Thứ Bảy, 1 tháng 7, 2023

Thiện căn ở tại lòng ta

 

 

Chu Văn


Mới đây, về Việt Nam, nhân dịp ghé Tây Ninh để thăm gia đình người thân, tôi được bạn bè rủ làm một chuyến “du lịch tâm linh” đến núi Bà Đen. “Du lịch tâm linh” hiện đang là một sinh hoạt tín ngưỡng và tôn giáo rất thịnh hành ở Việt Nam. Hình như ở tỉnh nào cũng có một khu du lịch tâm linh. Tôi chưa có dịp và cũng không có đủ điều kiện hoặc là một tín đồ thuần thành để hành hương đến những nơi xa xăm ở miền Bắc. Thành ra, tiện dịp ghé Tây Ninh, tôi thấy không nơi nào thuận tiện hơn là Núi Bà Đen  để quan sát và thử nghiệm thế nào là “du lịch tâm linh” một lần cho biết.

Đầu thập niên 1980, chỉ vài tháng sau khi đến tỵ nạn tại Pháp, là một tín hữu công giáo, tôi đã hăm hở tìm đến một số trung tâm hành hương nổi tiếng của Giáo hội Công giáo ở Âu Châu như Đền thờ Thánh Phêrô ở Roma, thành phố Assisi, quê hương của Thánh Phanxicô, người được tôn vinh như sứ giả của hòa bình thế giới và nhứt là Trung tâm Thánh Mẫu Lộ Đức ở miền Nam nước Pháp. Vào thời điểm đó, sau hơn năm năm trải nghiệm thế nào là sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa vô thần trong đó các sinh hoạt tôn giáo bị theo dõi, hạn chế một cách nghiêm nhặt, tôi rất thèm được tham gia các cuộc biểu dương tôn giáo. Không những được chiêm ngưỡng các di tích lịch sử, văn hóa và kiến trúc cổ kính, tôi cũng thật sự xúc động khi được hòa nhập vào giữa một đám đông những người xa lạ nhưng cùng chia sẻ một niềm tin.

Vừa thoát ra khỏi một chế độ vô thần, những đám đông mà tôi đã nhìn thấy tại những trung tâm hành hương của Kitô giáo ở Âu Châu quả đã tạo ra một ấn tượng mạnh trong tôi. Nhưng so với cái đám đông đã cùng với tôi “du lịch tâm linh” đến núi Bà Đen thì xem ra số khách du lịch hoặc tham gia cuộc hành hương tại các trung tâm tôn giáo ở Âu Châu chẳng là gì cả. Đoạn đường từ bãi đậu xe đến trạm cáp treo đưa lên đỉnh núi Bà Đen dài cả cây số dầy nghẹt người. Phải mất gần một tiếng đồng hồ để đi bộ qua đoạn đường ấy. Nhiều người cho biết: dịp Tết vừa rồi, có người phải chờ 2, 3 ngày mới được đặt chân lên cáp treo! Bạn không cần phải đi, đám đông tự động đẩy bạn đi tới. Từ đám đông ấy, tôi nghe đủ giọng nói: từ giọng Bắc “75” đến giọng “trọ trẹ” sô viết nghệ tĩnh cho đến giọng chả chớt dễ thương của người Miền Nam. Mà vé khứ hồi lên xuống cáp treo đâu phải rẻ. Trùm sò như tôi, mà phải chi ra gần 25 Úc kim để có được một vé “du lịch tâm linh” lên đỉnh núi Bà Đen, tôi cũng thấy tiếc lắm! Nhưng nghĩ lại thấy cũng đáng đồng tiền bát gạo. Thật ra, tôi bỏ tiền ra không phải để được lên đến một đỉnh núi cao gần cả 1000 thước để chiêm ngắm tượng Bà Đen, mà chính là để cảm nghiệm được tình cảm tôn giáo của đám đông. Phải nhìn nhận rằng phần lớn những người lên đỉnh núi Bà Đen không chỉ thuần đi du lịch như tôi, mà để thể hiện niềm tin tôn giáo hay tín ngưỡng của họ. Trong số những người đến ngước mắt nhìn lên tượng Bà Đen cao ngất ngưỡng trên đỉnh núi, tôi thấy có rất nhiều người trẻ. Già trẻ, lớn bé, ai cũng đều tỏ ra thành tín trong cử chỉ khấn vái và cầu khẩn của họ.

Là khách “du lịch tâm linh”, nhưng tôi không khấn vái cầu xin bất cứ điều gì trước tượng Bà Đen, mà là cố gắng nhìn vào bức tranh tổng thể của các sinh hoạt tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay.

Việt Nam bây giờ thay da đổi thịt lắm! Đó là cảm nhận mà không chỉ du khách nước ngoài đến Việt Nam mới có, mà ngay cả nhiều người Việt, sau nhiều năm sống ở ngoại quốc, nay về thăm nhà cũng đều nhìn nhận như thế. “Thay da đổi thịt” về mọi mặt, nhứt là về phương diện tôn giáo và tín ngưỡng. Đi thoáng qua một vòng từ Bắc chí Nam, liệu có ai còn bảo rằng ở Việt Nam có bách hại tôn giáo không. Dĩ nhiên, Việt Nam vẫn tiếp tục bị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa vào “danh sách các quốc gia đáng bị theo dõi một cách đặc biệt” về những vi phạm nghiêm trọng đối với tự do tôn giáo. Một cách cụ thể, một số tôn giáo có tổ chức như Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất vẫn tiếp tục bị đặt ra ngoài vòng pháp luật; chư tăng, ni và chùa nào không theo Giáo hội Phật giáo Việt Nam mà người dân thường gọi là “Giáo hội nhà nước” hay “Giáo hội quốc doanh” đều bị cô lập, xách nhiễu đủ điều. Tại Tây Nguyên, đồng bào Thượng cũng bị bách hại một cách trắng trợn vì niềm tin tôn giáo của họ. Cũng tại Tây Nguyên, tại một số nơi, chính quyền địa phương dùng vũ lực cản trở một cách thô bạo việc cử hành thánh lễ của các linh mục công giáo...Nhưng thủ đoạn đối với tôn giáo của chính quyền cộng sản Việt Nam  mà Hòa thượng Thích Không Tánh, phó viện trưởng Hội đồng Điều hành của Tăng đoàn Giáo hội Việt Nam Thống Nhất, gọi là “trấn, phân, cô, kéo” (trấn áp, phân rẽ, cô lập, lôi kéo)(1) là điều mà có lẽ du khách nước ngoài hay ngay cả người trong nước không thấy được. Bức tranh tôn giáo dễ bắt mắt nhứt vẫn là cảnh chùa chiền, nhà thờ nguy nga đồ sộ mọc lên như nấm. Người ta cũng chưa bao giờ được thấy ở Việt Nam những cuộc biểu dương tôn giáo “hoành tráng” như hiện nay. Con số các nhân sự tôn giáo thì khỏi nói: tu viện, chủng viện đầy ắp tu sinh. Cũng chưa bao giờ con số nhân sự tôn giáo được gởi đi tu học ở nước ngoài nhiều như hiện nay. Phải nhìn nhận, dưới một chế độ vẫn tiếp tục tự xưng là vô thần, sinh hoạt tôn giáo khởi sắc hơn bao giờ hết. Nhưng dĩ nhiên cái giá mà các tôn giáo có tổ chức phải trả quá đắt! Là người công giáo xuất phát từ Giáo phận Nha Trang, tôi đặc biệt theo dõi một diễn biến gần đây nhứt. Đó là việc Tòa Thánh đã bổ nhiệm một tân giám mục cho giáo phận này. Về nhận nhiệm sở, một trong những việc đầu tiên của vị giám mục là phải đi trình diện với chính quyền địa phương. Trong dịp này, lãnh đạo tỉnh đã nhắc nhở giám mục tân cử và các chức sắc trong giáo phận phải “tiếp tục tuyên truyền, dẫn dắt giáo dân gắn bó, ủng hộ các chủ trương, chính sách, định hướng phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh...” Về phần mình, tân giám mục giáo phận Nha Trang cũng “khẳng định sẽ tiếp tục chung tay, đồng hành cùng với địa phương dẫn dắt, động viên chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vận động đồng bào công giáo tham gia các phong trào thi đua yêu nước, đóng góp cho sự nghiệp phát triển, kinh tế của tỉnh”(2). Quả là “tốt đời đẹp đạo”!  Đảng được vinh quangmà đạo cũng khởi sắc!

Là người có niềm tin tôn giáo, nhưng tôi không lượng giá sức sống của một tôn giáo dựa trên con số tín đồ, lực lượng nhân sự, những nơi thờ tự nguy nga đồ sộ và nhứt là những cuộc lễ hoành tráng với cờ xí và phẩm phục tung bay rợp trời. Sức sống và sức mạnh của niềm tin tôn giáo trước tiên và thiết yếu phải được thể hiện qua vai trò “tiên tri” của tôn giáo, một cách cụ thể tôn giáo phải trở thành tiếng nói của sự thật và cuộc chiến chống lại dối trá và độc ác. Tôi chưa nhìn thấy được một sức sống như thế trong các tôn giáo có tổ chức ở Việt Nam. Chế độ cộng sản ở Việt Nam vẫn mãi mãi là một chế độ độc tài xây dựng trên dối trá và độc ác. “Chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước” là góp tay xây dựng và củng cố chế độ dối trá và độc ác ấy, trong khi sứ mệnh của tôn giáo là giúp cho con người sống cho ra người lương thiện và tử tế hơn. Đã dối trá và độc ác thì đừng vỗ ngực rêu rao niềm tin tôn giáo của mình. Còn trong chính trị, đã dối trá và độc ác thì đừng nói đến chủ trương và chính sách tốt!

Có người cho rằng “một ông thánh làm chính trị tồi thì cũng vẫn là một chính khách tồi. Ngược lại, một tên lưu manh làm chính trị giỏi, biết cách sử dụng quyền lực cho những mục tiêu lớn và tốt, thì cũng vẫn là một chính khách giỏi”(3). Do đó, theo tác giả, đánh giá một nhà chính trị, chỉ cần dựa vào chính sách của họ. “Với ông Minh (Hồ Chí Minh) cũng vậy”. Tác giả cũng cho rằng chủ trương và các chính sách của Hồ Chí Minh, cụ thể những cuộc đấu tố tàn ác trong Cải Cách Ruộng Đất, cuộc truy sát tàn bạo thời Nhân văn Giai phẩm và nhứt là cuộc chiến “thần thánh” nướng cả mấy triệu đồng bào ruột thịt trên bàn thờ xã hội chủ nghĩa...chẳng ăn nhập gì với cái tâm dối trá và độc ác của ông cả!

Nhìn lại lịch sử thế giới kể từ sau Đệ nhứt Thế chiến, tôi nhận thấy một điều: trong tất cả các lãnh tụ cộng sản, từ Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông đến Hồ Chí Minh, Polpot và nay Kim Jong Un của Bắc Hàn và Tập Cận Bình của Trung Quốc hay Nguyễn Phú Trọng của Việt Nam...không có người nào mà không lưu manh, dối trá và độc ác. Theo tôi, người có Tâm lương thiện có thể là một chính khách không thành công, nhưng chắc chắn không cho phép mình đề ra những chính sách tồi bại, độc ác. Thành ra, không thể đánh giá một người làm chính trị mà không màng đến tư cách và những giá trị đạo đức. “Phải đề cao các giá trị đạo đức đối với những người làm chính trị. Phải xem đó là yếu tố bắt buộc và quan trọng nhất” (4).

Không những các chính trị gia mà người dân nếu thực sự muốn sống trong một thể chế dân chủ cũng phải xem trọng các giá trị đạo đức. Dân trí không chỉ có nghĩa là người dân có trình độ học vấn và hiểu biết nhiều, mà còn phải đặt trọng tâm vào những giá trị đạo đức và lương tâm.

Nói đến dân trí, tôi không thể không liên tưởng đến nền dân chủ của Hoa Kỳ. Quốc gia có nền dân chủ lâu đời nhứt thế giới, có nền kinh tế thịnh vượng nhứt thế giới này hiện đang trải qua cuộc khủng hoảng về dân chủ. Nói như bà Liz Cheney, người đã bị Đảng Cộng Hòa trục xuất ra khỏi Đảng vì tham gia cuộc điều tra của Hạ Viện về vai trò của cựu Tổng thống Donald Trump trong cuộc bạo loạn tại Quốc hội ngày 6 tháng Giêng năm 2021, vấn đề hiện nay của chính trị Mỹ là “chúng ta đang bầu chọn những tên ngu đần” (5). Không những ngu dần, một tên lưu manh, dối trá như cuội, vô đạo, vô pháp, ngồi xổm trên Hiến pháp và Luật pháp như Donald Trump hiện vẫn được hơn 80 phần trăm cử tri của Đảng Cộng Hòa bái lạy tôn thờ như Chúa Giêsu...Tôi ngờ về dân trí của một bộ phận không nhỏ người Mỹ!

Dân trí và dân chủ đích thực chỉ có thể và phải được xây dựng trên lương tri, tức khả năng biết phân biệt thiện ác, phải trái cũng như nhìn nhận và tôn trọng sự thật. Lúc nào tôi cũng biết ơn đất nước Úc Đại Lợi. Một đất nước có một vị trí khiêm tốn về mọi mặt nhưng lại là một trong những nơi đáng sống. Bởi, tôi luôn nhìn thấy nỗ lực của chính phủ trong việc nâng cao mọi mặt của mọi người dân trong một xã hội đa văn hóa và đương nhiên rất đa dạng. Dân Úc đa số không “trung thành” với một đảng phái. Chính phủ luôn phải lắng nghe người dân và quân bình trong chính sách. Nhờ vậy, tôi thực sự hiểu được thế nào là dân chủ và đồng thời lúc nào cũng cảm thấy được thúc đẩy để nâng cao dân trí của chính mình. Tựu trung nâng cao dân trí với tôi cũng có nghĩa là cố gắng sống theo lương tâm, tôn trọng sự thật và sống cho ra người. Trí phải luôn dựa trên tâm.


Trước khi tham gia chuyến “du lịch tâm linh” ở Núi Bà Đen, tôi cũng đã làm một cuộc du lịch tâm linh thực sự có ý nghĩa ở Bảo Lộc. Nghe nói cách thị xã Bảo Lộc khoảng 20 cây số có một ngôi chùa có tên là Linh Quy Pháp Ấn, thường được khách thập phương và thiện nam tín nữ tìm đến để ngắm bình minh và “săn mây” nơi Cổng Trời. Một buổi sáng nọ, nhà tôi và tôi thức dậy thật sớm, gọi taxi chở đến nơi để xem ngôi chùa có thực sự là “Cổng Trời” không. Tôi vẫn thường tự nhận là một Phật tử và dĩ nhiên theo cách thế riêng của tôi, bởi vì tôi chưa hề thí phát quy y, niệm Phật, cúng dường hay ngay cả ăn chay...Dù chưa thấm nhuần giáo lý nhà Phật, nhưng những điều căn bản mà Đức Phật đã dạy thì quả thật tôi luôn cố gắng sống theo.




Tôi cứ tưởng điểm đến của cuộc “du lịch tâm linh” ở Bảo Lộc là Chùa Linh Quy Pháp Ấn. Thế nhưng, chính con đường hẹp đầy đá sỏi dẫn lên chùa mới thực sự là nơi để tôi cảm nghiệm được thế nào là “du lịch tâm linh”. Phải mất hơn nửa tiếng để lội bộ lên chùa và cứ mỗi 50 hay 100 bước, du khách không thể không dừng lại trước một tấm bảng để suy gẫm về một câu kinh Phật. Tất cả mọi câu kinh đều nhắc nhở tôi về thế nào là sống cho ra người lương thiện và tử tế. Mặc dù cuối cùng, tôi đã đến đỉnh núi và đứng trước cửa chùa để ngắm bình minh. Nhưng có lẽ ánh bình minh của lương tâm trong tôi mới thực sự mở mắt tôi để tôi biết cố gắng phân biệt thiện ác hầu sống cho ra người lương thiện và tử tế hơn.

Chu Văn

Chú thích

1. Nhà báo Song Chi phỏng vấn Hòa thượng Thích Không Tánh vietbao.com/a316168/hoa-thuong-thich-khong-tanh-thu-doan-cua-nha-cam-quyen-viet-nam-doi-voi-ton-giao-la-tran-phan-co-keo

2. Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Nguyễn Tân Tuân tiếp tổng giám mục Giuse Nguyễn Chí Linh và giám mục tân cử giáo phận Nha Trang... https://www.vietnam.vn/chu-tich-ubnd-tinh-nguyen-tan-tuan-tiep-tong-giam-muc-giuse-nguyen-chi-linh-va-giam-muc-tan-cu-giuse-huynh-van-sy/

3. Tôi không cần biết ông Hồ Chí Minh có mấy vợ (Nguyễn Hưng Quốc) https://thongluan.net/2023/05/20/toi-khong-can-biet-ong-ho-chi-minh-co-may-vo-nguyen-hung-quoc/

4. Việt Hoàng: Giải mã hiện tượng “cuồng Trump” https://thongluan-rdp.org/quan-di-m/item/18115-gi-i-ma-hi-n-tu-ng-cu-ng-trump

5. Cheney on the problem with American politics... https://thehill.com/homenews/campaign/4070139-cheney-on-the-problem-with-american-politics-were-electing-idiots/

Thứ Năm, 11 tháng 5, 2023

Từ Thức về Làng

 


Chu Văn

 

Tôi trốn khỏi Việt Nam tính đến nay cũng đã hơn 40 năm. Mãi đến gần 30 năm sau, tôi mới mon men về thăm nhà. Nói là thăm nhà, nhưng vì “sợ” đủ thứ cho nên tôi không dám công khai gặp gỡ người thân mà chỉ lang thang đi thăm thú những nơi mà trước năm 1975, vì chiến tranh tôi chưa hề được đặt chân tới. Chỉ mới gần đây thôi tôi mới bạo dạn hơn để về thăm làng cũ và gặp lại người thân trong gia đình cũng như một số người quen trong làng.

Tôi chỉ còn một bà chị già ở Việt Nam. Sau bao nhiêu năm xa cách, gặp lại chị, thấy chị vẫn còn khỏe mạnh và minh mẫn, tôi mừng. Riêng các cháu, con của các anh chị và cô em, tôi đếm không xuể. Có những đứa, khi tôi ra đi, chỉ mới tập tễnh cắp sách đến trường và rất nhiều đứa chưa sinh ra, vậy mà nay cũng đã làm ông làm bà. Tôi vui vì thấy ai cũng có nhà có cửa, có cuộc sống ổn định. Có người có cả xe hơi. Và cũng có người không hiểu làm cách nào cũng ngoi lên làm “đại gia” trong làng!

Thăm người thân trong gia đình, tôi cũng rảo một vòng để thăm và hỏi thăm về những người bạn thời tuổi thơ và niên thiếu. Chỉ còn lại năm ba người nay đã lên hàng tiên chỉ trong làng. Phần lớn, tôi chỉ còn biết mượn lời thi sĩ Vũ Đình Liên để ngậm ngùi tưởng nhớ: “Những người muôn năm cũ. Hồn ở đâu bây giờ”.

Nhớ những người bạn thời muôn năm cũ, tôi cũng ngẩn ngơ đứng nhìn hai con sông của thời tuổi thơ. Sông Cái chạy dọc theo làng và đổ ra biển Nha Trang. Còn Sông Con thì uốn khúc xuyên qua làng để chảy vào Sông Cái. Dòng nước trong thấy đáy của hai con sông này là nơi mà con rái con là tôi đã bì bõm tập bơi, tập câu cá và học đủ thứ “kỹ năng” để sống còn trong đời sống thôn dã. Tuổi thơ đẹp như chuyện thần tiên của tôi đã gắn liền với 2 con sông đó. Vậy mà nay , đứng nhìn 2 con sông, tôi cũng muốn thốt lên: “hồn ở đâu bây giờ”. Quả thật, hai con sông thân yêu của tôi cũng đã chết: người ta đã hút lấy hết xương tủy của hai con sông là sạn và cát khiến chúng chỉ còn là những dòng nước đục ngầu, dơ bẩn. Chẳng có gì buồn bã cho bằng không thấy bóng dáng của bất kỳ một đứa trẻ nào trên 2 con sông đó nữa! Không biết “đất nước” Việt Nam có đang chết không, nhưng rõ ràng là “nước” của hai con sông của làng tôi đã chết!

Có lẽ tôi thuộc “mạng thủy” cho nên cứ thấy sông nước và biển là  muốn “nhào xuống”. Tôi được may mắn là lớn lên, làm việc và sống nhiều năm ở Nha Trang trước khi trốn khỏi Việt Nam. Thành ra, trong chuyến về thăm quê cũ, tôi dành nhiều thời gian để đi lại những nơi quen thuộc của thành phố biển này. Trong số những nơi quen thuộc ấy, tôi đã dừng chân rất lâu ở Hòn Chồng, nằm  ở phía Bắc Nha Trang. Một lần nữa, tôi lại ngẩn ngơ đứng nhìn những đổi thay quá sức tưởng tượng của tôi. Các cao ốc làm tôi choáng ngợp đã đành, mà lạ quá, bờ biển đẹp và dòng nước trong xanh lại cũng làm tôi cảm thấy lạc lõng. Sở dĩ cái cảm giác ấy xâm chiếm tôi là bởi cái bãi biển thân yêu ngày xưa của tôi ngày nay tràn ngập một đám người “mắt xanh, mũi lõ, tóc vàng sợi nhỏ” mà không ai bảo ai, tất cả đều biết đó là người Nga. Dân địa phương cho biết: trước kia, du khách đến bãi biển Nha Trang hầu hết là người Tàu từ Trung Quốc. Nay, vì Covid 19, chính sách phong tỏa của Trung Quốc đã giới hạn sự đi lại của người dân, số du khách từ quốc gia cộng sản này đến Nha Trang có phần giới hạn. Bù lại, trên bãi biển, tôi thấy người Nga còn đông hơn cả người Việt Nam. Một ông bạn già của tôi giải thích rằng trước kia bãi biển Nha Trang là điểm đến của rất đông du khách từ các nước Tây Phương, nay hễ cứ thấy người Nga là họ bỏ đi nơi khác.

Những người Nga mà tôi thấy trên bãi biển Hòn Chồng hầu hết là những cặp vợ chồng trẻ có một hai đứa con còn nhỏ. Không biết có phải do bất đồng ngôn ngữ không, phần lớn đều tỏ ra lạnh lùng, xa lạ. Thời “Mỹ Ngụy”, trẻ con Việt Nam thường chạy theo sau đuôi những người lính Mỹ để “hello”, “ok salem”, nay tôi chẳng thấy có đứa trẻ nào tỏ ra thân thiện với người Nga. Tôi không hiểu tại sao người Nga tỏ ra lạnh lùng, mà người Việt cũng chẳng niềm nở hay thân thiện đối với họ.

Phản ứng đầu tiên của tôi trước cảnh người Nga tràn ngập bãi biển thân yêu của tôi là phẫn nộ. Không hiểu sao với tôi Nga lúc nào cũng  đồng nghĩa với “ cộng sản”. Nhưng theo dõi tin tức về thắng cảnh du lịch nổi tiếng của Nam Dương là Bali, tôi lại thấy cảm thông hơn với những người Nga đang có mặt trên bãi biển Nha Trang của tôi. Bali chưa bao giờ có đông du khách Nga cho bằng ngày nay. Họ tìm đến Bali vì họ trốn chạy cuộc chiến tranh xâm lược tại Ukraine của nhà độc tài Vladimir Putin. Dù chỉ tạm bợ, nhưng họ chiếm lấy công ăn việc làm của người Nam Dương cho nên bị người dân địa phương tẩy chay(1). Họ có mặt tại Nha Trang vì họ cũng đã bỏ phiếu bằng chân như tôi đối với chế độ độc tài của Putin. Tôi không biết họ làm gì để sinh sống. Xuất phát từ một nước Nga đang bị phá sản vì tham vọng đế quốc của nga hoàng Putin, những cặp vợ chồng trẻ bỏ nước ra đi chắc chắn không phải là những người giàu có. Chắc họ cũng phải bương chải để độ nhựt qua ngày. Tôi đã từng chứng kiến cảnh một người đàn ông Nga đứng buôn thúng bán bưng giữa một ngã tư gần bờ biển.

Sự hiện diện của đông đảo người Nga trên bãi biển Nha Trang không thể không làm tôi liên tưởng đến một người Nga tên là Lenin hiện đang được chế độ cộng sản Việt Nam sùng bái như một ông thánh sống. Cái chủ nghĩa do ông khai sáng đã chết ngay trên quê hương của ông và đã bị Nghị Viện Âu Châu quăng vào sọt rác, nhưng vẫn tiếp tục được tuyên xưng như một tín điều ở Việt Nam. Tượng của ông đã bị giựt sập tại hầu hết các nơi trên thế giới, nhưng vẫn đứng ngạo nghể giữa thủ đô của Việt Nam. Dĩ nhiên, bên cạnh ông lúc nào cũng có người học trò trung kiên của ông là Hồ Chí Minh. Dưới bóng của Lenin, tượng đài của Hồ Chí Minh vẫn chiếu sáng  trên mọi ngõ ngách của đất nước Việt Nam. Bóng của ông phủ lấp mọi hang cùng ngõ hẻm của đất nước. Ngay cả trong một số chùa chiền, ông cũng chễm chệ  ngồi ngang hàng hay ngay cả trên Đức Phật.

Sở dĩ sự hiện diện của người Nga tại thành phố biển Nha Trang của tôi làm tôi liên tưởng đến Lenin để rồi không thoát khỏi nỗi ám ảnh của người đã và đang được Việt Nam tôn thờ như một vị thánh sống là bởi vì trong những ngày về thăm quê hương, ở đâu tôi cũng cảm thấy như bị ngộp thở vì thứ chủ nghĩa đồi bại mà người đó đã cóp nhặt và áp đặt lên đất nước tôi. Cũng như nhà thơ Trần Dần của thời nhân văn giai phẩm, ở đâu tôi cũng “chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ”, đi đâu tôi cũng thấy đất nước bị nhuộm bằng màu máu của “búa liềm” và “cờ đỏ sao vàng”. Dưới bóng của Hồ Chí Minh, chế độ cộng sản được ông nhào nặn và áp đặt lên toàn cõi Miền Nam Việt Nam, như kỹ sư Nguyễn Gia Kiểng, người sáng lập và lãnh đạo Phong trào “Tập hợp Dân chủ Đa Nguyên” thường nói, người cộng sản hiện diện tại Miền Nam cho đến nay vẫn là một “lực lượng chiếm đóng” hơn là một chế độ dân chủ. Dưới là cờ “búa liềm” và “cờ đỏ sao vàng” là chiếc thòng lọng “331” được tròng vào cổ bất cứ ai “làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống phá nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.” Việc mới đây kỹ sư Nguyễn Lân Thắng bị chiếc thòng lọng “331” siết cổ là một điển hình. Hành vi chống phá chế độ của ông có thể chỉ là một cái cớ. Tội tày đình của ông chính là “xúc phạm” Bác Hồ, “vị cha già kính yêu của dân tộc”.

Lạ thật, nhiều nhà trí thức hay bất đồng chính kiến trong nước hiện nay, dù có phê phán hay lên án chủ nghĩa cộng sản và chế độ độc tài , vẫn một mực tôn vinh Hồ Chí Minh. Ngay cả một nhà văn nổi tiếng là bà Dương Thu Hương, người vừa mới được trao tặng giải thưởng cao quý của Pháp là Cino del Luca, cho dù, nói theo ngôn ngữ của bà, muốn “ỉa” vào mặt giới lãnh đạo cộng sản hiện nay, vẫn cứ tôn sùng Hồ Chí Minh. Trong một bài “suy ngẫm về đất nước và Hồ Chí Minh” được đăng trên đài BBC ngày 1 tháng Ba năm 2009, bà đã tuyên xưng: “Tôi thấy ông thật sự là một người vĩ đại...Nếu dân tộc Việt Nam đủ trưởng thành để nhận thức được điều đó thì họ sẽ hãnh diện vì đã có ông, Hồ Chí Minh” (2). Tôi không biết bà nghĩ gì về chiến dịch Cải cách Ruộng đất, những cuộc truy lùng thời Nhân văn Giai phẩm và nhứt là cuộc chiến “thần thánh” do chính ông phát động khiến cho hàng chục triệu người dân Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc bị mang ra sát tế trên bàn thờ xã hội chủ nghĩa. Nếu “dân tộc Việt Nam đủ trưởng thành để nhận thức được điều đó”, nghĩa là công khai nhìn nhận con người dối trá và độc ác của Hồ Chí Minh, cũng như các nước trong khối Đông Âu đã từng làm đối với Lenin và các lãnh tụ cộng sản khác hồi cuối năm 1989, thì  mới mong Việt Nam thực sự có dân chủ.

Với tôi, sau 48 năm xâm chiếm Miền Nam,  những người cộng sản cai trị đất nước dưới ngọn đuốc dẫn đường của Hồ Chí Minh chẳng khác nào các cai tù. Cho đến nay, cả nước vẫn tiếp tục là một nhà tù. Tất cả mọi cánh cửa lớn đều khép kín. Từ ngày gọi là mở cửa và đổi mới, một vài cánh cửa sổ được mở ra để dân chúng được hít thở. Bị giam dưới tầng đáy địa ngục, được hít thở một chút không khí từ bên ngoài, đã có lúc rất nhiều người Việt Nam tự nhận mình là một trong những dân tộc “hạnh phúc” nhứt trên thế giới. Khi một chút không khí từ bên ngoài thổi vào một vài cánh cửa sổ của nhà tù, nó cũng mang vào không biết bao nhiêu luồng khí độc. Tôi cảm nhận được điều đó khi trao đổi với các cháu của tôi. Một cô cháu suốt ngày ôm cái điện thoại cầm tay để tỏ ra “ngang tầm  thời đại” đã nguyền rủa Tổng thống Joe Biden không tiếc lời. Tôi hỏi tại sao, cháu tôi nói: vì ông ta “Dân Chủ”. Một người cháu khác ở Đà Lạt khoe không bao giờ đi chích ngừa Covid và cho biết đã thủ sẵn trong nhà rất nhiều thuốc ký ninh. Cháu tôi cho biết lý do: cựu Tổng thống Trump đã bị nhiễm Covid, ông đã được chữa lành chỉ nhờ uống thuốc chống sốt rét! 

Gần đây, trong những lần gặp gỡ và trao đổi với người thân và bạn bè,  tôi “sợ” tình cảm bị sứt mẻ đến nỗi không bao giờ dám chủ động nhắc đến tên ông Trump. Vậy mà họ cứ tự động đưa ông vào câu chuyện. Hầu hết là khen ngợi và ngay cả tôn vinh ông như rất nhiều người Việt Nam ở Mỹ. Một người em họ của bà xã tôi, hiện đang làm chủ một công ty trang trí nội thất có lẽ lớn nhứt ở Vũng Tàu, mặc dù không tán thành tư cách của ông Trump, vẫn ca tụng ông về nghệ thuật “kinh bang tế thế” của ông. Tôi không ngạc nhiên về sự sùng bái mà nhiều người Việt Nam trong nước dành cho ông Trump. Ở thành phố Bảo Lộc, một buổi chiều không biết làm gì, tôi chui vào một nhà sách được xem là lớn nhứt trong thành phố. Dĩ nhiên, cơ sở văn hóa nào ở Việt Nam cũng đều nằm dưới sự giám sát chặt chẽ của nhà nước cộng sản. Đập vào mắt tôi nhiều nhứt là hầu như tác phẩm nào của ông Trump cũng đều được dịch sang tiếng Việt và được trưng bày ở nơi dễ bắt mắt nhứt. Trong số những cuốn sách của ông trùm bất động sản này, có cả những cuốn viết về Trường Đại Học Trump (về nghệ thuật tiếp thị 101, làm thế nào để sử dụng những ý tưởng có công hiệu nhứt trong tiếp thị!). Không biết những người sùng bái ông Trump ở Việt Nam có bao giờ biết rằng Đại học Trump chỉ là một thứ đại học ma chuyên lường gạt những người nhẹ tin và sau khi mánh lới của ông đã bị phanh phui ông đã bị phạt  phải đền trả đến 25 triệu Mỹ kim không?

Nếu sự dối trá của ông có đầu độc được nhiều người Việt Nam trong đó có rất đông những người thân quen của tôi là bởi vì nhà nước cộng sản Việt Nam đã cố tình hé mở những cánh cửa sổ  của nhà tù để cho những luồng gió độc hại của dối trá và các thuyết âm mưu thổi vào mà thôi.

Việt Nam đã biến thành một nhà tù từ 48 năm qua. Tôi may mắn được trốn thoát khỏi nhà tù đó. Tôi vẫn tiếp tục xem tư cách tỵ nạn của tôi là một thứ vốn quý giá nhứt trong cuộc đời của tôi. Hàng năm, cứ đến tháng Tư, tôi luôn ý thức về tư cách ấy. Tôi vượt thoát ra khỏi nhà tù cộng sản là để chống lại dối trá, độc ác và vô cảm vốn là bộ mặt thật của người đã rước chủ nghĩa cộng sản vào cày xéo đất nước tôi và hiện là linh hồn của chế độ cộng sản. Tư cách tỵ nạn luôn nhắc nhở tôi rằng trong cuộc đời không có gì quý hơn là sống cho Sự Thật và những giá trị nhân bản gắn liền với sự thật. Đối lại câu nói dối trá và sáo rỗng của Hồ Chí Minh là “Không có gì quý hơn Độc Lập, Tự Do” như tôi đã thấy trong nhà tù cộng sản Việt Nam từ 48 năm qua, tôi chỉ muốn bắt chước giáo sư và nhà văn Nguyễn Thanh Việt khi kết thúc quyển tiểu thuyết “The Sympathizer” (kẻ nằm vùng) nổi tiếng của ông: “Không có gì mới thật sự là quý hơn độc lập tự do”. Khi xuống tàu vượt biên, trên người tôi chỉ còn lại  một chiếc quần đùi. Quả thật,  tôi “không có gì hết”, nhưng đó cũng chính là lúc tôi cảm nhận được điều quý giá và ý nghĩa nhứt trong cuộc đời: đó là chống lại Dối Trá, Độc Ác, Vô Cảm và sống chết cho Sự Thật.

 

 

Chú thích:

1.   “They don’t respest us”: Backlash in Bali as Russians flee war.

https://www.aljazeera.com/economy/2023/3/15/they-dont-respect-us-russians-face-backlash-in-ba

2.   Dương Thu Hương nghĩ về Hồ Chí Minh https://baotiengdan.com/2023/05/02/duong-thu-huong-nghi-ve-ho-chi-minh/

 

Thứ Bảy, 1 tháng 10, 2022

Tập tành viết lách



Thi Văn

Hôm nọ, có người bạn thấy tôi hí hoáy viết nên đùa: “Bây giờ có giờ để tập tành viết lách rồi há!” Tôi chỉ cười. Một cách nào đó, cũng đúng.

Tuy nhiên, với tôi, khi đã rời ghế nhà trường, khi đã không còn phải viết theo một đề tài do ai đó đưa ra, chúng ta không còn trong giai đoạn “tập tành viết lách” nữa. Ngữ pháp có thể chưa hoàn chỉnh. Cấu trúc có thể chưa mạch lạc. Cách viết có thể chưa đủ sức chuyển tải. Những điều đó không thể “giáng cấp” ai đó vào loại “tập tành viết lách” nếu như họ đang diễn tả “chủ đề” do chính họ lựa chọn. 

Trước đây tôi thích chọn "ngôn ngữ" yên lặng, nhất là trong thời đại thông tin toàn cầu. Cho đến nay, tôi vẫn tin sức mạnh của sự yên lặng. Bởi ít ra, trong khi sự ồn ào và hỗn loạn của thông tin toàn cầu và các mạng xã hội có thể mang đến đủ mọi hỉ nộ ái ố cho những người trong và ngoài cuộc, yên lặng thường không làm chuyện đó. 

Với tôi, yên lặng cũng là một cách phát biểu tư tưởng của mình. Yên lặng cũng có “tiếng nói” của nó. Tôi đã chọn cả hai, nhưng yên lặng nhiều hơn. Tôi biết nhiều người cũng như vậy. Nhất là nếu đang phải sống trong một xã hội thiếu quyền tự do ngôn luận. Giữ yên lặng. Vừa nhàn vừa yên thân. 

Thế nhưng khi nhìn thấy sự lạm dụng quyền tự do thông tin và phát biểu thiếu trách nhiệm của nhiều người trên thế giới mạng, tôi phải tự hỏi, yên lặng vào lúc này có còn thật sự đúng lúc hay không?Làm sao để giữ được quân bình giữa yên lặng và lên tiếng?

Làm sao để có thể sống hoà đồng giữa những ồn ào bất tận và sự yên lặng trong lành?

Cuối cùng tôi chọn lên tiếng cho “yên lặng” bằng những dòng chữ. Với tôi, viết lách là cách tốt nhất để “đấu tranh” cho yên lặng. Vì chúng ta thường đọc bằng mắt chứ không đọc bằng miệng. Chữ viết có thể tôn trọng yên lặng nhưng những cách phát biểu tư tưởng khác như nói, hát thì không. Tôi mong là những người ồn ào cũng phải biết tôn trong sự yên lặng của người khác. Đừng gán hay nhét vào miệng họ những gì không phải của họ khi cho rằng "đâu có ai phản đối!" 

Tôi luôn cám ơn cuộc đời vì đã được sống ở một nơi mà tôi có thể “viết” mà không phải “lách”. Tôi thương những người hoặc phải chọn yên lặng hoặc phải tìm mọi cách để phát biểu tư tưởng mà không liên lụy cho chính mình và gia đình. Một nhạc sĩ trẻ trong nước đã chẳng từng viết: "Mỗi đêm ta ngồi ta viết, ta chỉ mong không bị cấm ngăn" đó sao? Tôi đã từng ở trong hoàn cảnh đó, nhìn đâu cũng thấy bị rình rập. Cảm giác đó đã khiến tôi không còn muốn nói thật những gì mình nghĩ đến độ tôi thấy mình mất bản năng bộc lộ ý kiến. Lúc nào cũng đắn đo. Cho nên, nói rằng tôi đang “tập tành viết lách” cũng đúng một phần là vậy. Tôi đang tập “nói” trở lại. Tôi đang tập lấy lại bản năng hồn nhiên của một con người như nhà thơ Phùng Quán đã viết: “yêu ai thì nói là yêu, ghét ai thì nói là ghét, dù ai cầm dao dọa giết, cũng không nói ghét thành yêu”. 

Và qua “viết lách”, tôi đang “tập” làm người. 

Bởi lẽ, người ta đã chẳng thường cho rằng “văn là người” đó sao?

Thi Văn







Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2022

Ngu như...người!

 



Chu Văn

Tôi ở cách thành phố Sydney về hướng Bắc chỉ độ khoảng hơn một giờ lái xe. Xa cộng đồng người Việt, phía sau nhà lại có cả một dãy núi rừng thuộc lâm viên quốc gia cho nên mỗi lần liên lạc bằng điện thư với một ông bạn thân ở Marrickville, một khu ngoại ô của Sydney được ông Việt hóa thành “Ma Cốc”, tôi cũng bắt chước cái giọng kiếm hiệp của ông để gọi nơi mình đang sống là “Cùng Cốc”. Mà cùng cốc thiệt, bởi vì hầu như quanh năm ngày tháng, hiếm họa lắm mới có bạn bè và người thân ở Sydney chịu khó quá bộ đến thăm. Ngoài hai con khỉ già, trong nhà tôi chỉ có mỗi một bạn thân là cậu chó. Lúc nào cậu cũng có mặt bên cạnh tôi. Sáng sớm thức dậy, vừa kéo màn cửa phòng ngủ đã thấy cậu túc trực bên ngoài. Không phải là “thú cưng”, cậu đâu được sống trong nhà, chớ đừng nói tới chuyện ngủ cùng giường với tôi. Dù vậy, cái khoảng cách ấy vẫn không làm cho mối quan hệ giữa chúng tôi và cậu chó trở nên lạt lẽo. Cậu chó không những là bạn mà còn là “thày” dạy tôi rất nhiều bài học.

Vốn là hậu duệ của giống chó săn Samoyed phát xuất từ mãi trên vùng Siberia của Nga, cậu chó nhà tôi vẫn còn giữ nguyên cái bản năng săn mồi, đặc biệt đối với giống gà lôi rừng (bush turkey) mà tôi ghét cay ghét đắng bởi vì chúng chuyên phá hoại vườn tược của tôi. Về mặt này thì quả thật cậu chó nhà tôi “thông minh như người”. Ngoài những lúc ngủ ngày hoặc ngồi nhìn ra vườn với vẻ mặt đăm chiêu như một triết gia, lúc nào cậu cũng chăm chỉ ngước nhìn lên ngọn đồi phía sau nhà để theo dõi xem có chú gà lôi rừng nào xuất hiện không. Những khi “phát hiện” được một đối tượng, cậu không tức khắc động thủ đâu, mà chỉ ngồi đó sủa đổng. Chờ cho đến khi nhà tôi hay tôi xuất hiện, cậu mới nhanh nhẹn trèo đồi vượt núi để săn đuổi con gà lôi rừng. Hoàn thành nhiệm vụ, cậu liền chạy xuống và chờ chúng tôi thưởng cho một món ăn đặc biệt (treat) cậu ưa thích nhứt. Thí nghiệm của Pavlov ứng dụng một cách rất chính xác vào cậu chó nhà tôi. Ba điều kiện ắt có và đủ để cậu ứng xử theo bản năng săn mồi của cậu là: một con gà lôi rừng xuất hiện, sự có mặt đúng lúc của chúng tôi và dĩ nhiên, một phần thưởng đang chờ đợi cậu. Thiếu một trong ba yếu tố này, còn lâu cậu mới chịu làm việc. Riêng tôi học được bài học từ cậu chó: bất tác bất thực! Muốn ăn thì phải làm việc!

Tôi rất hãnh diện về cậu chó nhà tôi. Trong vùng tôi đang sống, có lẽ chẳng có cô cậu chó nhà nào đắc dụng và thông minh cho bằng cậu chó nhà tôi. Ngoài tài săn mồi, cậu chó nhà tôi còn nổi bật vì cái tên rất đặc biệt của cậu. Ở Việt Nam trước kia, ngoài giống chó berger hay danois được nuôi để giữ nhà, phần lớn chó cỏ trong nhà đều không có tên. Cùng lắm không cún thì cũng vằn hay vện mà thôi. Nhưng nhập gia tùy tục, từ ngày rước cậu chó về nhà, chúng tôi phải bù đầu bứt tóc mới tìm cho cậu được một cái tên “Tây” có thể nói lên hết cá tính của cậu. Nhận thấy cứ mỗi lần dắt cậu đi dạo, gặp bất cứ cô cậu chó nào khác đang tiến lại gần, cậu cũng đều gầm gừ nhào vô tấn công, tôi muốn tìm một cái tên nào khả dĩ gợi lên được cái tính khí hung hăng ấy. Cậu về nhà tôi năm 2016, tức năm tỷ phú Donald Trump ra tranh cử tổng thống Mỹ. Ông đánh đâu thắng đó. Chưa từng làm chính trị, vậy mà ông đã có thể  hạ gục tất cả  những đối thủ sừng sỏ nhứt của cả hai đảng chính trị uy thế nhứt ở Mỹ. Tôi tra tự điển thấy động từ trump trong tiếng Anh có nghĩa là chơi lá bài chủ và thắng. Tôi vỗ đùi “eureka” một tiếng: còn tên nào thích hợp cho cậu chó nhà tôi cho bằng “trump”. Nhưng sợ phạm húy, tôi “rửa tội” cho cậu và đặt tên cho cậu là “Trumpy”.

Tuy không dính dáng gì đến tổng thống thứ 45 của Mỹ, nhưng cái tên “Trumpy” của cậu chó nhà tôi quả thực dễ gây tranh cãi. Những người Việt sùng bái ông Trump thì cho rằng tôi có ý chơi xỏ hay xúc phạm đến ông hoặc chính tình cảm của những người sùng bái ông. Nhưng đối với dân Úc rặc thì lại khác. Người Tây Phương vốn thích ai thì lấy tên người đó để đặt cho thú cưng của mình. Khi được tôi giải thích về ý nghĩa của động từ trump và tên của cậu chó nhà tôi, một ông bạn người Úc tưởng tôi là một người “cuồng trump” cho nên mới phán một câu xanh rờn: “Ông xúc phạm đến con chó của ông” (you offend your dog!).

Kể từ khi có chó trong nhà, tôi mới bắt đầu học hỏi về chó, tôn trọng chó và yêu thích chó. Lúc còn trong nước, nhứt là sau năm 1975, tức thời kỳ “chó chết”, tôi có coi chó ra gì đâu. Tôi ghét chó là khác, bởi vì hay bị chó cắn và ban đêm cần giấc ngủ yên, lại phải bị tiếng chó sủa tra tấn. Và cũng như rất nhiều người Việt Nam khác, tôi cũng đã từng xem thịt chó là một món khoái khẩu. Nhưng kể từ khi sống ở nước ngoài và được văn hóa Tây Phương “khai sáng”, như ông bạn người Úc của tôi đã nhận xét, tôi mới thấy mình đã xúc phạm đến chó và thú vật nói chung bằng rất nhiều cách. Cần gì phải hành hạ chó, giết chó, ăn thịt chó, bắt chó phải làm hoạn quan, chửi ai đó là “đồ chó” hay “đồ chó đẻ” cũng đã là “xúc phạm”đến chó rồi. Hễ cái gì là tồi tệ nhứt trong nhân cách con người, thì người ta lại trút lên đầu chó. Kỳ thực, cũng như mọi thú vật khác, chó chỉ sống theo bản năng. Chó không có “lý trí” để suy xét. Chó không có ý thức về thiện ác, tốt xấu cho nên không độc ác. Vậy thì chỉ có con người mới “ngu”, mới “ác” mà thôi.

Ngoài chó ra, còn bị xúc phạm nặng hơn có lẽ là bò. Có lẽ gần đây bò được người Việt Nam trong nước nghĩ tới nhiều sau vụ án Tịnh Thất Bồng Lai. Ngoài không biết bao nhiêu tội “tày đình”, cụ Lê Tùng Vân và các đệ tử của cụ còn bị tuyên án 10, 15 năm tù vì đã xúc phạm đến một nhà sư nổi tiếng trong nước hiện nay là Thượng tọa Thích Nhật Từ, một cao tăng quyền uy của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Luật sư đại diện cho vị thượng tọa này trình tòa một băng hình do nhóm Tịnh thất Bồng lai phổ biến trong đó không rõ hư thực như thế nào mà lại có câu nói xúc phạm đến Thượng tọa Thích Nhật Từ như sau: “Thích Nhật Từ ngu như bò”. Luật sư đại diện cho vị thượng tọa biện hộ: “Nếu như bây giờ tôi nói Chúa ngu như bò thì các ông thấy sao?”(1) Thật tội nghiệp cho bò. Không biết bò có ngu không, nhưng một luật sư biện hộ như thế và một tòa án xét xử dựa theo một lời biện hộ như thế...nếu không gọi là ngu thì không biết phải gọi bằng một từ ngữ nào nữa.

Mỗi lần nghĩ đến chữ “ngu”, tôi không thể không liên tưởng đến câu nói nổi tiếng được gán cho nhà bác học lừng danh nhứt của Thế kỷ 20 là Albert Einstein: “Có hai điều vô cực là vũ trụ và sự ngu xuẩn của con người; và tôi không chắc về sự vô cực của vũ trụ”. Tác giả của câu nói hiểu ngầm: tôi không chắc vũ trụ có vô cực không, nhưng cái ngu vô cùng của con người thì tôi không nghi ngờ  gì cả”.

Lịch sử nhân loại có lẽ đã được viết bằng sự ngu xuẩn của con người. Loạn lạc, chiến tranh, chết chóc...là gì nếu không phải là những trang sử đã và đang được viết bởi chính sự ngu xuẩn của con người. Trong một cuộc phỏng vấn trên đài CNBC của Mỹ dạo tháng Bảy năm 2018, một sử gia được xem là có thế giá nhứt thế hiện nay là giáo sư Yuval Harari, hiện đang giảng dạy tại Đại học Do Thái ở Jerusalem, Israel,  đã khẳng định: “Điều mà lịch sử dạy cho chúng ta là chúng ta đừng bao giờ xem thường sự ngu xuẩn của con người. Đây là một trong những sức mạnh mãnh liệt nhứt trên thế giới” (2).

Có lẽ chỉ cần nhìn lại sự tàn ác dã man của Đức Quốc Xã của Hitler để thấy thế nào là sức mạnh của sự ngu xuẩn của con người. Một mình Hitler đã chẳng có đủ ba đầu sáu tay để tàn sát 6 triệu người Do Thái và gây ra đau thương tang tóc cho cả thế giới. Chính sự ngu xuẩn của người dân Đức đã đưa Hitler lên ngôi bá chủ và đã góp phần gây ra tội ác cho nhân loại. Đó là điều không thể chối cãi được.

Nói đến sự ngu xuẩn của con người, tôi lại nhớ đến một người bạn rất thân thời tỵ nạn hiện đang sống ở Mỹ. Lâu rồi tôi không còn liên lạc với ông. Không biết hiện nay ông còn “sùng bái” thần tượng Donald Trump của ông không. Thời ông Trump vừa được bầu làm tổng thống Mỹ, tôi có ghé thăm ông. Biết tôi không “thần phục” thần tượng của ông, ông bạn tôi, vốn là một luật sư, nói như tát vào mặt tôi: “Bộ anh tưởng dân Mỹ chúng tôi ngu cả sao?”

Tôi đang sống ở Úc. Dân chủ hay Cộng hòa, tôi chẳng đứng về bên nào cả. Nhưng cứ nhìn vào tư cách và hành xử của cựu Tổng thống Trump, tôi thấy lo cho nước Mỹ và dĩ nhiên cũng lo cho cả thế giới nếu ông được tái cử tổng thống vào năm 2024 tới đây. Mới đây, ông yêu cầu nếu không phục chức tổng thống cho ông thì phải tức khắc tổ chức bầu cử lại. Đám đông ủng hộ ông luôn tin rằng ông là người được Chúa tuyển chọn và ngày “Tái Lâm” (The Great Awakening) của ông sẽ đến. Chính ông cũng đã từng tuyên bố rằng ông là người được Chúa tuyển chọn và nói xa nói gần rằng ông cũng phải được làm tổng thống mãn đời như Chủ tịch Tập Cận Bình của Trung quốc. Ngay cả khi bị bứng ra khỏi Tòa Bạch Ốc cách đây gần 20 tháng, ông vẫn hành xử như một tổng thống. Bất kể luật pháp, ông mang không  biết bao nhiêu hồ sơ mật của chính phủ về tư dinh Mar-a-Lago ở Florida như thể những tài liệu mật đó vẫn còn thuộc về ông và ông muốn làm gì ông thích. Năm 2019, ông đã có lần tuyên bố rằng vì là tổng thống, ông “có quyền làm bất cứ điều gì ông muốn”. Chỉ có người được Chúa tuyển chọn và đại diện cho Chúa mới có quyền như thế!(3) Và rất đông người Mỹ cũng tin như thế!

Ở Thế kỷ 21 và nhứt là trong một nước văn minh nhứt thế giới như Hoa Kỳ, vẫn còn có người nghĩ như thế về mình và được một số đông sùng bái tôn thờ, thì đừng nên chửi ai đó “ngu như bò”.

Ngu xuẩn là thuộc tính của con người. Thông minh cỡ nào, học rộng hiểu sâu cỡ nào, ai cũng có thể ngu xuẩn. Bài học của lịch sử thiết yếu cũng là một bài học về khiêm tốn. Thế giới sẽ là một nơi tốt đẹp hơn để sống nếu con người biết sống khiêm tốn hơn. Khiêm tốn hơn để luôn cảnh tỉnh và nhận ra mình có thể ngu xuẩn ở bất cứ tuổi nào và bất cứ lãnh vực nào.

Trumpy, cậu chó nhà tôi, còn biết "truy tìm hạnh phúc" cho mình. Trong khi đó, con người thì lại cứ chạy theo cái (quái) gì vậy? 

 

Chú thích:

1. Bên phía luật sư nói “Chúa ngu như bò” thắng kiện, Đàn Chim Việt info , 24/7/2022

2. Eustace Huang, “Never enderestimate huuman stupidity”, says historian whose fans include Bill Gates and Barack Obama, CNBC July 15 2018

3. Jack Shafer, The messianic Trump cult, Politico 08/31/2022

 

 

 

Thứ Năm, 18 tháng 8, 2022

Chuyện sau, chuyện trước


 
Thi Văn 
Tôi vừa qua mốc điểm 40 năm bước chân đến Úc.  Người ta thường thích nhắc đến những cột mốc thời gian. Con số càng lớn thì càng đáng để nhắc đến. Bởi từ đó, họ có thể đánh giá những gì đạt được. Tất cả những đánh giá cũng thường là những con số. Sau bao nhiêu năm, có được bao nhiêu bằng cấp, tạo được bao nhiêu của cải, có thêm được bao nhiêu thương vụ, cơ sở, bất động sản, bao nhiêu bạn bè, con cháu…Cũng hợp lý thôi. Đời người có một lần 40 năm ở một xứ thanh bình quả là một may mắn. Thế nhưng, với tôi, những con số thường gợi lên cho tôi những băn khoăn, thắc mắc. Khi đọc những con số được liệt ra thì tôi lại liên tưởng đến những con số cố tình bị bỏ quên. Vì sự thường, bên dưới con số chỉ ra sự thành công thường là con số của những cái giá phải trả không những của chính đương sự mà cả của những người khác. Những con số có thể lớn hơn, đắt hơn rất nhiều. Con số 40 năm của tôi không ngoại lệ.
Thứ tự đời người gói trọn trong sinh lão bịnh tử. "Sinh" bao gồm tuổi thơ, học hành, lập nghiệp, gia đình..."Lão" và "Bịnh" thì thường đi với nhau không hẳn phải theo thứ tự nhưng chắc chắn "Tử" thì phải sau chót và chẳng ai thoát.
Với tôi, hôm nay, khi nhìn lại tôi chỉ thấy rằng cuộc đời tôi đã đảo lộn kể từ 1975 và tiếp tục đảo lộn ngay cả sau khi đã được định cư ở Úc. Cái nên đến trước thì lại đến sau và cái có thể để sau thì lại phải làm trước.
Cái đảo lộn đầu tiên phải nói là cái tên của tôi. Tôi không khó chịu vì phải đem cái tên đặt trước cái họ. Nhưng mấy “thầy" thông dịch lại lôi cái tên đệm "thị" ra phía trước. Kết quả là đàn bà con gái Việt Nam ở Úc có tên Thi rất nhiều, không thua gì cái họ Nguyễn. Tôi đành phải chấp nhận tên "Thi" vì không biết phải làm sao. Dốt tiếng Anh nó vậy. Tự nhủ, mất nước rồi thì có mất tên cũng chỉ là chuyện nhỏ. 
Như cái tên của tôi, cuộc sống khi vừa đặt chân đến Úc không như tôi nghĩ. Vào thời điểm 1982, với những đợt sóng người tỵ nạn dồn dập, các dịch vụ dành cho người mới đến, nhất là dịch vụ thông dịch trở nên quá tải. Tôi không biết rất nhiều thông tin hữu ích. Tôi không biết rằng mình có thể và có quyền đi học. Tôi cũng không biết rằng học không khó khăn và “ghê gớm” như tôi nghĩ. Thời đó, giáo dục gần như là miễn phí ở Úc và được trợ cấp. Nhìn những người chung quanh, không mấy ai đi học. Cuối cùng, tôi phải làm lụng, nuôi con và xây dựng gia đình. Con tôi càng lớn thì giấc mơ đi học của tôi càng xa đến nỗi tôi không muốn nghĩ đến. Học, với tôi, suốt đời, là một thôi thúc. Đồng lương của người không có bằng cấp cũng đủ sống nên tôi cũng an phận vì biết rằng muốn học một ngành nào đó thì đều phải bước qua cái ải Anh văn. Mà tôi thì thấy mình kém quá nên cứ nghĩ rằng thôi để lo cho các con xong rồi học cũng không muộn. Tôi tìm an ủi bằng cách nhìn từng đứa con ra trường.
Cho đến khi đứa con cuối cùng ở năm thứ ba đại học, tôi quyết định đi học trước khi trễ chuyến tàu chót. Thế là vừa đi học vừa đi làm. Khi ra trường, tôi đã quá 50. May mà có việc. 
Tôi đạt được giấc mơ được đi học. Tôi không ngờ sự học và tiếng Anh đã cho tôi không những một sự nghiệp tôi luôn ôm ấp, mà còn mở ra nhiều cánh cửa khác mà suốt mấy chục năm ở Úc tôi không cách nào mở ra được: tôi có thể đọc những bài viết, nghe tin tức, nói chuyện với hàng xóm bằng một tiếng Anh mà người đối diện có thể hiểu được. Tôi có thể giải thích những vấn đề liên quan cho bệnh nhân một cách dễ hiểu và chi tiết. Tôi cũng có thể giúp liên lạc với các cơ quan dịch vụ cho họ, một điều mà trước đây tôi phải nhờ người khác với tất cả sự ngưỡng mộ. Đương nhiên dù có học thêm bao nhiêu năm, tiếng Anh của tôi vẫn là một thứ tiếng Anh "ăn đong". Nhưng với tôi, vậy là đủ. Tôi đã mở được những cánh cửa cần thiết để tiếp tục hành trình học hỏi, tham khảo và giao tiếp. Tôi vui hơn trúng số. Giá mà tôi quyết định đi học sớm hơn…
Nếu đời tỵ nạn có bị đảo lộn rồi cũng đi đến nơi muốn đến trước khi bước vào "lão, tử" như vậy thì với tôi, vẫn còn may. Thế nhưng, những cánh cửa tôi mở ra lại dẫn tôi về một giai đoạn trong quá khứ mà bây giờ, dù rất muốn, tôi không đi ngược lại được. Trong một dịp tình cờ, tôi mới biết được rằng, những khủng hoảng tuổi thiếu niên mà các con tôi phải trải qua một phần bắt nguồn từ sự cản trở ngôn ngữ. Tiếng Việt của chúng không đủ và tiếng Anh của tôi lại càng không đủ. Ở đây, không ai chết đói vì đi học. Thế hệ tỵ nạn ít người đi học có thể vì nhu cầu giúp đỡ gia đình ở quê nhà, xây dựng gia đình, nuôi nấng con cái và áp lực của cải. Và nhất là vì không nhìn thấy lợi ích lâu dài và hạnh phúc của việc biết thêm một ngôn ngữ, có thêm kiến thức và một sự nghiệp tốt.  Tất cả lý do đều chính đáng. Thế nhưng, việc được cung cấp một cuộc sống đầy đủ tiện nghi vật chất không hẳn có thể giải quyết nhu cầu thực sự của thế hệ đầu tiên sinh ra và lớn lên ở Úc. Chúng cần sự cảm thông hai chiều trong cuộc sống giữa những xung đột của hai nền văn hóa. Hiểu và được hiểu trong quan hệ gia đình là một hạnh phúc mà chúng tôi đã đánh mất vào cái lúc cần thiết nhất.
Tôi tin tôi không là một ngoại lệ. Khi không hội nhập được vào những thông tin dòng chính nơi mình đang sống, chúng ta sống co cụm với những kiến thức lệ thuộc vào người khác và không có khả năng đối chiếu, kiểm chứng hay nghi vấn. Cũng không có khả năng để giải thích những khác biệt giữa văn hóa Úc Việt. Tiếng Anh đã chấp cánh cho tôi. Và tôi cảm nhận được sự bao la của kiến thức và tư tưởng.
Bây giờ, mẹ con chúng tôi nói chuyện với nhau nhiều hơn và hiểu nhau hơn. Nhưng không còn là câu chuyện giữa một bà mẹ trẻ và những đứa con lô nhô mà là câu chuyện giữa một người bước vào tuổi già và những người đã trưởng thành. Chúng tôi kể lại cho nhau những khoảng trống trong quá khứ. Đời tôi cái gì cũng ngược.
Cuối cùng, giá mà tôi có thể đi ngược về "quê hương bỏ lại" của ngày nào trong kiếp này.
Nằm mơ!



Thứ Ba, 2 tháng 8, 2022

Đồng hành

 



Chu Văn

“Đồng hành”: đó là chủ đề được viết bằng hai thứ tiếng Anh “Walking Together” và PhápMarcher Ensemble” mà tôi xem là nổi bật nhứt trong chuyến viếng thăm Canada mới đây của Đức Phanxicô, nhà lãnh đạo tinh thần của Giáo hội Công giáo trên toàn thế giới. Là một tín hữu công giáo, tôi thường theo dõi điều được gọi là các “chuyến tông du” của các vị giáo hoàng. Theo dõi để lắng nghe các lời giảng dạy của những người được xem là có một uy tín lớn trong lãnh vực tinh thần. Theo dõi để hiểu biết lịch sử và văn hóa của những đất nước được các vị giáo hoàng viếng thăm và dĩ nhiên, qua đó, gặp gỡ và bày tỏ sự cảm thông hay đúng hơn học hỏi để biết tỏ ra cảm thông đối với người dân các nước đó.

Mãi cho đến giữa thập niên 1960, được nhìn thấy một vị giáo hoàng bằng xương bằng thịt là một ân huệ hiếm có trong đời của một người công giáo. Năm 1929, dưới thời nhà độc tài Benito Mussolini (1883-1945), Ý và Tòa thánh Vatican đã ký một thỏa ước qua đó Ý nhìn nhận Vatican như một quốc gia. Nhưng cũng kể từ đó, nhà lãnh đạo tinh thần của Giáo hội Công giáo bị giam hãm trong bốn bức tường của Điện Vatican chẳng khác nào một tù nhân. Năm 1964, Đức Phaolô VI đã làm một bước đột phá lịch sử khi ra khỏi điện Vatican để hành hương đến Thánh Địa, nơi chào đời của Chúa Giêsu. Kể từ đó, lên đường viếng thăm các nước được những người kế vị Đức Phaolô VI xem như một truyền thống phải tuân giữ.

Trong hầu hết các chuyến viếng thăm được gọi là “mục vụ” của các vị giáo hoàng, các tín hữu công giáo tại những nước được viếng thăm có dịp “chiêm ngưỡng” dung nhan của người mà họ thường cung kính gọi là “Đức Thánh Cha” và lắng nghe từng lời giảng dạy của các ngài. Nhưng với riêng tôi, dường như trong chuyến viếng thăm Canada lần này, Đức Phanxicô không đến đó để giảng dạy cho bằng bày tỏ sự sám hối. Chính Ngài gọi chuyến viếng thăm là một cuộc hành hương sám hối. Trong nhiều dịp khác nhau, kể từ năm 2000, các vị giáo hoàng không ngừng nói lên lời xin lỗi vì những tội ác của “con cái Giáo hội” qua suốt dòng lịch sử của Giáo hội tại rất nhiều nơi trên thế giới. Nhưng những lời xin lỗi ấy chỉ được thốt lên trong những nghi thức trang trọng được cử hành ở trung tâm của Giáo hội là Roma. Nay, Đức Phanxicô đi đến tận nơi đã diễn ra tội ác để nói lên hai tiếng xin lỗi và bày tỏ sự sám hối. Trong một cuộc gặp gỡ với những người bản địa Canada tại Thành phố Edmonton, Tỉnh bang Alberta hôm thứ Hai 25 tháng Bảy vừa qua, ngài đã đội trên đầu chiếc mũ làm bằng lông chim đặc trưng của người thổ dân và lập lại nhiều lần hai tiếng xin lỗi. Lời xin lỗi của Đức Phanxicô được đưa ra gần nơi đã từng có một trường nội trú dành cho trẻ em người bản địa. Với hệ thống trường nội trú dành cho trẻ em bản địa, trong suốt một giai đoạn kéo dài trên 150 năm, Chính phủ Canada đã tách biệt trẻ em bản địa khỏi gia đình của chúng với mục đích xóa bỏ văn hóa và truyền thống của các em và áp đặt văn hóa của người da trắng lên các em. Một trong những nỗ lực đồng hóa này là trao phó các trường nội trú cho các Giáo hội Kitô Giáo, trong đó nổi bật nhứt là các linh mục và tu sĩ công giáo. Những nhà truyền giáo này đã ép buộc các trẻ em thổ dân phải gia nhập Kitô Giáo và đồng hóa các em vào nền văn hóa Canada. Tính chung đã có khoảng 150.000 trẻ em từ các bộ lạc của người bản địa đã bị bắt đi và đưa vào 139 trường nội trú, hầu hết do Giáo hội Công giáo điều hành. Năm 2015, một bản báo cáo của Ủy ban Sự thật và Hòa giải đã phanh phui những câu chuyện về các trẻ em bản địa “bị lạm dụng về thể lý và tính dục.” Những nấm mồ vô danh được khai quật trong các trường nội trú cũng cho thấy tính cách mờ ám của nhiều cái chết của trẻ em bản địa. Bản báo cáo khẳng định rằng hệ thống các trường nội trú dành cho các em bản địa không được thiết lập để “giáo dục” các em mà “chính là để cắt đứt mối liên hệ của các em với nền văn hóa và bản sắc của các em”. Bản báo cáo kết luận rằng hoạt động của các trường nội trú này “có thể được mô tả như một cuộc diệt chủng văn hóa” (1).

Hai tiếng xin lỗi rất chân thành của Đức Phanxicô đã tạo ra một niềm cảm xúc sâu xa nơi nhiều người dân bản địa Canada. Tuy nhiên, nhiều người vẫn cho rằng lời xin lỗi và sám hối ấy chưa đủ. Như được nhìn thấy trên một tấm biểu ngữ được treo trước Vương cung Thánh đường Sainte Anne de Beaupré ở Québec hôm thứ Năm 28 tháng Bảy vừa qua, một số người bản địa đã yêu cầu Đức Phanxicô “Hãy hủy bỏ học thuyết”  (Rescind the Doctrine). “Học thuyết” mà những người biểu tình muốn ám chỉ là “Học thuyết khám phá” (Doctrine of Discovery). Đây là học thuyết được các giáo hoàng ở Thế kỷ 15 đề ra trong một số sắc lệnh để khuyến khích các vua, đặc biệt là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha lên đường chinh phục đất đai của các dân tộc bản địa, cách riêng tại Mỹ Châu, xóa bỏ văn hóa của họ và  áp đặt lên họ  Kitô Giáo cũng như nền văn hóa của người da trắng ở Âu Châu. Theo linh mục dòng tên Ricardo da Silva, “mặc dù giáo hoàng và Tòa thánh Vatican đã thoát ra khỏi tâm lý coi người bản địa và những người không theo Kitô Giáo là thua kém các Kitô hữu da trắng Âu Châu, lời kêu gọi thu hồi “học thuyết khám phá” vẫn chưa được đáp ứng” (2).

Cùng với những cuộc thập tự viễn chinh và tòa điều tra vào thời Trung Cổ, “học thuyết khám phá” quả là một vết nhơ của Kitô Giáo nói chung, chứ không riêng của Giáo hội Công giáo La Mã. Dù chưa công khai “hủy bỏ học thuyết khám phá”, nhưng khi đến tận nơi để nói lên lời xin lỗi với người dân bản địa ở Canada, Đức Phanxicô có lẽ đã nhìn nhận những lỗi lầm và tội ác, không phải chỉ của “con cái Giáo hội” trong suốt dòng lịch sử, mà còn của chính Giáo hội. Qua lời xin lỗi của nhà lãnh đạo Giáo hội Công giáo hoàn vũ, tôi nghe vọng lại lời tự thú mà Giáo hội trên khắp thế giới lập lại mỗi ngày, từng phút từng giây ở mỗi đầu thánh lễ “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng”.

Trong chuyến viếng thăm Canada lần này, Đức Phanxicô đã không “giảng dạy” hay dẫn giải về một điểm cao siêu nào trong giáo lý của Giáo hội Công giáo.  Nhưng với tôi, lời xin lỗi và cử chỉ khiêm tốn của ngài cũng đủ là một thông điệp rất có giá trị cho thời đại này: tự cho mình chiếm giữ sự thật và áp đặt lên người khác niềm tin tôn giáo và văn hóa của mình,  không những là một hành động “diệt chủng văn hóa” mà còn là một tội ác dẫn đến vô số những tội ác khác.

Tôi không biết các tín hữu Kitô, đặc biệt là người công giáo Mỹ có theo dõi chuyến viếng thăm Canada của Đức Phanxicô và nhận ra thông điệp ngài muốn nhắn gởi không. Cốt lõi của thông điệp và của chính Kitô Giáo lúc nào cũng là sám hối, khoan nhượng và cảm thông!

Một bài phân tách  trên trang mạng của Đài CNN mà tôi đọc được cách đây mấy hôm (3) đã ghi lại một số hình ảnh rất đặc trưng của cuộc bạo loạn trong tòa nhà Quốc hội Mỹ ngày 6 tháng Giêng. Một trong những hình ảnh đó là cảnh  3 người đàn ông, mắt nhắm nghiền và đầu cúi xuống, đứng cầu nguyện trước một cây thập giá bằng gỗ sần sù. Ở một nơi khác, một người đàn ông cầm trên tay một quyển Kinh Thánh, áp chặt vào ngực như một chiếc thuẩn vững chắc. Rải rác trong đám đông, nhiều người giương lên những tấm bản có viết dòng chữ “Chúa Giêsu giải cứu” và đưa nắm tay lên trời.

Thoạt nhìn qua, những hình ảnh như thế tưởng chỉ gợi lên những cuộc biểu dương tôn giáo bên ngoài một giáo đường nào đó. Nhưng đây không phải là những hình ảnh thường được thấy trong những buổi cầu nguyện ngoài trời, mà là điều mà nhiều người gọi là một cuộc nổi dậy của Kitô Giáo. Đây chính là hình ảnh của những người đã tấn công vào Điện Capitol để lật ngược kết quả bầu cử tổng thống năm 2020.

Đây là lần đầu tiên, với cuộc bạo loạn này, nhiều người Mỹ ý thức được rằng Hoa Kỳ đang đối diện với Phong trào Dân tộc  Kitô giáo da trắng. Phong trào này sử dụng ngôn ngữ của Kitô giáo để nói lên sự thù nghịch đối với người Mỹ gốc Phi Châu và những người di dân da màu khác để thiết lập một nước Mỹ của người da trắng theo Kitô giáo.

Một biểu ngữ khác được nhìn thấy trong cuộc bạo loạn Ngày 6 tháng Giêng có in hình một lá cờ Mỹ với hàng chữ đi kèm: “Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế của tôi, Trump là tổng thống của tôi”. Xóa bỏ hàng rào tách biệt tôn giáo và chính trị là điểm nổi bật của Phong trào Dân tộc Kitô giáo. Một trong những niềm tin cốt lõi của phong trào này là: Hoa Kỳ đã được thành lập như một quốc gia Kitô giáo, tất cả các nhà lập quốc đều là những tín hữu Kitô Tin Lành thuần thành và Chúa đã chọn Hoa Kỳ để đóng một vai trò đặc biệt trong lịch sử. Thật ra, trong hàng ngũ các nhà lập quốc không thiếu những người vô thần hay thuộc những Giáo hội không phải là Tin Lành. Hơn nữa cho rằng Hoa Kỳ được thành lập như một quốc gia Kitô giáo và nhờ vậy được phồn thịnh là quên rằng quốc gia này có được phồn thịnh ở khởi đầu là nhờ sự đóng góp công lao mồ hôi nước mắt và ngay cả máu của người nô lệ gốc Phi Châu cũng như từ đất đai ăn cướp của người dân bản địa.

Những băng hình đã được thu giữ từ cuộc bạo loạn cho thấy những người tham gia cuộc bạo loạn tuyên xưng và tôn thờ một Chúa Giêsu hoàn toàn đối nghịch với Đấng mà Kinh Thánh gọi là “Hoàng tử của Hòa Bình”, một Đấng Cứu Thế chỉ đi giảng dạy và cứu rỗi bằng một con đường duy nhứt là khoan nhượng, cảm thông và tha thứ. Xét cho cùng, đó cũng chính là con đường cứu rỗi của mọi tôn giáo đích thực cũng như mọi nền đạo đức của con người.

“Đồng hành” : chủ đề của chuyến viếng thăm Canada vừa qua quả là chìa khóa để xây dựng một xã hội thực sự hài hòa. “Đồng hành” là chấp nhận và tôn trọng những khác biệt về ngôn ngữ, màu da, văn hóa , tôn giáo và ngay cả những quan điểm chính trị của người khác. Thiếu sự tương nhượng và cảm thông, thì suy đồi đạo đức là điều không thể tránh khỏi. Các chế độ độc tài, đặc biệt là độc tài toàn trị, cai trị bằng cách đồng bộ hóa người dân. Trung Quốc là một điển hình. Chế độ cộng sản này muốn xây dựng một “xã hội hài hòa” bằng cách áp đặt triệt để ý thức hệ cộng sản lên người dân. Trong cuốn sách có tựa đề “Chúng tôi bị hài hòa hóa: cuộc sống bị nhà nước theo dõi tại Trung Quốc” (We have been harmonized: life in China’ surveillance State) nhà báo người Đức Kai Strittmatter đã nói đến “hệ thống tín dụng xã hội” trong xã hội Trung Quốc hiện nay. Nhất cử nhất động của người dân đều bị theo dõi và “cho điểm”. Bất đồng chính kiến được xem là hành vi “tồi tệ” nhứt trong mọi hành vi xấu. Điều gì đã xảy ra trong một xã hội mà người dân bị “hài hòa hóa” và theo dõi cặn kẽ như thế? Tác giả đã trích dẫn “một cuộc thăm dò toàn cầu được thực hiện năm 2017 về điều gì khiến người dân lo lắng nhứt. Đa phần những người được khảo sát ở các quốc gia đều lo ngại nhất về tình trạng thất nghiệp, nạn tham nhũng hay bất bình đẳng. Trung Quốc là nơi duy nhất mà người dân xem “suy thoái đạo đức” (moral decline) là mối lo lắng hàng đầu”(4).

“Đồng hành” hay khoan nhượng, cảm thông là chìa khóa để xây dựng một xã hội hài hòa. Đó cũng chính là thước đo nhân cách của một con người.

 

 

Chú thích:

1. Scott Neuman, The pope’s apology in Canada was historic, but for some Indigenous people, not enough NPR, July 25,2022.

2. Ricardo da Silva, S.J , Could pope Francis revoke the 15th century ‘Doctrine of Discovery’ used to justify colonizing Indigenous peoples?  America, the Jesuit ReviewJuly 28, 2022, bản dịch của Trần Giao Thủy,  DCVonline July 29, 20022.

3. John Blake, An ‘Imposter Christianity’ is threatening American democracy CNN July 24, 2022.

4. Y Chan, Đọc “xã hội hài hòa” của Trung Quốc: Biết để soi mình, hiểu để rùng mình, Luật Khoa 19/07/2022

Thứ Hai, 4 tháng 7, 2022

Đạo đức là tên gọi của Văn minh

 

 


Chu Văn

Mỹ là nơi tôi có nhiều bạn bè nhứt. Bạn đồng môn, bạn đồng thuyền (tức những người đã từng sống chết với nhau trong cùng một chuyến vượt biên), bạn đồng hương, bạn đồng đạo...Có những người bạn thân thiết còn hơn cả người thân trong gia đình. Nhưng trong những năm gần đây, “kẻ mà ai cũng biết là ai đó”(1) bỗng dưng xen vào tình bạn của chúng tôi. Sự có mặt vô hình của “kẻ đó” hẳn phải có sức đe dọa khủng khiếp đến độ tôi không dám nhắc đến tên của “kẻ đó” trong  bất cứ cuộc trao đổi nào với bạn bè của tôi. Lạ quá, hầu như người bạn nào của tôi ở Mỹ cũng đều tôn thờ, sùng bái “kẻ đó”!

Mới đây, tôi có liên lạc với một ông bạn chí cốt ở quận Cam. Chúng tôi cùng mài đũng quần trên cùng một băng ghế ở tiểu học và trung học. Ra đời, dù mỗi người một ngã, chúng tôi vẫn thường xuyên liên lạc với nhau. Biết bạn tôi tôn sùng “kẻ đó”, mỗi lần thăm hỏi, tôi chỉ đề cập đến gia đình hay ôn lại chuyện “cây đa cũ, bến đò xưa” ở quê nhà mà thôi. Lần này, với những lý do rất riêng tư có liên hệ với một số người bạn khác, tôi có nhờ bạn tôi “điều tra” về một nhà báo người Việt khá nổi tiếng và có lẽ cũng có uy tín trong cộng đồng người Việt tại quận Cam và nhiều nơi khác tại Mỹ cũng như ở những nước khác. Bạn tôi trả lời như có sẵn bản lý lịch của nhà báo đó trước mặt: “Tên (này) là VC (Việt Cộng) đi du học đâu bên Đông Âu, sau LX (Liên Xô) sụp đổ làm sao mà qua Mỹ và hiện nay là chủ báo (của một tờ báo Việt Nam) tại Cali”. Bản lý lịch “trích ngang” của nhà báo do bạn tôi cung cấp khiến tôi chưng hửng, bởi vì tôi biết rõ nhà báo này “sinh năm 1954. Theo gia đình vào miền Nam, học xong trung học. Sau 1975, bị cộng sản bắt vì tham gia Mặt Trận Dân Tộc Tiến Bộ, in và phổ biến tờ báo bí mật Toàn Dân Vùng Dậy. Vượt biên năm 1984, đến Đảo Galang-Indonesia. Sang Mỹ định cư cuối năm 1984, kiếm sống bằng các nghề đánh cá, cắt cỏ, nhà in, lau nhà, giao hàng, lái taxi. Làm việc một thời gian tại các trại tỵ nạn Hongkong; lang thang các nước Đông Âu và Nga khi khối cộng sản sụp đổ năm 1989.”(2) Tội nghiệp nhà báo: bị bạn tôi chụp cho cái mũ “ Việt Cộng” mà không trưng ra bất cứ bằng chứng đáng tin cậy nào!

Thật ra, tôi không ngạc nhiên chút nào về cách mà một người sùng bái “kẻ đó” như bạn tôi đánh giá về một người khác, nhứt là khi người khác đó không những không chịu ủng hộ mà còn lên án “kẻ đó”. Hình như đó là một trào lưu hiện đang rất thịnh hành tại Mỹ. Người ta tin và khẳng định rất nhiều điều mà không cần dựa vào bất cứ một bằng chứng nào.

Kết quả của các cuộc thăm dò về nhiều chủ đề khác nhau cho thấy người Mỹ chỉ tin những gì họ muốn tin, ngay cả không có bất cứ một bằng chứng nào. Một cuộc thăm dò do Sáng hội Khoa học Quốc gia (National Science Foundation) thực hiện hồi năm 2014 đã tìm thấy có 26 phần trăm dân Mỹ tin rằng mặt trời quay xung quanh trái đất. Trong khi ngay từ Thế kỷ 16, nhà toán học kiêm thiên văn học Nicolaus Copernicus đã dùng những phương trình toán học và các quan sát khoa học của mình để chứng minh rằng trái đất mới là hành tinh quay xung quanh mặt trời, thì ngay cả khi đã bước vào Thế kỷ 21 này vẫn còn những người, nhứt là những người đang sống trong  một đất nước được xem là văn minh nhứt thế giới, lại chỉ tin vào mắt mình để khẳng định rằng chính mặt trời mới quay xung quanh trái đất.

Về hình thù của trái đất, năm 2018, hãng thăm dò YouGov đã đặt câu hỏi: “Theo bạn trái đất tròn hay phẳng?”  Vẫn có những người tin rằng trái đất bằng phẳng và ít nhứt 16 phần trăm cho biết họ không chắc là trái đất tròn hay bằng phẳng.

Riêng về cơn đại dịch Covid-19 vốn đã cướp đi mạng sống của trên 1 triệu người Mỹ, mới đây kết quả của một cuộc thăm dò do Trung tâm Nghiên cứu Pew thực hiện cho thấy có 71 phần trăm người Mỹ nói rằng họ có nghe nói đến một thuyết âm mưu theo đó “những người có thế lực đã cố tình tạo ra cuộc bùng nổ của đại dịch”. Theo cuộc thăm dò, có ít nhứt 20 phần trăm người Mỹ tin rằng đây là điều có thể có thật và 5 phần trăm tin chắc là có thật. Dĩ nhiên, trình độ học vấn ảnh hưởng đến kết quả của cuộc thăm dò. Một nửa những người Mỹ chỉ mới học xung trung học hay thấp hơn, tức 48 phần trăm tin rằng thuyết âm mưu về đại dịch trên đây “có lẽ đúng” hay “chắc chắn đúng” trong khi đó chỉ có 38 phần trăm những người tốt nghiệp cao đẳng tin như thế. Số người có bằng cử nhân tin như thế chỉ có 24 phần trăm. Riêng trong số những người có bằng hậu đại học, tỷ lệ này chỉ có 15 phần trăm. Kết quả này cho thấy trình độ học vấn càng cao càng giúp gia tăng óc phán đoán (critical thinking) và khả năng chắt lọc và kiểm chứng thông tin. Tuy nhiên, khuynh hướng chính trị cũng ảnh hưởng rất nhiều đến cách tiếp cận các thuyết âm mưu của người Mỹ. Số người theo Đảng Cộng Hòa và độc lập nhưng nghiêng về Cộng Hòa tin vào thuyết âm mưu “về những kẻ có thế lực cố tình tạo ra cuộc bùng nổ của đại dịch” cao gấp hai lần so với những người theo Đảng Dân Chủ và thiên về Dân Chủ.

Mới đây, các cuộc thăm dò về ảnh hưởng của khuynh hướng chính trị cũng cho thấy người Mỹ vẫn tiếp tục không tin ở kết quả của cuộc bầu cử tổng thống năm 2020. Theo hãng thăm dò Axios -Momentive, có khoảng 40 phần trăm người Mỹ nói chung không tin rằng Tổng thống Joe Biden đã thắng cuộc bầu cử năm 2020. Nhưng theo hãng Morning Consult, có đến 68 phần trăm những người theo Đảng Cộng Hòa cho rằng ông Joe Biden không phải là một tổng thống có chính danh.

Sở dĩ có sự nghi ngờ như thế là bởi vì ngay từ năm 2016, “kẻ mà ai cũng biết là ai đó” đã tung ra “thuyết âm mưu” cho rằng cuộc bầu cử trong đó, mặc dù “kẻ đó” đã đánh bại đối thủ Hillary Clinton, vẫn là một cuộc bầu cử gian lận. Rồi trong cuộc bầu cử năm 2020, biết mình đã bị đánh bại và mặc dù cuộc kiểm phiếu chưa hoàn tất, “kẻ đó” vẫn cứ tuyên bố mình đã chiến thẳng và yêu cầu chấm dứt cuộc kiểm phiếu. Dĩ nhiên, đó là một lời tuyên bố gian lận hay “Một lời Dối Trá Vĩ Đại” (A Big Lie). Kết quả của trên 60 vụ kiện tại các tòa án ở mọi cấp, kể cả Tối Cao Pháp Viện, đều chứng minh rằng những cáo buộc về gian lận bầu cử của “kẻ đó” là hoàn toàn vô căn cứ (2). Cho tới nay, “kẻ đó” vẫn cứ ra rả tuyên bố cuộc bầu cử đã bị đánh cắp và lời dối trá đó vẫn tiếp tục được nhiều người Mỹ tin, mặc dù không trưng ra được bất cứ một bằng chứng nào về sự gian lận.

Trong lịch sử cận đại, không có bất cứ một nhà độc tài nào, từ Staline đến Hitler, Mao Trạch Đông, Polpot, Hồ Chí Minh và nay  Tập Cận Bình và Putin...có đủ ba đầu sáu tay để phạm tội ác. Xung quanh họ, dưới chân họ lúc nào cũng có cả một lũ lâu la hò hét,  sẵn sàng bán đứng lương tâm, sẵn sàng chà đạp các giá trị đạo đức, sẵn sàng sống chết cho họ. “Lời Dối Trá” của “kẻ mà ai cũng biết là ai đó” sẽ chỉ là tiếng kêu trong sa mạc nếu không được hà hơi tiếp sức bởi cả một đám theo đóm ăn tàn.

Trong các nhân chứng được Ủy ban Điều tra của Quốc hội Mỹ về cuộc bạo loạn ngày 6 tháng Giêng năm 2021 mời hay tống trát đòi ra điều trần, tôi đặc biệt chú ý đến ông Rusty Bowers, Chủ tịch Hạ viện của Tiểu bang Arizona hiện đang được Đảng Cộng Hòa kiểm soát. Ông làm chứng rằng chính “kẻ đó” và một thuộc hạ nòng cốt của “kẻ đó” là Rudy Giuliani đã yêu cầu ông lật ngược kết quả bầu cử tại Arizona. Ông đã khẳng khái trả lời rằng lời hứa trung thành với Hiến Pháp và luật của tiểu bang không cho phép ông làm điều đó. Trong lời khai hữu thệ, ông cũng đã thẳng thừng lên án “Lời Dối Trá Vĩ Đại” của “kẻ đó”.  Vậy mà, chỉ một ngày sau đó, trong một cuộc phỏng vấn dành cho hãng thông tấn AP, ông lại tuyên bố  rằng nếu “kẻ đó” ra tranh cử tổng thống năm 2024, ông sẽ bỏ phiếu cho “kẻ đó”. Thế là thế nào!

Ông Bowers không phải là người đầu tiên lên án cuộc bạo loạn do “kẻ đó” kích động và  vẫn ủng hộ “kẻ đó” trong cuộc bầu cử năm 2024. Lãnh tụ thiểu số của Cộng Hòa tại Thượng viện Liên bang là ông Mich McConnell là người đã tuyên bố rằng “kẻ đó” là người phải chịu trách nhiệm về cuộc bạo loạn ngày 6 tháng Giêng, vậy mà sau đó lại loan báo cũng sẽ ủng hộ “kẻ đó” nếu “kẻ đó” được Đảng Cộng Hòa đề cử làm ứng cử viên trong cuộc bầu cử năm 2024.

Một nhân vật nổi tiếng khác của Đảng Cộng Hòa là ông Kevin McCathy, lãnh tụ khối thiểu số Cộng Hòa tại Hạ viện Liên bang, cũng giương cao cùng một ngọn cờ như ông McConnell. Lên án cuộc bạo loạn và quy trách cho “kẻ đó”, nhưng liền sau đó McCathy xuống thẳng Mar-a-Lago để phủ phục dưới chân “kẻ đó” để bày tỏ lòng trung thành của kẻ bày tôi!

Một nhân chứng mà lời khai trước Ủy ban Điều tra của Hạ viện hẳn phải có một trọng lượng đáng kể hẳn phải là cựu Bộ trưởng Tư pháp Bill Barr. Gọi thẳng “Lời Dối Trá” của “kẻ đó” là “Bullshit” và từ chức vì “Lời Dối Trá” ấy, vậy mà Bill Barr lại tuyên bố cũng sẽ bỏ phiếu cho “kẻ đó” nếu “kẻ đó” được Đảng Cộng Hòa đề cử vào năm 2024 (4).

Tôi hiểu được tại sao rất đông người Mỹ, trong đó có hầu hết những người bạn của tôi, đã tin “Lời Dối Trá Vĩ Đại” của “kẻ đó” và đặt “kẻ đó” lên bàn thờ, đứng trên Hiến Pháp Mỹ và nhứt là những giá trị đạo đức. Tin vào những lời dối trá mà không dựa vào bất cứ một bằng chứng nào và nhứt là không màng đến những giá trị đạo đức, một thái độ như thế đã được phản ảnh và vun trồng qua một bài phát thanh trên mạng trong mục “Houston Nhật Ký” mà tôi đã nghe được cách đây vài hôm. Sau khi đã trích dẫn các cuộc thăm dò cho thấy hiện nay “kẻ đó” đang dẫn trước đương kim Tổng thống Joe Biden, nhà bình luận trong chương trình đi đến kết luận: “năng lực là cái nơi người dân Mỹ tin tưởng, chứ không phải con người. Năng lực của người đó ra sao chứ không phải con người của người đó ra sao” (5). Điều đó có nghĩa là: bất kể nhân cách của con người đó có tồi tệ đến đâu, bất kể con người đó có lươn lẹo, dối trá, độc ác, tàn bạo, vô đạo đến đâu...miễn là người đó làm được việc thì cứ ủng hộ và sùng bái người đó!

Theo dõi hay bình luận về tình hình chính trị tại Hoa Kỳ hiện nay, nhiều người nói đến sự chia rẽ trầm trọng trong xã hội hay cuộc khủng hoảng về hiến pháp. Riêng tôi cho rằng nếu có một cuộc khủng hoảng, ở bất cứ nơi nào trên thế giới, thì cuộc khủng hoảng đó trước tiên phải là một cuộc khủng hoảng về đạo đức. Bởi lẽ “chính trị là đạo đức ứng dụng vào trong cuộc sống” (6). Thước đo của văn minh không chỉ là sự giàu có hay những tiện nghi vật chất, mà trước hết chính là những giá trị đạo đức. Xét cho cùng đạo đức cũng là tên gọi của văn minh.

 

 Chú thích:

1. Tên của nhân vật phản diện Voldemort trong tập truyện Harry Potter của nhà văn Anh J.K Rowling.

2. Văn Hải ngoại sau 1975...Về một chuyến đi Nga, Văn Việt.

3. Kyle D.Killian, Ph.D, Scary Polls: Americans’ Belief in Things Without Evidence, Psychology Today June 28, 2022.

4. David A.Graham, The comment that reveals the depths of the Republican Party’s moral collapse, The Atlantic June 23, 2023.

5. Houston Nhật Ký P2 1/7/2022.

6. Việt Hoàng, Thành công trong hoạt động chính trị là gì? https://thongluan-rdp.org/quan-di-m/item/23209-thanh-cong-trong-ho-t-d-ng-chinh-tr-la-gi