Thứ Hai, 10 tháng 9, 2018

Đức quốc: giáo dục chống chủ nghĩa cực đoan


07/09/18
Chemnitz là thành phố lớn thứ ba của Tỉnh bang Saxony, miền Đông Đức Quốc, sát biên giới với Ba Lan và Cộng hòa Tiệp. Từ năm 1953 đến năm 1990, thành phố này thường được mệnh danh là Karl-Marx-Stadt, nghĩa là thành phố của Karl Marx, ông tổ của chủ nghĩa Marxít. Được đặt tên theo Karl Marx bởi vì thành phố này là một trong những thành phố của Đức được kỹ nghệ hóa rất sớm và do đó cũng có một lịch sử lâu dài về phong trào lao động.
Mới đây, thành phố Chemnitz đã được các cơ quan truyền thông tại Đức cũng như nước ngoài chú ý tới. Tối thứ Bảy ngày 25 tháng Tám 2018 vừa qua, một nhóm đàn ông trong thành phố đã có một cuộc cãi vã nhau. Không ai biết nguyên do và nội dung của cuộc cãi vã, nhưng bất thần một người trong nhóm đã rút từ trong túi ra một con dao. Cuộc cãi vã đã biến thành bạo động và kết quả là ba người bị thương và một người đã chết sau khi được mang vào nhà thương để chữa trị. Không mấy chốc, câu chuyện đã được loan truyền lên các trang mạng xã hội và dân tộc tính của những người nhóm đàn ông được làm nổi bật. Người bị đâm chết là một người Đức da trắng 35 tuổi. Hai người bị tình nghi gây ra án mạng là một người Syria 23 tuổi và một người Iraq 22 tuổi.
Sang ngày thứ Hai, 2 nghi phạm đã bị bắt giữ và bị gán cho tội ngộ sát. Chi tiết của biến cố và những động lực đàng sau cuộc xô xát chưa được biết rõ. Phía Công tố vẫn giữ thinh lặng. Tuy nhiên, các nhà điều tra nói rằng việc đâm chém không phải là một hành động tự vệ.
Ngày chủ nhật , tức sáng ngày sau khi xảy ra án mạng, một nhóm “côn đồ” (hooligan) cực hữu đã loan báo địa điểm và giờ giấc của một cuộc họp mặt của những “ủng hộ viên và cảm tình viên” để cho mọi người thấy “ai là người ngồi ở ghế sau trong thành phố”, nghĩa là ai mới thực sự là người làm chủ tình hình trong thành phố.
Liền sau khi lời loan báo của nhóm cực hữu được phổ biến, đã có 800 người xuất hiện. Trong số này có rất nhiều thành phần thuộc nhóm cực hữu trong thành phố. Những thước phim được ghi lại cho thấy những người biểu tình không những đe dọa mà còn rượt đuổi bất cứ người nào họ cho là người ngoại quốc.
Qua ngày thứ Hai, Chính phủ Đức đã lên tiếng tố cáo hành động xách nhiễu của nhóm cực hữu. Chính phủ Đức nói rằng một hành động như thế “không thể diễn ra trên các đường phố của chúng ta”.
Cảnh sát đã nhận được nhiều lời than phiền. Một thiếu nữ Đức 15 tuổi và người bạn A Phú Hãn 17 tuổi của cô nói rằng họ đã bị tấn công. Một thanh niên Syria 18 tuổi cho biết anh đã bị hành hung. Và một người đàn ông Bảo Gia Lợi 30 tuổi cũng tố cáo rằng ông đã bị bắt giữ và đe dọa. Các thước phim thu được cũng cho thấy những người biểu tình còn tấn công ngay cả các cảnh sát viên. Cảnh sát đã phải dùng hơi cay để tái lập trật tự.
Cũng trong ngày thứ Hai, hàng ngàn người đã tập trung tại trung tâm thành phố Chemnitz. Cảnh sát ước tính số người biểu tình ủng hộ nhóm cực hữu lên đến 6000 người. Trong khi đó cũng có khoảng 1.500 người khác tập trung lại để phản đối nhóm cực hữu. Những người này được cho là thuộc nhóm tả khuynh. Hai bên đã ném pháo, ve chai và ngay cả thuốc nổ vào nhau. Cảnh sát đã phải huy động đến 600 nhân viên và sử dụng súng nước để chống lại đám biểu tình.
Các thước phim quay được cũng cho thấy những người biểu tình thuộc nhóm cực hữu đã giơ tay chào theo kiểu Đức Quốc Xã. Cảnh sát đã tiến hành truy tố ít nhất 10 vụ bạo động. 18 người thuộc cả hai phía và hai cảnh viên đã bị thương tích. 4 người biểu tình thuộc nhóm cực hữu bị tấn công và bị thương khi đang trên đường về nhà. Có người phải được đưa vào bệnh viện để chữa trị.
Các chính trị gia Đức đã có những phản ứng khác nhau trước cuộc bạo động. Trong một cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh Deutschlandfunk, Alexander Dierks, Tổng thư ký của Đảng Dân Chủ Kitô Giáo tại Tỉnh bang Saxony, bác bỏ những cáo buộc cho rằng chính quyền tiểu bang đã xem thường mối đe dọa từ nhóm cực hữu. Đề cập đến cuộc bạo loạn trong thành phố Chemnitz, ông nói rằng cảnh sát tiểu bang đã được chuẩn bị để đối phó và đã thực sự thi hành luật pháp và tái lập trật tự.
Về phần mình, ông Atila Karaborlu, đại diện của Cộng đồng Thổ Nhĩ Kỳ tại Đức, một trong những người đã phải khiếp sợ trước cảnh hàng ngàn người biểu tình thuộc nhóm cực hữu diễn hành xuyên qua thành phố Chemnitz, nói rằng “Kể từ thập niên 1990, rất tiếc là những cuộc tấn công như thế (nhắm vào người ngoại quốc) đã diễn ra liên tục trong xứ sở của chúng ta”.
Ông Karaborklu nhắc đến cuộc bạo động tại Rostock-Lichtenhagen hồi năm 1992. Cuộc bạo động đã diễn ra nhiều ngày và làm cho một trung tâm tiếp cư người tầm trú bị đốt cháy. Theo người đại diện cộng đồng Thổ Nhĩ Kỳ tại Đức, “có liên hệ giữa những cuộc bạo động trong thập niên 1990 và thái độ thụ động của chính quyền cũng như giữa những cuộc sát nhân do Tổ chức Đức Quốc Xã Thầm Lặng chủ trương và thái độ của chính phủ vốn xem các nạn nhân như tội nhân”.
Tỉnh trưởng Tỉnh bang Saxony, ông Michael Kretschmer thì lại khẳng định rằng chính quyền tiểu bang sẽ không để cho mình bị tước đoạt quyền hành. Ông gọi nhóm cực hữu là những người gieo rắc hận thù.
Về phần mình, Chính phủ Đức cũng đã tỏ rõ  lập trường cứng rắn đối với nhóm cực hữu. Bộ trưởng Tư pháp Đức, bà Katarina Barley, tuyên bố với báo Handerlsblatt rằng bất cứ ai đe dọa và tấn công người khác cũng như khích động chống lại các nhóm thiểu số phải “bị tức khắc truy tố ra trước pháp luật. Bà khẳng định rằng sẽ không bao giờ để cho “việc xách nhiễu và thói côn đồ” diễn ra tại Đức.
Riêng Thủ tướng Đức, bà Angela Merkel tuyên bố: “Không nên để cho bạo động xảy ra ở bất cứ công trường và đường phố nào”.
Tỉnh bang Saxony đã nổi tiếng về những vụ bạo động. Trong nhiều năm qua, tỉnh bang có 4 triệu dân này đã bị hoen ố vì những cuộc bạo động do các nhóm cực hữu và bài ngoại tổ chức. Tổ chức khủng bố Tân Đức Quốc Thầm Lặng từ lâu đã ẩn núp trong tỉnh bang này. Họ chỉ được vạch mặt  chỉ tên vào năm 2011. Còn phong trào cực hữu có tên là PEGIDA thì lại thường xuyên tổ chức những cuộc biểu tình tại thành phố Dresden kể từ năm 2014. Năm 2015, tại một thành phố khác trong Tỉnh  bang Saxony là Heidenau, những người tranh đấu cực hữu đã đụng độ với cảnh sát vì một trung tâm tiếp cư người tỵ nạn đã được thành lập trong một nhà kho cũ.
Đầu tháng Tám 2018 vừa qua, cảnh sát Saxony đã bị chỉ trích vì đã ngăn cản một toán phóng viên truyền hình đến làm phóng sự về một cuộc biểu tình chống Thủ tướng Merkel. Một trong những người biểu tình đã đứng ra phản đối sự hiện diện của toán phóng viên. Về sau người ta mới biết người này là một nhân viên cảnh sát.
Thật ra cực đoan và bài ngoại không chỉ là vấn đề riêng của Tỉnh bang Saxony. Những cuộc tấn công nhắm vào người di dân và ngoại quốc đã xảy ra trên toàn nước Đức. Theo tổ chức bênh vực người tầm trú Pro Asyl và Sáng hội Amadeu Antonio Foundation, hồi năm ngoái, đã có tổng cộng 1.713 vụ tấn công nhắm vào người tỵ nạn. Chỉ riêng trong Tỉnh bang Saxon có đến 240 vụ. Nhưng nhìn chung, con số các vụ tấn công nhắm vào người tỵ nạn đã có phần thuyên giảm.
Chính phủ Đức đang nỗ lực giáo dục dân chúng, nhất là giới trẻ chống lại chủ nghĩa cực đoan. Một tuần sau khi xảy ra vụ bạo động tại thành phố Chemnitz, bà Franziska Giffey, Bộ trưởng Gia đình đã đến thăm thành phố này. Vị  bộ trưởng được xem là trẻ nhất trong nội các của Thủ tướng Merkel đã nói chuyện với các đại diện của xã hội dân sự về sự cần thiết phải có một nền công dân giáo dục tốt hơn. Trong cuộc thảo luận với các đại diện dân sự, Bộ trưởng Gia đình Đức nhấn mạnh rằng công dân muốn chính phủ phải làm việc với giới trẻ để đề phòng chủ nghĩa cực đoan và giáo dục họ về dân chủ. Bà cũng nói rằng bà hiểu được nguyện vọng của người dân là phải được cảm thấy an toàn trên đường phố.
Theo bà Giffey, đã đến lúc Chính phủ Đức cần phải có một luật về giáo dục về dân chủ và các giá trị, nhờ vậy giới trẻ mới thấy được họ cũng là công dân trong một cộng đồng.
Nhưng theo ông Franz Knoppe, chủ tịch của một tổ chức giáo dục văn hóa địa phương, cần phải đưa vào các trường học những chương trình để giúp học sinh học cách thực tập những tiến trình dân chủ.
Từ hàng chục năm qua, Chính quyền Tỉnh bang Saxony chưa bao giờ đặt vấn đề công dân giáo dục như thế trong các trường học. Đây là lý do khiến cho các cơ cấu Tân Đức Quốc Xã đã thành hình trong tỉnh bang.
Trong cuộc tổng tuyển cử hồi năm ngoái, Đảng Cực Hữu có tên là Alternative for Germany (AFD) đã chiếm được 27 phần trăm số phiếu tại Tỉnh bang Saxony, qua mặt Đảng Dân Chủ Kitô Giáo của bà Merkel.
Điều gì đã khiến cho nhiều người chạy theo phong trào cực đoan bài di dân và bài ngoại trong Tỉnh bang Saxony? Có lẽ cần phải nhìn lại lịch sử để tìm câu trả lời. Về mặt kinh tế, Đông Đức lúc nào cũng lẹt đẹt chạy theo sau Tây Đức. Nhưng theo các nhà nghiên cứu, đó chưa hẳn là lý do khiến cho nhiều người dân ở Saxony chạy theo chủ nghĩa cực đoan.
Một cuộc nghiên cứu hồi năm ngoái đã chỉ ra rằng chính tâm thức mà Chế độ Cộng sản Đông Đức đã tạo ra khiến cho người dân Đông đức ngày nay có thái độ bài ngoại. Theo kết quả của cuộc nghiên cứu, người dân Đông Đức đã từng được nhồi sọ về nhu cầu phải có sự hài hòa hòa, tập thể, trật tự và tinh ròng về bản sắc dân tộc. Các nhà nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng người dân Đông Đức vẫn không muốn xóa bỏ quá khứ của thời cộng sản cũng như di sản Đức Quốc Xã cho nên hễ gặp khó khăn về kinh tế và xã hội, họ đổ lỗi cho người ngoại quốc.
Dĩ nhiên, hơn bất cứ tiểu bang nào khác ở Đức Quốc, Saxony là nơi chủ nghĩa cực đoan, cách riêng Tân Đức Quốc dễ hồi sinh và hình thành hơn cả là bởi di sản cộng sản cũng như tình hình kinh tế yếu kém. Tuy nhiên, theo một số phân tích gia, chính chính quyền tỉnh bang Saxony, vốn do Đảng Dân Chủ Kitô Giáo lãnh đạo trong một thời gian dài, đã không lưu tâm đến vấn đề và do đó không hành động đủ để ngăn chận sự phát triển của chủ nghĩa cực đoan.

(theo:
-https://www.dw.com/en/violence-in-chemnitz-a-timeline-of-events
-https://www.dw.com/en/in-chemnitz-minister-promotes-education-as-answer-to-extremism)

Thứ Năm, 6 tháng 9, 2018

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân



Chu Thập
31/08/18
Trên thế giới hiện nay, nếu có một quốc gia nào trong đó câu chữ Hán “quan nhứt thời, dân vạn đại” được ứng dụng một cách rõ ràng nhứt thì tôi nghĩ nước đó phải là Úc Đại Lợi, quê hương thứ hai của tôi. Ngủ một đêm sáng thức dậy đã thấy có một thủ tướng mới. Đất nước gì lạ quá: chỉ trong 5 năm mà đã có đến 5 thủ tướng!
Nhiều người bảo Úc Đại Lợi đang trở thành trò cười cho thế giới. Riêng tôi chẳng thấy có gì để chê cười cả. Việc thay đổi lãnh tụ, ngay cả thay đổi như chong chóng, cũng là thể hiện của một nền dân chủ đích thực. Ổn định chính trị như ở Trung Cộng, Bắc Hàn, Việt Nam hoặc trong các chế độ độc tài cá nhân là một thứ ổn định giả hiệu.
Tôi không theo học một khoa chính trị học nào, nhưng tôi cũng biết đại khái  rằng, cũng như mẫu quốc Anh, Úc Đại Lợi theo nền dân chủ đại nghị. Người dân không trực tiếp chọn lãnh tụ quốc gia, mà chỉ bầu các đảng phái chính trị. Đảng nào được nhiều phiếu nhứt thì chọn lãnh tụ để đại diện dân cai trị đất nước. Lãnh tụ nào được Đảng bầu lên làm được việc thì đảng để yên, còn nếu thấy chẳng làm được việc thì cho về vườn hay cho ra ghế sau ngồi chơi xơi nước. Chính vì vậy mà tôi chẳng thấy nao núng chút nào mỗi khi Úc Đại Lợi thay ngôi đổi chủ ở dinh thủ tướng. Ý thức hay không, lúc nào tôi cũng thấy mình có trách nhiệm trong việc thay đổi ấy. Kể từ khi rời Việt Nam, chỉ có ở Úc là nơi tôi thực sự cảm thấy mình có tự do và lúc nào cũng thực thi quyền dân chủ của mình với tất cả trách nhiệm của một người công dân.
Tôi thực sự cảm thấy tự do bởi vì tôi không bị bắt buộc hay cảm thấy cần phải tôn thờ một lãnh tụ nào cả. Tôi cũng chẳng phải sống chết cho một đảng nào cả. Với tôi, quyền tự do đi bầu là một quyền thiêng liêng của mỗi một công dân. Tôi tôn trọng tuyệt đối Quyền này và sự lựa chọn của mỗi cá nhân vì tôi đã không được thực hiện trong chế độ cộng sản. Tùy theo tình hình đất nước và dĩ nhiên theo sự phán đoán trong giới hạn của tôi, khi thì tôi bỏ phiếu cho đảng này, lúc thì tôi chọn đảng khác. Có khi vào phòng phiếu, đứng thừ người ra một lúc mà không biết dồn phiếu cho đảng nào, tôi ngả sang một đảng nhỏ nào đó mà tôi nghĩ có thể tạo được một cán cân quyền lực trong quốc hội. Kết quả bầu cử ở Úc Đại Lợi, dù đảng tôi chọn không đắc cử, cũng chẳng bao giờ làm tôi buồn giận và dĩ nhiên, trong gia đình tôi, dù có những chọn lựa chính trị khác nhau, cũng chẳng bao giờ xảy ra cãi vã xào xáo hay không nhìn mặt nhau. Dân chủ đích thực là như vậy đó. Tôi chấp nhận và tôn trọng bất cứ lãnh tụ nào được bầu lên và dĩ nhiên, tôi cũng chấp nhận một cách dễ dàng sự kiện một lãnh tụ bị đảng cầm quyền lật đổ để đưa một người khác lên thay thế. “Quan nhứt thời” mà. Quan đến rồi quan cũng phải đi. Quan lên voi rồi quan cũng phải có lúc xuống chó thôi!
Nhìn sang một quốc gia có nền dân chủ lâu đời và mẫu mực cho cả thế giới là Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ, tôi  thấy “quan nhứt thời” cũng là chuyện bình thường và là thể hiện của nền dân chủ đích thực. Tổng thống nào giỏi thì cầm cự được 2 nhiệm kỳ 8 năm. Không tài ba lắm thì cũng đi hết một nhiệm kỳ 4 năm. Còn nếu phạm pháp thì cũng bị mang ra luận tội và bãi nhiệm. Điều này có nghĩa là chẳng có ông tổng thống Mỹ nào có quyền ngồi xổm trên luật pháp cả.
Theo dõi tin tức bên Hoa Kỳ, sau khi một  số cựu  phụ tá thân cận của ông đã cung khai về một số vụ “lùm xùm” gì đó có dính líu tới ông, tôi nghe có nhiều đồn đoán về việc đương kim Tổng thống Donald Trump có thể bị quốc hội mang ra luận tội và bãi nhiệm. Có lẽ đã đánh hơi được chuyện đó chăng, trong một cuộc phỏng vấn mới đây dành cho Đài truyền hình Fox News, Tổng thống Trump khẳng định rằng nếu ông bị bãi nhiệm thì  thị trường chứng khoán sẽ sụp đổ và rất nhiều người Mỹ sẽ lâm vào cảnh nghèo (If I ever got impeached, I think the market would crash).
Ai cũng nhìn nhận rằng dưới thời Tổng thống Trump kinh tế Mỹ đang lên như diều gặp gió, thất nghiệp giảm chưa từng thấy, công ăn việc làm tăng ào ào. Nếu như lời nói trên của Tổng thống Trump là đúng thì tôi cầu mong cho ông không bị bãi nhiệm, bởi vì nếu thị trường chứng khoán Mỹ mà sập tiệm thì cả thế giới cũng bị vạ lây. Nhưng tôi không biết các nhà lập pháp Mỹ có suy nghĩ như tôi không. Đã có tội thì dù có là một kinh tế gia tài ba cỡ nào đi nữa, tổng thống Mỹ nào cũng đều có thể bị mang ra luận tội và bị bãi nhiệm cả. Mà hình như thứ tội mà một tổng thống Mỹ có thể  bị mang ra đàn hặc và bãi nhiệm không phải là làm kinh tế dở hoặc một tội ác tày trời nào cả mà lại liên quan đến vấn đề “đạo đức” nhiều hơn.
Nhớ lại vụ Watergate của Tổng thống Richard Nixon giữa hai năm 1972 và 1974. Chỉ có cho người của mình đột  nhập vào trụ sở của Ủy ban Dân chủ để nghe lén hay  ăn cắp tài liệu thôi, vậy mà Tổng thống Nixon đã  bị quốc hội chuẩn bị đưa ra luận tội. Biết mình có thể bị bãi nhiệm, ông đã từ chức.
Chuyện của Tổng thống Bill Clinton hồi cuối thập niên 1990 có khác chút đỉnh, nhưng cũng quy về một mối là tác phong đạo đức. Đạo đức ở đây không có nghĩa là ông bị quốc hội luận tội vì thói trăng hoa của ông hay mối quan hệ của ông với người tập sự viên Monica Lewinsky ngay trong Tòa Bạch Ốc, mà là hành động bội thề của ông: thề thốt nói sự thật, nói hết sự thật và chỉ nói sự thật, nhưng ông lại nói quanh nói quẩn để chối sự thật. Truyền thống dân chủ Mỹ, như được chính Tổng thống George Washington lập ra, được xây dựng trên chính nền tảng là sự thật. Xét cho cùng, tác phong đạo đức của nhà lãnh đạo đất nước luôn được các nhà lập quốc Mỹ xem trọng.
Về điểm này tôi nhận thấy đương kim Phó tổng thống Mike Pence là người đã có một cái nhìn rất sáng suốt khi xảy ra vụ tai tiếng của Tổng thống Bill Clinton. Thời gian đó, Phó tổng thống Pence đang là bình luận viên trên một đài phát thanh địa phương tại Tiểu bang Indiana. Trong một bài bình luận có tựa đề “Tại sao Clinton phải từ chức hay phải bị bãi nhiệm” (Why Clinton must resign or be impeached”, ông bác bỏ lập luận cho rằng tổng thống “cũng chỉ là một người như chúng ta thôi”. Theo ông, “nếu quý vị và tôi rơi vào những thói quen vô đạo, chúng ta có thể hãm hại gia đình của chúng ta, các ông chủ sở làm của chúng ta và bạn bè của chúng ta. Tổng thống Hoa Kỳ là người có thể đốt cả hành tinh. Nói một cách nghiêm chỉnh, nếu chúng ta nghĩ rằng chúng ta không cần phải đòi hỏi tổng thống phải có tác phong đạo đức hơn người láng giềng của chúng ta thì đó là một ý tưởng điên rồ và nguy hiểm.
Xuyên suốt lịch sử của chúng ta, chúng ta đã luôn xem chức vụ tổng thống như là kho tàng chất chứa  tất cả những niềm hy vọng, lý tưởng và giá trị cao đẹp nhứt của chúng ta. Không đòi hỏi điều đó là bất công đối với dòng máu đã đổ ra để mua lấy các quyền tự do của chúng ta”.
Trong một bài bình luận khác  về thói dối trá của Tổng thống Bill Clinton, bình luận viên Pence viết: “Hơn nữa, những lời dối trá liên tục của tổng thống (Clinton) với dân chúng Mỹ về vấn đề này là một bằng chứng chống lại ông bởi vì đó là một bằng chứng cho thấy ông đã không bảo vệ được chức vụ tổng thống xét như là “biểu tượng tạo nhiều cảm hứng nhứt về tất cả những gì là cao đẹp nhứt trong các lý tưởng của Hoa Kỳ”.  
Về ảnh hưởng của một vị tổng thống đối với các gia đình Mỹ, tác giả viết: “Khi quan hệ ngoại hôn bất chính và ly dị ngày càng gia tăng, Hoa Kỳ cần phải hướng nhìn về Đệ nhứt Gia đình như mẫu mực cho tất cả chúng ta.” Ông kêu gọi các nhà lập pháp Cộng hòa hãy hành động để bãi nhiệm tổng thống Clinton ngay cả nếu hành động này có thể khiến cho Cộng hòa mất quyền kiểm soát Quốc hội (https://edition.cnn.com/2018/08/06/politics/kfile-mike-pence-moral-columns/index.html). Lúc bấy giờ Hạ viện do Cộng hòa kiểm soát đã tiến hành việc luận tội Tổng thống Bill Clinton vì tội bội thề, nghĩa là dối trá và như vậy không có tác phong đạo đức để lãnh đạo đất nước và làm biểu tượng cho những  lý tưởng  cao đẹp nhứt của Hoa Kỳ.
Đọc lại những lời bình luận của Phó tổng thống Pence về vụ tai tiếng của Tổng thống Bill Clinton và việc Hạ viện Hoa Kỳ tiến hành luận tội để bãi nhiệm ông vì tội bội thề, tôi nhận thấy Hoa Kỳ là một quốc gia luôn xem trọng những giá trị đạo đức trong sinh hoạt chính trị.
Thượng nghị sĩ John McCain vừa mới qua đời. Ít thấy có một chính trị gia Mỹ nào vừa nằm xuống mà đã được nhiều người, dù thuộc bên nào, ca ngợi, thương nhớ như ông. Hầu hết những lời ca ngợi đều quy về nhân cách và tác phong đạo đức của ông. Tôi chỉ đọc được 2 điều đáng ghi nhớ về ông. Năm 1968,  Tổng thống LB Johnson bổ nhiệm thân phụ ông, một viên tướng tư lệnh Hải quân 4 sao làm tổng tư lệnh lực lượng Thái Bình Dương, bao gồm cả bộ chỉ huy quân đội Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam. Chộp lấy cơ hội để tuyên truyền, nhà cầm quyền cộng sản Miền Bắc đề nghị phóng thích ông hiện đang bị giam ở nhà tù Hỏa Lò Hà Nội. Nhưng viên sĩ quan hải quân McCain này đã yêu cầu cho những tù nhân Mỹ bị bắt trước ông phải được thả ra trước đã. Cộng sản Bắc Việt đã từ chối đề nghị của ông và như vậy ông đã bị tống giam vào ngục tối trong hai năm rưỡi nữa.
Một câu chuyện khác khiến tôi cảm phục tư cách của ông. Trong một cuộc vận động bầu cử tại Thành phố Lakeville, Tiểu bang Minnesota dạo tháng Mười năm 2008, một người phụ nữ ủng hộ ông đã cầm micro nói với ông: “Tôi không thể tin tưởng ông Obama, tôi đã đọc (tài liệu) về ông...ông ta là một người Á Rập”. Ứng cử viên McCain liền giựt micro khỏi tay người phụ nữ, ngắt lời bà rồi nói: “Thưa bà, không phải vậy đâu. Ông ta là một người có gia đình, là một người có tư cách, một công dân mà tôi không đồng quan điểm về những vấn đề nền tảng và đó là cốt lõi của cuộc vận động của tôi. Ông không phải là một người Á Rập”.
Có thể Thượng nghị sĩ McCain không phải là một chính trị gia giỏi. Cả 2 lần tranh cử tổng thống đều thất bại. Nhưng nếu ông sẽ mãi mãi là nguồn cảm hứng cho người đương thời và các thế hệ tương lai là bởi ông là người có nhân cách lớn. Nói theo ngôn ngữ quen thuộc của người Việt Nam, ông là người luôn sống có nhân nghĩa.
“Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân”. Cụ Nguyễn Trải đã viết những dòng mở đầu như thế trong bài Bình Ngô Đại Cáo. Cụ Ngô Tất Tố đã dịch thành “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Thời trung học tôi vốn dốt văn, nhưng cũng hiểu được rằng người trọng nhân nghĩa là người biết xem trọng những giá trị đạo đức, biết nghĩ tới người khác, không dối trá. Điều này lại càng đúng hơn cho những người muốn “trị quốc bình thiên hạ”. “Người dân” được “yên” không chỉ nhờ được no cơm ấm áo, mà còn phải được nâng cao trong cuộc sống nhân bản và đạo đức nữa. Và dĩ nhiên, con người, dù trong địa vị và hoàn cảnh nào, cũng chỉ thực sự có được cái tâm an bình khi họ biết sống có “nhân nghĩa”.









Thứ Hai, 3 tháng 9, 2018

Á Rập Saudi: Hiện đại hóa và nhân quyền!



                                                                                               31/08/18

Khi Thái tử Mohammed bin Salman được bổ nhiệm đệ nhất phó thủ tướng của Vương quốc Á Rập Saudi  và chuẩn bị lên kế vị vua cha, thế giới hy vọng một luồng gió mới sẽ thổi vào vương quốc Hồi giáo này. Nhưng không những “không có gì mới dưới ánh mặt trời” của vương quốc, mà tình hình xem ra còn tồi tệ hơn. Chỉ vài tháng sau khi muốn chứng tỏ rằng Á Rập Saudi muốn “ngang tầm” với thế giới hiện đại, Thái tử Mohammed bin Salman lại bước những bước thụt lùi đáng lo ngại hơn.
Hiện nay, như các cơ quan truyền thông thế giới đưa tin, một nhà hoạt động cho nhân quyền hiện đang phải đối mặt với  án tử hình bằng xử trảm. Tù nhân này lại là một phụ nữ. Tội của bà ư? Tham gia biểu tình, “hô những khẩu hiệu thù nghịch với chế độ” và nhất là quay phim những cuộc biểu tình ôn hòa để đưa lên các trang mạng xã hội.
Tên của người phụ nữ này là Israa al- Ghomgham. Bà đã bị bắt giữ và biệt giam trong tù từ gần 3 năm nay. Khi bị bắt giam tù, người phụ nữ này và 5 “tòng phạm” của bà đã không bao giờ được cho phép tiếp xúc với bất cứ luật sư nào.
Tuần vừa qua, tại một tòa án chống khủng bố ở Thủ đô Riyadh, các công tố viên đã kêu gọi xử trảm các bị cáo. Với các tổ chức bênh vực nhân nhân quyền trên khắp thế giới, một sự trừng phạt như thế chỉ có thể bị xem là một hành động vô nhân đạo mà thôi.
Bà al-Ghomgham sẽ là người phụ nữ đầu tiên bị tử hình vì tham gia vào một cuộc biểu tình ôn hòa.
Dạo tháng Giêng vừa qua, ông Anthony Bubalo, một nhà ngoại giao Úc đã từng làm việc tại Á Rập Saudi và hiện đang là giám đốc nghiên cứu tại viện Lowy Institute của Úc Đại Lợi, đã nói với báo mạng news.com.au rằng thái tử kế vị Mohammed bin Salman muốn tỏ cho thế giới thấy rằng ông thực sự muốn canh tân xứ sở của ông.
Dân số Á Rập Saudi tương đối trẻ. Phần lớn dưới tuổi 30. Thái tử Mohammed bin Salmon mong muốn và tin tưởng rằng ông có thể hiện đại hóa đất nước. Khi vừa lên cầm quyền, ông liền mở chiến dịch thanh trừng không xót thương tất cả những đối thủ chính trị có dính líu vào tham nhũng. Đã có hàng trăm chính trị gia và doanh nhân bị bắt giữ tại khách sạn Ritz Carlton ở Riyadh. Trong số này có 11 người là thành viên của hoàng gia, bộ trưởng và các đại gia. Tất cả đều bị cáo buộc với một loạt tội ác như tham nhũng và nhận hối lộ. Trong chiến dịch thanh trừng này, Chính phủ Á Rập Saudi đã thu được trên 100 tỷ Mỹ kim.
Kể từ đó, dưới mắt thế giới, hình ảnh của Thái tử Mohammed bin Salmon bỗng sáng rực lên như một lãnh tụ thực sự muốn hiện đại hóa đất nước. Khắp nơi cũng như trong nước, ở đâu người ta cũng thấy khuôn mặt tươi cười của ông bên cạnh các nguyên thủ quốc gia trên thế giới như đứng bên cạnh Nữ hoàng Anh trong cung điện Buckingham, Thủ tướng Anh Theresa May, Tổng thống Mỹ Donald Trump cũng như Tổng thống Nga Vladimir Putin trên khán đài nhân Giải Túc Cầu Thế Giới vừa qua.
Trong bài phỏng vấn dành cho báo mạng news.com.au, nhà ngoại giao Úc Bubalo khẳng định rằng thái tử Mohammed bin Salman ý thức rằng Á Rập Saudi không thể tiếp tục sống dựa vào kho dầu lửa  của mình nữa, bởi vì giá dầu không còn cao như cách đây một thập niên. Để hiện đại hóa đất nước, dĩ nhiên cần phải hiện đại và đa dạng hóa kinh tế.
Không những về kinh tế, Mohammed bin Salman còn muốn chứng tỏ cho thế giới thấy ông là một nhà cải cách ngay cả trong lãnh vực nữ quyền. Đầu năm nay, thế giới đã nhìn thấy tận mắt hình ảnh của các phụ nữ Á Rập Saudi ăn mừng về việc chính phủ quyết định cho phép họ được lái xe. Bất thần, họ cũng được đi xem các trận đấu thể thao vốn trước kia chỉ dành cho nam giới. Ngoài ra, như một dấu chỉ khác của nỗ lực hiện đại, ngày 18 tháng Tư vừa qua, Á Rập Saudi cho phép mở một rạp chiếu bóng. Rạp sẽ chiếu những phim gì, không ai biết được, nhưng ít ra được vào rạp xem chiếu bóng quả là một “quyền” mới khó tưởng tượng được trong vương quốc Hồi giáo này.
Phụ nữ được phép cầm tay lái quả là một tiến bộ khủng khiếp tại Á Rập Saudi. Chỉ cách đây mới 7 năm thôi, một nhà hoạt động cho nữ quyền trong vương quốc là cô Manal al-Sharif đã bị bắt giữ và giam tù vì tội “đàn bà mà dám lái xe”!
Tuy nhiên, với thế giới bên ngoài, một số những cử chỉ “tiến bộ” trên đây cũng chẳng thực sự làm thay đổi được bộ mặt trước sau như một vẫn còn độc tài của Á Rập Saudi. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nói rằng tòa án được mệnh danh là Tòa Hình Sự Đặc Nhiệm được thành lập năm 2008 để xử các hành vi khủng bố, thật ra chỉ được sử dụng để truy tố các nhà bất đồng chính kiến ôn hòa. Tòa này nổi tiếng với những vi phạm về những tiêu chuẩn xét xử công minh của thế giới.
Riêng về trường hợp của bà al-Ghomgham, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền khẳng định rằng những cáo buộc hoàn toàn không dính dáng gì đến tội ác cả. Ngoài tội gọi là tham gia các cuộc biểu tình ôn hòa và quay phim các cuộc biểu tình này, bà al-Ghomgham còn bị cáo buộc lấy hình của một người khác trên Facebook để dán vào sổ thông hành của mình, đồng thời “ủng hộ tinh thần những người biểu tình”. Bà al-Ghomgham còn bị cáo buộc tham dự tang lễ của những người biểu tình bị giết chết trong những cuộc đụng độ với các lực lượng an ninh.
Dựa vào luật “Ta’zir” của Hồi giáo, các công tố viên đã kêu gọi sử trảm 5 trong số 6 bị cáo. Theo luật “Ta’zir” của Hồi giáo, thẩm phám có quyền tự do quyết định về thế nào là tội ác cũng như về bản án.
Samah Hadid, Giám đốc chiến dịch của Tổ chức Ân xá Quốc tế tại Trung Đông, lo ngại rằng rồi đây những phụ nữ khác hiện đang bị giam trong các nhà tù của Á Rập Saudi vì những “tội ác” tương tự cũng có thể bị mang ra xử tử như thế. Bà Hadi kêu gọi chính phủ Á Rập Saudi hãy tức khắc chấm dứt phương pháp xử tử vô nhân đạo này. Theo bà, với việc xử trảm bà al-Ghomgham, Á Rập Saudi  muốn gởi đi một tín hiệu đáng sợ là những nhà hoạt động ôn hòa cho nhân quyền khác rồi đây cũng sẽ bị mang ra xử trảm như thế.
Bà Hadid nói rằng “Á Rập Saudi là một trong nước xử tử nhiều nhất và thế giới không thể tiếp tục làm ngơ trước thành tích nhân quyền ghê tởm này”. Bà kêu gọi “cộng đồng thế giới hãy tạo áp lức lên Á Rập Saudi để chấm dứt hình phạt tử hình vốn được sử dụng một cách bất công và vì lý do chính trị.
Bà al-Ghomgham và chồng bà là ông Moussa al-Hashem đã bị bắt giữ trong một cuộc bố ráp tại nhà ngày 6 tháng Mười Hai năm 2015, vì bị cáo buộc tham gia vào những cuộc biểu tình ôn hòa tại tỉnh Qatif, miền Đông Á Rập Saudi, liền sau cuộc cách mạng ôn hòa thường được mệnh danh là Mùa Xuân Á Rập.
Bà al-Ghomgham vốn là một tín đồ Hồi giáo thuộc hệ phái Shia. Theo Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, mục tiêu chính của cuộc tranh đấu ôn hòa của bà là kêu gọi Chính phủ Á Rập Saudi, vốn thuộc hệ phái Sunni là hệ phái chiếm đa số tại vương quốc này, hãy chấm dứt “chủ trương kỳ thị có hệ thống” chống lại thiểu số Hồi giáo Shia.
Không chỉ kỳ thị đối với cộng đồng thiểu số Hồi giáo Shia trong vương quốc, Thái tử Mohammed bin Salman cũng chủ trương loại trừ và bách hại bất cứ một thành phần bất đồng chính kiến nào.
Theo Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, mới đây nại đến việc duy trì an ninh, chính phủ Á Rập Saudi đã ra lệnh bắt giữ ít nhất 13 phụ nữ. Một số đã được trả tự do, nhưng vẫn còn một số khác hiện đang bị giam giữ mà không hề bị mang ra xét xử và còn bị truyền thông của vương quốc gọi là những kẻ “phản quốc”. Họ bị kết án 20 tù vì bày tỏ ý kiến một cách ôn hòa.
Tháng Năm vừa qua, một người viết Blog tên là Eman al-Nafjan đã bị giam giữ cùng với 6 người phụ nữ tranh đấu cho nhân quyền khác. Đầu tháng Tám vừa qua, Amal al-Harbi, vợ của ông Fawzan-al-Harbi, một nhà tranh đấu cho nhân quyền bị bắt giữ và giam tù hồi năm 2014, cũng bị bắt giữ. Người ta cũng không biết lý do tại sao bà bị bắt giữ.
Trong tháng Tám này lại có thêm hai người phụ nữ tranh đấu cho nhân quyền là Samar Badawi và Nassima al-Sada cũng bị bắt giữ và giam tù. Theo Tổ chức Ân xá Quốc tế, “đây là dấu hiệu cho thấy các cuộc bắt giữ không giảm bớt”.
Cách đây 6 năm, bà Raif  Badawi, chị của bà Samar Badawi đã được Đệ nhất phu nhân Michelle Obama cùng với cựu Ngoại trưởng Hillary Clinton trao Giải Phụ Nữ Can Đảm trong một buổi lễ được cử hành tại Thủ đô Hoa Thịnh Đốn.  Bà Badawi đã bị trừng phạt bằng 1000 cú roi và hiện đang thi hành bản án 10 năm tù vì tội gọi là “dùng các kênh điện tử để phỉ báng Hồi giáo”. Như Tổ chức Ân xá Quốc tế đã nhìn nhận, bà Badawi và những người phụ nữ Á Rập Saudi can đảm là một chút vết tích còn sót lại của một cộng đồng tranh đấu cho nhân quyền tại Á Rập Saudi. Với Thái tử Mohammed bin Salman, sẽ không còn lại một không gian nào cho những người tranh đấu cho nhân quyền trong vương quốc này.
Dù có cam kết hiện đại hóa đất nước đến đâu, Vương quốc Á Rập Saudi vẫn tiếp tục tạo những thành tích tồi tệ về nhân quyền, đặc biệt liên quan đến sắc tộc, tôn giáo và thân phận phụ nữ.
Cho tới nay, dường như cộng đồng thế giới vẫn tiếp tục nhắm mắt làm ngơ trước những vi phạm nhân quyền trắng trợn của vương quốc này. Những nước như Anh, Pháp và Hoa Kỳ, vốn là những nước có thể tạo áp lực lên Á Rập Saudi để cải thiện tình trạng nhân quyền của nước này, vẫn tiếp tục giữ thinh lặng. Chỉ có một quốc gia dám lên tiếng chỉ trích những vi phạm nhân quyền của Á Rập Saudi và kêu gọi trả tự do cho những người bất đồng chính kiến bị giam giữ là Gia Nã Đại. Phản ứng trước lời kêu gọi của Gia Nã Đại, Á Rập Saudi liền loan báo rút đại sứ về nước, đồng thời trục xuất đại sứ Gia Nã Đại. Ngoài ra các bệnh nhân Á Rập Saudi đang điều trị tại Gia Nã Đại cũng như các sinh viên học sinh đang học tại Gia Nã Đại cũng bị ra lệnh phải rời khỏi Gia Nã Đại.
Với hành động này, Á Rập Saudi nói rằng “bất cứ một toan tính nào của Gia Nã Đại nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của Á Rập Saudi cũng đều có nghĩa là Á Rập Saudi được phép can thiệp vào công việc nội bộ của Gia Nã Đại”.
Theo các nhà phân tích, với chỗ dựa vững chắc là Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Donald Trump, khi tỏ rõ thái độ cứng rắn trước những lời chỉ trích từ bên ngoài về thành tích nhân quyền tồi tệ của mình, Á Rập Saudi muốn gởi đi một tín hiệu cho thế giới rằng họ sẽ còn mạnh tay hơn đối với các nhà bất đồng chính kiến và hoạt động cho nhân quyền trong nước.
Trong thời đại này, hiện đại hóa và nhân quyền thường không đi đôi với nhau. Đó quả thật là điều đáng buồn cho thế giới!
(nguồn:
-https://www.news.com.au/world/middle-east/female-human-rights-activist-faces-beheading-for-taking-part-in-antigovernment-protests/news-story
-https://www.news.com.au/finance/economy/world-economy/the-two-words-from-canada-that-offended-saudi-arabia/news)

Thứ Tư, 29 tháng 8, 2018

Thực và Đạo



Chu Thập
24/08/18
Tôi “yêu” Úc Đại Lợi, quê hương thứ hai của tôi. Đi đâu rồi nhìn lại, tôi vẫn thấy “quê hương” của mình là nhứt. Ăn cây nào rào cây nấy. Có thể tôi chủ quan. Nhưng mới đây, khi tạp chí Economist của Anh công bố danh sách của 10 thành phố đáng sống (livable) nhứt trên thế giới, tôi thấy mình có đủ lý do để tự hào về đất nước mình đã chọn làm quê hương thứ hai. Trong 10 thành phố đáng sống nhứt này, Melbourne đứng hàng thứ 2, Sydney đứng hàng thứ 5 và Adelaide đứng hàng thứ 10. Với dân số vừa mới bước vào ngưỡng cửa 25 triệu dân cách đây một tháng, Úc không phải là một nước lớn. Còn nếu lấy tổng sản lượng quốc gia ra để “đấu” với những người khổng lồ như Hoa Kỳ hay Trung Cộng, Úc chỉ là một cậu bé tí hon. Vậy mà đất nước này năm nào cũng có nhiều thành phố lọt vào danh sách 10 thành phố đáng sống nhứt. Công dân Úc không có lý do gì để không tự hào về đất nước của mình.
Nhìn sang người anh em của Úc trong khối Thịnh vượng chung là Gia Nã Đại, tôi tin chắc là người dân ở đó cũng phải có cùng một niềm tự hào như tôi. Trong danh sách 10 thành phố đáng sống nhứt theo sự bầu chọn của tạp chí Economist, Gia Nã Đại cũng có tới 3 thành phố: Calgary được xếp tới hàng thứ 4, Vancouver hàng thứ 6 và Toronto hàng thứ 7.
Tôi đã đến Toronto. Còn Vancouver, tôi chỉ mới nghe người Việt tỵ nạn ở Gia Nã Đại quảng cáo. Riêng Calgary, dạo tháng Bảy vừa qua, tôi đã “mục sở thị”. Trong gần một tuần lễ ở chơi với ông bạn nối khố từ lúc thiếu thời, tôi  đã được đưa đi thăm thú một vòng thành phố và những vùng ngoại ô của thành phố này. Nếu không có mùa đông hơi khắc nghiệt đối với lớp da thiếu mỡ của một người Á Châu như tôi thì quả thật Calgary là một thành phố đáng sống nhứt theo những tiêu chuẩn được tạp chí Economist chỉ ra như văn hóa, hạ tầng cơ sở, bảo hiểm y tế, tội ác và xung đột, giáo dục...Riêng ông bạn của tôi dường như muốn cho tôi thấy một khía cạnh khác của Calgary. Một hôm ông chở vợ chồng tôi đi dọc theo một con sông bao quanh thành phố. Khi đến gần trung tâm thành phố, ông chỉ vào một tòa nhà khá khang trang. Khang trang đến độ một số người Việt tỵ nạn từ xa đến tưởng đó là một khách sạn, định vô mướn phòng. Nhưng bạn tôi giải thích: đó là một trung tâm dành cho người vô gia cư (homeless). Thành phố Calgary là một nơi đáng sống là phải bởi vì ngay cả người vô gia cư cũng có nơi ăn chốn ở như mọi người!
Không hiểu sao hình ảnh của “khách sạn” dành cho người vô gia cư ở thành phố Calgary cứ đeo đuổi tôi suốt cả tuần khi tôi đến thăm gia đình cô em gái ở Orange County, Tiểu bang California,  tiểu bang giàu nhứt nước Mỹ với nền kinh tế đứng hàng thứ 5 trên thế giới. Trong tiểu bang này, thành phố Los Angeles phải được xem là biểu tượng của sự thịnh vượng và danh tiếng về mọi mặt của nước Mỹ.
Trong gần một tuần lễ ở đó, tôi đã  đi và đến phi trường Los 4, 5 lần. Và lần nào, từ thủ đô người Việt tỵ nạn tại Orange County cũng phải mất khoảng một tiếng đồng hồ để đi trên xa lộ xuyên bang 405 chạy ngang qua phi trường. Hệ thống xa lộ là biểu tượng của sự giàu có của Hoa Kỳ. Một tên nhà quê đến từ “Miệt Dưới” như tôi chỉ biết há mồm để trầm trồ ngưỡng mộ sự vĩ đại của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Mỗi bên xa lộ có đến 5,7 “len”, “len” nào cũng “nêm” cứng xe cộ.
Có lẽ không quen với cảnh giàu sang và náo nhiệt của quốc gia vĩ đại và giàu có nhứt hành tinh này chăng, có lúc tôi thấy ngộp thở. Ngộp thở vì nhìn hai bên xa lộ chỉ thấy bức tường chắn tiếng động mà tuyệt nhiên không có bất cứ màu xanh nào của cây rừng hay công viên. Ngộp thở vì nhìn đâu cũng chỉ thấy nhà máy, cơ xưởng và trung tâm thương mại. Nhưng ngộp thở nhứt với tôi có lẽ là bầu trời xám xịt bao phủ 24/24 thành phố Los và ngay cả những vùng phụ cận. Có lúc tôi tưởng như mình đang ở giữa thành phố Bắc Kinh của Trung Cộng, tuy chưa đến nỗi phải đeo khẩu trang mỗi khi ra đường. Ngay biển và những bờ biển thật đẹp như Huntington beach, Seal beach, Newport beach... cũng được phủ xuống một lớp “khói mù” (smog) dày đặc. Màu xanh da trời hay màu xanh của biển ở Los có lẽ chỉ còn có trong tranh!
Cộng với nạn cháy rừng và sức nóng của mùa hè, tôi không biết người ta còn có đủ khí để thở trong lớp “sương mù” ấy không. Nhớ lại “khách sạn” của người vô gia cư tại Calgary, tôi thấy tội nghiệp cho những người vô gia cư ở Los. Tôi không biết những người vô gia cư ở thành phố Los, thành phố được mệnh danh là “thủ đô” của người vô gia cư, có thở nổi dưới bầu trời dày đặc khói mù và oi bức ấy không.
Để giúp vợ chồng tôi cảm được thế nào là cuộc sống vô gia cư ở Lo Angeles, một linh mục Việt Nam làm việc cho người vô gia cư đã đưa chúng tôi đi một vòng “thủ đô” của họ. Phải mất nửa tiếng đồng hồ lái xe mới có được một cái nhìn khái quát về “thủ đô” này. Trên vỉa hè của rất nhiều dãy phố ngay trong trung tâm thành phố Los, người vô gia cư dựng lên những túp lều bằng ni lông, cát-tông hay giấy bạt vừa đủ không gian cho một người để nằm. Ngồi trong xe có máy lạnh, nhưng tôi vẫn cảm được cái nóng đốt cháy da thịt của mùa hè ở Los. Vậy mà theo vị linh mục này cho biết: dân số vô gia cư ở thành phố Los theo con số chính thức là khoảng 50 ngàn người. Nhưng ông nói rằng trong thực tế con số ấy có thể cao hơn. Phần lớn là người Mỹ gốc Phi Châu.
Nhớ lại hình ảnh của “khách sạn” của người vô gia cư tại Calgary bên Gia Nã Đại, rồi nhìn xuống những túp lều của những “Chú Tom” (như ai đó đã gọi người Mỹ gốc Phi Châu một cách khinh miệt!) tôi thấy xót xa. Những trang sử đen tối của chế độ nô lệ vào thời kỳ lập quốc của Hoa Kỳ lại hiện về trong tâm trí tôi. Có thể tách lìa sự phồn vinh và phú cường của đệ nhứt siêu cường thế giới khỏi lịch sử ấy không? Hoa kỳ có thể trở thành một cường quốc không nếu không có hàng hàng lớp lớp đời này qua đời khác những người nô lệ da đen bị bóc lột tất cả từ khi chào đời đến lúc lìa đời không? Và khi sự giàu có lại san sát với cảnh nghèo thì liệu đó có phải là sự phồn vinh đích thực không và một sự giàu sang phú quý như thế có thể khỏa lấp được lương tâm của mình để thực sự sống hạnh phúc và bình an không?
Có lẽ tôi thường suy nghĩ theo lối “triết lý cùn” của một người nghèo nên luôn cho rằng sự giàu sang không đương nhiên mang lại hạnh phúc đích thực cho con người. Nghĩ xa hơn tôi cũng cho rằng sức mạnh kinh tế và nhứt là quân sự của một quốc gia cũng không đương nhiên mang lại hạnh phúc cho người dân và nhứt là biện minh cho sự chính danh của một chế độ.
Tôi có ý nghĩ ấy khi đọc một bài phóng sự mới đây của Đài BBC về cuộc sống của người dân Nam Hàn. Bài phóng sự mở đầu với hình ảnh của một người đàn ông đang ngồi câu cá dọc theo một bờ đá. Những đứa con của ông đang chơi đùa bên cạnh. Phóng viên của Đài BBC viết rằng người đàn ông này đang quảng cáo không công cho một chiến dịch của Chính phủ Nam Hàn có tên là “Worabel”,  nghĩa là “cân bằng việc làm và cuộc sống”.
Theo Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế gọi tắt là OECD, Nam Hàn là một trong những quốc gia có số người phải làm việc nhiều giờ nhứt trên thế giới: trên 20 phần trăm công nhân Nam Hàn phải làm hơn 50 giờ một tuần và phần lớn không nghỉ hơn phân nửa số ngày nghỉ mà họ có quyền lấy.
Dĩ nhiên, làm việc quá tải như thế cho nên nhiều người bị căng thẳng và rơi vào trầm cảm khiến cho tỷ lệ tự tử ở Nam Hàn lên rất cao. Ngoài ra, làm việc quá nhiều cũng khiến cho sinh xuất của Nam Hàn ngày càng giảm. Người phụ nữ sợ sinh đẻ bởi vì họ sợ vác thêm gánh nặng của việc nuôi dạy con cái.
Sự phát triển kinh tế của Nam Hàn quả là một phép lạ tại Á Châu. Ngày nay, các sản phẩm của Nam Hàn như xe hơi, thiết bị gia dụng, điện thoại tinh khôn... tràn ngập khắp thế giới. Ngay cả kỹ nghệ điện ảnh của Nam Hàn cũng xâm chiếm thị trường thế giới. Thu nhập trung bình  tính theo đầu người của người dân Nam Hàn trong năm nay đã lên đến 30.000 Mỹ kim. Từ xe BMW đến phòng vệ sinh được điều khiển từ xa (remote control)...bất cứ thứ xa xỉ nào trên thế giới, họ cũng đều có cả. Tuy nhiên kể từ năm 2013, nếu so sánh với các nước khác trong Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế, sự hài lòng với cuộc sống của người dân Nam Hàn lại ở dưới mức trung bình.
Chính vì vậy mà trong chiến dịch vận động bầu cử, Tổng thống Moon Jae-in đã tung ra khẩu hiệu “Người dân là trước hết” (People first). Ông muốn thấy người dân phải được hạnh phúc chớ không chỉ biết làm quần quật suốt ngày để làm giàu. Trong thông điệp đầu năm 2018 vừa qua, ông nói rằng “Tự nó con số (30.000 Mỹ kim) không quan trọng. Điều quan trọng là phải bảo đảm cho người dân hưởng được cuộc sống tốt đẹp hợp với số thu nhập tính theo đầu người là 30.000 Mỹ kim ấy”. Tựu trung, với khẩu hiệu “Người dân là trước tiên” của ông, đương kim tổng thống Nam Hàn mong muốn cho người dân được thực sự hạnh phúc.
Thật ra, Nam Hàn không phải là quốc gia duy nhứt hay đầu tiên quan tâm đến hạnh phúc của người dân. Kể từ năm 2012, Anh Quốc cũng đã làm một bài tính từ bảo hiểm y tế, công ăn việc làm và giáo dục để đề ra những chính sách khả dĩ giúp người dân được sống hạnh phúc. Riêng các Tiểu vương quốc Á Rập Thống Nhứt mới đây đã lập thêm một bộ mới lấy tên là “Bộ Hạnh phúc và Phúc lợi” với tham vọng trở thành một trong những nước hạnh phúc nhứt trên trái đất vào năm 2021.
Nhưng nói đến hạnh phúc của người dân, không thể không nói đến bước đi tiên phong của Vương quốc Bhutan, quốc gia có đa số dân theo Phật Giáo nằm ở phía Đông Hy Mã Lạp Sơn. Kể từ năm 2008, quốc gia này tuyên bố đặt Tổng sản lượng Hạnh phúc lên trên phát triển kinh tế. Năm 2016, Tổng thống Moon đã viếng thăm Bhutan. Cảm hứng từ những gì đã quan sát được ở Bhutan chăng, ông cũng muốn đưa hạnh phúc của người dân lên trước hết, xem hạnh phúc của họ như điều kiện tiên quyết của phát triển kinh tế.
Dân giàu nước mạnh. Có người dân và chính phủ nào không mong muốn điều đó. Nhưng thế nào là giàu mạnh? Và có phải giàu mạnh bằng mọi cách, mọi giá hay không? Thời xa xưa các đế quốc và các nước thực dân đã làm giàu bằng tài nguyên cướp bóc từ  các nước thuộc địa và nhứt là trên xương máu của người nô lệ. Ở Thế kỷ 20, trước khi xảy ra Đệ nhị Thế chiến, Đức quốc xã của Hitler và nước Ý dưới thời Benito Mussolini là 2 nước có nền kinh tế mạnh nhứt nhì Âu Châu. Hai nhà độc tài này đã dùng kinh tế để biện minh cho những chính sách vô nhân đạo của họ. Gần đây hơn, với chủ trương “mèo trắng hay mèo đen không quan trọng, miễn là bắt được chuột”, Trung Cộng đã làm giàu và làm giàu bằng mọi cách, kể cả phá hủy môi trường và nhứt là chà đạp và tước đoạt tất cả mọi quyền căn bản của người dân. Nói đâu cho xa, kể từ lúc mở cửa, kinh tế Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể. Nhưng liệu sự phát triển kinh tế ấy có biện minh được cho chế độ độc tài đảng trị, bán nước của đảng cộng sản không?
Kinh tế không phải là tất cả. Sự sống còn và sức mạnh đích thực của một quốc gia còn phải dựa vào những giá trị khác như nhân bản, đạo đức mà kinh tế và sự giàu có không thể mang lại được. Một nguyên thủ quốc gia đích thực không chỉ là một nhà kinh tế giỏi, mà còn phải là người đại diện và xiển dương những giá trị nền tảng làm nên sức mạnh và sự vĩ đại đích thực của một quốc gia. Thời nào người dân cũng đòi hỏi nơi nhà lãnh đạo tài ba và đức độ. Nói một cách đơn giản, hơn ai hết, nguyên thủ quốc gia phải là một người có tư cách.
Xét cho cùng, như “nhà đạo” của tôi dạy: con người không chỉ sống bằng cơm bánh! Làm giàu một cách bất lương là điều đáng phỉ nhổ. Nhưng giàu có mà không san sẻ, sớt chia cho người nghèo cũng là một cách sống không phải đạo. Một cuộc sống có ý nghĩa, đáng sống còn phải được xây dựng trên những giá trị nhân bản và đạo đức nữa.







Chủ Nhật, 26 tháng 8, 2018

Phụ nữ và khí hậu thay đổi




24/08/18
Khí hậu thay đổi là một hiện tượng khó chối cãi. Bão lụt, hạn hán, cháy rừng và những đợt nóng kéo dài tại nhiều nơi trên thế giới đã tạo ra nhiều thiệt hại về đủ mọi phương diện cho con người. Trong số những nạn nhân phải gánh chịu nhiều thiệt hại nhất, nữ giới là số đông.
Một cuộc nghiên cứu đã chỉ ra rằng vào khoảng năm 2050, số người tỵ nạn vì những hậu quả của khí hậu thay đổi trên khắp thế giới có thể lên đến 150 triệu người, trong số này 80 phần trăm sẽ là phụ nữ và trẻ con. Phụ nữ ở những vùng nông thôn của Nam bán cầu như Phi Châu, Á Châu, Châu Mỹ La Tinh và các vùng Á Rập sẽ là những người bị thiệt thòi nhiều nhất vì hạn hán, đói kém và thời tiết khắc nghiệt.
Theo một bản phúc trình của Liên Hiệp Quốc, có đến 80 phần trăm những người phải di tản vì khí hậu thay đổi là phụ nữ. Vì đóng vai trò “nội trợ” và ngay cả cần câu cơm của gia đình, người phụ nữ dễ bị tổn thương hơn đàn ông khi xảy ra lụt lội và hạn hán. Tại rất nhiều nước nghèo, phụ nữ phải gánh lấy trách nhiệm sinh đẻ và nuôi dưỡng con cái, nhất là trong những cộng đồng vẫn còn lệ thuộc vào nông nghiệp. Tại những nước lệ thuộc vào nông nghiệp, 80 phần trăm lực lượng lao động là phụ nữ.  Trong những nền kinh tế còn lệ thuộc vào nông nghiệp và thời tiết, người phụ nữ lại thường ít được hưởng những cơ may và phương tiện sống như đàn ông. Họ ít được học hành, ít được hưởng chăm sóc y tế, ít được hưởng các tài nguyên, vật lực và tiền bạc cũng như ngay cả các quyền căn bản của con người. Thị trường lao động thường cũng không được mở rộng cho phụ nữ. Tình trạng bất bình đẳng nam nữ tại nhiều nước cũng khiến phụ nữ không có được tiếng nói trong xã hội và ngay cả những chính sách có liên quan đến họ. Chính vì bị đẩy ra bên lề xã hội mà người phụ nữ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc đối phó với những thiên tai do khí hậu thay đổi tạo ra.
Khi dịch bệnh Zika xảy ra tại một số nước Châu Mỹ La Tinh chẳng hạn, phụ nữ và trẻ em là những người phải hứng chịu nhiều hơn ai hết những tác hại của khí hậu thay đổi. Nói chung, tại những nước nghèo, khi xảy ra dịch bệnh hay thiên tai, đàn ông vẫn luôn được ưu tiên  tiếp cứu hoặc được chăm sóc kỹ hơn cũng như được bảo đảm về lương thực và tài chính hơn. Đây là trường hợp điển hình tại Bangladesh vào năm 1991 khi quốc gia này phải trải qua một trận bão làm cho 140.000 người bị thiệt mạng: có đến 90 phần trăm nạn nhân là phụ nữ!
Thỏa ước Paris 2015 về việc giảm bớt khí thải để đối phó với hiện tượng trái đất hâm nóng và khí hậu thay đồi, được hầu như mọi quốc gia trên thế giới ký kết, đã nhìn nhận rằng phụ nữ là những người phải gánh chịu nhiểu hậu quả nhất của hiện tượng khí hậu thay đổi.
Nhìn qua một số nước nghèo trên thế giới, người ta mới thấy rõ những hậu quả của hiện tượng khí hậu thay đổi mà nữ giới phải gánh chịu. Chẳng hạn như tại miền Trung của lục địa Phi Châu, nơi có đến 90 phần trăm Hồ Chad đã biến mất vì hạn hán, các nhóm dân sống bằng du mục bị đe dọa nhiều nhất. Khi mực nước hồ ngày càng thấp, nguồn nước ngày càng hiếm, người phụ nữ phải đi bộ rất xa để kiếm nước. Có trên 60 phần trăm các gia đình tại vùng Hạ Sahara Phi Châu tùy thuộc vào người phụ nữ để tìm ra nguồn nước, kín nước và mang nước về cho gia đình. Khí hậu thay đồi, nạn phá rừng và hiện tượng sa mạc hóa khiến cho việc đi tìm nguồn nước ngày càng trở nên khó khăn hơn. Người phụ nữ lại phải mất nhiều thì giờ hơn để tìm nước, kín nước và mang nước về cho gia đình.
Hindou Oumarou Ibrahim, người đang điều hợp Hiệp hội Phụ nữ và Dân Chad, đã giải thích với phóng viên của Đài BBC: “Trong mùa khô, đàn ông đi xuống phố...bỏ mặc cho đàn bà phải trông nom cộng đồng”. Mùa khô càng dài thì phụ nữ càng phải làm việc cật lực hơn để nuôi sống và chăm sóc gia đình mà không được một sự trợ giúp nào. Ông Ibrahim nói: “Phụ nữ là những người dễ bị tổn thương...Họ phải làm việc quá cực nhọc”.
Nhưng không chỉ phụ nữ tại vùng nông thôn mới gánh chịu những hậu quả của hiện tượng khí hậu thay đổi. Nhìn chung, trên khắp thế giới, ngay cả tại những nước giàu có, ở đâu phụ nữ cũng dễ lâm vào cảnh nghèo đói và ít có cơ hội để vươn lên về mặt kinh tế và xã hội như đàn ông. Mỗi khi thiên tai xảy ra, hạ tầng cơ sở bị hư hỏng, công ăn việc làm ít hơn và nhà cửa bị hư hại, tình trạng của người phụ nữ lại càng thê thảm hơn.
Trong đợt nóng tại Âu Châu năm 2003, người ta tính số nạn nhân nữ giới vẫn cao hơn đàn ông. Năm 2005, khi cơn bão Katrina tàn phá thành phố New Orleans, Tiểu bang Louisana, Hoa Kỳ, những người phụ nữ gốc Phi Châu là thành phần phải gánh chịu nhiều thiệt thòi nhất. Bà Jacquelyn Litt, giáo sư về Giới tính và Phụ nữ học tại Đại học Rutgers cho biết: “Tại New Orleans, trước khi bão Katrina xảy ra, tỷ lệ nghèo của người Mỹ gốc Phi Châu đã rất cao. Hơn phân nửa những gia đình nghèo trong thành phố là những gia đình của những bà mẹ đơn chiếc. Họ nhờ vào các tổ chức độc lập của cộng đồng để sống qua ngày. Cơn bão Katrina đã làm suy yếu những tổ chức độc lập ấy khiến cho nhiều người phải di tản. Phụ nữ và trẻ em là những người gặp nhiều rủi ro hơn ai hết”.
Liền sau những thiên tai như thế, các trung tâm tạm cư đã được thiết lập, nhưng lại không được trang bị đầy đủ để nâng đỡ các phụ nữ. Sân vận động thể thao Superdome tại thành phố New Orleans vốn có một sức chứa rất lớn. Nhưng sau cơn bão Katrina, sân vận động này không những không thể chứa hết những người di tản mà cũng không có đủ những phương tiện vệ sinh cho các phụ nữ.
Không những không được chăm sóc đầy đủ, những người phụ nữ di tản còn phải đối phó với nạn bạo hành, tấn công tình dục và ngay cả hãm hiếp.
Số phận của người phụ nữ tại những vùng nông thôn của Úc Đại Lợi cũng không khá hơn. Tình trạng hạn hán lâu dài luôn tạo ra nhiều vấn đề cho các nông gia và gia đình của họ. Áp lực lại càng đè nặng hơn trên người phụ nữ khi họ phải đưa vai gánh vác cả gia đình không những về mặt vật chất mà còn cả về tinh thần và tâm lý nữa.
Khí hậu thay đổi có thể là một hiện tượng tự nhiên, nhưng lại do con người góp phần làm  cho hiện tượng này thêm nhanh hơn và trầm trọng hơn và khí hậu thay đổi ảnh hưởng ít hay nhiều đến cuộc sống con người là cũng do những cơ cấu xã hội của con người. Thiên tai do đó không tác hại đồng đều đến mọi người. Người giàu ít bị thiệt hại hơn người nghèo và đàn ông cũng ít bị tổn thương hơn đàn bà.
Sau trận sóng thần xảy ra tại Á Châu hồi năm 2004, một bản phúc trình của Tổ chức Từ thiện Oxfam của Anh Quốc ghi nhận rằng tại ba nước Sri Lanka, Nam Dương và Ấn Độ, số người đàn ông sống sót cao hơn đàn bà 3.1 phần trăm. Theo một cuộc nghiên cứu được Trường Kinh tế thuộc Đại học London, Anh Quốc thực hiện hồi năm 2007, thiên tai lúc nào cũng sát hại nhiều phụ nữ hơn đàn ông. Trung bình số phụ nữ bị thiệt mạng trong thiên tại cao gặp năm lần đàn ông. Tỷ lệ này càng cao hơn tại những nơi phụ nữ bị thiệt thòi về kinh tế và xã hội hơn đàn ông. Nhìn chung, phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi về kinh tế hơn đàn ông và cuối cùng không có đủ phương tiện để thoát khỏi hoặc thích nghi với những hậu quả của khí hậu thay đổi. Người ta không biết rõ nguyên nhân tại sao có sự chênh lệch về tử xuất giữa đàn ông và đàn bà khi xảy ra thiên tai. Tuy nhiên nhìn chung tại những nước bị sóng thần, đàn ông thường có khả năng bơi lội hơn đàn bà và trong khi đàn ông tìm cách tẩu thoát thì đàn bà lại phải ở lại để trông nom con cái và người thân trong gia đình.
Một cuộc nghiên cứu khác được thực hiện trong suốt 25 năm cũng ghi nhận rằng thiên tai rút ngắn tuổi thọ của đàn bà hơn của đàn ông. Khi xảy ra thiên tai, số phụ nữ bị thiệt mạng nhiều hơn đàn ông và họ cũng chết trẻ hơn đàn ông. Ở những nước mà phụ nữ có nhiều sức mạnh hơn về mặt kinh tế và xã hội, sự khác biệt này được giảm sút rất nhiều.
Một khi đã nhận ra sự thiệt thòi mà người phụ nữ phải gánh chịu vì thiên tai do khí hậu thay đổi tạo ra, các chính phủ và các tổ chức hoạt động để đối phó với hiện tượng khí hậu thay đổi, ngày càng quan tâm đến tiếng nói của người phụ nữ trong việc soạn thảo kế hoạch và chính sách.
Liên Hiệp Quốc đã nhấn mạnh đến sự cần thiết phải quan tâm đến giới tính trong việc đối phó với khí hậu thay đổi. Tuy nhiên, cho tới nay số phụ nữ có mặt trong các tổ chức hoạt động để đối phó với khí hậu thay đổi vẫn chưa tới 30 phần trăm.
Ở cấp địa phương, tỷ lệ này còn thấp hơn. Bà Diana Liverman, một nhà khoa học chuyên về môi sinh giải thích rằng “phụ nữ thường ít tham gia vào những quyết định đối phó với khí hậu thay đổi, do đó tiền bạc rốt cục lại vào túi đàn ông hơn là đàn bà”.
Số phụ nữ chiếm đến nửa dân số thế giới. Lẽ ra họ phải có một tiếng nói mạnh mẽ hơn trong việc đối phó với khí hậu thay đổi. Hơn nữa, theo ông Hindou Oumarou Ibrahim, đối phó với  “khí hậu thay đổi không phải là chuyện tranh giành quyền lực, mà là chiến đấu để sống còn”. Và dĩ nhiên, trong thế giới ngày nay, nhất là tại những nước nghèo hay đang phát triển, không ai phải tranh đấu để sống còn cho bằng phụ nữ.
Theo một bản phúc trình của Liên Hiệp Quốc về Phụ nữ (UN Women Watch), mặc dù là nạn nhân phải gánh chịu nhiều thiệt thòi và tổn thương nhất trong các thiên tai do khí hậu thay đổi tạo ra, phụ nữ lại chính là những người mang lại niềm hy vọng lớn lao nhất cho nhân loại.
Bản phúc trình của Liên Hiệp Quốc về Phụ nữ nhấn mạnh rằng  phụ nữ thường có nhiều hiểu biết và kinh nghiệm có thể được sử dụng để tìm ra những chiến thuật hữu hiệu hầu thích nghi và đối phó với khí hậu thay đổi. Hơn nữa vì trách nhiệm của họ trong gia đình và cộng đồng, người phụ nữ có thể góp phần vào việc đề ra những chiến thuật giúp đối phó với khí hậu thay đổi.

(theo:
-https://www.bbc.com/news/science-environment-
-https://www.1millionwomen.com.au/blog/why-climate-change-worse-women-and-how-we-can-make-it-better/
-https://www.greenpeace.org.au/blog/female-focus-women-impacted-climate-change/)