Chủ Nhật, 27 tháng 1, 2019

Ấn Độ: Phụ nữ Vùng lên!



25/01/19
Vào lúc 3 giờ sáng ngày 2 tháng Giêng vừa qua, bà Bindu Ammini, một giáo sư luật 40 tuổi và bà Kanakadurga Koylandi, một nhân viên chính phủ 39 tuổi, đã bước chân vào bên trong đền thờ Ấn giáo thờ thần Ayyappa tại Sabarimala, Tiểu bang Kerala, miền Nam Ấn Độ. Hai người đàn bà này đã trở thành những người phụ nữ đầu tiên chính thức bước chân vào một đền thờ Ấn Giáo sau khi Tối cao Pháp viện đã đảo ngược luật cấm đàn bà trong tuổi kinh nguyệt, nghĩa là từ 10 đến 50 tuổi, vào trong đền thờ.
Được xây cất vào Thế kỷ 12, với mỗi năm có trên 5 triệu người kính viếng, đền thờ Ayyappa là một trong những trung tâm hành hương lớn nhất thế giới. Trước khi đi chân không vào trong đền thờ, khách hành hương bị buộc phải kiêng cữ việc giao hợp, tránh ăn thịt và da để tôn kính vị thần độc thân Ayyappa.
Kể từ khi Tối cao Pháp viện đưa ra phán quyết, chính quyền của Tiểu bang Kerala cho biết đã có khoảng 4.200 phụ nữ ghi danh đến kính viếng đền thờ Ayyappa. Theo tin chưa được kiểm chứng, kể từ ngày đầu năm đến nay, đã có tất cả 8 người phụ nữ đã đặt chân vào trong đền thờ.
Dĩ nhiên, nhiều nam tín đồ Ấn Giáo đã phẫn nộ. Họ xem cử chỉ của các phụ nữ trên đây như một hành động thách thức. Họ đe dọa sẽ đánh đập các phụ nữ và đuổi họ ra khỏi đền thờ. Sau khi hai bà Bindu và Kanakadurga vào đền thờ, vị giáo sĩ trưởng đã cho đóng lại các cánh cửa của đền thờ như một nghi thức thanh tẩy.
Trên khắp Tiểu bang Kerala, các tín đồ tự cho là bị xúc phạm bởi hành động của các phụ nữ đã xuống đường, đập phá các chiếc xe buýt, đốt các tượng ảnh, ném đá và ngay cả đánh bom vào các ngã đường. Các cuộc bạo động đã làm cho một người chết và hàng trăm người bị thương. Cảnh sát đã bắt giữ gần 6000 người.
Nhiều người Ấn Giáo xem phụ nữ đang có kinh nguyệt như những người dơ bẩn. Tuy nhiên hầu hết mọi đền thờ Ấn Giáo đều cho phép họ vào trong đền thờ với điều kiện họ không ở trong thời kỳ kinh nguyệt. Đền thờ Ayyappa tại Sabarimala là một trong số ít đền thờ tuyệt đối không cho phép phụ nữ còn trong tuổi kinh nguyệt được vào bên trong.
Năm 2006, đáp lại thỉnh nguyện thư của các nữ luật sư, Tối cao Pháp viện Ấn Độ đã tuyên bố rằng đền thời Ayyappa tại Sabarimala đã vi phạm quyền bình đẳng như đã được ghi trong Hiến pháp. Nhưng nhiều nam tín đồ cho rằng 2 bà Bindu và Kanakadurga đã làm hoen ố đền thờ. Trong khi đó chính quyền Tiểu bang Kerala, vốn đang được Đảng Cộng Sản lãnh đạo, thì lại xem 2 bà như những anh hùng.
Tại Ấn Độ, cuộc chiến cho quyền bình đẳng của người phụ nữ diễn ra trên nhiều mặt trận. Năm 2012, sau khi một nữ sinh viên y khoa bị hãm hiếp và tàn sát một cách dã man tại Thủ đô Delhi, rất nhiều người đã tham gia một cuộc biểu tình để yêu cầu chính phủ bảo vệ an toàn cho phụ nữ cũng như ban hành những luật khắt khe hơn về tội hãm hiếp. Năm ngoái, phong trào #MeToo đã lan đến Ấn Độ: các phụ nữ làm việc trong ngành truyền thông, giải trí và học đường yêu cầu chính phủ phải bảo đảm an toàn cho phụ nữ tại nơi làm việc. Nhận ra tầm quan trọng của vấn đề, Thủ tướng Ấn, ông Narendra Modi đã tung ra các chương trình quảng cáo để cam kết nâng cao giáo dục cho phụ nữ và đẩy mạnh việc chăm sóc y tế cho phụ nữ có kinh nguyệt. Tuy nhiên, sau khi một nữ tu tại Kerala lên tiếng tố cáo hành động hãm hiếp của một linh mục công giáo và nhất là sau những biến cố xảy ra tại đền thờ Ayyappa, những người tranh đấu cho quyền của người phụ nữ hiện đang lâm vào trận chiến diễn ra trên một trong những mặt trận cam go nhất là tôn giáo.
Tổng tuyển cử tại Ấn Độ sẽ diễn ra vào tháng Tư và tháng Năm tới đây. Đảng đang cầm quyền hiện nay là Đảng Quốc gia Ấn Giáo Bharatiya Janata gọi tắt là BJP. Trong lịch sử, Đảng này ít có ảnh hưởng tại Tiểu bang Kerala, vốn được xem là một trong những vùng có dân số biết đọc biết viết cao nhất Ấn Độ. Tại tiểu bang này từ lâu nay ba tôn giáo lớn là Ấn Giáo, Hồi Giáo và Kitô Giáo đều “đề huề” với nhau. Nhưng cho rằng việc các phụ nữ đi vào đền thờ Ayyappa là một hành động vi phạm truyền thống Ấn Giáo, những người ủng hộ Đảng BJP đã tìm cách chính trị hóa biến cố này và tìm cách gây ảnh hưởng trong tiểu bang.
Tình hình tại Tiểu bang Kerala có thể sẽ căng thẳng trong những ngày sắp tới. Đảng Cộng sản hiện đang cầm quyền tại tiểu bang. Thống đốc tiểu bang, ông Pinarayi cam kết sẽ triệt để thi hành phán quyết của Tối cao Pháp viện và ra lệnh cho cảnh sát phải bảo vệ các nữ tín đồ đến kính viếng đền thờ Ayyappa. Các đảng liên minh với chính quyền cộng sản, vốn đã từng bị tố cáo là pháo đài của nam tín đồ Ấn Giáo, nay cũng ra mặt ủng hộ phong trào tranh đấu cho quyền của phụ nữ. Ngày mùng Một tháng Giêng vừa qua, chính quyền cộng sản và các đảng trong liên hiệp đã tổ chức một cuộc biểu tình rộng lớn quy tụ khoảng 5 triệu phụ nữ để làm thành một “bức tường phụ nữ”. Đoàn người biểu tình cũng dự trù sẽ tổ chức 2 ngày để khẳng định rằng kinh nguyệt không phải là một điều “dơ bẩn mà là trong sạch”.
Bị cuốn xoáy vào cơn lốc chính trị trong Tiểu bang Kerala, 2 người phụ nữ đã bước chân vào đền thờ Ayyappa bị buộc phải đi lẩn tránh. Sau hai ngày chạy trốn, bà Bindu mới dám gọi điện thoại về thăm chồng và con gái. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho tạp chí Time, chồng bà Bindu nói rằng ông rất hãnh diện về vợ mình. Ông nói rằng vợ ông và bà Kanakadurga đã mở đường cho nhiều người phụ nữ khác để họ bày tỏ niềm tin của mình. Tuy nhiên, về phần mình, bà Kanakadurga lại không được gia đình ủng hộ. Họ đã không nói chuyện với bà kể từ ngày 24 tháng Mười Hai vừa qua khi bà toan bước chân vào đền thờ. Một cảnh sát viên có phận sự canh gác nhà của bà Kanakadurga cho biết gia đình của bà đã nhận được nhiều lời đe dọa giết chết. Họ đã phải đến trú ẩn tại nhà của một người thân. Nhưng cũng như bà Bindu, người nữ viên chức chính phủ này không hề hối hận vì hành động của mình.
Những người chống lại việc người phụ nữ trong tuổi kinh nguyệt được vào đền thờ cũng tìm đủ mọi lý lẽ để biện minh. Sandeep Wachaspati, người điều hành các phương tiện truyền thông của Đảng BJP tại Tiểu bang Kerala, cho rằng phong trào đòi cho phụ nữ trong tuổi kinh nguyệt được vào đền thờ muốn đạp đổ đền thờ và những giá trị của Ấn Giáo mà đền thờ là một biểu tượng.
Dĩ nhiên, không chỉ có những người theo Đảng BJP mới chống lại việc cho phụ nữ trong tuổi kinh nguyệt được vào đền thờ. Nhiều phụ nữ tại Tiểu bang Kerala cũng muốn giữ nguyên trạng, nghĩa là tuân thủ luật cũ trước khi Tối cao Pháp viện đưa ra phán quyết phủ quyết luật này. Chẳng hạn như tổ chức phụ nữ có tên là “Sẵn sàng Chờ đợi (Ready to Wait). Nhóm phụ nữ này chủ trương chờ đợi cho lúc hết thời kỳ kinh nguyệt để được đặt chân vào đền thờ. Họ nói rằng các tòa án không nên can thiệp vào các vấn đề tôn giáo, bởi vì theo họ, “không được đặt chân vào đền thờ chẳng tạo ra bất cứ thiệt hại nào cho thân xác, tinh thần hay ngay cả những mục đích thiêng liêng của người phụ nữ”. Bên cạnh “Sẵn sàng Chờ đợi”, còn có nhiều nhóm phụ nữ khác có chủ trương chống lại việc cho phụ nữ đang trong thời kỳ kinh nguyệt được vào đền thờ. Một nhóm có tên là “Vì Dharma” đã gởi thỉnh nguyện thư lên Tối cao Pháp viện đề yêu cầu duyệt xét lại phán quyết.
Cuộc tranh luận về việc nên hay không nên cho phụ nữ trong tuổi kinh nguyệt được vào đền thờ không chỉ diễn ra trên truyền hình và Quốc hội mà còn trên các phương tiện di chuyển công cộng cũng như trong phòng khách của các gia đình trong Tiểu bang Kerala. Nhiều người phụ nữ không ngừng lập lại rằng rồi đây hình phạt mà bà Kanakadurga phải gánh chịu là bị chồng bỏ. Nhiều người đã chất vấn bà Bindu và Kanakadurga tại sao họ đã liều mạng sống vì quyền của người phụ nữ và tại sao 2 bà đã không dám ngang nhiên sánh bước cùng với các tín đồ khác và nhất là những người chống đối mình để đi vào đền thờ.
Cũng không thiếu người cho rằng 2 người phụ nữ này là công cụ của chính quyền cộng sản trong Tiểu bang Kerala. Người ta đặt vấn đề về động lực hành động của họ. Người ta nghi ngờ về tình trạng sức khỏe tinh thần của họ.
Thật ra, tranh đấu cho người phụ nữ đang trong tuổi kinh nguyệt được quyền đi vào đền thờ không chỉ là đòi sự bình đẳng trong vấn đề tôn giáo. Cuộc tranh đấu chỉ là một trong những khía cạnh của một phong trào rộng lớn hơn nhằm thúc đẩy sự cải tổ xã hội tại Ấn Độ. Trước kia người ta thấy có phong trào tranh đấu cho quyền bình đẳng của những người thuộc giai cấp cùng đinh Dalit. Trong những năm gần đây, người ta bắt đầu đòi hỏi quyền bình đẳng cho người phụ nữ nói chung. Việc tranh đấu cho người phụ nữ được bình đẳng với nam giới trong việc đi vào đền thờ tại tại Sabarimala không chỉ mới diễn ra vào đầu năm nay. Năm 2016, tức cách đây 3 năm, đáp trả thỉnh nguyện thư của một nhà tranh đấu cho nữ quyền, Tòa án Tối cao tại Bombay đã chấm dứt một lệnh cấm đã có từ 400 năm qua để cho phép phụ nữ được đi vào đền thờ Shani Shingnapur. Cũng trong năm đó, sau khi các nhà tranh đấu và phụ nữ Hồi Giáo mở một chiến dịch toàn quốc lấy tên là “Quyền Được Cầu Nguyện”, tòa án đã chấm dứt một lệnh cấm đã có từ lâu để cho phép phụ nữ được vào cung thánh của đền thờ Haji Ali Dargah tại thành phố Mumbai. Trên khắp Ấn Độ, phụ nữ đang đẩy lùi các biên giới xuyên qua các phong trào xã hội và nhất là các cuộc tranh đấu về mặt pháp lý.
Hai bà Bindu và Kanakadurga đã đi lẩn tránh vì hành động tiên phong của họ trong việc đòi hỏi bình đẳng trong việc thực hành đạo. Họ không mong gì hơn là được về nhà, trở lại làm việc và chờ đợi nhiều phụ nữ khác cũng sẽ đi theo bước chân của họ. Bà Kanakadurga nói: “Trong một quốc gia dân chủ như Ấn Độ, ý tưởng cho rằng đàn ông và đàn bà không bình đẳng, cho dù chỉ trong một thời gian nào đó, ở những nơi nào đó hay trong tình huống nào đó, là một điều rất nguy hiểm. Các con trai của tôi - tất cả mọi con cái của chúng ta - đang theo dõi sự việc. Tôi cần phải được về nhà. Chúng cần được lắng nghe câu chuyện của tôi”

(theo:Rohini Mohan, Sacred Mission, tạp chí Time, January 21,2019)

Thứ Ba, 22 tháng 1, 2019

Thông điệp đầu năm




Chu Thập
18/01/19
Tennis không phải là một môn thể thao tôi ưa thích. Lũ trẻ nghèo  chuyên đá banh bưởi trên những gò đất khô cằn nứt nẻ như tôi nhìn vào những sân “quần vợt” như một thế giới hoàn toàn xa lạ. Có ngủ cũng không dám mơ được làm người trưởng giả, mặc quần sọt trắng, áo thun trắng, mang giày ba ta trắng để gọi là đi đánh Tennis. Cho tới ngày nay, tôi cũng chưa một lần bước vào một sân quần vợt nào. Vậy mà bất cứ trận thi đấu nào có mặt danh thủ Roger Federer, tôi luôn thấy mình bị thôi thúc phải xem cho bằng được. Tôi say mê danh thủ này vì lối chơi điệu nghệ của anh. Nhưng chính tư cách của anh mới là điều thu hút tôi nhiều nhứt. Dù chỉ đáng tuổi con của tôi, anh vẫn xứng đáng để tôi tôn lên bậc thày trong trường học làm người. Anh đã dạy tôi nhiều điều. Năm nay anh nhắc lại cho tôi về tầm quan trọng của lòng biết ơn.
Mới đây, nhân dịp đến Melbourne để tham dự Giải Australian Open, danh thủ người Thụy Sĩ này đã dành cho Đài truyền hình CNN của Mỹ một cuộc phỏng vấn qua đó anh đã không cầm được nước mắt khi nhắc đến tên của ông Peter Carter, một huấn luyện viên người Úc đã dẫn dắt anh khi anh mới chập chững bước vào sân đấu.
Ông Carter đã khám phá ra tiềm năng của Federer khi ông đến chơi tại câu lạc bộ Tennis ở Basel, Thụy Sĩ. Federer cho biết chính người thày này đã dạy cho anh kỹ thuật mà dần dần anh đã phát huy thành ngón nghề riêng của anh. Rất tiếc là năm 2002, khi Federer được đưa lên đỉnh cao của nghệ thuật chơi tennis và danh vọng, Carter đã qua đời trong một tai nạn giao thông tại Nam Phi.
Nói chuyện với phóng viên của đài CNN, Federer đã không cầm được nước mắt khi nhớ lại người huấn luyện viên đã để lại một dấu ấn sâu đậm trong cuộc đời và sự nghiệp của anh. Anh nói: “Peter (Carter) thực sự là một người quan trọng trong cuộc đời của tôi. Nếu tôi phải nói lên lòng biết ơn vì kỹ thuật mà tôi có được ngày hôm nay, thì người tôi mang ơn chính là Peter”. Federer cho biết khi hay tin thày mình qua đời, anh xem đó như một “tiếng gọi” thôi thúc anh phải gia tăng tập luyện. Cứ có dịp là anh nhắc lại công ơn của người thày của mình.
Khi đến Úc tham gia Giải Australian Open hồi năm 2017, Federer đã khẳng định: “Về kỹ thuật của tôi, Peter Carter là người có ảnh hưởng lớn nhứt.” Anh giải thích rằng chính anh là người đã kiện toàn kỹ thuật và lối chơi nhẹ nhàng uyển chuyển của anh. Nhưng theo anh, Peter Carter mới là người đặt nền móng cho kỹ thuật ấy.
Để bày tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với người đã từng dẫn dắt mình ở bước đầu, cứ mỗi lần đến Úc để thi đấu, Federer đều mời cha mẹ của người quá cố đến tham dự. Anh nói rằng cha mẹ của Peter Carter là những người rất quan trọng đối với anh.
Trên sân đấu cũng như trong đời thường, Federer lúc nào cũng cư xử đẹp. Khi bày tỏ lòng biết ơn, anh cũng thể hiện một nét cao đẹp khác trong nhân cách là sự khiêm tốn. Thật vậy, biết ơn không chỉ có nghĩa là biết mình mắc nợ với người khác, mà chính là nhận biết những giới hạn của mình. Ngày xưa khi chập chững cắp sách đến trường, có học sinh nào mà không học thuộc lòng câu “không thày đố mày làm nên”. Dù có là thiên tài đi nữa, có ai mà không cần một hay nhiều người thày trong cuộc đời. Biết ơn và khiêm tốn là đôi cánh giúp con người bay lên trong sự trưởng thành nhân cách. Tôi học được điều đó qua cách cư xử của danh thủ Federer.
Vào khoảng thập niên 1960, tại Hoa Kỳ, người ta thấy rộ lên trong tâm lý học một trào lưu kêu gọi nuôi dưỡng và phát huy lòng tự tin. Các cuộc nghiên cứu trước đó đã khám phá ra rằng những người có lòng tự tin, nghĩa là nghĩ “cao” và nghĩ “tốt” về mình thường thành công trong cuộc sống và ít gặp vấn đề hơn người khác. Thời đó, nhiều nhà nghiên cứu và hoạch thảo chính sách tin rằng nâng cao lòng tự tin của dân chúng sẽ giúp tạo ra được nhiều lợi ích về mặt xã hội như giảm bớt tội ác, kết quả học tập tốt, có việc làm tốt, ít thiếu hụt tài chính v.v...
10 năm sau, tức thập niên 1970, trào lưu thúc đẩy và nuôi dưỡng lòng tự tin được dạy cho các bậc phụ huynh, được các nhà tâm lý trị liệu, các chính trị gia và các nhà giáo dục nhìn nhận và biến thành một chính sách giáo dục. Người ta khuyến khích các nhà giáo dục bằng mọi cách phải xiển dương lòng tự tin nơi học sinh. Nếu học sinh do lười biếng hoặc vì những lý do nào đó mà không đạt được điểm cao, hãy nâng điểm của các em lên. Làm như thế sẽ giúp cho các học sinh dở cảm thấy ít mặc cảm hơn. Học sinh cũng được khuyến khích để nêu lên những lý do tại sao các em cảm thấy mình là người đặc biệt. Bên cạnh đó, các nhà lãnh đạo tinh thần cũng không ngừng rao giảng cho các tín hữu rằng trong con mắt của Thiên Chúa, họ là những con người độc nhứt vô nhị, được mời gọi để trở thành những con người xuất chúng phi thường, chứ không chỉ là hạng trung bình. Người ta đua nhau tổ chức các cuộc hội thảo để rêu rao câu “thần chú”: bất cứ ai cũng đều có thể là một người ngoại hạng và thành công vượt bực!
Phát huy và nuôi dưỡng lòng tự tin đã trở thành một phong trào trong xã hội Mỹ. Nó đã trở thành gần như một niềm tin tôn giáo và một phần của văn hóa Mỹ: ai cũng phải tin rằng mình có thể là một người ngoại hạng xuất chúng. Những người có tiếng tăm trong xã hội đều kêu gọi như thế. Những nhà tài phiệt cũng nhắn nhủ như thế. Các chính trị gia cũng không ngừng rêu rao điều đó. Ngay cả nữ hoàng hội thoại Oprah cũng lập lại điều đó: mỗi người đều có thể là một người phi thường. Tất cả mọi người đều xứng đáng để trở thành vĩ đại (x. Mark Manson, The Subtle Art of Not Giving a F*CK, Pan Macmillan Australia Pty Ltd 2016, trg 41-60).
Khẩu hiệu “Make America Great Again” (Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại) cũng gợi lên cho tôi trào lưu ấy. Tự nhận mình là người bị bắt nạt nhiều nhứt trên thế giới, đệ nhứt phu nhân Melania Trump cũng đã tung ra một chiến dịch lấy tên là “Be Best” với mục đích khuyến khích trẻ em Mỹ hãy xem mình là “nhứt”, là ngoại hạng trong con đường riêng của mình.
Quả thật, Hoa Kỳ là một quốc gia vĩ đại. Nước này có rất nhiều người vĩ đại. Nhưng kể từ thập niên 60 đến nay, đâu phải mọi người Mỹ đều là những Bill Gates, những Martin Luther King...Thật ra nếu ai cũng đều là ngoại hạng, phi thường và “nhứt” (best) hết thì  ai sẽ là hạng “trung bình”.
Thời trai trẻ, tôi cứ tưởng mình “phải có công gì với núi sông”. Thế rồi, tuổi đời càng chồng chất, thất bại muôn mặt trong cuộc sống ập phủ xuống...tôi càng hiểu và chấp nhận những giới hạn và bất toàn của mình. Sức khỏe của tôi ngày càng giảm sút. Não bộ của tôi là một bộ máy kém hữu hiệu nhứt. Nhớ trước quên sau. Lý luận không tới nơi tới chốn. Làm những quyết định hời hợt thiếu suy nghĩ. Nhìn người và nhận định về cuộc sống một cách chủ quan hoặc đầy thành kiến. Ngày nay, ngay cả khi thế giới đang cung cấp cho tôi tất cả mọi phương tiện để trở thành phi thường hay ngoại hạng, tôi vẫn thấy mình hoàn toàn bất lực. Mạng lưới Thông tin Toàn cầu, Google, Facebook, YouTube và hàng trăm hệ thống truyền thông hiện đại trước mắt có vẻ dễ như trở bàn tay với ngay cả những đứa bé chưa thực sự cắp sách đến trường lại là những vũ trụ bí hiểm của tôi. Sự tập trung và chú ý của tôi cũng có giới hạn. Tôi không thể tiêu thụ hay tiêu hóa tất cả mọi thức ăn được bày ra trước mặt. Nói chung, kỹ thuật của thời đại chỉ làm cho tôi cảm thấy choáng ngợp và ý thức hơn về những giới hạn và bất toàn của mình. Tôi biết rằng dù cho có sống thêm nhiều năm nữa thì tôi cũng không thể nào bắt kịp những tri thức được coi như thông thường của thời đại này. Mỗi lần cái máy vi tính tôi dùng để viết bài hay cái băng tầng “internet” trở chứng là những lúc tôi “thấm thía” cái giới hạn của mình. Xét cho cùng, tôi chỉ là một thứ ốc đảo bơ vơ ngày càng lùi vô quá khứ. Không nói đến nỗi cô đơn hiện sinh mà ai cũng đang gậm nhấm trong sâu thẳm của cõi lòng, có lúc nào mà tôi không cảm thấy mình cần có người khác. Có ai mà một cách nào đó không là thày của tôi. Tôi mang ơn biết bao nhiêu người.
Mỗi dịp đầu năm, tôi thường lắng nghe các thông điệp của các nhà lãnh đạo chính trị và nhứt là tôn giáo. Thường họ cũng chỉ lập lại những lời sáo rỗng. Năm nay, tôi đón nhận việc danh thủ Federer bày tỏ lòng biết ơn với người huấn luyện viên cũ của mình như một thông điệp đầu năm.
Ở khởi đầu một năm mới, người ta thường làm một số quyết tâm. Hơn ai hết có lẽ hầu như nhà lãnh đạo quốc gia nào cũng có những quyết tâm đầu năm. Chính vì vậy mà nhà viết bỉnh bút nổi tiếng của tạp chí Time là ký giả Ian Bremmer mới ngồi nghĩ ra một số quyết tâm của các nhà lãnh đạo thế giới. Chẳng hạn, trong số ra ngày 14 tháng Giêng vừa qua, Ian Bremmer đã viết giùm cho Tổng thống Donald Trump những lời quyết tâm như: “Tôi quyết tâm phải thắng trong cuộc chiến thương mại với Trung Cộng là nước đang giở trò gian lận với chúng ta, sẽ xóa bỏ chính sách y tế Obamacare, sẽ xây một bức tường biên giới lớn và đẹp, sẽ cắt giảm thuế cho mọi người....sẽ ký sắc lệnh hoàn toàn ngăn cấm không cho người Hồi giáo được vào Hoa Kỳ...sẽ không đi nghỉ, sẽ không chơi golf, sẽ nói với mọi người rằng không hề có Toa rập (Collusion với Nga), sẽ làm cho Nước Mỹ vĩ đại trở lại và sẽ xuống 3 cân Anh. Cũng như năm ngoái thôi”.
Cũng như mọi người, năm nào tôi cũng làm một số quyết tâm và cũng như mọi năm, lần nào tôi cũng lập lại câu “cũng như năm ngoái thôi”.
Không biết năm nay tôi có nên lập lại danh sách những quyết tâm đầu năm của những năm trước không. Nhưng ngẫm nghĩ về “thông điệp đầu năm” của  “ông thày” Federer, năm nay có lẽ tôi chỉ xin quyết tâm một điều: cố gắng mỗi ngày nuôi dưỡng và nói lên lòng biết ơn với mọi người. Biết ơn mọi người để ý thức hơn về những giới hạn, bất toàn và khuyết điểm của mình. Biết mình hơn để khiêm tốn hơn và khiêm tốn hơn để dễ dàng cảm thông hơn với người khác. Và cảm thông hầu mới mong có được cuộc sống an bình và hài hòa với mọi người như nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng là Đức Đạt Lai Lạt Mã từng dạy: “Cảm thông là yêu thương. Cảm thông mang lại an bình và cùng với an bình là sức khỏe. Hãy trân quý sự cảm thông”.






Thứ Hai, 21 tháng 1, 2019

2019: lịch sử đang trở lại!



18/01/19
Nhà văn Mỹ đã từng đoạt giải Nobel Văn Chương là ông Eugene Gladstone O’Neill (1888-1953) có để lại một câu nói nổi tiếng: “There is no present or future, only the past happening over and over again” (không có hiện tại hay tương lai, mà chỉ có quá khứ cứ lập đi lập lại không ngừng).
Nếu nhìn vào những gì đang diễn ra trên thế giới trong năm 2019 này, người ta sẽ thấy lời tiên tri của nhà văn O’Neill đang trở thành hiện thực.
Bóng ma của những cuộc chiến tranh khủng khiếp trong quá khứ như đang nhập thể trở lại. Hãy nhìn vào mối đe dọa của Bắc Hàn. Quốc gia Cộng sản này hiện đang có trong tay một kho vũ khí hạt nhân đủ để nhận chìm một phần thế giới vào biển lửa. Hỏa tiễn của nước này có đủ khả năng để bay tới Hoa Kỳ và Úc Đại Lợi. Sau cuộc họp thượng đỉnh giữa Chủ tịch Bắc Hàn Kim Jong-un và Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump, một cuộc gặp gỡ vốn được 2 bên rêu rao như một biến cố lịch sử chưa từng có, Bắc Hàn không những giữ nguyên kho vũ khí hạt nhân của mình, mà còn tiếp tục phát triển những vũ khí mới kèm theo những lời đe dọa đáng sợ hơn.
Nhưng có lẽ mối đe dọa của quốc gia cộng sản côn đồ Bắc Hàn vẫn không đáng sợ cho bằng cuộc chạy đua vũ trang hiện nay của hai siêu cường nguyên tử là Nga và Hoa Kỳ: một cuộc chiến tranh lạnh mới đã thực sự bắt đầu!
Thế giới đang bị đe dọa không chỉ vì cuộc chiến tranh lạnh mới giữa Nga và Mỹ hay kho vũ khí hạt nhân của Bắc Hàn. Tình hình thế giới cũng bấp bênh không kém vì mối căng thẳng giữa một số nước đang có vũ khí hạt nhân ở Á Châu. Năm 2017 vừa qua, hai nước cựu thù là Ấn Độ và Trung Cộng, 2 quốc gia có đông dân số nhất thế giới, đã từng lăm le tấn công nhau vì xích mích tại một biên giới ở Bhutan. Không riêng với Trung Cộng, mối quan hệ của Ấn Độ và Pakistan, một quốc gia láng giềng hiện cũng đang có trong tay vũ khí hạt nhân, cũng căng thẳng không kém.
Tại Trung Đông, cuộc chiến ở Syria vẫn đang tiếp diễn. Viễn ảnh hòa bình xem ra ngày càng mờ mịt. Các trại tỵ nạn đã không còn chỗ để chứa người di tản. Cũng như người Việt Nam đã trốn chạy chế độ cộng sản sau năm 1975, người dân Syria cũng liều mạng trèo lên những chiếc thuyền mong manh để vượt biển khơi với hy vọng tìm được an toàn ở bất cứ bến bờ nào họ trôi dạt tới.
Cuộc xung đột tại Syria ngày càng tồi tệ, nhưng cuộc chiến tại Yemen lại càng thê thảm hơn. Bị xâu xé giữa hai cường quốc Hồi giáo là Iran và Á Rập Saudi, Yemen đã biến thành một bãi chiến trường dẫn đến một cuộc khủng hoảng nhân đạo chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Theo ước tính của Liên Hiệp Quốc, trong 3 năm vừa qua, đã có khoảng 85.000 trẻ em dưới 5 tuổi bị chết đói! Hình ảnh của những đứa trẻ chỉ còn da bọc xương không thể không gợi lại nạn đói khủng khiếp tại Ethiopia hồi thập niên 1980. Ngày đó, cả thế giới đã rúng động trước những hình ảnh khủng khiếp của nạn đói. Các ca sĩ thượng thặng của thế giới đã góp giọng để kêu gào và đánh động trái tim của nhân loại. Các chính phủ đã bắt tay nhau và quyết tâm không để cho một thảm kịch như thế tiếp diễn.
Nhưng lịch sử cứ lập lại một cách tàn nhẫn. Ngay lúc này đây, Liên Hiệp Quốc khẳng định rằng Yemen hiện đang phải đối diện với thảm họa nhân đạo lớn nhất của Thế kỷ 21: 14 triệu người đang có nguy cơ chết đói!
Bên cạnh nạn đói do chiến tranh tạo ra, thế giới lại còn phải đương đầu với một cuộc chiến khác dường như không bao giờ kết thúc là cuộc chiến chống khủng bố. Đã hơn 18 năm kể từ cuộc khủng bố tại Hoa Kỳ ngày 11 tháng Chín năm 2001, nay cuộc chiến chống khủng bố như chỉ mới bắt đầu. Chẳng còn nơi nào trên thế giới này được xem là an toàn. Từ London, Brussels, Paris...đến Nairobi ở Phi Châu, Jakarta ở Nam Dương và Sydney ở Úc Đại Lợi,  nơi nào cũng đều có thể là điểm nhắm của các tổ chức khủng bố.
Không bị khủng bố trực tiếp đe dọa, nhưng Ukraine cũng không ở yên trước sự đe dọa trắng trợn của Nga. Thế giới tự do đã tỏ ra hoàn toàn bất lực trước những hành động ngang tàng và bạo ngược của Nga.
Đệ nhứt Thế chiến đã chấm dứt cách đây vừa đúng 100 năm và Đệ nhị Thế chiến cũng đã kết thúc hơn 70 năm qua. Nếu tính từ Đệ nhị Thế chiến đến nay, mặc dù có chiến tranh lạnh và cuộc chiến đẫm máu có diễn ra tại một vài nơi trên thế giới,  nhưng có lẽ chưa bao giờ nhân loại hưởng được một nền hòa bình lâu dài như thế. Nhưng nay dường như lịch sử đang trở lại. Bóng dáng của chiến tranh đang lấp ló ở đâu đó.
Với cuộc chạy đua vũ trang hiện nay, Hoa Kỳ và Nga đang đi vào một cuộc chiến tranh lạnh mới. Nhưng nỗi lo sợ lớn nhất hiện nay vẫn là một cuộc chiến tranh có thể xảy ra bất cứ lúc nào giữa hai siêu cường kinh tế lớn nhất thế giới là Hoa Kỳ và Trung Cộng. Bất cứ một cuộc đụng độ nào giữa 2 siêu cường này cũng đều là một đại họa cho toàn thế giới. Mặc dù hai bên đều tuyên bố sẽ bằng mọi cách tránh chiến tranh, nhưng trong thực tế hiện nay cả hai bên đều chuẩn bị tư thế sẵn sàng ứng chiến.
Hồi năm 2015, tổ chức phi lợi nhuận “The Rand Corporation”, chuyên nghiên cứu về chiến lược toàn cầu, đã gởi cho Quân đội Mỹ một bản phúc trình có tựa đề “War with China. Thinking Through the Unthinkable” (Chiến tranh với Trung Cộng. Suy nghĩ về điều không thể ngờ được). Bản phúc trình kết luận rằng nếu chiến tranh xảy ra chắc chắn Trung Cộng sẽ chịu nhiều thiệt hại hơn Hoa Kỳ. Tuy nhiên, bản phúc trình lại cảnh cáo rằng với sức mạnh quân sự ngày càng gia tăng và cải tiến, Trung Cộng có thể tạo ra một cuộc chiến hủy hoại lâu dài.
Ngày nay, ai cũng nhận thấy rằng nếu chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng có xảy ra thì bãi chiến trường chính chỉ có thể là Biển Đông.
Kể từ năm 1974 đến nay, sau khi đã ngang nhiên chiếm lấy Hoàng Sa của Việt Nam, Trung Cộng áp đặt chủ quyền của mình lên toàn bộ Biển Đông và xem đây như ao nhà của mình. Nhiều đảo trong vùng biển này, vốn trước đây đã từng là vùng tranh chấp giữa nhiều nước Đông Nam Á, nay đã bị Trung Cộng quân sự hóa. Nhiều phi đạo dành cho Không lực của Trung Cộng đã được thiết lập. Các loa phóng thanh được bắt dày đặc trên các đảo này lúc nào cũng phóng ra những lời cảnh cáo đối với các tàu bè nước ngoài nào đi gần những hòn đảo đã được quân sự hóa ấy.
Trong năm 2018 vừa qua, đã có lúc thế giới gần như đứng tim khi tàu chiến của Hoa Kỳ và Trung Cộng tiến đến tư thế gần như muốn đụng độ nhau trên Biển Đông.
Trung Cộng hiện đang củng cố sức mạnh quân sự của họ. Ngân sách dành cho quốc phòng của Trung Cộng đứng hàng thứ 2 trên thế giới chỉ sau Hoa Kỳ. Hiện quốc gia cộng sản khổng lồ này đang phát triển phi cơ chiến đấu có khả năng tấn công các tiềm thủy đĩnh và  hỏa tiễn liên lục địa. Trung Cộng cũng đang cho thiết lập điều mà họ gọi là “Vạn lý Trường thành dưới biển”.
Chuyên gia phân tách lão thành của Học viên Chính sách Chiến lược của Úc là ông Malcolm Davis khẳng định rằng với những tiến bộ khoa học và kỹ thuật hiện nay, Trung Cộng “khiến cho quân lực của Hoa Kỳ sẽ gặp nhiều khó khăn mỗi khi muốn can thiệp vào một cuộc khủng hoảng trong Biển Đông”.
Chuyên gia này cảnh cáo rằng về khả năng quân sự, Trung Cộng có thể “cỡi lên lưng Hoa Kỳ”. Hoa Kỳ đã nhận ra mối đe dọa ấy. Năm ngoái, Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ đã cập nhật chiến lược quốc phòng và nêu đích danh Trung Cộng và Nga là hai mối đe dọa lớn nhất cho quyền lợi của Hoa Kỳ. Bộ Quốc Phòng Mỹ khẳng định: “Ngày càng có nhiều dấu hiệu rõ ràng cho thấy Trung Cộng và Nga muốn hình thành một thế giới phù hợp với mô hình độc tài của họ”. Với chiến lược mới, Bộ Quốc Phòng Mỹ kêu gọi thay vì chú tâm vào cuộc chiến chống khủng bố, hãy dồn mọi nỗ lực vào việc đối đầu với mối đe dọa của Trung Cộng và Nga. Tướng Jim Mattis, người vừa đệ đơn từ chức Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, đã từng kêu gọi phải “cấp tốc thay đổi” chiến lược để sẵn sàng ứng chiến.
Chủ tịch Tập Cận Bình đang cai trị Trung Cộng chẳng khác nào một hoàng đế. Sau Mao Trạch Đông, họ Tập được xem là người quyền thế nhất tại Trung Cộng. Thật ra, Tập Cận Bình còn tỏ ra nhiều quyền lực hơn cả Mao Trạch Đông, bởi vì ông hiện đang lãnh đạo một quốc gia, theo một số thước đo nào đó, có thể là nền kinh tế mạnh nhất thế giới.
Là con của một đảng viên Cộng sản, họ Tập luôn đặt Đảng lên trên mọi sự. Ông đàn áp mọi nhà bất đồng chính kiến, giam tù các đối thủ chính trị, bịt miệng mọi cơ quan truyền thông và các nhà tranh đấu cũng như tìm cách tiêu diệt sắc tộc Duy Ngô Nhĩ tại Tân Cương.
Năm vừa qua, với lời hứa hẹn sẽ hoàn thành “Giấc mơ Trung hoa”,  ông đã tự phong cho mình làm chủ tịch mãn đời. Trong lịch sử nhân loại, có lẽ chưa có nhà độc tài nào đáng sợ cho bằng Tập Cận Bình.
Nhìn vào các diễn tiến trên thế giới hiện nay, có lẽ cũng như nhà văn Eugene O’Neill, các sử gia đều cho rằng quá khứ đang trở lại.
Vào năm 1914, có ai nghĩ rằng Đệ nhứt Thế chiến sẽ xảy ra. Đức và Anh đang là những đối tác thương mại quan trọng. Quốc vương Anh và Thủ tướng Đức là anh em cô cậu hay chú bác với nhau. Có ai ngờ rằng chiến tranh sẽ xảy ra. Nhìn lại Đệ nhứt Thế chiến, sử gia Úc Sir Christopher Clarke đã gọi các lãnh tụ của thời đó là “Những Kẻ Mộng Du”. Chỉ vì cái chết của một hoàng tử kế vị trên ngai vàng Áo-Hung mà “cuộc chiến để chấm dứt mọi cuộc chiến” đã bùng nổ, sát hại cả 50 triệu người trên thế giới.
Ngày nay, với tham vọng không đáy của một Tập Cận Bình, với sự hung hãn của một Putin, với thái độ côn đồ của một Kim Jong-un và dĩ nhiên với sự bốc đồng và không lường trước được của một Donald Trump, chuyện gì cũng có thể xảy ra cho thế giới. Biển Đông hiện đang là nơi dậy sóng với một bên là Trung Cộng và bên kia là Hoa Kỳ, các nước còn lại bị buộc phải theo bên này hay bên kia.
Kịch bản cho cục diện thế giới có lẽ đã được kịch tác gia Hy Lạp Thucydides viết ra năm 400  trước Công nguyên. Đây là thời điểm xảy ra cuộc chiến giữa Athens và Sparta. Ngày nay rất nhiều nhà chiến lược quân sự cảnh cáo về điều mà họ gọi là “Chiếc Bẫy sập của Thucydides”: một cường quốc đang lên muốn đối đầu với sức mạnh của một cường quốc đang đi xuống và sẵn sàng gây chiến để làm bá chủ. Sự vươn lên của một Athens đã tạo ra nỗi lo sợ cho Sparta. Và đó chính là điều khiến cho chiến tranh không thể tránh được.
Năm 1989, tức cách đây 30 năm, khi chứng kiến sự sụp đổ của các chế độ cộng sản tại Đông Âu và kế đó là sự cáo chung của chủ nghĩa cộng sản tại cái nôi của nó là Nga, một nhà chính trị học Mỹ nổi tiếng là ông Francis Fukuyama đã viết một cuốn sách với tựa đề “The End of History and the Last Man” (Lịch sử đã kết thúc và Người cuối cùng). Trong tác phẩm, ông Fukuyama biện luận rằng các chế độ độc tài đã bị đánh bại, nền dân chủ tự do, chủ nghĩa tự bản và kinh tế thị trường là điểm đến tất yếu trong sự tiến hóa văn hóa xã hội của nhân loại. Theo ông, “Lịch sử đã kết thúc”, “chiến tranh” sẽ chỉ còn là một phạm trù của quá khứ.
Nhưng liệu những gì đang diễn ra trong năm 2019 có cho phép thế giới chia sẻ niềm lạc quan của ông Fukuyama không? Phải chăng lịch sử đã không kết thúc, mà đang trở lại với bộ mặt còn đẫm máu hơn?

(Theo:https://www.abc.net.au/news/2019-01-01/stan-grant-2019-the-end-of-history/10675572)




Thứ Ba, 25 tháng 12, 2018

Giã từ bóng tối


Chu Thập
21/12/18
Mỗi năm, cứ bước vào tháng Mười Hai, tôi lại nhớ về trại tỵ nạn Kuku, bên Nam Dương. Chính trong trại này mà tôi đã mừng một lễ Giáng Sinh có ý nghĩa nhứt trong cuộc đời.
Tôi vượt biên vào cuối năm 1981. Khi được tàu dàn khoan vớt và đưa vào trại Kuku, tôi chỉ còn mang trên người mỗi chiếc quần đùi. Kuku là một trại tỵ nạn dã chiến. Người tỵ nạn chỉ dừng chân ở đó một thời gian ngắn. Dài nhứt như trường hợp của tôi là một tháng. Sở dĩ tôi được “may mắn” lưu lại ở đây lâu hơn nhiều người là vì cuối năm, chiếc tàu chuyên chuyển người tỵ nạn từ Kuku sang trại chính là Galang phải nghỉ lễ Giáng Sinh và Năm Mới. Tôi cho đây là một điều “may mắn”, bởi vì sau khi thoát khỏi địa ngục trần gian là Việt Nam dưới thời cộng sản, tôi nhìn Kuku chẳng khác nào thiên đàng. Ở đó, trong nguyên một tháng, suốt ngày tôi chỉ biết tắm biển, rong chơi. Cứ đêm đến lại mơ bị công an rượt đuổi, nhưng bừng tỉnh thấy mình đang sống trong thiên đàng. Chỉ có những ai trải qua những cơn ác mộng như thế mới cảm nhận được thế nào là tự do. Tự do để không còn phải nhìn trước ngó sau mỗi khi muốn phát biểu ý kiến. Tự do để không vì muốn tồn tại trong chế độ dối trá mà có lúc cũng phải bán linh hồn cho ma quỷ để móc ngoặc, mánh mung, lừa dối. Bước vào “thiên đàng” Kuku với một mảnh vải vừa đủ để giữ kín những gì cần phải che đậy trên thân thể, tôi cho đây là hình tượng đích thực của giải phóng và tự do. Bước vào “thiên đàng” Kuku tôi đã cởi bỏ xiềng xích của dối trá mà chế độ cộng sản đã buộc vào thân thể tôi hoặc chính tôi đã tự tròng vào người. Lễ Giáng Sinh năm 1981 trong trại Kuku, với tôi là lễ Giáng Sinh có ý nghĩa nhứt trong cuộc đời của tôi, bởi vì kể từ năm đó, cứ mỗi mùa Giáng Sinh trở về, tôi luôn tự nhắc nhở phải tái sinh không ngừng, phải sống chết cho hai chữ tự do đích thực mà mình đã phải mua lấy bằng chính sự sống của mình.
Giáng Sinh năm nay, khi đọc tạp chí Time với số ra cuối năm 2018, tôi lại càng hiểu và ý thức hơn về giá trị của hai chữ tự do. Thật vậy, sau khi cân nhắc trước một danh sách dài những người nổi tiếng và có một ảnh hưởng lớn, tốt cũng như xấu, đối với thế giới, cuối cùng ban biên tập của tạp chí Time đã chọn những người mà họ gọi là “những người bảo vệ” sự thật (The Guardians). Cũng như người được tạp chí Time bầu chọn làm nhân vật của năm vừa qua 2017 là “những người phá vỡ sự thinh lặng” (the silence breakers), tức những người đã dám lên tiếng nói lên sự thật, thì năm nay “những người bảo vệ” sự thật cũng chính là những người dám liều mạng sống của mình để chỉ nói lên sự thật. Một cách chính xác hơn, “những người bảo vệ” sự thật được tạp chí Time tuyên dương là 4 ký giả mà tên tuổi đã thường được thế giới nhắc tới trong năm 2018. Trước hết là ông Jamal Khashoggi, một ký giả người Á rập Saudi, cộng tác viên của báo The Washington Post đã bị sát hại một cách dã man ngay trong Tòa tổng lãnh sự của Vương quốc Á Rập Saudi tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ ngày 2 tháng Mười vừa qua. Những chi tiết của cuộc hành quyết như được ghi lại cho thấy chưa từng có một cuộc sát hại nào lại xảy ra trong một cơ sở ngoại giao và một cách độc ác dã man như thế. Như tạp chí Time đã nhận định, “cái chết của ông đã phơi trần bản chất đích thực của một thế tử luôn mỉm cười và tính vô luân cực độ của liên minh giữa Á rập Saudi và Hoa Kỳ”, một quốc gia đang được lãnh đạo bởi một ông tổng thống đặt tiền bán khí giới lên trên những giá trị đạo đức. Ký giả Kamal Khashoggi đã chết vì hai chữ tự do, tự do để nói lên sự thật.
Người thứ hai được tạp chí Time chọn vào nhóm nhân vật của năm 2018 là nữ ký giả người Phi Luật Tân 55 tuổi Maria Ressa. Bà Ressa đã sáng lập báo mạng lấy tên là Rappler. Rappler được ghép bởi hai từ tiếng Anh là “rap” nghĩa là thảo luận và “ripple” nghĩa là tạo nên những làn sóng. Kể từ khi chính trị gia dân túy Rodrigo Duterte được bầu làm tổng thống, Rappler đã theo dõi, tường thuật và vạch trần sự tàn độc dã man của cuộc chiến chống ma túy do ông Duterte khởi xướng. Theo Tổ chức Theo dõi Nhân quyền Human Rights Watch, tính đến nay đã có khoảng 12.000 người bị giết chết trong cuộc chiến này, phần lớn trong những vụ thủ tiêu thường được gọi là “giết người không cần xét xử”. Dĩ nhiên, một người xem trời bằng vung trong quốc gia hải đảo Phi Luật Tân như ông Duterte không thể để yên cho bất kỳ một ký giả nào dám phơi bày sự thật về tội ác của mình. Chính vì vậy mà tháng Mười Một vừa qua, ông đã tố cáo báo mạng Rappler của bà Ressa mà ông không ngừng gọi là báo đưa tin giả (fake news) về tội trốn thuế. Với tội danh này bà Ressa có thể bị giam tù đến 10 năm. Nói về mối đe dọa tù đày vì nói lên sự thật, người ký giả đã từng làm phóng viên của Đài CNN, cho biết: “Tôi đã từng là một phóng viên chiến trường. So ra dễ hơn với những gì mà tôi đang đối phó”. 10 năm tù có thể là một bản án tương đối nhẹ trong một quốc gia được cai trị bởi một nhà lãnh đạo có khuynh hướng độc tài muốn cai trị bằng bàn tay sắt và muốn giết ai thì giết như ông Duterte. Nhưng có lẽ cũng như ký giả Kamal Khashoggi, bà Ressa dường như lúc nào cũng sẵn sàng sống chết cho tự do được nói lên sự thật.
Năm 2018 vừa qua, thế giới đã đặc biệt theo dõi thảm kịch của sắc dân Rohingya tại Miến Điện. Chính vì vậy mà tạp chí Time đã đưa lên hàng đầu danh sách “những người bảo vệ” sự thật 2 phóng viên của hãng thông tấn Reuters là Kyaw Soe Oo và Wa Lone. Hai ký giả này đã bị chính phủ do một người đã từng được trao giải Nobel Hòa Bình là Aung San Suu Kyi lãnh đạo, kết án 7 năm tù vì tội gọi là phơi bày sự thật về hành động diệt chủng của Chính phủ Miến đối với sắc dân Rohingya. Bà Chit Su Win, vợ của ông Kyaw Soe Oo nói rằng ông hăng say làm công việc, tức trình bày sự thật, đến nỗi bà không thể ngăn cản ông được. Nói cho cùng, cũng như ông Jamal Khashoggi và bà Maria Tessa, 2 nhà báo người Miến này, dù có biết những nguy hiểm đang chờ đợi mình, vẫn thách thức chế độ để nói lên sự thật.
4 ký giả trên đây là 4 nhân vật tiêu biểu của một danh sách dài những người mà tạp chí Time gọi là “những người bảo vệ” sự thật.
Tại Bangladesh, tạp chí Time nhắc đến nhiếp ảnh gia Shahidul Alam. Ông này bị giam tù hơn 100 ngày vì tội gọi là đưa ra những lời tuyên bố “giả hiệu” và “khiêu khích” sau khi đã phê bình Thủ tướng Sheikh Hasina trong một cuộc phỏng vấn về một cuộc biểu tình tại Thủ đô Dhaka. Tại Sudan, nhà báo tự do Amal Habani đã bị bắt giữ vì tường thuật những cuộc biểu tình phản đối về chính sách kinh tế của chính phủ. Trong 34 ngày bị giam giữ, nhà báo này đã bị đánh đập và tra tấn bằng điện. Tại Ba Tây, phóng viên Patricia Campos Mello bị đe dọa đến tính mạng sau khi tường thuật rằng những người ủng hộ tổng thống dân túy Jair Bolsonaro đã tài trợ cho một chiến dịch phổ biến những tin giả trên các trang mạng xã hội. Tại Hong Kong, chủ bút của báo The Financial Times, ấn bản Á Châu, đã bị buộc phải rời cựu thuộc địa của Anh này sau khi mời một nhà tranh đấu nói chuyện tại một câu lạc bộ báo chí, trái với ý muốn của Chính phủ Trung Cộng. Trong danh sách dài “những người bảo vệ” sự thật, tạp chí Time cũng không quên nhắc tên và in hình của nhà bất đồng chính kiến Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, người còn được biết đến với tên Mẹ Nấm. Năm 2017, nhà báo chuyên viết Blog này đã bị chế độ cộng sản kết án 10 năm tù vì tội gọi là “tuyên truyền chống nhà nước”. Tháng Mười vừa qua, Mẹ Nấm đã được trả tự do và được cho sang Mỹ. Trong một tuyên bố được tạp chí Time ghi nhận, “người bảo vệ” sự thật này chia sẻ: “Tôi sợ hãi vô cùng và quyết định giữ thinh lặng. Nhưng sau đó, tôi nhận ra rằng...nếu tôi biết là tôi sợ vậy thì tôi phải đứng lên và làm đúng điều tôi muốn làm”. Mẹ Nấm là đại diện của vô số nhà báo tự do và những nhà bất đồng chính kiến hiện đang bị giam tù tại Việt Nam. Họ xứng đáng được gọi là “tù nhân lương tâm” bởi để sống theo lương tâm, họ sẵn sáng đánh đổi tất cả, ngay cả mạng sống của mình, để nói lên sự thật.
“Những người bảo vệ” sự thật được tạp chí Time vinh danh trong số ra cuối cùng của năm 2018 thật ra chỉ là một con số tượng trưng của vô số những nhà báo, những nhà chính kiến bị giết chết, bị giam tù, bị đe dọa...chỉ vì dám lên tiếng nói lên sự thật. Theo Ủy ban Bảo vệ Báo chí (Committee to Protect Jounalism), trong năm 2017, trên toàn thế giới có tất cả 262 ký giả bị giam tù.
Con số này chắc chắn phải cao hơn trong năm 2018, bởi vì trên thế giới ngày nay, sự thật ngày càng bị chối bỏ và chà đạp. Ông Can Dundar là chủ bút của một tờ báo tại Thổ Nhĩ Kỳ. Ông đã bị buộc tội gọi là “tiết lộ bí mật nhà nước”. Suýt bị ám sát, ông đã trốn sang Đức để tiếp tục nói lên sự thật. Ông Dundar nhận định về tình hình tự do báo chí trong thế giới ngày nay: “Đây là thế giới của những nhà lãnh đạo có khuynh hướng độc tài; họ ghét tự do báo chí và sự thật”. Một cách nào đó, theo tạp chí Time, “thế giới hiện đang được lãnh đạo bởi tổng thống Mỹ là người ngưỡng mộ những nhà độc tài và tấn công báo chí”. Về đất nước đang được lãnh đạo bởi một người như tổng thống Donald Trump, bà Maria Ressa tự hỏi: “Đâu là những giá trị của Hoa Kỳ?”
Tôi không phải là một nhà báo chuyên nghiệp. Tuy chưa bị tù đày vì nói lên sự thật, tôi cũng có thể mất một số bạn bè vì nói lên sự thật. Nhưng sự kiện tạp chí Time vinh danh “những người bảo vệ” sự thật ở cuối năm 2018 này không thể không thúc đẩy tôi phải suy nghĩ về “những giá trị” làm nên con người mà nếu chối bỏ “những giá trị” ấy cũng đồng nghĩa với chối bỏ chính phẩm giá của mình. Đó là những giá trị mà  con người không thể mang ra thương lượng, đổi chác dưới bất cứ hình thức nào. “Những người bảo vệ” sự thật đã chứng tỏ điều đó. Họ đưa chính mạng sống của mình ra làm bảo chứng để nói lên sự thật, để “bảo vệ” sự thật. Họ là những con người tự do đích thực. Họ là những con người đáng ngưỡng mộ.
Mặc dù không hề quen biết và cũng chẳng tán thành những hành động “đen tối” của ông trong quá khứ, tôi cũng muốn dành sự ngưỡng mộ của tôi cho ông Michael Cohen, cựu luật sư của Tổng thống Trump. Trong lời phát biểu trước tòa án trước khi bị tuyên án hơn 3 năm tù hôm thứ Tư 12 tháng Mười Hai vừa qua, ông Cohen đã nhận ra “con đường đen tối” (a path of darkness) mà 12 năm cúc cung phục vụ ông chủ Donald Trump đã đưa đẩy ông vào. Ông nói rằng ông đã chọn đi theo con đường ấy thay vì nghe theo tiếng nói của lương tâm và kim chỉ nam đạo đức. Sau khi công khai thú nhận những hành động đen tối và dối trá của mình, cựu luật sư của Tổng thống Trump nói rằng “hôm nay là một trong những ngày ý nghĩa nhứt trong cuộc đời của tôi”. Một ngày ý nghĩa nhứt bởi vì ông đã thực sự cư xử như một người có tự do và nói lên sự thật.
Giáng Sinh là mùa của Hoa Đèn. Ánh Sáng lúc nào cũng là biểu tượng của sự thật. Giã từ bóng tối của dối trá để bước đi trong ánh sáng của sự thật: phải chăng đó không là sứ điệp mà tôi cần phải lắng nghe mỗi dịp Giáng Sinh về?


Chủ Nhật, 23 tháng 12, 2018

Giáng Sinh và cuộc chiến chống Giáng Sinh


21/12/18
Tổng thống Mỹ Donald Trump lúc nào cũng tự hào rằng ông là người “tái lập” Lễ Giáng Sinh. Trong suốt tháng Mười Hai năm vừa qua, ông đã lợi dụng mọi cơ hội để xuất hiện trước một Cây Giáng Sinh. Lúc nào ông cũng hứa với những người ủng hộ ông rằng Hoa Kỳ sẽ lập lại câu chào chúc “Merry Christmas” (Chúc mừng Giáng Sinh) thay vì câu vô nghĩa “ happy holidays” (chúc những ngày vui) mà nhiều người dùng để chống lại Lễ Giáng Sinh.
Đàng sau những lời tuyên bố và hứa hẹn trên đây, Tổng thống Trump có ý chỉ trích người tiền nhiệm của ông là ông Barack Obama, người mà ông cho là không mấy mặn mà với truyền thống Giáng Sinh của dân tộc Mỹ. Thật ra, dưới thời Tổng thống Obama, năm nào mà Tòa Bạch Ốc không trưng bày cảnh Giáng Sinh và tổ chức một bữa tiệc mừng Giáng Sinh.
Năm nào cũng vậy, cứ tới tháng Mười Hai thì người ta lại nói đến “cuộc chiến” về Giáng Sinh tại Mỹ. Nói cho cùng, có khác biệt trong lời chào chúc hay cách mừng lễ, nhưng truyền thống Giáng Sinh thì lúc nào cũng cắm rễ sâu trong văn hòa Mỹ. “Cuộc chiến” chống Giáng Sinh thật sự chỉ diễn ra ở những nước chính thức tuyên bố nghiêm cấm mọi cử hành trong ngày lễ này mà thôi. Hiện nay trên thế giới vẫn còn có một số quốc gia trong đó mừng lễ Giáng Sinh có thể bị xem là một hành động liều lĩnh.
Vương quốc Á rập Saudi là một trong những nước nghiêm cấm việc cử hành lễ Giáng Sinh. Là một quốc gia theo thần quyền Hồi giáo thuộc hệ phái Sunni, Á rập Saudi nghiêm cấm việc cử hành lễ Giáng Sinh. Vương quốc này cũng cấm cả việc mừng sinh nhật của Tiên tri Mahomet. Chính phủ nước này cho rằng những cuộc cử hành như thế là một phát minh hoàn toàn đi ngược lại với tôn giáo. Riêng với lễ Giáng sinh, Chính phủ Á rập Saudi cấm cử hành Giáng Sinh trong trường học, bệnh viện, ngay cả những nơi có các tín hữu Kitô.
Mecca và Medina là hai địa danh linh thiêng nhất của Hồi Giáo. Cả hai đều nằm trong lãnh thổ của Á Rập Saudi. Là những người quản thủ 2 linh địa này, Hoàng gia Á rập Saudi đã ra lệnh không cho bất cứ một tổ chức tôn giáo nào ngoài Hồi giáo được xây cất nơi thờ phượng trên lãnh thổ của vương quốc.
Dĩ nhiên, không phải ai sống ở Á rập Saudi cũng đều là người Hồi giáo. Hiện đang có hàng trăm ngàn người ngoại quốc đang sinh sống trong vương quốc này. Họ là những người đang dạy học trong các đại học, làm việc trong các công ty hoặc kỹ nghệ dầu hỏa. Ngoài ra còn có các ngoại giao đoàn của các nước và hàng ngàn người công giáo Phi Luật Tân  đang làm nhân viên, công nhân hoặc người giúp việc trong các gia đình người Á rập. Đó là chưa kể đến các quân nhân Mỹ đang trú đóng trong các căn cứ quân sự tại Á Rập Saudi. Tuy nhiên, ngay cả trong các căn cứ quân sự, các tuyên úy quân đội cũng không được phép dành riêng một phòng hay dựng lên một túp lều để làm một nơi thờ phượng.
Không những cấm xây cất nơi thờ phượng, cấm cử hành lễ Giáng Sinh, Vương quốc Á rập Saudi còn cấm cả việc chúc mừng Giáng Sinh. Trong một thông cáo được cho phổ biến trên  cơ quan ngôn luận của chính phủ là tờ Arab News (Tin tức Á Rập), chính phủ nước này lập lại khuyến cáo theo đó người Hồi giáo không được phép chúc mừng lễ Giáng Sinh, bởi vì chúc mừng Giáng Sinh, tức mừng sinh nhật của Con Thiên Chúa...có nghĩa là chấp nhận và quảng bá cho niềm tin Kitô Giáo.
Bên cạnh Á rập Saudi, Bắc Hàn cũng được kể vào danh sách những nước rất thù nghịch với Kitô Giáo và cách riêng với lễ Giáng Sinh. Bắc Hàn thù nghịch với lễ Giáng Sinh đến độ đã có lần đe dọa tấn công Nam Hàn bằng vũ khí nguyên tử vì Cây Giáng Sinh. Số là năm 2014, chính phủ Nam Hàn cho phép một tổ chức Kitô Giáo được dựng lên một Cây Giáng Sinh gần biên giới 2 nước. Bắc Hàn gọi đây là một thứ vũ khí chiến tranh tâm lý và đe dọa sẽ cho pháo kích vào biểu tượng này. Theo các cơ quan truyền thông của nhà nước Bắc Hàn, Cây Giáng Sinh cao như một ngọn tháp cháy sáng này không phải là một biểu tượng tôn giáo mà là một chỉ dấu qua đó Nam Hàn muốn gia tăng các mối căng thẳng giữa 2 nước.
Cuối cùng, Nam Hàn đành nhượng bộ và cho tháo gỡ Cây Giáng Sinh xuống.
Sau Á rập Saudi và Bắc Hàn, Vương quốc Hồi giáo Brunei tại Đông Nam Á cũng là nước nghiêm cấm các cuộc cử hành lễ Giáng Sinh. Quốc vương Hassanal Bolkiah của Brunei đã cảnh cáo thần dân của ông rằng bất cứ ai cử hành lễ Giáng Sinh cũng đều có thể bị phạt 5 năm tù.
Những người ngoài Hồi giáo tại Brunei được phép cử hành lễ Giáng Sinh, nhưng chỉ trong các cộng đồng của họ mà thôi. Họ không đươc phép chia sẻ chương trình cử hành của mình với những người dân Hồi giáo vốn chiếm 65 phần trăm dân số chưa đầy 500 ngàn người.
Bộ Tôn Giáo của Brunei giải thích rằng sở dĩ có những biện pháp hạn chế việc công khai cử hành lễ Giáng Sinh là vì lễ này có thể gây xáo trộn và thiệt hại cho niềm tin của người Hồi giáo.
Ngoài Á Rập Saudi, Bắc Hàn và Brunei, hiện cũng có một số nước không cho phép cử hành lễ Giáng Sinh. Tại Somalia chẳng hạn, chính phủ cho rằng các cuộc lễ như thế có thể đe dọa cho niềm tin Hồi giáo của dân tộc. Một viên chức của Bộ Tôn Giáo nói rằng mừng lễ Giáng Sinh là điều không phù hợp với Hồi giáo. Các lực lượng an ninh được chỉ thị phải túc trực để chận đứng mọi cuộc tập trung để cử hành lễ Giáng Sinh. Chính phủ Somalia cho phép người ngoại quốc được mừng lễ trong nhà riêng của họ, nhưng trong các khách sạn và những nơi công cộng, mọi cử hành đều bị nghiêm cấm. Các cuộc cử hành chỉ được phép tổ chức trong các cơ quan của Liên Hiệp Quốc và các căn cứ của Liên minh Phi Châu gìn giữ hòa bình. Đây là những lực lượng yểm trợ chính phủ Somalia trong cuộc chiến chống lại các chi nhánh của tổ chức khủng bố Al-Qaeda tại Somalia. Chính phủ Somalia giải thích rằng sở dĩ có biện pháp cấm cử hành lễ Giáng Sinh là để tránh cho các tổ chức khủng bố có cớ để tấn công.
Cùng với Somalia, Cộng hòa Tajistan cũng là một trong nước cấm mừng lễ Giáng Sinh. Cách đây vài năm, chính phủ nước này cấm không cho trưng bày biểu tượng của lễ Giáng Sinh là Ông già Noel. Gần đây, đi thêm một bước nữa, nước này cũng cấm luôn cả việc dựng Cây Giáng Sinh và trao quà trong các trường học. Ngoài ra, Bộ giáo dục nước này cũng ra thông cáo không cho phép đốt pháo, tổ chức các bữa tiệc mừng, trao quà và quyên tiền trong dịp Tết Dương Lịch.
Trong quá khứ, hầu như chế độ cộng sản nào, nếu không cấm thì cũng tìm cách hạn chế việc mừng lễ Giáng Sinh. Tại Trung Cộng, kể từ khi Đảng Cộng Sản cướp chính quyền vào năm 1949, việc cử hành lễ Giáng Sinh luôn bị hạn chế. Lễ Giáng Sinh vẫn tiếp tục là một vấn đề gây tranh cãi tại quốc gia cộng sản khổng lồ này.
Người dân Trung Hoa tại Trung Cộng mừng lễ Giáng Sinh bằng nhiều cách, nhưng rõ nét hơn cả vẫn là xuyên qua các quảng cáo thương mại. Không ở đâu Giáng Sinh được cử hành tưng bừng cho bằng trong các trung tâm thương mại và các tiệm ăn trong những thành phố lớn.
Tuy nhiên, gần đây chính phủ cộng sản đã tỏ dấu muốn hạn chế việc cử hành lễ này trong các trường học. Một viên chức giáo dục của tỉnh Chiết Giang nói với Hoàn cầu Thời báo rằng đây là một biện pháp để giảm bớt ảnh hưởng của văn hóa Tây Phương tại Trung Cộng. Viên chức này giải thích rằng Chính phủ Trung Cộng không bãi bỏ các cuộc lễ của Tây Phương, nhưng muốn cho các trường học giữ được sự quân bình: sinh viên học sinh có thể học biết các cuộc lễ của Tây Phương như không nên chạy theo các cuộc lễ ấy.
Trong quá khứ, có lẽ không có quốc gia cộng sản nào tỏ ra triệt để trong việc chống lại Kitô Giáo cho bằng Albania. Albania đã từng là quốc gia đầu tiên lấy chủ nghĩa vô thần làm quốc giáo. Do đó trong Hiến pháp năm 1967, nước này đã tuyên bố loại trừ Kitô Giáo và như vậy cũng nghiêm cấm việc cử hành lễ Giáng Sinh. Hiến Pháp của quốc gia cộng sản này qui định rằng bất cứ ai “tuyên truyền, sản xuất, phát tán hay tồn trữ văn chương tôn giáo (Kitô Giáo)” sẽ bị phạt tù từ 3 đến 10 năm.
Chỉ kể từ năm 1990, khi chế độ cộng sản tại Albania sụp đổ, người dân mới được phép tham dự và cử hành lễ Giáng Sinh.
Tại Cuba, kể từ khi Chủ tịch Fidel Castro thực hiện cuộc cách mạng vô sản và lên cầm quyền từ năm 1959, bất cứ một hình thức cử hành Giáng Sinh nào cũng bị nghiêm cấm. Trong một đất nước mà tuyệt đại đa số theo Kitô Giáo, Giáng Sinh không còn là một ngày nghỉ lễ nghỉ, người dân bị buộc phải ra đồng làm việc. Nhưng kể từ ngày 20 tháng Mười Hai năm 1998, sau chuyến viếng thăm lịch sử của Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II, Chủ tịch Castro mới chịu bãi bỏ lệnh cấm mừng lễ Giáng Sinh.
Cũng giống như đàn anh Trung Cộng, Việt Nam cũng đã từng tìm cách hạn chế việc mừng lễ Giáng Sinh, nhất là trước khi mở cửa để chạy theo kinh tế thị trường. Thời đó, Giáng Sinh không những không phải là ngày lễ nghỉ, mà học sinh thường phải đến trường để thi học kỳ. Dù vậy, chế độ cộng sản cũng không ngăn cản được người dân mừng lễ. Dù không phải là tín hữu Kitô, nhiều người vẫn thích đến các nhà thờ để tham dự thánh lễ trong Đêm Giáng Sinh hoặc tuốn ra các ngã đường để ăn mừng theo cách thế của họ. Ngoài ra, trong quốc gia cộng sản này, thương mại cũng đã góp phần không ít trong việc quảng bá các biểu tượng của lễ Giáng Sinh.
Nhật Bản là một trường hợp lạ thường. Việc mừng lễ Giáng Sinh không bị ngăn cấm tại Nhật Bản. Kitô Giáo chiếm không tới một phần trăm dân số nước này do đó người Nhật không thực sự cảm thấy có nhu cầu phải mừng lễ Giáng Sinh và chính phủ cũng không màng đến chuyện có nên tuyên bố Giáng Sinh là một ngày lễ nghỉ hay không. Phải đi làm trong ngày Giáng Sinh là điều mà có lẽ chẳng có người Nhật nào phải tỏ ra ngạc nhiên cả.
Đức Quốc là một nước có đông dân số theo Kitô Giáo. Mừng lễ Giáng Sinh phải là điều xem ra đương nhiên đối với người dân Đức. Tuy nhiên tại một số thành phố, như Solingen và Bá Linh chẳng hạn, người dân xem ra thờ ơ với ngày lễ này. Tại những thành phố này, bởi vì Giáng Sinh là một lễ tôn giáo và bởi vì đảng đang cầm quyền tại những thành phố này là Đảng Xanh, một đảng tự nhận là thế tục, cho nên người dân cho rằng không nên mừng lễ Giáng Sinh ở những nơi công cộng.
Điều đáng suy nghĩ là trong quá khứ một số nước Kitô Giáo lại cấm mừng Giáng Sinh. Như trường hợp của Anh Quốc vào giữa thập niên 1600. Thủ tướng Anh lúc bấy giờ là Oliver Cromwell, một tín đồ của giáo phái Thanh Giáo. Giáo phái này có chủ trương thanh luyện Giáo hội Anh khỏi những thực hành của Giáo hội Công Giáo. Ông thủ tướng này không ngăn cấm việc cử hành Lễ Giáng Sinh xét như là việc kỷ niệm sinh nhật của Chúa Giêsu. Ông chỉ chống lại việc dân chúng Anh tiệc tùng, ăn uống quá độ trong ngày lễ mà thôi.
Tại Hoa Kỳ, do ảnh hưởng của Thanh Giáo, cũng vào giữa thập niên 1600, một số tiểu bang ban hành lệnh phạt những ai bị bắt quả tang mừng Lễ Giáng Sinh. Dĩ nhiên, chỉ một thời gian ngắn sau đó, lệnh này đã bị bãi bỏ. Nhưng riêng tại Tiểu bang Massachusetts, phải gần 200 năm sau, nghĩa là năm 1869, người dân mới thực sự được tự do ăn mừng và tiệc tùng trong lễ Giáng Sinh.
Thực ra, “Merry Christmas” hay “Happy Holidays” cũng đều nói lên cốt lõi của lễ Giáng Sinh: đây là thời gian mà người ta nghĩ đến nhau và mong muốn chia sẻ và mang những điều tốt đẹp đến cho nhau.




Thứ Năm, 20 tháng 12, 2018

Khi Ông Già Nobel không còn tuần lộc để cỡi...



Chu Thập
14/12/18
Không biết có phải vì đã đến tuổi “gần đất xa trời” không, tôi thấy mình dễ mủi lòng và mủi lòng vì những chuyện xem ra chẳng ra gì. Chẳng hạn như mới đây khi phải dọn sạch một giàn thanh long bị gió mạnh làm ngã đổ.  So với nhiều nhà Việt Nam ở Sydney, tôi tự kể mình vào số những “nhà nông” có nhiều thanh long và đủ loại thanh long. Tôi đã sưu tầm được cũng đến 6,7 loại thanh long khác nhau. Và cứ hễ có chỗ trống là tôi nhét thanh long vào. Tính ra cũng có đến vài chục gốc. Mỗi gốc thanh long không những là một kỷ niệm, mà cũng là nơi tôi chôn chặt và gắn liền một phần cuộc sống của tôi. Thành ra khi cực chẳng đã phải gỡ bỏ một giàn thanh long bị ngã đổ, tôi cảm thấy bồi hồi xúc động như thể mình đang chà đạp hay xúc phạm đến một sự sống. Nói như thi sĩ Alphonse de Lamartine (1790-1869) của Pháp, vật vô tri (objets inanimés) cũng có một linh hồn khiến ta cứ phải gắn bó với chúng.
Dọn một giàn thanh long của mình bị ngã đổ, tôi bồi hồi xúc động đã đành, tôi cũng có một cảm xúc như thế khi nhìn người ta bày bán những cây thông Giáng Sinh. Cứ bước vào tháng Mười Hai, vào những buổi sáng thứ Bảy, không biết từ đâu đó, người ta chở những cây thông Giáng Sinh xanh tươi đến trước một Hội quán Hướng Đạo gần nhà tôi để bày bán. Lần nào cũng vậy, mỗi lần chạy bộ qua trước ngôi chợ trời  ấy, tôi lại thấy buồn khi nhìn vào những cây thông bị cắt ngang gốc không còn một chút rễ nào bám vào thân. Một số được rước về nhà để làm cây thông Giáng Sinh trong vài tuần lễ. Số phận của những cây thông Giáng Sinh này chắc chắn sẽ rất bi đát: sau lễ, người ta sẽ mang chúng đem quăng vào một xó rừng nào đó hoặc chờ cho chúng khô héo rồi sẽ nhờ thần lửa cho chúng hóa kiếp. Số phận của những cây không được ai rước về nhà có lẽ lại càng bi đát hơn: bị đốn ngã một cách tàn nhẫn, lại không được ai ngó ngàng tới và cuối cùng cũng bị quăng vào lửa!
Theo một ý nghĩa rất phổ biến, cây thông Giáng Sinh là biểu tượng của sự sống. Ở những xứ lạnh, trong mùa đông giá rét, trưng bày trong nhà một cây thông “sống”, nhứt là trên đó có treo lủng lẵng hoa đèn, là muốn thắp lên một ngọn nến của hy vọng và sự sống. Nhưng mỉa mai thay, biểu tượng của sự sống là cây thông Giáng Sinh lại bị cướp mất sự sống tận gốc rễ!
Với tôi, một cây thông Giáng Sinh “chết” trông chẳng khác nào Ông Già Noel không ngồi trên chiếc xe được kéo bởi những con tuần lộc (reendeer), mà lại đến bằng máy bay. Đây là cảnh mà thỉnh thoảng tôi thấy xuất hiện trong một màn quảng cáo trên truyền hình: Ông Già Noel của thời đại đến thăm dân tình bằng máy bay, nhưng chẳng may máy bay ngộ nạn; cảnh cuối của màn quảng cáo thật có hậu: sau khi tiếp cứu Ông Già Noel, đãi ông một bữa no nê, cư dân lại còn kiếm được nguyên một bày tuần lộc để kéo chiếc xe của ông hầu ông có thể tiếp tục sứ mệnh của mình.
Không biết tác giả của màn quảng cáo trên đây có nghĩ xa hơn không. Nhưng tôi nhìn vào đó như một thông điệp rất có ý nghĩa cho thời buổi đang có hiện tượng trái đất hâm nóng và khí hậu thay đổi hiện nay. Bão lụt và hỏa hoạn, với những hậu quả tàn khốc đối với trái đất và cuộc sống con người dưới nhiều khía cạnh khác nhau, là những biểu hiện khó chối cãi được của khí hậu thay đổi. Khắp nơi trên mặt đất đều đang hứng chịu hậu quả của hiện tượng này. Nhưng dường như một trong những nơi phải bị tàn phá nhiều nhứt vì khí hậu thay đổi có lẽ là quê hương của Ông Già Noel.
Lapland không chỉ là một địa danh chỉ có trong trí tưởng tượng của con người mỗi khi nói đến Ông Già Noel. Đây là một vùng đất có thật ở Bắc Cực, trải dài qua phía Bắc của 4 quốc gia Na Uy, Thụy Điễn, Phần Lan và Nga.
Các cuộc nghiên cứu đã cho thấy Bắc Cực hiện đang là nơi phải gánh chịu những hậu quả của khí hậu thay đổi nhiều hơn bất cứ một nơi nào khác trên mặt đất. Tại Bắc Cực, nhiệt độ hâm nóng trái đất tăng nhanh gấp 2 lần mức độ trung bình ở những nơi khác. Do đó, hơn bất cứ cư dân nào trên mặt đất, người dân ở Lapland đã bắt đầu cảm nhận được những hậu quả của khí hậu thay đổi.
Rovaniemi, thủ phủ hành chánh của tỉnh Lapland thuộc Phần Lan, đã tự nhận là “Quê hương chính thức của Ông Già Noel”. Đây là nơi mà du khách có thể đến thăm nhân vật huyền thoại này bất cứ ngày nào trong năm, chớ không chỉ trong Mùa Giáng Sinh. Thật ra, Ông Già Noel chỉ chính thức đến cư ngụ tại thành phố Rovaniemi vào năm 1950, khi dinh thự của ông được xây cất.
Toàn vùng Lapland, trải dài từ Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan qua Nga, hiện đang là lãnh thổ của người thổ dân Sami. Nhờ hẻo lánh và nhiệt độ thấp, phần lớn vùng Lapland vẫn còn giữ nguyên vẹn nét hoang dã của nó. Chính tính hoang dã này đã cung cấp cho người thổ dân Sami đủ không gian để đeo đuổi nghề truyền thống của họ là chăn nuôi loài tuần lộc.
Tuy nhiên, ngày nay khi trái đất hâm nóng, nhiệt độ ngày càng tăng và bắt đầu làm đảo lộn sinh thái, cuộc sống và sự tồn tại của người thổ dân Sami cũng như của chính Ông Già Noel, đang bị đe dọa.
Tiến sĩ Stephanie Lefrere là một nhà sinh vật học chuyên nghiên cứu về loài tuần lộc. Bà đã đến tỉnh Lapland của Phần Lan từ 18 năm qua. Kể từ đó, bà đã quan sát những thay đổi đáng sợ của thời tiết trong vùng và ảnh hưởng của chúng đối với đời sống hoang dã. Bà cho biết khi mới đến vùng này, bà nhận thấy nhiệt độ trung bình trong vùng vào ngày 31 tháng Mười là 20 độ C dưới không. Nhưng nay một nhiệt độ trung bình như thế không còn nữa. Tiến sĩ Lefrere cho biết: gần đây, người dân ở đây nói đến “những mùa Giáng Sinh đen”: đen là bởi vì không còn cảnh tuyết trắng rơi ở phía Nam của Phần Lan nữa. Hơn ai hết, sau gần hai thập niên làm việc tại quê hương của Ông Già Noel, bà Lefrere lại càng xác tín hơn rằng khí hậu thay đổi đã tạo ra những hậu quả khốc liệt đối với sinh thái của vùng Lapland, ảnh hưởng đến đường di chuyển, môi trường sống và ngay cả động thái của loài chim thiên di.
Những thay đổi như thế lại càng có những hậu quả tàn phá hơn nữa đối với các thổ dân Sami, vốn là những người am hiểu về vùng Lapland hơn bất cứ ai. Toàn bộ văn hóa của họ đều xoay quanh thiên nhiên và nhứt là loài tuần lộc. Họ không chỉ sống bằng nghề chăn nuôi tuần lộc, mà còn bằng săn bắn, bắt cá và hái lượm. Nhưng tuần lộc vẫn là biểu tượng trọng tâm của xã hội Sami. Trước kia, hầu như người dân Sami nào cũng sống bằng nghề chăn nuôi tuần lộc. Nay tỷ lệ này chỉ còn là 10 phần trăm. Sở dĩ nhiều người phải bỏ nghề chăn nuôi tuần lộc vì khí hậu thay đổi khiến họ không thể giữ cho tuần lộc được an toàn và khỏe mạnh.
Thời tiết thay đổi bất thường và nhứt là mưa liên tục lại xảy ra trong những tháng lạnh nhứt khiến cho những tảng băng đá vỡ vụn trên đất. Tuần lộc là loài thú sống bằng cách đào tuyết để bới tìm loại rong rêu “lichen” chìm ngập dưới đất. Nay chúng không còn ngửi được mùi rêu này dưới đất nữa. Không đào được thức ăn dưới đá, dĩ nhiên tuần lộc bị kết án phải chết đói mà thôi.
Mà tuần lộc chết thì đương nhiên sự sống còn của người thổ dân Sami cũng bị đe dọa. Tuần lộc là loài thú duy nhứt ở Lapland đã nhào nặn ngôn ngữ cũng như những nghề tiểu công nghệ truyền thống của người dân Sami mà da và sừng của chúng là vật liệu cần thiết. Bà Jamie Staffansson, một nhà hóa học chuyên tranh đấu cho quyền của người thổ dân Sami nói rằng nền văn hóa của người Sami sẽ biến mất cùng với loài tuần lộc (https://www.independent.co.uk/environment/climate-change-lapland-santa-claus-father-christmas-reindeer-global-warming-a8113041.html).
Không những chỉ có người thổ dân Sami mới gánh chịu những hậu quả của khí hậu thay đổi. Tại miền Bắc Phần Lan, kỹ nghệ du lịch là cột sống của kinh tế. Nhưng nhiệt độ ngày càng gia tăng khiến cho vùng này không còn là đất của “mùa đông muôn thuở” nữa. Những môn thể thao mùa đông đang bị đe dọa khiến cho số người hâm mộ các môn thể thao mùa đông cũng thưa dần. Dĩ nhiên những “mùa Giáng Sinh đen” sẽ khiến cho du khách không còn muốn đến Rovaniemi để thăm Ông Già Noel nữa. Du lịch mùa Giáng Sinh đang xuống một cách thê thảm. Trước kia, được mệnh danh là Làng của Ông Già Noel, Rovaniemi mỗi năm trung bình thu hút được 300.000 du khách. Nay họ hướng về phía Bắc và phía Đông Phần Lan, bởi vì ở đây  tuyết vẫn còn nhiều hơn. Sẽ đến một lúc, ngay trên chính “quê hương” của mình, Ông Già Noel sẽ không còn trèo lên chiếc xe được một bày tuần lộc kéo nữa. Cũng như biểu tượng của sự sống là cây thông Giáng Sinh bị tước đoạt sự sống, Ông Già Noel không có đoàn tuần lộc đi hộ tống có lẽ sẽ chỉ còn là một Ông Già Noel què quặt, bệnh hoạn, thiếu sức sống. Tất cả cũng chỉ vì trái đất bị các hoạt động của chính con người hâm nóng và làm cho khí hậu thay đổi.
Bên kia niềm tin tôn giáo, nếu phải tóm tắt ý nghĩa của  Giáng Sinh thành một thông điệp ngắn gọn, tôi cho rằng đây là Mùa của Sự Sống. Sự sống của con người đã đành, mà còn là sự sống của chính trái đất. Thật ra, nếu sự sống của trái đất bị hủy hoại thì chính sự sống của con người cũng bị đe dọa. Tôi tin ở những lời cảnh cáo của các nhà khoa học. Trái đất bị hâm nóng và khí hậu thay đổi chắc chắn không phải là một “cú lừa của Trung Cộng” mà là một thực tế đang diễn ra trước mắt. Chỉ cần một chút thiện chí và  lương thiện để nhìn vào cuộc sống xung quanh cũng đủ để cảm nhận được thế nào là hiện tượng trái đất hâm nóng và khí hậu thay đổi.
Tôi tin lời nhà sinh vật học Richard Attenborough. Mới đây, trong bài nói chuyện tại Hội nghị Thượng đỉnh về Khí hậu Thay đổi do Liên Hiệp Quốc tổ chức tại thành phố Katowice, Ba Lan, nhà sinh vật kiêm nhà làm phim nổi tiếng này đã cảnh cáo: “Ngay bây giờ đây, chúng ta đang đối diện với một tai họa với qui mô toàn cầu do chính con người gây ra. So với nhiều ngàn năm qua, mối đe dọa lớn nhứt của chúng ta chính là Khí hậu Thay đổi. Nếu chúng ta không bắt tay hành động, thì không bao lâu các nền văn minh của chúng ta sẽ sụp đổ và phần lớn thế giới tự nhiên sẽ bị tiêu diệt”. Ông kêu gọi các nhà lãnh đạo quốc gia: “Dân chúng trên toàn thế giới đã lên tiếng. Thông điệp của họ đã rõ ràng. Thời buổi đã cấp bách. Họ muốn quý vị, những người làm chính sách, hãy bắt tay hành động ngay” (https://www.bbc.com/news/science-environment-46398057).
Clive Blazey, sáng lập viên của The Diggers Club, người tiên phong trong việc bảo tồn và phân phối các loại cây và hạt giống không bị biến đổi, trong một bài viết gần đây đã khẳng định: “Rác rưởi là một “sáng chế” của con người...Trong thiên nhiên không có rác rưởi” (Waste is a human invention...There is no wast in nature). Theo ông, một người Úc trung bình tạo ra 2.7 tấn rác một năm hay 7.5 ký rác một ngày. Mặc dù mỗi người chỉ tiêu thụ khoảng 1 ký thức ăn bao gồm rau trái, ngũ cốc và thịt, vậy thì 6.5 ký rác còn lại là từ thức ăn dư thừa và các loại bao bì...Nếu chúng ta giảm được rác rưởi bằng cách dùng bao tái chế và thùng giấy, không mua thức ăn làm sẵn (processed food), không mua quá nhiều thực phẩm, dùng thức ăn thừa nuôi giun (worm farm) và tự trồng rau để ăn hay chí ít trồng một ít rau thơm thường dùng...theo ông Blazey, với một chút cố gắng thực hiện những điều trên, chúng ta có thể giảm được rất nhiều rác. Và ông kết luận: “Không còn thì giờ để phí phạm nữa!”.
Đối phó với hiểm họa trái đất hâm nóng và khí hậu thay đổi dĩ nhiên trước tiên phải là trách nhiệm của các nhà lãnh đạo quốc gia. Trong phạm vi nhỏ bé của tôi, sự đóng góp của tôi có lẽ không bằng một giọt nước trong đại dương. Nhưng sống có trách nhiệm đối với môi trường sống của mình, một cách cụ thể tôn trọng và yêu mến thiên nhiên, sử dụng tài nguyên một cách có ý thức, không vứt rác bừa bãi...ít ra cũng mang lại cho tôi niềm vui và sự an bình, nhứt là trong mùa Giáng Sinh này.