấm đã phê bình sự việc Tổng thống Trump khuyên nên sử dụng thuốc sốt rét Hydroxychloloquine để trị Covid-19. Trên Blog của mình, cô viết nguyên văn như sau: “P/s: Dịch bệnh nên đọc cảnh báo của các chuyên gia y tế, đừng nghe lời lãnh đạo nha quý vị”. Chỉ có vậy mà sự cuồng nộ đã nổi lên như sóng cồn: một vài chiến dịch xin chữ ký để trục xuất Mẹ Nấm về Việt Nam chỉ trong một thời gian ngắn đã thu thập đến trên dưới mười ngàn chữ ký. Tựu trung, bản án dành cho Mẹ Nấm được tóm gọn trong câu: “Chống Cộng mà lại chống Trump thì chỉ có bọn nằm vùng...”
Tháng Tư, người Việt tỵ nạn nào mà chả buồn. Ngoài nỗi buồn chung ấy, thời đại dịch này, tôi còn có nỗi buồn riêng: người ta có thể trốn chạy chế độ cộng sản, nhưng vẫn mang theo cái cốt lõi của chế độ đó là sự tôn thờ lãnh tụ, chụp mũ và ném đá người khác! Buồn thật! Hành xử như thế thì có khác gì người cộng sản!
Trong những ngày này  mà Kitô Giáo gọi là “Tuần Thánh”, tức tuần lễ tưởng niệm cái chết của Chúa Giêsu và chuẩn bị lễ Phục Sinh, các tín hữu Kitô được mời gọi “ăn năn sám hối”. Trong một lời kinh sám hối thường được đọc trong những ngày này, người ta “lo buồn đau đớn” vì đã “cả lòng phản nghịch lỗi nghĩa cùng Chúa”. Chúa ở trên trời cao xa vời vợi quá, không biết tôi có phản nghịch và xúc phạm tới không. Nhưng chắc chắn xúc phạm tới tha nhân, hạ phẩm giá tha nhân, kỳ thị tha nhân chỉ vì màu da, chủng tộc, văn hóa, địa vị xã hội và ngay cả chính kiến...thì quả thật đây mới là điều đáng cho tôi “lo buồn đau đớn” hơn cả!
Buồn và đau hơn nữa khi tôi lẩn thẩn tự hỏi: Nếu Chúa Giêsu khi xuống thế làm người mà chẳng may mang cái màu da đen hay là một ông Á châu da vàng mũi tẹt như tôi thì sao?





Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2020

Lãnh đạo thời Cô Vi



Zaheena Rasheed
                                                                                 Chu Thập chuyển ngữ

Đại dịch Covid-19 đang đe dọa mạng sống và cuộc sống của con người trên khắp thế giới.
Chỉ trong 3 tháng, đã có hơn một triệu người tại trên 180 quốc gia bị nhiễm bệnh và ít nhất 50.000 người chết vì một cơn dịch mà Liên Hiệp Quốc gọi là “cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất” đối với thế giới kể từ Đệ nhị Thế chiến.
Tại nhiều vùng rộng lớn trên trái đất, việc “đóng cửa” nhằm chận đứng sự lây lan của siêu vi đã khiến cho cuộc sống và hoạt động kinh tế dậm chân tại chỗ. Ở những vùng bị ảnh hưởng nặng nề nhất, các bệnh viện đã quá tải vì số bệnh nhân và người chết, trong khi đó khắp nơi người nghèo và những người dễ bị tổn thương phải đương đầu với tình trạng thiếu thốn lương thực và chết đói.
Hôm thứ Ba (mùng Bảy tháng Tư 2020) vừa qua, khi nhấn mạnh đến nguy cơ mà cuộc khủng hoảng đang đặt ra cho hòa bình và sự ổn định trên thế giới, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, ông Antonio Guterres đã gởi đến các chính trị gia lời kêu gọi khẩn thiết hãy “bỏ qua một bên những trò chơi chính trị” và ngồi lại với nhau để “đối phó một cách mạnh mẽ và hữu hiệu” (với cuộc khủng hoảng).
Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc nói: “Thế giới đang đối đầu với một thử thách chưa từng có. Và đây là lúc phải hành động”.
Thật ra, những hệ lụy của cuộc khủng hoảng lẽ ra không nên cao hơn.
Cuộc sống hay cái chết của hàng triệu người tùy thuộc vào những quyết định mà các nhà lãnh đạo thế giới sẽ làm trong những ngày và tuần lễ sắp tới. Nhưng các nhà phân tích lại nói rằng những dấu hiệu mới nhất thật dáng lo ngại.
Tại một số quốc gia, vì lợi ích riêng tư, vì không tin tưởng vào khoa học hay vì sợ kinh tế sụp đổ, các nhà lãnh đạo đã đối phó bằng sự do dự và phủ nhận.
John M Barry, một sử gia đã từng nghiên cứu về cơn đại dịch cúm Tây Ban Nha trong đó đã có 100 triệu người bị thiệt mạng hồi năm 1918, nói: “Tại nhiều nước, thật đáng buồn. Tại một số nước, thật đáng lên án vì hành động của một số nhà lãnh đạo sẽ khiến cho nhiều công dân phải chết một cách không cần thiết”.
Tại Trung Quốc của ông Tập Cận Bình, là nơi cơn bệnh đã được phát giác trước tiên hồi cuối tháng Mười Hai năm vừa qua, chính quyền đã bị tố giác đang bưng bít và trừng phạt những bác sĩ nào đã lên tiếng báo động khi đại dịch vừa mới bùng phát. Đây là những hành động mà những người chỉ trích nói rằng đã cho phép siêu vi phát tán từ trung tâm thành phố Vũ Hán ra mọi hang cùng ngỏ hẻm trên thế giới.
Tại Hoa Kỳ, thoạt tiên Tổng thống Donald Trump đã xem thường tính nghiêm trọng của mối đe dọa khi ông tiên đoán rằng siêu vi sẽ “biến mất” như “một phép lạ”  và hạ giảm các mối lo ngại ngày càng gia tăng khi nói rằng dịch bệnh chỉ là một “cú lừa” của các  đối thủ chính trị của ông. Ông chỉ thay đổi giọng điệu đó hồi tuần trước sau khi các cuộc thăm dò cho thấy dân chúng ngày càng lo âu và các chuyên gia tiên đoán rằng sẽ có 200.000 người chết tại Hoa Kỳ nếu không có những biện pháp ngăn chận sự lây lan.
Tại Ba Tây, Tổng thống Jair Bolsanaro cứ tiếp tục phủ nhận dịch bệnh mà ông gọi là chuyện “tưởng tượng” hoặc chỉ như “một thứ cúm nhẹ”. Chỉ mới tuần vừa qua, ông đã thách thức lời khuyên của các viên chức y tế của ông về việc phải tránh tiếp xúc khi đi thăm các khu phố ở Thủ đô Brasilia để kêu gọi dân chúng trở lại làm việc.
Trong khi đó tại Mễ Tây Cơ, hồi cuối tháng Ba vừa qua, Tổng thống Andres Manuel Lopez Obrador đã tổ chức các cuộc biểu tình, ôm hôn những người ủng hộ ông và thúc đẩy người dân Mễ hãy “sống bình thường”. Tổng thống Mễ đã hành động như thế mặc dù chính Bộ trưởng Y tế của nước này đã kêu gọi dân chúng nên ở nhà để tránh lây lan.
Giáo sư Charles Call, thuộc Viện Brookings có trụ sở tại Thủ đô Hoa Thịnh Đốn, nói rằng hành động của các nhà lãnh đạo trên đây làm nổi bật “thái độ thù nghịch đối với khoa học và các cơ chế nhà nước”. Viết trên Blog của ông, giáo sư Call nói rằng thái độ ngạo mạn của các nhà lãnh đạo trên đây đang bị nhiều người chỉ trích. Ông tiên đoán rằng cuộc khủng hoảng sẽ là một “cuộc trắc nghiệm về chủ nghĩa dân túy” tại các nước này.
Tại Nam Dương,  hồi tuần trước, Tổng thống Joko Widodo đã nhìn nhận rằng ông đã cố tình bưng bít thông tin về sự bùng phát của đại dịch. Ông nói rằng đây là một chiến thuật nhằm ngăn ngừa sự sợ hãi của dân chúng. Trong những ngày đầu khi dịch bệnh bùng phát, một số bộ trưởng của ông đã nói rằng sự cầu nguyện có thể ngăn ngừa được dịch bệnh, trong khi đó những người khác lại cho rằng thời tiết ấm áp của Nam Dương có thể làm cho việc lây lan bị chậm lại.
Viết trên báo The Diplomat, ông Asmiati Malik, giáo sư phụ khảo tại Đại học Universitas Bakrie của Nam Dương, cho rằng thái độ “phi khoa học” của chính phủ bắt nguồn từ những quan ngại về tinh trạng kinh tế của quốc gia có dân số đông đứng hàng thứ tư trên thế giới. Tuy nhiên theo giáo sư Malik, phủ nhận và giới hạn sự  truy cập thông tin của dân chúng về sự lây lan của dịch bệnh là một chính sách có thể gây tử vong cho hàng ngàn người.
Theo sử gia  Barry, sự phủ nhận và chậm trễ (trong việc đối phó với dịch bệnh) sẽ gây thiệt hại cho những nước này khi đến một lúc phải đưa ra những giới hạn cứng rắn hơn để chận đứng dịch bệnh. Ông nói  “Nếu bạn chờ đợi dân chúng sẽ tuân thủ lời kêu gọi giữ khoảng cách xã hội (social distancing), thì phải làm sao để họ tin vào lời kêu gọi đó. Nếu dân chúng không tin tưởng những người đưa ra lời kêu gọi đó thì họ sẽ không tuân thủ và một khi không có sự tuân thủ thì lời kêu gọi đó sẽ không hữu hiệu”.
Đây là lý do tại sao bài học duy nhất và quan trọng nhất từ đại dịch năm 1918 là: “hãy nói sự thật”
Có một số nhà lãnh đạo đã làm điều đó.
Ngày 11 tháng Ba, khi sự lây nhiễm đã bắt đầu gia tăng mạnh tại Ý, thủ tướng Đức, bà Angela Merkel đã nói rằng sẽ có đến 70 phần trăm dân chúng Đức bị lây nhiễm. Lời cảnh cáo này hoàn toàn đi ngược lại với những lời tuyên bố của các chính trị gia khác vào thời điểm đó. Một tuần lễ sau, trong một bài diễn văn đươc truyền hình, bà thủ tướng đã kêu gọi dân Đức hãy tôn trọng những giới hạn nghiêm nhặt về việc đi lại và giao tiếp xã hội. Bà nói: “ Tình trạng thật nghiêm trọng. Hãy ứng phó một cách nghiêm chỉnh. Trong một thể chế dân chủ,  không nên xem thường những giới hạn như thế, ngay cả chỉ là tạm thời. Nhưng hiện nay, đây là những giới hạn cần thiết để cứu mạng người”.
Kể từ đó, tại Âu Châu, Đức đã dẫn đầu trong  việc xét nghiệm rộng rãi về Covid-19 : kể từ lúc xảy ra cuộc khủng hoảng, đã có gần một triệu người được xét nghiệm. Và mặc dù đang đứng hàng thứ năm trên thế giới về con số người bị nhiễm bệnh, với trên 80.000 người bị nhiễm, Đức vẫn có số tử vong thấp nhất trong nhóm này.
Ca ngợi Thủ tướng Merkel, bà Judy Dempsey, thuộc viện Carnegie Europe, nói rằng hành động của thủ tướng “vạch ra con đường phía trước để có một sự đáp ứng thống nhất và cương quyết. Đây là một đáp ứng cần thiết và cho thấy các nền dân chủ có thể thực hiện cách tốt nhất”.
Tại Tân Gia Ba, Thủ tướng Lý Hiển Long cũng được ca ngợi vì đề ra một chiến dịch truy tìm và xét nghiệm gắt gao nhờ đó, kể từ khi dịch bệnh bùng phát, chỉ có khoảng 1000 người bị lây nhiễm. Trong một cuộc phỏng vấn trên đài CNN hôm chủ nhật (Mùng Năm tháng Tư vừa qua), Thủ tướng Tân Gia Ba nói rằng sự trong suốt và tin tưởng là những yếu tố nền tảng trong cuộc chiến của Tân Gia Ba chống lại siêu vi. Ông nói: “Chúng tôi hành động một cách trong suốt. Nếu có tin xấu, chúng tôi sẽ cho bạn biết. Nếu có những điều cần phải làm, chúng tôi cũng sẽ nói cho bạn biết. Nếu dân chúng không tin tưởng bạn thì  ngay cả khi bạn có đề ra những biện pháp đúng đắn, rất khó để tuân thủ”.
Tổng thống Nam Hàn Moon Jae-in, nữ Thủ tướng Tân Tây Lan Jacinda Ardern và Tổng thống El Salvador Nayib Bukele cũng đều được ca ngợi vì đã hành động một cách trong suốt và cương quyết.
Tuy nhiên không thiếu những nhà lãnh đạo bị tố cáo đang lợi dụng cuộc khủng hoảng để thu tóm quyền lực.
Hôm thứ Hai (mùng Sáu tháng Tư vừa qua), thủ tướng Hung Gia Lợi Viktor Orban đã được trao quyền không giới hạn để cai trị bằng sắc lệnh: theo một luật mới, người dân nào phát tán “thông tin giả” sẽ bị phạt tù năm năm. Các nhà phê bình cho rằng luật này có thể được dùng để khóa miệng các ký giả. Những quan ngại tương tự cũng được nêu lên tại Phi Luật Tân là nơi tổng thống Rodrigo Duterte tự trao cho mình những quyền hạn trong tình trạng khẩn trương cho phép ông nại đến những tin giả về Covid-19 để đàn áp.
Tại Israel, Thủ tướng Benjamin Netanyahu sử dụng tình trạng khẩn trương về đại dịch để cho phép các cơ quan tình báo theo dõi công chúng và đóng cửa các tòa án trước khi các cáo buộc về hành động tham nhũng của ông được mang ra xét xử.
Meenakshi Ganguly, giám đốc chi bộ Nam Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) nói: “Chúng tôi nhìn nhận rằng cơn đại dịch này đang đặt ra một trắc nghiệm chưa từng có đối với các nhà lãnh đạo thế giới. Vấn đề của chúng ta là một số nhà lãnh đạo đã có những toan tính độc tài. Đây không phải là thời gian để làm chính trị...bất cứ một quyền hành nào trong tình trạng khẩn trương cũng cần phải tương xứng và các chính phủ phải luôn luôn bảo vệ quyền lợi của người dân”.
Ngoài việc thu tóm quyền lực, các nhà quan sát còn lo ngại về cuộc đấu đá giữa các cường quốc, nhất là giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng. Tức giận trước việc Hoa Thịnh Đốn cứ liên tục dán cho Covid-19 cái nhãn hiệu “Siêu vi Tàu”, các viên chức tại Bắc Kinh hiện đang phản công bằng cách tuyên truyền mà không đưa ra bất cứ bằng chứng nào rằng chính quân đội Mỹ đã mang siêu vi này vào Vũ Hán.
Mối quan hệ ngày càng tồi tệ giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng, cũng như việc Hoa Kỳ dựa vào  chính sách “Hoa Kỳ trước tiên” của ông Trump để rút lui khỏi chính trường thế giới, đang cản trở một hành động phối hợp trước cơn đại dịch.
Charles Kupchan, thuộc Hội đồng Quan hệ Ngoại giao có trụ sở tại Hoa Kỳ, cho rằng  hiện “không có bất cứ một sự đáp ứng toàn cầu nào. Và đây là một vấn đề lớn bởi vì cuộc khủng hoảng sẽ được giải quyết một cách tốt đẹp hơn nếu những nước lớn ngồi lại với nhau.  Khi xảy ra dịch Ebola hồi năm 2014 hay trong cuộc khủng hoảng tài chính hồi năm 2008, Hoa Kỳ là nước đã đứng ra và lên tiếng: “Chúng ta sẽ cùng nhau giải quyết vấn đề như thế nào?”  Nhưng những ngày như thế không còn nữa. Chính phủ Trump đã tỏ ra cực kỳ chậm chạp trong việc đối phó với cuộc khủng hoàng trong nước và việc lãnh đạo của ông ở nước ngoài đã giới hạn tối đa”.
Kupchan nói: “Đây có thể là một tai họa cho những người dễ bị tổn thương nhất trên thế giới”. Theo ông “Những vấn đề cốt lõi cần phải  được giải quyết là cung cấp và phân phối các thiết bị y tế, chia sẻ những cách thức tốt nhất về xét nghiệm và cô lập cũng như đối phó với những cộng đồng có thu nhập thấp. Điều tồi tệ nhất mà tôi lo sợ là khi  Covid-19  tấn công vào các trại tỵ nạn và những nước có hệ thống y tế kém phát triển. Đây có thể sẽ là một cuộc tàn phá rộng lớn”.

Nguồn: Zaheena Rasheed, Covid-19 pandemic is testing world leaders. Who’s stepping up?