Thứ Tư, 16 tháng 8, 2017

Xin được quỳ gối tạ lỗi


Chu Thập
05/03/14
Mỗi lần nghĩ đến cuộc khủng hoảng tại Ukraine, tôi lại thấy hiện lên trong tâm trí mình hai hình ảnh.
Trước hết là hình ảnh của bức tượng Lenin bị người dân Ukraine giựt sập. Không biết người dân Ukraine có thuộc bài thơ “tức cảnh” của một người Việt Nam khi đứng nhìn bức tượng của Lenin trong vườn hoa Canh Nông ở Hà Nội không:
“Ông Lê Nin ở Nước Nga
Sao ông lại đứng ở vườn hoa nước này
Ông ưỡn ngực, ông chỉ tay
Ông xem như thể nước này của ông
Ông Lê Nin ở nước Nga
Cớ sao lại đứng vườn hoa nước này
Ông vênh mặt, ông chỉ tay
Tự do hạnh phúc lũ mày còn xa
Kìa xem gương của nước Nga
Bảy mươi năm lẻ có ra đếch gì!”
Tôi vẫn cứ thắc mắc: không hiểu tại sao đế quốc đỏ Liên Xô đã sụp đổ từ hơn 20 năm nay, ý thức hệ Mác Lê đã bị quăng vào sọt rác của lịch sử...vậy mà mãi cho đến nay biểu tượng của đế quốc và ý thức hệ này là tượng Lenin vẫn cứ còn chình ình ra đó. Phải chăng vì thái độ lừng khừng và không dứt khoát đó mà ngày nay đất nước Ukraine lại một phen nữa bị Nga đưa quân sang xâm chiếm.
Thì ra, người ta có thể từ bỏ một ý thức hệ, nhưng lại vẫn cứ bám chặt vào cặn bã của ý thức hệ đó. Lối cai trị độc tài và cách hành xử côn đồ của một Vladimir Putin là một điển hình. Ông trùm KGB này đã chẳng từng tuyên bố: “Bất cứ ai không hối tiếc vì sự cáo chung của Liên Xô là người không có trái tim. Còn ai muốn tái lập nó là người không có đầu óc” (x. Vladimir Putin Quotes). Chắc chắn, con người đã từng nhân danh ý thức hệ cộng sản để hét ra lửa, muốn thủ tiêu ai thì cứ thủ tiêu, muốn loại trừ ai thì cứ loại trừ...chẳng còn tin và biết đâu cũng chẳng hiểu gì về ý thức hệ Mác Lê. Nhưng ngày nay, cứ nhìn vào lề lối cai trị và cung cách hành xử của ông, ai dám bảo rằng ông không phải là một tên cộng sản thứ thiệt. Có lẽ ông đã quăng thẻ đảng, cởi bỏ đồng phục cộng sản, nhưng trái tim và bộ não của ông thì vẫn còn nguyên vẹn cái chất côn đồ của cộng sản. Tôi cũng nghĩ như thế khi nhìn qua đất nước Cam Bốt: cựu Khmer Đỏ Hun-Sen cũng cai trị và hành xử theo đúng một sách của Putin từ năm 1985 đến nay; tất cả những quyền tự do căn bản của  người dân đều bị chối bỏ và chà đạp; Cam Bốt vẫn còn là nước nghèo nhứt ở Đông Nam Á Châu trong khi ông lại sống như một đế vương.
Tôi tin rằng lần này, sau khi đã giựt sập tượng của Lenin, người dân Ukraine mới thực sự chia tay với ý thức hệ cộng sản và nhứt là rũ bỏ hoàn toàn cách suy nghĩ, ứng xử và nhân cách cộng sản.
Nghĩ như thế cho nên tôi cũng hy vọng rằng một ngày nào đó, tất cả những bức tượng của Lenin cũng sẽ được giựt sập trên khắp đất nước Việt Nam của tôi và người Việt Nam được trả lại trái tim và bộ não vốn đã bị chế độ cộng sản cướp mất từ 70 năm nay. Để có được một cuộc tái sinh như thế thì điều kiện tiên quyết là phải có sám hối. Sám hối đâu phải là hành vi đặc thù của tôn giáo, mà là đòi hỏi của bất cứ một sự đổi đời nào.
Tôi lại nghĩ đến hình ảnh nổi bật thứ hai trong cuộc khủng hoảng tại Ukraine. Đó là hình ảnh của những người công an Ukraine đã xếp hàng quỳ gối và cúi đầu tạ tội trước nhân dân vì đã trót làm theo sự chỉ huy của quyền lực độc tài mà đối xử tàn bạo với nhân dân. Giữa thảm kịch đầy máu và nước mắt đang diễn ra trên đất nước Ukraine, tôi nghĩ rằng đây là một hình ảnh đẹp có sức mang lại hy vọng cho dân tộc này. 
Quỳ gối có lẽ là một trong những động tác có nhiều ý nghĩa tượng trưng được tôi làm hay buộc phải làm nhiều nhứt trong suốt cuộc đời của mình.
Ngay từ thuở nhỏ, tôi đã được tập quỳ gối cầu kinh trước bàn thờ trong gia đình. Kể từ lúc có trí khôn, hầu như mỗi ngày tôi đều đến nhà thờ để quỳ gối cầu nguyện. Và ngày nay mỗi ngày chúa nhựt, dù cho cái xương bánh chè có lung lay đến cỡ nào, tôi cũng đều quỳ gối trong những giây phút trang nghiêm nhứt của thánh lễ. Đó là một trong những động tác đẹp nhứt mà tôi còn làm được. Những lúc tự nguyện và tự do quỳ gối như thế, tôi ý thức được phẩm giá của con người tôi. Nó đẹp chẳng khác nào hình ảnh của một người đàn ông quỳ gối cầu hôn một người đàn bà!
Dĩ nhiên, quỳ gối chỉ đẹp khi tôi tự nguyện. Còn nếu bị cưỡng bách thì nó lại là một hình phạt. Đây là thứ hình phạt mà lúc đầu tôi còn húi “ca rê”, không những mẹ tôi mà ngay cả ông cha sở và các bà xơ đã từng sử dụng để gọi là sửa trị tính ngỗ nghịch và lười biếng của tôi. Với mẹ tôi thì tôi nghĩ đó là một hình thức biểu lộ tình thương. Nhưng mỗi khi bị ông cha hay các bà xơ bắt phải quỳ gối giữa nhà thờ hay bên cột cờ trong sân trường, tôi đều biết thế nào là nhục nhã. Tuy còn ở bậc tiểu học, tôi cũng đã ý thức được rằng có những động tác mà khi bị cưỡng bách phải làm chỉ khiến cho con người cảm thấy xấu hổ mà thôi. Tôi nghĩ đến chuyện vua tôi nhà Mạc Đăng Dung và đoàn tùy tùng vào thế kỷ thứ 16 đã phải lê bước qua trấn Nam Quan, đi chân không đến phủ phục trước mạc phủ của quân Minh, quỳ gối, cúi đầu dâng tờ biểu đầu hàng, nộp hết sổ sách về đất đai, quân dân và quan chức cả nước để chờ phân xử...Ngày nay, nhiều sử gia cho rằng sự kiện Mạc Đăng Dung quỳ gối thần phục nhà Minh đã tránh cho Đại Việt một cuộc tàn sát dã man. Nhưng cử chỉ tự buộc dây ở cổ, đi chân không, quỳ gối và cúi đầu dâng biểu đầu hàng trước kẻ xâm lược của vua tôi nhà Mạc vẫn mãi mãi bị xem là một hành động hèn nhát.
Nhưng hình ảnh của một Mạc Đặng Dung quỳ gối trước quân xâm lăng phương Bắc để dâng nước có khác gì với sự kiện mấy ông lãnh đạo cộng sản Việt Nam ngày nay cứ phải “cúi đầu” hay nói theo ngôn ngữ quen thuộc của Tàu, cứ phải “Kowtow” (khấu đầu) trước các quan thái thú của thời đại để dâng đất, dâng biển. Quỳ gối, cúi đầu hay khom lưng, xét cho cùng, nếu vì hèn nhát hay bị cưỡng bách phải làm, đều thể hiện một nhân cách hèn kém.
Nhân hành động quỳ gối xin lỗi của công an Ukraine, một Blogger trong nước đã viết rằng trong “con người có ba loại khớp mang thông điệp nhân cách chuyển động theo tiếng gọi Nhân cách”. Ba loại khớp đó là: các “Khớp cúi” ở cổ cho phép ngẩng đầu hay cúi đầu, kế đó là các “Khớp khom” suốt sống lưng cho phép đứng thẳng hay khom lưng và cuối cùng là “Khớp quỳ” ở đầu gối cho phép đứng thẳng hay quỳ gối (x.Vũ Quốc Uy, Những khớp xương mang thông điệp Nhân cách, Đàn Chim Việt online, 1/3/14).
Theo tác giả, nhân cách vận hành các khớp theo cả hai chiều. Có lúc phải tự cúi đầu, quỳ gối hay khom lưng để bày tỏ sự tôn kính, sám hối và xin tha thứ. Có lẽ đây là hình ảnh mà người ta thường thấy nơi một số nhà lãnh đạo của Nhựt Bổn và Triều Tiên: khi nhận ra hành vi sai trái của mình, một số nhà lãnh đạo của hai nước này, nếu không vào chùa sám hối, thì cũng đến cúi đầu trước toàn dân để xin tạ lỗi.
Cúi đầu là một cử chỉ đẹp nếu được thực hiện để xin tha thứ hoặc để bày tỏ sự cảm phục và ngưỡng mộ trước cái đẹp, cái hay của người khác. Đó là trường hợp của Cao Bá Quát  (1809-1855). Ngang ngược, dám chống cả vua, thề cả đời không luồn cúi ai, nhưng trước vẻ đẹp thanh khiết ông  đã phải “cúi đầu, để thủ bái mai hoa”.
Nếu cúi đầu, quỳ gối hay khom lưng tự nguyện và đúng chỗ đúng lúc để bày tỏ sự sám hối hay lòng ngưỡng mộ thì ngẩng đầu, thẳng lưng, thẳng gối lại càng thể hiện một nhân cách cao quý không kém. Cụ Nguyễn Trãi (1380-1442) đã chẳng khẳng khái khi tuyên bố: “Ung dung ta nói điều ta nghĩ, cúi ngửa theo người quyết chẳng theo” đó sao. Emilano Zapata Salazar (1878-1919), người lãnh đạo cuộc cách mạng của nông dân tại Mễ Tây Cơ năm 1910, cũng có một câu nói để đời: “Thà đứng thẳng mà chết hơn là quỳ gối để sống” (Emiliano Zapata quotes).
Bởi lẽ “nhân cách vận hành các khớp theo cả hai chiều”, cho nên khi nhân cách đã suy yếu thì cúi đầu, khom lưng hay quỳ gối là một cử chỉ hèn hạ, đáng xấu hổ và đáng lên án đã đành, mà càng ưỡn ngực, đứng thẳng trong sai lầm và yếu nhược lại càng dị hợm và kệch cỡm hơn. “Chẳng hạn, đã theo một tà giáo sai lầm, một lý thuyết đại bại trước trào lưu văn minh, bị nhân loại đưa ra bãi rác, khiến cho cả một dân tộc bị ly tán, cái tốt bị thui chột để cái xấu lên ngôi...nhưng chẳng những không hề có một lời xin lỗi đáng mến như cảnh sát Ukraine, mà trái lại cứ bắt cả dân tộc phải đặt những đồ phế thải ấy lên bàn thờ tụng niệm, cứ trụ cứng trên hai chân quyền và lợi, mà dũng cảm vươn ngực, nghển đầu, một mực tự xưng là vô địch muôn năm, là bách chiến bách thắng thì thật lạ. Chỉ có khái niệm “kiêu ngạo Cộng sản” như Mác Lê đã tự phê mới diễn tả hết được sự kiêu ngạo vô lối này” (Vũ Quốc Uy, bài đã dẫn).
Có những cái ngẩng đầu và đứng thẳng thật đáng khâm phục, nhưng cũng không thiếu những cử chỉ ưỡn ngực, vênh váo thật đáng ghét và đáng xấu hổ. Có những cái cúi đầu, khom lưng hay quỳ gối hèn nhát, nhưng khi những cử chỉ như thế được thực hiện một cách tự nguyện để bày tỏ lòng sám hối và xin tha thứ thì không gì cao quý bằng.
Hai hình ảnh, hai biểu lộ nhân cách khác nhau. Một bên là một Lenin và những nhà lãnh đạo cộng sản cũng như một Putin “ưỡn ngực” kênh kiệu và vênh váo. Một bên là những người công an Ukraine quỳ gối, thành tâm sám hối và xin tha thứ. Con người cao cả có khi không phải do những thành tích lẫy lừng và lại càng không phải do sự tàn ác của mình, mà là do tấm lòng khiêm tốn biết nhận ra những hèn yếu, sai phạm của mình và nhứt là biết sẵn sàng xin tha thứ.
Bức tượng Lenin bị người dân Ukraine giựt sập: đó là hình ảnh của một “nhân cách lộn ngược” vì đã “ưỡn ngực” và ngẩng đầu hãnh diện vì tội ác của mình. Trong khi đó, giữa đám đông dân chúng, khi những người công an Ukraine cúi người hay quỳ gối để xin tha thứ, họ mới thực sự là những con người có nhân cách đứng thẳng.
Thế giới Ki tô giáo đã bắt đầu “Mùa Chay” hôm thứ tư 5 tháng 3 vừa qua. Mùa Chay là mùa sám hối. Tôi hiểu một cách đơn sơ như thế. Sám hối là bởi nhận ra mình là người tội lỗi. Nhân vô thập toàn và “sai lầm là chuyện thường tình của con người” mà. Vào nhà thờ quỳ gối để xin Chúa tha tội đã đành, nhưng có lẽ quay sang người bên cạnh để “xin lỗi” vẫn là cử chỉ đáng làm và đẹp biết chừng nào. Đơn giản như thế mà ngày nay, hai tiếng ấy đã bị loại khỏi tự điển của những người cộng sản và cũng trở thành quý hiếm trong xã hội Việt Nam. Nếu như thay vì tụng niệm chủ nghĩa Mác Lê và tư tưởng Hồ Chí Minh, người ta chỉ cần dạy cho trẻ con luôn miệng biết nói hai tiếng “xin lỗi”, tôi tin chắc rằng xã hội Việt Nam sẽ thay đổi và nhân cách Việt Nam sẽ “đứng thẳng”, chứ không  “bị” phải khom lưng, cúi đầu hay quỳ gối mãi trước ngoại xâm nữa.





Thứ Hai, 14 tháng 8, 2017

Tây Tạng: đô thị trên không bị Trung Cộng phá hủy


11/08/17

Larung Gar là Học viện Phật Giáo Tây Tạng lớn nhất thế giới. Nằm ở phía Đông Cao  nguyên Tây Tạng, tu viện này được xem như biểu tượng của văn hóa, tôn giáo và lịch sử nước này.
Tu viện là nơi cư ngụ của từ 10.000 đến 40.000 dân, gồm có nam nữ tu sĩ và sinh viên từ khắp nơi đến tu học. Vì tọa lạc ở cao độ gần 4.000 thước, Tu viện Larung Gar thường được gọi là “đô thị trên không”.
Nhưng dạo tháng Sáu năm 2016 vừa qua, Chính quyền Cộng sản Trung Quốc tại Bắc Kinh đã ra lệnh phải hạ giảm dân số của đô thị xuống tối đa còn 5.000 người vào tháng Mười tới đây, vì cho rằng dân số tại tu viện đã quá cao.
Chỉ trong vòng vài tuần lễ, các toán làm việc đã xông vào tu viện và bắt đầu đập phá và bình địa mọi nơi cư ngụ trong tu viện. Chỉ trong một thời gian ngắn, toàn bộ tu viện chỉ còn là một đống gạch vụn và gỗ xơ xác. Các cư dân bị buộc phải ký tên vào các văn kiện để xác nhận rằng họ đồng ý sẽ không trở lại tu viện và để “xây dựng sự thống nhất quốc gia”.
Mọi người được đưa lên xe buýt và chở đi.
Năm ngoái đã có khoảng gần 4.000 người bị cưỡng bách phải ra đi, 172 nơi cư ngụ của các tăng sư và trên 1.300 nhà ở của các sư nữ bị phá hủy. Tổng cộng đã có khoảng 1.500 nhà ở bị tàn phá. Công tác phá hủy Tu viện Larung Gar được tiếp tục vào đầu năm nay.
Theo một phát ngôn viên của Tổ chức “Vì Một Tây Tạng Tự Do” (Free Tibet) cho biết tiến trình phá hủy Tu viện Larung Gar, từ việc đập phá nhà cửa cho đến cưỡng bách lên xe buýt để ra đi, đang diễn ra một cách “nhất quán”. Theo phát ngôn viên này, chính quyền địa phương đã không hề mở miệng cho biết số phận của những người bị bắt mang đi như thế nào. Dân chúng chỉ biết rằng sau khi tu viện phá hủy, một số gia đình bị buộc phải đón tiếp bất cứ người thân nào bị bứng ra khỏi tu viện.
Nhưng qua một số hình ảnh rò rĩ từ việc phá hủy tu viện, các nhóm tranh đấu cho nhân quyền và các tổ chức quốc tế đã gọi đích danh đây là một cuộc đàn áp tôn giáo và phá hủy biểu tượng văn hóa của Tây Tạng do Chính quyền Cộng sản Trung Quốc chủ trương.
Nhưng vì lệnh cấm không cho du khách, các cơ quan truyền thông và các tổ chức viện trợ nước ngoài được bén mảng tới khu vực của tu viện cho nên thế giới không thể biết được chính xác điều gì đã và đang diễn ra.
Tuy nhiên mới đây một người Gia Nã Đại tên là David Chan, vì là người gốc Hoa và nói được thông thạo tiếng Quan Thoại, đã có thể đặt chân đến Tu viện Larung Gar.
Đầu năm nay, ông Chan đã đặt chân đến Thành Đô, Thủ phủ của Tỉnh Tứ Xuyên, một trong những thành phố lớn của Trung Quốc gần với Tu viện Larung Gar nhất. Tại đây, ông Chan đã gia nhập vào một đoàn du khách Trung Quốc.
Công dân Trung Cộng được phép viếng thăm Tây Tạng. Trung Cộng khuyến khích dân chúng viếng thăm Tây Tạng để biến vùng này thành một địa điểm du lịch và định cư. Ông Chan đã liên lạc được một số người Hoa lục địa muốn đi thăm Tây Tạng. Thông thường du khách người Hoa viếng thăm Tây Tạng được tổ chức thành những nhóm nhỏ từ 3 đến 5 người. Phương tiện di chuyển là những chiếc Holden SUV. Tài xế thường là một người thông thạo về lộ trình đến Larung Gar. Nếu không tìm được một tài xế và một nhóm du khách như thế, rất khó có thể đến được tu viện.
Mặc dù Thành Đô là thành phố gần với Tu viện Larung Gar nhất, chuyến đi cũng đòi hỏi nhiều thời gian. Ông Chan cho biết sau khi đã làm quen với những người đồng hành, ông mới lân la hỏi thăm về tình hình Tây Tạng. Tất cả những thông tin mà ông nhận được đều là những bài tường thuật trên các cơ quan truyền thông công cụ của Trung Cộng. Những người bạn đồng hành với ông Chan khẳng định rằng người dân Tây Tạng hiện nay rất thịnh vượng, giàu có, rằng Chính quyền Trung Cộng luôn quan tâm lo lắng cho phúc lợi của họ, rằng chính quyền Trung Cộng cho họ tiền để mua đất và gia súc của họ có thể được bán cho Trung Cộng với giá rất cao, rằng họ được hưởng một quy chế thuế má đặc biệt v.v...
Các du khách đi cùng chuyến với ông Chan nói rằng “người dân Tây Tạng không có lý do gì để chống lại Chính quyền Trung Quốc bởi vì cuộc sống của họ rất tốt đẹp”. Họ nói rằng “những người chống đối chỉ là những kẻ phá rối” mà thôi!
Kể từ năm 1950, sau khi Trung Cộng đem quân sang xâm chiếm xứ sở của họ, người Tây Tạng đã không ngừng mở những chiến dịch để đòi lại tự do. Chính quyền Trung Cộng cho rằng những cáo buộc về việc họ đàn áp Tây Tạng chỉ là một huyền thoại. Họ nói rằng việc Tây Tạng trở thành một phần của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là một điều hoàn toàn tốt đẹp cho nhân dân Tây Tạng.
Thật vậy, ngày nay nếu chỉ nhìn vào sự phát triển kinh tế người ta có thể nói rằng Trung Cộng đã có lý khi nói rằng họ đã cải thiện tình trạng của Tây Tạng khi xây dựng được xa lộ, hệ thống hỏa xa, khách sạn và điện khí hóa xứ sở này. 
Nhưng đó chỉ là cái nhìn ở bề mặt. Trong thực tế, điều có thể đập ngay tức khắc vào mắt của du khách nước ngoài chính là tình trạng kỳ thị chủng tộc và xã hội. Thành phần được hưởng lợi từ sự phát triển kinh tế nhiều nhất không ai khác hơn là những người thuộc Hán tộc. Một bản phúc trình của tổ chức “Freedom House” (Ngôi Nhà Tự Do) hồi năm 2016 đã ghi nhận: “Theo Hiến pháp Trung Cộng, những khu tự trị có quyền đặt ra những qui định riêng của họ và thực thi luật pháp quốc gia cho phù hợp với tình hình địa phương. Tuy nhiên trong thực tế, quyền làm quyết định lại được tập trung vào tay của các viên chức thuộc Đảng Cộng Sản Trung Quốc”
Theo tổ chức “Freedom House”, một số rất ít người dân Tây Tạng được trao cho những chức vụ cao trong chính quyền địa phương, nhưng họ cũng chỉ là những chiếc “loa phường” của Đảng Cộng Sản Trung Cộng mà thôi.
Những ngành nghề như du lịch, xây dựng hạ tầng cơ sở và các dự án xây cất đều nằm trong tay các di dân người Hán cũng như chỉ được thực hiện trong những khu có đông di dân người Hán và trong đó người dân Tây Tạng chỉ còn là một thiểu số.
Bất cứ một hành động chống đối nào cũng đều bị trừng phạt. Người dân Tây Tạng có thể bị bắt giữ và trừng phạt vì những “tội” như trưng bày lá cờ Tây Tạng hoặc công khai lên tiếng chống đối.
Từ Thành Đô, ông Chan và những người bạn du khách Trung Hoa của ông phải mất hai ngày mới đến được Tu viện Larung Gar. Chiếc xe chở họ đã phải dừng lại hai trạm kiểm soát được quân đội canh giữ. Dù vậy, nhờ nói được tiếng Quan Thoại, ông Chan đã được xem như một du khách từ lục địa. Đoàn du khách đã đặt chân đến Larung Gar vào giữa mùa đông. “Công cuộc” phá hủy tu viện đang tạm ngưng.
Theo ghi nhận của ông Chan, nhiều ngôi nhà trong khu tu viện Larung Gar đã hoàn toàn bị phá hủy. Một số còn chỉ còn lại một phần. Nhiều ngôi nhà đã được đánh dấu sẽ bị phá hủy. Đi đâu ông Chan cũng thấy những đống gạch vụn và những chiếc xe ủi. Ngoài ra bên cạnh những ngôi nhà bị phá hủy, chính quyền cũng đã cho xây lên những ngôi nhà mới bằng xi măng cốt sắt.
Ông Chan cho rằng mục đích chính của việc phá hủy Tu viện Larung Gar là để giảm bớt con số tu sĩ.
Khác với các du khách người Hoa từ Thành Đô, ông Chan không tha thiết đến việc chụp ảnh cho bằng trực tiếp nói chuyện với các tu sĩ Phật Giáo hiện chưa rời khỏi tu viện. Ông đã dừng lại hỏi han khoảng ít nhất 20 vị, nhưng chẳng có vị nào muốn nói chuyện với ông. Ông chợt nhớ lại cuốn phim có tựa đề “7 năm tại Tây Tạng” (Seven Years in Tibet) do tài tử Brat Pitt thủ vai chính. Cuốn phim kể lại chuyện hai người leo núi Âu Châu đã thành công trong việc tiếp xúc  được với một vị  thôn trưởng  tại Tây Tạng. Sở dĩ 2 người này đã có thể nói chuyện được với ông thôn trưởng là vì đã cho ông xem hình của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Biết như thế cho nên ông Chan mới mở điện thoại và cho cư dân Larungga xem hình của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Nhờ vậy mà một vị sư nữ mới cởi mở tấm lòng để nói chuyện với ông. Vị sư nữ này nói được tiếng Quan Thoại. Bà nói rằng dân chúng chỉ biết đứng nhìn cảnh phá hủy tu viện, nhưng không làm gì được vì Trung Cộng quá mạnh. Theo bà, phá hủy tu viện vì dân đông là một lý do không đủ thuyết phục, bởi vì nếu dân đông thì tại sao lại không xây thêm nhà ở bên cạnh sườn núi. Đất đai vốn còn mênh mông mà!
Tổ chức “Vì Một Tây Tạng Tự Do” cho rằng nếu vì dân cư đông đúc mà phá hủy Tu viện Larung Gar và cưỡng bách người dân phải dời đến một chỗ xa xôi là một lập luận không vững chắc, bởi vì nếu chỉ vì dân cư đông đúc mà giải tỏa một khu vực sinh sống thì tại sao không áp dụng một chính sách như thế với những thành phố lớn tại lục địa.
Dựa trên những điều mắt thấy tai nghe, ông Chan nói rằng việc phá hủy Tu viện Larung Gar là một trường hợp điển hình cho thấy vì kinh tế và phát triển Chính quyền Cộng sản Trung Quốc muốn phá hủy di sản văn hóa và lịch sử của cả một dân tộc. Cách riêng đây là một bất công đối với các tu sĩ Phật Giáo tại Larung Gar, bởi vì tiếng nói của họ không hề được Chính quyền Trung Cộng lắng nghe và cứu xét.
Cả vị sư nữ mà ông Chan đã tiếp xúc lẫn người tài xế đều khẳng định rằng Chính quyền Cộng sản vẫn biết rằng Larung Gar là một điểm du lịch đặc biệt của thế giới. Để đạt mục tiêu này, họ vẫn giữ lại lối kiến trúc nền tảng đặc thù của Tây Tạng khả dĩ phản ảnh phần nào lịch sử của dân tộc này. Nhưng lối kiến trúc được chồng lên đã hoàn toàn xóa bỏ hình ảnh nguyên thủy của tu viện.
Bộ mặt nguyên tuyền của tu viện đã hoàn toàn biến mất để nhường chỗ cho các khách sạn được dựng lên tại Serhar, một thành phố chỉ cách tu viện chừng 5 phút lái xe.
Theo Tổ chức “International Campaign for Tibet” (Vận động quốc tế cho Tây Tạng: ICT) có trụ sở tại Thủ đô Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ, các khách sạn mọc lên gần Tu viện Larung Gar là một phần của một dự án rộng lớn hơn. Trong một bản phúc trình được cho công bố hồi tháng Ba vừa qua, tổ chức này nói rằng việc phá hủy Tu viện Larung Gar và Tu viện Yachen Gar, một tu viện Phật Giáo khác tại Tứ Xuyên, nhằm mục đích biến hai học viện Phật Giáo nổi tiếng nhất thế giới này thành những địa điểm du lịch. Tổ chức này cũng cho rằng lấy lý do dân cư đông để phá hủy các tu viện này là một ngụy biện.
Về phần mình, ông Chan nói rằng Trung Cộng không chỉ phá hủy những di tích lịch sử và văn hóa của Tây Tạng mà còn muốn tiêu diệt chính nền văn hóa của dân tộc này. Ông cho biết: trước đây Serthar là một thành phố của người Tây Tạng. Nay những khách sạn tại đây đều được những người không nói được một tiếng Tây Tạng nào xây cất và hàng hóa được bày bán tại thành phố này đều là hàng hóa của Trung Cộng. Không riêng gì Larung Gar hay Yachen Gar, toàn bộ miền đông Tây Tạng ngày càng bị Hán hóa. Đa số dân cư tại miền đông Tây Tạng không phải là người Tây Tạng mà là người Hán.
Người dân Tây Tạng ai cũng đều biết thế, nhưng là thành phần ngày càng bị đẩy ra bên lề, tiếng nói của họ không còn đủ trọng lượng để được lắng nghe.
Cả một nền văn hóa lâu đời và cả một dân tộc đang bị tiêu diệt. Nhưng theo ông Chan, “không ai dám nói tới điều đó và cũng chẳng ai làm được điều gì”.

(Theo:http://thediplomat.com/2017/08/china-tears-down-the-tibetan-city-in-the-sky)


Thứ Sáu, 11 tháng 8, 2017

Người ơi, hãy tự biết mình!


Chu Thập
04/08/17

Trại Hướng Đạo toàn quốc Hoa Kỳ (Jamboree) tại Bechtel Reserve, tTểu bang West Virginia từ ngày 15 đến 29 tháng Bảy 2017 vừa qua được chú ý đến một cách đặc biệt vì sự có mặt của Tổng thống Donald Trump. Theo thông lệ đã có từ năm 1937, trong những đại hội như thế, ban tổ chức thường mời Tổng thống Mỹ đến nói chuyện hoặc nếu không đến được thì cũng gởi đến đại hội một thông điệp. Đã từng là một hướng đạo sinh, Tổng thống Barack Obama nếu không đích thân đến tham dự thì cũng gởi thông điệp đến đại hội. Nhưng có lẽ đây cũng chỉ là “chuyện thường ngày ở huyện” cho nên ít ai chú ý đến.
Với bài diễn văn “độc đáo” của ông, Tổng thống Trump có lẽ đã quảng cáo không công cho Đại hội Hướng Đạo toàn quốc Hoa Kỳ năm nay. Bài diễn văn được Tổng thống Trump đọc trước khoảng 40.000 hướng đạo sinh mà phần lớn là trẻ em vị thành niên đã hoàn toàn đi ngược lại tôn chỉ của Phong trào Hướng đạo. Thay vì khuyên nhủ các bạn trẻ đào luyện kỹ năng, rèn luyện các đức tính nhân bản, ông chỉ nhìn thấy Đại hội Hướng đạo như một cuộc tập họp chính trị và không tiếc lời mạt sát các đối thủ chính trị của mình.
Phản ứng một cách giận dữ trước bài diễn văn của ông Trump nhiều bậc phụ huynh đã lên Facebook của Phong trào Hướng đạo để loan báo rằng họ sẽ rút con cái họ ra khỏi tổ chức này. Một bà mẹ có con tham dự Đại hội đã viết rằng bà đoạn tuyệt với phong trào sau khi phải “để cho con mình nghe một kẻ dối trá phô trương cái tôi của mình”. Một số phụ huynh khác nói rằng Phong trào Hướng đạo cần phải kiểm duyệt cho kỹ bài diễn văn để bảo đảm rằng nó phù hợp với cử tọa.
Trước phản ứng của nhiều bậc phụ huynh, Trưởng Hướng Đạo toàn quốc, ông Michael Surbaugh đã phải lên tiếng xin lỗi vì bài diễn văn của ông Trump. Trong một tuyên cáo, ông Surbaugh viết: “Tôi muốn bày tỏ những lời xin lỗi chân thành của tôi đến những người thuộc gia đình Hướng đạo đã bị xúc phạm vì bài diễn văn có nội dung chính trị đã được lồng vào Đại hội”.
Với tôn chỉ phi chính trị, người đại diện của Phong trào Hướng đạo khẳng định rằng Phong trào không ủng hộ bất cứ người nào, đảng phái nào hay chính sách nào.
Về phần mình, trước sau như một, tổng thống Trump không hề mở miệng hay “tuýt” đi một lời xin lỗi nào. Hai tiếng “xin lỗi” làm gì có trong tự điển của ông!
Giọng điệu sặc mùi chính trị và miệt thị trong bài diễn văn của Tổng thống Trump trước trẻ em vị thành niên Mỹ trong một trại hướng đạo không khỏi khiến tôi nhớ đến những bài học làm người nền tảng thời trung học. Các thày của tôi không chỉ chia sẻ kiến thức và dạy cho học sinh  cách lý luận. Họ cũng luôn nhắc nhở học sinh rèn luyện tư cách. Một trong những bài học mà tôi vẫn nhớ mãi là đào luyện óc phán đoán. Lời phê bình nặng nề nhứt mà các thày dành cho một học sinh là thiếu óc phán đoán hay phán đoán sai lạc (faux jugement). Người Miền Nam nói nghe rõ ràng và dễ hiểu hơn: người thiếu óc phán đoán hay phán đoán lệch lạc là người “sái trí”. Còn bạo mồm hơn một chút để sử dụng ngôn ngữ thời thượng thì có lẽ nên gọi một người như thế là “mát” hay “mát giây thần kinh” hay “mát cô đơn” gì đó!  Óc phán đoán của những người có tâm lý bất ổn hoặc bị bệnh tâm thần thường lệch lạc và sai lầm. Thật ra, một khi để cho cảm xúc lấn át lý trí, đam mê và dục vọng làm cho mù quáng, ai mà chẳng làm những phán đoán sai lạc. Thỉnh thoảng khi một số hành tung đen tối bị phơi bày, nhiều nhân vật thường được gọi là người của công chúng nhìn nhận rằng mình đã làm những phán đoán không chín chắn (poor judgement). Xét cho cùng, khi con người đặt cái tôi của mình lên trên mọi sự, óc phán đoán của họ sẽ không còn sáng suốt.
Người Mỹ đã bầu ông Trump lên làm tổng thống của họ. Ông hẳn phải là một người thông minh, tài ba và xuất chúng. Nhưng luận về óc phán đoán thực tiễn của ông trong rất nhiều trường hợp, tôi nhận thấy các chuyên gia tâm lý đã có lý để nghi ngờ về sức khỏe tâm thần của ông. “Cái tôi” của ông lúc nào cũng “nhứt”. Nào là chỉ có ông mới “làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại”. Nào là lễ đăng quang của ông có đông người tham dự hơn bất cứ lễ nhậm chức của tổng thống nào trước đó. Nào là chưa có vị tổng thống nào mới chỉ trong vòng vài tháng sau khi nhậm chức đã có nhiều thành tựu như ông. Nào là trong lịch sử Hoa Kỳ, ông là người có tư cách tổng thống nhứt (more presidential than any president that‘s ever held this office), chỉ sau tổng thống Abraham Lincoln... Ngay cả khi so sánh với Giáo hoàng Phanxicô, ông cũng đã từng  nổ: “Vị tân giáo hoàng là một con người khiêm tốn, rất giống tôi. Chính vì vậy mà tôi rất thích ngài” (sic)
(http://littlegreenfootballs.com/article/42906_In_Which_Donald_Trump_Compares_Himself_to_Pope_Francis)
Một số chuyên gia tâm lý đã phân tách cuộc phỏng vấn ông dành cho báo The New York Times ngày 19 tháng Bảy vừa qua và cho thấy “cái tôi” của ông. Trong cuộc phỏng vấn, ông đã tự đề cao bài diễn văn của ông tại Ba Lan nhân dịp sang Âu Châu tham dự Hội nghị Thượng đỉnh G20 tại Đức. Ông nói: “Tôi đi Ba Lan và đọc diễn văn. Kẻ thù của tôi trong giới truyền thông, kẻ thù của tôi nói rằng đây là bài diễn văn “vĩ đại nhứt” mà chưa từng có vị tổng thống nào đã đọc được ở nước ngoài...” Về chuyến viếng thăm Pháp nhân dịp lễ quốc khánh của nước này hôm 14 tháng Bảy vừa qua, ông khen tổng thống Pháp là một người rất tốt rồi nói “Nhưng ông ta thích bắt tay tôi”. Người biết chuyện khó quên rằng trong một cuộc phỏng vấn hồi tháng Năm, Tổng thống Macron đã nói rằng cái bắt tay ông dành cho ông Trump có tính cách tượng trưng và qua đó ông muốn khẳng định rằng nước Pháp không hề chịu “cúi đầu”  trước Hoa Kỳ. Khi ngồi ăn tối với Tổng thống Pháp trên tháp Eiffel, ông nói rằng “trong lịch sử của họ, chưa bao giờ dân chúng lại “ăn mừng” lớn như vậy, “vì họ nghe nói chúng tôi đang ăn tối trên đó”. Ông không biết hay cố tình quên rằng qua một cuộc thăm dò gần đây, có đến 82 phần trăm dân Pháp “xem ông chẳng ra gì”.
Tựu trung, cái gì ông cũng muốn “nhứt” hết. Ông là người có nhiều hiểu biết nhứt, ông là người thông minh nhứt, ông là người có nhiều quyền lực nhứt, ông là người thành công nhứt, ông là tổng thống được ủng hộ và yêu mến nhứt!
Rất tiếc, ông đến Pháp mà không nghe được lời khuyên của nhà tư tưởng kiêm toán học, vật lý học  của Pháp Blaise Pascal (1623-1662) khi bậc vĩ nhân này nói: “Cái tôi là điều đáng ghét” (le moi est haissable).
Thời trung học, thế hệ học sinh của tôi thường được các thày đưa câu nói trên đây ra làm đề tài “văn nghị luận”. Tập suy luận, phán đoán đã đành, học sinh trung học thời của tôi cũng được dạy dỗ để biết hãm “cái tôi đáng ghét” của mình lại. Mãi cho đến khi lên đại học, tiếp xúc với lịch sử triết học Tây Phương, tôi mới thấm thía với câu nói ấy khi làm quen với lối thu nhận môn sinh và cách dạy học của ông tổ triết học Tây Phương là nhà hiền triết Socrates (470/469-399 trước Công nguyên). Không rõ hư thực thế nào, nhưng một giai thoại về nhà hiền triết này có kể rằng ngày nọ một môn sinh của ông đã hỏi ông: “Thưa thày, vì sao thày nói với mọi người rằng nếu muốn trở thành học trò của thày thì phải nhìn vào ao cá của thày và cho thày biết họ thấy điều gì trong đó”. Nhà hiền triết mới trả lời: “Đơn giản thôi. Ta chỉ nhận những người có câu trả lời rằng họ nhìn thấy những con cá đang bơi trong hồ. Còn người nào bảo rằng họ chỉ thấy hình bóng của họ trong đó thì ta sẽ không bao giờ nhận làm môn sinh. Đó là những kẻ chỉ yêu cái tôi của mình và dạy dỗ họ chẳng ích gì”.
Phương pháp sư phạm của bậc thày Socrates như được triết gia Plato (428/427- 348/347 trước Công nguyên), một trong những môn sinh thân cận nhứt của ông ghi lại, không phải là truyền thụ kiến thức cho bằng đặt câu hỏi và dồn các môn sinh vào chỗ phải tự tìm ra câu trả lời. Với tiến trình hỏi đáp ấy, các môn sinh của nhà hiền triết sẽ dần dần đi sâu vào nội tâm sâu kín của họ để biết mình và cuối cùng biết mình chẳng biết gì. Với nhà hiền triết này, biết mình không biết gì mới là minh triết đích thực.
Người ta thường gán cho Socrates câu nói thời danh “Hãy biết chính mình” (Gnothi seauton). Thật ra đây là lời sấm đã được ghi khắc trước cửa đền thờ Delphes, dưới chân núi Parnasse, trong vùng Phocide, miền Trung Hy Lạp. Với khẩu hiệu này, người xưa đã nghiệm ra rằng chính lúc tự biết mình, tự tìm kiếm chính mình mà con người mới đạt được sự minh triết. Và thái độ cốt lõi trong tiến trình tìm kiếm sự minh triết chính là sự khiêm tốn. Stephen R. Covey, tác giả của cuốn sách nổi tiếng “7 thói quen của những người có hiệu năng cao” (7 Habits of Highly Effective People) đã nói một cách chí lý: “Minh triết là học tất cả những gì chúng ta có thể học được, nhưng có đủ khiêm tốn để nhìn nhận rằng chúng ta không biết tất cả mọi sự”.
Trước khi bước vào sân khấu chính trị, Tổng thống Trump là một doanh gia thành công. Chẳng ai chối bỏ điều đó. Và cũng chẳng ai phủ nhận rằng, tuy chưa từng làm chính trị, ông cũng đã thành công khi đánh bại tất cả mọi đối thủ chính trị để dành được lá phiếu của người dân Mỹ. Ông quả là một người thông minh và tài ba. Nhưng căn cứ vào cung cách lãnh đạo hiện nay của ông và nhứt là cách phát ngôn của ông, tôi cho rằng ông là một người không bình thường chút nào khi tự so sánh với Giáo hoàng Phanxicô về sự khiêm tốn. Bởi vì đức khiêm tốn là một đức tính mà khi tự cho mình là khiêm tốn thì không còn là người khiêm tốn nữa. Tôi tin rằng Hoa Kỳ sẽ “vĩ đại trở lại”, vai trò lãnh đạo thế giới của nước này sẽ tiếp tục được khẳng định và có lẽ Tổng thống Trump cũng sẽ là một trong những vị tổng thống được nể phục nhứt nếu ông học được câu nói trong Tôn Tử Binh Pháp mà có lẽ người Việt Nam nào cũng đều thuộc nằm lòng: “biết người, biết ta trăm trận trăm thắng”.
Tôi vẫn thường hay suy gẫm về câu nói được gán cho Albert Einstein (1879-1955), nhà bác học vĩ đại nhứt của Thế kỷ 20, “Có hai điều vô tận: một là vũ trụ, hai là sự ngu xuẩn của con người” (Two Things Are Infinite: the Universe and Human Stupidity). Cũng  trong câu nói này, cha đẻ của Thuyết Tương đối còn thêm: “Và tôi không biết chắc là vũ trụ có vô tận không”. Có lẽ nhà bác học này ngầm bảo rằng cái vô tận của sự ngu xuẩn của con người là điều chắc chắn nhứt!
Người ta thường nói rằng chẳng có cái ngu nào giống cái ngu nào. Tôi cho rằng sự ngu xuẩn lớn nhứt của một con người chính là không nhận biết và nhìn nhận sự ngu xuẩn của mình.






Thứ Tư, 9 tháng 8, 2017

Ngu như người


Chu Thập
25/02/14
Tháng 2 năm 1986, sau khi lật đổ nhà độc tài Ferdinand Marcos bằng cuộc cách mạng thường được mệnh danh laà “Sức mạnh của quần chúng” ( People’s power), người dân Phi Luật Tân đã xếp hàng dài trước dinh tổng thống ở Manila để vào xem cho bằng được 2000 đôi giày của vợ ông, bà Imelda Marcos. Tôi không tò mò đủ để nối đuôi theo dòng người vào xem mấy ngàn đôi giày ấy, vì tôi cho rằng có thể bà Marcos là người thích sưu tầm giày và có biết bao nhiêu hãng giày trong nước sẵn sàng tặng không để bà quảng cáo không công. Nếu gia đình giàu có này thích lối sống xa hoa thì sự xa hoa được thể hiện ở chỗ khác chứ không phải chỉ ở sự phô bày 2 ngàn đôi giày của bà Marcos.  Nghe đồn trong 21 năm ông Marcos làm tổng thống, vợ chồng ông đã biển thủ của công quỹ quốc gia đến gần cả tỷ Mỹ kim. Nghe nói số tiền ấy được ký thác trong các ngân hàng ở Thụy sĩ và khi họ sống lưu vong tại Hawaii, số tiền này đã bị “đông lạnh” và nhà độc tài này chẳng rút ra được đồng xu nào. Ông cựu luật sư nổi tiếng là thông minh này rốt cục cũng vẫn còn dại: tích trữ cho thật nhiều để rồi trắng tay vẫn hoàn trắng tay!
Nhưng dù sao, ông Marcos xem ra không “dại” bằng tổng thống Ukraine, ông Viktor Yanukovych. Ngày 22 tháng 2 vừa qua, sau khi ông bỏ trốn khỏi thủ đô Kiev, đoàn người biểu tình đã xông vào tư dinh của ông ở ngoại ô Kiev. Nhiều người vừa kinh ngạc vừa giận dữ trước cuộc sống xa hoa mà tư dinh lộng lẫy và sang trọng của ông là một thể hiện. Cũng giống như phòng trưng bày 2 ngàn đôi giày của bà Marcos, tư dinh của ông Yanukovych đã trở thành một thứ bảo tàng viện để dân chúng xếp hàng vào chiêm ngưỡng. Theo phóng viên của kênh Sky News của Anh quốc, khu vực tư dinh của ông Yanukovych rộng tới 1.4 triệu mét vuông, tức trên 130 mẫu tây. Vừa vào trong khu vực, dân chúng Ukraine đã không khỏi sửng sốt khi thấy những phòng khách được lát toàn bằng đá cẩm thạch và các đồ vật, ngay cả bàn cầu vệ sinh, cũng được trang trí bằng vàng. Bên cạnh dinh thự chẳng khác nào một cung điện của vua chúa này, người thưởng lãm còn được đi vòng quanh một phòng khánh tiết được thiết kế như một chiếc thuyền buồm của nữ hoàng Elizabeth. Ngoài một sân Golf riêng, ông  Yanukovych còn có cả một vườn sở thú nhỏ với rất nhiều loại thú quý hiếm. Đó là chưa kể đến bộ sưu tập xe hơi và xe mô tô đắt giá của ông.
Sau khi đi một vòng thưởng lãm, người dân Ukraine không khỏi thắc mắc: với lương hàng năm của một tổng thống chỉ có khoảng 100 ngàn Mỹ kim, lấy đâu ông Yanukovych đã có được một cơ ngơi xa hoa, lộng lẫy như thế. Nhưng dù cho ông không có tham nhũng đi nữa, trong một xã hội vẫn còn nghèo nàn nếu so với các nước Tây Phương, một nguyên thủ quốc gia lại chạy theo một lối sống xa hoa như thế chắc chắn không phải là một người có đủ “khôn ngoan”, nhất là khi biết rằng chiếc ghế của mình lại bấp bênh trước sự bất mãn và chống đối của dân chúng. Cái “dại” của ông Yanukovych là cứ nghĩ rằng người dân không có con mắt để có thể nhìn thấy lối sống xa hoa dễ tạo ra nghi kỵ, ganh tỵ và bất mãn này.
Trong các vị nguyên thủ quốc gia trên thế giới hiện nay, người mà tôi thầm ngưỡng mộ là đương kim tổng thống Uruguay, ông Jose Mujica, người được mệnh danh là “tổng thống nghèo nhất thế giới”. Là một người tỵ nạn cộng sản, tôi luôn “dị ứng” với tất cả những gì có liên hệ đến du kích Mác xít cộng sản. Nhưng với vị tổng thống mà vào thập niên 1970 đã từng là một thành viên của phong trào du kích cộng sản có tên là Tupamaros, chuyên đánh cướp các ngân hàng, bắt cóc tống tiền để chia tiền bạc và thực phẩm cho dân nghèo này, tôi chỉ thấy cảm phục. Bị cảnh sát bắn bị thương đến 6 lần và ngồi tù đến 14 năm, ông Mujica đã chứng tỏ là một nhà “cách mạng chân chính”, tức người hoạt động để lật đổ một chế độ bất công hầu mang lại no cơm ấm áo cho dân nghèo.
Để chứng tỏ mình không phải là một nhà cách mạng chỉ biết nói suông như tất cả những ông cách mạng cộng sản trên thế giới, năm 2010, sau khi đắc cử tổng thống của quốc gia Trung Mỹ này, ông Mujica đã cố gắng thực thi và sống theo những gì ông đã từng cam kết trong suốt thời gian nằm gai nếm mật. Ông là chính trị gia “tả phái” duy nhứt trên hành tinh này được báo The Daily Mail của Anh Quốc ca tụng như là nhà lãnh đạo đáng tin tưởng nhất. Trong một bài báo mới đây, báo The Daily Mail đã viết: “Cuối cùng, đã có một chính trị gia không gian lận về các khoản chi phí”.
Sau khi đắc cử tổng thống, thay vì dọn vào dinh tổng thống như các người tiền nhiệm, ông Mujica vẫn ở trong  ngôi nhà khiêm tốn trong nông trại của vợ ông. Năm 2012, ông tuyên bố rằng dinh tổng thống lẽ ra phải được kể vào số những nơi trú ngụ cho những người vô gia cư. Hàng ngày, ông di chuyển bằng chiếc xe Volkwagen Beetle cũ kỹ đời 1987; ông trích ra 90 phần trăm lương tháng 12 ngàn Mỹ kim để đóng góp cho các dự án xã hội; có đi đâu bằng máy bay, ông vẫn ngồi ở ghế hạng hai; xuất hiện trong các buổi lễ công cộng hay tiếp khách, ông vẫn ăn mặc đơn sơ gần như một nông dân.
Ông vẫn tự hào về xứ sở của mình: đây là một trong những quốc gia an toàn nhứt và ít tham nhũng nhứt tại Châu Mỹ La Tinh. Ông gọi Uruguay là “một hòn đảo tỵ nạn trong một thế giới gồm toàn những người điên khùng”. Dù vẫn còn là một nước nghèo, nhưng Uruguay vẫn có quyền để hãnh diện về những cải tổ xã hội: chính phủ quy định giá cả của các nhu yếu phẩm như sữa chẳng hạn và cung cấp máy vi tính và giáo dục miễn phí cho trẻ em.
Người cựu du kích Mác xít này hiện cũng là một nhà hoạt động tích cực trong phong trào môi sinh. Ông và vợ ông vẫn tiếp tục tự canh tác. Theo ông, thế giới này có thể “phục chế” mọi sự để nuôi sống 7 tỷ người. Mặc dù đã từng là một du kích, ngày nay ông Mujica xem ra không còn mặn mà với bạo động nữa. Đã từng gặp gỡ với những nhà cách mạng bạo động như Che Guevara và ngay cả Mao Trạch Đông, tổng thống Uruguay nói với ký giả Jonathan Watts của báo Anh The Guardian, dạo tháng 12 năm vừa qua như sau: “Thế giới luôn cần có cách mạng. Nhưng điều đó không có nghĩa là bắn giết và bạo động. Có cách mạng là khi bạn thay đổi cách suy nghĩ của mình. Khổng giáo và Kitô giáo, cả hai đều có tính cách mạng”.
Có lẽ do thay đổi trong cách suy nghĩ cho nên người được mệnh danh là “vị tổng thống nghèo nhứt” thế giới này nói rằng những người xem ông là người nghèo chưa hiểu được thế nào là giàu có. Ông nói: “Tôi không phải là tổng thống nghèo nhứt. Người nghèo nhứt chính là người cần có quá nhiều thứ để sống.  Cách sống của tôi là hậu quả của những vết thương của tôi. Tôi là con đẻ của chính lịch sử đời tôi. Có những năm tôi cảm thấy hạnh phúc khi chỉ có được một tấm nệm” (Jonathan Watts, Uruguay’s president Jose Mujica: no palace, no motorcade, no frills, báo The Guardian).
Làm tổng thống của một quốc gia mà vẫn có thể sống cuộc sống đơn sơ, đạm bạc, sống nghèo mà vẫn thấy mình “giàu có” và hạnh phúc, tổng thống Mujica của Uruguay quả thật là không phải là một người “khờ dại”. Không có tài sản để mất thì chẳng có gì phải lo sợ. Không bám víu vào quyền lực thì cũng chẳng sợ có ngày phải bỏ trốn. Là một người “vô thần”, nghĩa là không có niềm tin vào “Thiên Chúa” như tôi, nhưng tôi tin rằng ông mới thực sự là người “có đạo”, nếu hiểu đạo là con đường dạy con người luôn biết sống cho tha nhân và không chạy theo tiền của, quyền lực như cứu cánh của cuộc đời. Nếu hiểu “hiền triết” theo nguyên ngữ Hy Lạp, thì quả thực tổng thống Mujica là người “yêu sự khôn ngoan”.
Con người thời đại ngày càng giàu của cải vật chất, nhưng lại nghèo những giá trị tinh thần. Họ cũng giàu có về kiến thức, nhưng lại nghèo sự khôn ngoan. Họ có tất cả mọi sự, nhưng lại không có điều quan trọng nhứt trong cuộc sống là niềm an bình nội tâm. Có lẽ đây lý do đã khiến cho công ty Google  mời một tu sĩ phật giáo 87 tuổi là thiền sư Thích Nhất Hạnh đến để hướng dẫn một ngày thực tập chánh niệm tại trụ sở của công ty tại tiểu bang California, Hoa kỳ vào cuối tháng 2 này. Bỏ qua một bên những hoạt động và phát biểu  đầy tranh cãi của vị thiền sư này trước năm 1975, tôi thấy không thể không nhìn nhận ảnh hưởng của ông đối với thế giới Tây Phương trong nỗ lực giúp mang lại niềm an bình cho con người thời đại. Cũng như tổng thống Mujica của Uruguay đã từng lên tiếng cảnh cáo tại hội nghị khối G20 tại Brasil hồi năm 2012 vừa qua, thiền sư Nhất Hạnh cũng nói rằng nền văn minh ngày nay đang có nguy cơ sụp đổ trước những thiệt hại nghiêm trọng về xã hội cũng như môi trường sinh thái do nền kinh tế chạy theo ham muốn gây nên. Ông cũng đồng thời chỉ ra một hướng đi mới là xây dựng một nền kinh tế lấy hạnh phúc chân  thực làm mục tiêu, thay vì hy sinh hạnh phúc của mình để thờ phụng chủ nghĩa duy vật như bấy lâu nay chúng ta vẫn làm. Tựu trung, như giáo lý Phật Giáo vẫn thường dạy, thiền sư Nhất Hạnh luôn nhắc lại rằng “Chúng ta cần phải xem lại quan niệm của chúng ta về hạnh phúc. Chúng ta nghĩ rằng hạnh phúc chỉ có được khi nào chúng ta giành được thắng lợi, khi chúng ta giành được vị trí đứng đầu. Tuy nhiên, sự thực thì không cần thiết như vậy. Bởi vì ngay cả khi chúng ta kiếm được nhiều tiền hơn, chúng ta vẫn khổ đau như thường. Chúng ta cạnh tranh bởi vì chúng ta không hạnh phúc...Nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng chúng ta chỉ có thể hạnh phúc khi nào chúng ta vượt lên trên người khác, khi nào chúng ta trở thành nhận vật số 1...Chúng ta cần phải có một hướng đi tâm linh trong đời sống của mình cũng như trong công việc kinh doanh, nếu không chúng ta không thể nào có thể đương đầu với những khổ đau do công việc và đời sống hàng ngày tạo ra” (x.CaliToday, Google tìm tuệ giác của Thiền sư Thích Nhất Hạnh  22/2/2012).
Đọc những dòng trên đây của thiền sư Thích Nhất Hạnh, một tín hữu Kitô như tôi không thể không nhớ lại lời dạy của Chúa Giêsu. Ngài kể câu chuyện về một người phú hộ nọ, vì có quá nhiều của cải cho nên đêm ngày chỉ nghĩ đến chuyện xây cất thêm kho lẫm để tích lũy lúa thóc. Nhưng Ngài bảo rằng đây là một tên “ngu ngốc”, vì hắn không biết rằng chỉ trong một đêm thần chết có thể đến cướp lấy mạng sống của hắn và như vậy hắn không thể mang theo của cải của mình (x.Tin mừng theo thánh Luca 12, 13-21)
Lâu nay, tôi tưởng chỉ có thú vật mới “ngu”. “Ngu như bò”, chúng ta đã chẳng thường chửi nhau như thế sao?  Thật là oan cho bò và thú vật. Thú vật sống theo bản năng cho nên chẳng có khôn mà cũng chẳng có ngu. Chỉ có con người mới biết khôn và ngu mà thôi, bởi vì chỉ có con người mới có ý thức về mình. Biết sẽ chết mà vẫn nhắm mắt lao vào cái chết chẳng phải là ngu sao! Biết rằng con đường mình đang đi sẽ là con đường dẫn đến hủy hoại mà vẫn tiến tới chẳng phải là ngu sao! Lịch sử vẫn cứ tiếp tục chứng minh cho tôi thấy rằng thời nào cũng có những người “ngu” như thế. Tôi biết mình cũng có lúc “ngu” như thế. Và đó chính là những lúc tôi cảm thấy khốn khổ và bất hạnh nhứt!




Thứ Hai, 7 tháng 8, 2017

Trung Cộng và các cơ quan truyền thông công cụ


04/08/17
Hồi tháng Sáu vừa qua,  khi nhà văn bất đồng chính kiến Lưu Hiểu Ba đang nằm trên giường bệnh tại một bệnh viện ở Thẩm Dương, Tỉnh Liêu Ninh, Đông Bắc Trung Quốc, một băng hình đã xuất hiện trên trang mạng xã hội YouTube. Trong băng hình, người ta thấy ông Lưu Hiểu Ba đang được chăm sóc y tế một cách chu đáo và ông đã “đánh giá cao” việc ông được nhà nước tận tình chăm sóc.
Trong khi cả thế giới đều sửng sốt và bất mãn về tin nhà văn khôi nguyên Giải Nobel Hòa Bình bị ung thư gan vào giai đoạn cuối mà không được phép ra nước ngoài để chữa bệnh thì bộ máy tuyên truyền của chế độ cộng sản Trung Quốc lại suốt ngày ra rả về một câu chuyện hoàn toàn trái ngược.
Cách đây hơn hai tuần, khi ông Lưu Hiểu Ba trút hơi thở cuối cùng, một băng hình khác cũng xuất hiện trên trang mạng của chính quyền địa phương Thẩm Dương. Người kể chuyện trong băng hình nói rằng ông Lưu Hiểu Ba đã được chữa trị bởi các bác sĩ và chuyên gia y tế hàng đầu thế giới. Việc chữa trị cũng đã được thực hiện theo “tinh thần nhân đạo”. Chỉ vài giờ sau khi ông Lưu Hiểu Ba từ trần, các bác sĩ đã xuất hiện trong một cuộc họp báo để giải thích rằng  sở dĩ nhà văn bất đồng chính kiến đã không thể ra nước ngoài để chữa trị là vì bệnh trạng đã quá nguy ngập, ông không muốn ra đi mà thôi.
Trong một cuộc họp báo khác được ghi lại trong một băng hình kéo dài 2 phút, nghi thức rắc tro cốt của ông Lưu Hiểu Ba xuống đại dương cũng được trình bày cho các cơ quan truyền thông nước ngoài nhìn thấy. Có nhiều tin đồn cho rằng chính quyền Trung Cộng đã buộc gia đình của ông Lưu Hiểu Ba không được xây bia mộ cho ông. Nhưng người anh của ông đã bác bỏ tin đồn này. Sau nghi thức rắc tro cốt, ông đã nói đến những lợi ích của việc hải táng và cám ơn rối rít chính quyền về “tấm lòng nhân đạo” đối với gia đình ông.
Trên đây chỉ là một vài thí dụ điển hình về việc chính quyền Trung Cộng ngày càng tỏ ra mưu mô quỷ quyết trong việc sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại để lèo lái và độc quyền giải thích các sự kiện và biến cố theo ý họ, trong khi đó đàng sau hậu trường họ vẫn tiếp tục gia tăng các cuộc đàn áp.
Việc Trung Cộng muốn độc quyền giải thích về bệnh trạng và cái chết của nhà văn Lưu Hiểu Ba là một phần trong mưu mô đảo lộn tận gốc rễ việc sử dụng các phương tiện truyền thông. Nếu trong quá khứ họ còn tỏ ra bối rối và vụng về trong việc che đậy sự thật thì nay họ đã tỏ ra trắng trợn và hung hãn trong việc lèo lái dư luận.
Sau cuộc Cách mạng Văn hóa hồi đầu thập niên 1980, rồi kế đó là  hai thập niên 1990 và 2000, mặc dù toàn bộ các cơ quan truyền thông đều do Đảng Cộng Sản kiểm soát, nhưng ít ra người dân cũng còn hưởng được một chút ánh sáng của sự thật. Báo chí vẫn có được một mức độ tự do nào đó để mở các cuộc điều tra giúp phanh phui các vụ tham nhũng và giới hạn quyền lực của các chính quyền địa phương. Nhưng kể từ khi Chủ tịch Tập Cận Bình lên cầm quyền đến nay, các cơ quan truyền thông đã không dám hó hé để thách thức quyền lực của Đảng dưới bất cứ hình thức nào, và hoàn toàn biến thành một công cụ đắc lực trong tay Đảng.
Dưới quyền lãnh đạo của ông Tập Cận Bình, Đảng cộng sản Trung Quốc ngày càng tỏ ra bất khoan nhượng đối với tự do báo chí. Năm 2013, Đảng cộng sản Trung Quốc đã đưa ra một điều lệ gọi là “Tài liệu số 9”. Tài liệu nội bộ này lên án 7 thứ ảnh hưởng gọi là “phản động” trong xã hội. Một trong những ảnh hưởng đó là “những quan niệm về tự do báo chí của Tây Phương”. Tài liệu cũng bác bỏ những khái niệm như “Dân chủ Hiến định Tây Phương” và những “giá trị phổ quát” như nhân quyền và tự do ngôn luận.
Ngày 19 tháng Hai năm 2016, họ Tập đã tỏ rõ tham vọng của mình trong việc khống chế tự do ngôn luận. Ông đã thân hành viếng thăm trụ sở của ba cơ quan tuyên truyền chính của Đảng tại Bắc Kinh là Nhân Dân Nhật Báo, Tân Hoa Xã và Đài  Truyền hình Trung ương. Ông đã ra lệnh cho nhân viên của ba cơ quan này phải tuyệt đối trung thành với Đảng. Với “bày tôi” đang tỏ ra rất hứng thú, kể cả các nhân viên ngoại quốc đang làm việc cho ba cơ quan này, ông ra huấn thị: “Chúng ta phải nói tốt về Trung Quốc”.
Cùng ngày, trong một bài diễn văn đọc trước đại hội đảng, Chủ tịch Tập Cận Bình nhấn mạnh rằng các cơ quan truyền thông phải đề cao “sự lãnh đạo của Đảng” và “hướng dẫn đúng đắn dư luận quần chúng” cũng như “tuyên truyền tích cực”.
Theo trích thuật của báo Nhân Dân Nhật Báo, chủ tịch nhà nước Trung Cộng yêu cầu các cơ quan truyền thông phải tỏ ra xứng danh với Đảng. Ông nói: “Tất cả mọi thứ trong tin tức về đảng và dư luận cần phải bày tỏ ý muốn của Đảng, phản ảnh quan niệm của Đảng, bảo tồn quyền lãnh đạo và sự đoàn kết của Trung ương Đảng”.
Theo Đảng Cộng Sản Trung Quốc, “những kẻ gây rối loạn” như các nhà hoạt động dân chủ và các luật sư nhân quyền đều là tay sai của “những thế lực thù địch nước ngoài” là những thế lực cố tình đánh phá để gây bất ổn cho chế độ. Dạo tháng Bảy năm 2015, sau khi Chính quyền Cộng sản Trung Quốc bắt giữ trên 300 luật sư nhân quyền và các nhà hoạt động dân chủ, cái loa tuyên truyền của Đảng là Nhân Dân Nhật Báo đã tố cáo các luật sư nhân quyền là thành viên của một “băng đảng tội phạm có tầm cỡ” đã “gây rối loạn trong xã hội một cách nghiêm trọng”.
Dạo tháng Tám năm ngoái, khi 4 trong số các luật sư này bị mang ra xét xử, một băng hình được Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Trung Quốc tung ra cho thấy một số hình ảnh về các luật sư nhân quyền và các nhà hoạt động dân chủ trong những cuộc biểu tình. Tổ chức thanh niên cộng sản này tố cáo rằng các luật sư này nhân danh “dân chủ, tự do và pháp quyền” để chống phá nhà nước. Băng hình nói trên cảnh cáo về nguy cơ của một “cuộc cách mạng mầu” (ngụ ý đến những cuộc cách mạng bất bạo động trên thế giới), đồng thời cam kết rằng Trung Cộng sẽ không bao giờ trở thành “một thứ Liên Xô thứ hai”.
Nhưng tố cáo các luật sư nhân quyền và các nhà hoạt động dân chủ là “kẻ thù của nhà nước” thôi chưa đủ, Đảng Cộng Sản Trung Quốc còn đưa một số người lên đài truyền hình quốc gia để “thú tội”.
Khi ký giả bất đồng chính kiến Cao Dư bị giam tù vì tội gọi là “tiết lộ bí mật nhà nước cho nước ngoài” hồi năm 2014, bà đã được đưa lên đài truyền hình quốc gia để nhìn nhận lỗi lầm của mình. Nhưng sau đó, bà đã rút lại lời thú tội và cho biết bà đã bị thúc ép để làm điều đó.
Ông Peter Dahlin, một nhân viên của một tổ chức phi chính phủ của Thụy Điển, đã bị giam giữ  vì hoạt động cho nhân quyền. Đầu năm 2016, ông đã được đưa lên đài truyền hình quốc gia để thú nhận rằng ông “đã vi phạm luật pháp Trung Quốc và xúc phạm đến tình cảm của nhân dân Trung Quốc”. Sau khi được trả tự do, ông Dahlin cũng nói rằng ông đã bị cưỡng bách phải lên đài truyền hình để thú tội.
Đảng Cộng Sản Trung Quốc cũng sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội để phổ biến các chiến dịch. Đầu năm nay, trong chiến dịch siết chặt an ninh, Đài truyền hình trung ương, Đoàn Thanh niên Cộng sản và Bộ Công An đã cho phổ biến một số hí họa và băng hình để cho thấy người dân thường đã nhận diện được các “tên gián điệp” cũng như báo cáo cho chính quyền biết những thành phần khả nghi trong dân chúng. Với nhạc “rap” làm nền, người hướng dẫn chương trình trong các băng hình hô hào: “Nào, hãy can đảm lên, đứng lên tố cáo!”
Trong trường hợp của nhà bất đồng chính kiến Lưu Hiểu Ba, ngoại trừ Hoàn Cầu Thời Báo (Global Times), một phiên bản bằng Anh ngữ của tờ Nhân Dân Nhật Báo, hầu hết các thứ loa của các cơ quan truyền thông công cụ của Trung Cộng đều im thin thít. Cả Nhân Dân Nhật Báo và Hoàn Cầu Thời Báo đều hùng hổ bác bỏ những lời chỉ trích của các nước Tây Phương về việc Trung Cộng đối xử vô nhân đạo với nhà bất đồng chính kiến Lưu Hiểu Ba.
Hoàn Cầu Thời Báo viết rằng ông Lưu là “một nạn nhân bị Tây Phương xỏ mũi làm cho lầm đường lạc lối”. Còn tờ Nhân Dân Nhật Báo thì nhấn mạnh rằng ông Lưu “đã nhiều năm dấn sâu vào các hoạt động bất hợp pháp để lật đổ chính quyền”. Riêng tờ Hoàn Cầu Thời Báo còn tố cáo “các thế lực thù địch Tây Phương” can thiệp vào chuyện nội bộ của Trung Quốc. Báo này không tỏ ra ngượng ngùng chút nào để khẳng định rằng Trung Quốc đã bày tỏ “sự khoan hồng” cho ông Lưu, vốn là một “tên tội phạm”. Sự kiện nhà bất đồng chính kiến này được trao tặng Giải Nobel Hòa Bình đã không được báo này dành cho nửa chữ!
Sau đây là một vài dòng về ông Lưu Hiểu Ba mà người ta có thể đọc được trên Hoàn Cầu Thời Báo số ra ngày 14 tháng Bảy 2017 vừa qua: “Ông Lưu đã bị kết án 11 năm tù hồi năm 2009 vì tội khích động lật đổ chính quyền. Tháng trước, vì lý do y tế, ông đã được tạm tha. Bệnh viện bậc nhất của trường Đại học Y khoa Trung Quốc nơi ông Lưu được chữa trị đã mời các chuyên gia hàng đầu về ung thư của Trung Quốc để chữa trị cho ông. Các bác sĩ từ Hoa Kỳ và Đức cũng tham gia góp ý kiến trong việc chữa trị...Bệnh viện và các bác sĩ đã nỗ lực tối đa để cứu sống và kéo dài cuộc sống của ông Lưu. Trung Quốc không có lý do gì để không tìm cách chữa trị tốt nhất cho ông và những nỗ lực của các bác sĩ Trung Quốc đã được các chuyên gia ngoại quốc đánh giá cao...Những ngày cuối đời của ông Lưu đã bị các thế lực thù địch nước ngoài khai thác vì động lực chính trị. Họ dùng tình trạng bệnh tật của ông như một khí cụ để đề cao hình ảnh của họ và “nói xấu” Trung Quốc. Họ không hề quan tâm đến việc kéo dài cuộc sống của ông...”
Để che đậy sự thật về ông Lưu Hiểu Ba, ngay cả sau khi ông qua đời, Chính quyền Cộng sản Trung Quốc cũng  tìm cách khống chế công luận hay “hướng dẫn dư luận”.
Tên tuổi của khôi nguyên Nobel Hòa Bình đã hoàn toàn bị xóa bỏ khỏi các trang mạng xã hội vốn do nhà nước kiểm soát. Ngay cả biểu tượng có hình chiếc đèn cày chiếu sáng cũng bị tẩy chay.
Sau đám tang của ông Lưu Hiểu Ba, một phát ngôn viên của chính quyền địa phương tại Thành phố Thẩm Dương nói với các phóng viên rằng bà quả phụ Lưu Hà, vợ ông, hoàn toàn được “tự do”. Tuy nhiên hai tuần sau khi ông qua đời, người ta hiện vẫn không biết bà đang ở đâu. Kể từ khi chồng bà được trao tặng Giải Nobel Hòa Bình hồi năm 2010 , bà Lưu Hà đã bị quản thúc tại gia. Ngoài một số hình ảnh về bà được chính quyền cho phổ biến, người ta không bao giờ thấy bà xuất hiện trước công chúng và bạn bè của bà cũng không thể liên lạc được với bà, ngay cả bằng điện thoại.
Trong ngày hải táng của ông, những người ủng hộ ông tại nhiều thành phố đã ra biển để tưởng nhớ ông. Họ đã bị cảnh sát giải tán. Ngay cả những ai tụ tập trong chốn riêng tư để tưởng niệm ông cũng bị công an  gọi đi “làm việc”.
Sau khi ông Lưu Hiểu Ba đã ra đi vào lòng đại dương, cuộc đàn áp vẫn tiếp diễn tại Trung Cộng.

(Theo: http://thediplomat.com/2017/07/chinas-new-media-strategy-the-case-of-liu-xiaobo)