Thứ Tư, 15 tháng 7, 2020

Không đem thắng bại mà luận anh hùng

                

Chu Văn

Tháng Sáu (2020) vừa qua đánh dấu đúng 80 năm việc Đức Quốc Xã xua quân sang xâm chiếm Paris và miền Bắc nước Pháp. Biến cố này không khỏi làm tôi nhớ đến một nhà ngoại giao Bồ Đào Nha được chính phủ nước này vinh danh như “vị anh hùng Bồ Đào Nha vĩ đại nhứt trong Thế kỷ 20”. Nhà ngoại giao đó là ông Aristides de Sousa Mendes.

Sau khi Đức Quốc Xã xâm chiếm miền Bắc nước Pháp, hàng ngàn người Do Thái và những người tỵ nạn khác đã chạy xuống phía Nam để tránh cuộc tàn sát của Đức Quốc Xã. Nhiều người đã đến được Bordeaux để tạm trú trong khi chờ đợi có được một giấy nhập cảnh vào một nước trung lập trong thời Đệ nhị Thế chiến là Bồ Đào Nha và từ đó tìm đường sang Hoa Kỳ và các nước khác.

Một số đã có được may mắn để vào tòa lãnh sự của Bồ Đào Nha ở Bordeaux. Tại đây, bất chấp lệnh của chính phủ, Tổng lãnh sự Aristides de Sousa Mendes đã cấp giấy nhập cảnh cho nhiều người được vào Bồ Đào Nha.

Đầu tháng Sáu vừa qua, Quốc Hội Bồ Đào Nha đã đồng thanh bỏ phiếu để vinh danh ông Sousa Mendes: tượng đài vinh danh ông đã được dựng lên trong Đài tưởng niệm quốc gia.

Trước Đệ nhị Thế chiến, người dân các nước có thể đến Bồ Đào Nha mà không cần chiếu khán nhập cảnh. Nhưng dưới thời nhà độc tài Antonio de Oliveira Salazar, Chính phủ Bồ Đào Nha đã ban hành một biện pháp mới có tên là “Thông Tư 14” (Circular 14) qua đó không cho phép người Do Thái và những người tỵ nạn khác được nhập cảnh vào Bồ Đào Nha.

Vì không tuân hành lệnh của Chính phủ Salazar, ông Sousa Mendes đã bị cách chức và trừng phạt nặng nề. 

Động lực nào đã thúc đẩy ông sẵn sàng hy sinh sự nghiệp và đánh đổi tất cả để cứu người Do Thái và những người tỵ nạn khác?

Theo tài liệu được ghi lại, nhà ngoại giao Bồ Đào Nha này đã kết thân với một người tỵ nạn đến từ Bỉ là giáo sĩ Do Thái Chalm Kruger. Ông mời vị giáo sĩ và gia đình vào trú ẩn trong Tòa lãnh sự và cấp giấy nhập cảnh để vào Bồ Đào Nha. Nhưng giáo sĩ Kruger đã từ chối, viện cớ rằng ông không thể bỏ rơi hàng ngàn người tỵ nạn Do Thái khác tại Bordeaux. Lương tâm bị đặt trước một chọn lựa khó xử, ông Sousa Mendes đã lui vào phòng ngủ trong ba ngày liên tiếp. Sau đó, ông xuất hiện và tuyên bố quyết định cứu vớt người tỵ nạn.

Kể từ ngày 17 tháng Sáu năm 1940, làm việc ngày đêm và với sự giúp đỡ của những người con trai của ông cũng như một số người tỵ nạn, ông đã đóng dấu và ký tên để cấp hàng ngàn giấy nhập cảnh vào Bồ Đào Nha cho người Do Thái và những người tỵ nạn khác. Sau đó, ông đi xuống thành phố Bayonne, vốn cũng nằm dưới quyền tài phán của ông. Tại đây ông còn ký thêm nhiều giấy nhập cảnh khác.

Theo một sử gia Israel chuyên về cuộc sát tế người Do Thái là giáo sư Yehuda Bauer, “có lẽ đây là hành động cứu vớt lớn nhứt do một cá nhân thực hiện trong thời Đức Quốc Xã tàn sát người Do Thái”.

Không bao lâu, chuyện ông Sousa Mendes vi phạm lệnh của chính phủ đã đến tai ông Salazar. Ngày 24 tháng Sáu năm 1940, nhà độc tài này ra lệnh cho ông Sousa Mendes phải ngưng việc cấp giấy nhập cảnh và trở về Thủ đô Lisboa gấp. Nhưng ngay cả trên đường hồi hương, ông Sousa Mendes cũng đã dừng lại tại Hendaye, một thành phố nằm sát biên giới Tây Ban Nha. Tại đây ông đã cấp giấy nhập cảnh và ngay cả sổ thông hành cho người tỵ nạn.

Khi trở về Lisboa, ông bị cách chức và cắt luôn tiền hưu bổng. Những người con nào của ông đang làm việc ở công sở cũng bị làm khó dễ. Chỉ nhờ sự trợ giúp của một tổ chức an sinh của người Do Thái, gia đình ông mới có thể sống còn.

Năm 1954, ông Sousa Mendes đã qua đời trong tăm tối, nghèo nàn và ruồng bỏ tại Bồ Đào Nha. Chỉ nhờ chứng từ của những người sống sót, trong số này có nhiều người trong hai gia đình nổi tiếng ở Mỹ là Rothschild và Rosenberg cũng như nhiều nhà hàn lâm và nghệ sĩ khác, hành động can đảm của ông Sousa Mendes mới được nhìn nhận và vinh danh.

Năm 1966, Quốc Hội Mỹ đã chính thức nhìn nhận ông là một anh hùng. Chỉ sau khi chế độ độc tài tại Bồ Đào Nha cáo chung, danh dự của ông Sousa Mendes mới được phục hồi. Năm 1987, Chính phủ Bồ Đào Nha đã trao tặng cho ông Huy Chương Danh Dự Bội Tinh. Năm 1995, Tổng thống Bồ Đào Nha lúc bấy giờ là ông Mario Soares đã tuyên bố: Sousa Mendes là “vị anh hùng Bồ Đào Nha vĩ đại nhứt trong Thế kỷ 20” (1).

Gương anh dũng của ông Sousa Mendes gợi lên cho tôi một số suy nghĩ về đạo đức và lương tâm trong chính trị. Mỗi lần cầm lá phiếu trên tay để gọi là “chọn mặt gởi vàng”, tôi luôn xem tiêu chuẩn đạo đức như một trong những nét quan trọng nhứt trong tư cách của một nhà lãnh đạo.

Tôi không thể nào xóa khỏi bộ nhớ của tôi một trong những câu tuyên bố nổi tiếng của Tổng thống Donald Trump. Ngày 23 tháng Giêng năm 2016, tại một cuộc vận động ở Tiểu bang Iowa, ứng cử viên Trump đã đưa tay lên làm hiệu như một khẩu súng và tuyên bố: “Tôi có thể đứng ở giữa đại lộ Fifth Avenue (New York) và bắn ai đó mà vẫn không mất bất cứ cử tri nào ủng hộ tôi” (2). Kể từ đó, tôi thường tự hỏi: liệu Tổng thống Trump có bao giờ cư xử và hành động theo một kim chỉ nam đạo đức nào không?

Trong một cuộc trao đổi với một người bạn vốn là một người triệt để ủng hộ Tổng thống Trump, tôi có nêu vấn đề tư cách đạo đức của một nhà lãnh đạo. Bạn tôi trả lời: “Người Mỹ chúng tôi không bỏ phiếu bầu một giáo hoàng lên làm tổng thống”. Trong cố gắng duy trì tình bạn, tôi không muốn ăn thua đủ trong cuộc tranh luận. Nhưng tôi vẫn tự trả lời: chẳng ai bầu một nhà lãnh đạo tinh thần hay một vị giáo hoàng lên làm nguyên thủ quốc gia, nhưng sẽ là vô đạo nếu người ta bầu cho một kẻ vô đạo để lãnh đạo quốc gia. Lịch sử không ngừng chứng minh: tất cả những nhà lãnh đạo độc tài khát máu đều là những kẻ vô đạo!

Tương quan giữa chính trị và đạo đức là một chủ đề đã được mang ra bàn cãi ngay từ thời triết học Tây Phương mới được khai sinh ở Hy Lạp. Ở Đông Phương, dù cho lý luận triết học chưa được hệ thống hóa, nhưng xem ra vấn đề tu thân, tức đạo đức, vẫn được đặt lên hàng đầu trong mọi sinh hoạt nhân sinh, nhứt là trong việc kinh bang tế thế, tức chính trị. Những câu như “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” hoặc “tự thiên tử dĩ chí ư thứ nhân, nhất thị gia dĩ tu thân vi bổn”...cho thấy học làm người, tập tành nhân đức, tức sống theo những giá trị đạo đức là điều tối cần trong mọi lãnh vực của cuộc sống, kể cả và nhứt là trong sinh hoạt chính trị.

Đạo đức chức nghiệp không chỉ áp dụng cho doanh nghiệp hay các lãnh vực chuyên môn. Nó cũng luôn có giá trị trong chính trị. Cuối thập niên 1990, Tổng thống Bill Clinton đã bị Quốc hội Mỹ mang ra đàn hặc vì tội gọi là bội thề và cản trở công lý. Nhưng chính vụ tai tiếng về tình dục giữa ông và nhân viên tập sự Monica Lewinsky ngay trong Tòa Bạch Ốc mới là giềng mối của cuộc đàn hặc. Đại diện cho người dân Mỹ, các vị dân cử trong Quốc Hội đã xem chuyện bê bối của Tổng thống Clinton diễn ra ngay trong Tòa Bạch Ốc như một hành vi thiếu đạo đức nghiêm trọng. Trong một ý nghĩa nào đó, họ đã xem trọng tư cách đạo đức của một nhà lãnh đạo.

Tiểu sử của cố Tổng thống Lyndon B. Johnson (1908-1973) có ghi lại cuộc gặp gỡ giữa ông và một chính trị gia nổi tiếng khác là ông George Wallace (1919-1998), Thống đốc Tiểu bang Alabama. Vào những năm cuối của thập niên 1960, phong trào tranh đấu cho quyền được đi bầu của người Mỹ gốc Phi Châu tại Tiểu bang Alabama đã dẫn đến nhiều cuộc bạo động đẫm máu. Muốn trút bỏ trách nhiệm lên Tổng thống Johnson, Thống đốc Wallace đã đến gặp ông để yêu cầu ra lệnh dập tắt các cuộc bạo động. Tổng thống Johnson nói rằng chỉ có một cách đơn giản để chấm dứt các cuộc biểu tình bạo động là nhìn nhận quyền được đi bầu của người da đen. Biết ông Wallace có ý định ra tranh cử tổng thống năm 1968, Tổng thống Johnson ôn tồn khuyên ông: “Này, George, anh và tôi đừng nghĩ tới năm 1968, mà hãy nghĩ tới năm 1988. Lúc đó cả hai chúng ta đều sẽ chết, đều sẽ không còn nữa. Ông muốn để lại cho hậu thế điều gì? Ông có muốn một đài tưởng niệm lớn bằng cẩm thạch có ghi hàng chữ “George Wallace: người đã kiến tạo?”  Hay ông muốn một tấm bảng nhỏ bằng gỗ thông trên đó có ghi: “George Wallace: người đã thù hận?” (3)

Tổng thống Johnson đã nói đến ý nghĩa của việc xây đài dựng tượng cho các chính trị gia có công với đất nước. Đây là một trong những vấn đề nóng bỏng hiện nay tại Hoa Kỳ. Cùng với phong trào chống nạn kỳ thị chủng tộc, những người biểu tình cũng đòi dẹp bỏ những tượng đài hay tên tuổi của những người đã từng có chủ trương hay can dự vào việc buôn bán người nô lệ Phi Châu hoặc kỳ thị chủng tộc. Buôn bán nô lệ, xem người nô lệ như một vật sở hữu, kỳ thị chủng tộc và dĩ nhiên hận thù chủng tộc là một tội ác. Dẹp bỏ tượng đài của những người có chủ trương như thế chính là lên án tội ác và đồng thời cũng đặt nặng vấn đề đạo đức trong chính trị.

Nhà ngoại giao Sousa Mendes cùa Bồ Đào Nha đã ý thức được điều đó khi phải làm một quyết định sinh tử. Ông chỉ có thể làm quyết định ấy sau 3 ngày tự giam trong phòng ngủ, trực diện với không một người nào hay một quyền lực nào khác ngoài lương tâm của mình, một lương tâm được soi sáng và hướng dẫn bởi những giá trị đạo đức và sự thật. Có lẽ ông đã làm đúng lời khuyên của nhà bác học lừng danh của Thế kỷ 20 là Albert Einstein: “Đừng bao giờ làm điều gì trái với  lương tâm, ngay cả khi nhà nước đòi hỏi bạn phải làm điều đó”.

Khi làm một nghĩa vụ đạo đức cao cả là cứu vớt người hoạn nạn, vị “anh hùng Bồ Đào Nha vĩ đại nhứt của Thế kỷ 20” đã thấy trước mình sẽ mất tất cả. Có lẽ ông cũng chẳng màng đến việc danh dự của mình sẽ được phục hồi hoặc một tượng đài sẽ được dựng lên để tưởng nhớ ông. Ông là mẫu người hùng đích thực: anh hùng thực sự là người sẵn sàng đánh đổi tất cả, ngay cả mạng sống của mình, để sống theo lương tâm. Ông là mẫu anh hùng theo đúng câu nói của người Việt Nam: không đem thắng bại mà luận anh hùng! Phần thưởng duy nhứt ông tự dành cho mình là biết rằng mình đã hành động đúng theo mệnh lệnh của lương tâm. Tôi cho đó là thông điệp ông muốn nhắn gởi cho hậu thế, nhứt là trong thời đại nhiễu nhương này.

 

 

1.https://edition.cnn.com/2020/06/26/opinions/aristides-de-sousa-mendes-visas-refugees-portugal-berger-wall/index.html#:~:text=The%20Portuguese%20diplomat%20who%20saved,everything%20except%20his%20good%20name&text=Arthur%20Berger%20is%20a%20retired,active%20in%20human%20rights%20causes.

2.https://thehill.com/opinion/campaign/463710-donald-trumps-fifth-avenue-moment

3.https://www.washingtonpost.com/blogs/post-partisan/wp/2014/05/13/a-question-of-morality-in-politics/


Thứ Hai, 6 tháng 7, 2020

Mỗi ngày Hoa Kỳ có thêm ca nhiễm Covid 19 chỉ vì Ngu Dốt


Jamie Seidel

“Chúng ta không nên giả định rằng một cách nào đó một nhóm chuyên gia mới biết được điều gì là tốt nhất”. Thượng nghị sĩ Mỹ Rand Paul (thuộc Đảng Cộng Hòa) đã than phiền như thế vào hôm mùng Hai tháng Bảy 2020. Covid-19 hiện đang ở ngoài tầm kiểm soát của Hoa Kỳ. Và một sự khinh thường sâu xa như thế đối với sự hiểu biết có thể là lý do tại sao.

Thượng nghị sĩ Paul không phải là người duy nhất bác bỏ lời khuyên của các chuyên gia về dịch tể học. Một cựu bác sĩ nhãn khoa (như ông) mà không tin ở kinh nghiệm, giáo dục và hiểu biết chuyên môn là một thứ dịch bệnh cho Hoa Kỳ.

Đây là một thái độ vốn gia tăng nhanh chóng trên khắp thế giới. Thái độ này cũng tồn tại ngay cả khi đứng trước sự thật hiển nhiên không thể phủ nhận được.

Các chính trị gia kỳ cựu như ông Paul tại Hoa Thịnh Đốn lập luận rằng Hoa Kỳ cần phải nhanh chóng mở cửa lại nền kinh tế của đất nước. Họ lập luận như thế mặc dù hết tiểu bang này đến tiểu bang khác đều báo cáo rẳng các bệnh viện của họ đã quá tải, rằng ngày càng có nhiều người bị nhiễm Covid-19, rằng việc truy tìm điểm xuất phát đã thất bại, rằng dân chúng không màng tới lời khuyên phải đeo khẩu trang và rửa tay. Và dân chúng, cách riêng những người có tuổi và những người có tiền sử bệnh lý, đang chết.

Tại sao lại xảy ra như thế? Chúng ta đang sống trong một thế giới với lượng thông tin quá tải. Và như Giáo sư Tom Nichols chuyên giảng dạy về An ninh Quốc gia tại Học viện Hải quân Hoa kỳ giải thích, tình trạng này hiện đang bị những kẻ hoạt đầu thương mại và chính trị triệt để khai thác. Giáo sư Nichols viết: “Vì không hiểu được tất cả mọi vấn đề phức tạp xung quanh mình, họ (dân chúng và các chính trị gia) chọn lựa thà đừng hiểu gần như mọi điều và giận dữ đổ tội cho những thành phần ưu tú vì kiểm soát cuộc sống của họ”.

 

Những kẻ phủ nhận siêu vi

 

Các chuyên gia là những người đưa ra các đề nghị. Còn quyết định là việc của các vị dân cử. Nhưng rất hiếm khi các chính trị gia được dân bầu lên là chuyên gia, nhất là theo cơ chế đảng phái chính trị hiện nay. Ông Paul là thượng nghị sĩ Mỹ đầu tiên nhiễm Covid-19. Nay ông lại bảo rằng các chuyên gia y tế phải “tỏ ra dè dặt trong việc chẩn đoán của họ”, ngay cả miền Nam và miền Tây Hoa kỳ đang phải vất vả chiến đấu trước đợt tấn công thứ hai của dịch bệnh.

Thượng nghị sĩ Paul đã tuyên bố rằng người Mỹ “chỉ cần có thêm lạc quan” mỗi khi nghe khuyến cáo của một ủy ban (phòng chống) đại dịch, kể cả giám đốc của Viện Quốc gia về Dị ứng và Dịch bệnh là Tiến sĩ Anthony Fauci. Tiến sĩ Fauci vừa mới cảnh cáo rằng Hoa Kỳ đang trên đà mỗi ngày có thêm 100.000 người nhiễm Covid-19.

Thượng nghị sĩ Paul muốn các trường học phải mở cửa lại. Ông muốn các câu lạc bộ và tiệm ăn mở cửa lại. Ông muốn các cuộc thi đấu thể thao cũng phải được cho tổ chức lại. Thượng nghị sĩ Paul nói: “Tất cả những gì mà tôi nghe được là “Tiến sĩ Fauci nói: “Chúng ta không thể làm điều này. Chúng ta không thể làm điều kia. Chúng ta không thể chơi bóng chày”.

Vị thượng nghị sĩ của Tiểu bang Kentucky này cho rằng các công dân Mỹ sẽ trở thành một thứ “bày đàn  được một vài người ở Hoa Thịnh Đốn bảo phải làm gì và chúng ta chẳng khác nào những con cừu phải mù quáng đi theo họ”.

Ông đã không đá động đến kịch bản được những mục tử không chuyên môn đưa ra. Và theo Giáo sư Nichols, đây là một dấu hiệu cho thấy nguy hiểm biết chừng nào khi các chuyên gia đề nghị một đàng và các vị dân cử quyết định một nẻo.

Một bác sĩ nhãn khoa không phải là một nhà siêu vi học. Một nhân viên địa ốc không phải là một nhà ngoại giao. Một giám đốc tiếp thị không phải là một chuyên gia kinh tế. Tuy nhiên, chỉ cần một chút cố gắng, những người như thế cũng có thể hiểu và cân nhắc những lập luận của mình. Giáo sư Nichols viết: “Những người không có hiểu biết chuyên môn không thể làm mà không cần các chuyên gia và họ cần phải chấp nhận thực tế đó chứ không phải ngậm đắng nuốt cay. Các chuyên gia cũng vậy, cũng phải chấp  nhận lắng nghe, chứ không phải phủ nhận và lời khuyên của họ không phải lúc nào cũng được đón nhận”.

 

Vui mừng trong ngu dốt

 

Đối với nhiều người, ngu dốt là một đức tính. Đặc biệt trong chính trị. Thà mù quáng và hùng hổ tuyên bố ủng hộ “tín điều” đã được thiết lập, dù có lỗi thời, của phe nhóm mình hơn là phải thay đổi. Người ta không bao giờ cho rằng mình có thể sai lầm.

Giáo sư Nichols nói: “Lập luận có nguyên tắc và dựa trên sự hiểu biết là một dấu hiệu của trí tuệ lành mạnh và sức sinh động của một nền dân chủ. Tôi cảm thấy lo là bởi vì chúng ta không còn có những lập luận như thế nữa, mà chỉ là những đấu đá hò hét và giân dữ”.

Thái độ này là một siêu vi đang lây lan trên các trang mạng xã hội truyền thống, trong các cuộc tranh luận chính trị và trong các tiệm ăn trên khắp thế giới. “Khước từ lời khuyên của các chuyên gia để khẳng định sự tự trị của mình, đây là cách người Mỹ muốn chứng minh sự độc lập của họ đối với những thành phần ưu tú (có hiểu biết) và cô lập cái tôi mong manh của họ để khỏi nghe nói rằng họ sai lầm.”

Vấn đề không phải là bày tỏ ý kiến của mình mà là suy nghĩ với óc phê phán. Và sẽ không có suy nghĩ với óc phê phán nếu không thể chấp mình rằng mình có thể sai lầm.

Giáo sư Nichols giải thích: “Ngờ vực là một điều tự nhiên, nhưng tôi sợ rằng chúng ta đang vượt qua làn ranh của thái độ ngờ vực tự nhiên ấy khi từ ý kiến của các chuyên gia chúng ta tuyên án tử cho chính lý tưởng của sự chuyên môn. Được Google nuôi dưỡng, dựa trên Wikipedia và no say vì các Blog, người ta không còn phân biệt giữa các chuyên gia và những người không có hiểu biết chuyên môn, giữa giáo viên và học sinh, giữa những người có kiến thức và người không có kiến thức, nói cách khác, giữa những người đã thành đạt trong một lãnh vực và những người không có bất cứ thành đạt nào”.

Hiểu biết chuyên môn đã bị “loạt khỏi quày hàng” của những tiện nghi. Giáo sư Nichols giải thích: chẳng hạn người ta thích tìm đến một bác sĩ để xin toa thuốc chữa trị bệnh tiểu đường, nhưng lại  không muốn nghe dẫn giải về dinh dưỡng và nếp sống vốn là nguyên nhân chính gây ra bệnh tật.

“Người ta muốn ý kiến của mình phải được tôn trọng và những chọn lựa ưu tiên của mình được nhìn nhận không phải dựa trên sức mạnh của những lập luận của mình hay trên bằng chứng hiển nhiên mình đưa ra mà dựa trên cảm xúc và bất cứ thông tin sai lạc nào mình nhặt được nơi này nơi nọ”.

 

Những sự thật gây khó chịu

 

Thượng nghị sĩ Paul xem ra không nghe chính lời khuyên của ông. Tại một phiên điều trần ở Thượng Viện, ông thách thức Tiến sĩ Fauci khi nói rằng: “Chúng tôi có thể lắng nghe lời khuyên của ông, nhưng phía bên kia cũng có những người nói rằng sẽ không hề có sự gia tăng (số người bị nhiễm Covid-19) và như vậy chúng ta có thể mở cửa kinh tế một cách an toàn. Và các sự kiện sẽ chứng minh điều đó”.

Và đây là các sự kiện. Một quán rượu ở Tiểu bang Michigan đã được nhận diện là trung tâm điểm phát xuất của 110 ca nhiễm mới. Một phòng tập thể dục ở Tiểu bang West Virginia đã gây thêm 100 ca nhiễm mới. Trên 230 người đã nhiễm siêu vi khi tham dự một buổi thờ phượng tại Tiểu bang Oregon. Và đây chỉ là một vài thí dụ điển hình.

Nhưng một cuộc thăm dò được cho phổ biến hồi cuối tuần đã cho thấy sức mạnh của làn sóng phủ nhận đại dịch. Theo cuộc thăm dò, hiện có khoảng 40 phần trăm người Mỹ tin rằng tình trạng (đại dịch) đang được kiểm soát, rằng điều tệ hại nhất đã qua rồi, rằng đại dịch đã chấm dứt rồi.

Họ sai lầm. Covid-19 đang tăng tốc hành hoành trên khắp thế giới. Hoa Kỳ hiện đang là trọng tâm của đại dịch: tính từ lúc đại dịch bùng phát tới nay Hoa Kỳ đã có trên 2.7 triệu người bị nhiễm, trong số này có 130.000 người thiệt mạng. Nay, dịch bệnh đang bùng phát dữ dội trên cả nước. Chỉ mới hôm qua (mùng Hai tháng Bảy năm 2020) thôi, theo ghi nhận đã có thêm 44.000 người bị nhiễm.

Hệ thống y tế của Tiểu bang Arizona đã bó tay. Các bệnh viện của tiểu bang đang phải cho áp dụng các biện pháp “tuyển chọn”: chọn ai cần được chữa trị và ai phải bị loại bỏ. Tiểu bang Texas cũng đang cảnh cáo rằng các phòng cấp cứu trong các bệnh viện của tiểu bang hiện đang gần như đầy ứ vì mỗi ngày có đến 8000 ca mới. Tiểu bang California hiện đang ghi nhận mỗi ngày có thêm 5000 ca mới. Hôm qua thống đốc của tiểu bang đã ra lệnh đóng cửa các tiệm ăn, rạp chiếu bóng và các quán rượu.

Trong một tình trạng như thế, Thượng nghị sĩ Paul vẫn tỏ ra thù nghịch với lời khuyên của các chuyên gia, cho dẫu đó là một lời khuyên chính xác. Hôm qua, ông đã tuyên bố: “Cần phải biết rằng nếu xã hội chiều theo lời khuyên của một chuyên gia và nếu chuyên gia ấy sai lầm, thì nhiều thiệt hại có thể xảy ra. Chúng ta không nên giả định rằng một cách nào đó một nhóm chuyên gia biết điều gì là tốt nhất cho mọi người”.

 

Khiên thuẩn của sự thật

 

Các chuyên gia y tế thừa nhận rằng họ chưa biết chính xác siêu vi hoạt động như thế nào hay sức mạnh và những yếu nhược của nó như thế nào. Hiện vẫn chưa có thuốc chữa. Đây là lý do tại sao trước khi tìm ra được một thuốc chủng hữu hiệu, thế giới chỉ mới có 4 vũ khí để chống lại đại dịch. Dĩ nhiên nhờ các chuyên gia. Đã có bằng chứng cho thấy các biện pháp này hữu hiệu.

Trước tiên là việc xét nghiệm. Điều này có nghĩa là nhận diện được nguy cơ. Điều này cũng cho thấy siêu vi đã xâm nhập sâu xa vào một cộng đồng như thế nào. Nó cũng cho phép nhận diện được những cá nhân bị nhiễm nhưng không có triệu chứng và nhờ đó cách ly tức khắc cũng như chữa trị người mắc bệnh.

Biện pháp thứ hai là truy tìm tông tích của việc lây lan. Đây là một công việc khó khăn đòi hỏi nhiều thời gian. Nhưng nó cho phép giảm bớt tốn kém mà vẫn có được hiệu quả tốt. Những người bị nhiễm được phỏng vấn và điều tra. Từng bước di chuyển của họ khi họ có thể lây cho người khác được kiểm tra chặt chẽ. Biện pháp này dẫn đến những người, những nhóm và nơi chốn có tiếp xúc với người bị nhiễm. Việc xét nghiệm sau đó lại hướng đến việc lây lan của siêu vị.

Biện pháp thứ ba là cách ly. Đây là điều tự nhiên phải làm và tốn kém. Nhưng đây là khí cụ duy nhất hữu hiệu mà các cơ quan y tế đang có để chống lại sự bùng phát của Covid-19. Và nếu như một cộng đồng bị cách ly đủ lâu thì siêu vi sẽ bị tiêu diệt. Nó sẽ “chết đói” vì không có những người khách mới!

Biện pháp thứ tư là vệ sinh cá nhân. Một cái ho trong một câu lạc bộ, một quán rượu, một tiệm ăn, một tiệm cà phê hay một cửa tiệm cũng có thể lây cho cả một vùng chỉ trong vài giờ đồng hồ. Chỉ cần vô tình tiếp xúc với một mặt bằng bị nhiễm rồi sờ lên mặt mình cũng đủ để bị nhiễm. Đây là lý do tại sao rửa tay và đeo khẩu trang là biện pháp phòng thủ cuối cùng.

Nếu cả bốn biện pháp trên đây không được áp dụng một cách đúng đắn, việc phòng chống dịch bệnh sẽ thất bại. Và đây là chính kinh nghiệm của Hoa Kỳ sau khi các chính trị gia và các nhà lãnh đạo doanh nghiệp xem thường lời khuyên của các chuyên gia y tế. Và điều này sẽ có những hậu quả nghiêm trọng trong tương lai.

Giáo sư Nichols viết: “Bao lâu sự tin tưởng và tương kính không được tái lập thì công luận sẽ bị tiêm nhiễm bởi niềm tin mù quáng đối với những ý kiến không có nền tảng. Và trong một bầu khí như thế thì bất cứ điều gì và mọi thứ cũng đều có thể xảy ra, kể cả cái chết của nền dân chủ”

                                                                         Chu Văn chuyển ngữ

Nguyên tác: Jamie Seidel, Ignorance is why US faces 100.000 new infections every day (ngu dốt là nguyên do khiến Hoa Kỳ phải đối mặt với 100.000 ca nhiễm Covid-19 mỗi ngày) trong https://www.nzherald.co.nz/world/news/article.cfm?c_id=2&objectid=12345126

Jamie Seidel là một ký giả tự do chuyên viết bình luận cho News Corporations, Australia.

 

 

 

 

 

 


Thứ Hai, 22 tháng 6, 2020

Hoa Kỳ nạp đạn cho Trung Cộng đàn áp Hong Kong


Kathryn Diss

Chu văn chuyển ngữ

Những cuộc biểu tình rầm rộ  và những hành động cuồng nộ đầy bạo động trên khắp nước Mỹ trông giống hệt như những cảnh nổi bật kéo dài hàng tháng ở Hong Kong.

Những biểu tượng của chính phủ, như các trụ sở cảnh sát và tòa nhà chính phủ, đã bị giật sập và đốt cháy.

Tuy nhiên, mặc dù trong căn bản cội rễ của sự phẫn nộ tại Hoa Kỳ  khác với nguyên nhân (dẫn đến những cuộc biểu tình) của người dân Hong Kong, động lực thúc đẩy phong trào (ở Hoa Kỳ và Hong Kong) lại giống nhau: đòi hỏi công lý cho mọi người!

Các nhà lãnh đạo trên thế giới, kể cả Hoa Kỳ, đã không ngừng lên án những hành động tàn bạo của cảnh sát Hong Kong đối với những người biểu tình đòi dân chủ.

Trong nhiều tháng hồi năm trước, hàng triệu người đã lo lắng theo dõi, họ dự báo rằng Bắc Kinh sẽ đưa Quân đội Giải phóng Nhân dân đến đàn áp các cuộc biểu tình theo kiểu tàn sát tại Thiên An Môn (dạo tháng Sáu năm 1989).

Điều đó đã không hề xảy ra.

Năm ngoái, tôi đã có mặt trong giới truyền thông để theo dõi trong lo sợ khi cuộc biểu tình ôn hòa đầu tiên bên ngoài trụ sở của hội đồng lập pháp Hong Kong bị nhận chìm trong hơi cay.

Những cuộc biểu tình đã trở nên ngày càng bạo động và hủy hoại trong hàng tháng trời sau khi thế hệ trẻ nhận thấy không còn có cách nào để giữ lại thành phố của họ. Chính vì vậy mà họ tìm cách phá hủy các cơ sở kinh doanh đã từng mang lại quá nhiều thịnh vượng cho Trung Cộng.

Mặc dù người Mỹ gốc Phi Châu đã từng là đối tượng của sự tàn bạo của cảnh sát tại Hoa Kỳ, nhiều người Mỹ và khắp nơi trên thế giới đều không chờ đợi để thấy một sự đáp trả mạnh tay như thế trong vùng đất của tự do.

Tại Hoa Kỳ,  quyền phản đối của người công dân được bảo vệ theo tu chính án thứ nhất của Hiến Pháp. Tuy nhiên, các cuộc biểu tình, mặc dù bùng phát do chính sự tàn bạo của cảnh sát, trong nhiều trường hợp đã bị đáp trả với nhiều bạo lực hơn.

 

Lãnh đạo quốc gia cần phải xoa dịu các mối căng thẳng

 

Tôi đến Hong Kong lần thứ ba khi cảnh sát bắn loạt đạn đầu tiên vào một người biểu tình. Điều này chỉ xảy ra sau năm tháng bất ổn.

Trong hai tuần lễ liền, đã có ít nhất 11 người bị giết chết trong những cuộc biểu tình trên khắp nước Mỹ. Và đã có ít nhất 10.000 người bị bắt giữ, hơn tổng số những người bị giam giữ trong những cuộc biểu tình hồi năm ngoái tại Hong Kong.

Có lẽ thật là ngây ngô để nghĩ rằng sự việc rồi ra sẽ bị lên án nặng nề trong một quốc gia mà việc sở hữu súng đạn là chuyện thường tình và được đánh giá cao cùng với việc cảnh sát có vũ trang, vốn được bảo vệ một cách chặt chẽ bởi các nghiệp đoàn, sử dụng bạo lực.

Để xoa dịu các mối căng thẳng, cấp lãnh đạo quốc gia cần phải hiểu được thế nào là nỗi lo âu, bày tỏ thiện cảm và nhìn nhận sự kỳ thị chủng tộc có hệ thống vốn đang ám ảnh các cơ quan công lực thi hành luật pháp.

Thay vào đó, Tổng thống Donald Trump lại dán lên những người biểu tình cái mũ “côn đồ” và đã cảnh cáo trong một “tuýt” rằng “khi có cướp của thì sẽ có súng nổ”.

Vào giữa lúc hỗn loạn đang tràn lan và các thành phố bị đốt phá không chỉ vì cái chết của ông George Floyd tại Minneapolis, mà còn vì tình trạng bất bình đẳng chủng tộc đã kéo dài hàng trăm năm, Tổng thống Trump lại tước đoạt khỏi Hong Kong những đặc ân về thương mại.

Ông tuyên bố rằng Hong Kong “không còn tự trị đủ” khỏi Trung Hoa Lục Địa và gọi những luật an ninh mới do Bắc Kinh áp đặt là một “thảm kịch” cho các quyền tự do của Hong Kong.

Vậy mà chỉ vài ngày sau đó, ông lại đe dọa đưa quân đội đến đàn áp chính người dân của mình để chấm dứt các cuộc biểu tình trên đất nước của mình.

Trong một bài diễn văn truyền hình cho toàn quốc, Tổng thống Trump tuyên bố ông là tổng thống của “luật pháp và trật tự” và cảnh cáo các thống đốc tiểu bang phải “khống chế trên các đường phố”, bằng không ông sẽ đưa quân đội đến “để nhanh chóng giải quyết vấn đề cho họ”.

Thế rồi, trong một khoảnh khắc được tính toán để biểu dương sức mạnh và quyền lực, ông rời nơi trú ẩn an toàn của Tòa Bạch Ôc để đến chụp một bức ảnh bên ngoài Nhà thờ St John, với quyển Kinh Thánh cầm trên tay.

Với sự canh phòng của ông, thủ đô Hoa Kỳ, vốn được rất nhiều người trên khắp thế giới xem như một biểu tượng của thế giới tự do, nay đã biến thành một pháo đài được trang bị tận răng.

Cung cách các lực lượng cảnh sát thi hành nghĩa vụ của họ để bảo vệ luật pháp và trật tự trong những ngày trước và sau đó đã gợi lên những suy nghĩ tương tự.

Dường như không màng đến những thước phim về những hành động của họ được điện thoại di động ghi lại và tin tưởng rằng luật pháp sẽ bảo vệ họ cho nên cảnh sát thường xuyên sử dụng dùi cui, lựu đạn cay và đạn mã tử đối với những người biểu tình.

Tại Atlanta, Tiểu bang Georgia, sáu cảnh sát viên đã bị buộc tội sau khi cảnh sát đã lôi 2 người ra khỏi xe của họ, ném họ xuống đất và dùng súng điện bắn vào người họ.

Tại Buffalo, Tiểu bang New York, một cụ già 75 tuổi bị nứt sọ vì bị cảnh sát xô ngã xuống đất. Sau đó, Tổng thống Trump tuyên bố rằng cụ già này có dính líu đến tổ chức tả khuynh Antifa (phong trào chống Phát Xít) và sự té ngã của ông là một sự “dàn dựng”.

 

Cách đối phó của Hoa Kỳ phản ảnh thái độ của Bắc Kinh đối với Hong Kong

 

Các phát ngôn viên của chính phủ Trung Cộng và các cơ quan truyền thông quốc doanh đã tung ra những cuộc tấn công chống lại chính phủ Mỹ. Họ cho phát tán những đoạn phim cho thấy cảnh sát Hong Kong đã biết “tự chế” nếu so sánh với các hành động đã được nhìn thấy tại Hoa Kỳ. Những thước phim có chú thích “Cảnh sát Hong Kong đã tự chế như thế nào!” đã được truyền đi trên trang mạng Weibo, một trang mạng giống như Twitter.

Khi một số cuộc biểu tình tại Mỹ trở nên bạo động, phát ngôn viên  bộ ngoại giao Trung Cộng, bà Hoa Xuân Ánh, đã tấn công Washington. Trên trang mạng Twitter, bà Ánh viết: “Tôi không thở được”, để đối lại một “tuýt” của phát ngôn viên bộ Ngoại giao Mỹ, ông Morgan Ortagus, khi ông này phê bình chính phủ Trung Cộng về chính sách của họ đối với Hong Kong.

Truyền thông cũng trở thành đối tượng của sự xách nhiễu của cảnh sát. Mặc dù việc sử dụng bạo lực và bạo động gia tăng ở Hong Kong, các cơ quan truyền thông của Tây Phương vẫn được tự do đi lại và thu thập hình ảnh của hiện trường đang diễn ra trước mắt chúng tôi, kể cả những hành động tàn bạo của cảnh sát. Trong nhiều dịp, chúng tôi đã được những người biểu tình hoan nghênh và bảo vệ. Họ cám ơn chúng tôi vì nói cho thế giới biết chuyện của họ. Đây là thứ tự do mà tôi cũng đã trông đợi sẽ có ở Hoa Kỳ. Cố vấn an ninh quốc gia Robert O’Brien nói rằng “có sự khác biệt giữa đất nước chúng ta và nhiều nước độc tài khác, bởi vì khi một điều như thế xảy ra, chúng tôi sẽ cho điều tra”. Ông còn nói thêm: “Người dân của chúng ta phản đối. Họ đòi hỏi chính phủ của họ phải cải thiện. Và chúng tôi đứng về phía những người phản đối”. Nhưng cũng trong cùng buổi nói chuyện, ông O’Brien lại tố cáo những phần tử cực đoan và đổ lỗi cho những kẻ gây rối từ bên ngoài đang khích động sự rối loạn trong những cuộc biểu tình.

Đây cũng chính là bài bản mà Bắc Kinh đã từng sử dụng để giải thích về tình trạng bất ổn tại Hong Kong. Trong nhiều tháng, báo chí Tây Phương, cũng như các viên chức của chính phủ Mỹ, đã xem  hành động mạnh tay của các lực lượng an ninh tại Hong kong như là một trong những yếu tố dẫn đến những cuộc biểu tình. Tuy nhiên, khi những cảnh người biểu tình và các ký giả bị cảnh sát hành hung tràn ngập các trang mạng xã hội, thì chính phủ và những người ủng hộ Tổng thống Trump lại không nhìn những sự kiện này bằng cùng một cái nhìn như thế.

Nhiều cựu tướng lãnh và nhân vật cấp cao trong quân đội đã công khai lên án việc tổng thống Trump đe dọa sử dụng quân đội. Mặc dù có vô số bằng chứng cho thấy cảnh sát sử dụng bạo lực, trong 2 tuần lễ qua vẫn có nhiều khoảnh khắc cho thấy các nhân viên công lực đứng về phía những người biểu tình: họ quỳ gối và khoác tay cùng tiến bước với những người biểu tình.

 

Thật quá lắm rồi!

 

Sự sôi sục và phẫn nộ bùng phát khi phong trào này mới khai sinh đã tan biến dần khiến cho nhiều người tự hỏi liệu nó có còn đủ sự hăng say và sức mạnh để tiếp tục không.

Ông Floyd không phải là người da đen đầu tiên chết dưới tay cảnh sát, nhưng lần này xem ra khác. Một người thuộc phong trào Tranh đấu cho Tự Do có mặt trong cuộc biểu tình tại thủ đô Washington nói: “Xem một người đang chết trên truyền hình toàn quốc và theo dõi tất cả 8 phút 46 giây quả là một điều khủng khiếp. Điều này không thể xảy ra nữa”.

Sự ủng hộ ngày càng vững chắc, lan rộng và đa diện. Những cuộc biểu tình đã diễn ra trên toàn nước Mỹ, trong tất cả 50 tiểu bang và tại Thủ đô Washington, qui tụ nhiều người thuộc mọi tuổi tác, màu da và giai cấp. Một người biểu tình tên là Zeus nói: “Chúng tôi chỉ xin chính phủ đối xử với chúng tôi như những con người. Đây không phải là điều chúng tôi muốn thấy xảy ra cho thế hệ tương lai của chúng tôi.”

Một cuộc nghiên cứu mới nhất cho thấy mức ủng hộ của người Mỹ dành cho phong trào “Black Lives Matter” đã lên đến 53 phần trăm, tức tăng 11 phần trăm kể từ khi Ahmaud Arbery bị giết chết hồi tháng Hai vừa qua.

Lần nay, các chính quyền địa phương và các thành phố xem ra cũng sẵn sàng hơn để tỏ rõ lập trường. Họ ủng hộ những lời kêu gọi hãy giải tán cảnh sát hay cắt giảm việc tài trợ cho cảnh sát để dành cho những chương trình đối phó với những bất bình đẳng chủng tộc.

Những phong trào bắt nguồn từ quần chúng do giới trẻ và những người thuộc thế hệ Z khởi xướng đang lên tiếng nói “thôi đã quá đủ rồi” và kêu gọi thay đổi.

Năng lực và sự kiên trì của những người biểu tình ở Hong Kong phần lớn xuất phát từ giới trẻ. Họ biết rằng lãnh thổ của họ sẽ bị Trung Cộng cai trị xuyên suốt cuộc sống của họ. Họ không có gì để mất. Theo đúng nghĩa, họ chiến đấu cho chính tương lai của họ.

Cái chết của ông Floyd đã trở thành một giây phút lịch sử phơi bày những bất bình đẳng thâm căn cố đế mà đại dịch Covid-19 là một điển hình.

Cũng rất giống với người dân Hong Kong, ở đây (Hoa Kỳ) thế hệ tương lai cũng đang kêu gào phải chấm dứt ngay (những bất bình đẳng).

Trách nhiệm của phong trào này là bảo đảm rằng ông Floyd đã không chết đi một cách vô ích, mà trở thành xúc tác cho một sự thay đổi thật sự.

 

Nguyên tác: Kathryn Diss, Donald Trump accused China of “Smothering” Hong Kong. Then he threatened US protesters with military action (Donald Trump tố cáo Trung Cộng “siết cổ” Hong Kong. Thế rồi ông lại đe dọa sử dụng quân đội chống lại những người biểu tình ở Mỹ)

Kathryn Diss là thông tín viên của Đài ABC Úc Đại Lợi tại Bắc Mỹ

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Triết lý tri kỷ


Chu Văn

Gần đây không hiểu sao tôi lại cảm thấy sợ người đồng hương. Sống xa cộng đồng người Việt, tôi cũng thèm gặp gỡ bạn bè và người thân. Gặp nhau để thăm hỏi, hàn huyên, chia sẻ, nhưng thế sự nóng bỏng lúc nào cũng dẫn đến hai đề tài “nhạy cảm” là đại dịch Covid-19 và nạn kỳ thị chủng tộc. “Nhạy cảm” là bởi vì thế nào cũng chạm đến nhà lãnh đạo quyền thế và nổi tiếng nhứt thế giới hiện nay là Tổng thống Mỹ Donald Trump. Cứ đụng đến ông là người đồng hương của tôi gân cổ cãi cho đến cùng. Theo cuộc thăm dò bỏ túi của tôi, cứ 10 người Việt tỵ nạn ở Úc mà tôi có dịp trao đổi, thì có đến 8, 9  người ủng hộ Tổng thống Trump hết mình. Luận cứ chung mà người đồng hương của tôi đưa ra để bênh vực, bảo vệ và ngay cả sống chết cho Tổng thống Trump là: ông là nhà lãnh đạo duy nhứt trên thế giới dám “đánh” Trung Cộng và chỉ có một mình ông mới có thể đánh gục Trung Cộng và như vậy chế độ cộng sản ở Việt Nam mới sụp đổ. Thòng theo luận cứ ấy là một bản án rất rạch ròi: đã chống cộng mà chống Trump thì chỉ có việt cộng nằm vùng!

Về phần những người đồng đạo công giáo của tôi, lời biện hộ dành cho Tổng thống Trump  thường xoay quanh tam đoạn luận: phá thai và đồng tính luyến ái là tội ác, tổng thống Trump chống lại hai tội ác này, vậy phải ủng hộ ông. Trong cuộc tranh luận, thỉnh thoảng tôi có trích dẫn nhận định của Đức Đạt Lai Lạt Ma là người đã khẳng định rằng Tổng thống Trump là người “không có một nguyên tắc đạo đức nào cả”. Tôi cũng không quên lập lại lời của Đức Giáo Hoàng Phan Xi Cô khi ngài nói về chủ trương xây tường biên giới của Tổng thống Trump: “Một người chỉ nghĩ đến việc xây tường, dù ở bất cứ nơi nào, chớ không phải xây cầu, không phải là tín hữu Kitô” (1). Những lời như thế của các nhà lãnh đạo tinh thần xem ra chẳng có giá trị nào đối với nhiều người đồng đạo công giáo của tôi ở Úc. Sự ủng hộ cuồng nhiệt của họ dành cho tổng thống thứ 45 của Mỹ được xây dựng trên một niềm tin không thể lay chuyển là: ông là người được Thiên Chúa tuyển chọn và sai đến cho nên dù ông có vô đạo đến đâu vẫn được Ngài che chở, phù hộ!

Xa lắc xa lơ tận “Miệt Dưới” mà người đồng hương của tôi còn say mê tổng thống Trump như thế thì huống gì ngay trên đất Mỹ. Theo dõi phản ứng của nhiều người Việt ở Mỹ mỗi khi có một tin bất lợi cho Tổng thống Trump, tôi thấy khiếp quá! Trên một số báo mạng Việt ngữ như CaliToday và Người Việt...những người ủng hộ ông buông ra những lời bình luận mà tôi không dám đọc chớ đừng nói tới chuyện chép lại nguyên văn ở đây. Chưa bao giờ ngôn ngữ Việt Nam lại rơi vào tình trạng hạ cấp, đê tiện và bẩn thỉu đến thế!

Suy nghĩ về hiện tượng đa số người Việt tỵ nạn ủng hộ Tổng thống Trump đến mức cuồng nhiệt như thế tôi thường liên tưởng đến câu châm ngôn tiếng Pháp học được thời Trung Học: “Hãy nói cho tôi biết bạn thường chơi với ai, tôi sẽ nói cho bạn biết bạn là ai” (Dis-moi qui tu hantes, je te dirai qui tu es). Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã. Ai mà chả muốn làm bạn với những người có cùng  suy nghĩ, quan điểm, niềm tin, sở thích...giống mình. Châm ngôn này lại càng có giá trị hơn trong quan hệ vợ chồng. Vợ chồng là bạn đời của nhau. Không phải chỉ có hợp nhãn mà còn phải hợp nhau trong rất nhiều phương diện mới có thể ăn đời ở kiếp với nhau. Cho tới nay tôi vẫn cứ thắc mắc không hiểu sao cặp vợ chồng Mỹ Conway vẫn còn có thể sống với nhau. Là cố vấn của Tổng thống Trump, bà vợ Kellyanne Conway bênh vực ông chủ của mình cho tới cùng, ngay cả sẵn sàng bóp méo sự thật, trong khi đó ông chồng George Conway thì lại là người kịch liệt công kích Tổng thống Trump. Tôi vẫn không hiểu họ chia sẻ cho nhau điều gì trên bàn ăn, trong phòng ngủ và nhứt là dạy dỗ con cái họ như thế nào.

“Hãy nói cho tôi biết bạn thường chơi với ai, tôi sẽ nói cho bạn biết bạn là ai”. Châm ngôn này cũng đúng trong việc chọn mặt gởi vàng. Tôi ủng hộ một nhà lãnh đạo vì tôi nhìn thấy trong ông hay bà những giá trị mà tôi trân quý. Tôi chạy theo một nhà lãnh đạo vì nơi ông hay bà tôi thấy phản ảnh những điều tôi đang ôm ấp trong lòng mà không dám nói ra hay không làm được. Tôi thích giải quyết vấn đề bằng bạo lực cho nên tôi chọn những nhà lãnh đạo có chủ trương cai trị bằng bàn tay sắt. Tôi có óc kỳ thị đối với một số cộng đồng thiểu số cho nên tôi bỏ phiếu cho nhà lãnh đạo nào có chủ trương như tôi...Hay biết đâu vì sống theo nguyên tắc “cứu cánh biện minh cho phương tiện” cho nên tôi cũng sống chết cho nhà lãnh đạo nào biết gian dối, lưu manh, miễn là đạt được mục đích mà tôi cũng đang hướng tới. 

Với tôi, nhà lãnh đạo nào, nhứt là lãnh đạo quốc gia, cũng phải là một tấm gương cho tôi noi theo, bởi lẽ nhà lãnh đạo được coi là người đại diện cho những giá trị cao quý nhứt của một quốc gia. Là tấm gương để tôi noi theo, nhà lãnh đạo cũng là “tấm gương” để tôi soi mình. Xét cho cùng, trong một nhà lãnh đạo mà tôi ủng hộ và nhứt là tôn thờ, tôi cũng nhận ra chính mình. Tôi ủng hộ nhà lãnh đạo nào thì tôi là người như thế hay muốn được như thế. Hitler không phải tự nhiên trở thành một nhà độc tài khát máu. Ông cũng chẳng có ba đầu sáu tay để có thể tàn sát 6 triệu người Do Thái. Ông đã được người dân Đức bỏ phiếu bầu lên. Chủ trương thù hận đối với người Do Thái của ông đã âm ỉ ngay trong lòng nhiều người dân Đức. Nhiều người Đức đã nhận diện được chính mình trong con người của Hitler. Họ “biết mình” xuyên qua tấm gương soi là Hitler.

Tôi thường đo lường chiều sâu của tình bạn qua hai chữ “tri kỷ”. Trong cuộc sống, chẳng có gì quý giá bằng có được một người bạn tâm giao “biết mình”, hiểu mình. Dĩ nhiên, cần được người khác “biết mình” là một nhu cầu quan trọng. Nhưng tự mình “tri kỷ”, tự mình biết mình có lẽ còn quan trọng hơn. Và nhà lãnh đạo nào, dù là chính trị hay tinh thần, cũng đều là tấm gương soi để tôi nhận ra chính mình.

Tôi vẫn nhớ mãi lần đi thăm một người bạn thời tỵ nạn hiện đang sống ở Mỹ. Với bằng cấp và công việc ông đang làm, tôi xếp ông vào hạng trí thức trong xã hội. Ông có một cô con gái rượu vừa mới tốt nghiệp đại học. Bầu khí gia đình, nhứt là trên bàn ăn, lúc nào cũng nóng lên vì cuộc tranh luận chính trị: bạn tôi ủng hộ Tổng thống Trump hết mình, nhưng cô con gái thì lại chê bai ông Trump thậm tệ. Lẽ ra tôi nên đứng ở thế trung lập để làm trọng tài, nhưng không hiểu sao một hôm tôi lại đứng về phía cô con gái và đưa ra một số nhận định về tư cách của Tổng thống Trump. Thế là ông bạn tôi lại cho nổ tung một trái bom tấn: “Bộ anh tưởng người Mỹ chúng tôi “ngu” cả sao khi ủng hộ Tổng thống Trump”. Tôi chỉ biết đáp trả bằng sự thinh lặng, để mặc cho hai cha con họ tiếp tục cuộc đấu khẩu. Tự nhiên tôi lại nghe văng vẳng bên tai câu nói của cụ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu: “Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn, cho nên quân nó dễ làm quan”.

Trong các thứ hiểu biết, biết mình là thứ biết quan trọng nhứt và trong các thứ ngu, có lẽ ngu nhứt là không biết mình ngu hay ảo tưởng về mình. Câu chuyện “Triết lý Tri kỷ” của thi hào Mỹ gốc Liban Kahlil Gibran (1883-1931) gợi lên cho tôi ý nghĩ ấy. Sau khi đọc bài đối thoại về thuyết “tri kỷ” của nhà hiền triết Hy Lạp Socrates, một thanh niên nọ mới thấy cần phải đi sâu vào tận đáy lòng để biết mình. Đứng trước tấm gương, anh nhìn thẳng vào con người xấu xí của mình, suy nghĩ về hình thù cái đầu, khuôn mặt và tứ chi của thân thể anh. Điều lạ lùng là bất kỳ nét xấu xí nào trong người của anh cũng đều có sự tương đồng nơi các bậc vĩ nhân trong nhân loại. Người anh lùn, nhiều bậc vĩ nhân cũng lùn. Trán anh thấp, nhiều bậc vĩ nhân cũng có trán thấp. Mũi anh dài và gãy, nhiều bậc vĩ nhân cũng có cái mũi như thế. Mắt anh sâu,  nhiều bậc vĩ nhân cũng có mắt sâu vậy. Môi anh dày có khác chi nhiều bậc vĩ nhân. Hai cái tai dài của anh, tuy trông hợp với đầu của một con thú, lại cũng giống như tai của biết bao nhiêu bậc vĩ nhân. Má anh lõm ư? Nhiều bậc vĩ nhân cũng thế thôi. Cằm anh lẹm thì đã sao? Nhiều bậc vĩ nhân cũng thế thôi.

Đó là xét về thể lý. Còn nói về một số thói quen, người thanh niên tự nhận xét: đôi khi anh để bốn năm ngày không rửa tay chân mặt mày. Anh bảo có khác gì Beethoven đâu. Anh cũng thích nghe lỏm chuyện ngồi lê đôi mách của các bà các cô. Mà đã sao? Một số bậc vĩ nhân cũng thế thôi. Nói gì đến tật tham ăn, anh đâu có thua gì nhiều bậc vĩ nhân!

Suy nghĩ một lúc, người thanh niên “đưa những đầu ngón tay nhơ bẩn sờ lên trán rồi tiếp tục nói: “Đây chính là ta. Đây là con người thật của ta! Ta có tất cả những đức tính của các bậc vĩ nhân từ đầu lịch sử tới bây giờ. Một thanh niên như ta có những đức tính ấy, cốt để hoàn thành những công việc lớn”.

Thi sĩ Kahlil Gibran kết thúc bài thơ ngụ ngôn như sau: “Sau đó, hắn để nguyên bộ đồ hôi hám ngả lưng trên mặt giường nhơ bẩn rồi ngủ thiếp đi ngay, tiếng ngáy vang động khắp bầu trời mưa”(2).

Tôi không biết tổng thống thứ 45 của Mỹ có biết bài thơ này không. Nhưng xem chừng nơi người thanh niên trong bài thơ tôi lại thấy phảng phất vài nét nơi tổng thống Trump khi ông tuyên bố mình là một “thiên tài ổn định”, là người thông minh nhứt, là người cái gì cũng nhứt hết...Nhìn qua tấm gương lãnh tụ này, biết đâu những người ủng hộ và sùng bái ông lại chẳng nhận ra bản thân họ.

Người thanh niên trong bài thơ của thi sĩ Kahlil Gibran khi đọc thuyết tri kỷ của Socrates có lẽ quên mất rằng chính nhà hiền triết này cũng đã từng nói: “Tôi biết rằng tôi chẳng biết gì”. Phải chăng ông chẳng muốn nói rằng cái biết thực sự là biết mình ngu.

Sống suýt soát cùng một thời kỳ với Socrates, một nhà hiền triết của Á Châu là Lão Tử dường như cũng muốn dạy cùng một điều khi ông nói: “Quân tử thịnh đức dung mạo như ngu”: bậc quân tử có đức hạnh thường khiêm cung như kẻ ngu đần.

 

Chu Văn, 22/6/20

 

 

1.https://edition.cnn.com/2016/02/18/politics/pope-francis-trump-christian-wall/index.html

2.https://www.wattpad.com/527995933-l%E1%BB%9Di-thi%C3%AAng-kahlii-gibran-tri%E1%BA%BFt-l%C3%BD-tri-k%E1%BB%B7


Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2020

Khi báo chí là kẻ thù của nhân dân...


Ruth Ben-Ghiat

Chu Văn chuyển ngữ

“Ông là người tối cần thiết cho ai?” Ngày mùng Hai tháng Sáu 2020 vừa qua, một viên cảnh sát ở New York đã hét lên như thế vào mặt ông Robert Bumsted, một chuyên viên thâu hình có mang thẻ hành nghề của hãng thông tấn  AP và nhiếp ảnh viên Maye-E Wong cũng thuộc hãng AP. Cả hai đều đang tìm cách tường thuật về một cuộc biểu tình. Được yêu cầu phải rời bỏ hiện trường, hai nhà báo này đã nhấn mạnh rằng ký giả được xem là “những nhân viên tối cần thiết” cho nên không thể bị cưỡng bách phải rời bỏ hiện trường.

Một phần của cuộc đối đầu trên đây đã được ghi lại và Phân bộ Cảnh sát ở New York cho biết sẽ xem xét sự việc “càng sớm càng tốt”. Bà Lauren Easton, phát ngôn viên của hãng thông tấn AP đã trả lời cho câu hỏi của viên cảnh sát trên đây như sau: “Vai trò của các ký giả là nhân danh công chúng để tường thuật tin tức”.

Hiện nay tại Hoa Kỳ, vai trò đó xem ra khiến bạn bị đe dọa. Hai tuần lễ vừa qua đã được đánh dấu không chỉ bằng làn sóng biểu tình phản đối sự tàn bạo của cảnh sát và kỳ thị chủng tộc trong xã hội Mỹ tiếp theo việc ông Geoge Floyd bị sát hại một cách khủng khiếp, mà còn bởi một sự thù nghịch chưa từng có đối với báo chí. Tổ chức US Press Freedom Tracker (được điều hành bởi Sáng Hội Tự Do Báo Chí, với sự cố vấn của Ủy Ban Bảo Vệ Các Ký Giả, Viện Knight First Amendment Institute của trường Đại học Colombia, Tổ chức Ký Giả Không Biên Giới và nhiều tổ chức khác) đã ghi nhận trên 380 vụ kể từ ngày 26 tháng Năm 2020 vừa qua; ít nhất có 56 vụ bắt giữ, 78 vụ tấn công thể lý (trong số này 50 vụ do cảnh sát chủ động), 49 vụ xịt hơi cay và 89 ký giả bị thương vì đạn cao su. Những người biểu tình cũng tấn công các ký giả: một phóng viên của Đài Fox News đã bị tấn công và đuổi khỏi một cuộc biểu tình bên ngoài Tòa Bạch Ốc, nhưng cảnh sát vẫn là tác nhân chính của những vụ tấn công.

Đối với một số ký giả, phản ứng này là một lời cảnh cáo. Nhiếp ảnh viên Carolyn Cole của báo Los Angeles Times là người từng công tác tại những vùng có xung đột trên thế giới, nhưng giác mô của cô lại bị hư hại tại Minneapolis khi cảnh sát xịt hơi cay vào mắt trái của cô trong lúc cô đang làm phóng sự về một cuộc biểu tình tại đây. (Sau vụ này, cảnh sát trưởng Minneapolis, bà Medaria Arrandondo đã xin lỗi các ký giả). Lên tiếng thay cho nhiều người, nhiếp ảnh viên Cole nói: “Tôi đã không ngờ họ trực tiếp tấn công chúng tôi”.

Chẳng có gì phải ngạc nhiên cả: xếp các ký giả vào một “nhóm” trong số những kẻ thù công cộng là một hiện tượng điển hình của các xã hội độc tài hơn là các nền dân chủ. Là một hệ thống chính trị, các chế độ độc tài nhắm tiêu diệt các chuẩn mục dân chủ là sự minh bạch và trách nhiệm cũng như dẹp bỏ hay lèo lái nguồn thông tin nào không ủng hộ cái nhìn về thực tế chỉ phục vụ riêng cho cá nhân nhà lãnh đạo. Tự báo chí luôn luôn là nạn nhân hàng đầu.

Báo chí độc lập không phải là một khái niệm mà các chế độ độc tài nhìn nhận. Như tại Thổ Nhĩ Kỳ của Tổng thống Recep Tayyip Erdogan chẳng hạn, hoặc là bạn đứng về phía nhà lãnh đạo để ca ngợi ông, hoặc là bạn bị xem như một kẻ thù chính trị bị tố cáo tổ chức những “cuộc săn lùng phù thủy” nhắm vào ông. Hàng trăm ký giả Thổ Nhĩ Kỳ đã bị bắt giữ trong cuộc đàn áp tiếp theo vụ đảo chính dạo tháng Bảy năm 2016 chống lại Tổng thống Erdogan. Theo Trung tâm Stockholm Center for Freedom, tính đến ngày 8 tháng Năm năm 2020, hiện vẫn còn 88 ký giả đang bị giam tù, 77 người khác đang chờ đợi bị xét xử và 167 người khác đang phải trốn tránh hoặc lưu vong: họ bị buộc phải trốn khỏi quê hương như những tội phạm dưới mắt ông Erdogan.

Tổng thống Trump đã công khai ca ngợi ông Erdogan và các nhà chuyên chế khác. Và chúng ta biết rằng ông luôn có ý định giam tù những ký giả nào mà ông cho là chỉ trích ông. Năm 2017, tân tổng thống Mỹ đã từng  hỏi giám đốc của Cơ quan Tình báo Liên bang FBI lúc bấy giờ là ông James Comey rằng liệu điều đó (tức bỏ tù ký giả) có thể làm được không. Cai trị trong một nền dân chủ còn đang hoạt động, Tổng thống Trump không kiểm soát được báo chí quốc gia như các đồng nhiệm độc tài của ông. Chính vì vậy mà trong nhiều năm qua ông đã khích động dân chúng thù ghét các ký giả. Ông biến sự thù hận này thành nét nổi bật của nhiệm kỳ tổng thống của ông. Chúng ta thường nghe nói rằng Trump là một người bất tài và lười biếng, nhưng ông đã không hề như thế trong vấn đề này. Ông đã kiên trì và nhất quán trong việc biến các ký giả theo cái nhìn của ông.

Dĩ nhiên, sự thù nghịch đối với truyền thông không phải là một điều mới mẻ. Truyền thông hữu khuynh đã từng tố cáo các cơ quan truyền thông dòng chính, ngoại trừ Fox News, là thiên vị và đáng bị nguyền rủa. Tuy nhiên, phần lớn người Mỹ đã không bày tỏ sự hung hãn mà nhiều người đang có đối với những nhóm khác bị ông Trump chĩa mũi dùi vào như người Hồi giáo, di dân và dân da màu. Tổng thống Trump đã gia tăng tấn công để biến các ký giả thành đối tượng của thù ghét. Triệt hạ báo chí là một phần chính trong các cuộc vận động của ông khi bắt đầu ra tranh cử. Miệt thị và chế nhạo các phóng viên có tên tuổi đã trở thành cung cách bình thường của ông đối với những người ủng hộ ông trước và sau cuộc bầu cử. Không khó mấy để nhận ra những người đã mang những chiếc áo thun kêu gọi đấu tố báo chí. Không mấy chốc xem truyền thông như đáng bị trừng phạt đã trở thành một phần trong cái nhìn về thế giới của những người ủng hộ ông Trump.

Khi các cuộc biểu tình bắt đầu và những cuộc tấn công nhắm vào báo chí cũng bắt đầu, Tổng thống Trump gia tăng cường độ cuộc chiến bôi nhọ báo chí. Trong một “tuýt” bắn ra hôm 31 tháng Năm vừa qua, ông đổ lỗi cho các ký giả vì sự bất ổn xã hội, đồng hóa họ với những người tranh đấu trong phong trào chống phát xít Antifa mà ông chụp lên cái mũ khủng bố. Tổng thống Trump viết: “Truyền thông què quặt đang làm bất cứ điều gì trong khả năng của họ để gieo rắc hận thù và tình trạng hỗn loạn”. Ông gọi các ký giả “là những người thật sự xấu xa với một chương trình hành động bệnh hoạn”. Những lời như thế thật khó mà khuyến khích hạ giảm bạo động đối với truyền thông.

Liệu điều này có liên hệ đến việc các cảnh sát viên hành hung các ký giả trên đường phố không?  Một bản tường trình của Cơ quan Điều tra Liên bang hồi năm 2015 đã cho thấy cảnh sát trên toàn quốc đã có mặt trong bầu khí cực đoan ấy. Bản tường trình đã thu thập tài liệu về những “mối liên hệ tích cực” giữa các nhân viên thi hành công lực trước kia và hiện nay với những thành phần da trắng thượng đẳng và các lực lượng chống dân chủ khác vốn xem bạo động như một phương tiện để thay đổi chính trị và đối phó với những người bị xem là kẻ thù.

Chúng ta biết rằng Tổng thống Trump đã khích động chủ nghĩa cựu đoan và cực hữu đủ loại ngay từ năm 2015, khi ông “tuýt” lại phim ảnh của những người Tân Đức Quốc Xã, ủng hộ các nhóm dân quân có vũ trang tấn công vào các thủ phủ tiểu bang và thuê những thành phần cực đoan như cố vấn đặc trách di dân Stephen Miller để quảng bá việc ông ủng hộ những ai chạy theo các ý thức hệ kỳ thị chủng tộc và thượng tôn da trắng.

Chúng ta không thể nào xem thường sức mạnh mà Tổng thống Hoa Kỳ cảm nhận được từ việc cảm thấy mình là người chính danh. Trong trường hợp này, sức mạnh ấy châm ngòi cho việc sử dụng bạo lực nhắm vào các ký giả là những người bị chối bỏ quyền được làm công việc của mình mà không sợ bị hành hung.

Điều chúng ta đang chứng kiến trên các đường phố hiện nay, với quá nhiều ký giả bị tấn công và ngay cả bị bắt giữ để biến họ thành  những tội phạm dưới mắt công chúng như Tổng thống Trump muốn, là hậu quả của 5 năm thiếu bảo vệ trước một chiến dịch tuyên truyền rất có hiệu quả. Đây là một cố gắng có hệ thống nhằm biến cả một nhóm người Mỹ thành “kẻ thù của nhân dân”. Đây là một thuật ngữ cắm rễ sâu trong lịch sử của các chế độ độc tài mà chính phủ Trump đã sử dụng để thủ lợi.

Những người Mỹ nào ngày nay đang ủng hộ việc hành hung các ký giả và các chiến dịch chống báo chí của Tổng thống Trump nên suy nghĩ về điều này: các nhà độc tài có thể bắt đầu bằng việc bêu xấu một nhóm, như di dân hay người Mỹ gốc Phi Châu, nhưng trước sau gì hành động bêu xấu ấy cũng không tha những nhóm khác. Những ai hôm nay vui mừng khi thấy các ký giả bị còng tay kéo đi không hề biết rằng rồi đến ngày họ cũng sẽ bị như thế.

Ruth Ben-Ghiat, How Journalists Become Objects of Hate, CNN June 11th, 2020.

Tác giả là một cộng tác viên thường xuyên của Đài CNN .Là giáo sư về lịch sử và nghiên cứu về Ý học tại Đại học New York. Bà chuyên viết về các chế độ độc tài và tuyên truyền.