Thứ Bảy, 11 tháng 1, 2020

Nhân tâm...tùy mạng mỡ!



Chu Thập
14.1.20
Sau mùa nghỉ lễ Giáng Sinh và Năm Mới vừa qua, tôi đứng lên bàn cân để xem mình có đủ sức thực hiện quyết tâm đầu năm là giữ cho vòng bụng không phình ra thêm một ly nào không. Kể từ khi biết mình bị tiểu đường và nhớ lời cảnh cáo của bác sĩ: “lượng đường trong máu tăng theo tỷ lệ thuận với vòng bụng”, lúc nào tôi cũng theo dõi sự phát triểu của cái bụng.
Những suy nghĩ và triết lý vụn vặt của tôi thường xoay quanh cái bụng. Thời thanh niên, nhìn mấy ông ba Tàu vừa sói đầu vừa to bụng trong thị trấn nhỏ của tôi là Thành, tôi cứ nghĩ rằng cái bụng phệ là biểu hiện của sự giàu sang và khỏe mạnh. Không hiểu học được ở đâu, thằng bạn nối khố sát bên cạnh nhà tôi lúc nào cũng tìm cách thuyết phục tôi rằng chỉ cần mỗi buổi tối ăn một ổ bánh mì nóng có trét bơ là “to con” và khỏe mạnh. Cùng với những buổi sáng tập tạ dựa theo những chỉ dẫn trong “bắp thịt trước đã” của tác giả Phạm Tấn Tươi, hai đứa cũng đua nhau mỗi tối “thộn” bánh mì nóng cho đầy bụng!
Sau năm 1975, dưới thời “chó chết” của mấy ông cộng sản, có tối đến nằm mơ may ra mới thấy mình to bụng và to con. Cho nên, đầu thập niên 1980,  thoát khỏi thiên đường cộng sản, chạy sang các nước thừa mứa thịt thà, bơ sữa và rượu bia, tôi mới ăn trả thù. Chỉ trong một tháng “tối sâm banh, sáng sữa bò”, vòng bụng của tôi phình ra, thể trọng của tôi tăng thêm gần 20 ký! Nhưng đó cũng là lúc tôi bắt đầu nghe người dân Tây Phương bàn tán xôn xao về mỡ (cholesterol) trong máu và vô số những chứng bệnh do mỡ trong máu tạo ra. Tôi chợt nhớ lại lời dặn của cha tôi.
Cha tôi chỉ là một nông dân thất học và cũng có vô số tính hư tật xấu. Nhà tôi lại nghèo cho nên tuy là con trai út, tôi chẳng hưởng được bất cứ phần gia tài nào do cha tôi để lại. Tuy nhiên,  có một thứ kho báu mà lúc nào tôi cũng thấy cần phải tiếp nhận từ cha tôi: đó là cách sống của ông! Cha tôi không bao giờ đụng tới rượu bia. Không biết có phải do ghét Tây và chống Mỹ cứu nước không, không bao giờ ông dùng thuốc Tây. Cứ  sau mỗi bữa ăn, ông uống hai viên cao lô hội (aloe vera) như thuốc nhuận trường. Và đây là lời “vàng ngọc” mà cha tôi đã để lại: “hễ cái bụng tốt thì mọi thứ đều tốt”. Cả đời không hề biết đến thuốc Tây, vậy mà ông đã tỉnh bơ sống khỏe mạnh cho đến lúc 95 tuổi!
“Hễ cái bụng tốt thì mọi thứ đều tốt”. Tôi đã nghiệm thấy lời của cha tôi đúng trong rất nhiều trường hợp. Táo bón là điển hình của một cái bụng không tốt. Táo bón làm cho nhức đầu và nhức đầu thì đương nhiên dễ cau có. Thành ra táo bón tạo ra cái “mặt táo bón” dễ ghét!
“Hễ cái bụng tốt thì mọi thứ đều tốt”. Tốt cả thể lý lẫn tinh thần. Người có cái bụng tốt thường cũng là người “tốt bụng”. Điều ấy cũng dễ hiểu: khỏe mạnh thì đương nhiên cũng vui vẻ và vui vẻ thì cũng dễ cảm thông, rộng lượng, quảng đại. Người Tây Phương xem trái tim là biểu tượng của tình yêu và là “trụ sở” của mọi cảm xúc. Người Á đông như Việt Nam chẳng hạn thì lại chú tâm đến cái bụng. Thật ra, con người ta thường suy nghĩ bằng cái bụng và từ cái bụng. Bụng đói không có tai cho nên dễ làm liều đã đành, mà bụng đầy phè cũng dễ khiến cho con người suy nghĩ lệch lạc.
Năm nay, lên bàn cân thấy vòng bụng của mình không thay đổi bao nhiêu, tôi mừng. Mừng vì thấy mình không nằm trong số tăng ký trung bình của người Úc sau mỗi kỳ nghỉ lễ Giáng Sinh và Năm Mới. Theo Cơ quan Dinh Dưỡng Úc Đại Lợi (Nutrition Australia), trung bình người Úc tăng từ 0.8 đến 1.5 ký sau mỗi Mùa Giáng Sinh. Một cuộc nghiên cứu mới vừa được phổ biến trên tạp chí The BMJ Christmas cũng cho thấy  người dân của những nước giàu có thể tăng trung bình từ 0.4 đến 1 ký lô mỗi năm, thường là vào dịp nghỉ lễ Giáng Sinh.
Lâu nay đã có nhiều báo động về tình trạng quá ký và béo phì của người Úc. Một cuộc thăm dò được thực hiện cách đây gần 15 năm đã cho thấy có đến 53.6 phần trăm người Úc bị xem là quá ký và 18 phần trăm được xếp vào hạng béo phì. Vào năm 2016, tỷ lệ này tăng đến mức chóng mặt: 65 phần trăm bị xem là quá ký và 29 phần trăm trong số này được liệt kê vào hạng béo phì. So với năm 1995, tý lệ này đã tăng gấp đôi. Vào lúc đó, chỉ có 30 phần trăm người lớn bị xem là quá ký và tỷ lệ người béo phì chỉ có 11 phần trăm. Điều này cho thấy cứ đà này, người Úc ngày càng quá ký và béo phì.
Nhìn sang các nước giàu có khác, người ta cũng thấy một hiện tượng tương tự. Trung tâm Toàn quốc Thống kê về Y tế (The National Center for Health Statictics) ước tính rằng tại Mỹ trong 2 năm 2015-2016, có khoảng gần 40 phần trăm người lớn từ 20 tuổi trở lên bị xem là quá ký và trên 30 phần trăm là béo phì. Tỷ lệ này ngày càng gia tăng chớ không giảm. Hiện tượng này hiện cũng đang xảy ra tại quốc gia có nền kinh tế đứng hàng thứ nhì trên thế giới là Trung Cộng. Hiện có khoảng một phần năm trong số hơn một tỷ dân của quốc gia khổng lồ này bị xem là quá ký hay béo phì. Trước kia, Trung Cộng được xem là một trong những nước có số người gầy nhiều nhứt thế giới. Nay với sự phát triển kinh tế tăng tốc đến mức chóng mặt và trên đà chạy theo văn minh tiến bộ của các nước Tây Phương, Trung Cộng đã trở nên ngày càng quá ký và béo phì.
Thời trẻ, tôi nhìn vào cái bụng phệ như dấu hiệu của sự giàu sang và khỏe mạnh. Ngày nay, một ít hiểu biết phổ thông về y tế đã mở mắt cho tôi để nhận ra rằng cái bụng phệ là giềng mối của không biết bao nhiêu bệnh tật từ tiểu đường đến tim mạch và trí não. Các nước giàu có có thể “mạnh” về nhiều lãnh vực, đặc biệt là kinh tế và quân sự. Nhưng với cái bụng phệ luôn đi trước, người dân của những nước giàu có ấy không đương nhiên “giàu” và “mạnh khỏe” ngay cả về mặt tinh thần.
Có thực mới vực được đạo. Đồng tiền liền khúc ruột. Cái bụng phệ thường thúc đẩy con người suy nghĩ theo chiều hướng “chỉ có kinh tế”, “kinh tế trước hết”. Năm 1992, trong cuộc vận động bầu cử tổng thống Mỹ, chiến lược gia của ứng cử viên Bill Clinton là ông James Carville đã tung ra khẩu hiệu “The economy, stupid” (Vấn đề chính là kinh tế, biết chưa, đồ ngu!). Nhờ chiến lược này, ứng cử viên Bill Clinton đã đánh bại Tổng thống George Bush Cha và 4 năm sau, ngay cả khi bị đàn hặc te tua vì vụ bê bối tình dục, ông vẫn được người Mỹ ủng hộ. Nay, cũng có nhiều suy đoán rằng Tổng thống Donald Trump cầm chắc trong tay sẽ giành thêm một nhiệm kỳ nữa bởi vì kinh tế Mỹ đang lên như diều gặp gió.
Nếu chỉ dựa vào kinh tế để đánh giá một nhà lãnh đạo hay một đảng cai trị thì không nơi nào đảng cầm quyền và lãnh tụ của đảng này đáng được đề cao cho bằng Trung Cộng. Sau hơn ba thập niên, Trung Cộng đang từ một nước nghèo đã biến thành một cường quốc chỉ sau Hoa Kỳ. Nhưng cũng sau hơn 3 thập niên thực hiện “phép lạ kinh tế”, có lẽ Trung Cộng mới chợt nhận ra rằng cái giá mà họ phải trả cho cái “phép lạ kinh tế” ấy là vô số những thiệt hại và mất mát không gì có thể bù lại: môi trường sống bị khai thác đến cạn kiệt và hủy hoại, các giá trị đạo đức và nhân bản làm nên sức mạnh đích thực của con người hoàn toàn bị chà đạp và xóa bỏ. Cái bụng ngày càng phình ra của người dân Trung Cộng chỉ có thể là dấu hiệu của sự nghèo nàn về nhiều mặt và bệnh hoạn. “Phép lạ kinh tế” nào cũng có cái giá của nó.
Úc Đại Lợi dù chưa từng hưởng một “phép lạ kinh tế” nào nhưng cái tội “đào đất lên bán” cũng đủ làm cho đất nước này đang phải trải qua một thảm nạn cháy rừng chưa từng có trong lịch sử Úc Đại Lợi. Xem kinh tế là tất cả và ưu tiên cho nên cứ “đào đất lên bán”, bất kể môi trường sống có bị hủy hoại, thiên nhiên có bị tàn phá...Nay quốc gia miệt dưới này mới chợt nhận ra rằng kinh tế không phải là trên hết và tất cả mà cần phải đo lường giá trị của một quốc gia dựa trên những tiêu chí khác như phẩm chất cuộc sống người dân, phẩm chất của môi trường, những giá trị đạo đức và nhân bản giữa người với người và giữa người với thiên nhiên...
Có người nói “nhân tâm...tùy mạng mỡ”. “Mạng mỡ” có thể hiểu theo cả hai nghĩa. Để có thân hình đẹp người ta thường đi hút mỡ. Có lẽ cũng phải “hút” cả mạng mỡ nhân tâm để có thể có những ước muốn lành mạnh cho bản thân, có những cái nhìn hiểu biết và thông cảm với những người khác trong xã hội và nhứt là biết sống có trách nhiệm với thiên nhiên và môi trường sống.





Chủ Nhật, 5 tháng 1, 2020

Xung đột với Iran có thể là điều không thể tránh khỏi...




                                                 Maximilian Popp, Spiegel online
                                                  Chu Thập  chuyển ngữ.

Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump không ngừng nhấn mạnh rằng ông không hề muốn có chiến tranh với Iran. Nay, sau vụ giết chết tướng Qassem Soleimani,  xung đột có thể là điều không thể tránh khỏi. Đây là cái  giá phải trả vì một chính sách ngoại giao dựa trên ngẫu hứng hơn là các chuyên gia.
Tổng thống Trump muốn làm mọi sự khác người; ông sử dụng mặc cả hơn là sự liên minh, gây áp lực hơn là chiến thuật. Ngay cả trong hàng ngũ những người chỉ trích ông Trump cũng có nhiều người cho rằng ngoại giao có thể là một điều không tốt. Xét cho cùng, ngay cả các vị tiền nhiệm của Tổng thống Trump cũng đều đã phải vất vả trong nhiều năm để tìm ra những giải pháp cho một loạt những vấn đề xem ra không có giải pháp như A Phú Hãn, Ba Tư, Bắc Hàn.
Tổng thống Trump đã hoàn toàn đoạn tuyệt với chính sách ngoại giao truyền thống của Hoa Kỳ. Ông loại bỏ các chuyên gia trong Bộ Ngoại giao và không màng đến những phương thế ngoại giao như thương lượng, trao đổi và cân nhắc các quyền lợi (của quốc gia). Nguyên tắc chỉ đạo của ông là “đạp đổ”. Ông cho rằng ông có thể giải quyết các cuộc xung đột chỉ bằng trực giác và trí tưởng tượng của ông. Xét cho cùng, phải chăng các công ty kỹ thuật ở Thung lũng Silicon đã chẳng làm thay đổi bộ mặt thế giới bằng những phát mình của họ đó sao?
Tuy nhiên, nay mọi người đều thấy rõ cung cách làm việc của ông Trump hoàn toàn thất bại. “Đạp đổ” có thể là một phương thức thích hợp đối với Google và Facebok, nhưng không có giá trị đối với sinh hoạt chính trị trên toàn cầu.
Hôm thứ Ba (31/12/2019) vừa qua, có lẽ với sự chỉ đạo của Ba Tư,  các dân quân Shiite đã tấn công Tòa đại sứ Mỹ tại Baghdad và Đại sứ Mỹ đã phải cùng với nhân viên tòa đại sứ di tản. Đêm thứ Năm (2/01/2020), với một hỏa tiễn bắn vào Baghdad, Hoa Kỳ đã đáp trả bằng việc giết chết tướng Qassem Soleimani, chỉ huy trưởng của Lực Lượng Quds của Ba Tư. Tưóng Soleimani vốn được coi là nhân vật quyền lực thứ nhì tại Ba Tư và cuộc ám sát ông không gì khác hơn là một hành động tuyên chiến. Cũng gần đúng vào lúc đó, nhà độc tài Bắc Hàn Kim Jong Un đe dọa sẽ cho thử nghiệm những vũ khí nguyên tử mới. Cả hai cuộc khủng hoảng đều đã được Tổng thống Trump hứa sẽ kiềm chế nay đã trở thành nguy ngập và đe dọa hơn trước đó.

Hành động điển hình của tính bốc đồng của Tổng thống Trump

Việc giết tướng Soleimani là một hành động điển hình của tính bốc đồng của Tổng thống Trump. Thủ đoạn nhằm bất ngờ thay đổi hướng đi, đưa ra những lời đe dọa và tấn công bất ngờ đã không giúp Hoa Kỳ thoát ra khỏi mớ bòng bong Iraq-Ba Tư-Syria. Hoa Kỳ lại tiếp tục bị lôi cuốn vào những cuộc xung đột ở Trung Đông. Kể từ khi Hoa Kỳ, dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Trump, rút ra khỏi hiệp ước hạt nhân với Ba Tư, nước này đã thay đổi hướng đi. Ba Tư đã đáp trả lại chiến thuật tạo “áp lực tối đa” của Tổng thống Trump bằng những những hành động khiêu khích như tấn công các cơ sở của Hoa Kỳ tại Trung Đông. Chế độ Ba Tư hy vọng rằng sự đánh trả của họ có thể buộc Chính phủ Trump phải trở lại bàn hội nghị.
Nay dường như các cuộc tấn công ăn miếng trả miếng giữa 2 bên có thể dẫn đến đại họa. Việc Hoa Kỳ giết chết viên tướng quan trọng nhất của Ba Tư, một người được chế độ đề cao như một anh hùng dân tộc và nhà cách mạng chiến đấu cho tự do, đã đánh dấu sự liên tục của cuộc đối đầu này. Đây là một hành động bi thảm bất ngờ mà Ba Tư khó có thể nhắm mắt làm ngơ để không đáp trả. Tổng thống Trump đã nói rằng ông không hề muốn có chiến tranh, nhưng một loạt  hành động của ông lại dứt khoát dẫn đến chiến tranh.
Đây là mối nguy hiểm lớn nhất mà thế giới đang phải đối diện với, nhưng đây không phải là hậu quả nguy hiểm duy nhất của chính sách đối ngoại  bốc đồng của Tổng thống Trump. Nhà độc tài Kim Jung Un của Bắc Hàn cũng là một người khó đoán trước. Trong nhất thời, xem ra nhà lãnh đạo Bắc Hàn đã đáp ứng một cách tích cực với cách hành xử riêng của ông Trump và ngưng chương trình hạt nhân để đổi lấy những nhượng bộ về kinh tế. Tuy nhiên, trong “thông điệp” đầu năm vừa qua trong đó ông đã trực tiếp đe dọa Hoa Kỳ, người ta đã thấy rõ hơn bao giờ hết rằng với Kim Jung Un, nắm trong tay Bom (nguyên tử) quan trọng hơn là quan hệ kinh tế tới Hoa Kỳ.

Ngẫu nhiên phát động một cuộc chiến

Sự thất bại của ông Trump là một bài học cho chính phủ Mỹ và Âu Châu. Ba hoa hiếu chiến có thể thích hợp cho các cuộc vận động chính trị, nhưng không thể có chỗ đứng trong ngoại giao. Chính sách đối ngoại thường vừa khó khăn vừa nguy hiểm. Nó đòi hỏi sự kiên trì, khiêm tốn và thiện chí muốn thỏa hiệp.
Hiệp ước Nguyên tử với Ba Tư do cựu Tổng thống Barack Obama chủ xướng đã không ngăn cản được chính phủ nước này gây xáo trộn trong vùng và tướng Qassem Soleimani là công cụ quan trọng nhất để thực hiện điều đó. Tuy nhiên, nỗ lực của Tổng thống Obama nhằm mổ xẻ vấn đề Ba Tư thành từng mảnh là một hành động đúng đắn. Những cuộc xung đột rộng lớn cần phải được giải quyết từng bước một hơn là bằng một sự “ngã giá” duy nhất: bạn ngưng phát triển vũ khí hạt nhân và chúng tôi sẽ nới lỏng các cuộc cấm vận. Đây là cách thức hoạt động của ngoại giao. Âu Châu cần phải tiếp tục đi theo hướng này.
Bắc Hàn là một thí dụ điển hình cho thấy việc tham gia của các chuyên gia chính trị quan trọng biết chừng nào. Tuy nhiên, Tổng thống Trump không hề có bất cứ sự tôn trọng nào dành cho các chuyên gia. Loại trừ hàng loạt các viên chức chính phủ, ông đã cho Bộ ngoại giao “ra rìa” và trong các cuộc thương nghị (của ông) với Bình Nhưỡng, người ta đã cảm nhận được sự ngu dốt ấy. Ông Trump hoàn toàn dựa vào tình bạn mà ông nghĩ là ông đã có với nhà độc tài Kim Jong Un; ông không chịu hiểu – và dường như quanh ông cũng chẳng có ai nói với ông - rằng đối với Kim, có trong tay vũ khí hạt nhân là điều rất quan trọng để nắm giữ quyền lực. Đây là lý do duy nhất để giải thích tại sao ông Trump không thể bảo đảm được ít nhất tạm thời Bắc Hàn ngưng chương trình hạt nhân để đổi lấy cuộc họp thượng đỉnh với Kim tại Hà Nội.
Không có gì sai trái để đưa ra những sáng kiến ngoại giao một cách can đảm và bất ngờ. Việc cựu Thủ tướng Đức Willy Brand xích lại gần với khối Cộng sản Liên xô đã làm cho thế giới trở thành một nơi an toàn hơn. Nhưng các sáng kiến ngoại giao cần phải được chuẩn bị một cách chu đáo và áp dụng một cách chu đáo. Ngoại giao là một hoạt động nghiêm chỉnh. Ai không tiếp cận ngoại giao bằng tất cả sự nghiêm trọng cần thiết sẽ có nguy cơ tạo ra chiến tranh một cách ngẫu nhiên.




Chủ Nhật, 15 tháng 12, 2019

Bao giờ tôi mới được thương?


Chu Thập
15/12/19
Mới đây, tôi có nghe nhắc đến một ca khúc cũ có tựa đề “ When will I be loved?”( Khi nào tôi mới được yêu?). Tuy Anh ngữ của tôi  vẫn còn trong tình trạng “ăn đong”, tôi vẫn nghe và hiểu được chút đỉnh ca từ của bài hát. Nhờ ông Google mách bảo, tôi mới biết tác giả của ca khúc này là ca nhạc sĩ Phil Everly thuộc ban nhạc The Everly Brothers. Nhưng với ca khúc này người được nhắc nhớ nhiều hơn cả lại là nữ ca sĩ Linda Ronstadt. Được đưa vào danh sách 10 ca khúc hay nhứt trong năm 1960, nhưng bài hát này đã lên tới hạng nhì vào năm 1975 qua tiếng hát của Linda Ronstadt. Danh tiếng của người nữ ca sĩ 73 tuổi này vẫn còn tiếp tục vang dội cho đến ngày nay, thành ra mới có chuyện để nói.
Số là tối thứ Bảy ngày 7 tháng Mười Hai vừa qua, Bộ Ngoại giao Mỹ đã tổ chức tại Trung tâm Kennedy một bữa tiệc để vinh danh một số nhân vật nổi tiếng. Và một trong những người nổi tiếng ấy là bà Linda Ronstadt. Không rõ vì cớ sự nào mà đương kim Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo lại chú ý đến bà Ronstadt một cách đặc biệt. Thật vậy, trong bài diễn văn khai mạc, ngoại trưởng Pompeo nhắc đến ca khúc “When will I be loved” và nói riêng với người ca sĩ già: “Thưa bà Ronstadt, xin cám ơn và chúc mừng bà. Và tôi muốn nói: công việc của tôi là đi khắp thế giới. Tôi muốn biết “bao giờ tôi mới được thương?”
Trong bữa tiệc, khi được trao “micrô”, bà Ronstadt mới trả lời cho Ngoại trưởng Pompeo. Trước hơn 200 khách dự tiệc, vốn là một người ăn nói bộc trực và đã từng chỉ trích chính phủ của Tổng thống Donald Trump, người nữ ca sĩ cao niên này đã đứng lên và nhìn thẳng vào ông Pompeo rồi nói: “Tôi muốn được nói với ngài Pompeo, người đã thắc mắc không biết bao giờ mình mới được thương rằng: khi nào ông thôi ủng hộ ông Donald Trump”.
Trong những năm gần đây, nhứt là trong các liên hoan nghệ thuật, việc các tài tử giai nhân bày tỏ lập trường chính trị của mình đã trở thành “chuyện thường ngày ở huyện”. Trong số những nữ ca sĩ tỏ rõ lập trường chính trị của mình, rất nhiều người trẻ hơn bà Ronstadt nhiều. Như trường hợp các cô Adele, Rihanna hay Taylor Swift. Nhưng hầu hết đều lên tiếng chống lại ông Trump trong những sinh hoạt nghệ thuật hơn là trong các cuộc tập hợp chính trị.
Việc bà Ronstadt “lên lớp” Ngoại trưởng Pompeo ngay trong một bữa tiệc do chính Bộ Ngoại giao đứng ra tổ chức quả là chuyện không bình thường. Trong giới nghệ thuật, bà Ronstadt nổi tiếng là một người khó tánh. Bà nói và làm điều bà muốn chớ không chịu làm theo điều người khác muốn hay ra lệnh cho bà phải làm. Nói cho cùng, như câu điệp khúc trong bài “When will I be loved?” dường như muốn nhấn mạnh, bà Ronstadt luôn muốn bày tỏ tinh thần độc lập của bà: bà không màng đến chuyện được người khác thích hay không thích, thương hay không thương !
Tạm gác chuyện chính trị sang một bên, câu hỏi “Bao giờ tôi mới được thương?” được Ngoại trưởng Pompeo đã tự đặt ra cho chính mình hơn là cho bà Ronstadt không thể không gợi lên cho tôi một câu hỏi khác quan trọng là: yêu và được yêu, điều nào quan trọng hơn?
Tất cả mọi người, từ lớn chí bé, ai cũng đều cảm thấy khao khát mãnh liệt được yêu thương. Đó là nhu cầu cơ bản nhứt của con người. Tất cả mọi cuộc nghiên cứu đều cho thấy rằng sau khi sinh ra, nhứt là trong 6 tháng đầu tiên, những đứa trẻ sơ sinh nào thiếu sự ôm ấp vỗ về đều sẽ bị chấn thương về tâm lý.
Vì được yêu thương là nhu cầu cơ bản nhứt cho nên hầu hết đều tin rằng được yêu thương và được quan tâm tới là yếu tố quyết định cho hạnh phúc của con người. Hầu như ai cũng đều xem quan hệ tốt đẹp với người khác là điều tối cần để có được một cuộc sống hạnh phúc.
Tuy nhiên, bên cạnh nhu cầu được yêu, còn có một nhu cầu căn bản khác song song với nhu cầu này mà có lẽ nhiều người không muốn nhìn nhận: đó là nhu cầu yêu thương và quan tâm đến người khác. Nhu cầu này cũng mãnh liệt như cầu được yêu. Tỏ tình yêu thương, cư xử tử tế hay cảm thông với người khác không những làm cho họ được hạnh phúc mà cũng mang lại hạnh phúc cho chính mình.
Nếu phải trả lời cho câu hỏi của Ngoại trưởng Pompeo “Bao giờ tôi mới được thương?”, có lẽ tôi sẽ khuyên ông nên nghĩ đến việc phục vụ và yêu thương hơn là nghĩ đến chuyện người khác có yêu thích mình hay không. Trên đời này chẳng có ai được mọi người yêu thích cả. Con người ta vốn khó tính. Ca dao Việt Nam đã đưa ra nhận xét thật chí lý: ở sao cho vừa lòng người, ở rộng người cười ở hẹp người chê. Chẳng có ai làm vừa lòng mọi người và được mọi người yêu thương cả. Hiền lành và yêu thương ngay cả kẻ thù như Chúa Giêsu mà còn bị thù ghét huống chi là người trần. Nhưng được yêu thương cũng chưa hẳn là thước đo của hạnh phúc đích thực. Tướng cướp nào cũng có kẻ đi theo. Bạo chúa nào cũng có người sống chết cho. Có ai được dân chúng Đức yêu thương cho bằng bạo chúa Hitler hay có ai được tôn thờ tại Trung Cộng cho bằng bạo chúa Mao Trạch Đông. Chính trị gia tráo trở nào cũng có khối người phục lụy. “Hội chứng Stockholm” vốn là điều rất thường xảy ra trong quan hệ giữa người với người: người ta vẫn có thể thương kẻ đang bắt giữ mình làm con tin!  Tôi nghĩ đến hội chứng ấy khi nhìn cả nước Bắc Hàn khóc lóc thảm thiết trước cái chết của nhà độc tài Kim Jong Il hồi năm 2011. Có lẽ chẳng có nguyên thủ quốc gia nào được dân chúng yêu thương cho bằng ông. Ngày nay có lẽ dân chúng Bắc Hàn cũng tiếp tục bày tỏ một sự “yêu thương” như thế đối với con của ông là đương kim Chủ tịch Kim Jong Un. Nhà độc tài hay bất cứ một chính trị gia giảo hoạt lưu manh nào mà chẳng rung đùi thích chí khi được người dân tung hê và sẵn sàng hy sinh mọi sự vì mình.
Được yêu quả là một nhu cầu cơ bản của con người. Nhưng con người có thực sự hạnh phúc hay không là khi nhu cầu yêu thương và quan tâm đến người khác được thỏa mãn.
Về nhu cầu này, tôi nghĩ Ngoại trưởng Pompeo nên tìm đọc lời dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Nhà lãnh đạo tinh thần Tây Tạng này nói: “Lời khuyên của tôi là nếu bạn cần phải ích kỷ thì hãy ích kỷ một cách khôn ngoan. Người khôn ngoan phục vụ người khác một cách chân thành, đặt nhu cầu của người khác lên trên nhu cầu của mình. Có như thế cuối cùng bạn sẽ hạnh phúc hơn. Thứ ích kỷ khiến phải đấu đá, giết người, trộm cướp, nói những lời độc địa, quên phúc lợi của người khác sẽ chỉ dẫn đến mất mát cho chính bạn mà thôi”.








Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2019

Sự thật dưới thời Liên Xô và ở Mỹ dưới thời Donald Trump



Garry Kasparov
                                                                               Chu Thập chuyển ngữ 

Tôi sinh trưởng trong chế độ toàn trị Liên Xô. Chế độ này đã tìm cách khống chế, bóp méo và kiểm soát sự thật. Thực tại là bất cứ điều gì Đảng đặt ra trên các bản tin hàng đêm hay trên những tờ báo của Đảng như Pravda, tức “Sự Thật” và Izvestia, tức “Tin Tức”.
Vào thời đó, ngay cả đối với những người thực sự tin tưởng chủ nghĩa cộng sản, ngày càng hiển nhiên là những điều mà người ta nói với chúng tôi không hề phù hợp với thế giới mà chúng tôi nhìn thấy xung quanh mình. Như người ta vẫn nói đùa: “Không có tin tức trong sự thật và không có sự thật trong tin tức”. Khoảng cách giữa sự thật và dối trá quá lớn; cuộc sống không được cải thiện và thông tin ngày càng rỏ rỉ xuyên qua Bức Màn Sắt. Chối bỏ thực tế đã trở thành một sự xúc phạm quá nặng nề đối với phẩm giá của chúng tôi. Mà phẩm giá vốn là một yếu tố bị đánh giá thấp trong tinh thần cách mạng.
Tôi đã từng sống qua nhiều cuộc cách mạng làm thay đổi thế giới. Tôi là một  công dân của thời hậu Liên Xô. Quốc gia nơi tôi sinh ra đã ngưng hiện hữu kể từ năm 1991. Tại Nga, chúng tôi đã hưởng được chút tự do trong không đầy một thập niên trước khi Vladimir Putin mở ra giai đoạn hậu dân chủ. Vì chống lại thảm trạng này cho nên tôi đã lưu vong sang Hoa Kỳ. Nay quê hương mới của tôi lại lâm vào một cuộc chiến đấu nguy hiểm, một cuộc chiến đấu để không trở thành quốc gia cuối cùng của thế giới hậu sự thật.
Tổng thống Donald Trump và các đảng viên Cộng Hòa bênh vực ông trong Quốc Hội đã chạy theo ông để tuyên chiến với thực tế hiển nhiên. Các bài tường thuật có tính phê phán (bị gọi) là “tin giả”, các ký giả tường thuật các sự kiện là “ kẻ thù của nhân dân” (một câu nói của chính Vladimir Lenin), những thuyết âm mưu giả tạo không ngừng được lập đi lập lại và các công chức làm chứng hữu thệ về những biến cố có đầy đủ chứng cớ bị dán cho nhãn hiệu “Những người không bao giờ ủng hộ Trump” (Never Trumpers).
Vì không thể thay đổi được các sự kiện, Tổng thống Trump và những người ủng hộ ông tìm cách lái cuộc tranh luận vào một thế giới khác trong đó sự thật là bất cứ điều gì họ nói trong ngày hôm nay. Ông Trump lập đi lập lại không biết bao nhiêu lần cùng những lời dối trá và điều đáng lo ngại hơn là những người ủng hộ ông không hề nhận ra rằng đó là những lời dối trá hoặc họ chẳng màng tới. Toàn cầu hóa và mạng lưới thông tin toàn cầu có thể đã làm cho thế giới này được thu hẹp lại, nhưng hiện chúng ta đang trải nghiệm một sự phản tác dụng: sự thật đang bị “địa phương hóa”.
Mạng lưới thông tin toàn cầu lẽ ra phải chiếu rọi ánh sáng sự thật vào trong mọi hang cùng ngõ hẻm của thế giới, chấm dứt độc quyền thông tin của các nhà độc tài. Nhưng nó cũng đã trở thành một hệ thống chuyên chở với tốc độc ánh sáng những lời dối trá và tuyên truyền. Như một tấm gương vỡ, mỗi mảnh phản chiếu một hình ảnh bị bóp méo thay vì một thực tại duy nhất.
Không dễ theo dõi những cuộc biểu tình tại Iran bởi vì chính phủ nước này có thể ngăn chận việc tiếp cận với mạng lưới thông tin toàn cầu trên toàn quốc. Tại bất cứ nước nào, theo dõi những cuộc biểu tình đòi dân chủ tại Hong Kong dễ hơn là tại Trung Cộng bởi vì nước này kiểm soát rất chặt chẽ. Nga giam tù các nhà báo mạng và đóng cửa các tổ chức không chính phủ trong khi tung ra trên toàn quốc và khắp thế giới những thông tin giả.
Đã đến lúc cần phải báo động về con đường đen tối mà ông Trump đang dẫn dắt Hoa Kỳ bước vào. Tại Liên Xô, chúng tôi đã không thể chọn lựa nguồn tin tức nào để theo dõi. Người Mỹ có vô số chọn lựa, nhưng nhiều người lại tự nguyện giới hạn vào một số nguồn tin tức họ ưa thích. Đặc biệt đối với những người ủng hộ ông Trump, chối bỏ thực tế là một phù hiệu danh dự, một biểu tượng của tín đồ thuộc về một giáo phái!
Nếu bạn chỉ  theo dõi các cuộc điều trần về luận tội trên Đài Fox News, bạn sẽ nghĩ rằng mọi sự đều tốt đẹp cho Tổng thống Trump. Bất cứ câu nói nào xem ra bãi tội ông, mặc dù không có nhiều câu nói như thế, được lập đi lập lại không ngừng chẳng khác nào một câu thần chú. Đã có rất nhiều bằng chứng bất lợi cho ông  được trưng ra, nhưng như thể  không hề hiện hữu.
Sự chia rẽ đảng phái về thực tế nằm trong một cuộc chiến rộng lớn hơn của ông Trump. Đó là cuộc chiến chống lại sự lương thiện, pháp trị và những giá trị truyền thống cũng như đồng minh của Hoa Kỳ. Đây chính là mô thức của quyền lực địa phương, sự kiện địa phương và giá trị địa phương mà lâu nay Putin và Tập Cận Bình đang đeo đuổi. Chẳng có thiện hay ác. Đừng đưa chuyện luân lý ra để bàn cãi về những trại tập trung ở Trung Cộng hay những vụ dội bom của Nga xuống các bệnh viện tại Syria.
Các công ty của Hoa Kỳ cũng hùa theo: mới đây Apple thay đổi các bản đồ bên trong Nga vốn đã cho thấy việc Nga sáp nhập một cách bất hợp pháp lãnh thổ Crimea của Ukraine (Google đã làm điều đó từ nhiều năm trước !)
Các công ty kỹ thuật khổng lồ của Hoa Kỳ tỏ ra hài lòng trong việc giúp Putin tạo ra một thực tế giả tạo bên trong ranh giới Nga. Apple và Google xem ra muốn đứng lên chống lại Cơ quan Điều tra Liên bang FBI, chứ không phải FSB, tức KGB của Nga. Nhu liệu là quyền lực mềm và các công ty Mỹ đang phản bội các giá trị của quốc gia đã từng giúp họ thành công bằng cách ve vãn các nhà độc tài. Các công ty kỹ thuật biện bạch bằng cách nói rằng đây chỉ là chuyện kinh doanh chứ không phải chính trị. Nghe chẳng khác nào các hãng phim Hollywood khi họ cắt xén các cuốn phim và sa thải các nhân viên người Do Thái vì áp lực của Đức Quốc Xã hồi thập niên 1930.
Sự thật là gì? Trong kỷ nguyên của các sự kiện vùng, nó tùy thuộc vào chỗ bạn đang đứng, kênh truyền hình bạn đang theo dõi và đảng nào bạn ủng hộ. Nhưng không thể có một thực tại đỏ và một thực tại xanh cũng như không thể có một  tấm bản đồ bên trong Nga khác với một tấm bản đồ bên ngoài Nga. Cuối cùng ông Trump đang đối diện với những hậu quả của những hành động  của ông, mỗi người cũng nên bắt đầu nhìn thẳng vào các sự kiện.

Garry Kasparov: I lived in the post-truth Soviet world and I hear its echoes in Trump’s America
Garry Kasparov hiện là chủ tịch của Tổ chức “Renew Democracy Initiative” (Canh Tân Sáng Kiến Dân Chủ). Ông đã từng là vô địch thế giới về môn cờ vua (chess).

Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2019

Hồn Trương Ba Da Hàng Thịt


Chu Thập
1.12.19
Cách đây một tuần, lên tiếng trong chương trình “Fox & Friends” của Đài Fox News, Tổng thống Donald Trump tuyên bố: “Chúng ta cần phải đứng về phía Hong Kong, nhưng tôi cũng đứng về phía Chủ tịch Tập Cận Bình. Ông ta là một người bạn của tôi...Tôi muốn hai bên hợp tác với nhau. Đúng không?” Nhưng hôm thứ Tư 27 tháng Mười Một 2019 vừa qua, ông đã đặt bút ký 2 đạo luật được lưỡng đảng trong Quốc Hội thông qua: một là đạo luật Nhân quyền và Dân Chủ, hai là đạo luật Bảo vệ Hong Kong. Đạo luật thứ nhứt cho phép áp đặt các biện pháp chế tài đối với các viên chức Trung Công và Hong Kong nào dính líu đến các vụ vi phạm nhân quyền. Còn đạo luật thứ hai ngăn cấm việc bán cho cảnh sát Hong Kong các thứ khí giới được sử dụng để chống lại đám đông như hơi cay, súng hơi và đạn mã tử. Đây là những thứ khí giới được sản xuất tại Tiểu bang Pennsylvania và đã từng được cảnh sát Hong Kong sử dụng để chống lại các đám đông biểu tình.
Hành động của Tổng thống Trump đã được người dân Hong Kong hoan hô hết mình. Tối thứ Năm 28 tháng Mười Một vừa qua, người dân Hong Kong một lần nữa đã xuống đường và lần này, nhằm ngày Lễ Tạ Ơn ở Mỹ, họ đã bày tỏ lòng biết ơn với Nước Mỹ và đặc biệt tung hô Tổng thống Trump như một vị anh hùng. Bên cạnh những lá cờ Mỹ, người ta thấy có rất nhiều biểu ngữ ghi lại các “tuýt” của Tổng thống Trump. Nổi bật nhứt là “tuýt” trong đó tổng thống Trump gởi đi một bức ảnh đã được “phục chế” (photoshop) rất tinh vi nhưng cũng vô cùng lố bịch: đầu là đầu của Donald Trump, nhưng mình thì lại là mình của võ sĩ “Rocky Balboa” được hóa thân trong loạt phim “Rocky” do tài tử vai u thịt bắp Sylvester Stallone thủ diễn.
Trên khắp thế giới đã có vô số phản ứng và bình phẩm về bức hình “đầu Donald Trump, mình Rocky Balboa” này. Có người đã đặt bức hình này bên cạnh một bức hình thật và mới nhứt của tổng thống Trump, một cụ già 73 tuổi, bụng phệ, béo phì với lời  ghi chú: “ảo tưởng chống thực tế” (Delusion vs. reality)!
Riêng tôi, khi nhìn vào bức hình “đầu Donald Trump, mình Rocky Balboa” này, tôi lại nghĩ đến chuyện cổ tích Việt Nam “Hồn Trương Ba Da Hàng Thịt”. Ngày xưa có một người thanh niên tên là Trương Ba rất cao cờ. Tiếng đồn vang khắp nơi. Từ Trung Quốc, nghe tiếng Trương Ba, một tay cao cờ tên là Kỳ Như liền khăn gói sang Việt Nam để tỉ thí cho bằng được. Sau một hồi thi đấu, thấy Kỳ Như lâm thế bí, Trương Ba mới kiêu hãnh bảo: “Nước cờ này dù có Đế Thích xuống đây cũng đừng có hòng mà gỡ nổi”.
Từ trên thiên đình, nghe câu nói hỗn xược của Trương Ba, Đế Thích liền cỡi mây xuống tận nhà Trương Ba và mách nước cho Kỳ Như. Thoạt tiên, Trương Ba tức giận, nhưng nhìn kỹ thấy cụ già râu tóc bạc phơ, mặt mũi không có vẻ là người trần, nên sụp lạy xin lỗi: “Ngài hẳn là thần Đế Thích, tôi người trần mắt thịt không biết, xin ngài thứ lỗi cho”. Nói đoạn liền sai người nhà mua rượu, giết gà để khoản đãi. Đế Thích thấy Trương Ba là người có bụng chân thành nên tặng cho một nén hương và bảo: cứ mỗi lần cần đến, cứ thắp lên một cây, ông sẽ xuống ngay. Nói xong, Đế Thích cỡi mây bay về thiên đình.
Từ đó, Trương Ba thỉnh thoảng lại dọn cỗ mời Đế Thích xuống chơi. Nhưng không rõ vì một nguyên do nào đó, Trương Ba bị thần chết mang đi một cách đột ngột. Sau khi chôn cất chồng, trong lúc dọn dẹp nhà cửa, vợ anh mới thấy có một nén nhang cất trên mái nhà. Chị đốt nén hương. Thế là từ thiên đình, Đế Thích đã nhận được tin. Ông liền cỡi mây xuống thăm người vợ góa. Khi biết trong xóm có một người hàng thịt vừa mới qua đời, Đế Thích liền cho hồn Trương Ba nhập vào người hàng thịt. Trước sự ngỡ ngàng của hàng xóm, người chết bỗng nhỏm dậy và chẳng nói chẳng rằng đi thẳng về nhà Trương Ba. Vợ Trương Ba biết rõ đây là chồng mình nên mừng rỡ đón vào. Giữa lúc đó thì vợ con người hàng thịt cũng chạy theo níu lấy người nhà của mình. Hai bên giằng co mãi cho nên quan trên phải can thiệp. Ông cặn kẽ hỏi hai bên về sở thích và tài năng của người nhà của họ. Họ hàng của người hàng thịt cho biết lúc còn sống ông chỉ giỏi một chuyện là mổ heo. Còn bên nhà Trương Ba thì lại bảo ngón sở trường của anh là đánh cờ. Quan liền sai đem một con heo đến để xem tài của người hàng thịt. Anh chàng lớ ngớ không biết phải làm thế nào. Quan lại cho mời một số cao thủ đến để thử tài người vừa sống lại. Không ngờ anh ta đi những nước cờ không ai địch nổi. Quan liền phán: đây đích thị là Trương Ba. Thế mới có chuyện: “Hồn Trương Ba Da Hàng Thịt”.
Chuyện cổ tích trên đây đã được kịch tác gia  Lưu Quang Vũ, người đã cùng với vợ là diễn viên Xuân Quỳnh qua đời trong một tai nạn giao thông đầy bí ẩn hồi năm 1988, dựng lại thành một vở kịch trong đó Trương Ba đã dốc hết tâm sự và cũng qua đó nhà soạn kịch muốn nhắn gởi một thông điệp: một trong những điều quý giá nhứt của con người là được sống trọn vẹn với những giá trị mình có và theo đuổi. Nếu không được sống là chính mình mà phải sống gởi, sống nhờ, sống giả tạo thì cuộc sống ấy thật vô nghĩa. Trong con người luôn diễn ra một cuộc chiến cam go: sống là phải không ngừng chiến đấu để làm chủ những bản năng thấp hèn và hoàn thiện nhân cách.
Đây chính là ý tưởng mà kịch tác gia Lương Quang Vũ muốn nhấn mạnh qua các cuộc đối thoại giữa Trương Ba và Đế Thích cũng như giữa Trương Ba và xác anh hàng thịt. Trong cuộc gặp gỡ với Đế Thích, hồn Trương Ba đã khẳng định: “Không thể bên trong một đàng bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”.
Đoạn kết của vở kịch là khung cảnh hồn Trương Ba chập chờn trong màu xanh của cây lá trong vườn ở trên bậc cửa, trong ánh lửa, nơi cầu ao, trong cái cơi đựng trầu cau, con dao giẫy cỏ...Cho dù không còn sống trên cõi đời nhưng Trương Ba vẫn được người thân quý mến như xưa. Trong cái nhìn của mọi người thân, Trương Ba vẫn bất tử, vẫn là “con người trong sạch thẳng thắn”. Nhà viết kịch Lưu Quang Vũ muốn nói lên ý nghĩa thật sự của cuộc đời: con người vẫn tiếp tục sống qua chính cuộc sống lương thiện, vị tha của mình!
Thời thanh niên tôi có thử học một vài môn võ như Judo, Vovinam và Hiệp Khí Đạo. Học mãi mà chẳng đạt được cái “đai” nào cả, mặc dù thỉnh thoảng tôi cũng có  tròng vào người bộ áo võ thuật để chụp hình. Nếu có ai đó “phục chế” mấy tấm hình cũ và cho tôi đeo đai đen chẳng hạn, chắc tôi phải độn thổ mất, chớ đừng nói tới chuyện cắt đầu tôi để gắn vào thân của một võ sĩ nào đó.
Hiện tôi cũng còn luyện võ. Không phải võ mồm. Không phải để đánh ai, mà để chiến đấu chống lại những bản năng thấp hèn của mình. Thứ võ này sao mà khó quá. Luyện mãi mà vẫn thấy mình lên được “đẳng” nào cả!







Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2019

Thượng Đế cũng phải khóc!



Chu Thập
24/11/19
Thời gian gần đây, tuy mùa hè chưa đến, nhưng Úc Đại Lợi cũng đã chìm  ngập trong khói lửa vì nạn cháy rừng. Ngày nay, dựa trên các chứng cớ khoa học, hầu như ai cũng đều nhìn nhận rằng một số thiên tai là hậu quả của hiện tượng khí hậu thay đổi mà con người đã và đang góp phần tạo ra. Tuy nhiên, cũng không thiếu người phủ nhận hiện tượng và đi tìm giải thích ở những nguyên nhân sâu xa hơn. Như trường hợp tuyển thủ Rugby nổi tiếng của Úc Đại Lợi là anh chàng Israel Fulau. Nổi tiếng trong thể thao, Fulau cũng nổi tiếng vì những lời tuyên bố gây tranh cãi. Mới đây, vào giữa lúc bao nhiêu người Úc phải lâm cảnh chết chóc và nhà tan cửa nát vì các trận hỏa hoạn, cựu tuyển thủ 30 tuổi này đã lên tiếng giảng dạy: “Trong những tuần lễ vừa qua, tôi đã theo dõi các biến cố xảy ra tại Úc Đại Lợi như thiên tai, cháy rừng và hạn hán. Con người đang hủy hoại trái đất. Họ đã bất tuân luật lệ, vi phạm các chuẩn mực và xé bỏ giao ước muôn đời. Do đó một lời nguyền đang đốt cháy trái đất. Con người phải gánh chịu vì tội lỗi của họ”.
Thoạt nghe qua, tôi thấy nội dung của lời giảng dạy của Fulau cũng chẳng khác bao nhiêu so với những lời giảng dạy mà tôi đã từng nghe từ miệng của bất cứ mục sư hay linh mục nào.
Nhưng người cựu tuyển thủ này không dừng lại ở đó. Anh khẳng định rằng các trận hỏa hoạn làm cho 6 người bị thiệt mạng và bao nhiêu nhà cửa bị thiêu rụi là một sự trừng phạt của Thiên Chúa trước tội ác tày đình của Úc Đại Lợi là hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính và cho phép phá thai. Anh lên lớp: “Hỡi các người, Thiên Chúa đang nói với các người đó. Úc Đại Lợi cần phải sám hối và xóa bỏ các luật này và quay về đường ngay nẻo chính”.
Bài giảng kéo dài 10 phút của ông “mục sư” trẻ này đã đưa tôi trở về thời niên thiếu. Thời đó, tôi nhìn đâu cũng thấy tội và nhìn đâu cũng thấy bàn tay trừng phạt của Thiên Chúa. Tôi đã được nhào nặn như thế. Trong con mắt thơ dại của tôi, hình ảnh ông kẹ và bà chằng của vị linh mục quản xứ và các bà xơ là một phản ảnh của dung mạo “dữ dằn” của một Thiên Chúa mà tôi cho là ánh mắt lúc nào cũng theo dõi rình rập tôi và bàn tay lúc nào cũng sẵn sàng để giáng xuống một sự trừng phạt đích đáng. Thật ra, trong việc uốn nắn và dạy dỗ tôi trong niềm tin tôn giáo, phải nói bà mẹ “đạo đức” của tôi có nhiều công trạng nhứt. Lúc nào bà cũng nói đến chiếc đồng hồ không ngừng gõ nhịp “đời đời, đời đời” trong hỏa ngục. Bất cứ hành vi nào của con người cũng được mẹ tôi quy ra tội và cân đo bằng một hình phạt tương xứng. Ngày Chúa Nhựt mà bỏ lễ, trốn đi câu cá hay bắt dế là phạm tội trọng. Mà hễ phạm tội trọng thì đương nhiên chết phải sa hỏa ngục tức khắc. Ngay cả “làm việc xác” ngày Chúa Nhựt cũng là một tội trọng. Thành ra, lúc nào mẹ tôi cũng căn dặn anh em tôi: làm gì thì làm, ngày Chúa Nhựt không được trèo cây, Chúa sẽ phạt “chết tươi ăn năn tội chẳng kịp” thì chỉ có nước đi hỏa ngục “đời đời kiếp kiếp chẳng cùng” mà thôi!
Phải thú nhận rằng, thời niên thiếu, bên cạnh vô số những kỷ niệm đẹp nhứt trong cuộc đời, lúc nào tôi cũng cảm thấy bị “khủng bố” và phải sống trong sợ hãi triền miên.Tôi “giữ đạo” vì sợ. Quan hệ của tôi với Thiên Chúa là quan hệ của sợ hãi hơn là kính mến.
Cũng may, càng thêm tuổi đời, niềm tin tôn giáo của tôi càng được tinh  luyện: hình ảnh của một Thiên Chúa lúc nào cũng rình rập để trừng phạt con người ngày càng vơi đi để nhường chỗ cho một Thiên Chúa gần gũi hơn để tha thứ, để cảm thông, ngay cả để khóc trước nỗi  khổ đau của con người hơn là trừng phạt. Thật ra, nhân loại dường như cũng ngày càng trưởng thành hơn để không còn quy cho Thiên Chúa những hình phạt mà con người phải gánh chịu.
Trong cuốn sách “Brief Answers To Big Questions” (Những giải đáp ngắn cho những câu hỏi lớn) được xuất bản năm 2018, tức một thời gian ngắn sau khi ông qua đời, nhà bác học nổi tiếng Stephen Hawking viết rằng khoa học ngày càng trả lời cho những câu hỏi vốn trước kia thuộc lãnh vực tôn giáo. Trước kia, con người cho rằng Thiên Chúa làm mọi sự: động đất, bão lụt, cháy rừng, hạn hán, mất mùa và mọi thứ ôn dịch, nếu không là một lời cảnh cáo của Thiên Chúa thì cũng là sự trừng phạt mà Ngài giáng xuống trên con người vì  tội lỗi của họ. Ngày nay, khoa học nói với tôi rằng tất cả mọi thiên tai đều là những hiện tượng tự nhiên của trời đất. Tôi tin các nhà khoa học. Gần đây, với bản tuyên ngôn mang chữ ký của 11.000 khoa học gia trên khắp thế giới kêu gọi hãy có hành động tức khắc chống lại khí hậu thay đổi, tôi thấy rằng đây là một hiện tượng mà con người không thể ngay cả nhân danh tôn giáo để phủ nhận.
Tệ hại hơn cả việc nhân danh tôn giáo để phủ nhận một hiện tượng tự nhiên, có người còn nại đến uy danh của Thiên Chúa để sát hại vô tội vạ người đồng loại của mình. Thật ra đâu chỉ có tổ chức khủng bố “Quốc gia Hồi giáo” mới nhân danh Đấng Allah vĩ đại để biện minh cho hành động tội ác của họ. Trong phần cuối của bài diễn văn về tình trạng liên bang dạo tháng Giêng năm 2003, trước khi đem quân sang đánh Iraq,  Tổng thống George W. Bush cũng đã nại đến Thiên Chúa để tiến hành cuộc xâm lăng. Tổng thống Bush nói: “Người Mỹ là một dân tộc tự do. Họ biết rằng tự do là quyền của mỗi một con người và tương lai của mọi dân tộc. Tự do mà chúng ta trân quý không phải là quà tặng của Hoa Kỳ cho thế giới mà là quà tặng của Thiên Chúa cho nhân loại”.
Mặc cho Liên Hiệp Quốc và rất nhiều nước Tây Phương có phản đối, Tổng thống Bush vẫn ra lệnh cho quân đội hùng mạnh của Hoa Kỳ tấn công và xâm chiếm Iraq để gọi là đem “món quà tặng của Thiên Chúa” là tự do đến cho dân tộc Iraq. Có thể sau cuộc xâm lăng của Hoa Kỳ, nhân dân Iraq đã được giải thoát khỏi ách cai trị độc tài của Saddam Hussein và hưởng được tự do. Tổng thống Bush và nhiều người Mỹ hẳn cũng hãnh diện vì đã hoàn thành “sứ mệnh” được Thiên Chúa trao phó là mang tự do đến cho nhân dân Iraq.
Trên đồng bạc của Hoa Kỳ lúc nào cũng có câu “Chúng tôi tin tưởng nơi Thiên Chúa” (In God we trust). Nhiều người Mỹ vẫn tự hào mình là một dân tộc “dưới quyền Thiên Chúa” (a nation “under God”). Vì luôn được Thiên Chúa ưu ái dẫn dắt cho nên nhiều người cũng tin rằng ngay cả nguyên thủ quốc gia của họ cũng được Thiên Chúa tuyển chọn. Đương kim Tổng thống Donald Trump vẫn tiếp tục được rất nhiều người tin tưởng như người được Thiên Chúa chọn (The Chosen One) và sai đến để chấn hưng các giá trị truyền thống của Hoa Kỳ. Chính vì vậy mà ông vẫn được tin tưởng và ủng hộ ngay cả khi nếu ông có tỉnh bơ rút súng bắn  người ở đại lộ Fifth Avenue, New York ngay giữa thanh thiên bạch nhựt.
Tôi không tin có môt Thiên Chúa như thế. Hoặc như tác giả Ký Gà của tờ Thời Báo bên Giã Nã Đại đã mỉa mai, nếu Thiên Chúa đã tuyển chọn Tổng thống Trump thì có lẽ Ngài đã say xỉn!
Là một người hữu thần, tôi tin có một Thiên Chúa như Chúa Giêsu đã dùng cả cuộc sống và cái chết của Ngài để tỏ lộ. Đó là một Người Cha yêu thương và tha thứ hơn là trừng phạt. Đó là một Thiên Chúa mà tôi chỉ có thể cảm nhận được sự hiện diện và tác động qua những cử chỉ yêu thương, tha thứ, cảm thông, khoan nhượng và tử tế hơn là thái độ thù hận, hung hăng và ích kỷ của con người.








Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2019

Phân hóa quốc Hoa Kỳ



Chu Thập
Christine M nói rằng người dượng ghẻ của cô đã không bay đến Tiểu bang Utah để dự đám cưới của cô. Lý do là vì 2 người có lập trường chính trị khác nhau: cô là người chống Tổng thống Donald Trump, còn ông thì lại phò Trump. Justin M sẽ không đội cái mũ có khẩu hiệu MAGA (Make America Great Again, “Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại” của ông Trump) tại quê quán của mình là thành phố Boston vì sợ bị làm nhục. Richard G, một cử tri không ủng hộ đảng nào tại Tampa, Tiểu bang Florida, thì lại dán trước cửa nhà khẩu hiệu “No Political Zone” (khu vực phi chính trị), sau khi bị nhiều bạn đồng nghiệp của mình, vốn là những người ủng hộ ông Trump, khiêu khích ông tranh luận về những đề tài chính trị nóng bỏng nhất.
Mano Benavente,  một người thuộc đảng Cộng Hòa tại Tiểu bang North Carolina, đưa ra nhận xét: “Hiện nay tranh luận chính trị là một cuộc đấu võ  đẫm máu”.
Trên đây chỉ là một vài mẩu chuyện điển hình về thực tế mà người Mỹ hiện nay đang phải đương đầu. Nhiều bậc phụ huynh không còn muốn cho con cái mình lấy những người thuộc một đảng khác. Có đến 35 phần trăm những người thuộc đảng Cộng Hòa và 45 phần trăm những người ủng hộ đảng Dân Chủ có chủ trương như thế. Những người công nhân, như ông Richard G, cho rằng không nên đưa chính trị vào chỗ làm việc. Và phần đông người Mỹ không muốn đưa chuyện của Tổng thống Trump ra bàn bạc trong bữa tiệc gia đình nhân ngày Lễ Tạ Ơn hàng năm. Một số người có lý để lo ngại rằng Hoa Kỳ đang trên bờ vực của một cuộc Nội Chiến.
Trong năm 2019 này, chỉ có một điều hiện đang liên kết mọi người Mỹ lại với nhau. Điều đó là: họ đang chia rẽ biết chừng nào!  Thật vậy, theo Viện Nghiên Cứu Tôn Giáo (The Public Religion Research Institute), có 91 phần trăm người Mỹ cảm thấy Hoa Kỳ đang bị phân cực và 74 phần trăm cho rằng họ “cực kỳ” chia rẽ!
Hiện nay chính trị là giềng mối chính gây căng thẳng cho người Mỹ. Theo Trung Tâm Nghiên Cứu Pew (The Pew Research Center) khoảng 50 phần trăm những người ủng hộ đảng Cộng Hòa và gần 60 phần trăm những người theo đảng Dân Chủ nói rằng thảo luận về một số vấn đề có tính đảng phái như phá thai, di dân hay kiểm soát súng đạn, có thể tạo ra căng thẳng và thất vọng. Và cường độ căng thẳng có thể dẫn đến những chứng như tức ngực, nhức đầu và mất ngủ. Thành ra không có gì phải ngạc nhiên khi có nhiều người Mỹ nhìn nhận rằng họ mất ngủ và bị trầm cảm vì những căng thẳng chính trị.
Nhưng tệ hại hơn nữa, sự phân hóa chính trị lại gia tăng nguy cơ bạo động. Một khi đã bắt đầu tự nhận mình thuộc đảng này hay đảng kia, người ta tự cô lập và ngày càng có cái nhìn cực đoan. Theo các số liệu của 2 cuộc thăm dò trên toàn quốc, 15 phần trăm người Mỹ tự nhận thuộc đảng Cộng Hòa và 20 phần trăm theo đảng Dân Chủ cho rằng đất nước Hoa Kỳ sẽ tốt đẹp hơn nếu những người thuộc đảng bên kia “chết tiệt” cho rồi! Và gần 10 phần trăm những người tự nhận thuộc về đảng này hay đảng kia nghĩ rằng bạo động là điều có thể chấp nhận được nếu ứng cử viên thuộc đảng kia thắng cử. Mặc dù những cá nhân suy nghĩ như thế chỉ là một thiểu số, nhưng một suy nghĩ như thế quả là điều đáng báo động.
Dĩ nhiên, đây không phải là lần đầu tiên có một sự phân hóa chính trị như thế tại Hoa Kỳ. Thời kỳ lập quốc, tổng thống Mỹ đầu tiên, George Washington, đã cảnh cáo về những nguy hiểm của óc bè phái. Trong bài diễn văn từ giã, ông nói: “Nó (óc bè phái) khuấy động cộng đồng bằng những sự ganh tỵ không có nền tảng và nuôi dưỡng bạo động và nổi loạn”.
Những lời cảnh báo của vị tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ đã trở thành hiện thực không đầy 100 năm sau đó khi vấn đề nô lệ làm cho cuộc Nội Chiến bùng nổ. Cuộc chiến tranh này đã ngốn 750.000 mạng người, tức khoảng 2 phần trăm dân số. Tuy nhiên vào năm 1865, khi cuộc chiến kết thúc, người ta vẫn không thấy được một tương lai đoàn kết cho Hoa Kỳ.
Tính từ Cuộc Đại Khủng Hoảng cho đến Chiến Tranh Việt Nam, Thế kỷ 20 đã được đánh dấu bằng những giai đoạn chia rẽ về bất bình đảng kinh tế, ý thức hệ chính trị và việc sử dụng sức mạnh quân sự. Dù vậy, qua những giai đoạn ấy, lúc nào Hoa Kỳ cũng tìm được thế quân bình. Còn hiện nay, quả lắc đồng hồ dường như đã nghiên hẳn về cực điểm.
Cách đây 40 năm, hầu hết các đơn vị bầu cử đều trong tình trạng bấp bênh, nghĩa là không nghiêng hẳn về một đảng nào. Nay con số này chỉ còn lại một nửa. Ngày càng có nhiều người dọn đến những nơi mà họ nghĩ là sẽ không còn phải gặp những người không có cùng lập trường chính trị với họ.
Thật ra, phần lớn người Mỹ không phải là những người sống chết cho đảng phái. Họ là “đám đông mệt mỏi”, uyển chuyển trong chính trị và cởi mở để thỏa hiệp, nhất là khi họ muốn thấy có luật pháp rõ ràng về một số vấn đề như cải tổ luật sở hữu súng đạn chẳng hạn. Tưu trung, phần đông người Mỹ vẫn còn tỏ ra tha thiết với những giá trị cốt lõi làm nên bản sắc dân tộc của họ hơn là những bất đồng về quan điểm chính trị.
Tại một bữa tiệc được mệnh danh là “Đi tìm nước Mỹ” (Looking for America) được tổ chức tại Bảo tàng viện Lịch sử của Thành phố El Paso, Tiểu bang California,  khách mời được đề nghị mang đến một kỷ vật nói lên mối liên hệ của họ với cộng đồng.
Andrea Beltran, một văn thi sĩ có khuynh hướng tự do, đã chia sẻ tấm thẻ thông hành của bà cố nội của cô hồi năm 1920. Lúc đó nội tổ của cô chưa phải là công dân Mỹ. Theo Andrea Beltran, tấm thẻ thông hành này cho thấy “căn cước” là một điều rất khó để định vị và định nghĩa”. Trong bầu khí mà cô cho là “nặng mùi chủ nghĩa ái quốc và dân tộc” hiện nay, bà cố nội của cô nhắc nhở cô rằng nếu chỉ dựa trên thẻ khai sinh để xác định ai mới thực sự là người Mỹ là một điều vừa phức tạp vừa nguy hiểm.
Một thực khách khác là ông John Moye, một người thuộc đảng Cộng Hòa nhưng ôn hòa, mang theo một bài báo của tờ El Paso Times hồi năm 1944. Bài báo kể lại kinh nghiệm của cha ông, một tù binh trong thời Đức Quốc Xã. Cha ông đã nhập ngũ một ngày sau khi Trân Châu Cảng bị Nhật Bản tấn công. Ông đã bị bắt làm tù binh 10 tháng và sau đó trở về Texas. Ông Moye nhấn mạnh rằng bài báo đã cho thấy vào cao điểm của Đệ nhị Thế chiến, “người Mỹ đã xả thân hy sinh và không đòi hỏi phải được đáp trả nhiều”. Theo ông, đây là tinh thần ái quốc thực sự mà ông sợ rằng người Mỹ hiện nay đã đánh mất.
Tuy không đồng quan điểm chính trị, nhưng cả cô Beltran lẫn ông Moye đều muốn nhấn mạnh đến những giá trị nền tảng của Hoa Kỳ. Cô Beltran đã chọn tấm thẻ thông hành của một người không phải là công dân Mỹ để nói đến tính phức tạp và đồng thời cũng là vẻ đẹp của bản sắc người Mỹ: đa chủng tộc, đa văn hóa, đa ngôn ngữ được xây dựng trên sự đóng góp của người di dân. Quan niệm hẹp hòi về bản sắc dân tộc chỉ làm thiệt hại cho đất nước mà thôi!
Về phần mình, ông Moye nêu cao tầm quan trọng của sự xả thân hy sinh của bậc tiền bối khi nói đến bản sắc dân tộc. Thời đó, người Mỹ đoàn kết với nhau xung quanh cùng một chính nghĩa và ý thức mạnh mẽ về cộng đồng của mình. Ngày nay, đối với nhiều người, chính nghĩa và ý thức về cộng đồng đã trở thành thứ yếu.
Sự kiện hai người khác chính kiến như cô Beltran và ông Moye đã có thể ngồi chung trên một bàn ăn cho thấy, cho dẫu không có cùng một lập trường chính trị, người Mỹ vẫn có thể ngồi lại với nhau.


Thứ Hai, 4 tháng 11, 2019

Hãy nói về cuộc đời khi tôi không còn nữa


Chu Thập
4/11/19
Vì kém trí nhớ tôi ghét học thuộc lòng. Dó chính là lý do tôi không thích thơ và vì không thích thơ cho nên tôi dốt thơ. Có lận lưng được vài câu để “chém gió” thì hầu hết cũng đều là những câu đã được phổ nhạc. “Khúc Thụy Du” của thi sĩ Du Tử Lê, người vừa mới ra đi hôm mùng Bảy tháng Mười vừa qua, là một điển hình. Tôi thuộc vài câu trong ca khúc được nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc này là nhờ tiếng hát của ca sĩ Tuấn Ngọc và câu mở đầu trong bài hát là câu tôi ưng ý nhứt, nhưng cứ ngẫm nghĩ mãi mà vẫn không hiểu được hết ý của tác giả. “Hãy nói về cuộc đời khi tôi không còn nữa”, không biết nhà thơ có muốn giải thích câu thơ mở đầu ca khúc không khi ông than thở: “Sẽ lấy được những gì /Về bên kia thế giới”.
Dù sao cứ mỗi lần nghe câu “Hãy nói về cuộc đời khi tôi không còn nữa”, tôi đều nghĩ đến thông điệp mà bất cứ ai khi nằm xuống, dù an bình hay tức tưởi, dù nguyên vẹn hình hài hay tan xương nát thịt, dù được ca ngợi hay nguyền rủa...cũng đều nhắn gởi cho người còn sống.
Tôi đặc biệt nghĩ đến 2 người nổi tiếng vừa mới ra đi cùng một ngày, hôm 27 tháng Mười vừa qua. Trước hết là Ivan Milat, kẻ giết người hàng loạt khét tiếng nhứt trong lịch sử Úc Đại Lợi. Với 7 án tù chung thân, cho tới lúc ra đi vì bệnh ung thư ở tuổi 74, Milat vẫn không hề để lộ bất cứ một dấu hiệu nào của hối hận và thốt lên bất cứ một lời xin lỗi nào với thân nhân của các nạn nhân.
Nhưng thành tích giết người của Milat chẳng nhằm nhò gì so với con số nạn nhân của Abu Bakr al-Baghdadi, thủ lãnh của tổ chức khủng bố “Quốc gia Hồi giáo”, người vừa bị quân đội Mỹ săn lùng và hạ sát.
Khác nhau về con số nạn nhân, về cường độ của sự hung ác, nhưng từ cổ chí kím, mẫu số chung nối kết tất cả những hung thần trong lịch sử nhân loại vẫn là: sự hối hận và hai tiếng “xin lỗi” không hề có trong trái tim và cửa miệng của họ! Nơi họ không hề có phân ranh giữa thiện và ác.
Nghĩ đến sự độc ác của con người đối với người đồng loại của mình tôi thường liên tưởng đến cuốn phim “Những tên sát nhân bẩm sinh” (Natural Born Killers) do đạo diễn Mỹ Oliver Stone thực hiện hồi năm 1994. Cuốn phim kể lại câu chuyện của một đôi trai gái đã từng là nạn nhân bị lạm dụng lúc còn nhỏ. Họ đã gặp nhau, yêu nhau và trở thành những kẻ giết người hàng loạt. Điều mỉa mai là đôi tình nhân giết người hàng loạt này lại được các cơ quan truyền thông ngưỡng mộ và đề cao!
Tôi luôn lạc quan về bản tính con người. Giáo lý Kitô Giáo dạy tôi rằng dù có bị hoen ố vì điều gọi là tội nguyên tổ, còn người vẫn không hoàn toàn bị sa đọa. Minh triết của Đông Phương lại bảo “nhân chi sơ tính bản thiện”. Tôi tin ở “bản thiện” của con người. Nhưng cái “bản thiện” ấy chỉ là một hạt giống. Nó  cần được ươm trồng, tưới tẩm và chăm bón mới có thể nẩy mầm, triển nở và sinh hoa kết trái. Không được dạy dỗ và sống giữa xã hội loài người, dù cho bản tính có tốt đến đâu, con người không thể lớn lên như một người bình thường, nghĩa là biết phân biệt phải trái hay thiện ác. “Được nuôi dưỡng bởi chó sói” (Raised by Wolves) là một chủ đề rất quen thuộc trong phim ảnh, ca nhạc của các nước Tây Phương. Trong một ca khúc có tựa đề “Được nuôi dưỡng bởi chó sói”, ca nhạc sĩ Bono của nhóm U2 đã nói đến sự độc ác bẩm sinh của con người khi chứng kiến một vụ đặt bom tại Thành phố Dublin, Ái Nhĩ Lan vào năm 1974, ngay lúc ông đạp xe đến trường. Điệp khúc “Được nuôi dưỡng bởi chó sói” cứ được lập đi lập lại như có ý nói lên rằng nếu không được nuôi dạy một cách bình thường, con người không thể phân biệt được thiện ác và như vậy có thể cư xử một cách tàn bạo, độc ác với người đồng loại.
Thánh Mười Một hàng năm, theo truyền thống của Kitô Giáo, là tháng dành để đặc biệt tưởng nhớ người quá cố, suy tư về sự chết và dĩ nhiên thân phận con người. Lời mời gọi của thi sĩ Du Tử Lê “Hãy nói về cuộc đời khi tôi không còn nữa”, đến thật đúng lúc. Không nơi nào dễ gợi lên những suy tưởng về thân phận con người cho bằng nghĩa trang, nhứt là khi đứng trước ngôi mộ của người thân. Có ai đi vào nghĩa trang mà không nghe văng vẳng lời nhắc nhở: “bụi tro trở về bụi tro” (ashes to ashes, dust to dust). Nhớ đến thân phận “bụi tro trở về bụi tro” cũng có nghĩa là ý thức về những giới hạn, bất toàn của mình về thể chất lẫn tinh thần. Kiếp sống mong manh như hoa sớm nở tối tàn đã đành mà tinh thần cũng đầy dẫy những khuyết tật luôn lôi kéo con người chạy theo những bản năng thấp hèn. Do đó, ý thức về kiếp “bụi tro trở về bụi tro” cũng đồng nghĩa với ý thức về đòi hỏi phải khiêm tốn.
Thời trung học, khi học về hai chữ “khiêm tốn” trong một số ngôn ngữ Tây phương (humilitas,humilité, humility), tôi được các giáo sư dẫn giải rằng từ này bắt nguồn từ tiếng La Tinh “humus” có nghĩa là “đất”. Do đó, khiêm tốn cũng có nghĩa là ý thức về nguồn gốc “bởi đất” hay “tro bụi” mà ra của mình. Chính trong ý nghĩa ấy mà thời xa xưa mỗi khi bày tỏ sự sám hối, người Do Thái thường rắc tro trên đầu hay nằm lên tro bụi. Nhưng dù có thuộc truyền thống văn minh nào đi nữa và dù có sử dụng biểu tượng nào đi nữa, cốt lõi của sự khiêm tốn vẫn là  ý thức về thân phận bất toàn của mình và bày tỏ sự hối hận về những lồi lầm của mình, nhứt là khi những lỗi lầm ấy xúc phạm hay làm tổn thương người khác cách này cách khác.
“Hãy nói về cuộc đời khi tôi không còn nữa”, câu thơ thi sĩ Du Tử Lê đã khiến tôi nghĩ đến cái chết của lãnh tụ Baghdadi của “Quốc gia Hồi giáo”. Nghĩ đến người đã bị giết chết, tôi cũng không thể không liên tưởng đến kẻ chiến thắng là Tổng thống Donald Trump. Các cơ quan truyền thông của Mỹ và cả thế giới đã bàn luận rất nhiều về giọng điệu của ông khi loan báo về việc quân đội Mỹ hạ sát ông Baghdadi. Nghe lại giọng điệu huênh hoang và đắc thắng của Tổng thống Trump, tôi lại nghe vọng lại lời ước nguyện  của một trong những vị tướng lãnh tài ba của Hoa Kỳ là ông Douglas MacArthur (1880-1964): “Lạy Chúa, xin làm cho con thành một người con biết hãnh diện và đứng vững trong chiến bại và khiêm tốn và tử tế trong chiến thắng”.
Tôi cũng nghĩ đến đứa cháu ngoại 6 tuổi của bà chị tôi. Một hôm đang lúc ngồi bên cạnh nó, tôi hắt hơi liên tục mấy cái. Thấy tôi cư xử như chẳng hề có chuyện gì đã xảy ra, nó quay sang tôi và nhắc: Ông Mười “say sorry” đi!  Sự nhắc nhở của nó làm tôi nhớ lại cuốn sách có tựa đề “Tất cả những gì tôi thật sự cần biết, tôi đã học ở nhà trẻ” (All I need to know I learned in Kindergaten) của tác giả Robert Fulghum mà tôi đã đọc cách đây rất lâu. Thì ra ở nhà trẻ, người ta đã dạy cho đứa cháu ngoại của bà chị tôi biết “xin lỗi” mỗi khi làm một điều gì đó có thể làm tổn thương hay làm phiền người khác.
Thật ra, không những ngay từ tuổi thơ, mà ở bất cứ giai đoạn nào trong cuộc sống, ai mà chẳng cần phải học sống khiêm tốn trong cách cư xử với người đồng loại của mình. Và đã là học, nhứt là học  làm người thì không bao giờ có ngày mãn khóa.